84 vị chân sư Đại thủ ấn

Mục lục

Tập sách này trong nguyên ngữ Tây Tạng được biên soạn từ quyển Truyền thuyết về 84 vị Thánh tăng (Grub thob brgyad bcu tsa bzhi’i lo rgyus) do ngài Mondup Sherab ghi chép từ lời kể của ngài Abhayadatta Sri (thế kỷ 12th) và quyển Tâm chứng của 84 vị Thánh tăng (Grub thob brgyad bcu rtogs pa’i snying po rdo rje’i lu) của ngài Vira Prakash, đã được Keith Dowman và Bhaga Tulku Pema Tenzin dịch sang Anh ngữ. Phần giới thiệu và các chú giải, nhận xét là của Keith Dowman, hình minh họa là của H. R. Downs. Sách đã được phát hành tại Hoa Kỳ vào năm 1985 (The State University of New York Press, Albany, NY., 1985) với độ dày 454 trang. Sách cũng đã từng được dịch sang tiếng Đức vào năm 1991 với nhan đề Die Meister der Mahamudra (Diederichs, Munchen, 1991).

Bản dịch Việt ngữ được giới thiệu lần này là của Nguyên Thạnh Lê Trung Hưng, được dịch từ bản tiếng Anh Masters of Mahamudra of the Eighty-four Buddhist Siddhas của Keith Dowman.

Kính dâng

Một con người luôn luôn hoan hỷ tùy thuận chúng sinh trong niềm an lạc; người mà mỗi lời nói ra là một sự khai thị thích hợp với trình độ căn cơ của người nghe; người mà mọi cử chỉ, thái độ, oai nghi đều là nguồn thông tin diễn đạt chân pháp; người mà biết rõ tâm mình và tâm kẻ khác; người mà có khả năng truyền sự an lạc của mình đến các bằng hữu và khách quen, khiến cho tất cả đều hoan hỷ đến cùng tột như lên đến được các vì sao để hoà mình vào điệu múa của vũ trụ. Người đó chính là một vị Lạt-ma. Trước hết tôi cung kính đảnh lễ một con người như thế. Con người kỳ diệu ấy là Lạt-ma Kanjur. Ngài sinh ra ở miền đông Tây Tạng, trở thành một nhà sư bác học và uyên áo thuộc tu viện Riwoche, tỉnh Amdo, Tây Tạng. Ngài kết thúc cuộc đời như một kẻ di tản đến vùng Djeering nước Ấn Độ ở tuổi tám mươi tư. Nguyện cầu cho những lời chú nguyện của Ngài trực truyền đến tâm chúng ta và xin hồi hướng công đức này đến tất cả chúng hữu tình khiến họ thoát vòng sinh tử luân hồi, đồng chứng vào pháp giới.

LỜI TỰA

Mahamudra là một thuật ngữ để chỉ pháp tu tối thượng của Mật tông nhằm đạt tới đạo quả vô thượng, tức Phật tính; tự thân phảp môn này là cứu cánh rốt ráo. Theo nghĩa của từ nguyên, Maha là to lớn, Mudra là dấu ấn. Như vậy, Mahamudra tức Đại thủ ấn. Đại thủ ấn vừa là phương tiện thiện xảo, vừa là cứu cánh rốt ráo.

Tám mươi tư vị đại sư trong tác phẩm này là những vị tổ sư của phái Đại thủ ấn truyền thống, sống trong thời kỳ từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 12. Những thiền sư này đããhình thành và sáng tạo những phương cách thiền định đặc thù để tự tu tập và giác ngộ. Về sau, các môn đồ của họ cũng đã thành công khi áp dụng những phương cách thiền định này. Các bậc thiền sư Đại thủ ấn khi ngộ được chân tính thì được gọi là Đại thành tựu giả (Mahasiddha).

Tác phẩm này được rút tỉa từ kinh văn Tây Tạng, gọi là Truyền thuyết về tám mươi tư vị thánh tăng (Grub thob brgyad bcu tsa bzhi’i lo rgyus) được đánh giá rất cao vì tính sử liệu và cụ thể của các phương pháp tu tập mà những đại thiền sư này đã áp dụng và thành tựu.

Trước hết, về mặt lịch sử có một số mẩu chuyện kể về các thiền sư kiệt xuất và có thật trong lịch sử Phật giáo như các ngài Nagarjuna, Sahara, Luipa, Virupa... với pháp lực, thần thông và trí tuệ xuất chúng của các ngài. Những mẩu chuyện thú vị có tính cách giải trí này lại là một kiểu sách giáo khoa của các dòng tu Mật tông Ấn Độ, được bậc thầy truyền lại cho các môn đồ từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.

Thứ hai, thông qua những truyền thuyết về các đạo sư này, chúng ta có thể lãnh hội các mẩu chuyện đó như những phúng dụ (allegory) mà trong đó các giai thoại (anectote) có những nét tương đồng và tính ẩn dụ dùng làm phương tiện khai tâm cho môn đồ thuộc các dòng tu mật. Một số truyền thuyết được thu gọn lại chỉ bao gồm các chi tiết về tiểu sử và các pháp thiền định.

Thứ ba, bởi vì các truyền thuyết này được viết lại sau cái chết của vị đạo sư cuối cùng trong số 84 vị nên có những sai sót về lỗi chính tả trong các bản sao lục và ở các di bản khắc gỗ. Dù vậy, chúng ta vẫn có một lịch sử tương đối trọn vẹn về tám mươi tư vị thánh tăng kiệt xuất này.

Thật vậy, chúng ta có tám mươi tư truyền thuyết đáng tin cậy, tám mươi tư khuôn mẫu phương cách thiền định, tám mươi tư nhân cách mà một số mang tính lịch sử và một số mang tính tiêu bản, sống ở Ấn Độ trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 12.

Tựa đề của tám mươi chương trong tác phẩm này đều là tên của các vị thánh tăng. Dưới những tựa đề là các bài kệ gọi là Chứng đạo ca (songs of realization) được dịch từ một tài liệu Tây Tạng, có tên là Tâm chứng của tám mươi tư vị thánh tăng (Grub thob brgyad bcu rtogs pai’i snying po rdo rge’i glu). Các đạo ca này do một học giả có tên Prakasa thu thập và biên soạn. Đây là những bài hát miêu tả bản chất chứng ngộ của các bậc thầy và con đường mà họ đã đi qua để đạt đến đích. Tất cả đều được diễn đạt bằng ngôn ngữ của Phật giáo và giàu hình ảnh của pháp môn Đại thủ ấn truyền thống. Bên dưới mỗi bài kệ là truyền thuyết về vị đạo sư và ở đoạn giữa là phép hướng dẫn thiền định của đạo sư ấy. Các truyền thuyết này do một học giả người Ấn Độ là Abhayadatta, kể lại cho một nhà sư Tây Tạng có tên Mondrup Sherb vào thế kỷ thứ 12.

Phần giới thiệu tác phẩm này cũng là phần giới thiệu và giải thích căn bản về Mật tông Phật Gìáo, có thể giúp cho người đọc thâm nhập vào nội dung của tác phẩm và các phương cách thiền định của Đại thủ ấn, cũng như thâm nhập vào các ý niệm và thuật ngữ của pháp thiền trong các truyền thuyết. Sau mỗi câu chuyện là lời bình dành cho những độc giả có ý muốn xem các truyền thuyết là khuôn mẫu để tu tập, phương cách thiền định trong Tantra gọi là Sadhana, tạm gọi là sự hành trì.

Sadhana có nghĩa là “sự nỗ lực và phép tu luyện để tồn tại một cách có chủ đích” (the endeavour and method of intentional existential praxis). Tài liệu trong phần này chủ yếu là định nghĩa các từ ngữ và nói về ý nghĩa của giáo pháp được đề cập. Các tư liệu soạn thảo được rút tỉa từ nhiều nguồn khác nhau: từ các kinh văn truyền khẩu ở Tây Tạng do một Lạt-ma tái sinh của tu viện Arunachal Pradesh ở Ấn Độ, tên là Bhaga Tulku thuộc dòng tu Nyingma; từ một học giả cư sĩ tên là Se Kusho Chompel Namgyel; từ các phương pháp thiền định tương tự được khẩu truyền trong các dòng tu, đặc biệt là Đại thủ ấn do cố Lạt-ma Gyelwa Karmapa và các lạt-ma khác của dòng Kahgyu; từ các giai đoạn tu tập “phát sinh” và “thành tựu” được giảng dạy trong dòng Nyingma và giáo lý của Đại cứu kính (dzogchen); từ các Tantra gốc, đặc biệt là của các dòng Mật giáo Samvara, Guhysamaja, Hevajra và Candamaharosama; từ các nghi thức thiền định của Kim cương Du-già Thánh nữ (Vajra Yogini) trong nhiều hoá thân; và từ những đạo ca (doha) của các bậc thánh tăng.

Nhưng dù chúng ta có được những khẩu quyết và lý thuyết, những nghiên cứu kinh viện và óc phân tích, cũng không thể dựa vào đó để tu tập có kết quả, vì hầu hết các phương thức thiền quán trong Mật tông đều được dạy một cách tóm lược và tùy căn cơ khác nhau của từng môn đồ.

Việc được pháp tu tập Mật tông, sự điểm đạo để nhập vào đàn pháp (mandala) và việc truyền trao các phương thức thiền định chỉ là những giai đoạn sơ cơ để hành giả có những bước chuẩn bị cần thiết, trong đó có việc quán tưởng một hình ảnh (Im). Việc nhận ra các thực thể tâm linh và kích xúc chúng được minh thị bằng những biểu tượng phức tạp nơi hình ảnh của một vị Hộ thần (Deva), ví dụ như việc nhận ra các trạng thái tỉnh giác khác nhau của tâm. Điều đó chỉ có thể thực hiện trong thiền quán, nghĩa là trong những điều kiện tối ưu. Dó đó, phần bình luận phản ánh những kinh nghiệm trong truyền thống tu thiền của các bậc đạo sư mà bản thân người phê bình cũng đã có được sau 12 năm tu tập.

Các hành giả sơ cơ ở phương Tây tìm kiếm bản chất của tâm qua trung gian của Tantra thường không gặp trở ngại về khả năng tu tập, nhưng việc giải thích sai lệch ý nghĩa của các biểu tượng thiêng liêng và ảnh tượng của vị thủ thần (Yidam) khiến họ không thể thâm nhập vào chân nghĩa của các thuật ngữ và các ý niệm của Mật tông cũng như những vấn đề của thế giới luận (the realm of hermeneutics) tạo ra cho họ những trở ngại lớn nhất.

Do đó, việc nghiên cứu các bản dịch của kinh văn Mật giáo mà không có lời bình giảng hay thiếu sự khẩu truyền của một bậc thầy đã chứng ngộ chính bằng phương pháp kể trên sẽ tạo ra các kết quả trái ngược, nếu không muốn nói là một mối nguy hiểm thật sự đối với sự lành mạnh.

Phần minh chứng cho các luận giải và các bản sao dịch được tìm thấy ở Tây Tạng và Ấn Độ trong thời kỳ giáo lý Mật tông bắt đầu được truyền bá một cách rộng rãi và công khai, những phương thức quan trọng của pháp môn này cũng được công bố lại bằng các phương ngữ (idioms) của hai quốc gia đó.

Ngôn ngữ trong phần giới thiệu và lời bình đôi khi đề cập đến những ý niệm phương Tây khá xa lạ với các độc giả của truyền thống Tây Tạng. Chẳng hạn, độc giả đã từng quen thuộc với phép đồng lượng vị căn (homeopathy) mới có thể lãnh hội các phương pháp tu tập của Mật Giáo thông qua lý thuyết được cô đọng bằng các ngạn ngữ gốc La-tinh với nghĩa rộng của nó như “độc trị độc” (the poison is the panacea) hay “liều lượng nhỏ, hiệu quả cao”, hoặc cụm từ “giao hợp nửa vời” (coitus interruptus) rất quen thuộc với người phương Tây với nghĩa rộng của cụm từ này, nó ám chỉ những nét tương đồng trong cách tu thiền định của Mật Giáo. Đây là phương tiện để diễn đạt ý nghĩa.

Ví dụ sau cùng là hình ảnh của một nhà sư hay đạo sĩ đi xuyên tường, bay giữa hư không, hay ăn đất, ăn đá, không xa lạ gì với cách nghĩ của người phương Đông, nhưng nghe chừng có vẻ rất khó chấp nhận đối với những người phương Tây có đầu óc duy lý.

Trong ý nghĩ của người phương Đông, tâm không đối kháng với vật. Một quan niệm như thế tất nhiên sẽ có hiệu quả hơn trong việc giải thích công dụng của tâm. Tại sao những con người sùng tín đạo Phật ở phương Tây lại phải chồng chất thêm vào đầu óc họ những quan niệm của phương Đông và cách suy nghĩ rập khuôn, trong khi họ đã sẵn có đầy đủ tư lương để đi vào cửa đạo? Nhưng bằng cách nào đi nữa, họ cũng phải từ bỏ chính bản thân mình, nếu không muốn nói là trừ sạch chấp ngã, mới có thể đến chốn đạo tràng.

Do đó, mặc dù phương thức căn bản về giáo pháp được áp dụng trong phần bình luận, vốn được truyền thừa trên 1.200 năm, nhưng ở đây lời bình phẩm phản ánh những kinh nghiệm cá nhân bằng một thứ ngôn ngữ dễ lãnh hội.

Sau phần bình luận về phương thức thiền định (sadhana) là phần sử liệu.

Tất cả các tư liệu lịch sử có liên hệ xa gần với một đạo sư (siddha) như địa vị trong dòng tu hay khoảng thời gian trụ thế của ngài... được viết chung trong phần biên niên sử. Ngoài ra còn có những truyền thuyết hay giai thoại về các đạo sư lỗi lạc được sưu tập từ các nguồn khác, cũng được đưa vào phần này để làm sáng tỏ thêm vấn đề. Ở phần nào không có đủ tài liệu tham khảo về một đạo sư, chúng tôi chỉ đề cập đến danh hiệu của vị ấy mà thôi.

Tên của các vị đạo sư trong tác phẩm này có nguồn gốc Sanskrit và đã được xác minh qua cách phân tích từ nguyên để thay cho Tạng ngữ và thổ ngữ Apabharamsa, và nhiều từ sai sót trong một số tư liệu có liên quan đến nguồn gốc tiếng Tây Tạng đã được điều chỉnh.

Thông thường một vị đạo sư có nhiều danh hiệu khác nhau, nhưng do sự hiếm hoi về các tư liệu có giá trị lịch sử nên chúng ta chỉ đạt được kết quả ở một mức độ nhất định nào đó trong việc giải quyết tính chất đa diện của vấn đề lịch sử có liên hệ tới các đạo sư và thời đại của các ngài.

Ngoài việc kiểm tra tư liệu một cách toàn diện và tái thẩm định các nguồn tư liệu phổ biến có nguồn gốc Tạng ngữ, các khám phá mới cũng quan trọng không kém trước khi cây phả hệ có thể được xem như một công cụ để xác định niên hiệu và mối quan hệ truyền thừa giữa các đạo sư.

Pháp hiệu của các đạo sư được lấy làm tiêu đề cho tám mươi tư truyền thuyết, giúp cho người đọc dễ nhớ. Tuy nhiên, cũng có một số pháp hiệu sai sót về mặt từ nguyên ngay trong nguyên tác hay do vay mượn từ Tạng ngữ. Hậu tố “pa” đứng sau tên của các đạo sư là rút gọn của Phạn ngữ “pada”. Đây là hình thức tôn vinh một bậc thánh hay một đạo sư, hoặc để chỉ chung cho phái nam trong ngôn ngữ Tây Tạng. Để xác định địa vị của một vị đạo sư, chủ yếu phải dựa trên căn bản phương pháp tu tập của vị ấy, chứ không dựa vào địa vị trong tông phái.

Ngoài ra, các danh hiệu Đại đạo sư hay Đại thành tựu giả (Mahasiddha) thật ra cũng có ý nghĩa như Đạo sư mà thôi. Theo ngữ pháp của tiếng Sanskrit thì từ giống cái của Mahasiddha là Mahsiddh, nhưng các chi tiết ngữ pháp như thế này không được dịch sang Tạng ngữ.

Phần phụ lục gồm định nghĩa và chú giải các Phạn ngữ sử dụng trong tác phẩm. Riêng các từ trong ngoặc vì chỉ sử dụng một lần nên không được chú giải.

Bởi vì các vị đạo sư đều dùng tiếng Phạn (Sanskrit) hoặc thổ ngữ Prakit hay thổ ngữ Apabhramsa nên chúng tôi cho rằng Phạn ngữ là ngôn ngữ thích hợp trong việc mô tả các thuật ngữ Phật giáo. Tuy nhiên, Tạng ngữ là ngôn ngữ được sử dụng để ghi lại các truyền thuyết nên người viết cũng chua thêm vào sau các từ Sanskrit đề tiện đối chiếu.

Các bức phác họa chân dung trong tác phẩm là do họa sĩ Hugh R. Downs thực hiện, xuất phát từ những cảm hứng khi ông ta nghiên cứu nền hội họa cổ truyền Tây Tạng mô tả các hành giả tu chứng. Thông thường, khi tạo mẫu các họa sĩ có những nét vẽ góp ý nhưng phải giữ lại bố cục của nguyên tác nhằm không làm mất đi ý nghĩa chính hay những nét đặc trưng của tác phẩm.

Trong công việc chuyển dịch các đặc điểm lịch sử, chúng tôi mạn phép mở rộng phạm vi đề tài chứ không chỉ trình bày các nguyên tắc vật lý siêu hình cố hữu trong khi mô tả hình tượng, do vậy có thể có những nét vẽ được sửa đổi một cách tinh tế. Việc sửa đổi một vài nét nhỏ trong hình ảnh của một số các đạo sư là để cho phù hợp với yêu cầu của những hệ phái đặc biệt thuộc Mật tông. Chúng tôi cũng có một số nét thay đổi trong các bức họa và phần này là trách nhiệm của họa sĩ Hugh R. Downs.

Họa sĩ Hugh R. Downs từng theo học môn hội họa truyền thống Tây Tạng dưới sự hướng dẫn của một nhà sư họa sĩ Du-già là Sherpa Au Lashe. Ông ta có kinh nghiệm trong việc diễn đạt các hình ảnh được mô tả trong kinh văn Mật tông. Điều này đã được xác nhận qua tác phẩm “Nhịp điệu làng Hy-mã” (Rhythms of a Hymalayan village), ấn hành năm 1980 tại San Fransisco, Hoa Kỳ.

Phần trình bày của ông mô tả phong thái uy nghi nhất của một đạo sư, lại nhấn mạnh vào yếu tố tu tập khổ hạnh, tính thẩm mỹ và những nét an vui tinh tế trong phong thái của ngài. Phần chú thích bên dưới các bức minh họa được trích dẫn từ các tác phẩm Tây Tạng nhưng không rõ nguồn gốc nguyên thủy.

Tôi mang ơn sự giúp đỡ của nhiều người để có được những thuận duyên hoàn thành tác phẩm này trong thời gian mười năm, đặc biệt là món nợ tích lũy nhiều năm đối với các Lạt-ma của tôi. Vì vậy, tất cả công đức của việc thực hiện quyển sách này tôi xin cung kính hồi hướng đến quý ngài.

Tôi cũng vô cùng biết ơn Lạt-ma Kalzang đã giúp tôi trong việc ấn hành tác phẩm, ngài là người ban cho tôi nguồn cảm hứng; ngài Chatral Rimpoche chủ biên, ngài Dujom Rimpoche đã ban phép lành cho tác phẩm và cho phép tôi có thẩm quyền dịch thuật, ngài Bhga Tulku truyền khẩu, các ngài Taklung Rimpoche và Sekusho Chomphel Namgyel đã giúp tôi dịch những đoạn văn khó và tất cả những ai đã đóng góp phần hiểu biết về truyền thống của các đạo sư.

Tôi cũng chân thành cảm ơn Roger Dean, Donald Lehmkuhl, Noel Cobb, Peter Cooper (Ngawong Tenzin), Peter Hansen quá cố, Georgie Downes, Keith Redman và đặc biệt là Meryl, vợ tôi, về những giúp đỡ thực tiễn, những đóng góp cả công sức và tiền của cũng như sự yểm trợ tinh thần.

Tôi cũng cảm tạ Tony Luthenherger, Fred Lane, Stuart Hammil và những người đã giúp tôi có những tiện nghi sinh hoạt trong lúc di chuyển từ nơi này đến nơi khác, thư viện Mimi Church về tư liệu các đạo sư.

Cuối cùng tôi cảm tạ ý kiến đánh giá cao của Michele Martin về giáo pháp và các phương thức tu tập trong tác phẩm, cũng như những góp ý quý giá để tác phẩm được ấn hành một cách thuận lợi. Đó chính là điều biết ơn nhất của tôi.

KEITH DOWNMAN

Chabahil Ganeshantan

Kathmandu - Nepal

Tháng Chạp – 1984

LỜI GIỚI THIỆU

Sức phát triển của bộ môn Tantra tại Ấn Độ thiên về tâm lực xảy ra đồng thời với mối đe doạ huỷ diệt ngày một lớn ở biên giới tây bắc Ấn Độ. Ngay từ đầu thế kỷ 8, khi thế lực hùng mạnh của người Ả Rập trải dài từ Morocco đến xứ Sindh (Pakistan) thì tại Ấn Độ, phần lớn những người kế vị đế quốc vinh quang Gupta lại bận rộn với cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, và nền văn hoá Ấn Độ bắt đầu đi vào thời kỳ ruỗng nát.

Cơ chế tôn giáo cũ mất dần hiệu lực kiểm soát, nên xã hội phải nương vào các luật lệ rất khắt khe về đẳng cấp. Do đó, nghi lễ và nền triết học kinh viện thống lãnh đời sống xã hội. Không có một sức mạnh xã hội đoàn kết thống nhất để đối phó với sự đe doạ của các đạo quân Hồi giáo cuồng tín đi đến đâu cướp phá và tàn sát đến đó.

Trong khi quân Hồi tiến hành cuộc chiến tranh huỷ diệt Phật giáo ở Trung Á thì pháp môn Tantra gia tăng ảnh hưởng, đặc biệt là ở Oddiyana thuộc khu vực ranh giới đông bắc Ấn Độ. Tại đây, triều đại Phật giáo Pala đang thời cực thịnh.

Phải chăng do ngẫu nhiên mà trong thời kỳ chớm hoang tàn người Ấn đã nương tựa vào pháp môn Tantra, một môn vật lý siêu hình với giáo thuyết bất nhị tuyệt đối và giải thoát cùng với hình ảnh các vị thần dữ tợn ăn thịt, uống máu? Phải chăng vì vô tình mà qua nhiều thế kỷ phương Tây chối bỏ Tantra nay quay lại thừa nhận giá trị siêu việt của nó, đem lòng tín mộ và đồng thời lo ngại sự thất truyền của pháp môn Tantra này.

Gần 4 thế kỷ trôi qua – kể từ giữa năm 711, khi xứ Sindh bị xâm lược, cho đến thế kỷ 12 – giáo pháp của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni bị quân xâm lược Thổ huỷ báng, mạo phạm. Nhưng cũng chính trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 12 lại là thời kỳ chói lọi nhất của nền văn minh thuần tuý Hindu.

Suốt thời kỳ này, quốc gia Tây Tạng đã kịp thời nắm bắt tinh tuý của Tantra Phật giáo và các kinh điển Mật tông chính yếu đều được dịch sang Tạng ngữ, nhờ vậy đã tránh được sự thất truyền vì các đại tu viện và thư viện của Ấn Độ bị quân thù đốt phá.

Khi thủ phủ Java trở thành thuộc địa thì đồng thời một đại tu viện được xây dựng ở Borobohur. Mặc dù những thành quả nghệ thuật ở quê nhà bị quân Hồi giáo hủy diệt, nhưng các kinh điển Mật tông của đế quốc Pala (gồm Bengal, Bihar, Orissa và Assam ) vẫn được bảo tồn.

Các di tích đền đài tu viện do các hoàng đế triều đại Pala xây dựng đã chứng minh giá trị nghệ thuật tuyệt vời của Mật tông. Nền nghệ thuật chịu ảnh hưởng đậm đà của Tantra đã miêu tả các đặc điểm của nền văn minh Ấn Độ thuộc thời kỳ này. Những con người biểu trưng cho đặc tính, mục đích và lý tưởng của một nền văn hoá. Họ là động cơ, là lực lượng điều hướng những năng lực đầy sáng tạo để làm chuyển biến cả một dân tộc và thay đổi nền móng xã hội Ấn, làm mẫu mực, và là những ngôi sao sáng trên bầu trời huyền thuật của pháp môn Tantra. Những con người ấy được tôn vinh là Đạo sư (Siddha).

Tám mươi tư vị đạo sư này là những vị tiêu biểu, đại diện cho hàng ngàn vị khác thông suốt về pháp môn huyền thuật. Điều đáng lưu tâm là các đạo sư này xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Họ có thể xuất thân từ hàng vua chúa, quan lại, thầy tế lễ, các nhà Du-già, thi sĩ, nhạc sĩ, thợ thủ công, nông dân hoặc một phụ nữ nội trợ, thậm chí có thể là một cô gái lầu xanh.

Tám mươi tư vị đạo sư mà cuộc đời và các phương pháp tu tập của quý ngài được mô tả trong các truyền thuyết được đưa vào tác phẩm này là những đạo sư Mật tông Phật giáo, hoàn toàn khác hẳn với các môn huyền thuật (tantra) của thần Siva và giáo phái thờ Đại Mẫu.

Trong 84 vị ấy, lừng danh nhất là các đạo sư Tilopa, Naropa, Saraha, Luipa, Ghantapa, Dombipa... Họ là những bậc chứng ngộ, những nhà Du-già khất thực, sống lẫn lộn và hoà nhập vào tầng lớp bình dân nghèo khổ ở tận cùng đáy xã hội. Các đạo sư này giáo hoá quần chúng bằng chính hành vi, thái độ, cung cách của các ngài và sử dụng các phương pháp gây chấn động tâm linh hơn là thuyết giảng suông về giáo lý.

Một số trong các vị ấy là những người chủ trương bài trừ mê tín, đập đổ tượng thờ và không chịu ép mình vào những khuôn khổ cứng nhắc. Họ đánh đổ các hủ tục và tập quán xấu đã có từ lâu đời để tạo một luồng sinh khí mới và sống động cho xã hội. Chế độ đẳng cấp và các nghi thức thuần tuý tôn giáo theo chủ nghĩa kinh viện tự động huỷ diệt khi các vị đạo sư này thể hiện giáo pháp bằng lối sống phóng khoáng đầy giải thoát. Vì vậy, các ngài không viện dẫn thứ ngôn ngữ kinh viện để giáo hoá, mà bằng những ngôn từ giản dị, bình dân, dùng thổ ngữ để viết lên những bài đạo ca trác tuyệt có nội dung đánh đổ những tư tưởng sai lệch, những điều xấu xa của xã hội, cũng như những tà kiến về tín ngưỡng.

Các ngài giáo hoá những gì có liên quan đến thực tại nhiều hơn là những ý niệm siêu hình. Các ngài giáo hoá lý tưởng của cuộc sống chứ không phải cách ép xác, khổ hạnh hay xa lánh gia đình.

Không một nguyên tắc chính thức nào và cũng không có một sự đồng nhất nào về hình tướng, về cung cách giáo huấn. Đó chính là đặc điểm của các đấng đạo sư này.

Dưới sự bảo trợ của các hoàng đế Pala vùng Đông Ấn, nơi mà đại đa số các đạo sư sinh sống, một cuộc cách mạng đã manh nha hình thành.

Nhiều đại tu viện được xây dựng hoặc được trùng tu trở lại hay mở rộng. Tuy nhiên, thái độ chỉ trích công khai của các ngài về hình thức lễ nghi rỗng tuếch của tôn giáo, chủ nghĩa kinh viện, sự bịp bợm và thói đạo đức giả cũng như những phê phán về chế độ đẳng cấp của thời ấy có phần nhẹ nhàng hơn so với thời kỳ của ngài Naropa ở thế kỷ 11.

Mật tông được phổ biến rộng rãi trong xã hội nhờ một số đạo sư thuộc các thế hệ sau nắm giữ quyền hành thế tục. Họ tạo ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống nhân dân và có những hoạt động gắn liền với những biến cố lịch sử ở nhiều mức độ khác nhau. Ngoài ra, tính chất uyển chuyển linh động của Mật tông cho phép các đạo sư khai ngộ và truyền tâm ấn cho một môn đồ khi người này vẫn giữ địa vị thế tục cũng như tài sản và các thú vui ngũ dục, như trường hợp của đạo sư Lilapa chẳng hạn.

Nguyên tắc rộng rãi bao dung này chính là yếu tố cơ bản có sức hút và tính thuyết phục mạnh mẽ của pháp môn Tantra trong Phật giáo. Bởi một lý do dễ hiểu là tại Ấn Độ trải qua hàng chục thế kỷ, chủ nghĩa khoái lạc thường được xem như một phương thức để giải phóng tinh thần.

Tính chất vô tổ chức cùng thái độ khai trừ các nghi thức tôn giáo đã chiếm ưu thế trong Bí mật pháp. Tuy nhiên, Mật tông vẫn giữ được sự chân truyền cho đến ngày nay.

Vốn là một pháp môn bí mật nên trải qua nhiều thế kỷ Tantra mới được truyền ra ngoài. Lai lịch của nó cũng chỉ là những phỏng đoán nhờ dựa vào niên kỷ của các pháp sư Mật tông. Ban đầu, Tantra được ngụy trang dưới hình thức cầu đảo của các bộ tộc thờ Đại Mẫu, sau đó lan dần xuống các đẳng cấp thấp hơn trong xã hội Hindu. Một bản sao lục về pháp thuật với nhiều mục đích khác nhau như chữa bệnh, trừ tà trở thành một bộ phận của các giáo phái bí mật. Qua nhiều thế kỷ, khi các bản sao lục được Phạn hoá và thường là ngụy tạo hơn là chính bản gốc, các giáo phái bí mật lần lượt xóa bỏ các vị thần của đạo Bà-la-môn cùng các nghi thức và các nguyên tắc của mật chú. Cho nên càng về sau triết học của Áo nghĩa thư, các kinh điển của khoa Du-già cũng như các giáo pháp của Phật giáo Đại thừa cũng rơi vào một số phận tương tự. Tuy nhiên, có một sự chuyển hoá quan trọng là cơ cấu nghi thức Mật giáotrở thành một hệ thống siêu hình với mục đích giải phóng con người ra khỏi khổ đau. Và Kapalika, một giáo phái tương tự như dòng Tantra của Saiva, do nhiều tu sĩ Phật giáo hình thành. Đây là dòng Mật tông đầu tiên.

Nhưng mãi đến thế thế kỷ 4 hoặc 5, do nhu cầu truyền thừa để giữ vững mối đạo, các kinh điển Mật tông mới được chép lại trên lá cọ. Trước đó chúng chỉ được truyền khẩu.

Bộ kinh Manjusri Mulakalpa bao gồm các tư tưởng Đại thừa lẫn Kim cương Mạn-đà-la của Ngũ Phật Thiền Định, nhưng Guhyasamaja Tantra lại được xem là tác phẩm đầu tiên trong số các Tantra gốc mô tả khoa Du-già, gồm các mạn-đà-la, mật chú và các nghi thức để triệu thỉnh một vị thần đặc biệt nào đó cùng với quyến thuộc của ngài. Đây chính là trường hợp của Guhyasamaja. Có lẽ môn Tantra này được biên soạn vào thế kỷ 6 hoặc 7, nhưng mãi đến thế kỷ 8 mới được ngài Indrabhuti truyền ra ngoài.

Thế kỷ 8 và 9 đã chứng kiến một sự khải huyền (revelation) của các môn Tổng trì (Major Tantras), đặc biệt là Thai tạng thừa của Phật giáo pha lẫn một số yếu tố của giáo phái thờ Đại Mẫu (Sakta).

Khi kinh văn Tantra được viết ra thì không còn giữ bí mật được nữa. Có lẽ có nhiều lý do để giữ bí mật, nhưng lý do quan trọng nhất là tránh sự thù địch đối với đạo Bà-la-môn, vốn là một tôn giáo lớn vào bậc nhất thời ấy.

Một trong những khía cạnh có tính thu hút của Tantra Phật giáo là việc truyền trao rộng rãi pháp tu cho mọi tầng lớp quần chúng, cả nam lẫn nữ, khác với sự độc quyền truyền thừa cho một giai cấp được ưu đãi trong xã hội. Hơn nữa, phép tu có phần phóng khoáng do không chịu ảnh hưởng của Tantra Sakta (Đại Mẫu) nên cho phép dùng rượu thịt và tính giao giữa tầng lớp quý tộc với giai cấp hạ tiện. Đây là những điều cấm kỵ đối với đạo Bà-la-môn.

Một trong những thành công lớn nhất của các nhà sư Phật giáo là biến môn Tantra thành một cái gì đó mà xã hội đương thời có thể chấp nhận được, và mặc dù các hình thức Tantra Phật giáo được phổ biến vào thời ấy có phần thoả hiệp với tôn giáo lớn (Bà-la-môn) nhưng về học thuyết cơ bản vẫn có sự đối địch cho đến ngày nay.

Chính nhờ sự thoả hiệp ấy mà Phật giáo đã thu hút được những tâm hồn vĩ đại, những học giả đạo sĩ thông thái và uyên bác có khả năng trước tác nhiều bộ luận quan trọng về Tantra, cũng như chú giải rành mạch những điểm tối nghĩa của Tantra bằng chính giáo pháp và các nguyên lý của Phật giáo Đại thừa. Các ngài còn lược bỏ những dấu vết thô thiển của pháp môn này để tạo thành một dấu ấn lớn.

Trước khi mô tả các pháp Du-già và phương thức tu luyện của những pháp sư đa dạng này, có lẽ cần định nghĩa một số từ Sanskrit mà ở đây chúng tôi sẽ giữ nguyên không dịch vì không có thuật ngữ tương đương.

Trước hết là từ siddha. Về mặt ngôn ngữ, siddha là người tu pháp môn Mật tông hay Tantra và đã thành tựu đạo quả, nên cũng được dịch là “thành tựu giả” (người đã thành tựu). Sự thành tựu này được gọi là siddhi. Từ siddhi có hai nghĩa: một là thần thông, hai là Phật trí, hay trí giác ngộ. Do vậy siddha thông thường có thể dịch là thánh tăng, pháp sư, đạo sư hay kim cương sư. Nhưng những từ này không đủ sức diễn tả hết mật hạnh của các ngài. Đối với một người bình thường chưa được khai tâm thì siddha trước hết ám chỉ một con người có các phép thần thông quảng đại. Nếu một hành giả Du-già có thể đi xuyên qua tường, bay trên không trung, chữa lành các bệnh tật, biến rượu thành nước, đọc được ý nghĩ của người khác... vị ấy được phong tặng danh hiệu Siddha. Nhưng cũng vị sư Du-già ấy, nếu có tia nhìn lấp lánh vẻ điên dại trong đôi mắt, bùn đất trét đầy thân thể, hát lên những lời ngô nghê khiến người nghe phải rơi lệ... sự xuất hiện bất ngờ của vị ấy khiến cho một đám đông đang ẩu đả phải chấm dứt ngay lập tức; vị ấy có thể khiến cho một phụ nữ hiền thục đoan trang từ bỏ mái ấm gia đình, dùng bình bát là chiếc sọ người, chuyện trò với các loài chim chóc, ngủ chung với người bệnh hủi, quở mắng những kẻ mị dân và những người có hành vi trái với luân thường đạo lý, giữa búi tóc bện dài hàng thước có đính một viên kim cương - biểu tượng cho sự kiên cố và tánh bất hoại: vị ấy chính là Mahasiddha. Cho nên nếu chỉ căn cứ vào hình tướng bên ngoài của các vị này, phàm phu không thể nhận biết được mục đích của họ qua những hành động cử chỉ dị thường.

Các vị siddha, hay Kim cương sư Mật tông có thể xuất hiện trong nhiều hình tướng hoặc ở những địa vị xã hội khác nhau. Có thể đó là một kẻ bán rong, một vị quan, một ông hoàng, tu sĩ, đày tớ, nô lệ, hay một kẻ có cuộc sống lang thang đây đó, thậm chí có thể là một cô gái lầu xanh.

Tiếp đến là từ saddhana, có thể dịch là “tu pháp”. Đó là hành động hợp nhất giữa thân, khẩu và ý do nguyện lực của vị Bồ Tát. Saddhana còn là giới luật tu tập của một hành giả Du-già được thầy truyền trao. Saddhana cũng là nghi thức thiền định của một tu sĩ đã được truyền giới. Như vậy, saddhana rất quan trọng đối với một Tantrika, tức hành giả tu Mật tông. Trong thực tế, saddhana chính là toàn bộ cuộc đời của hành giả. Vị này sẽ không thể thâm nhập vào saddhana một khi còn vi phạm lời thệ nguyện lúc mới được khai tâm.

Việc thực hiện saddhana phải hoàn toàn dựa trên căn bản vô ngã để cống hiến toàn bộ cho sự giác ngộ và đem tri kiến giải thoát này mà thành tựu đạo quả cho người khác.

Trong ngôn ngữ Tây Tạng, saddhana được dịch là Sgrub Thabs, chỉ có nghĩa là “thành tựu pháp”, tức là pháp môn tu tập để đạt tới đạo quả.

Tùy theo nhân cách của từng vị mà saddhana của mỗi vị có phần khác nhau. Dù ý nghĩa hạn chế nhưng tựu trung thì các saddhana là những phương cách thiền định hoàn bị và sáng tạo. Mục đích rốt ráo của saddhana là Mahamudrasiddhi, nghĩa là Thần thông Đại thủ ấn.

Siddhi bao gồm hai nghĩa là thần thông và sự giác ngộ. Từ “giác ngộ” ở đây được định nghĩa là “nắm hiểu rốt ráo tánh nhất quán của các pháp”, tức là tri kiến bất nhị về thật tánh của các pháp.

Trí phát sinh cùng lúc với Bi. Sự hội nhập giữa Bi và Trí chính là Mahamudrasiddhi. Nhập vào Ba thân, có đủ Tứ trí thì gọi là Mahamudra.

Mahamudra là một thuật ngữ siêu hình khó hiểu. Trong Tantra Mẹ (mother tantra), mahamudra là biểu tượng của chân đế.

Theo hệ phái Áo Vãi (Kargytpa) hay là dòng Đại thủ ấn, mà tiêu biểu là các đạo sư Tilopa, Naropa và Marpa, thì Mahamudrasiddhi gồm 8 đại thần lực. Nhưng truyền thuyết nói rằng ngài Bồ Tát Long Thụ truyền cho ngài A-xà-lê Long Trí 6 món thành tựu như sau:

1. Thấu suốt các pháp.

2. Trí huệ thiện xảo.

3. Biến hoá thần thông.

4. Phương tiện thù thắng.

5. Thần túc.

6. Phép luyện đan dược trường sinh bất tử.

Những pháp thuật như thế có thể được diễn dịch một cách hình tượng về mặt văn chương tùy theo đức tin và trí tuệ của mỗi chúng sinh. Do đó sự hiển lộ thần thông của một vị đạo sư như đi xuyên tường chẳng hạn, chỉ là phương tiện để đem lại niềm tin vào pháp lực đối với kẻ kém trí, nhưng đồng thời cũng chứng minh rằng bản chất của thực tướng cũng chỉ là hình bóng, là ảo ảnh, là ánh sáng, là hư vô.

Chúng ta cần hiểu rằng tất cả các pháp thuật thần thông ấy đều dựa trên một nguyên lý cơ bản: “Các pháp đều do tâm tạo.” Đối với một đạo sư không có sự phân tách riêng biệt giữa thân và tâm, giữa tinh thần và vật chất, giữa ta và người khác.

Vì thế nên các ngài có thể trực nhận được đau khổ của người khác và có thể thực hiện các phép lạ bằng cách vận hành các nguyên tố đất, nước, lửa, gió như những phương tiện cứu độ.

Ngay cả một hành giả còn sơ cơ cũng có thể đạt được một số thần thông trong lúc thiền định, nhưng quan trọng nhất là sau khi xả thiền các thần thông ấy không bị mất. Đó mới chính là dấu hiệu của sự chứng đắc.

Hành giả phải khéo vận dụng các phương tiện thiện xảo để an tâm mình và người khác, giúp cho các pháp lành tăng trưởng và làm biến đổi ý thức một cách tự phát. Vì thần thông sẽ mất đi khi hành giả bị vọng tưởng che lấp, còn trực giác nhạy bén do thiền định lâu ngày sẽ phát sinh.

Trong Mật tông các thần lực được tượng trưng bằng hình tướng của bốn thiên nữ (dakini) cai quản bốn đại (đất, nước, lửa, gió).

Mở đầu

Tám mươi tư vị đạo sư mà cuộc đời và các phương pháp tu tập của quý ngài được mô tả trong các truyền thuyết được đưa vào tác phẩm này là những đạo sư Mật tông Phật giáo. Trong 84 vị ấy, lừng danh nhất là các đạo sư Tilopa, Naropa, Saraha, Luipa, Ghantapa, Dombipa... Họ là những bậc chứng ngộ, những nhà Du-già khất thực, sống lẫn lộn và hoà nhập vào tầng lớp bình dân nghèo khổ ở tận cùng đáy xã hội. Các đạo sư này giáo hoá quần chúng bằng chính hành vi, thái độ, cung cách của các ngài và sử dụng các phương pháp gây chấn động tâm linh hơn là thuyết giảng suông về giáo lý.


Dưới sự bảo trợ của các hoàng đế Pala vùng Đông Ấn, nơi mà đại đa số các đạo sư sinh sống, một cuộc cách mạng đã manh nha hình thành. Nhiều đại tu viện được xây dựng hoặc được trùng tu trở lại hay mở rộng.


Mật tông được phổ biến rộng rãi trong xã hội nhờ một số đạo sư thuộc các thế hệ sau nắm giữ quyền hành thế tục. Họ tạo ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống nhân dân và có những hoạt động gắn liền với những biến cố lịch sử ở nhiều mức độ khác nhau. Ngoài ra, tính chất uyển chuyển linh động của Mật tông cho phép các đạo sư khai ngộ và truyền tâm ấn cho một môn đồ khi người này vẫn giữ địa vị thế tục cũng như tài sản và các thú vui ngũ dục, như trường hợp của đạo sư Lilapa chẳng hạn.


Nguyên tắc rộng rãi bao dung này chính là yếu tố cơ bản có sức hút và tính thuyết phục mạnh mẽ của pháp môn Tantra trong Phật giáo. Bởi một lý do dễ hiểu là tại Ấn Độ trải qua hàng chục thế kỷ, chủ nghĩa khoái lạc thường được xem như một phương thức để giải phóng tinh thần.

Tính chất vô tổ chức cùng thái độ khai trừ các nghi thức tôn giáo đã chiếm ưu thế trong Bí mật pháp. Tuy nhiên, Mật tông vẫn giữ được sự chân truyền cho đến ngày nay.

Vốn là một pháp môn bí mật nên trải qua nhiều thế kỷ Tantra mới được truyền ra ngoài. Lai lịch của nó cũng chỉ là những phỏng đoán nhờ dựa vào niên kỷ của các pháp sư Mật tông.


Nhưng mãi đến thế thế kỷ 4 hoặc 5, do nhu cầu truyền thừa để giữ vững mối đạo, các kinh điển Mật tông mới được chép lại trên lá cọ. Trước đó chúng chỉ được truyền khẩu.

Bộ kinh Manjusri Mulakalpa bao gồm các tư tưởng Đại thừa lẫn Kim cương Mạn-đà-la của Ngũ Phật Thiền Định, nhưng Guhyasamaja Tantra lại được xem là tác phẩm đầu tiên trong số các Tantra gốc mô tả khoa Du-già, gồm các mạn-đà-la, mật chú và các nghi thức để triệu thỉnh một vị thần đặc biệt nào đó cùng với quyến thuộc của ngài. Đây chính là trường hợp của Guhyasamaja.


Một trong những khía cạnh có tính thu hút của Tantra Phật giáo là việc truyền trao rộng rãi pháp tu cho mọi tầng lớp quần chúng, cả nam lẫn nữ, khác với sự độc quyền truyền thừa cho một giai cấp được ưu đãi trong xã hội. Hơn nữa, phép tu có phần phóng khoáng do không chịu ảnh hưởng của Tantra Sakta (Đại Mẫu) nên cho phép dùng rượu thịt và tính giao giữa tầng lớp quý tộc với giai cấp hạ tiện. Đây là những điều cấm kỵ đối với đạo Bà-la-môn.
Một trong những thành công lớn nhất của các nhà sư Phật giáo là biến môn Tantra thành một cái gì đó mà xã hội đương thời có thể chấp nhận được, và mặc dù các hình thức Tantra Phật giáo được phổ biến vào thời ấy có phần thoả hiệp với tôn giáo lớn (Bà-la-môn) nhưng về học thuyết cơ bản vẫn có sự đối địch cho đến ngày nay.


Chính nhờ sự thoả hiệp ấy mà Phật giáo đã thu hút được những tâm hồn vĩ đại, những học giả đạo sĩ thông thái và uyên bác có khả năng trước tác nhiều bộ luận quan trọng về Tantra, cũng như chú giải rành mạch những điểm tối nghĩa của Tantra bằng chính giáo pháp và các nguyên lý của Phật giáo Đại thừa. Các ngài còn lược bỏ những dấu vết thô thiển của pháp môn này để tạo thành một dấu ấn lớn.


Trước hết là từ siddha. Về mặt ngôn ngữ, siddha là người tu pháp môn Mật tông hay Tantra và đã thành tựu đạo quả, nên cũng được dịch là “thành tựu giả” (người đã thành tựu). Sự thành tựu này được gọi là siddhi. Từ siddhi có hai nghĩa: một là thần thông, hai là Phật trí, hay trí giác ngộ. Do vậy siddha thông thường có thể dịch là thánh tăng, pháp sư, đạo sư hay kim cương sư. Nhưng những từ này không đủ sức diễn tả hết mật hạnh của các ngài. Đối với một người bình thường chưa được khai tâm thì siddha trước hết ám chỉ một con người có các phép thần thông quảng đại. Nếu một hành giả Du-già có thể đi xuyên qua tường, bay trên không trung, chữa lành các bệnh tật, biến rượu thành nước, đọc được ý nghĩ của người khác... vị ấy được phong tặng danh hiệu Siddha.


Các vị siddha, hay Kim cương sư Mật tông có thể xuất hiện trong nhiều hình tướng hoặc ở những địa vị xã hội khác nhau. Có thể đó là một kẻ bán rong, một vị quan, một ông hoàng, tu sĩ, đày tớ, nô lệ, hay một kẻ có cuộc sống lang thang đây đó, thậm chí có thể là một cô gái lầu xanh.

Tiếp đến là từ saddhana, có thể dịch là “tu pháp”. Đó là hành động hợp nhất giữa thân, khẩu và ý do nguyện lực của vị Bồ Tát. Saddhana còn là giới luật tu tập của một hành giả Du-già được thầy truyền trao. Saddhana cũng là nghi thức thiền định của một tu sĩ đã được truyền giới. Như vậy, saddhana rất quan trọng đối với một Tantrika, tức hành giả tu Mật tông. Trong thực tế, saddhana chính là toàn bộ cuộc đời của hành giả. Vị này sẽ không thể thâm nhập vào saddhana một khi còn vi phạm lời thệ nguyện lúc mới được khai tâm.
Việc thực hiện saddhana phải hoàn toàn dựa trên căn bản vô ngã để cống hiến toàn bộ cho sự giác ngộ và đem tri kiến giải thoát này mà thành tựu đạo quả cho người khác.

Trong ngôn ngữ Tây Tạng, saddhana được dịch là Sgrub Thabs, chỉ có nghĩa là “thành tựu pháp”, tức là pháp môn tu tập để đạt tới đạo quả.

Tùy theo nhân cách của từng vị mà saddhana của mỗi vị có phần khác nhau. Dù ý nghĩa hạn chế nhưng tựu trung thì các saddhana là những phương cách thiền định hoàn bị và sáng tạo.


Mục đích rốt ráo của saddhanaMahamudrasiddhi, nghĩa là Thần thông Đại thủ ấn.

Siddhi bao gồm hai nghĩa là thần thông và sự giác ngộ. Từ “giác ngộ” ở đây được định nghĩa là “nắm hiểu rốt ráo tánh nhất quán của các pháp”, tức là tri kiến bất nhị về thật tánh của các pháp.
Trí phát sinh cùng lúc với Bi. Sự hội nhập giữa Bi và Trí chính là Mahamudrasiddhi. Nhập vào Ba thân, có đủ Tứ trí thì gọi là Mahamudra.

Mahamudra là một thuật ngữ siêu hình khó hiểu. Trong Tantra Mẹ (mother tantra), mahamudra là biểu tượng của chân đế.


Theo hệ phái Áo Vãi (Kargytpa) hay là dòng Đại thủ ấn, mà tiêu biểu là các đạo sư Tilopa, NaropaMarpa, thì Mahamudrasiddhi gồm 8 đại thần lực. Nhưng truyền thuyết nói rằng ngài Bồ Tát Long Thụ truyền cho ngài A-xà-lê Long Trí 6 món thành tựu như sau:


1.Thấu suốt các pháp.
2. Trí huệ thiện xảo.
3. Biến hoá thần thông.
4. Phương tiện thù thắng.
5. Thần túc.
6. Phép luyện đan dược trường sinh bất tử.

Những pháp thuật như thế có thể được diễn dịch một cách hình tượng về mặt văn chương tùy theo đức tin và trí tuệ của mỗi chúng sinh. Do đó sự hiển lộ thần thông của một vị đạo sư như đi xuyên tường chẳng hạn, chỉ là phương tiện để đem lại niềm tin vào pháp lực đối với kẻ kém trí, nhưng đồng thời cũng chứng minh rằng bản chất của thực tướng cũng chỉ là hình bóng, là ảo ảnh, là ánh sáng, là hư vô.


Chúng ta cần hiểu rằng tất cả các pháp thuật thần thông ấy đều dựa trên một nguyên lý cơ bản: “Các pháp đều do tâm tạo.” Đối với một đạo sư không có sự phân tách riêng biệt giữa thântâm, giữa tinh thầnvật chất, giữa tangười khác.

Vì thế nên các ngài có thể trực nhận được đau khổ của người khác và có thể thực hiện các phép lạ bằng cách vận hành các nguyên tố đất, nước, lửa, gió như những phương tiện cứu độ.


Ngay cả một hành giả còn sơ cơ cũng có thể đạt được một số thần thông trong lúc thiền định, nhưng quan trọng nhất là sau khi xả thiền các thần thông ấy không bị mất. Đó mới chính là dấu hiệu của sự chứng đắc. Hành giả phải khéo vận dụng các phương tiện thiện xảo để an tâm mình và người khác, giúp cho các pháp lành tăng trưởng và làm biến đổi ý thức một cách tự phát. Vì thần thông sẽ mất đi khi hành giả bị vọng tưởng che lấp, còn trực giác nhạy bén do thiền định lâu ngày sẽ phát sinh. Trong Mật tông các thần lực được tượng trưng bằng hình tướng của bốn thiên nữ (dakini) cai quản bốn đại (đất, nước, lửa, gió).


 

Dharmakaya Vajradhara





Vajradhara là vị Phật nguyên thủy, đại diện cho tâm chứng giác ngộ của đức Phật lịch sử và Pháp thân không hình tướng. Ngài cũng là tinh túy của tất cả chư Phật suốt ba thời quá khứ hiện tại tương lai. Thân tướng Vajradhara như bầu trời xanh trong suốt, tượng trưng tâm trí giác ngộ toàn khắp vô hạn, gọi là Pháp thân. Hai tay Vajradhara bắt chéo trước ngực. Tay phải Ngài nắm chầy kim cương tượng trưng cho phương tiện thiện xảo, tay trái cầm chuông tương trưng trí huệ tánh không. Hai Pháp bảo này đại diện cho trạng thái bất nhị tối thượng của thực tại.

Đại sư thứ nhất: Luipa - Nhà sư Du-già ăn lòng cá thối

Như chó dại dính mật ong nơi mũi ,
Cuồng điên tìm vị ngọt khắp nơi nơi .
Hãy tiết lộ bí mật của một Lạt-ma ,
Cho kẻ dại khờ kia hiểu rõ .
Với một con người nhạy cảm ,
Ngộ được chân lý vô sinh .
Tia nhìn thoáng qua của một Lạt-ma ,
Là tia chớp thanh tịnh soi sáng và hủy diệt ảo ảnh .
Như con voi đốn ngã quân thù ;
Bằng chiếc vòi tựa gươm đao .

Truyền thuyết

Thuở nọ , tại đảo quốc Tích Lan ( Sri Lanka ) . Sau khi quốc vương băng hà , theo truyền thống . Thái tử thứ nhất sẽ kế vị vua cha . Nhưng các quan thiên văn xét thấy muốn đất nước được an bình cần phải trao ngôi báu cho người con thứ . Vì vậy , vị hoàng tử trẻ tuổi nghiễm nhiên thành người trị vì cả vương quốc Tích Lan .

Mặc dù sống trong cảnh lộng lẫy xa hoa , được cung phụng đầy đủ các món ngon vật lạ . Nhưng vị vua trẻ vẫn cảm thấy chán chường quyền lực và sự giàu sang . Xét cho cùng nhà vua chẳng được gì thêm ngoài hai thứ ấy . Thế là niềm khao khát duy nhất của ngài là thoát khỏi cảnh ràng buộc này .

Rủi thay , trong lần đầu bỏ trốn . Nhà vua trẻ bị bắt lại và bị xiềng chặt vào chiếc ngai bằng sợi xích vàng . Sau nhờ đút lót cho lính canh . Nhà vua lại thoát ra khỏi hoàng cung cùng một người hầu . Ngài đã tưởng thưởng một cách hào phóng cho người hầu cận trung thành trước khi rời bỏ Tích Lan ; để tìm đến Ramesvaram, nơi đức vua Rama đang trị vì . Tại đây , ngài đổi chiếc vương miện bằng vàng để lấy một bộ da dê và đổi bộ vương phục quí giá để lấy một bộ quần áo rách nát . Kể từ đó , ngài trở thành một đạo sĩ du phương .

Vị đạo sĩ vốn là cựu vương . Thân tướng oai nghiêm đẹp đẽ nên không mấy khó khăn trong việc khất thực độ thân . Du hành khắp xứ Ấn độ , đến một hôm tình cờ ngài đặt chân đến vùng Phật tích Vajrasana . Nơi xưa kia thái tử Tất-đạt-đa tu thành chánh quản . Tại đây , ngài được gặp các nữ Du-già hành giả ( Dakini ) truyền cho tâm pháp . Rời Vajrasana , ngài đến Pataliputra ( thành Hoa thị ) . Kinh đô của vua nằm ven bờ song Hằng . Ban ngày ngài đi khất thực , đêm về nghỉ ngơi nơi mộ địa .

Bữa nọ , khi đi khất thực ngài tình cờ dừng chân trước ngưỡng cửa của một thanh lâu . Chính nghiệp lực của ngài đã dun rủi đưa đến sự kỳ ngộ này . Một cô kỹ nữ lầu xanh trong tiền kiếp từng là một Dakini . Chăm chú nhìn vị đạo sĩ một hồi lâu rồi thốt lên rằng : “ Các căn của ông quả khá thanh tịnh . Chỉ hiềm nỗi tính kiêu mạn vi tế về dòng dõi hoàng tộc vẫn còn phảng phất trong ông ” . Nói xong , cô đổ một ít cháo ôi thiu vào bình bát của ngài .

Đi được một quãng , vị đạo sĩ trút thứ cháo lỏng bỏng đã hôi thối không còn ăn được xuống rãnh nước ở ven đường . Cô gái nhìn thấy vậy bèn quát lên một cách giận dữ  : “ Làm thế nào ông có thể đạt đến Niết-bàn . Khi tâm còn phân biệt sự dơ sạch của thức ăn ? ” . Nghe lời trách mắng như thế , vị đạo sĩ cảm thấy xấu hổ . Chợt nhận ra rằng ngài chưa hoàn toàn dứt trừ hết các phiền não trong tâm . Thế là , ngài nhận thức được : Tâm suy lường phân biệt làm trở ngại chính khiến ngài khó đạt tới Phật tính .

Ngài liền đi về phía sông Hằng , liên tục thiền quán ròng rã suốt 12 năm để diệt vọng niệm phân biệt và các kiến chấp . Hằng ngày , ngài đi quanh bờ biển lượm các ruột cá ngư dân vứt bỏ rải rác . Pháp tu của ngài là : “ Vận tâm quán tưởng thứ ruột cá  tanh hôi tởm lợm trở thành một tiên dược thanh khiết ”Ngài quán chiếu các pháp thế gian chỉ do duyên hợp và bản chất của chúng chỉ là sự rỗng không .

Bởi hạnh tu ấy , nhân dân quanh vùng gọi ngài là Luipa nghĩa là : “ Người ăn ruột cá ” . Sau 12 năm tinh cần tu luyện , ngài Luipa đã chứng đắc thần thông và giác ngộ . Ngài trở thành một vị Guru nổi tiếng và trong các truyền thuyết về Darikapa và Dengipa cũng có nhắc đến ngài .

Hành trì

Truyền thuyết về ngài Luipa đã khôi phục lại ; một số sự kiện trùng lấp gần giống như trường hợp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni . Luipa là một vị vua từ bỏ ngai vàng và các thú vui ngũ dục để đi tìm sự giác ngộ . Và ngài cũng ra đi trong đêm tối cùng với một người hầu . Và rồi sau đó trở thành một tu sĩ . Cả  hai đều đánh đổi vương miện và hoàng bào để lấy một bộ y phục tồi tàn của dân nghèo . Điều ấy nói lên quyết tâm từ bỏ địa vị cao sang để đi tìm chân lý giải thoát . Có điều là Luipa sinh ra vào thời kỳ Phật không còn tại thế . Do đó , ngài không gặp Phật để được người trực tiếp trao truyền giới luật ; và được hướng dẫn các pháp tu đơn giản nhưng có  hiệu quả lớn .

Để có thể đoạn trừ  tạp nhiễm vi tế . Vị Kim Cương Thánh Nữ đã đưa ra phương pháp giải trừ các kiến chấp phân biệt trong tâm của Luipa . Vì đó chính là nguyên nhân đưa hành giả trở lại sáu nẻo luân hồi . Tuy nhiên , muốn thoát khỏi sinh tử luân hồi trong hiện kiếp . Cần có pháp môn thù thắng khế hợp với căn cơ hành giả .

Luipa được xem là bậc thầy của Tantra Mẹ . Nhưng khai ngộ cho ngài lại là một kỹ nữ trong tiền kiếp vốn là một nữ Du già hành giả ( Dakini ) . Vị Dakini thấu suốt tâm kiêu mạn vi tế về dòng dõi , chủng tộc,  đẳng cấp còn đọng lại trong tâm của Luipa . Nên qua cách cúng dường cháo thiu bà gián tiếp chỉ cho ngài pháp đối trị :  Pháp môn dùng thức ăn bất tịnh .

Để đạt tới tâm siêu xuất , cần nuôi dưỡng và kết thân với cái ta căm ghét nhất . Cách tu tập này hình thành Tâm bất nhị – Vô phân biệt . Để biến mọi kiêu hãnh , phân biệt , định kiến thành những hạnh lành như ngài Luipa biến ruột cá tanh hôi thành tiên dược .

Nếu hành giả không lãnh hội được : Chân tính rỗng không thường hằng trong từng xúc niệm . Lập tức rơi vào đối đãi phân biệt . Đó là cảnh giới nhị phân của sáu nẻo luân hồi . Để đạt tới cảnh giới Niết-bàn bất nhị . Cần đạt được tâm bất nhị . Nhờ vào tâm bất nhị . Hành giả có thể nhận rõ được mùi vị chung của tất cả các pháp . Mùi vị ấy là mùi vị giải thoát thanh tịnh .

Xem xét pháp tu của ngài Luipa . Ta thấy được rõ hơn nếu hiểu được “ cá ” biểu trưng điều gì trong xã hội của thời ấy . Trước hết , cá cũng là chúng sinh hữu tình .  đối với đạo Bà-la-môn , ăn cá cũng đồng nghĩa với sự chối đạo . Vì ruột cá là thức ăn chỉ dành cho chó . Trong Vật tổ giáo ( Totem ) chó là giống thấp hèn nhất .

Thực hành một pháp tu như vậy vào thời ấy . Luipa trở thành hạng người dơ bẩn , hạ tiện . Không ai có thể đến gần hay tiếp xúc . Ắn ruột cá là cách tự sỉ nhục mình . Nhằm xóa bỏ tất cả những vết tích về dòng dõi , sự giàu sang và các đặc quyền trước kia nằm sâu thẳm của hiện hữu kiêu mạn vi tế . Đó là cái hành giả Luipa cần phát hiện .

Mặc dù pháp môn tu tập của ngài Luipa không được mô tả đầy đủ . Nhưng ta thấy rằng : Định lực của  ngài đã biến chuyển được thế giới riêng của chính ngài . Và Luipa là chủ tể thế giới do ngài kiến lập.

Sử liệu

Truyền thuyết vừa kể là căn cứ duy nhất xác định ngài Luipa đã sinh ra ở Tích Lan . Như vậy lẽ ra các văn bản của Singhaladvipa nhất định phải đề cập đến . Nhưng vào thời ấy có rất nhiều vương quốc nằm trên vùng tiểu lục địa gọi là Singhaladivpa . Trong đó có vương quốc giáp ranh với Oddiyana ; và nhiều nguồn tư liệu khác cho rằng đó là nơi ngài Luipa đã sinh ra .

Trong một tài liệu khác do học giả Buston chép lại . Luipa là con của đức vua Lalitacandra của xứ Oddiyana . Khi còn là thái tử , ngài Luipa có cơ duyên gặp được đạo sư Savaripa vốn là đệ tử của ngài Saraha . Đạo sư Savaripa truyền tâm ấn cho ngài Luipa trong một buổi lễ trà tỳ ( Lễ thiêu xác ) . Sau khi được Savaripa truyền tâm ấn . Luipa rời Oddiyana và thực hành hạnh Đầu đà .  Cuối cùng ngài đến bờ sông Hằng . Suốt ngày thiền định bên cạnh một đống ruột cá thối . Ngài trụ tâm vào một điểm duy nhất ( Sustained one pointed meditation)  cho đến lúc đắc Pháp .

Hai nhân vật nổi tiếng khác là Darikapa và Dengipa . Mô tả ngài Luipa như một đại sư vô úy , vô ngại và là sơ tổ của pháp môn Tantra Ân độ . Theo hai vị sư học giả này , ngài Luipa vốn là quan văn ở kinh đô Maharaja xứ Bharendra dưới triều vua Dharmapala . Thuyết này nói rằng : Khi đạo sư Savaripa du hóa tại kinh đô Maharaja . Ngài nhận ra Luipa là người hội đủ điều kiện lãnh hội huyền môn của ngài nên ngài đã truyền pháp Kim cương Mandala cho Luipa .

Theo chứng cứ lịch sử , ngài Luipa sinh cùng thời với hoàng đế Dharmapala ( 770 -810 ) . Nếu ngài Luipa thọ pháp vào cuối thế kỷ 8 hoặc vào đầu thế kỷ 9 . Ta có thể ước tính niên hiệu của các đạo sư khác như : Darikapa , Dengiea , Dombi Heruka . Vì họ đều là môn đồ của Luipa .

Nhưng nếu ngài Luipa sinh vào thế kỷ 8 thì không thể đồng thời với MinapaMacchendrannath . Mặc dù có những sự kiện trùng lập . Chẳng hạn tên của các vị theo Phạn ngữ đều có nghĩa là “ cá ” . Cả hai vị đều thuộc hệ phái Yogini Tantra . Lipa thuộc chi phái Samvara và ngài Minapa thuộc chi phái Yogini Kanda .

Thật ra Minapa xuất thân từ phái Naith Saiva ( thờ thần Siva ) và đạt danh hiệu Adi Guru . Còn ngài Luipa không liên quan gì đến giáo phái Hindu . Mặc dù môn thiền quán của ngài có đặc tính của phái Sakta ( Đại mẫu ) .

Sở dĩ tên tuổi của ngài Luipa được đưa vào đầu danh sách của 84 vị đại sư đại thủ ấn . Vì tác giả cho rằng ngài Luipa chính là vị pháp sư đầu tiên của phái Đại thủ ấn . Vị thứ hai đứng vào vị trí này là Saraha . Theo tuổi tác Luipa sinh ra sau Saraha .  Mặt khác , xét theo địa vị và pháp lực . Uy danh của Saraha rất lừng lẫy trong lãnh vực văn chương . Nhưng tên ngài Luipa lại gợi lên ý nghĩa Đại trí lực . Chính Đại trí lực ấy tạo cho ngài sức thần thông quán chúng .

Cả Saraha và Luipa đều xuất thân từ phái Samvara Tantra . Nhưng chính Luipa được nhận danh hiệu Guhyapati tức là Bí mật Pháp sư . Danh hiệu này đưa ngài vào địa vị của một Adi Guru trong hệ phái Samvara Tantra . Môn đồ của dòng tu này đều tu tập theo phương pháp của Luipa . Hơn nữa , Luipa được Kim cương Thánh nữ ( Dakini Vajra Varahi ) trực tiếp khai ngộ .

Nếu ngài Luipa nhận được sự thiên khải có nguồn gốc từ Samvara Tantra tại Oddiyana . Vốn là vùng đất sản sinh ra nhiều chi phái Tantra thuộc Tantra Mẹ . Chính ngài có nhiệm vụ hoằng dương pháp môn này ở vùng đông Ấn . Cho dù nguồn gốc của chi phái Tantra này như thế nào . Luipa cũng vẫn là biểu tượng của điều ngài Saraha tôn thờ . Điều này được khẳng định trong các bài đạo ca do Saraha trước tác .

Chính phương pháp tu tập của ngài Luipa đã trở thành nguồn cảm hứng . Và khuôn mẫu tu tập cho những đạo sư lẫy lừng khác như : Kambala , Ghantapa , Indrabhuti, Jalandhara , Krsnacarya , Tilopa và Naropa . Tất cả các vị đạo sư này đều thọ trì pháp môn của Luipa . Và chính Marpa Dopa đã truyền dòng Tantra này vào Tây Tạng và phái Kahygu vẫn còn gìn giữ tu tập cho đến ngày nay .

Mặc dù Luipa theo Tạng ngữ nghĩa là “ Người ăn ruột cá ” – Nya Ito zhabs . Nhưng có lẽ từ này nguồn gốc từ chữ Lohita trong tiếng Bengal cổ là tên của một loài cá .  Vì thế Luipa cũng đồng nghĩa với các từ Minapa và Macchendra, Matsyendrab . Ngoài ra , tên gọi này còn có nhiều dạng khác nữa như Luipa , Lohipa , Luyipa , Loyipa . . .

-  -  -  -  -  -  -   -  – -

Đại sư thứ 2: Lilapa - Đức vua ẩn sĩ

Trong cái vút nhanh của bốn trạng thái tâm cao thượng ,
Đức vua – nhà Du già .
Con sư tử chốn rừng già ,
Vương miện là năm chòm lông màu lam ngọc .
Còn nhà Du-già kia ,
Vương miện là năm thức thanh tịnh .
Với mười vuốt sắc ,
Con mãnh sư xé nát thịt con mồi .
Mười hạnh tốt của nhà Du-già ,
Bén như gươm đao .
Chặt đứt những quyền năng tiêu cực ,
Vì ngộ được chân lý này nên Lilapa giải thoát .

Truyền thuyết

Một ngày nọ , khi quốc vương vùng Tây Ấn đang tựa lưng ở bệ rồng . Chợt có lính canh tâu có một vị đạo sĩ muốn vào bái kiến . Nhìn vẻ cơ hàn và nét phong trần của đạo sĩ , nhà vua tỏ vẻ ái ngại nên thương xót và phán:  “ Sống rày đây mai đó, hẳn là thầy khổ lắm ? ” . “ Tâu bệ hạ, tôi không hề lấy đó làm khổ não . Có chăng chính bệ hạ mới là kẻ đau khổ , đáng thương ”  . Đạo sĩ ung dung đáp .  “ Cớ sao thầy nói vậy ? ” . Nhà vua sửng sốt hỏi .

“ Trước hết , bệ hạ luôn sống trong nỗi lo mất ngôi , mất nước . Lòng bệ hạ lúc nào cũng canh cánh lo sợ cơn thịnh nộ của thần dân dễ đưa tới việc tạo phản . Vì thế , nên bệ hạ đau khổ . Còn như tôi . Vào nước không chìm , vào lửa không cháy , độc không hại được . Lại biết thuật trường sinh bất tử, ra khỏi luân hồi ” .

Nghe lời đạo sĩ nói , nhà vua bồi hồi than rằng: “ Bạch thầy , làm thế nào quả nhân có thể bắt chước nếp sống rày đây mai đó cơ cực như thầy .   Cúi xin thầy từ bi ban cho Diệu pháp . Có cách tu nào phù hợp với hoàn cảnh của quả nhân . Không lìa ngôi báu , vợ đẹp con xinh , cung điện nguy nga mà vẫn tu thành chánh quả ? ” . Bạch xong , vua phủ phục năm vóc sát đất khẩn cầu đạo sĩ truyền pháp . Đạo sĩ hoan hỉ nhận lời trao tâm pháp cho nhà vua . Nghe xong pháp từ vua liền vào định .

Kể từ đó , nhà vua thường tu tập thiền định ngay trên ngai vàng . Thậm chí khi cùng các phi tử thưởng thức vũ nhạc . Và đức vua được mệnh danh là Lilapa . Vì tính ưa lạc thú và yêu thanh sắc của ngài . Cách tu của Lilapa là chú mục bất động vào chiếc nhẫn ngài đeo ở bàn tay phải .

Khi đã đắc định , vua bèn quán thân tướng của thủ thần ( Yidam ) Hevaja cùng quyến thuộc của ngài . Lilapa ngộ được chân lý rốt ráo và đắc thần thông Đại thủ ấn sau khi thành tựu pháp quán này .

Hành trì

Qua truyền thuyết của ngài Lilapa . Ta thấy một khi giáo pháp của bậc thầy khế hợp với căn cơ đệ tử . Người ấy không nhất thiết phải lìa bỏ đời sống gia đình , từ bỏ các thú vui ngũ dục . Vẫn có thể tu tập đạt tới cứu cánh Niết-bàn . Kim cương thừa trở nên ngày càng cực thịnh . Trước hết do khuynh hướng chung của xã hội Ấn độ thời ấy . Khi quyền lực của giai cấp Bà-la-Môn bắt đầu suy sụp .

Đa thần giáo phát triển rộng rãi trong các giai tầng thấp hơn . Lối tu khổ hạnh không còn sức thu hút quần chúng và chủ nghĩa hưởng lạc xuất hiện . Kim cương thừa vừa là nhân vừa là quả của sự kết hợp giữa dục lạc và giải thoát .

Trong giáo pháp Kim cương thừa , triết học Nhất nguyên ( Vạn pháp duy tâm tạo ) của Ấn độ đã đạt đến chỗ cùng tột của nó . Đó là xem bản chất của hành vi con người cũng đồng với các bậc thánh . Tuy nhiên kẻ cầu đạo phải có đủ sức dũng mãnh tinh tấn . Dám thừa nhận mình vốn là Phật và cảnh giới quanh mình vốn là cõi Phật .  Điều quan trọng nhất là hành giả phải gặp được chân sư .

Vị chân sư này sẽ xem xét căn cơ mà truyền pháp khế hợp với kẻ cầu đạo . Hướng môn sinh đến chân lý giải thoát rốt ráo để cứu độ chúng sinh . Với tâm vô ngã chứ không hướng đến dục lạc . Ngoài ra căn cơ của hành giả cần ở vào giai đoạn chin mùi . Nghĩa là phải dốc một lòng cầu chân lý giải thoát .

Ngài Luipa có đủ những cơ duyên ấy . Nên sau khi được điểm đạo ngài đã say mê tu tập pháp thiền định trụ tâm vào một điểm duy nhất ( One pointed Samadhi ) . Đây là việc khó làm với những ai có đời sống bận rộn . Hay đang chìm đắm trong dục lạc .  Bởi ngay các hành giả Mật tông ( Tantrika) muốn nhất tâm quán điểm như thế . Cũng phải tìm nơi an tịnh như mật thất hay hang động hẻo lánh để thực hành .

Nhưng trong Kim cương thừa, một khi hành giả hội đủ các duyên và được chân sư khai ngộ . Việc xuất gia không theo nghĩa thông thường “ Ly gia cắt ái ” . Được hiểu như là trạng thái của tâm – Trạng thái dứt bỏ mọi vọng tưởng và phân biệt đối đãi . Tâm an tịnh chính là mật thất .  Khi đã an trú trong tâm an tịnh , hành giả tự do quan sát cảnh giới chuyển di bên ngoài . Nhưng tâm vẫn không bị thôi thúc xô đẩy .  Hành giả liền nhận biết rẳng “ Không ” không lìa khỏi “ Sắc ” .

Đây nói trụ tâm vào một điểm tức thâm nhập vào đối tượng . Trụ tâm vào một điểm là giai đoạn sơ khởi . Như thế hành giả chỉ mới nhập vào Đàn pháp ( Mandala ) . Lúc ấy , tướng thủ thần Heruka và quyến thuộc chưa hiện rõ . Hành giả phải tiếp tục quán tưởng cho đến lúc thân tướng của vị thần này xuất hiện đầy đủ , rõ ràng đến từng chi tiết , màu sắc phân minh .

Sau đó , quán tưởng hai vị thủ thần nhập vào nhau giữa trung tâm đàn . Đồng thời quán mười sáu vị Kim cương thủ vây quanh . Mỗi mỗi hiện ra đầy đủ với các màu sắc khác biệt . Thành tựu giai đoạn này tức thời hành giả đắc pháp . Pháp quán này gọi là phép quán về tính hư vọng của sắc . Vì sắc tức là tuớng của thủ thần cùng quyến thuộc vốn từ hư không mà hiện ra .

Trên mặt nhẫn của ngài Lilapa vốn không có tướng của các thủ thần . Vì vận tâm quán tưởng mà có . Nên gọi sắc ấy là từ nơi không . Vì chổ nghịch lý này, nên gọi : “ Sắc tức là Không ” . Đây là Hevajra Mandala . Hevajra còn có tên là Heruka.  Hevajra tantra tức Yoginitantra chính là Tantra Mẹ .

Trong bài kệ xưng tán đệ nhất nghĩa đế . Lilapa tán dương Tuyết sư ( Sư tử tuyết ) là chủ tể bí mật của muôn loài .  Con sư tử cái cho loại sữa . Ai uống vào đều được trường sinh bất tử . Nhưng loại sữa đặc biệt này chỉ được đựng trong bình ngọc mà thôi . Năm chòm lông xanh trên bờm con sư tử đực tượng trưng cho : Năm thức thanh tịnh . Mười vuốt chân tượng trưng cho Mười Ba-la-mật . Thành trì bất khả xâm phạm là Bốn tâm vô lượng .

Theo một số các tượng thường thấy thì tượng thủ thần Hevajra màu xanh có tám mặt , bốn tay và bốn chân . Trong tư thế ôm choàng minh phi của ngài là Nairatma có khuôn mặt trắng , hai tay và hai chân . Cả hai đều trong tư thế nhảy múa . Một chân co , một chân duỗi . Có tượng vẽ ngài mười sáu tay . Mỗi tay cầm một cái đầu lâu . Nairatma tay cầm đầu lâu , tay cầm câu liêm trong dáng đứng uy vũ chống lại pháp thuật của bốn quỷ thần gồm Phạm thiên , Visnu , Siva và Sakra ( Đế thích ) .

Hình Phạm Thiên màu vàng ,
Tượng trưng cho ngũ ma .
Hình Visnu màu xanh ,
Tượng trưng cho nhục cảm .
Hình  Siva màu trắng ,
Tượng trưng cho sự hủy diệt .
Hình Sakra màu trắng ,
Tượng trưng cho kiêu mạn và tham đắm .

- – - – - – - – - – - – - – - – - – - -

Đại sư thứ 3: Virupa - Chân sư của các thiên nữ

Chân lý hiển nhiên thuộc về ta
Chỉ cần an trú trong thực tướng
Chẳng nghĩ, chẳng suy, chẳng nắm bắt
Chẳng phải của ta, chẳng là ta
Không cố chấp
Không cầu tỉnh giác
Chẳng phải thường hằng
Chẳng phải hằng
Giải thoát rốt ráo và viên mãn.

Truyền thuyết

Ngài Virupa vốn sinh trưởng ở miền đông xứ Triputa thuộc vương quốc Bengal dưới thời vua Devapala . Ngay từ thuở thiếu thời , ngài đã qui y tu học tại tu viện Somapuri . Không lâu sau đó, ngài nằm mộng thấy Kim cương nữ Bồ Tát trao cho tâm pháp . Với lòng mong muốn mau thành tựu , ngài gia công trì tụng Kim cương chân ngôn hai mươi triệu biến trong suốt thời gian 12 năm . Nhưng ngài vẫn không thấy có dấu hiệu chứng đắc .

Một hôm , quá ư thất vọng . Ngài ném xâu chuỗi vào hố xí và rủa thầm : “ Mấy cái hạt vô tích sự này . Chẳng liên quan gì đến niềm an lạc của ta ” . Tuy nhiên , vào một đêm trong khi đang hành trì công phu . Sự bừng ngộ xảy ra trong tâm thức , ngài chợt nhớ đến xâu chuỗi đã mất . Tức thì Kim cương nữ Bồ tát hiện ra trao lại cho ngài xâu chuỗi và dạy rằng : “ Ngươi chớ phiền não . Ta sẽ luôn ở bên ngươi để hộ trì .  Hãy loại bỏ các kiến chấp phiền não mà gắng công tu tập ” . Sau đó ngài Virupa tu tập Kim cương tâm pháp thêm mười hai năm nữa thì ngài thấu triệt Đệ nhất nghĩa đế . Kể từ ấy ngài vượt thoát ra ngoài vòng sinh tử .

Mặc dù vậy , Virupa là ngưòi vốn quen rượu thịt . Hằng ngày , người hầu thường đi ra ngoài kiếm rượu thịt để dâng cho ngài . Cho đến một hôm người hầu lén bắt trộm những con chim câu của tu viện làm thịt . Thấy bỗng dưng mất những con chim câu, vị giám viện rung chuông họp tăng chúng lại tra hỏi : “ Ai trong các người đã ăn thịt những con chim câu của tu viện ? ” .

Chúng tăng đồng thanh đáp : “ Bạch thầy , việc này vốn chưa từng xảy ra . Có điều chắc chắn là không ai trong chúng tôi lại có thể sát hại những con chim câu ấy ” . Chợt một vị tăng nhìn vào cửa sổ phòng của Virupa , thấy ngài đang dùng thịt chim câu với rượu . Lập tức Virupa bị trục xuất ra khỏi tu viện . Gửi lại chiếc bình bát nơi bàn thờ .

Virupa đảnh lễ lần cuối cùng trước tượng đức Thế Tôn , bậc đạo Sư mà ngài đã thờ phụng hơn 24 năm qua . Rồi ra đi . Lúc rời cổng tu viện , một ông tăng chặn lại hỏi : “ Thầy sẽ đi về đâu ? ” . Ngài đáp: “ Ta đi theo con đường của riêng của ta ” .

Gần tu viện Somapuri có một hồ sen lớn , quanh năm phủ đầy lá . Khi đến gần hồ, Virupa liền ướm thử chân trên một lá sen để xem có chìm không . Đoạn ngài niệm danh hiệu Phật , rồi bước thoăn thoắt trên những cánh sen để đi qua bên kia bờ hồ . Chứng kiến cảnh Virupa hiển lộ thần thông như thế,  chúng tăng đều kinh hoàng, lòng tràn đầy hối hận .

Họ tiến lại gần , năm vóc sát đất đảnh lễ và sờ vào chân ngài với niềm cung kính vô biên : “ Ngài thật có pháp lực vô biên . Cớ sao lại nhẫn tâm giết hại những con chim câu của chúng tôi ? ” . Virupa mỉm cười đáp : “ Những gì các ông thấy biết cũng chỉ là ảo ảnh . Giống như các hiện tượng thông thường khác trong thế gian ” . Nói xong , sư sai người hầu mang lại những mẫu xương , thịt vụn của chim . Bỏ vào lòng bàn tay trái đưa lên cao , tay phải khẻ khảy móng mấy cái . Những con chim câu liền sống lại và bay đi . Trông chúng to đẹp và khỏe hơn trước .

Từ bỏ lối sống của một nhà sư trong tu viện Somapuri . Virupa trở thành nhà Du-già khất thực . Lang thang đến bờ sông Hằng , ngài xin vị nữ thần sông một ít vật thực . Nhưng nữ thần tỏ ra kiêu kỳ từ chối khiến sư nổi giận rống lên một tiếng rồi tách nước sông làm đôi để đi qua . Đi mãi đến thị trấn Kanasata . Tại đây , ngài ghé lại tửu quán để dùng cơm và uống rượu . Cơm trắng rượu nồng là hai thứ mà ngài ưa thích nhất . Thấy Virupa uống rượu liên miên , chủ quán có ý định đòi tiền trước .

Virupa cười bảo : “ Ta sẽ ra đi khi trời tối.  Lúc ấy trả tiền cũng không muộn ”  . Nói xong , tay trái ngài cầm dao quán chỉ thẳng vào mặt trời . Dùng phép “ Định thân ” chặn đứng mặt trời . Chia bầu trời làm thành hai phần : Bên tối và một bên sáng . Cứ như thế trải qua suốt mấy ngày , ngài tiếp tục uống và dùng lửa tam muội thiêu đốt năm trăm ngàn quỷ thần trong vùng khiến hạn hán xảy ra .

Đức vua xứ Kanasata lấy làm kinh hoàng về việc lạ chưa từng có ở đất nước . Nhưng không rõ duyên do gì . Cả triều đình cũng bó tay không biết tai họa từ đâu mà đến.  Cuối cùng, nữ thần Mặt Trời hiện ra báo cho nhà vua . Sở dĩ có việc lạ như thế là do hành giả Du-già nợ tiền cơm rượu và chính nữ thần này cũng đang phải khốn đốn . Nhà vua bèn sai người đến trả tiền cho chủ quán .  Virupa biến mất .

Ít lâu sau , Virupa du hành đến Indra . Đây là vùng đất có nhiều tín đồ Bà-la-môn rất cuồng tín . Virupa tình cờ  đi ngang qua một tượng thần Siva bằng đá cao đến hơn 20 mét . Những tín đồ Bà-la-môn đang canh giữ tượng thần buộc ngài phải vái chào thánh tượng Siva . Ngài chối từ và nói rằng : “ Bậc trưởng thượng mà phải vái chào kẻ dưới hay sao ? ” .

Vua xứ Indra cũng có mặt ở đó , bèn lên tiếng bênh vực cho các đạo sĩ Bà-la-môn .  Nhà vua phán : “ Nếu không vái chào thánh tượng . Ngươi sẽ phải tội chết ”.  Ngài nói : “ Nhưng nếu đảnh lễ vị thần này , ta sẽ mắc tội lớn hơn tội chết ” . Vua nói rằng : “ Ngươi cứ làm .  Hãy để tội ấy trẫm gánh chịu ” . Virupa liền chắp tay cung kính . Tức thì , tượng thần Siva nứt đôi , một giọng nói rền vang như sấm sét từ cõi trời vọng xuống : “ Đệ tử có mặt . Bạch thầy có điều gì dậy bảo ? ” . Ngài Virupa nói : “ Nay ta quy y cho ngươi . Hãy phát nguyện hộ trì chánh pháp ” . Thần Siva hiện ra , phát nguyện đúng theo lời dạy . Rồi tượng đá khép lại nguyên vẹn như cũ .

Từ Indra , Virupa lại vân du đến Devikota thuộc miền đông Ấn . Hầu hết cư dân vùng này đều là phù thủy ăn thịt người , uống máu nóng . Họ thường rình rập bỏ bùa mê các khách bộ hành tình cờ qua lại vùng này để bắt đem về tế lễ . Một ngày nọ Virupa cùng một thiếu niên đi vào vùng này.  Cả hai dừng chân ở một ngôi đền thờ cuối làng để nghỉ qua đêm .  Trong cuộc tương ngộ này  Virupa ban cho chú bé một câu thần chú để hộ thân .

Cả hai lăn ra ngủ vùi vì quá mệt mỏi sau chặng đường dài . Lúc ấy bọn phù thủy đang tụ tập để tế lễ . Họ đã có thịt thú vật nhưng còn thiếu máu người để cử hành đúng nghi thức của cuộc tế . Gã phù thủy cầm đầu đã bỏ bùa Virupa và cậu bé vào buổi sáng , nên sai thuộc hạ đến ngôi đền để bắt hai nạn nhân của chúng .

Nhờ mật chú hộ thân , cơ thể của cậu bé như dính chặt xuống mặt đất . Khiến bọn phù thủy dùng hết sức cũng không tài nào nhấc lên nổi . Chúng đành khiêng một mình Virupa đang còn say ngủ về nơi ở . Bọn phù thủy tưới rượu lên khắp thân hình Virupa . Tay cầm dao , miệng cười rú lên một cách ma quái .

Tiếng cười mỗi lúc một lớn, nhưng khi chúng chưa dứt tiếng cười, . Virupa liền ngồi choàng dậy cất tiếng cười . Lần này, tiếng cười của Virupa to hơn gấp ngàn lần tiếng cười của bọn phù thủy . Âm thanh chấn động đến tam thiên đại thiên thế giới, khiến bọn chúng mất hết ý thức . So với tiếng cười của Virupa,  tiếng cười của bọn phù thủy chỉ như tiếng khóc của trẻ sơ sinh .

Quá kinh sợ , bọn phù thủy khẩn nài xin ngài tha tội . Sau khi dùng thần lực nhiếp phục bọn phù thủy , Virupa làm lễ quy y cho chúng .  Ngài dạy: “ Nếu các ngươi một lòng chí tín , quy ngưỡng Tam bảo thì ta luôn kề cận các ngươi để hộ trì, tránh khỏi mọi sự tổn hại . Ngày ngày các ngươi phải chuyên cần tu tập hạnh Bồ Tát .  Nếu các ngươi giải đãi , tự thân sẽ bị mất đi một cốc máu . 

Nếu các ngươi quay lưng lại với chánh pháp quay trở về với loài quỷ thần . Chiếc đĩa này sẽ chém lìa đầu các ngươi . Lúc bấy giờ, Bắc phương Quỷ Vương sẽ đến hút cạn máu của các ngươi ” . Bọn phù thủy nhất mực vâng lời dạy của ngài Virupa .

Tương truyền , ngày nay người ta vẫn còn thấy hình dáng chiếc dĩa này và Bắc phương Quỷ Vương trong dải Ngân hà . Sau khi nhiếp phục bọn phù thủy , Virupa lại vân du sang xứ khác . Ít lâu sau, ngài lại trở về viếng thăm vùng Dekikotta .

Lúc bấy giờ , vị đại Phạm Thiên và thị giả của ngài là Umadevi . Dùng thần thông tạo ra một thành phố gồm bốn triệu cư dân để tôn vinh và thờ phụng ngài . Tất cả vật thực dành cho buổi lễ cung nghinh ngài Virupa trở lại Dekikotta được chư thiên mang đến từ 33 cõi trời trong Dục giới . Truyền thuyết  nói rằng ngài thọ đến 700 tuổi mới viên tịch .

Hành trì

Chướng ngại của Virupa cũng chính là phiền não của các hành giả Mật tông lúc còn sơ cơ . Trở lực ấy có lẽ do quá đem tâm dục cầu khiến sắc ý bột phát trong giai đoạn tu định . Cũng vì Kiến chấp ( Preconception ) với Chân tính ( Nature of reality ) . Kim Cương thánh nữ hiện ra như một thực thể nội tại vô biên đã phá vỡ cái vòng lẩn quẩn mà Virupa bị kẹt trong đó suốt 12 năm và giải thoát ngài ra khỏi sự bế tắc của tâm thức . Không dựa vào sự vật bên ngoài , vất bỏ xâu chuỗi để đi vào bản tâm thanh tịnh . Đó là nhận thức đầy tính dứt khoát của Virupa .


Trong kinh dạy rằng :

“ Bản tâm thanh tịnh được gọi là hạt châu như ý ” .
Bản tâm vốn không , các pháp lưu xuất thành niệm là do các căn .
Trong thiền định các kiến chấp tạo nên vọng tưởng biến thành phiền não .

Sử liệu

Nơi ngài Virupa trải qua 12 năm tu học chính là đại tu viện Somapuri . Một trong những tu viện lớn nhất ở vùng đông Ấn , được xây dựng dưới triều đại Pala ( gồm xứ Bengal và Bihar ) . Các vua thuộc triều đại này vốn là những đại thí chủ của Mật tông . Nhà sư học giả Taranatha cho rằng vua Devapala ( 810-840 ) đã xây dựng tu viện này . Nhưng có lẽ nó  đã được tạo dựng trước đó nhiều năm do công của vua Dhamlapaka ( 770-810 ) . Một nhân vật sống cùng thời với Virupa .

Đến nay , người ta vẫn chưa xác định được vị trí chính xác của tu viện này . Nhưng có thể đó là khu vực Ompur ở Bengal . Có điều đáng nói là thanh qui chi phối tăng chúng ở đây đã được sư Santaraksita truyền sang Tây Tạng và vẫn còn được áp dụng cho đến bây giờ .

Tripura , sinh quán của ngài gồm những khu vực khác nhau như Radhakisorapura – Assam Devikotta . Các địa danh này cũng là tên của các đền thờ Mẫu thần ( Sakta ) . Tọa lạc trong những khu rừng sâu khó vào . Nơi đó , các bộ tộc theo giáo pháp Đại mẫu có tập tục tế người như theo chuyện kể ở Kamarupa mà Virupa đã cải đạo cho các bộ lạc này .

Từ ‘ Witch ” theo Tạng ngữ là Phra Men ( Vetala ) là một loại ma thi chuyên ăn thịt người để hoàn sinh . Nhưng theo kinh văn Tây Tạng . Đây là những nữ phù thủy bậc thấp chuyên về ma thuật và sử dụng linh phù . Có một mẫu chuyện khác kể rằng Virupa được các Thiên nữ ( Dikini ) dâng cúng hoa sen và ốc tiên ( Hai biểu tượng của âm dương ) .

Với sự giúp đỡ của một Phật tử , Virupa đến  núi Sri Parvata . Tại đây , ngài A-xà-lê LongTrí Bồ tát đã truyền thụ cho ngài các pháp thuật của Trời Dạ Ma ( Yama ) . Với các pháp thuật này , Virupa quay lại Devikotta hàng phục các phù thủy và khiến họ qui y Tam Bảo . Lại có thuyết nói rằng Virupa là người lập ra pháp môn Rakta Yamari Tantra và một số các phương pháp thiền định có liên quan đến bộ môn Tantra này .

Xét theo cung cách mà Virupa cải đạo cho dân chúng vùng Devikotta cũng như cách hàng phục Trời đại Phạm Thiên ở Indra . Chúng ta liên tưởng đến vị đạo sư Mật tông Liên Hoa Sanh cùng thời với ngài . Cũng dùng những phương cách tương tự để nhiếp phục và cải đạo cho những người theo đạo Bon ở Tây Tạng .  Theo kinh văn của dòng tu Yogini Candika ( The Mystic Heat ) . Virupa chính là nhà sư Sridramapala và Nalanda là tu viện mà Virupa có lần đến tu học . Sau đó bị trục xuất và Orissa chính là nơi ngài thi triển tửu lượng .

Ngoài ra , có điểm phù hợp với câu chuyện thần Siva nứt ra khi Virupa chắp tay tại Somanath . Vì tại Samrastra có một tượng đá của đại Phạm Thiên ( Mahadeva ) .  Bức tượng đá khổng lồ rất nổi tiếng này bị quân Hồi giáo phá hủy vào năm 1015 .

- – - – - – - – - – - – - – -

Đại sư thứ 4: Dombipa - Người cưỡi cọp

Viên đá của nhà triết học ,
Biến sắt trở thành vàng .
Năng lực tự nhiên của viên đá quí ,
Biến đam mê trở thành thức thanh tịnh .

Truyền thuyết

Dombipa vốn là quốc vương xứ Ma-kiệt-đà ( Magadha ) .  Ngài được đạo sư Virupa khai ngộ và truyền tâm ấn . Vị quốc vương ngộ đạo này thương yêu thần dân như con đỏ . Tuy nhiên , dân chúng vẫn không biết ngài là môn đồ của Mật tông . Họ chỉ biết ngài là vị vua hết lòng thương yêu và chăm lo đời sống nhân dân .

Để đất nước có một cuộc sống an lạc . Ngài cho vời viên đại thần đến và dạy :

“ Vì nghiệp quả đời trước nên đất nước ta thường xảy ra dịch bệnh và nạn đạo tặc . Nay để tránh tai họa cho muôn dân . Ngươi mau đúc một cái chuông đồng lớn treo lên một cây đại thụ . Mỗi khi thấy có hiện tượng nguy biến thì đánh chuông ấy . Tức nhiên tai họa tiêu trừ ” .

Viên đại thần y lệnh.  Kể từ đó trong nước bớt nạn trộm cướp và dịch bệnh . Đến một ngày nọ , có đoàn hát rong từ phương xa đến để trình diễn cho vua xem . Trong đám người thấp hèn có một thiếu nữ 12 tuổi xinh đẹp diễm lệ . Ai thoạt nhìn cũng không khỏi đem lòng yêu thương . Nhà vua bèn tỏ ý nhận nàng về làm bầu bạn .  Ngài bí mật ra lệnh cho bọn họ dâng nàng cho ngài .

Một người trong bọn tâu rằng : “ Tâu đại vương , ngài là bậc cao quý . Chúng tôi chỉ là kẻ tôi tớ hạ tiện mà mọi người khinh khi xa lánh . Cớ sao đại vương lại nghĩ đến một việc kết hợp không tương xứng như thế ? ” . Nhưng vua cứ khăng khăng làm theo ý mình và ban thưởng vàng bạc cho đoàn hát rong .

Thế là , vua bí mật giấu nàng trong hậu cung suốt 12 năm . Sau đó mọi người mới phát hiện ra sự có mặt của nàng. Tiếng đồn loan đi khắp nơi . Người ta nói với nhau rằng : “ Đức vua đã chung sống với một phụ nữ thuộc tầng lớp hạ tiện . Điều này thật khó dung thứ ” . Trước áp lực của thần dân và triều đình, nhà vua buộc phải thoái vị và giao quyền bính lại cho thái tử .

Vua rời hoàng cung và cùng nàng phi ấy đi vào rừng sâu sống . Tại nơi hoang dã, cả hai cùng nhau tu luyện môn Du-già Mật pháp ( Tantric Yoga ) trong 12 năm . Kể từ khi vua thoái vị . Đất nước lâm vào cảnh rối ren . Triều thần họp lại quyết định thỉnh cầu cựu vương quay về chấp chính .

Các sứ giả triều đình đi vào rừng sâu để tìm ngài . Khi gần đến nơi , họ nhìn thấy cựu vương đang ngồi thiền định dưới một gốc cây đại thụ . Còn vị phi nữ của ngài đang bước trên những cánh sen để lấy nước sương mai về cúng dường chủ nhân . Họ ngạc nhiên quay về tâu với triều đình .

Sau khi nghe các sứ giả thuật lại sự việc mà họ đã chứng kiến . Quần thần cùng nhân dân trong xứ liền kéo nhau đi đón cựu vương . Nhận lời thỉnh cầu cùng người thiếp cưỡi trên mình con bạch hổ . Tay roi là con bạch xà rời khỏi khu rừng rậm . Tất cả mọi người nhìn thấy cảnh ấy đều không khỏi khiếp sợ .

Chào hỏi mọi người xong , nhà vua phán : “ Ta đã phải mất địa vị cao quí chỉ vì sự kết hợp với người phụ nữ ở tầng lớp hạ tiện . Nay các ngươi yêu cầu ta trở lại ngai vàng là một điều không thích hợp . Chỉ có cái chết mới mong xóa bỏ được những thành kiến về giai cấp . Vậy các ngươi hãy hỏa thiêu chúng ta ” .

Theo tập tục Ấn độ, để xóa bỏ những dấu vết tội lỗi hoặc để chứng minh sự vô tội của mình . Người ta đưa nạn nhân lên giàn hỏa và đốt trong bảy ngày . Nếu người ấy còn sống thì sẽ được thừa nhận là vô tội . Lễ hỏa thiêu nhà vua cùng người thiếp diễn ra trong suốt bảy ngày đêm . Đến khi lửa tàn, mọi người đến gần quan sát .  Họ thấy quanh thân thể của hai người dường như có một màn sương mong manh . Y phục trên người vẫn y nguyên không một vết cháy xém . Mọi nghi ngờ đều tan biến trong lòng mọi người .

Khi ấy , nhà vua trỗi dậy . Bước ra khỏi đống tro tàn gọi mọi người lại bảo : “ Hỡi dân chúng mến yêu của ta . Nếu các ngươi noi được gương tu tập . Ta sẽ ở lại trị vì các ngươi . Nếu như các người không thể tu tập để tự cứu lấy bản thân . Thế thì sự có mặt của ta phỏng có ích gì ?  . Quyền lực chỉ là một chút ít lợi lộc nhỏ nhoi .  Công đức tu hành mới là to lớn . Vả lại , vương quốc của ta không phải là vương quốc của quyền lực mà là vương quốc của chân lý ” . Nói xong , vua liền từ biệt.

Hành trì

Tại Ấn độ , người ta tin rằng tiếng chuông có khả năng xua đuổi tà ma và làm thanh tịnh tâm trí . Chiếc chuông Dombipa cho dựng lên có nhiều công năng để cảnh giác nạn đạo tặc . Báo động mối nguy về thiên tai , dịch họa hoặc xua đuổi các quỷ thần  tà ma  uế trược khi có dịch bệnh . Và làm tịnh tâm trí và tăng trưởng thiện nghiệp . Tiếng chuông ngân là biểu tượng của sự tỉnh giác . Khi nghe tiếng chuông ngân  tâm thức có thể dứt hết các niệm trần để thâm nhập vào cảnh giới thanh tịnh Không tính ( Etiness ) .

Ngoài ra , cuộc hôn nhân không cùng đẳng cấp là điều cấm kỵ của xã hội thời bấy giờ . Kẻ vi phạm sẽ bị mọi người khai trừ khỏi giai cấp và có khi bị trừng phạt nặng nề . Trong Phật giáo và đặc biệt đối với Mật tông khuynh hướng chống lại giai cấp . Nhưng không phải là sự đối kháng gay gắt nhằm lật đổ giai cấp hay cải tạo xã hội như các học thuyết khác . Vua bỏ ngôi , quan từ chức để đi tu chính là hành động từ bỏ giai cấp của mình . Đó cũng là cách chống đối quan điểm giai cấp .

Nhưng đối với quần chúng thời ấy . Sự chống đối không bị ghép tội . Vì đây là sự miễn trừ đối với thần thánh . Hơn nữa , với người tu hành muốn đạt tới Phật tính . Điều căn bản là cần phải diệt hết các kiến chấp về giai cấp . Chính vì vậy mà các hành giả Du-già thường chọn người bạn đời , kẻ đạo hữu từ giai tầng thấp trong xã hội , để trưởng dưỡng tâm vô phân biệt . Với các phương thức tu tập đặc biệt của Du-già . Hành giả có thể biến dục tưởng thành trí huệ .

Đối với một hành giả Du-già . Người vợ tinh thần ( Mystic consort ) hay đạo hữu chính là sắc tướng của Nghiệp ấn ( Karmamudra ) ; dùng để ấn chứng các giai đoạn tu tập ba nghiệp ( Thân , khẩu , ý ) . Người vợ tinh thần của Dombipa chính là hóa thân của Kim cương Bồ tát .

Pháp tu của họ là kết hợp giữa : Dục lạc ( Pleasure ) và Không tính ( Emptiness ) .  Phương pháp này dùng để kích động luồng Hỏa hầu ( Kundalini ) ở trung tâm Tính dục ( Sexual Chakra ) . Khiến làm lưu thông các Luân xa ( Yếu huyệt ) trong cơ thể .

Sử liệu

Theo tài liệu của Taranatha . Dombipa vốn là vua xứ Tripura , quê hương của đạo sư Virupa – Vị thầy tế độ của Dombi . Tương truyền : Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giáo hóa thần dân trong nước . Dombipa cùng vợ ngài vân du khắp nơi dùng thần thông để lợi lạc quần sinh , nhiếp phục ngoại đạo và khai ngộ cho những kẻ có cơ duyên . Có lần ngài cưỡi cọp bay ngang qua thành Radha để nhiếp phục vị quốc vuơng xứ này . Và tại Karmataka , miền nam Ấn độ . Dombipa đã truyền giáo pháp cho năm trăm môn đồ .

Dombipa còn được biết dưới danh hiệu khác là Dombi Heruka . Dombipa nghĩa : Vị chúa của Dombi và Dombi cũng là tên của vợ ngài . Heruka là tiếng ghép giữa SamvaraHevajra . Đó cũng là pháp hiệu của một Đạo sư ( Siddha ) . Vì thế , Dombi là HevajraDombi Heruka tạo nên nhiều bộ luận có liên quan đến Tantra Mẹ . Tác phẩm tiêu biểu nhất là Ekavira-Saddha . Ngài sống vào cuối thế kỷ 8 đến đầu thế kỷ 9 .

- – - – - – - – - – - – - –
 

Đại sư thứ 5 : Savaripa - Người thợ săn

Trong khu rừng hoang vu ,
Một con nai ẩn náu .
Con nai có tên là chán bỏ ,
Kéo cánh cung của phương tiện là trí tuệ .
Buông chiếc tên chân lý ,
Con nai chết .
Ừ , Tư tưởng chết ,
Thịt xương ấy là bữa tiệc của bất nhị .
Thuần một vị thanh tịnh mà thôi ,
Và mục đích ta đã đạt đến rồi .

Truyền thuyết

Tại vùng núi Vikrama , có một người thợ săn tên là Savaripa . Ông giết hại muông thú để sống và sống để giết hại muông thú . Nhưng đó là nghề nghiệp không mong muốn . Bồ Tát Quán Thế Ấm động lòng muốn giải thóat cho ông khỏi cái vòng lẩn quẩn ấy . Bèn dùng thần thông hóa thành một người thợ săn đón ông ở giữa đường. “ Ông là ai ? ”  - Người thợ săn Savaripa hỏi .

“ Ta cũng là thợ săn như ông ” .  “ Ông từ đâu tới ? ” . “ Rất xa ” .“ Thế với một mũi tên , ông có thể bắn hạ bao nhiêu con nai ? ” . Savaripa hỏi với vẻ tự hào về tài thiện xạ của mình . Bồ Tát đáp : “ Khoảng chừng 300 con hoặc hơn nữa ” . “ Thế thì ta muốn xem tài của ông ” . Bồ Tát nhận lời thách thức của Savaripa .

Sáng sớm hôm sau . Y hẹn , Bồ Tát đưa Savaripa đến một nơi có sẵn 500 con nai do ngài dùng sức thần thông hiện ra . Người thợ săn vừa trông thấy bầy nai và đưa tay chỉ : “ Kìa , cả bầy nhiều như thế . Ông có khả năng hạ được bao nhiêu ? ” . “ Ta sẽ hạ một lúc 500 con ” . Savaripa có vẻ không hài lòng và đề nghị : “ Sao ông không bắn trước 100 con thử xem ? ” . Bồ Tát liền bắn một mũi tên , 100 con nai cùng ngã lăn ra chết . Bồ Tát bảo Savaripa mang một con về nhà . Nhưng khi cúi xuống để vác con nai , Savaripa vận hết sức lực vẫn không tài nào nhắc lên được .  Lúc ấy , lòng kiêu hãnh của y biến mất . Trên đường về , Savaripa khẩn khoản xin Bồ Tát dạy cho y cách bắn cung kỳ diệu ấy.

Ngài nhận lời nhưng buộc Savaripa phải chay tịnh trong vòng một tháng . Nhờ vậy, hai vợ chồng Savaripa bớt được nghiệp sát sanh trong thời gian một tháng . Sau thời gian ấy , Bồ Tát quay lại và bảo Savaripa rằng : “ Nếu ông thực lòng muốn học thuật bắn cung vi diệu của ta . Trước hết ông phải khởi lòng thương xót tất cả chúng sinh và ừ bỏ rượu thịt thì việc học mới mau chóng thành tựu ” .

Savaripa đồng ý không một chút ngần ngừ .  Thời gian ấn định trôi qua , Bồ Tát trở lại , Savaripa nồng nhiệt đón chào . Nhưng Bồ Tát chẳng đả động gì đến việc dạy dỗ . Ngài vẽ một vòng tròn Mandala và rải một lớp hoa tươi lên .  Rồi Bồ Tát bảo hai vợ chồng người thợ săn : “ Các ngươi thử nhìn vào xem ” . Khi nhìn vào vòng tròn kỳ diệu . Cả hai thấy hình ảnh họ đang bị lửa thiêu đốt trong địa ngục . Quá kinh hoàng , họ không thốt nên lời .

“ Các ngươi thấy những gì ? ” . Bồ Tát hỏi : “ Chúng tôi thấy bản thân mình bị thiêu đốt trong địa ngục ” . Cuối cùng, Savaripa gắng gượng trả lời : “ Các ngươi có sợ không ? ” . “ Dĩ nhiên , chúng tôi rất sợ ” . “ Các ngươi có muốn tránh khỏi nạn ấy không ? ” . “ Chúng tôi rất muốn , nhưng biết phải làm sao ? ” . “ Chính các ngươi có thể tự cứu lấy mình ” .

Bồ Tát liền giảng về nghiệp quả cho hai người nghe .  Sau đó là thuyết về Bốn tâm vô lượngsáu pháp Ba-la-mật . Ngài nói : “ Hậu quả đời sau của nghiệp giết hại là thác sinh vào địa ngục . Hiện thời thường gặp nạn tai bất ngờ , thọ mạng ngắn ngủi . Nếu người từ bỏ ác nghiệp , tu tập hạnh lành . Tích lũy công đức , không những thọ mạng lâu dài mà còn có thể tu thành quả Phật ” . Nhận thấy Savaripa ngộ chánh pháp . Bồ Tát dùng phép thần thông đưa Savaripa lên đến đỉnh núi Dan-ti tu tập thiền định trong 12 năm . Sau thời gian dài tu tập , Savaripa xuất định, xuống núi đi tìm thầy mình .

Bồ Tát hiện ra bảo : “ Này,  thiện nam tử . Cảnh giới Niết-bàn vi diệu ngươi đã chứng . Chẳng phải là cảnh giới của hàng Thinh văn , Duyên giác . Đời sống ở thế gian như lửa rơm mau cháy , chóng tàn .  Vô số chúng sinh còn lẩn quẩn trong vòng vô minh . Nay ta phú chúc cho người thay ta lưu lại thế gian tế độ chúng hữu tình ” . Savaripa vâng mệnh quay về quê cũ tiếp tục thiền định . Chờ đến khi Phật tương lai là Di-Lặc ra đời để cùng ngài giáo hóa chúng sinh trong một thời kỳ mới .

- – - – - – - – - – - – - – - -

Đại sư thứ 6: Saraha - Đại Bà-la-môn

Này hiền hữu, khắc ghi tâm trí
Tuyệt đối kia vốn có sẵn đây
Cớ sao quanh quẩn suốt ngày
Tìm đâu cho thấy? Chỉ hoài công thôi!
Lời bí mật ở trên môi
Vị chân sư ấy, vì sao không cầu?
Phép rốt ráo thật nhiệm mầu
Nhận ra chân lý, tử sinh sá gì!

Truyền thuyết

Saraha vốn là một nhà quí tộc thuộc giai cấp Bà-la-môn ở Roli , miền đông Ấn độ .  Bẩm sinh ngài đã có phép thần thông vì vốn là một Daka . Là con của một vị Thánh nữ ( Dakini ) . Mặc dù được dạy dỗ theo khuôn phép của đạo Bà-la-môn nhưng ngài lại đi theo con đường Phật pháp . Ban ngày ngài học giáo pháp của đạo Bà-la-môn . Nhưng đêm đến ngài lại nghiên cứu Phật lý .

Tuy vậy , ngài vẫn là người hay uống rượu . Điều này vi phạm giáo luật của đạo Bà la môn . Nên họ kết tội và thỉnh cầu nhà vua tước bỏ địa vị của ngài . Bọn người Bà la môn tâu : “ Tâu đức vua anh minh ! . Ngài có trách nhiệm bảo vệ quốc giáo . Gã Saraha này , chúa của 15.000 hộ dân thành Roli lại báng bổ giáo luật . Hãy trừng phạt hắn để làm gương ” .

Vua phán : “ Trẫm không thể lưu đày một vị chúa của 15.000 hộ dân ” . Sau đó , vua đích thân đến viếng Saraha và khuyên ngài bỏ rượu . Saraha không thừa nhận nên tâu với vua : “ Thần không có uống rượu . Nếu bệ hạ ngờ vực . Xin mời dân chúng họp lại , thần sẽ chứng minh là mình vô tội ” . Khi tất cả mọi người tề tựu đông đủ, Saraha tuyên bố : “ Ta vô tội . Nếu có tội thì tay ta đây bị sẽ cháy bỏng ” .

Nói xong , Saraha liền nhúng cả cánh tay vào một vạc dầu đang sôi hừng hực . Nhưng tay vẫn không hề hấn gì . Thấy thế, nhà vua quay lại hỏi những người Bà la môn : “ Các ngươi còn cho rằng Saraha có tội hay không ? ” . Những người bà-la-môn chống chế : “ Chính ông ta có uống rượu ” . Lần này , Saraha bưng lấy một bát đồng sôi kê miệng uống ngon lành . Những người bà-la-môn lại gào lên : “ Chính chúng tôi chứng kiến ông ta uống rượu ” .

Saraha bèn thách thức bọn giáo sĩ : “ Bây giờ , ta và một trong các ngươi nhảy vào bồn nước . Kẻ nào chìm là có tội ” . Một người trong bọn họ tình nguyện cùng Saraha nhảy vào bồn . Chính y bị chìm xuống tận đáy . Ngay lập tức , Saraha tuyên bố : “ Ta vô tội nếu như lần này ta chìm xuống . Ngươi nổi lên ” . Thế là Saraha lại chìm xuống đáy nước còn người kia nổi lên mặt nước .

Chứng kiến cảnh Saraha hý lộng thần thông vua phán : “ Nếu Saraha pháp lực cao cường thì cứ để cho ngài uống rượu ” . Lúc ấy , mọi người lấy làm ngưỡng mộ , tiến đến vái chào Saraha và xin ngài truyền pháp . Saraha ứng khẩu đọc ba bài kệ . Một cho vua , một cho hoàng hậu và một cho tất cả mọi người . Ít lâu sau, Saraha kết duyên cùng một thiếu nữ xinh đẹp ở độ tuổi trăng tròn . Ngài cùng vợ rời quê nhà đi sang một xứ khác . Ngày ngày , Saraha tu tập thiền định . Còn người vợ trẻ đi xin vật thực về để cúng dường cho chủ nhân của bà .

Một ngày nọ , Saraha ngỏ ý muốn ăn món cà-ri cải . Người vợ liền đi nấu món cà-ri này mang đến cho ngài . Khi bà mang món ăn đến thì Saraha đang nhập định nên bà đặt bát cà-ri bên cạnh rồi lặng lẽ rút lui . Saraha nhập định suốt trong 12 năm . Khi vừa xuất định , ngài bèn lớn tiếng kêu vợ mang món cà-ri đến . “ Ngài nhập định suốt 12 năm . Bây giờ không phải là mùa cải lấy gì mà nấu ? ” . Saraha ngượng ngùng khi nghe vợ trách . Ngài định bỏ đi lên núi cao để tiếp tục hành thiền .

Biết thế, người vợ liền khuyên : “ Núi cao , hang sâu đâu chắc đã thật là cảnh thanh tịnh . Sự thanh tịnh chân chính là từ bỏ kiến chấp của tâm hẹp hòi . Ngài nhập định suốt 12 năm . Vậy mà vẫn còn bám lấy ý muốn ăn món cà-ri cải của 12 năm trước . Thế thì lên núi cao hay vào hang sâu , phỏng có ích gì ? ” . Nghe vợ nói thế , Saraha chợt tỉnh ngộ . Vì vậy ngài không đi nữa mà ở lại đó tiếp tục tu tập.  Ngài quán xét “ Các pháp vốn thanh tịnh ” cho đến lúc hoàn toản liễu ngộ .

Hành trì

Saraha đã vượt lên trên cả hai phạm trù đúngsai . Ngài chứng minh : “ Tất cả các hiện tượng chúng ta đang cảm nhận bằng giác quan đều là hư vọng ” . Điều ấy không ngụ ý không có chân lý , không có đúng, sai .  Tất cả dhỉ chứng tỏ định lực của một đạo sư . Có thể hoán chuyển và kiểm soát các nguyên tố cấu thành mọi hiện tượng trong vũ trụ ( Tứ đại ) .

—————————————-

Đại sư thứ 7: Kankaripa - Kẻ góa vợ

Ôi ! ;
Thiên nữ – Dakini của lòng ta ,
Nàng dung mạo mỹ miều .
Mà chỉ có mắt thanh tịnh của ta ,
Mới đủ khả năng chiêm ngưỡng .
Tướng ấy không lìa ta ,
Nhưng không phải thuộc về ta .
Các pháp hiện tượng của một vũ trụ rỗng không ,
Thiên nữ ơi ! Nàng chẳng có gì để sánh ,
Vì ta không đủ lời diễn tả .

Truyền thuyết

Một thưở nọ , tại Magaddha có một thanh niên thuộc giai cấp hạ tiện . Lớn lên , anh kết duyên cùng một thiếu nữ có nhan sắc mặn mà cùng tầng lớp xã hội . Anh tính tình chơn chất và không phải là hạng người thiếu đạo đức . Tuy nhiên , anh thường không quan tâm đến cuộc sống đức hạnh và những giá trị của tâm linh . Vì thế , sau khi trải qua lạc thú lứa đôi . Anh có cảm giác chỉ cuộc sống thực tại mới đem lại cho những lạc thú hoàn toàn . Còn tất cả những điều khác chỉ là vô nghĩa .

Rủi thay , đến ngày định mệnh khắc nghiệt , người vợ trẻ lâm bạo bệnh và qua đời . Đau khổ đến mất cả lý trí , anh ta ôm chặt lấy thây ma . Không chịu buông rời nửa bước . Một nhà sư Du-già thấy anh ta trong tình trạng vô cùng tuyệt vọng và đau khổ ấy bèn dừng chân để hỏi duyên cớ .

“ Ngài không thấy tôi đang đau đớn như bị cưa xẻ đây sao ? . Nàng chết đi là một mất mát to lớn . Như thế đã kết thúc mọi niềm hạnh phúc, khoái lạc của đời tôi .  Quả thật không ai trên đời này đau khổ bằng tôi ” . Nhà sư khuyên : “ Tất cả cái gì sinh ra đều phải kết thúc bằng cái chết . Có sinh thì có tử .  Có tụ thì có tán . Gặp gỡ rồi phải chia ly . Trong cõi thế gian vô thường này , ai cũng phải trải qua những chặng đường đau khổ ấy . Đó là qui luật tự nhiên . Cớ sao ngươi lại vật vã ôm giữ cái thây ma . Khác nào ôm giữ một đống bùn ? . Cớ sao ngươi không tu tập để cho vơi bớt nỗi sầu khổ kia ? ” .

Nghe vị sư nói , anh ta choàng tỉnh cất tiếng nài nỉ : “ Xin ngài xót thương dạy cho tôi cách thoát khỏi nỗi đau khổ này ” . Vị sư hoan hỷ nhận lời khai thị cho anh . Kế đó , ngài dạy phương pháp thiền định để trừ tâm sầu não và những ý nghĩ vẩn vơ về cái chết của người thương yêu .

Ngài dạy cho anh ta cách quán tưởng hình ảnh vợ mình như một Kim cương Thánh nữ ( Dakini ) . Biểu tượng thuộc Không tính và Tịnh lạc .  Đồng thời , ngài dạy : Quán các pháp vốn không có tự ngã . Sau 6 năm tu tập, khi thấy rõ các pháp đều do duyên sinh , Kankaripa hốt ngộ chân lý .

Hành trì

Hư không ( Space ) và Thanh tịnh quán ( Pure-awareness )là hai trong một .  Dakini vừa là sắc tướng của người nữ vừa là tướng của thanh tịnh thức . Vũ khúc Dakini là sự chuyển động của nguyên lý âm dương . Đó là sự vận hành của các pháp thế gian .

—————————————-

Đại sư thứ 8: Minapa - Con người xui xẻo

Người ngư phủ bám chặt vào chiếc cần câu ,
Trôi dạt ra biển cả của số phận .
Sống sót trong bụng cá  ;
Tu tập phép Du-già .
Do thần Siva dạy cho Uma ,
Người ngư phủ ấy là Minapa .
Sau đó trở lại đất liền ;
Ngay cả đá cũng không chịu nổi bước chân của ngài .

Truyền thuyết

Minapa vốn làm nghề chài lưới ở vùng Bengal . Chân sư của ngài chính là đại phạm Thiên vương . Minapa thường ngày vẫn dong thuyền ra khơi đánh cá đem về bán để độ thân . Một hôm , Minapa vô tình dùng thịt làm mồi câu . Một con kình ngư nổi lên đớp mồi làm đắm cả thuyền và nuốt trọn Minapa vào trong bụng . Vì số kiếp chưa hết nên Minapa tiếp tục sống trong bụng cá .

Trong khi ấy , Thánh nữ Umadevi là vợ của Đại phạm thiên ( Mahadeva ) ; cầu xin chồng truyền cho pháp thuật . Đại phạm thiên không muốn truyền pháp bí mật ở những nơi người khác có thể nghe lén . Bèn bảo Umadevi cùng đi xuống đáy biển sâu . Lúc bấy giờ , con thủy quái chứa Minapa trong bụng lại nằm nghỉ gần nơi Đại phạm thiên vương đang truyền pháp cho Umadevi . Vị nữ thần này ngủ gục trong khi Đại phạm thiên giảng pháp . Nên chính Minapa lại là người học được trọn vẹn pháp thuật của Thiên vương .

Đến khi Đại phạm thiên vương ngừng nói pháp . Umadevi tỉnh giấc, lại bảo : “ Ngài nói tiếp đi ” . “ Nhưng ta mới nói xong .  Vậy từ nãy giờ ai đã đối đáp cùng ta ? ”  . Đại phạm thiên nói với vẻ ngạc nhiên . Ngài liền dùng thiên nhãn xem khắp , chợt thấy Minapa đang ở trong bụng con thủy quái nằm gần đó và nghĩ thầm : “ Chính người này mới thực sự là môn đồ của ta ” . Được cơ may hiếm có , Minapa thiền định suốt 12 năm trong bụng con thủy quái .

Về sau , ngư dân trong vùng bắt được con thủy quái mổ bụng vì tưởng có châu báu .  Nhờ thế , Minapa thoát ra ngoài . Mọi người chứng kiến cảnh Minapa chui ra từ bụng cá đều kinh hãi . Ai cũng sửng sốt khi nghe tên vị vua dưới thời Minapa chưa bị nạn . Mới biết ngài ở trong bụng cá được 12 năm .

Vì vậy , họ gọi ngài là Thầy Cá và tất cả đều đảnh lễ cúng dường vật thực . Vui mừng về sự thành tựu ấy , Minapa nhảy nhót khiến chân ngài lún sâu vào mặt đất đá y như người ta cho chân xuống bùn . Tương truyền, ngài thọ đến 500 năm .

Hành trì

Con cá khổng lồ trong truyện là biểu trưng của đời sống tinh thần . Bị cá nuốt vào bụng không chết là do công đức đời trước của Minapa . Khác với những vị Du-già khác . Minapa không tự nguyện mà tình cờ một cách may mắn học được pháp . Sự may mắn sau cùng là  : Sau 12 năm thiền định dưới nước . Minapa được về lại đất liền . Ở đây , ý nói Minapa không bị tù  đày , trói buộc trong pháp môn tu tập mà vượt thoát ra ngoài . Không chấp vào pháp tu của mình .

Đối với một hành giả Mật tông ( Tantrika ) cá tượng trưng cho sự giải thoát . Vì nó tự do bơi lội không cần phải nỗ lực , không cần ngủ nghỉ và không bị ướt ( Ái nhiễm tỉnh giác ) .

Sử liệu

Minapa còn gọi là Macchendra hay Mina . Ngài vốn là bậc Đệ nhất chân sư ( Adi Guri)  của giáo phái Sakta tức dòng tu Yogini Kaula hay còn gọi là Siddhamarta . Kinh Kaulajrana Nimaya có ghi phần giáo pháp mà đại phạm thiên vương truyền cho Umadevi .

Cũng có tương truyền Minapa nhặt được kinh này ngoài biển . Vì con trai của thần Siva hoá chuột đánh cắp kinh sau đó ném ra biển . Cho nên mới có sự tích Minapa học được pháp thuật này ở Nepal . Người ta còn cho rằng chính Bồ Tát Quán Thế Ấm dạy cho thần Siva môn Du-già và Minapa vô tình học được khi thần Siva truyền lại pháp này cho Parvatte tức Umadevi .

Cũng có thuyết nói rằng khi nạn đói kém vì thiên tai hạn hán xảy ra ở Nepal . Chỉ có Minapa mới đủ khả năng cầu đảo . Vua Narendradeva đã sai sứ giả đến tìm . Ngài Minapa nhận lời và bảo sứ giả về trước . Sau đó ngài hóa thân thành con ong nghệ xuất hiện bay quanh chỗ vua . Đức vua vừa đưa tay tóm bắt thì trời đổ mưa .

Cảm động công đức ấy , vua cho vẽ chân dung của ngài để thờ phụng khắp nơi như một vị thần thủ hộ của xứ Nepal . Ngày nay, người ta còn thấy tại một trong những ngôi đền chính của thủ đô Kathmandu có tượng thờ ngài Minapa .

————————————–

Đại sư thứ 9: Goraksa - Kẻ chăn bò bất tử

Cho dù sinh ra ở giai cấp nào ,
Ngươi cũng có cơ hội đi tới giải thoát rốt ráo .
Không có bất cứ chướng ngại nào ,
Có thể ngăn lối ngươi đi .
Ta ! Goraksa cũng chộp lấy cơ hội ấy ,
Ta gieo hạt giống giác ngộ .
Bằng cách phục vụ cho Caurangi một cách vô tư ,
Và Acinta đã ban cho ta những giọt rượu trường sinh .
Goraksa đã chứng đắc ,
Riêng ta đứng nơi đây ;
Uy nghiêm như một vị vua của ba cõi .

Truyền thuyết

Goraksa sinh ra trong một gia đình tiểu thương dưới đời vua Devapala . Thuở thiếu niên , ông chăn trâu để giúp gia đình . Một hôm theo lệ thường , Goraksa cùng lũ mục đồng nô đùa thì đại sư Minapa đến chỗ bọn trẻ . Ngài nói : “ Này các cháu, các cháu có nhìn thấy lũ kên kên bay lượn quanh đây không ? . Gần đây có một hoàng tử gặp nạn . Ngài bị chặt lìa chân tay và đang nằm chờ chết . Có cháu nào giúp ta đến cứu mạng hoàng tử không? ” . Nghe nhà sư nói , Goraksa đáp ngay : “ Cháu thấy ạ ! . Nhưng trong khi cháu đi cứu ông hoàng , xin ông giúp cháu trông chừng đàn trâu ” .

Thế là , Minapa canh bầy trâu còn Goraksa đi tìm ông hoàng tử gặp nạn . Theo hướng bay lượn của bầy kên kên , Goraksa tìm thấy một hoàng tử đang nằm ngất bên thân một cây to . Goraksa quay lại báo với nhà sư : “ Quả nhiên đúng như lời ông nói ” . Sư hỏi : “ Thế con đã làm gì ? ” . “ Thưa ông , con đã cho hoàng tử phân nửa phần thức ăn con mang theo ” .

“ Tốt lắm !  . Vậy con hãy chăm sóc hoàng tử cho đến khi ngài lành bệnh nhé ! ” . Nói xong , nhà sư từ biệt . Cậu bé vâng lời , đi chặt những cành lá to để dựng lều cỏ rồi vực hoàng tử vào bên trong . Ngày ngày Goraksa mang thức ăn đến cung phụng , lại còn tắm rửa cho ngài một cách chu đáo . Goraksa phục vụ và an ủi vị hoàng tử trong 12 năm . Bấy giờ , Goraksa đã trở thành một chàng thanh niên cao lớn .

Một ngày nọ , theo lệ thường, Goraksa đến chỗ ông hoàng . Cậu ngạc nhiên đến sững sờ khi thấy vị hoàng tử này đang đứng thẳng trên đôi chân . Trong giây lát , Goraksa hiểu rằng bấy lâu nay vị hoàng tử đã tu tập phép Du-già của sư Minapa truyền cho . Nay việc hành trì đã đem lại kết quả nên tứ chi của hoàng tử lành lại như cũ .

Kế đến , ông hoàng vận thần thông bay lượn giữa không trung và hỏi vọng xuống Goraksa : “ Ngươi có muốn học phép thiền định của ta không ? ” . Goraksa trả lời : “ Tôi không học với ngài . Tôi cũng có một chân sư.  Chính thầy tôi sai tôi chăm sóc, nuôi dưỡng ngài bấy lâu nay ” .

Nói xong , Goraksa quay đi chăn trâu và chờ sư Minapa đến . Chẳng bao lâu sư Minap lại xuất hiện . Goraksa thuật lại sự việc và sư lấy làm hài lòng . Ngài điểm đạo cho chàng và truyền cho pháp thuật . Goraksa y pháp tu hành mãi cho đến khi thấy có hiện tượng sở đắc . Ngài bèn đi tìm Minapa . Nhưng sư lại bảo Goraksa sẽ không thể đại triệt đại ngộ nếu ông không hóa độ được vô số chúng sinh thoát khỏi luân hồi .

Goraksa lại bắt đầu vân du khắp nơi để hoằng pháp độ sinh . Nhưng Đại phạm Thiên vương hiện ra khuyên rằng : “ Ngài chỉ nên truyền pháp cho những kẻ chí tâm cầu đạo . Chớ có trao pháp cho kẻ thiếu tín tâm và những kẻ ngu độn ” . Nghe vậy, Goraksa chỉ truyền pháp cho những ai có đủ các duyên và căn cơ khế hợp với giáo pháp của ngài .

Hành trì

Các hành giả Du-già thuộc giáo phái Nath tu tập môn Hatha-yoga . Đó là lối tu khổ hạnh . Họ tìm cách chặn đứng ý thức và nghiệp tạo ra từ sự hoạt động của tứ chi . Bằng cách tập trung mọi năng lực vào các luân xa ( Chakra ) hoặc vào cửu khiếu . Công phu lâu ngày , họ có thể bẻ gặp các khớp xương để xếp sát vào thân như bị chặt tay chân . Giống như con rùa rút vào trong cái mai .

————————————-

Đại sư thứ 10: Caurangipa - Đứa trẻ lạc loài

Từ thuở hoang sơ từ khi chưa có sự bắt đầu ,
Những cái rễ của cây vô danh .
Được vun tưới bằng những cơn mưa ,
Của thói quen vọng tưởng .
Chúng lớn mạnh thành những nhánh vô minh ,
Hôm nay ta đốn cây vô minh ấy .
Bằng chiếc rìu giáo pháp của chân sư ,
Bạn ơi ! ;
Hãy nghĩ suy và cân nhắc để tu tập .

Truyền thuyết

Caurangipa nguyên là hoàng tử con vua Devapala.  Khi ngài được 12 tuổi thì hoàng hậu qua đời vì một chứng bệnh nan y . Trước khi nhắm mắt lìa đời , bà gọi ngài đến trối trăn : “ Này con , tất cả niềm vui hay nỗi buồn đều có căn nguyên. Mỗi mỗi đều lưu xuất từ các nghiệp thiện ác . Con hãy nhớ lời mẹ dạy , dù phải gặp nguy nan . Con chớ làm những điều xấu ác ” . Nói xong bà trút hơi thở cuối cùng .

Sau lễ an táng hoàng hậu , triều đình thúc dục vua lập hoàng hậu khác theo tục lệ bà-la-môn .  Nhà vua vẫn còn thương tiếc người vợ yêu . Nên chỉ ít hôm sau ngày tái giá đức vua đi vào rừng sâu để xua đuổi nỗi buồn trong lòng .

Một ngày kia , sau khi vua rời hoàng cung . Hoàng hậu mới trèo lên mái cung điện để ngắm cảnh . Trong tầm mắt bà hiện ra hình bóng của một thanh niên khôi ngô tuấn tú . Đó là hoàng tử Caurangipa . Bà hoàng lập tức say mê hình ảnh người con trai của chồng và lệnh cho hoàng tử vào hầu . Nhưng ngài từ chối . Điều này khiến bà tức giận điên cuồng bèn nghĩ đến chuyện trả thù : “ Hắn đã khinh thường ta . Hắn là kẻ thù của ta .  Ta cần phải loại trừ hắn ” .

Bà liền ra lệnh cho lính canh ám sát hoàng tử . Họ không đồng tình với bà : “ Tâu lệnh bà ! . Hoàng tử không đáng tội chết . Ngài vô tư như trẻ con . Chúng tôi không thể ra tay sát hại trẻ con ” . Vì vậy , bà nghĩ ra một mưu kế . Đến khi đức vua trở lại cung điện . Ngài bắt gặp vợ mình áo quần tơi tả và thân thể đầy vết cào xước . Vua kêu lên : “ Chuyện gì đã xảy ra với nàng ? ” . Hoàng hậu khóc lóc : “ Hoàng tử đã lợi dụng lúc đại vương đi vắng để làm nhục thiếp ” . Đức vua nổi cơn thịnh nộ lôi đình : “ Nếu vậy , nó phải chết để đền tội ” . Vua lập tức ra lệnh cho thị vệ mang hoàng tử vào rừng chặt bỏ tay chân để trừng phạt .

Nhưng những người thị vệ ấy vốn kính trọng và thương yêu hoàng tử bèn nghĩ cách cứu chàng .

Họ quyết định hy sinh một trong những đứa con của họ.  Nhưng khi họ đề nghị cách này với hoàng tử thì ngài quyết liệt từ chối : “ Không thể như thế được . Ta đã hứa với mẫu hậu dù nguy biến đến đâu cũng không làm điều xấu ác . Các ngươi phải thi hành mệnh lệnh của phụ vương” . Thấy chàng quá cương quyết , họ buộc lòng mang chàng vào rừng chặt bỏ tay chân đem về trình đức vua .

Ngay lúc ấy sư Minapa xuất hiện hỏi han .  Hoàng tử đem nỗi oan tình kể cho nhà sư nghe . Ngài thương xót chàng nên truyền cho phương pháp thở bụng . ( Pot-bellied breathing ) . Sư nói : “ Nếu con cố gắng tu luyện . Không bao lâu tay chân của con sẽ trở lại đầy đủ ” . Kế đó , nhà sư đến chỗ bọn trẻ chăn trâu nhờ chúng chăm sóc hoàng tử ( Một đứa trong bọn trẻ ấy là sư Goraksa trong truyện trước ) . Y theo pháp  hoàng tử tu tập thiền định suốt 12 năm

Vào một đêm tối , có đám thương nhân đi gần đến chỗ hoàng tử trú ngụ . Để tránh sự dòm ngó của kẻ cướp . Họ mang vàng bạc châu báu chôn giấu trong rừng rồi mới ngủ nghỉ . Tình cờ đi ngang qua chỗ của hoàng tử . Chàng nghe tiếng chân đi bèn lên tiếng hỏi : “ Ai vậy ? ” . Bọn thương nhân nghe tiếng kêu lớn , ngại gặp phải kẻ cướp bèn đồng thanh trả lời : “ Vâng ! . Chúng tôi là dân làm than đi đốn củi ” . Hoàng tử  nói  : “ Than à ! ” . Bọn thương nhân quay lại chỗ nghỉ . Nhưng đến khi đào lấy của cải cất giấu dưới đất thấy tất cả chỉ toàn là than và than .

Cả bọn kinh sợ, hỏi nhau : “ Cớ sao lại thế này ? ” . Một người có vẻ thông thái nhất trong bọn đoán rằng : “ Khi nãy có người kêu hỏi bọn ta . Chắc chắn đó là bậc thánh nên mỗi lời nói ra đều có khả năng biến thành hiện thực . Tốt nhất , chúng ta nên đến chỗ ấy xem thử ” . Họ dò dẫm từng bước chân trong đêm tối dưới ngọn đuốc bập bùng để đến chỗ hoàng tử . Khi đến nơi , họ nhìn thấy một thân người không có tay chân đang tựa vào một gốc cây to.  Bọn họ kể cho hoàng tử nghe chuyện lạ và khẩn cầu ngài thu lại pháp thuật .

Caurangipa bảo với họ : “ Ta thực không biết điều ấy . Nếu quả thực như thế xin than trở lại thành vàng bạc như cũ ” . Bọn thương nhân quay về lại thấy vàng bạc như cũ họ vui mừng nhảy nhót . Sau đó , cả bọn quay lại cúng dường cho Caurangipa và tôn thờ ngài như một bậc thánh . Qua sự kiện này , Caurangipa nhớ lại lời thầy . Ngài chú nguyện cho tay chân lành lại như cũ . Lập tức điều lạ xảy ra và buổi sáng hôm sau Goraksa chứng kiến sự bình phục của ngài .

Sau khi đắc pháp ngài nói : “ Nếu đất là mẹ của muôn loài thảo mộc thì hư không là chất làm nên tứ chi ta ” . Đoạn ngài bay lượn giữa hư không . Tương truyền rằng đại sư Caurangipa là một nhà sư khó tính và không hề truyền pháp cho ai . Và người ta nói rằng cây đại thụ chứng kiến sự tu hành giác ngộ của ngài vẫn còn sống đến hôm nay .

Hành trì

Hư không và vũ trụ là hai-trong-một . Đó là một trong những khía cạnh của Pháp thân ( Dharmakaya ) thuật ngữ để chỉ Trí vô phân biệt . Dharmakaya còn là Sự hợp nhất giữa vũ trụ và ánh sáng tâm linh. Bằng pháp thở bụng, Caurangipa đột nhiên nếm được vị chung của các pháp .  Đó là không-giải thoát . Ngài đã thể nhập vào cảnh giới Hư vô không tịch bằng chính Pháp thân thanh tịnh .

Một đạo sư Mật tông có khả năng biến hóa hình tướng của đối tượng mà ngài thâm nhập . Phép tu căn bản ấy của Caurangipa là quán một thân người với đầy đủ tứ chi và thân biến hóa của Caurangipa chính là Pháp thân . Thân ấy không thể hư hoại . Vì đó là tướng của Trí huệthanh tịnh thức . Tướng này ( Pháp thân ) bất khả ly với các tướng từ tâm của hành giả . Sắc thân ấy hình thành bằng ý tâm hay niệm tưởng ( Mental concept ) . Cảnh giới bên ngoài chỉ là ảnh chiếu của tâm . Hư không dung chứa tất cả các pháp . Vì vậy một khi tâm tương ứng với hư không thì các pháp chịu sự chi phối của tâm hành giả .

Ấm thanh và độ rung là phần chung của Tưởng và Sắc . Vì vậy , chơn ngôn là âm thanh vi diệu rốt ráo tạo nên không gian ba chiều . Một hành giả Du-già chứng đắc không thể nói dối . Vì ngay một niệm mống khởi trong tâm của ngài đều tự nhiên biến thành hiện thực . Nói rõ hơn , thế giới này được tạo nên bởi vọng tưởng của tất cả chúng sinh . Và trí lực của một hành giả tu chứng có khả năng biến đổi một phần trong tổng thể vọng tưởng ấy . Vì lý do đó chư Phật và Bồ Tát phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh .

Đại sư thứ 11: Vinapa - Nhạc sĩ

Từ thuở hoang sơ từ khi chưa có sự bắt đầu ,
Những cái rễ của cây vô danh .
Được vun tưới bằng những cơn mưa ,
Của thói quen vọng tưởng .
Chúng lớn mạnh thành những nhánh vô minh ,
Hôm nay ta đốn cây vô minh ấy .
Bằng chiếc rìu giáo pháp của chân sư ,
Bạn ơi ! ;
Hãy nghĩ suy và cân nhắc để tu tập .

Truyền Thuyết

Vinapa vốn là hoàng tử con vua xứ Gauda .  Đạo sư của ngài là Buddhapa .  Là con duy nhất nên Vinapa rất được cha mẹ cưng chiều . Thuở nhỏ , Vinapa đã tỏ ra say mê âm nhạc và rất có năng khiếu về bộ môn nghệ thuật này . Ngài chơi đàn Vina rất thành thạo và đam mê đến nỗi không còn quan tâm đến việc học hành .

Triều đình cùng hoàng tộc lấy làm lo lắng cho cơ đồ của giang sơn xã tắc . Vì Vinapa là người sẽ kế vị ngai vàng và ngài cần học cách cai trị thần dân hơn là trở thành một nhạc sĩ . Để giải quyết chuyện này , nhà vua mời đạo sư Buddhapa pháp thuật cao cường và tài trí vô song đến để chữa trị chứng say mê âm nhạc của hoàng tử . Quả nhiên , phong cách và đạo hạnh của vị thánh tăng này làm cho hoàng tử có phần lung lạc .

Sau một thời gian gần gũi tiếp xúc với hoàng tử . Đại sư thấy đã đến lúc hóa độ cho Vinapa , bèn gợi ý về chuyện tu tập .  Hoàng tử đáp : “ Thầy nói rất đúng . Nhưng đối với ta âm nhạc là thiền định . Vả lại ta bận học chơi đàn Vina và ta lại còn mê âm thanh của đàn Tambura nữa . Nếu thiền định của nhà Phật vi diệu thì cần gì buộc ta phải từ bỏ âm nhạc ? ” .

Đại sư nói : “ Ta sẽ dạy con thiền định bằng âm nhạc .  Con không cần phải từ bỏ âm nhạc mà sẽ dùng âm nhạc như một phương tiện để dễ thiền định ” . Hoàng tử nghe thế  liền hoan hỷ nhận lời . Sư bèn điểm đạo và khai tâm cho hoàng tử.  Ngài dạy cho hoàng tử cách chú tâm vào tiếng đàn . Dừng lại tất cả sự can thiệp của tâm tưởng vào âm thanh . Chấm dứt tạp niệm để chú tâm thưởng thức âm thanh thanh tịnh . Hoàng tử tuân theo giáo pháp, tu luyện trong 9 năm thì dứt được vô minh . Tâm trí trở nên thanh tịnh , ánh sáng bùng lên trong tâm trí ngài như ngọn đèn .  Chính lúc ấy hoàng tử đắc Đại thủ ấn và các thần thông tự nhiên hiển lộ .

Hành Trì

Vina là một loại nhạc cụ có 7 dây . Thùng đàn làm bằng quả bầu khô , phía cuối cần đàn lại gắn một quả bầu thứ hai để khảy lên âm thanh phát ra lớn và vang lâu . Còn Tambura là nhạc cụ có 4 dây dùng để đàn đệm theo đàn Vina . Trong cổ nhạc Ân độ người ta quan niệm : Âm thanh trầm bổng của đàn Tambura chính là âm thanh của vũ trụ .  Đó là âm Ohm . 

Tiếng đàn Vina là giọng Âm và tiếng đàn Tambura là giọng Dương.  Sự kết hợp âm thanh của hai nhạc cụ này hàm chứa tất cả âm thanh trong vũ trụ . Tất cả âm thanh của vũ trụ hợp lại thành âm Sabda . Tức âm chỏi với âm Nada được phát ra từ thanh quản . Ở Tây Tạng không phân biệt như thế . Vì âm Sgra trong Tạng ngữ đã bao hàm cả hai nguyên lý này .

—————————————————–

Đại sư thứ 12: Santipa - Nhà truyền giáo

Từ thuở hoang sơ từ khi chưa có sự bắt đầu ,
Những cái rễ của cây vô danh .
Được vun tưới bằng những cơn mưa ,
Của thói quen vọng tưởng .
Chúng lớn mạnh thành những nhánh vô minh ,
Hôm nay ta đốn cây vô minh ấy .
Bằng chiếc rìu giáo pháp của chân sư ,
Bạn ơi ! ;
Hãy nghĩ suy và cân nhắc để tu tập .

Truyền thuyết

Santipa còn được gọi là Ratnakasanti . Vốn là một vị giáo thọ nổi tiếng uyên bác về Ngũ minh môn ( Five arts and sciences ) thuộc Tu viện Vikramasila ở xứ  Magadha . Thuở ấy , Sri Lanka (Tích Lan ) nằm dưới quyền trị vì của vua Kapina  một bậc minh vương có đầy đủ phẩm hạnh và công đức .

Nhà vua từng nghe nói đến pháp vi diệu của Phật và tiếng tăm lừng lẫy của đại sư Santipa . Nhưng đạo Phật lúc bấy giờ chưa được truyền sang nước ngài . Ngưỡng mộ đạo hạnh của sư , vua sai sứ mang vô số vật thực đến cúng dường cho tu viện, đồng thời gửi một điệp văn cho sư . Đại ý như sau : “ Trẫm và dân chúng trong nước lâu nay ngưỡng mộ oai đức của đại sư . Nay cúi xin đại sư rủ lòng bi mẫn chiếu soi đèn pháp vào bóng tối vô minh . Dội cơn mưa pháp dập tắt lửa tham , bẻ gãy gươm sân mà cứu vớt chúng sinh ngu muội . Trẫm ngày đêm mong đợi được kề cận thánh tăng như con đỏ mong mẹ hiền .  Cúi mong đại sư một lần dời bước đến tệ quốc cho thỏa lòng quy ngưỡng ” .

Chấp nhận lời thỉnh cầu của quốc vương Sri Lanka . Sư và một tăng đoàn gồm 2000 vị tỳ-kheo mang theo Tam tạng kinh điển khởi hành đến Sri Lanka . Đoàn người đi qua các vùng Nalanda , Odantapuri , Rajagrha , Vajrasaha ( tức Bồ-đề đạo-tràng ) và cuối cùng đến vùng biển thuộc Sri Lanka .

Nhà vua cùng triều đình và toàn thể dân chúng vui mừng ra đón tiếp tăng đoàn . Họ cúng dường đầy đủ tất cả vật dụng cần thiết . Để chư tăng có thể lưu lại trong thời gian ba năm để truyền bá giáo pháp đại thừa . Sau ba năm giáo hóa , sư cùng đại chúng quay về cố hương . Chuyến trở về lại theo một lộ trình khác dài hơn . Băng ngang qua nhiều xứ . Nên khi về đến tu viện thì sư Santipa đã già yếu . Các môn đồ phải di chuyển ngài bằng xe bò .

Khi được 100 tuổi, sư nhập thất để thiển định trong 12 năm .  Cũng trong khoảng 12 năm ấy , môn đồ của ngài là Kotapila cũng nhập thất tu luyện . Trong Tam tạng kinh điển chia làm kinh , luật và luận thì Santipa uyên bác về luận . Trong thiền quán , ngài dùng trí phân biệt để quán sát các Pháp . Trái lại , môn đồ của ngài là Kotapila lại dùng trí vô phân biệt để quán sát các Pháp .

Kotapila tu tập 12 năm thì chứng ngộ . Khi ngài đắc Đại thủ ấn ( Mahamudra ) thì chư thiên hiện ra chung quanh rưới mưa hoa ca tụng công đức của ngài . Các thiên vương khẩn cầu ngài cai quản 33 cõi trời Dục giới nhưng ngài từ chối . Ngài bảo chư thiên : “ Nay ta vào được đạo tràng của chư Phật là nhờ oai đức dạy dỗ của chân sư . Ta trước hết cần phải vấn an thầy ta  . Bởi trong kinh nói rằng chân sư là Phật , chân sư là Pháp , chân sư là Tăng-già . Chân sư chính  là Tam-bảo ” .

Nói xong , sư dùng hóa thân đi đến Magadha trong thời gian nhanh như khảy móng tay . Đến nơi, ngài đảnh lễ thầy và chào hỏi các đạo hữu nhưng không ai đáp lời . Vì họ không thể nhìn thấy Pháp thân vô tướng của ngài . Cuối cùng Kotapila phải hiện nguyên hình để đảnh lễ đại sư Santipa . Sư lấy làm lạ hỏi :“ Ngươi là ai ? ” . “Đệ tử vốn là môn đồ của ngài ” . “ Ta có vô số môn đồ làm sao nhớ hết ” .

Kotapila bèn thuật lại tự sự . Sư nhớ ra lấy làm hoan hỷ . Thầy trò hàn huyên tâm đắc . Đoạn sư hỏi : “ Kết quả tu tập bấy lâu của ngươi ra sao ? ” . “ Bạch thầy , đệ tử thấy các pháp vốn do duyên sinh . Không có tự tánh , không dơ , không sạch . Nên vào được cảnh giới Đại-thủ-ấn ” . Sư ngửa mặt than : “ Ây là ta dạy ngươi !  . Nhưng tiếc thay , ta chưa hề thân chứng cảnh giới ấy . Nay ngươi hãy vì ta mà nói lại Pháp tu tập kẻo ta quên mất ” . Vâng mệnh thầy , Kotapila nói lại những gì mà sư Santipa trước đây đã dạy ngài . Sau đó , đại sư Santipa thiền định thêm 12 năm nữa thì chứng đắc .

Hành trì

Truyền thuyết này nêu lên sự phê phán nghiêm túc về sự nghiệp tu hành của một bậc giáo thọ . Nhằm chỉ trích tất cả những nỗ lực tu học có tính chất kinh viện . Lối tu lan man , phương pháp thiếu thực tiễn , lòng tự mãn và thiếu quan tâm đến môn đệ của một bậc thầy .

Tuy nhiên , nó cũng khẳng định một chân lý mới . Một bậc thầy không nhất thiết phải ngộ hay thân chứng mới có thể truyền Pháp cho môn đồ . Vì một bác sĩ đâu cần phải mắc một căn bệnh nào đó rồi mới có thể rút kinh nghiệm để chữa trị cho người bệnh . Cũng như các nhà khoa học không cần phải đích thân bay lên vũ trụ xem xét để vẽ đường bay cho các con tàu vũ trụ .

———————————————

Đại sư thứ 13: Tantipa - Ngưòi thợ dệt già

Người thợ dệt từng khuôn vải ,
Ta dệt bằng giáo pháp của chân sư .
Ta dệt những tao dây tri kiến ,
Sợi là sự rỗng không của năm tịnh thức .
Thoi là giáo pháp của chân sư ,
Khung cửi là trí tuệ Bát nhã .
Vải pháp giới kia đã dệt xong ,
Sản phẩm của hư không cùng tri kiến .

Truyền thuyết

Tại Sendhnagar có một người thợ dệt suốt đời lao động cực nhọc . Chắt chiu tiền bạc để gầy dựng sự nghiệp . Kết quả ông trở thành một trong những người giàu có trong làng thợ . Khi được 90 tuổi thì người vợ qua đời . Vì già yếu ông không còn lao động được nên các con phải nuôi dưỡng và chăm sóc ông hằng ngày .

Nhưng chẳng bao lâu , sự già nua lẩm cẩm của ông khiến cho các nàng dâu lấy làm khó chịu . Họ cho rằng sự có mặt của ông cụ là điều phiền nhiễu mỗi khi có khách sang trọng đến viếng . Vì thế , họ cùng nhau dựng một túp lều trong ngôi vườn rồi đưa ông cụ ra sống và hằng ngày đem cơm nước đến .

Cho đến một ngày , sư Jalandra tình cờ du hóa sang miền Sendhonagar .  Ngài dừng chân trước ngôi nhà người thợ dệt xin thức ăn . Con trai của người thợ dệt nhận lời nhưng bảo sư chờ vì cơm còn đang nấu . Khi cơm chin , người con thỉnh sư vào trong để dùng bữa . Sau đó, anh ta mời sư nghỉ chân qua đêm nhưng sư bảo không quen nằm giường cao chiếu rộng . Vì thế , họ mời Sư ra vườn để nghỉ ngơi . Nghe tiếng động lạ , người thợ dệt già cất giọng hỏi : “ Ai đấy ? ’ . “ Bần tăng là kẻ qua đường tạm dừng chân đêm nay .  Chẳng hay cụ là ai ? ” .

“ Trước đây tôi từng là chủ nhân ngôi nhà này . Quán xuyến mọi việc làm ăn buôn bán . Nay tuổi già sức yếu không thể lao động được nữa . Nên các con đối xử tệ bạc với tôi . Thật là tủi nhục . Chúng sợ người khác thấy cái già nua , lẩm cẩm , hom hem . Nên đem tôi giấu ở nơi này .  Cuộc sống sao mà giả dối ! ” . Đại sư nói : “ Tất cả những gì chúng ta đóng góp cho cuộc sống này chỉ là những vai diễn trong vở kịch đã qua . Còn sống là còn phải nếm mùi cay đắng , đau khổ . Chỉ có Niết-bàn là cõi tịnh lạc . Cụ có muốn chuẩn bị cho mình một cái chết thanh thản không ? ” . Người thợ dệt già nói : “ Thưa vâng ” . Sư điểm đạo và truyền pháp thiền cho cụ rồi ra đi .

Người thợ dệt già bắt đầu hành trì giáo pháp được trao .  Mặc dù hoàn cảnh sống của cụ không có gì tiến bộ hơn trước . Nhưng cụ không còn than vãn về con cháu nữa . Sau 12 năm tu tập trong sự câm lặng . Ông cụ đắc được các pháp thần thông .  Sự tu tập thành công của cụ vẫn chưa bị khám phá .

Cho đến một hôm , nàng dâu mang cơm nước sớm hơn thường lệ . Đứng bên ngoài túp lều nhìn vào bên trong . Người con dâu trông thấy một cảnh lạ thường . Có mười lăm thiếu nữ mặc y phục xinh đẹp , tay cầm những dĩa thức ăn đầy cao lương mỹ vị đứng vây quanh một ngọn đèn lớn đang tỏa sáng rực rỡ .Y phục và trang sức của các thiếu nữ đẹp đẽ , sang trọng như không hề có ở thế gian .

Nàng dâu lấy làm lạ lùng chạy ngay về báo lại với chồng . Người con trai vội vã đến chỗ cha thì thấy cụ già đang hấp hối . Nghe chuyện lạ , mọi người đến xem, họ bảo nhau : “ Người thường không có khả năng làm những việc như thế .  Lão già này chắc chắn là tôi tớ của quỷ dữ ” .

Sáng hôm sau , dân chúng thành Sendhonagar nghe tin đồn rủ nhau đến xem . Vài người trong bọn cung kính vái chào . Khi ấy thân thể ông già biến thành dáng một thiếu niên 16 tuổi . Từ đó chiếu ra một thứ ánh sáng rạng rỡ , chói lòa khiến mọi người đang hiện diện phải lấy tay che mắt . Cảnh giới chung quanh trở nên hoàn toàn thanh tịnh trang nghiêm . Kể từ đó , người thợ dệt già được tôn vinh là đạo sư Tantipa .

Hành trì

Ban đầu, sư Jalandra chỉ dạy cho Tantipa phương pháp tu luyện để đón cái chết an lạc . Nhưng sau đó nhờ công tu tập Tantipa đã đổi già hóa trẻ . Theo đây , có lẽ Tantipa đã quán tưởng thân tướng của Kim cương Thánh nữ ( Vajrayogini ) ngự trị trong tâm . Nên khi thành tựu pháp này 15 quyến thuộc của Dakini đã hiện ra để cúng dường Tantipa .

Hành giả Mật tông khi đắc pháp thân phàm phu hóa thành linh quang . Vì lúc ấy là lúc thâm nhập vào Pháp giới ( Dharmakaya ) . Sự hòa nhập giữa Hư không và Ánh sáng . Vào giờ phút lâm chung hay còn gọi là giai đoạn cận tử . Khi ánh sáng xuất hiện cuối đường hầm tùy nghiệp lực thức bị cuốn hút vào một trong các cõi . Sự chọn lựa cảnh giới tái sinh của hành giả được quyết định ngay lúc này . Tùy mức độ hành trì , thức tâm phân hủy thành ánh sáng để hội nhập vào ánh sáng của cảnh giới nghiệp .

Sử liệu

Trong một truyền thuyết khác nói rằng : Tantipa là thợ dệt ở thành Arati thuộc xứ Malara . Sư thọ pháp Quán đảnh ( Abhiseka ) từ Kim cương Thánh nữ khi vị Bồ Tát này đặt tay lên đỉnh đầu ông . ( Có bốn phép quán đảnh là : Thọ minh Quán đản h, Sự nghiệp Quán đảnh , Bí mật Quán đảnh và Cam lồ Quán đảnh – Chú thích của người dịch ) .

Sau khi đắc thần thông , Tantipa vẫn tiếp tục làm nghề thợ dệt như cũ . Nhưng luôn miệng ca hát vui tươi . Cho đến khi gặp được sư Krsnacarya truyền cho pháp môn Bất nhị ( Non-discrimination ) .  Đó là phương pháp ăn phân cũng thấy ngon như ăn bánh mì với bơ và ăn thịt người như ăn thịt sói.

Cũng có truyền thuyết nói rằng : Đại sư Tantipa đã thành công trong việc hủy bỏ lệ tế thịt sống cho nữ thần Durga . Bằng cách biến hàng ngàn con dê dùng trong lễ tế thành những con linh cẩu .  Điều này khiến những kẻ tà kiến hoảng sợ đâm ra nghi ngờ  pháp lực của vị nữ thần này . Ngài cũng nhiếp phục được vị thần nữ này và buộc không cho nhận đồ tế lễ bằng máu .

———————————————–

Đại sư thứ 14: Camaripa - Người thợ sửa giày

Ta Camaripa thợ sửa giày thần thánh ,
Đắp tấm da kiến chấp quanh chiếc khuôn từ bi .
Mũi khâu là tri giác ,
Ta khâu bằng sợi chỉ tương tục .
Thoát khỏi tám nỗi ám ảnh của thế gian ,
Ta sửa xong đôi giày pháp giới .

Truyền thuyết

Khu phố Visnunagar ở miền đông Ấn độ có một thợ giầy tên là Camaripa . Công việc thường ngày là đóng những đôi giày mới và sửa những chiếc giày cũ . Công việc đơn điệu , tẻ nhạt và nhàm chán . Nên đôi khi ông có ý nghĩ mình sinh ra không phải để làm thợ giày mà là để làm một điều gì đó khác hơn .

Cho đến một hôm , tình cờ có một vị sư Du-già đi ngang qua cửa hiệu . Anh ta liền vất bỏ dụng cụ để chạy theo nhà sư và gieo mình xuống đất khẩn khoản : “ Bạch thầy ! . Con đã quá chán ngán cuộc sống đầy dẫy ngu si , ham muốn và cực nhọc  này . Cúi mong thầy từ bi chỉ giáo ” . “ Ta sẵn lòng ban cho giáo pháp nếu ngươi xét thấy có thể tu tập thiền định ” . “ Đội ơn thầy ! . Thỉnh thầy dùng bữa cơm đạm bạc nơi chốn nghèo hèn ” . “  Được, ta sẽ đến vào lúc hoàng hôn ” .

Đúng hẹn , vị sư đến nhà người thợ giày . Sau khi dùng cơm xong sư bảo : “ Tu tập cũng chẳng khác gì công việc làm giày . Chỉ có điều , thay vì làm ra những đôi giày tầm thường thì nay người làm nên một đôi giày pháp ( Dharmakaya ) . Đoạn sư đọc một bài Pháp kệ :

Từ bi làm khuôn ,
Kim là giáo pháp .
Khâu chỉ vui buồn ,
Tứ thành giày pháp .

Nghe xong, người thợ giày vui mừng vì nắm bắt được ý chỉ lại hỏi : “ Bạch thầy , khi con tu tập pháp này, điều gì sẽ xảy ra ? ” . “ Trước tiên , ngươi sẽ thấy vòng luân hồi ( Samsara ) xoay ngược . Kế đó , ngươi sẽ thấy tướng thực của các pháp thế gian ” . Nói xong , vị sư biến mất .

Người thợ giày sau khi thọ pháp tìm nơi vắng vẻ để tu tập trong 12 năm . Trong thời gian 12 năm này . Vị thần cai quản nghề thủ công cùng quyến thuộc hiện ra làm thay công việc thường ngày của ông .

—————————————–

Đại sư thứ 15: Khadgapa - Tên trộm vô uý

Người chiến binh không trang bị vũ khí khi ra trận ,
Đại bại là lẽ thường tình ;
Cho dù rất ngoan cường trong chiến đấu .
Vì thế ,
Ta luôn luôn mang theo lưỡi gươm tỉnh thức .
Chiến đấu để dẹp giặc thù trong ba cõi ,
Nhiệm vụ đã hoàn thành ta vui đón vinh quang .

Truyền thuyết

Gia đình của Khadgapa từ đời ông đến đời cha đều làm nghề nông . Nhưng đến đời chàng thì Khadgapa trở thành một tướng cướp . Một hôm sau một vụ đánh cướp lớn,  Khadgapa may mắn thoát khỏi cuộc truy bắt liền tìm đến chốn mồ hoang để ẩn mình .  Tại đây, Khadgapa tình cờ gặp một nhà sư Du-già tên là Carpaty đang thiền định . Anh ta liền hỏi : “ Sư làm gì nơi chốn hoang địa này ? ” . “ Ta đang tu tập thiền định . Vì ta sợ vòng luân hồi sinh tử ” . Tên cướp ngạc nhiên : “ Sư làm như vậy thì đạt được gì ? ”.  “ Ta sẽ được an vui mãi mãi . Nếu ngươi làm theo như ta thì ngươi cũng được hạnh phúc vô biên ” .

“ Tôi có nghe Phật pháp vi diệu . Nhưng rảnh rỗi đâu mà ngồi suốt ngày lim dim đôi mắt ?. Và lại , quan quân ngày đêm săn lùng . Đôi khi tôi phải chống chọi kịch liệt mới được toàn mạng . Tốt nhất ngài dạy cho tôi pháp thuật để tự bảo vệ lấy thân” . Vị sư đồng ý , điểm đạo và truyền pháp thuật cho anh ta .

Sau đó , vị sư dặn : “ Trong thành Magadha có ngôi đền tên là Gauri Sankak .  Trong đền ấy có tượng Bồ Tát Quán Thế Ấm . Ngươi hãy đến và cầu nguyện trước pho tượng ấy trong 21 ngày đêm không được ngưng nghỉ . Chỉ đến khi nào nhìn thấy một con rắn xuất hiện từ trong pho tượng chui ra . Hãy mạnh dạn , không được ngần ngừ hay sợ hãi phải chộp ngay  đầu con rắn ấy . Nếu ngươi làm đúng lời ta dặn thì sẽ trở thành kẻ vô địch thiên hạ ” .

Tên cướp vâng theo lời vị sư dạy . Sau 21 ngày đêm cầu nguyện,  một con rắn đen to lớn trườn mình ra khỏi pho tượng . Khadgapa bình thản chộp lấy đầu nó . Con rắn trở mình biến thành một thanh gươm . Khadgapa nhìn lại , thấy mình đang cầm cây gươm Trí Huệ . Ngay tức thì ba nghiệp của Khadgapa trở nên thanh tịnh và toàn thân nhập vào Pháp giới ( Dharmadhatu ) .

———————————————

Đại sư thứ 16: Nagarjuna - Đại thành tựu giả Long Thọ – hiền triết và nhà luyện kim

 

Khi người si mê chưa giác ngộ ,
Mơ hồ tưởng mình là bậc thánh .
Y hành sử như một tên đạo chích ,
Lẻn vào hoàng cung đánh cắp ngọc ngà .
Khi  người còn si mê chưa giác ngộ ,
Như con voi bị kẹt giữa đám bùn lầy .

Truyền thuyết

Ngài Nagarjuna tức Bồ Tát Long Thụ , xuất thân từ dòng dõi bà-la-môn thuộc vương quốc Càn-chí ( Kanci ) , miền đông Ấn độ . Thuở thiếu thời , ngài là một con người gàn dở , thường hay nhũng nhiễu và cưỡng đoạt tài sản người khác . Số nạn nhân lên đến 25.000 gia đình . Dân chúng trong vùng oán than và các thầy tư tế bà-la-môn cũng kinh hãi dời chỗ ở .

Về sau , Nagarjuna thấy hối hận về những hành vi tác tệ của mình, ngài đem trả lại tài sản đã cưỡng đoạt và phân chia tài sản riêng cho những kẻ nghèo khổ . Rồi tự lưu đầy mình sang xứ khác . Rời Kahora , ngài đến tu viện Nalanda để tu học . Tại đây ngài trở thành một học tăng kiệt xuất về Ngũ minh môn . Nhưng chẳng bao lâu ngài chán ngán môn này, quay sang tu thiền .

Ngài thường trì tụng thần chú Long Nữ ( Tara mantra ) . Do sự cảm ứng,  vị nữ thần này tuân theo sở nguyện của ngài nên khiến tu viện luôn có đầy đủ vật thực cho 700 vị tăng của tu viện . Nhưng bản thân ngài thích sống cuộc đời du hành khất thực .  Mỗi đêm khi ngã lưng nằm xuống ngài lại suy nghĩ : “ Ta thật là vô tích sự .  Ta phải tìm phương tiện khéo để giúp đỡ chúng sinh ” . Vì vậy , ngài đến vùng Rajagrha để nhập thất và dùng thần chú để triệu thỉnh 12 nữ dạ-xoa đại tướng tức 12 vị thần chủ quản các nguyên tố đất , nước , lửa , gió . . .

Khi nhập đàn khởi trì thần chú . Ngày thứ nhất động đất xảy ra , ngày thứ hai hạn hán , ngày thứ ba có bão lửa , ngày thứ tư gió to , ngày thứ năm mưa gươm đao , ngày thứ sáu có vô số kim cương từ hư không rơi xuống . Đến ngày thứ bảy , 12 vị nữ dạ-xoa hợp lực tấn công ngài dữ dội . Nhưng ngài vẫn không động tâm . Sau đó, ngài dùng Hàng phục pháp ( Kuyo ) để nhiếp phục các nữ dạ-xoa .

Chúng nữ dạ-xoa hiện ra đảnh lễ cung kính thưa : “ Bạch tôn sư , chúng đệ tử có mặt ” . Ngài dạy : “ Các ngươi ngày ngày hãy mang cho ta một ít vật thực ” . Chúng thần lãnh mệnh lui đi . Rồi mỗi ngày họ đều mang đến cúng dường cho ngài một nắm cơm và một nắm rau trong suốt 12 năm . Sau đó ngài lại thu nhiếp thêm 108 thần nữ dược-xoa .

Để giúp đỡ chúng sinh, ngài định dùng thần thông biến núi Ganhasila thành núi vàng . Trước tiên , ngài dùng định lực biến ngọn núi lớn này thành núi sắt . Rồi từ sắt biến thành đồng . Nhưng khi định tiếp tục biến hành vàng thì Bồ Tát Văn Thù hiện ra ngăn lại : “ Chớ có làm thế .  Nếu tôn giả biến ngọn núi này thành vàng sẽ tạo ra sự tranh giành giữa các chúng sinh . Khác gì tạo nghiệp ác cho họ ? . Chi bằng tôn giả ra sức giáo hoá chúng thoát khỏi ba đường ác . Đạt đến Niết-bàn giải thoát ” . Vâng lời Bồ Tát , Nagarjuna không thi triển pháp thuật . Vì vậy , đến ngày nay ngọn núi Gandhasila vẫn còn giữ nguyên màu tía tía của chất đồng .

Rời chốn ấy , Magarjuna đi về phía nam có con sông lớn chắn ngăn . Ngài nhờ những người chăn cừu chỉ giúp chỗ cạn nhất có thể lội qua bờ kia .  Nhưng họ đưa ngài đến khúc sông sâu và đầy cá sấu . May thay , một kẻ tốt bụng tình nguyện cõng ngài bơi qua sông . Đến giữa sông , Nagarjuna dùng thần thông hóa ra một bầy cá sấu ra vẻ như đe dọa cả hai . Người đàn ông tốt bụng vẫn giữ vẻ điềm nhiên : “ Ngài đừng sợ . Miễn ta còn sống ta sẽ đưa ngài an toàn sang sông ” .

Nghe nói thế , sư lấy làm cảm phục,thâu phép lại và nói : “ Ta là Arya Nagarjuna.  Ngươi nhận ra ta chăng ? ” . “ Tôi có nghe đại danh của tôn sư nhưng lâu nay chưa từng gặp ” . “ Ngươi có công mang ta qua sông an toàn.  Vậy ngươi ước nguyện điều chi ta sẽ biến thành hiện thực ” . “ Vậy xin cho tôi được làm vua ” . Sư tóe nước vào thân cây sala lập tức cây hóa thành con voi trắng cho vua cưỡi . Người ấy hỏi : “ Nhưng còn binh lính ? ” . Sư  nói : “ Khi nào voi rống , tức thì có binh lính hiện ra ” .

Đức vua lấy hiệu là Salabandha , cai trị tám triệu bốn trăm ngàn hộ dân trên một vùng đất nguy nga tên là Bhabitan . Vua lập nàng Sindhi làm hoàng hậu . Sau một vài năm trị vì vương quốc Bhabitan . Vua Salabandha đâm ra chán ngán cuộc đời làm vua . Ông lại tìm đến Sriparvatta để tìm sự khuây khỏa .

Nhà vua tìm đến thầy mình và khẩn nài: “ Bạch thầy!  Làm vua chỉ đưọc một ít lạc thú mà quá nhiều phiền não . Con muốn từ bỏ ngai vàng để được kề cận bên thầy ” . “ Ngươi chớ từ bỏ vương quốc của mình . Hãy giữ lấy xâu chuỗi này . Nó sẽ bảo vệ vương quốc của ngươi . Ban cho ngươi thứ rượu vô úy khiến tâm ngươi không kinh hãi khi đối mặt với thần chết ” . Mặc dù không muốn trở về nhưng nhà vua phải vâng lời thầy . Tất cả mọi thứ trong vương quốc Bhabitan từ cây cối đến chim muông đều tươi tốt khỏe mạnh khiến quỷ thần ghen tị .

Cho đến một ngày nọ , ánh sáng mặt trời , mặt trăng tự dưng biến mất . Hoa quả chưa đơm bông kết trái đã lìa cành , dịch bệnh hoành hành , rừng khô , cỏ úa . Chứng kiến những hiện tượng lạ thường như thế, vua Salabandha đoán biết thầy mình gặp nạn . Ngài liền trao quyền bính cho thái tử Cindhakumara rồi đem theo một ít tùy tùng đến vấn an .

Sư Nagarjuna hỏi : “ Này con ! . Vì sao con đến ? ” . Nghe thầy hỏi , đức vua cất tiếng hát ai oán:

Định mệnh ôi trớ trêu ,
Phật pháp sao khó bày .
Bóng tối che ánh sáng ,
Mây mù che trăng rằm .
Thánh tăng còn phải lụy ,
Sinh tử chia đôi đường .
Con đến đây chỉ vì ,
Chợt thấy điềm bất tường .
Cúi mong thầy từ bi ,
Ban cho cam lồ vị .

Sư đọc kệ đáp:

Có sinh thì có diệt ,
Tụ tán lẽ thường tình .
Trần gian là huyễn mộng ,
Chớ buồn rầu, sầu khổ .
Rượu vô úy ! ;
Cạn ly! .

Vua buồn rầu hỏi : “ Thưa tôn sư , nếu như tôn sư không còn có mặt trên đời này nữa . Rượu vô úy kia nào có vị chi ? ” . Biết đã đến lúc phải trả nghiệp đời trước , ngài Nagarjuna phát nguyện bố thí tất cả những thứ mà ngài sở hữu . Phạm Thiên bèn hóa thành một người Bà-la-môn đến xin thủ cấp ngài . Bồ Tát hoan hỷ nhận lời .

Vua Salabandha không nỡ chứng kiến cái chết của thầy . Ngài tựa đầu vào chân sư rồi tắt thở .

Dân chúng thấy vậy , nguyền rủa không tiếc lời ý muốn độc ác của kẻ kia . Nhưng vô ích . Vì sư đã hứa cho đầu của mình . Ngài dùng ngọn cỏ Sula tự cắt lấy đầu rồi trao cho người bà-la-môn . Tức thời , muôn thú kêu vang thảm thiết , cây cối ú rủ héo tàn . Tám nữ dạ-xoa đại tướng hiện ra canh giữ nhục thân của sư . Không rời cho dù giây lát .

Từ thi thể của sư phát ra một luồng ánh sáng bay vút lên cao . Nhập thẳng vào ngài Nagabhodi ( Long Trí ) . Truyền thuyết còn nói rằng khi đức Phật Di-Lặc ra đời trong tương lai thì ngài Nagarjuna sẽ tái sinh để cứu độ chúng sinh .

Sử liệu

Theo truyền thống Mật-tông . Các bậc thánh và các đạo-sư thường mang chung một tên . Đây là sự khế hợp giữa tâm và tâm vị trước và vị sau . Việc này rất thông thường đối với bậc tái sinh ( tulku ) . Chính vì vậy , người sau thường nhầm lẫn .

Có hai vị đạo sư mang tên là Nagarjuna , tức Long Thụ . Vị Long Thụ thứ nhất sinh vào khoảng thế kỷ thứ 2 ở miền Nam Ấn độ ( 150-250 ) , thường được xem như Phật Thích-Ca tái thế . Ngài là một triết gia vĩ đại đã trước tác các bộ luận và hệ thống biện chứng về Trung quán ( Madhayamika ) .

Vị Long Thụ thứ hai sinh vào thế kỷ thứ 9 . Vốn là vị tổ của hệ phái Guhyasamaja Tantra , môn đệ của ngài Saraha . Tiểu sử của ngài Long Thụ thứ nhất được dịch sang Hán văn vào năm 405 , do công của một nhà sư truyền giáo tên là Kumarajiva ( Cưu-ma-la-thập ) .

Thuở thiếu thời , ngài Long Thụ đã chứng tỏ trí tuệ phi phàm.  Chưa đầy 20 tuổi , ngài đã nổi tiếng uyên bác các kinh điển truyền thống của đạo Bà-la-môn . Nhưng sau đó ngài chán ngán và lăn mình vào các thú vui ngũ dục . Tương truyền rằng có một đạo sĩ đã dạy ngài phép tàng hình . Có thể đi lại tự tại mà không ai nhìn thấy .  Ngài đã cùng ba người bạn xâm nhập vào cung cấm để trêu ghẹo các công nương. Chẳng may sự việc bị phát giác, ba người bạn bị quan quân giết chết . Riêng ngài thoát được nhờ phép ẩn thân đứng ngay bên cạnh nhà vua .

Ấn hận vì cái chết của những người bạn , ngài đến Nalanda xuất gia học Phật . Tại đây , ngài nhanh chóng quán triệt yếu nghĩa của Tam tạng kinh điển ( Tripitaka ) , kể cả các bộ kinh Đại thừa ( Mahayana-sutra ) . Vì không thỏa mãn với kiến thức , ngài lại vân du khắp nơi để sưu tập các kinh điển bị thất truyền . Trong các cuộc tranh biện , ngài luôn đánh bại lý luận của đối phương . Nên tỏ ra rất kiêu hãnh .

Ngài phát minh các luận thuyết mới và sáng lập ra một hệ phái riêng dựa trên căn bản thực tại ( Non-rejection ) . Chính vì quan điểm sai lệch này , Đại Long vương cảm thấy thương hại nên đưa ngài xuống Tàng kinh các ở Long cung . Nơi đây có một số kinh điển mà đức Phật Thích ca đã phó thác cho Đại Long vương gìn giữ để trao lại cho ngài Long Thụ .

Với trí tuệ phi phàm, trong vòng 90 ngày ngài đã nắm bắt được yếu nghĩa của tất cả những kinh điển . Tuy nhiên , ngài hiểu rằng sự thân chứng giáo pháp mới gọi là sở đắc rốt ráo . Do đó ngài nhập định để tu pháp môn “ Nhẫn nhục Ba-la-mật ” .  Khi xuất định , ngài trước tác bộ Trung quán luận ( Madhayamika ) và nỗ lực hoằng dương đạo pháp .

Ngài kết thúc cuộc đời sau khi một đạo sĩ Bà-la-môn thách thức thi triển pháp thuật .  Nagarjuna hóa thành con bạch tượng chụp lấy kẻ kia và đã thương y . Nhưng khi nhìn lại thấy đạo sĩ vẫn điềm nhiên ngồi trên cánh sen trong một cái hồ thiêng lộ vẻ khinh miệt . Thất bại , ngài tự nhốt mình trong thiền thất và đến khi đệ tử ngài phá cửa xông vào lại chẳng thấy gì ngoài con ve sầu vụt bay thoát ra ngoài .

Về vị Long Thụ thứ hai , có thuyết nói rằng chính đại sư Saraha đã làm lễ thí phát và điểm đạo . Khiến ngài có thể nhập vào Mandala của Phật Vô Lượng Thọ . Đồng thời dạy ngài thần chú để nhiếp phục thần chết . Đại sư Saraha còn dạy ngài Guhyasamaya tantra và các môn Huyền thuật ( Tantra ) khác trước khi ngài được giáo thọ của ngài là sư Rahuhabhadra truyền tâm pháp .

Sự nghiệp tu học của ngài bị đứt đoạn và bị trục xuất khỏi tu viện vì phạm vào qui củ của thiền viện . Đó là khi Nagarjuna khám phá ra cách cất rượu từ vàng để phục vụ tăng đoàn trong thời kỳ đói kém . Khi ấy ngài là vị tăng phục vụ trong nhà bếp của tu viện .

——————————————————

Đại sư thứ 17: Kanhapa - Vị đạo sư trong màn đêm

Nếu chỉ vì lòng ghen tị ,
Ra sức hành trì các pháp môn .
Nỗ lực tích lũy các công đức ,
Tất cả đều vô ích .
Không thể nào đạt tới thần thông ,
Nếu ngươi không có được .
Sự dìu dắt của một chân sư ,
Như chiếc xe kia thiếu bánh .
Chẳng thế nào lăn đi trên đường ,
Chỉ có bậc thầy mới có thể .
Chắp cho ngươi đôi cánh rộng ,
Để ngươi có thể vút bay trên trời cao .

Truyền thuyết

Đạo sư Kanhapa còn được biết dưới cái tên khác là Krsnacarya . Vốn là con trai của một quan văn . Ngài thọ pháp tại đại tu viện Somapuri . Đây là một trong số những tu viện lớn được vua Dharmapala xây dựng nên . Chân sư của ngài là đại thành tựu giả Jalandhara .

Ngài Kanhapa tu tập thiền định trong 12 năm thì bắt đầu thấy có những hiện tượng chứng đắc . Một hôm khi đang ở trong định , ngài thấy hảo tướng rõ ràng của thủ thần Hevajra cùng các quyến thuộc của vị thần này thì đất dưới chỗ ngài ngồi rung chuyển mạnh . Thấy thế, Kanhapa lấy làm tự mãn.  Nhưng Kim cương Du-già Thánh nữ ( Dakini ) hiện ra bảo cho ngài biết rằng đó chỉ là sơ chứng, chứ chưa phải là cứu cánh rốt ráo .

Kanhapa lại tiếp tục công phu cho đến một ngày ngài nảy sinh ý định thử xem định lực của mình đạt tới mức nào . Ngài đặt bàn chân lên đá , chân ngài liền lún sâu như đạp vào bùn để lại cả dấu chân . Một lần nữa , vị thánh nữ hiện ra khuyên ngài phải tiếp tục nỗ lực tu tập . Một hôm vừa xuất định, ngài thấy thân thể bềnh bồng bay là là cách mặt đất khoảng bốn năm tấc . Vị thánh nữ lại hiện ra , bảo ngài cần tiếp tục chuyên cần hơn nữa .

Kanhapa lại nỗ lực công phu cho đến một hôm khi vừa xuất định . Ngài nhìn thấy bảy cái lọng che đầu ngài và bảy cái trống Damaru bay lượn quanh tự kêu vang khắp trời . ( Damaru là một loại pháp khí bằng da người hay da thú dùng trong nghi lễ để triệu thỉnh quỉ thần ) . Ngài Kanhapa bảo với môn đệ rằng:  “ Nay đã đạt mục đích . Ta sẽ đi Lankapuri thuộc đảo quốc Sri Lanka ” .

Lúc đến gần đảo , Kanhapa muốn chứng tỏ thần lực của mình bèn vận thần thông đạp xé nước để đi qua . Vừa đi ngài vừa nghĩ thầm : “ Ngay cả thầy ta cũng chưa chắc làm được như thế nầy ” . Niệm ấy vừa khởi lên trong tâm , ngài liền bị chìm ngay xuống biển .  Kế đó , một ngọn song lớn đánh dạt ngài vào bờ .

Khi ấy , ngước mặt nhìn lên trời . Kanhapa thấy thầy bay lơ lửng trên đầu .  Vị sư phụ hỏi : “ Kanhapa ! Ngươi đi đâu đấy ? . Có chuyện gì mà trông thấy thảm thương vậy ? ” . “ Bạch thầy ! , đệ tử đang trên đường đi đến Lankapuri để độ người .  Chẳng may vì mất thần thông nên rơi xuống đây ” . “ Hoằng pháp độ sinh là việc tốt.  Nhưng tốt hơn ngươi nên đến Pataliputra tìm cho ra đại đệ tử của ta . Y làm nghề dệt ở thành phố này . Nếu ngươi muốn thành tựu đạo quả . Tuyệt đối phải vâng lời của y ” . Nghe lời thầy, Kanhapa lại đi về hướng thành phố Pataliputra .

Lạ thay , thần lực ngài tự nhiên hồi phục .  Những cái lọng và những trống damaru lại xuất hiện trên đầu . Ngài đi đến đâu chúng theo đến đấy . Đến Pataliputra , ngài để lại 3000 môn đồ bên ngoài thành, rồi một mình đi vào thành phố để tìm người thợ dệt . Ngài đi từ đầu phố đến cuối phố , thấy nhà nào có khung dệt thì ngài dừng lại, dùng thần nhãn dứt đứt sợi chỉ trong guồng . Nếu người nào dùng tay để nối sợi chỉ đứt . Kanhapa hiểu ngài còn phải tiếp tục tìm kiếm .

Thế rồi, rốt cùng ngài cũng tìm thấy con người cần tìm . Khi ngài nhìn thấy sợi tơ ngài dùng thần thông bứt đứt tự nhiên nối liền lại.  Kanhapa đến vái chào người thợ dệt và cầu pháp . Người thợ dệt hỏi : “ Ngươi một lòng qui thuận ta ? ” . “ Thưa vâng , đệ tử xin phục tong mọi mệnh lệnh của chân sư ” . “ Thế thì hãy đi theo ta ” . Cả hai đi ra mộ địa , nơi ấy có một cái thây ma còn tươi . Người thợ dệt hỏi tiếp : “ Ngươi ăn xác chết được chăng ? ” . Kanhapa quì gối xuống rút dao xẻo một miếng thịt ăn .

“ Không phải vậy .  Hãy làm như thế này ” . Rồi người thợ dệt hóa thành con sói nhảy đến cạnh xác chết . Xé thây ma ra ăn ngấu nghiến . Đoạn biến trở lại thành người , y bảo : “ Ngươi chỉ nên ăn thịt người khi đã biến thành thú ” . Nói xong, người thợ dệt rặn lòi ra ba cục phân và cầm một cục đưa cho Kanhapa : “ Nào , ăn đi ” . “ Không thể thế đuợc .  Nếu tôi ăn thứ này , mọi người sẽ nhạo báng tôi ” .

Không nói lời nào, người thợ dệt cầm lấy cục phân đưa vào mồm ăn . Chư thiên hiện ra chia nhau ăn một cục khác . Còn cục phân thứ ba bị một con rồng bay đến tha đi . Kế đó, họ quay về thành phố , người thợ dệt đưa cho Kanhapa năm xu để mua rượu và thức ăn . “ Bây giờ, ngươi hãy đi gọi các đệ tử của ngươi đến đây để cùng ta dự tiệc Pháp ” . Kanhapa vừa đi vừa nhủ thầm : “ Chỉ có ngần này tiền, không đủ cho một người ăn . Làm sao mà thầy bảo đãi cả bọn ta ? ” .

Và khi mọi người tề tựu đông đủ , người thợ dệt tác pháp cúng dường, lập tức vô số thức ăn, vật uống hiện ra la liệt . Toàn là sơn hào hải vị . Bữa tiệc kéo dài bảy ngày bảy đêm . Mọi người không sao ăn hết . Kanhapa lấy làm bực bội , thầm nghĩ : “ Ắn uống thế này thì biết bao giờ mới xong . Ta phải đi thôi ” . Kanhapa ném phần thức ăn thừa cho ngạ quỷ rồi gọi đệ tử lên đường mà không một lời từ biệt.  Người thợ dệt cất tiếng mắng theo :

Này lũ trẻ đáng thương ,
Các ngươi tự hủy mình .
Các ngươi là những kẻ ,
Dứt lìa trí huệ lớn .
Ra khỏi tâm từ bi  ,
Bỏ đi ngươi được gì ? .
Lọng , trống là chuyện nhỏ ,
Chân đế mới tột cùng .

Nhưng Kanhapa không muốn nghe, tiếp tục lầm lũi dẫn môn đồ đi , cho tới vùng Bhadhokura cách tu viện Somapuri khoảng năm trăm dặm về phía đông . Dừng chân nơi đây , ngài gặp một cô gái đang ngồi dưới gốc cây vải xum xuê những quả . Ngài hỏi xin : “ Này thí nữ , cho ta xin ít quả ” và Kanhapa vận thần lực nhìn lên cây , quả liền rụng xuống .  Nhưng cô gái chỉ liếc nhìn, các trái vải lại dính trên cành như cũ . Sư tức giận dùng thần chú đả thương cô gái . Nàng đau đớn quằn quại gục đầu xuống đất . Đám đông chứng kiến cảnh ấy lấy làm căm phẫn . “ Đệ tử Phật lúc nào cũng từ bi , nhưng gã ác tăng này lại là một kẻ sát nhân ” .

Nghe quở trách , Kanhapa bừng tỉnh . Nguôi cơn giận, thâu phép về và chữa thương cho cô gái . Thừa cơ hội nhà sư không để ý , cô gái niệm chú đánh lại khiến nhà sư thổ huyết và rơi vào tình trạng rất nguy kịch . Kanhapa liền gọi một trong các nữ thần kim cương đến cứu giúp . Vị thánh nữ vâng mệnh đi tìm dược thảo cứu thầy .

Sau bảy ngày vất vả , bà tìm được dược thảo nhưng trên đường về bà gặp một cụ già đứng giữa đường khóc lóc . Thánh nữ dừng lại hỏi nguyên cớ.  Cụ già mếu máo trả lời : “ Tôi khóc vì ngài Kanhapa đã qua đời ” . Nghe tin dữ , vị thánh nữ vất thuốc đi vì cho rằng không còn cần đến nữa .

Nhưng khi về tới nơi, bà thấy Kanhapa chưa chết mà chỉ trong tình trạng nguy kịch .  Sư hỏi thuốc đâu , bà lắp bắp kể lại chuyện mình bị lừa .  Do không có thuốc chữa nên sư phải lìa đời . Sau cái chết của thầy , vị Dakini này quyết tìm cho ra cô gái nọ .  Bà đi khắp mọi nơi . Từ cõi trời cho đến cõi nhân gian và cho tới một hôm bắt gặp cô gái nọ đang ẩn mình trong thân cây Sambhila . Bà lôi cô gái ra ngoài và dùng linh phù đánh cho một trận nhừ tử .

Hành Trì

Kanhapa trước tiên đã không nghe theo lời khuyên của Kim cương Thánh nữ . Sau đó lại không vâng mệnh thầy , lại tỏ ra kiêu ngạo và khinh suất . Ngài đã bị sân hận và kiêu mạn sai xử . Vì vậy , ngài đã nhận một hậu quả bi thảm . Người thợ dệt tuy là bậc tôn túc , nhưng đã thất bại khi chỉ dủng thần thông để giáo huấn người, thiếu sự hài hòa giữa Bi và Trí .

———————————————

Đại sư thứ 18: Aryadeva - Độc nhãn đại sư

Chư Phật trong ba đời ,
Chỉ có một điều bí mật .
Trực nhận được điều này ,
Ngươi hiểu được tự tâm .
Hãy đi lại tự tại ,
Hãy đắm mình trong chân lý .
Xoá bỏ ưu tư và phiền não ,
Ngươi chính là hành giả Du-già .

Truyền Thuyết

Truyền thuyết kể rằng ngài Aryadeva sinh ra từ một đóa sen . Ngay khi đủ tuổi , ngài thụ pháp tại tu viện Sri Nalanda và về sau trở thành Tu viện trưởng ở đấy . Ngài từng là giáo thọ của hàng ngàn tăng chúng và là bổn sư của vô số các nhà học giả , trí thức đương thời . Tuy nhiên ngài vẫn chưa chứng đắc . Vì thế , ngài bèn tìm đến Bồ Tát Long Thụ .

Rời Nalanda , ngài đi về phía nam . Khi ngang qua một cái hồ nước rộng mênh mông, ngài gặp Bồ Tát Văn-thù ( Manjuri ) đang giả dạng làm người câu cá . Aryadeva vái chào và hỏi nơi ở của Bồ Tát Long Thụ . Bồ Tát Văn-thù báo rằng vị thánh ấy ở trong một cánh rừng già gần đây và đang luyện thuốc .  Theo hướng chỉ của bồ tát , Aryadeva tìm đến nơi thì thấy Bồ Tát Long Thụ đang điều chế độc dược thành thuốc trường sinh . Aryadeva đảnh lễ vị chân sư và xin được thu nhận làm đệ tử . Bồ Tát Long Thụ nhận lời thỉnh cầu , điểm đạo cho Ãryadeva và cho phép ngài ở lại để tu tập thiền quán .

Hằng ngày , hai thầy trò rời khu rừng đi đến các khu lân cận để hóa duyên . Trong khi ngài Long Thụ vất vả mới xin được thức ăn . Aryadeva thường trở về với rất nhiều thức ăn ngon . Thấy thế , ngài Long Thụ quở mắng : “ Vật thực của ngươi kiếm được chỉ thuần do mấy con mụ dâm đãng trao cho . thật là bất tịnh . Vì vậy , từ đây trở đi ngươi chỉ được phép dùng vỏ chuối thay cho bình bát . kim nhọn để gắp thức ăn ” .

Aryadeva vâng lời thầy , mỗi ngày khi ăn ngài dùng mũi kim găm từng hạt cơm đưa vào miệng . Thấy thế , đám phụ nữ càng ngưỡng mộ , lại làm đủ thứ bánh ngon dâng lên ngài . Nhưng ngài nhất mực không dùng và mang tất cả cúng dường cho thầy . Cho đến một hôm , Aryadeva báo với thầy rằng ngài đã đắc pháp .  Bồ Tát Long Thụ bèn ra lệnh Aryadeva phải ở lại trong lều không được ra ngoài khất thực .  Ãryadeva vâng lệnh thầy .

Nhưng lần này , Mộc thần định đến cúng dường . Nữ quái ăn vận hở hang, để lộ nhiều phần da thịt nõn nà đến gặp ngài . Sau đó , ả giả vờ lân la trò chuyện cùng Arydeva . Aryadeva mang thức ăn mà nữ quái cúng dường dâng lên cho thầy và kể lại sự việc . Bồ Tát Long Thụ nghe kể chuyện bèn đi đến nơi nữ quái ẩn mình .  Nghe gọi tên , nữ quái hiện lên, thò đầu ra ngoài , còn thân thể vẫn giấu bên trong thân cây . Sư hỏi : “ Tại sao ngươi không phô thân ngươi cho ta xem mà lại làm thế với đệ tử của ta ? ” . Nữ quái đáp : “ Tôi làm thế là vì đệ tử của ngài đã đoạn trừ được tham ái vi tế . Còn ngài thì không ” .

Từ đó , Long Thụ đặt tên cho ngài là Aryadeva ( Thanh tịnh thánh nhân ) . Sau khi Long Thụ Bồ Tát điều chế xong rượu trường sinh , ngài nếm thử vài giọt rồi đưa cả bát cho Aryadeva uống . Nhưng Aryadeva ném cả bát rượu trường sinh ấy vào gốc cây . Lập tức rượu ấy biến thành một chiếc lá dính liền vào thân cây . Ngài Long Thụ bảo : “ Ngươi làm phí rượu của ta như thế .  Hãy làm lại cái khác cho ta ” .

Aryadeva lấy một bình chứa nước , tiểu vào trong đó rồi dùng que khuấy lên . Đoạn đưa cho thầy mình. Bồ Tát Long Thụ bảo : “ Nhiều  quá ! ” . Aryadeva liền đổ bớt phân nửa bình nước tiểu vào một thân cây, trăm hoa hốt nhiên nở rộ . Bồ Tát Long Thụ nói : “ Nay ngươi đã giác ngộ , đừng đi vào luân hồi nữa ” .

Nghe những lời này, Aryadeva cất mình bay lên không trung . Ngay khi ấy có một người đàn bà tiến đến gần cung kính đảnh lễ ngài . Người đàn bà này lâu nay vẫn đi theo ngài như bóng với hình . Thấy vậy , Aryadeva hỏi : “ Vì sao ngươi lúc nào cũng đi theo bên ta ? ” . Bà ấy đáp: “ Tôi theo vì cần một con mắt của ngài ” . Aryadeva bèn móc con mắt bên phải trao cho bà . Kể từ đó ngài được gọi là Đạo sư độc nhãn ( Kamaripa ) .

Hành Trì

Thác sinh từ hoa sen có nghĩa là sinh ra từ sự giác ngộ ;
Tuy nhiên ,
Trước khi nhận ra tánh Phật .
Hành giả cần phải trải qua con đường tu tập ;
Từ Thế học đến Đạo học .

Sử Liệu

Theo Phật sử có hai vị Long Thụ . Mỗi vị cũng đều có đệ tử mang tên Aryadeva . Cả hai vị Aryadeva đều là truyền nhân của thầy . Đồng thời cũng là những bậc văn tài lỗi lạc . Vị Aryadeva thứ nhất nổi tiếng nhờ vào những tác phẩm luận về Bồ Tát đạo . Tác phẩm Catuhsataka được coi là bộ luận về Bồ Tát đạo nổi tiếng nhất của ngài . Bộ luận giải thích Bồ Tát nên hành sử như thế nào trong giai đoạn sơ chứng .

Ở đây , cần minh định rằng vị Aryadeva thuộc thế kỷ thứ 8 không hề viết luận thuyết về Rasayana . Bộ luận do vị Long Thụ ở thế kỷ thứ 10 viết các bộ luận về Satuspitha Tantra . Vị này vốn là chân sư ( Guru) môn Rasayana .

Aryadeva trong truyền thuyết kể trên vốn sinh ra từ đóa sen trong vườn thượng uyển của đức vua xứ Sri Lanka .  Sau khi được truyền ngôi báu , ngài lập tức thoái vị để xuất gia . Sau khi nắm được yếu chỉ của Tam tạng kinh điển , ngài hành hương sang Ấn độ và gặp được Long Thụ Bồ tát .

Aryadeva xây dựng rất nhiều tu viện ở miền nam Ấn độ . Ngài lưu lại miền nam cho đến lúc thần Mahakala hiện thân thỉnh cầu ngài đi về phía bắc để nhiếp phục một đạo sĩ Bà-la-môn . Sau khi nhiếp phục và khai đạo cho vị đạo sĩ . Aryadeva để lại bài kệ như sau :

Thần Siva có hai mắt ,
Nhưng không nhìn thấy chân lý .
Indra có ngàn mắt ,
Chỉ như kẻ mù lòa .
Ta ,
Aryadeva .
Chỉ cần có một mắt ,
Nhưng thấy suốt các Pháp .
————————————————–

Đại sư thứ 19: Thaganapa - Kẻ dối trá

Nhỏ nước vào trong tai ,
Nghiêng tai nước ra ngoài .
Các hiện tượng đương thời ,
Cũng chỉ là hư dối .
Sự thật là như vậy ,
Ngươi đã thấy đấy thôi .

Truyền Thuyết

Thaganapa sinh ra trong một gia đình nghèo khó ở miền đông Ấn độ .  Anh ta kiếm sống bằng các thủ đoạn lừa đảo , gạt gẫm kẻ khác . Một ngày , trong khi đang ngồi bên lề đường suy tính mưu kế hại người . Chợt có nhà sư đi ngang qua chỗ của y . Sư hỏi : “ Chẳng hay hiền hữu làm gì mà ngồi nơi đây ? ” . “ Bạch đại đức, xin ngài chớ hỏi . Tôi không quen nói sự thật ” .

“ Này hiền hữu , đừng dối trá . Nếu hiền hữu nói những lời không thật . Khi nghiệp đến , người sẽ đọa vào địa ngục . Càng dối trá , càng nặng nghiệp . Hậu quả là hơi thở luôn có mùi hôi hám , chẳng ai tin tưởng mình . Ruộng vườn của hiền hữu không còn phì nhiêu , màu mỡ , hạt giống không thể nảy mầm . Khi đọa xuống địa ngục , lưỡi của hiền hữu sẽ bị cày xới ” .

Nghe sư nói , Thaganapa hoảng kinh : “ Thưa thầy , người ta gọi tôi là Thaganapa vì tôi là một kẻ luôn nói dối . Từ lâu nay đã thành thói quen e khó sửa đổi ” . “ Ngươi có thể tu tập thiền định hay không ? ” . “ Thưa thầy ! . Thói quen ấy xem chừng khó bỏ ” . “ Không hề gì . Nếu biết quay đầu về với chánh pháp . Kẻ nặng nghiệp cũng có thể tu tập ” . Thaganapa vui mừng khẩn khoản : “ Đệ tử cúi đầu xin thầy từ bi hết lòng tế độ ” .

Sư dạy : “ Tất cả các pháp trong thế gian này vốn hư huyễn . Không thật giống như những lời dối trá của ngươi từng thốt ra . Cũng thế , những gì ngươi cảm thọ như : Thấy , biết , nói , nghe bằng giác quan đều hư vọng . Không có thực tính . Vậy từ nay , ngươi hãy tập quán tưởng tất cả các pháp của thế gian đồng với sự hư dối . Vì thực sự thế gian này được cấu thành bằng sự hư dối ” .

Sau khi lãnh thọ giáo pháp  . Thaganapa tu tập thiền định suốt bảy năm ngộ được các pháp vốn là duyên hợp , hư dối . Không bền . Nên tìm đến thầy xin ấn chứng. Nhưng sư bảo : “ Các pháp vốn không thật, không giả .  Chân lý là chân lý . Không ai có thể tạo ra chân lý hay xác lập chân lý .

Vì thế , ngươi hãy quán cái ngươi tự cho là chứng ngộ cũng chỉ là một sự rỗng không . Một sự rỗng không từ trong bản thể . Như vậy mới vào được đạo ” .

————————————–

Đại sư thứ 20: Naropa - Con người bất khuất

Tựa như vua ba cõi ,
Cai quản khắp nơi nơi .
Nhà Du-già nếm được ,
Vị giải thoát thanh tịnh .
Sẽ chinh phục địch luân hồi ,
Hưởng lạc thú thanh tịnh .

Truyền Thuyết

Naropa sinh trưởng ở vùng đông Ấn . Mặc dù thân phụ làm nghề nấu rượu nhưng Naropa lại không thích nối nghiệp cha . Hằng ngày , ngài vào rừng kiếm củi để sinh nhai . Tuy vậy , ngài không tìm thấy niềm vui nào trong cuộc sống tẻ nhạt này . Nghe đại danh của sư Tilopa, ngài quyết định rời Patalaputra để tầm sư học đạo .  Nhưng khi đến Visnunagar thì đại sư Tilopa đã rời khỏi chốn này.

Không gặp được chân sư . Naropa buộc lòng phải du hành giong ruỗi khắp nước Ấn để tìm cho ra sư Tilopa . Cuối cùng ngài cũng gặp được sư Tilopa trên bước đường đi quảng bá chánh pháp . Mừng rỡ , Naropa rạp mình giữa bụi đường đảnh lễ và cung kính ngài : “ Đệ tử lâu nay hằng nghe đại danh của thầy . Nay đã gặp được thật thỏa lòng mong đợi ” .

Nghe qua , sư Tilopa đùng đùng nổi giận : “ Ta nào phải là sư phụ của ngươi .  Ngươi cũng chẳng là môn đồ của ta . Chớ có hồ đồ ” . Sư vừa quát tháo vừa thuận tay chân đấm đá vào người Naropa . Dù mới hội ngộ lần đầu đã bị xử bạc . Nhưng Naropa vẫn điềm nhiên không lộ một chút oán hận mà càng quyết tâm đi theo sư Tilopa . Hằng ngày , Naropa đi khất thực để cúng dường sư Tilopa . Mỗi lần như thế sư vẫn nhận vật thực do Naropa hiến cúng . Nhưng khi ăn xong sư lại đánh đập la mắng Naropa . Tuy thế , Naropa vẫn một lòng phụng dưỡng , hứng chịu những cơn thịnh nộ vô cớ và ăn các thức ăn thừa của thầy .

Naropa kề cận bên thầy trải qua 12 năm . Nhưng Tilopa không hề quan tâm ngó ngàng đến . Một hôm , Naropa xin được món cà-ri rất ngon ở một tiệc cưới mang về dâng lên sư phụ. Ắn xong , Tilopa hỏi : “ Này con , món cà-ri ở đâu mà ngon quá .  Hãy kiếm thêm cho ta một ít ” .

Lần đầu tiên được thầy sai bảo lại nghe Tilopa gọi là “ con ”  khiến Naropa bồi hồi sung sướng khác nào một Bồ Tát vào ngôi sơ địa . Ngài thầm nghĩ : “ Ta ở bên chân thầy ròng rã 12 năm . Từ trước đến nay , thầy chưa hề hỏi ta Ngươi là ai ? ” . Nay thầy gọi ta là con . Ôi ! , thật sung sướng biết dường nào ! ” .

Thế là Naropa để đến chỗ tiệc cưới bốn lần để xin món cà-ri thầy mình ưa thích  . Tilopa lấy làm hài lòng về Naropa . Sư truyền pháp và làm lễ quán đảnh cho ngài .  Sáu tháng sau đó , Naropa đạt thần thông Đại thủ ấn . Ngài vân du khắp nơi để hoằng pháp . Tương truyền , ánh sáng từ thân ngài phát ra xa hàng trăm dặm .

Đại sư thứ 21: Syalipa - Linh cẩu đại sư

Người họa sĩ thiên tài ,
Vẽ những bức tranh có hình ảnh khủng khiếp .
Khi ngắm nhìn các tác phẩm này ,
Lòng ta dâng lên một nỗi kinh hoàng .
Nhưng hãy nhìn lại ! ;
Hãy nhìn cho rõ ,
Những hình ảnh ấy .
Phản ánh lại những điều không thật ,
Rồi cuối cùng ta cũng phát hiện ra .

Truyền Thuyết

Syalipa là một nông dân nghèo sống gần kề một bãi tha ma . Về đêm , có một đàn linh cẩu thường đến để lùng sục những mẩu xương thừa của người chết trong đám tro tàn . Tiếng tru gào của chúng dường như ma kêu quỉ khóc, như xé toạt cả bóng đêm tịch mịch . Quyện vào không gian đen nghịt, khiến người nghe phải rùng mình sởn gáy . Chúng là nỗi kinh hoàng của Syalipa và ám ảnh trong tâm trí của chàng ngày lẫn đêm .

Cho đến một hôm , tình cờ có một đạo sư đến khất thực vùng này . Syalipa vội mang thức ăn cúng dường . Nhà sư lấy làm hoan hỷ và giảng thuyết về lợi ích của công đức cúng dường . Nhưng Syalipa buồn rầu nói : “ Thưa thầy !  . Bài thuyết pháp của thầy thật hay . Nhưng nếu được , mong thầy dạy tôi cách nào có thể vượt qua nỗi sợ ” . “ Này hiền hữu !  . Ngươi sợ gì ?  . Già?  . Chết ? . Hay sợ hãi luân hồi sáu nẽo ? ” .

“ Thưa , đó chỉ là những lo sợ thông thường . Tôi có một nỗi sợ đặc biệt hơn . Tôi sợ tiếng tru của loài linh cẩu thường đến kiếm mồi ở bãi tha ma gần đây . Xin thầy từ bi dạy tôi cách trừ nỗi sợ ấy ” . “ Thôi được ! . Vì ngươi chẳng sợ gì khác ngoài tiếng tru của loài linh cẩu . Vậy cách hay nhất là ngươi nên dựng lều trong bãi tha ma sống chung với loài thú này . Đồng thời , luôn tâm niệm rằng : Tất cả âm thanh trên thế gian này đồng với tiếng tru của chúng . Lâu dần , nỗi sợ sẽ tự hủy diệt ” . Syalipa vâng lời dạy , tu tập trong 9 năm thì đạt được tâm vô úy . Đắc Đại thủ ấn , tự xưng là : Pháp sư Linh cẩu . Thường đắp tấm da linh cẩu trên thân .

————————————————

Đại sư thứ 22: Tilopa - Kẻ xuất thế

Con chim ấy ngụ trên núi Tu-di ,
Dường như nó được làm bằng vàng .
Bậc trí giả biết rằng :
Năng lực thanh tịnh là tất cả .
Nên ngài từ bỏ thế giới vật chất ,
Để bước vào cảnh giới Niết-bàn .

Truyền Thuyết

Tilopa vốn là quốc sư của xứ Visnuagar vào thế kỷ thứ 10 được đức vua và triều đình rất mực tôn kính . Nhưng ngài vẫn tỏ ra chán chường những sự biệt đãi của đưc vua . Ngài thường bảo : “ Đời ta thật vô nghĩa” . Sau đó ngài xin từ chức quốc sư nhưng triều đình không thuận . Cuối cùng , ngài phải âm thầm bỏ ra đi .

Rời khỏi triều đình trong một đêm khuya . Tilopa đi về vùng Kanci và trú thân nơi một bãi tha ma hẻo lánh . Ngày đi khất thực , đêm về tu tập thiền định bên cạnh những thây ma . Đại sư Tilopa thường cho rằng : Thế gian ô trược này chính là cõi thanh tịnh của ngài .

————————————————–

Đại sư thứ 23: Catrapa - Hành khất gặp may

Bất cứ cái gì mà nhà Du-già nhìn thấy ,
Đều hiển lộ giáo pháp của chân sư .
Tất cả ,
Những gì người nhìn thấy đều là thực thể bất sinh ,
Và thực thể bất sinh lại là vị đạo sư cao cả nhất .
Vô tư là cách dùng nhận biết “ Không hai ” ,
Bởi thế ,
Đức lành hay thói xấu cũng là một .

Truyền Thuyết

Catrapa là một người hành khất . Nhưng lúc nào trên lưng cũng mang theo một số kinh sách . Một ngày nọ , do phước duyên nên ngài tình cờ gặp được một nhà sư thông thái khai thị tri kiến giải thoát và truyền cho giáo Pháp . Sư nói :

Xấu ác bởi vô minh ,
Thân này do nghiệp trước .
Hiện tại tức vị lai ,
Nỗ lực tu thiền định ;
Chứng đắc trong đời này .

Nghe thoáng qua bài kệ , Catrapa không hiểu được ý .  Sư bèn giảng : “ Sai lầm là do không có tri kiến . Thiếu tri kiến thì tà vạy trong tâm khởi lên . Tâm tà vạy khởi lên dẫn theo hành động sai lầm .  Cứ thế mà xoay chuyển lún sâu vào ác nghiệp .  Chỉ có thực chứng các pháp vốn hư huyễn do duyên sanh mà có . Thế nên tu tập thiền định vào Samadhi thì mới hết sai lầm . 

Lại thấy chúng sinh trôi lăn trong sáu nẽo mà khởi tâm thương xót . Và dùng Bi quán mà phổ độ . Nhưng không để tâm hướng về quá khứ , vướng mắc ở hiện tại, trù tính về tương lai . Khổ lạc vốn do tâm sinh . Tu tập miên mật lâu ngày thì Phật tính tự hiển lộ ” . Catrapa lưu lại Sendhonagra để tu tập thiền định . Sau 6 năm ngài đắc thần thông Đại thủ ấn .

——————————————————–

Đại sư thứ 24: Bhadrapa - Kẻ độc nhất vô nhị

Ngộ được tánh không ,
Vô minh là thanh tịnh .
Chiêm nghiệm lòng từ ,
Hành vi toàn thiện .
Hiểu được tính nhất quán ;
Của vô số phương tiện .
Ây là thiền định ,
Mục đích rốt ráo thuần một vị giải thoát .

Truyền Thuyết

Xứ Manidhara có một người Bà-la-môn giàu có sống cuộc sống hết sức xa hoa .  Dù vậy , trong tâm anh ta lúc nào cũng âu lo . Thường ngày , anh ta giao du quen biết với rất nhiều người . Nên trong nhà lúc nào cũng đông đúc bạn bè .

Một bữa nọ , ở nhà một mình vì tất cả bạn bè đã đi dự lễ tẩy trần . Có một nhà sư Du-già đến khất thực .  Khi thấy nhà sư rách rưới bước vào sân , anh ta vội vã kêu lên : “ Bất tịnh , bất tịnh ! . Ngươi làm ô uế nhà ta . Hãy rời khỏi đây trước khi bạn bè ta trở về trông thấy . Kẻo họ trách ta đã cho ngươi vào ” .

“ Ngài nói bất tịnh nghĩa là sao, thưa ngài ? ” . “ Không tắm rửa . Không thay y phục . Mang bình bát bằng đầu lâu , ăn thức ăn không sạch , sinh ở giai cấp hạ tiện là bất tịnh . Giờ thì đi nhanh đi ! ” . Nhà sư nghe xong vẫn đứng yên khẽ đáp rằng : “ Như thế không phải là bất tịnh như ngài nghĩ . Uế tạp do thân , khẩu , ý mới thực là bất tịnh . Làm thế nào ngài có thể tẩy rửa sự uế tạp trong tâm của ngài bằng lễ tẩy trần ? . Chỉ có tắm trong giáo pháp của chân sư , ngài mới có thể hoàn toàn thanh tịnh . Không còn cấu nhiễm ” . Người bà-la-môn nghe thấy có lý bèn xin Sư dạy thêm . Sư nói : “ Hãy cúng dường thức ăn cho ta ” . “ Nhưng ngài không thể lưu lại đây lâu được . Vì người nhà và bạn bè của tôi không tin ngài . Tôi sẽ đến nơi ngài ở để nghe pháp ” .

“ Ta sống nơi bãi tha ma .  Khi đến gặp ta nhớ mang theo rượu thịt ” . “ Rượu thịt ư ? . Người Bà-la-môn chúng tôi cấm không được nhắc đến những thứ ấy ” . “ Tùy ngươi thôi .  Nếu muốn học giáo pháp thì phải làm theo lời ta dặn ” . “ Nhưng tôi không thể gặp ngài vào lúc ban ngày vì mọi người sẽ nhìn thấy tôi . Vì vậy tôi sẽ đến với ngài vào lúc ban đêm ” .

Sau khi nhà sư bỏ đi , người bà-la-môn cải trang rồi đi ra chợ để mua rượu thịt . Khi đêm đến , y tìm đường đến nơi mộ địa . Đến nơi gặp nhà sư , bèn dâng thức ăn cho sư và được điểm đạo . Để hoán cải tâm kiêu mạn về giai cấp . Bhadrapa hằng ngày phải quét dọn hố xí và làm vệ sinh quanh nơi sư ở . Sau 6 năm tu tập thiền định, Bhadrapa đắc thần thông Đại thủ ấn .

————————————————————

Đại sư thứ 25: Dukhandhi - Phu quét đường

Kết hợp quá trình tương đối ,
Với phép thành tựu rốt ráo ;
Đó là phép thiền định Đại thủ ấn .
Khởi lên trong ta thức thanh tịnh ,
Đó là trí tuệ của Ba thân .

Truyền Thuyết

Dukhandhi sinh trưởng ở vùng Gandhapur , thường ngày đi lượm giẻ rách đem về giặt sạch . Vá lại thành từng tấm áo quần để mặc . Một ngày nọ , ngài gặp được một nhà sư Du-già truyền cho tâm ấn .

Ngài cố gắng tu tập , nhưng tâm trí luôn luôn bị chi phối bởi việc lượm giẻ và may vá . Nên ngài khởi tâm nghi hoặc cho rằng không thể tu hành thành tựu . Đầu óc ngài lúc nào cũng vẫn vơ với công việc thường ngày khiến không thể nhất tâm quán tưởng hay trì tụng chân ngôn . Dukhandhi đem trở ngại ấy trình bày với tôn sư . Sư dạy rằng :

Chân pháp không ngằn mé ,
Không có pháp may .
Không có pháp người may ,
Chân ngôn là như vậy .
Hãy quán tưởng vị thần ,
Trì tụng chú miên mật .
Tự nhiên tâm thuần thục ,
Thấy các pháp đều không .

Nương theo lời dạy của chân sư , Dukhandhi tu tập 12 năm thì đạt thần thông Đại thủ ấn .

——————————————–

Đại sư thứ 26: Ajogi - Người bị ruồng rẫy

Vâng lời dạy của bậc thánh tăng ,
Ta quán điểm không nơi chóp mũi .
Buộc chặt tâm này vào vũ trụ ,
Một vũ trụ trong một vũ trụ .

Truyền Thuyết

Ở thành phố Pataliputra có một gia đình rất giàu có , sinh được đứa con trai độc nhất . Vì thế mọi người rất yêu quí . Tuy nhiên , khi đứa bé lớn lên , ngày càng trở nên mập béo đến nỗi không thể ngồi dậy để ăn uống , tiểu tiện hay đi lại bình thường như những đứa trẻ khác . Bố mẹ của đứa bé cảm thấy quá thất vọng bèn đem nó ra bỏ giữa bãi tha ma .

Một mình ở nơi hoang vắng , đứa bé sợ hãi kêu khóc một hồi lâu thì có một nhà sư tình cờ đi ngang qua . Thấy hoàn cảnh tội nghiệp của nó cho nó một ít thức ăn . Nhưng thậm chí nó không ngồi dậy được để đưa thức ăn vào miệng . “ Ngươi không thể tự ngồi dậy ăn thì còn làm được cái gì ? ” . “ Tôi thật là vô tích sự . Đó là lý do tại sao bố mẹ tôi đem bỏ tôi ở đây cho đến chết ” . “ Ta không chắc rằng nằm ngửa như ngươi có thể tu thiền được hay chăng ? ” . Vị sư đắn đo nói .

“ Thưa thầy , tôi nghĩ có thể tu tập được . Nếu có người bằng lòng dạy tôi ” . Nghe đứa bé nói , sư hoan hỷ truyền tâm pháp . Khiến nó có thể nhập vào đàn pháp của Thủ thần Hevajra .

Sư dạy : “ Hãy quán tưởng một quả cầu chỉ bằng hạt cải nằm ngay trên chóp mũi của ngươi . Sau đó quán tưởng có một trăm triệu thế giới trong hạt cải ấy ” . “Thưa thầy , tu tập như vậy sẽ mang lại kết quả gì ? ” . “ Hãy làm theo ta dạy , ngươi sẽ thấy ” . Sau 9 năm thiền định, cậu bé đắc thần thông Đại thủ ấn và được mọi người gọi là chân sư Ajogi . Theo Phạn ngữ ( Sanskrit ) có nghĩa là Vô tác .

————————————————————-

Đại sư thứ 27: Kalapa - Người điên phong nhã

Những con người vô minh từ nguyên thủy ,
Ngu ngơ cho ta kẻ điên rồ .
Giáo pháp của chân sư là đề hồ ,
Thuốc chuyên chữa trị bệnh hồ đồ .

Truyền Thuyết

Kalapa vốn là người có hình dung cực kỳ tuấn tú . Do đời trước ngài tu phép nhẫn nhục và thiền định . Nên thân thể của ngài cường tráng và có những nét đẹp đầy sức thu hút . Khiến bất cứ ai gặp ngài cũng đều muốn dừng lại ngắm nhìn .

Ngài cảm thấy rất khó chịu vì sự chú ý quá mức của mọi người . Bèn từ bỏ phố thị để ẩn cư ở một nơi gần khu mộ địa . Tại đây , ngài gặp được một nhà sư Du-già truyền cho tâm ấn . Sau một thời gian tu tập , ngài ngộ được chân lý . Thường vân du đây đó và có tài xuất khẩu thành thơ . Nhưng hành vi kỳ bí nên mọi người đều gọi là : “ Phật khùng ” .

——————————————-

Đại sư thứ 28: Dhobipa - Người thợ giặt

Chẳng biết từ thuở nào ,
Ta từng giặt sạch bao vết bẩn ;
Nhưng không thể nào giặt than đen thành trắng .
Chỉ có giáo pháp của chân sư
Mới gột rửa được tâm ta .

Truyền Thuyết

Thuở nọ, tại vương quốc Pataliputra có một gia đình làm nghề giặt ủi . Một hôm, anh thợ giặt đang bận bịu với công việc thường ngày thì một nhà sư Du-già chợt đến để khất thực . Anh thợ trẻ dù đang bận rộn cũng tỏ ra hoan hỷ cúng dường vật thực cho vị sư . Đồng thời hỏi nhà sư có cần giặt hộ thứ gì không .

Sư bèn đưa ra một mẩu than : “ Hiền hữu có thể giặt tẩy cái này chăng ? ” . “ Thưa ngài , tôi không thể làm cho cục than đen thành trắng được ” . “ Hiền hữu nói chí phải . Cũng như thế , không thể dùng thứ gì để tẩy sạch vết nhơ trong tâm . Nhưng ta có một bí quyết chỉ cần giặt một lần là tinh khiết mãi ” .

Nghe sư nói thế , người thợ giặt lấy làm vui mừng khẩn khoản xin sư truyền cho bí quyết ấy . Sư làm phép điểm đạo rồi truyền phép Tam mật ( Mật ấn , Mật chú, và Mật tướng ) cho chàng . Trải qua 12 năm tu tập dùng Mật ấn ( Mudra ) thanh tịnh thân , dùng Mật chú ( Mantra ) thanh tịnh khẩu và dùng Mật tưởng ( Samadhi ) thanh tịnh ý . Thế là người thợ giặt chứng đắc được thần thông Đại thủ ấn ( Mahamudra ) . Sư dạy :

Nước hỏa ấn tẩy trừ thân nghiệp ,
Nước chân ngôn tịnh hóa khẩu phàm .

Từ đó về sau , ai đưa giặt thứ gì . Người thợ ấy đều giặt sạch rất nhanh chóng . Và lạ thay , vật ấy không hề vướng bẩn trở lại . Khiến mọi người lấy làm ngạc nhiên . Mãi về sau , mọi người mới phát hiện ra người thợ giặt ấy đã chứng quả thánh và thường được người gọi là Chân sư Dhobipa .

———————————————————

Đại sư thứ 29: Kankana - Nhà vua tu sĩ

Viên ngọc như ý Chân đế ,
Phát ra ánh sáng giác ngộ .
Thỏa đáp tất cả nhu cầu ,
Thông qua hành vi ảo diệu ,
Người nếm được vị này ,
Tức thời thành tựu viên mãn .

Truyền Thuyết

Vua xứ Visnunagar cai trị vương quốc giàu có thịnh vượng . Nhưng đức vua luôn tìm cách để thỏa mãn những thú vui ngũ dục . Một ngày nọ , có nhà sư Du-già đến hoàng cung để khất thực . Đức vua cúng dường vật thực cho sư một cách rất hào phóng . Đáp lại tấm lòng hào hiệp của nhà vua , sư khuyên :

“ Tâu bệ hạ ! . Vua và vương quốc thực ra chỉ là những danh từ rỗng tuếch . Cho dù địa vị thế tục của ngài như thế nào đi nữa cũng vô ích . Bởi vì , tất cả chúng sinh đều phải chịu đau khổ như nhau . Tử rồi sinh , sinh rồi tử nối tiếp nhau không dứt . Nỗi khổ đau lại có vô số muôn vàn hình tướng . Ngay cả các vua ở cõi trời . Một khi phước báo đã cạn còn phải chịu khổ đau sinh tử . Huống chi địa vị phàm phu của ngài . Mong bệ hạ từ bỏ thú vui ảo ảnh vì chúng giống như những giọt sương mai và hãy tu tập thiền định ” .

“ Thầy nói chí phải ! . Nhưng ta không thể mặc giẻ rách đi xin ăn . Thầy có cách gì khiến ta có thể tu tập thiền định . Không cần từ bỏ thú vui ngũ dục và ngai báu hay không ? ” . “ Cách tốt nhất là bệ hạ nên từ bỏ tất cả ” . “ Không !  . Không ! . Cảnh tượng ăn cơm bằng bình bát đầu lâu . Mặc giẻ rách, ăn thức ăn thừa làm ta sợ phát khiếp lên được ” .

“ Nếu bệ hạ không thay đổi thái độ , niểm tự hào và sự lạm dụng quyền lực sẽ tạo nên nghiệp báo về sau bệ hạ phải tái sinh nơi hạ tiện . Cách sống phạm hạnh đã mang lại cho tôi một niềm vui vô tận . Tuy nhiên , tôi có một phương pháp đặc biệt giúp ngài có thể tu tập thiền định . Không cần ngài phải từ bỏ những thú vui thường ngày ” . “ Nếu vậy, xin thầy từ bi chỉ giáo cho quả nhân ” . “ Bệ hạ hãy quán tưởng ánh sáng viên ngọc đeo ở cổ tay bệ hạ và tâm không tham dục của bệ hạ là một ” . Tiếp theo sư đọc bài tụng thi tụ.

Hãy chăm chú nhìn ánh sáng nơi mặt ngọc ,
Để thấy được miềm vui chân thật sẵn có trong tâm ngươi .
Tất cả trang phục ,
Của báu ngọc ngà nhà cửa đền đài .

Vô số màu sắc đều hiện ra trong mặt ngọc ,
Nhưng bản chất của ngọc vẫn không hề thay đổi .
Tất cả các pháp vạn tượng sum la ,
Tất cả sắc ý khởi lên trong ngươi đều vọng .
Tự tâm ngươi không lay động ,
Vẫn sáng chói như mặt ngọc kia .

Đức vua thực hành thiền định bằng cách chú mục vào mặt ngọc và ngộ được chân lý giải thoát . Sáu tháng sau đó , đạt được thần thông Đại thủ ấn . Một hôm , những người hầu cận nhà vua nhìn qua cửa phòng thấy ngài đang thiền định trên ngai vàng và quanh ngài là vô số các thiên nữ . Triều thần biết rằng nhà vua đã tu hành thành tựu bèn đến cầu pháp . Nhà vua dạy rằng:

Niềm vui thanh tịnh là vương quốc ,
Thấy biết chân lý là đức vua .
Các ngươi cũng sẽ là hoàng đế ,
Nếu như tu pháp thiền định này .

Từ đó vua lấy pháp hiệu là Kankanapada , độ cho dân chúng vùng Visnunaga tu tập thiền định và thọ đến 500 tuổi .

————————————————–

Đại sư thứ 30: Kambala - Kẻ lắm lời

Trong sự sâu rộng của đại dương  ẩn chứa một kho tàng ,
Đó là niềm vui và là sự thịnh vượng của các Long vương .
Từ khởi thủy ,
Tất cả ánh sáng và âm thanh .
Tự nó là pháp giới .
Lành thay ! ,
Bậc thánh đã thấy rõ điều này .

Truyền Thuyết

Quốc vương xứ Kankarama hạ sinh được hai hoàng tử . Khi quốc vương băng hà, triều đình đưa hoàng tử cả lên ngôi . Vị hoàng tử này vốn là một con người đức hạnh và thao lược . Nên kể từ khi lên ngôi , đất nước luôn sống trong cảnh thái bình và dân chúng trở nên giàu có sung túc . Họ giàu đến nỗi chỉ dùng toàn chén đĩa bạc trong các bữa ăn .

Tuy nhiên , trong suốt năm trị vì đầu tiên, vua không gặp được hoàng thái hậu . Vì bà trong thời gian chịu tang . Đến năm sau , hoàng thái hậu mới vào triều gặp mặt vua . Nhà vua trẻ thấy mẫu thân khóc lóc có vẻ không vui , bèn hỏi : “ Cớ sao mẫu hậu lại khóc ? ” . “ Ta khóc vì thấy con ở trên ngai vàng lúc nào cũng bận bịu việc triều chính ” . “ Tâu mẫu hậu ! , con hiểu . Con sẽ thoái vị nhường ngôi cho em và con sẽ xuất gia theo Phật ” .

Theo lời hứa , nhà vua trẻ để lại ngai vàng cho em . Rồi cùng 300 tùy tùng đến tu tập ở một tu viện . Nhưng chẳng bao lâu mẹ ngài lại xuất hiện trước mặt , bà lại khóc lóc .  Ngài chào hoàng thái hậu và hỏi duyên cớ . Bà nói : “ Ta khóc vì hiện nay con đã là một nhà sư mà vẫn còn kẻ hầu người hạ như một ông vua . Hãy từ bỏ tu viện này . Một mình đi ẩn cư nơi rừng sâu để tu  tập ” . Vua nghe lời đi vào rừng già tu tập , nhưng do phước báo đời trước dân làng thường đến cúng dường ngài vô số vật thực .

Mẹ ngài lại xuất hiện khóc lóc nói : “ Một bậc thánh tăng cần gì những thứ ấy ? ” . Nghe mẹ mắng , nhà vua cởi bỏ những trang phục tốt , bình bát bằng bạc và những thứ quí giá khác để chọn lối tu khổ hạnh . Ngài lang thang đây đó , từ thành phố này sang thành phố khác . Một hôm ngài thấy mẹ xuất hiện giữa bầu trời trong thân tướng Dakini và dạy ngài phương pháp thiền định .

Sau 12 năm tu  tập , một hôm ngài hoát nhiên chứng đắc thần thông . Bay lên hư không, và bất ngờ đối mặt với mẹ.  Bà quở trách : “ Sao con không lo phổ độ chúng sinh mà hý lộng thần thông để tiêu dao ? ” . Nhà vua lúc này đã trở thành một thánh tăng , vâng lời mẹ đáp xuống đất . Đi lần về thành phố Mangalapur . Một thành phố có đông cư dân , khoảng chừng hai trăm năm chục ngàn hộ .

Cách đô thị không xa , ngài phát hiện có một hang động vắng vẻ gọi là động Ba Cây Cọ . rất phù hợp để thiền định . Đám nữ phù thủy ở chốn ấy nghe tin đại sư đến trú tại xứ sở của chúng . Liền báo cho mụ phù thủy cầm đầu là Padmadevi . Cả bọn tìm cách quấy phá việc tu tập của sư .

Một ngày nọ , khi ngài đi vào thành . Trên mình quấn một chiếc mền bằng len màu đen . Bọn nữ phù thủy bám theo sau ngài nài nỉ : “ Thưa thầy, mong thầy hoan hỷ đến nhà chúng tôi để dùng một bữa cơm ” . Nhưng sư khiêm tốn chối từ : “ Ta không thể dùng cơm ở tư gia ” . Thấy không thể mời sư , bọn chúng nài nỉ giữ hộ chiếc mền cho sư khi sư còn ở trong thành .

Không tiện từ chối lần nữa , sư đành phải giao chiếc mền cho chúng rồi ở trần đi vào thành . Sư đi rồi , bọn phù thủy tụ họp lại và kháo với nhau rằng : “ Vật gì sở hữu của một nhà sư đắc đạo đều có thần lực .  Chúng ta phải ăn cái mền này ” . Thế là , bọn chúng chia nhau ăn mỗi người một mảnh . Phần còn lại ném vào bếp .

Khi sư quay lại , bọn phù thủy đưa ngài một cái mền khác mới hơn . Nhưng sư một mực đòi lại chiếc mền cũ của mình . Nài nỉ mãi không được , bọn phù thủy bèn lấy vàng cúng dường nhưng sư không nhận . Ngài tức giận đi thẳng đến triều đình, tâu với vua : “ Ngài là bậc minh quân , cớ sao lại không thể bảo vệ thần dân của  mình tránh khỏi bọn phù thủy trộm cắp kia ? ” .

Sau khi nghe sư giải thích sự việc . Đức vua cho gọi bọn phù thủy đến và ra lệnh cho họ phải hoàn lại chiếc mền cũ . Nhưng bọn chúng thú thật rằng chỉếc mền ấy không còn nữa . Sư đành ở trần quay lại hang động để thiền định . Sau đó bọn phù thủy dùng phép làm tắt dòng nước nơi hang động của ngài . Sư bèn làm phép Hộ ma ( Tonna ) triệu thỉnh Thủ thần Heruka khiến cho dòng nước chảy trở lại .

Nhân dịp bọn nữ phù thủy từ các nơi về tụ hội tại Oddiyana, . Sư dùng thần thông biến tất cả bọn chúng thành bầy cừu đoạn xén lông đầu của chúng . Khiến Padmadevi nữ chúa phù thủy phải quy phục cầu sư giải thoát cho chúng . Khi được sư cho trở lại hình người . Đầu của các phù thủy đều trọc nên chúng khóc lóc một cách thảm thiết .

Chẳng bao lâu , tại động Ba Cây Cọ . Các nữ thần nhục cảm cố ám hại sư bằng cách lăn một tảng đá núi khổng lồ xuống đầu ngài . Nhưng thất bại . Cuối cùng đức vua xứ ấy phải can thiệp : “ Không ai trong các người có thể hại được nhà sư ấy . Vậy tốt hơn các ngươi nên quay về với chánh pháp ” . Mặc dù đức vua đã khuyên lơn , nhưng bọn nữ phù thủy vẫn không thèm để tâm .

Thấy vậy , Sư bảo : “ Kể từ đây ta sẽ kiểm soát các ngươi . Nếu các ngươi không cải tà qui chánh . Ta sẽ bắt giao các ngươi cho Diêm chúa . Nếu các ngươi tái phạm, ta sẽ biến các ngươi thành ngựa ” . Bọn phù thủy kinh hãi , bèn cầu xin sư thu nhận làm đệ tử và tu tập pháp thiền định của ngài .

Sau khi được sư làm phép tịnh nghiệp , bọn phù thủy ói ra tấm mền chúng đã nuốt trước đó .  Sư gom các mẫu vụn lại thành chiếc mền nhưng nhỏ hơn trước một chút . Vì thiếu phần chúng đốt bỏ .  Từ đó sư được gọi là Kambala tức “ Sư mền ” .


Đại sư thứ 31: Dengipa - Nô lệ chốn lầu xanh

Niềm hạnh phúc vĩ đại ,
Khỏe như ngựa , voi ;
Sâu như đại dương .
Chân lý như con khỉ như trẻ thơ ,
Như chữ viết trên dòng nước .
Sự bất khả phân như dòng sông ,
Như mặt trời  như y dược .
Sự thành tựu như búi tóc ,
Như con mắt như bánh xe . 

Truyền Thuyết

Dengipa vốn là giáo sĩ Bà-la-môn của triều đình Pataliputra . Do nghiệp duyên đời trước . Đ ức vua Indrapala và Dengipa quyết định cùng nhau đi tu . Họ tìm đến chân sư Luipa và được sư truyền cho tâm pháp . Theo truyền thống , phải có một vật gì đó để cúng dường cho sư Luipa . Nhưng họ chẳng mang theo gì . Cuối cùng họ đi tới quyết định cúng dường chí nh bản thân mình .

Sư Luipa dẫn họ đến Orissa , kế đó đi bảy ngày nữa thì đến Japantipur . Đến một lầu xanh , sư Luipa hỏi người gác cửa : “ Chủ nhân của ngươi có cần mua nô lệ không ? ” . Tức thì , một giọng nói từ trong vang ra : “ Giá bao nhiêu ? ” . “ Một trăm lượng vàng ” . Cuộc ngã giá đã xong, nhưng với hai điều kiện . Một là người Bà-la-môn phải được ngủ một mình , hai là sau khi làm đủ công lao động . Người Bà-la-môn phảỉ được trả tự do . Sư Luipa để người Bà-la-môn ở lại .

Kẻ nô lệ người Bà-la-môn uôn làm hài lòng nữ chủ nhân và được mọi người quí mến . Một ngày nọ , sau khi ông ta làm xong công việc . Ngưòi chủ quên sai người mang thức ăn đến , ông bèn đi ra vườn nơi ông thường nghỉ ngơi sau khi làm việc . Người chủ chợt nhớ ra , vội sai các người làm khác đem thức ăn đến cho ông . Họ vô cùng ngạc nhiên khi thấy mười lăm thiếu nữ đẹp đang phục vụ ông v; à thân ông phát ánh hào quang chói lọi .

Nữ chủ nhân được báo tin chuyện lạ . Bà lấy làm áy náy, bèn đến nói rằng : “ Tôi thật là càn quấy vì đã đối xử với ngài như một kẻ nô lệ suốt 12 năm nay . Quả thật tôi có mắt như mù . Cầu xin ngài từ bi tha thứ và cho phép tôi được hầu hạ ngài như bậc thầy ” . Dengipa không chấp nhận lời thỉnh cầu này . Nhưng ngài truyền pháp cho bà ta và nhân dân thành Japantipur . Rồi vân du nơi khác .

———————————————————-

Đại sư thứ 32: Bhandepa - Vị thần ghen tị

Không quyến luyến ấy là tình thương cao cả ,
Từ bi Vì nhận ra bản chất của luân hồi .
Vui thông cảm là niềm vui không bờ bến ,
Xả bỏ hoàn toàn là vị giải thoát thanh cao .

Truyền Thuyết

Bhandepa là thần ngụ cư ở trên đám mây thuộc vùng trời xứ Sravasti . Một ngày nọ, ngài thấy xuất hiện một dáng người mình mặc áo cà-sa . Một tay mang bình bát còn tay kia cầm tích trượng , bay lơ lửng ngang qua . Toàn thân bao bọc bởi một luồng hào quang rực rỡ . Bhandepa lấy làm lạ, hỏi vị thiên chủ các cõi trời : “ Vị thần nào vừa mới bay thoáng qua vậy, thưa ngài ? ” . “ Đấy là một bậc A-la-hán đã dứt trừ các lậu nghiệp ” .

Bhandepa từ lâu khao khát được tu hành thành tựu như thế . Nên quyết định hạ giới để tìm chân sư . Ngài tìm thấy sư Krsnacarya và được sư truyền cho phép thiền định Mandala Guhyasamaja và Bốn tâm vô lượng để bảo vệ thân mạng . Khi vị thiên chủ các cõi trời thấy Bhandepa quay lại cõi trời liền ân cần hỏi thăm về công phu tu tập của ngài . Bhandepa nói bài kệ như sau :

Ta đạt đến cảnh giới ,
Cảnh ấy không thực thể .
Thiền định không gián đoạn ,
Từ bi làm phương tiện cứu cánh làm hư không ,
Bốn tâm hòa làm một tham dục không chỗ trụ
Bậc chân sư cao quí kẻ trí nên tôn thờ

Bhandepa hoằng dương chánh pháp được bốn trăm năm . Độ vô số người dân ở sáu thành phố lớn của Aryavarta là Sravasti, Rajagrha , Vaisali , Varanasi , Pataliputra và Kanyakubja .

———————————————————

Đại sư thứ 33: Tantepa – Kẻ đánh bạc

Tất cả ý niệm ,
Tất cả những phản ánh của tinh thần ;
Đã lụi tàn và tan vào hư vô .
Mỗi kinh nghiệm thoáng qua của thế giới hiện tượng ,
Cũng biến mất dần trong sự tương tục ,
Sự tương tục của vắng lặng .

Truyền Thuyết

Tantepa là một con người đam mê cờ bạc . Ông đánh bạc cả ngày lẫn đêm và thua hết sạch những gì ông có .  Dù vậy , để có tiền chơi trò sát phạt ấy . Ông đã vay mượn khắp nơi . Đến kỳ hạn trả nợ , Tantepa không đủ khả năng chi trả . Các chủ nợ xúm lại đánh ông đến suýt chết . Cuối cùng , ông phải ra khu mộ địa để ẩn thân .

Tại nơi này , Tantepa gặp một nhà sư Du-già . Sư hỏi thăm hoàn cảnh của Tantepa . “ Thưa ngài , tôi vốn là một con bạc bị thua đến sạt nghiệp . Vì không có tiền để  trả nợ , nên họ đánh đập tôi suýt chết ” . “ Vậy tại sao ngươi không tu tập thiền định ? ” . “ Cờ bạc là nghiệp của tôi . Nếu như có pháp nào tu nhưng không phải từ bỏ cờ bạc thì tôi thực hành ngay ” . “Điều ấy không khó , miễn là ngươi siêng năng tu tập ” .

Sư truyền pháp và khai tâm cho Tantepa . Sư dạy : “ Ngươi hãy quán ba cõi Dục giới , Sắc giới và Vô sắc giới đều rỗng không như cái túi không tiền của ngươi vậy .  Lại quán bản tâm của ngươi cũng rỗng không như ba cõi ấy . Lâu ngày chắc chắn sẽ thành tựu ” . Tantepa vâng lời Sư , tu tập 20 năm thì chứng ngộ và đắc thần thông Đại thủ ấn .

———————————————————–

Đại sư thứ 34: Kukkuripa - Người yêu chó

Thờ phụng , cúng dường bằng nghi thức ,
Bên ngoài lòe loẹt có ích chi .
Nỗ lực , tinh tấn là hiện diện ,
Thương thay chư Phật lại vắng xa .
Sự chứng đắc ;
Lại nằm trong lời chú nguyện của một chân sư .

Truyền Thuyết

Kukkuripa vốn là người Bà-la-môn nhưng rất tin tưởng vào huyền thuật ( Tantra ) .  Ngài cho rằng huyền thuật có thể giải quyết những vấn đề hiện hữu , do đó ngài chọn con đường xuất gia sống như một nhà sư Du-già .

Ngài vân du đây đó , trên đường ngài gặp một con chó cái bị đói . Nó quấn quýt bên chân . Khiến ngài động lòng từ bi mang theo khắp chốn . Ngày ngày ngài để nó lại trong hang động rồi đi khất thực . Sau 12 năm tu tập , Kukkuripa đắc thần thông .

Chư thiên ở ba mươi ba tầng trời Dục lạc mời ngài dự tiệc , Kukkuripa nhận lời .  Ngài được chư thiên đãi đằng vô số món ngon vật lạ . Trong khi ấy con chó cái ở trong hang động tự tìm lấy thức ăn còn sót lại . Kukkuripa đang ngon miệng , bỗng nhớ đến con chó . Ngài bảo với chư thiên rằng ngài phải trở về để chăm sóc nó .

“ Con chó ấy đang ở trong hang . Ngài chớ vội về vì tiệc vẫn chưa tàn . Vả lại chúng ta đang vui vẻ với nhau ” . Mặc cho chư thiên nài nỉ , Kukkuripa vội vã quay về . Con chó cái mừng rỡ khi gặp lại sư . Ngài vỗ đầu âu yếm nó,  lập tức con chó cái ấy biến thành một nữ Dakini và lên tiếng nói với ngài :

Lành thay cho ngươi ;
Vượt qua cám dỗ đắc đại thần thông .
Nay ngươi phải hiểu ,
Pháp thuật chư thiên chỉ  là trò huyễn ảo .
Bởi vì chính họ ngã chấp còn vướng ,
Lạc thú như sương mau tan theo nắng sớm .
Nay ta truyền lại ,
Chân nghĩa nhiệm màu .

Rồi vị thiên nữ Dakini khai thị và truyền bí pháp cho sư .

——————————————————————-

Đại sư thứ 35: Kucipa - Người bị bướu cổ

 

Cái tuyệt đối bẩm sinh mang nhiều đau khổ ,
Nhà Du-già bẩm tính phản ứng dữ dội .
Như tia nhìn của một con voi ,
Nhưng khi xả bỏ ;
Ngài đi vào trạng thái xuất thần .
Không ràng buộc  thoát ra ngoài tham dục ,
Trong ánh sáng lời dạy của một chân sư .
Ta đã đánh mất cái vô cùng của phủ định và xác định ;
Nhưng cái thực thể khó nắm bắt lại trở thành cái vô cùng tận ,
Nhận ra cái vô cùng tận này ta hiểu ra chân lý .

Truyền Thuyết

Kucipa là một nông dân ở vùng Kahari . Rất đau khổ vì cục bướu nơi cổ ngày một lớn . Cảm thấy xấu hổ vì tật bịnh của mình . Kucipa thường tránh xa chỗ đông người tìm đến những nơi hẻo lánh để ẩn cư .

Một ngày nọ , đại sư Nagarjuna đi ngang qua . Ngay khi vừa nhìn thấy ngài , Kucipa đã có lòng mến mộ bèn chắp tay đảnh lễ và thưa : “ Cuối cùng rồi thầy cũng đến . Con xưa nay đau khổ vì nghiệp cũ . Cúi xin thầy từ bi tế độ ” .

 

Sư Nagarjuna nhận thấy con người bệnh tật kia . Có thể tu tập phép thiền định của ngài do có duyên đời trước . Nên ngài hiển lộ Mạn-đà-la của Guhyasamaja và đưa Kucipa vào đàn pháp . Sư dạy : “ Nay ngươi hãy lấy cái bướu nơi cổ của ngươi làm pháp quán tưởng . Hãy mô phỏng cái bướu ấy mỗi lúc một lớn hơn ” .

Kucipa thực hành thiền định y theo lời chỉ bảo của sư . Quán cái bướu mỗi lúc một lớn hơn trước khi sự khổ đau kịp đến . Khi Nagarjuna trở lại , Kucipa bảo rằng phương pháp trị liệu có hiệu quả . Sư nghe thế liền dạy rằng : “ Lần này , ngươi hãy quán tưởng cả thế giới này hiển hiện trong cái bướu ấy ” . Kucipa thiền định liên tục và cục bướu tự nhiên nhỏ lại, teo dần và biến mất.

——————————————————-

Đại sư thứ 36: Dharmapa - Kẻ không ngừng học hỏi

 

Dễ xúc cảm với nọc độc, nhị phân ,
Tâm thông thái bị đánh độc bởi sự phân tích .
Lời chú nguyện của một chân sư ,
Chữa lành bệnh luân hồi trong ba cõi .

Truyền Thuyết

Dharmapa là một thư sinh chăm chỉ .  Ông đọc sách không biết chán . Nhưng tiếc một điều là ông không có óc phân tích ; và tính nhạy bén trong việc tiếp thu các kiến thức của thầy dạy . Vì vậy ông không thể áp dụng những điều đã học vào cuộc sống thực tiễn . Ngoài ra , ông vừa học xong thì lại quên ngay .

Ngày nọ , ông gặp một nhà Du-già và thố lộ trở ngại ấy . Sư thương tình điểm đạo và truyền nội lực của một chân sư cho Dharmapa và dạy :

Hãy như thợ rèn kia ,
Nấu kim loại sắt thép .
Tan chảy thành một khối ,
Hãy đốt cháy kiến thức tan vào tâm hư vô .

Dharmapa nghe qua chợt hiểu ý của sư . Ngài nhận biết rằng những điều ngài đã học cũng sẵn có ngay trong chính bản tâm .

—————————————————-

Đại sư thứ 37: Mahipa - Con người vĩ đại

Ngọn núi kiêu hãnh vô minh ,
Chôn vùi viên ngọc như ý .
Giờ đây ;
Sự mầu nhiệm của hành vi giác ngộ .
Đã thỏa đáp những điều mong ước ,
Kẻ nào nếm được vị giải thoát ;
Có nghĩa hoàn toàn thành tựu .

Truyền Thuyết

Mahipa là cư dân vùng Magadha ( Ma-kiệt-đà ) . Ông có một thân hình rất cường tráng , lực lưỡng và đầy sức mạnh . Vì vậy , ông thường tự ca ngợi bản thân : “ Ta là  người khỏe nhất mà không ai trên đời này có thể địch lại ” .

Một ngày nọ , Mahipa tình cờ gặp nhà sư Du-già trên đường đi vào thành . Sư dừng lại nhìn ông một cách chăm chú hỏi : “ Ngươi đang nghĩ gì trong đầu vậy ? ” . Mahipa trả  lời : “ Không , không . Tôi chẳng suy nghĩ gì cả ! ” . Sư  nói : “ Không đâu ! . Ta biết ngươi đang thầm nghĩ : Ta là kẻ bất khả chiến bại ” .

Nghe sư đoán đúng ý nghĩ của mình . Mahipa chợt rùng mình , tâm tư bàng hoàng, trở nên khiêm cung và rạp mình đảnh lễ sư .  Sư dạy : “ Hãy từ bỏ lòng kiêu mạn ” . “ Vâng . Cúi xin đại sư chỉ dạy ” . Nhà sư làm phép điểm đạo và khai tâm cho Mahipa , rồi đọc bài kệ như sau :

Các pháp tự tâm sinh ,
Thiền định không ngừng nghỉ .
Tức thời tâm không sinh ,
Niết-bàn thường tịch tịch ;
Trừng tâm là tối hậu .

Nghe xong , Mahipa thưa : “ Bạch thầy , con không hiểu ” . Sư lại hỏi : “ Không tính là sức mạnh vô biên . Người có sức mạnh vô biên là người hoàn toàn thấu đạt không tính ” . Mahipa nghĩ rằng những lời dạy của sư chẳng gợi lên một vấn đề gì là khó khăn cả . Nhưng mỗi lần ông muốn nắm bắt đối tượng của thiền định thì lại thất bại , và muốn nắm bắt ý thức thì nó trơn tuột . Sau cùng , Mahipa mới hiểu được rằng chân lý không ngằn mé , bao la như bầu trời .

—————————————————————

Đại sư thứ 38: Acinta - Ẩn sĩ tham lam


Trong Thủ ấn không đối tượng không hình ảnh ,
Mười ngàn vọng tưởng cũng là không .
Vì các pháp là tịnh thức ,
Tịnh thức cho nên ngộ lý này .

Truyền Thuyết

Acinta là một tiều phu ở xứ Dhanirupa . Vì sự nghèo khổ bức bách trong cuộc sống hằng ngày . Nên ông  luôn mơ ước đến sự giàu sang phú quí bất luận ngày đêm .  Trong tâm trí lúc nào cũng nghĩ đến cách làm thế nào để được giàu có .Khổ thay!  . Lực bất tòng tâm . Acinta cảm thấy đau khổ tuyệt vọng và không muốn tiếp xúc với người đời vì mặc cảm nghèo khó .

Ông đi đến một nơi hẻo lánh để ẩn cư . Chính nơi ấy , ông gặp đại sư Kambala . Đại sư hỏi : “ Ngươi đang nghĩ gì mà lại xa lánh mọi người như thế ? ” . “ Tâm trí tôi luôn bị ám ảnh bởi sự giàu sang nên không thanh thản được ” . “ Có một cách để từ bỏ sự tham đắm ấy . Nếu ngươi phát nguyện tu tập ta sẽ truyền cho ” . Acinta lấy làm hoan hỷ , cầu xin : “ Mong Tôn sư từ bi hóa độ cho đệ tử ” . Sư nói :

Tham đắm mà làm chi ,
Khác gì gái lỡ thì .
Hãy gạn lọc tâm ý ,
Quán thân như cõi trời .
Quán ý là tinh tú ,
Tài thần tự hiện ra ;
Cúng dường bậc hiền giả .

Acinta vâng theo lời dạy mà tu tập . Những ý tưởng tham đắm vật chất thế gian biến thành ánh sáng của các tinh tú . Các tinh tú ấy tan biến vào bầu không gian vô tận . Ngài ngộ được chân lý và đem trình bày sở đắc ấy với chân sư của mình .  Sư dạy :

Bản chất của bầu trời ,
Là hư vô không tận .
Làm sao ngươi nắm bắt ,
Không cùng tận hư vô ? .
Chẳng sắc màu hình tướng ,
Mà ngươi mãi tham đắm ;
Đi tìm kiếm quẩn quanh .

——————————————————————————–

Đại sư thứ 39: Babhaha - Kẻ khao khát tự do

Ôi niềm vui niềm vui ! ,
Niềm vui không ngăn ngại .
Niềm vui không tham dục ,
Niềm vui không si mê .
Niệm tưởng là niềm vui ,
Ôi niềm vui kỳ ảo .
Niềm vui đầy bí mật ,
Niềm vui không nắm bắt .

Truyền Thuyết

Babhaha vốn là hoàng tử xứ Dhanjur . Một con người đầy tham đắm sắc dục . Một hôm , nhân một nhà sư Du-già đến hoàng cung để khất thực . Vị hoàng tử trẻ tuổi đem lòng ngưỡng mộ vị sư thông thái và hỏi bằng bản tính ưa thích lạc thú dục tình như ngài thì có thể tu tập thiền định được chăng .

Sư nói : “ Tâm Bồ-đề hay Đại nguyện ( Samayas ) là nguồn gốc căn bản để có thể chứng đắc các pháp bí mật . Chân sư là nguồn gốc để thành tựu các Pháp . Nay , hoàng tử phát nguyện tu tập tức là gieo nhân lành . Ắt sẽ thành tựu . Vậy khi tận hưởng dục lạc thế gian , ngài hãy luôn quán niệm rằng mọi lạc thú không tách rời khỏi Tính không ( Sunyata ) ” . Kế đó , aư làm phép khai tâm cho hoàng tử và truyền cho tâm pháp . Hoàng tử y theo lời dạy của Sư tu tập trong 12 năm thì sự ám muội trong tâm dần dần biến mất .

———————————————————–

Đại sư thứ 40: Nalinapa - Kẻ tự lực cánh sinh

Đóa sen nơi đỉnh đầu ẩn chứa mầm tịnh lạc ,
Đóa sen nơi luân xa cổ là niềm vui siêu tuyệt .
Đóa sen nơi luân xa  tim là niềm vui xa bỏ ,
Luân xa nơi đan điền là niềm vui tự tại ;
Sau cùng ta đạt đến cái bất khả đạt .

Truyền Thuyết

Nalinapa là ông hoàng bị thất sủng . Nên cuộc sống trở nên khó khăn đến nỗi phải kiếm sống bằng cách nhặt củ sen ở hồ . Một ngày nọ , Nalinapa tình cờ gặp một nhà sư Du-già được sư giảng giải về nỗi khổ sinh tử . Cùng chỉ rõ sự vi diệu của cảnh giới Niết-bàn . Nalinapa động tâm liền cầu sư dạy cho con đường giải thoát . Sư hoan hỷ nhận Nalinapa làm môn đệ và truyền cho tâm pháp .

Hãy quán chữ “ Ham ” màu trắng thanh tịnh  ;
Xuất hiện trên vương miện .
Và ở yết hầu một chữ “ Ham ” ,
Sáng chói làm tan chảy chữ “ Ham ” trên đầu .
Và hành giả tắm mình trong niềm an lạc vô biên,
Bỏ lại cấu uế của sáu cõi ,
Chỉ còn là niềm vui thanh tịnh đầy giải thoát mà thôi.

Nalinapa tu tập trong 9 năm thì đắc đại thần thông . Tâm trí không còn bị phiền não khuấy động như một đóa sen vươn lên khỏi mặt hồ . Ngài hóa độ vô số chúng sinh ở thành Pataliputra thọ 400 năm . Sau đó cùng 450 môn đệ đến trụ ở cảnh giới của nữ kim cương Du-già

Đại sư thứ 41: Bhusuku - Thầy tu giải đãi

Ta nềm mùi cay đắng ,
Cho đến khi nhận ra sự thật này .
Trong luân hồi ta cách xa Phật vô vàn ,
Nay tỏ ngộ biết Niết-bàn là nơi ấy .
Từ đấy ta trở thành viên ngọc quí ,
Tỏa rực sáng trong lòng đại dương mênh mông .

Truyền Thuyết

Dưới thời kỳ trị vì của vua Devapala . Bảy trăm đồ chúng Đại tu viện Nalanda được cung cấp đầy đử các vật thực , y phục , thuốc men và những thứ cần thiết khác .  Trong số tăng chúng này có một ông hoàng cũng theo tu học . Ngài tu viện trưởng thường lấy làm hài lòng về sự tiến bộ trong việc tu học của tăng chúng . Tuy nhiên , trong khi các bạn đồng môn tu tập nghiêm túc . Vị tu sĩ vốn dòng hoàng tộc chỉ lo ăn ngủ và đi dạo chơi loanh quanh chẳng làm gì .

Theo nội qui của tu viện , mỗi tu sĩ đều phải luân phiên tụng niệm những bài kinh mà họ đã học thuộc từ trước . Nhưng Bhusuku không hề nhớ một đoạn kinh nào , lại thường trễ nãi trong viêc công phu . Tu viện trưởng bèn cảnh cáo Bhusuku và bảo rằng nếu ông còn vi phạm Thiền qui thì sẽ bị trục xuất .

Bhusuku không nhận lỗi lầm lại còn chống chế : “ Bạch thầy ! . Tôi nào có phạm lỗi gì . Nếu bị đuổi thì thật là điều bất công . Lý do đơn giản chỉ là tôi không phải người nhai lại như con vẹt ” . Tuy nhiên , ngài tu viện trưởng vẫn kiên quyết Nếu Bhusuku còn tái phạm sẽ bị trục xuất ngay . Sự giải đãi của Bhusuku từ lâu đã bị các tăng chúng phê phán . Nên lần này họ rất mong đợi cái giây phút mà Bhusuku nhận lãnh hình phạt .

Một đêm trước khi đến thời công phu của Bhusuku . Ngài tu viện trưởng đến chỗ của Bhusuku khuyên bảo : “ Lâu nay ngươi ăn ngủ quá nhiều , lẽ ra ngươi phải tinh tấn tu tập mới là điều tốt .  Nếu ngươi không thể học thuộc kinh để cầu nguyện . Buộc lòng ta phải bị trục xuất ra khỏi thiền môn . Nhưng ta sẽ giúp ngươi lần cuối .  Đêm nay ngươi nên trì tụng chân ngôn Văn-thù . Thần chú của vị Bồ Tát Đại trí và không được ngủ nghỉ . Nói xong , ngài truyền Mật pháp Văn Thù thiền định cho Bhusuku .

Sau khi ngài viện trưởng lui về , Bhusuku cột cổ áo lên trần nhà để khỏi bị ngã và để khỏi ngủ quên . Bhusuku khởi sự trì chú Văn-thù suốt đêm . Đến gần sáng liêu phòng của ông tràn ngập ánh hào quang rưc rỡ . Bồ Tát đại trí Văn-thù Sư lợi hiện ra hỏi :

“ Mục đích cầu nguyện của ngươi là gì ? ” . “ Ngày mai đến lượt công phu của tôi nhưng tôi không thuộc dòng kinh nào . Vì vậy tôi trì chú này để mong được Bồ Tát cứu giúp ” .

“ Ngươi không nhận ra ta ? ” . “  Thưa , thật stôi không nhận biết ngài là ai ” . “ Ta chính là Văn-thù ”  . “ Cúi xin Bồ tát ban cho tôi trí huệ thiện xảo của ngài  ” . “ Ta chấp nhận . Vậy , ngày mai ngươi cứ thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ của mình ” . Nói xong , Bồ Tát Văn thù biến mất .

Sáng hôm sau , đến lượt Bhusuku hành lễ . Theo lệ thường đức vua Devapala cùng quần thần và dân chúng mang hương hoa đến để dâng cúng trong buổi lễ . Mọi người đều thấp thỏm chờ xem sự thất thố của ông tăng , ngày thường vốn tỏ ra giải đãi . Khi Bhusuku đến nơi , sư yêu cầu mọi người mang đến cho sư chiếc lọng cái để che đầu rồi bước lên pháp tòa một cách hoàn toàn tự tin .

Khi sư vừa nhớm chân bước , toàn thân tự nhiên bay bổng và phát ra ánh sáng . Đồng thời cửa chánh điện tự động khép lại  . Khiến mọi người đều rúng động tinh thần . Sư quay hỏi đức vua : “ Các ngươi muốn ta đọc kinh nhật tụng hay muốn nghe ta thuyết pháp ? ” . Các nhà thông thái , đức vua cùng quần thần nghe sư hỏi như thế liền bật cười . Vua phán : “ Thói quen ăn uống , ngủ nghỉ của đại sư thật lạ thường .  Quả nhân cho rằng ngài nên đọc bài kinh riêng của ngài ” . Bhusuku liền đọc một hơi mười phẩm trong bộ kinh Con đường giác ngộ ( Boddhicanjavatra ) .   Khi đọc xong, toàn thân bay bổng giữa không trung .

Mọi người tung hoa tán thán công đức của sư . Họ bảo nhau : “ Đây không phải là một Bhusuku giải đãi , lười biếng , ham ăn , mê ngủ . Đây chính là một vị thánh tăng . Chúng ta nên tôn vinh ngài làm tu viện trưởng ” . Nhưng Bhusuku từ chối lời đề nghị.  Sư cúng dường những thứ mình có cho tu viện . Rồi bỏ đi lang thang đến thành phố khác .

Đến Dhokiri , một thành phố có hai trăm năm chục ngàn hộ dân cư . Sư tự làm cho mình một thanh gươm bằng gỗ . Bên ngoài mạ vàng trông giống như một bảo kiếm thực sự . Sư đến hoàng thành xin được làm lính canh . Vua đồng ý và trả cho ngài tám đồng tiền vàng mỗi ngày . Vào thời ấy , số tiền lương này rất có giá trị và ngài lưu lại cung điện này suốt mười hai năm . Mặc dù ở địa vị lính canh nhưng Bhusuku vẫn luôn luôn tu tập .

Bấy giờ trời đã vào thu , cũng là lúc dân chúng trong vùng đón mừng lễ hội Đại mẫu Umadevi . Nên Bhusuku cùng các đồng liêu đi tuần canh để giữ gìn trật tự . Một hôm đám lính canh đang lau chùi vũ khí . Một người trong bọn họ phát hiện ra vũ khí của Bhusuku nay có tên là Shantideva dường như được làm bằng gỗ . Họ trình tấu mối nghi ngờ của họ lên nhà vua .

Nhà vua cho vời Shantideva đến và ra lệnh : “ Tên lính canh kia ! . Hãy đưa gươm của ngươi cho ta xem ” . “ Tâu bệ hạ , điều này rất nguy hiểm ” . “ Hãy làm theo lệnh của ta . Ta sẽ chịu trách nhiệm nếu có điều gì xảy ra ” . Cuối cùng Santideva đành phải tuân lệnh . Ngài nói : “ Vậy xin bệ hạ và tất cả mọi người hãy dùng tay che một con mắt ” .

Mọi người lấy làm lạ nhưng đều nghe theo . Santideva đưa tay tuốt gươm . Tức thì , một luồng ánh sáng rực rỡ chói lòa phát ra từ thanh kiếm . Làm cho tất cả mọi người có mặt ở đó đều mù đi một mắt . Bọn họ kinh hãi , khóc lóc quì xuống trước Santideva cầu xin ngài tha tội . Santideva dùng tay xoa nhẹ lên mắt họ , lập tức họ trông thấy như cũ . Nhà vua lấy làm cảm kích , thỉnh cầu ngài ở lại hoàng cung làm quốc sư . Nhưng một lần nữa nhà sư chối từ địa vị cao quí ấy và giã từ xứ Dhokiri để đi đến trú ngụ tại một hang động xa xôi hẻo lánh trên một dãy núi cao .

Một hôm , những người đốn củi bắt gặp ngài đang giết những con nai để ăn thịt . Nên về tâu lại với nhà vua . Lấy làm ngạc nhiên , vua cùng một số quân hầu đến nơi Santideva trú ngụ để tìm hiểu sự tình . Đức vua hỏi : “ Ngài là bậc đạo hạnh , cớ sao lại còn ra tay sát hại chúng sinh ? ” . “ Ta không phải là kẻ hàng thịt . Ta chỉ chữa bệnh cho chúng mà thôi ” . Nói xong , sư mở cửa hang . Bầy thú chạy ùa ra ngoài nắng ấm , trông chúng to lớn gấp bội những con nai bình thường . Chúng chạy nhảy tung tăng khắp nơi rồi biến mất sau dãy đồi .

Sư quay lại bảo : “ Các ngươi nên hiểu rằng , tất cả những gì các ngươi thấy biết . Cảm thọ cũng chỉ là mộng huyễn và ảo tưởng . Các pháp không có tự thể . Nếu các ngươi thông đạt lý ấy thì được giải thoát ” . Và Santideva cất tiếng hát :

Con thú mà ta giết lấy thịt ,
Không hề hiện hữu trên thế gian này .
Không hề đến cũng không hề đi ,
Cũng như các hiện tượng khác .
Thực tướng của người săn và con mồi là gì ? ,
Than ôi ! ;
Các ngươi thật tội nghiệp ;
Nên gọi ta là ông sư giải đãi .

Santideva làm lễ quy y cho nhà vua và đoàn tùy tùng . Dạy phép thiền định và truyền cho họ chân ngôn Văn-thù .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 42: Indrabhuti - Ông hoàng giác ngộ

Ngay lúc thuận duyên nhất cũng không thể giác ngộ ,
Nếu như không có sự cứu độ của một bậc đạo sư .
Không vật gì ở trong hay ở ngoài ;
Có thể làm cho một nhà Du-già tỉnh thức .
Không có sự phân biệt giữa Niết-bàn và Phật ,
Vậy hãy cắt đứt những hệ phược ;
Sẽ nhận ra bản chất của Niết-bàn .

Truyền Thuyết

Vùng Oddiyana thời ấy chia làm hai vương quốc : SambholaLankapuri . Vua Indrabhuti đứng đầu xứ Sambhola . Và xứ Lankapuri do đức vua Jalendra cai trị . Vua Indrabhuti có người em gái lên bảy tuổi tên gọi là Laksminkaram . Tuy cô còn bé nhưng dung nhan mỹ miều nên vua xứ láng giềng Jalendra muốn xin cưới cho con trai của mình .

Jalendra gửi sứ điệp sang vương quốc Sambhola nói rõ ý định của mình . Sau khi tiếp nhận điệp văn của vua xứ Lankapuri . Cả triều đình luận bàn trở ngại duy nhất của cuộc hôn nhân là sự khác biệt về tín ngưỡng . Một bên thờ Phật còn bên kia lại thờ Phạm Thiên Như vậy cách tốt nhất là để đôi bên trai gái có cơ hội tìm hiểu và cần có thời gian để san bằng các dị biệt . Tuy thế , Indrabhuti vẫn cho phép họ đính hôn với nhau .

Năm năm sau , hoàng tử xứ Sambhola đến viếng thăm hôn thê Laksminkara .  Trước khi hoàng tử trở lại cố quốc . Vua Indrabhuti ban cho chàng rất nhiều vàng bạc , ngựa , voi. Vua Jalendra lấy làm ngạc nhiên không thấy cô dâu theo về cùng . Nhưng cũng hài lòng khi nghe hoàng tử giải thích rằng cô dâu còn quá nhỏ để có  thể rời bỏ gia đình .

Vua Indrabhuti có rất nhiều thê thiếp và tất cả các bà phi này đều là tín đồ đạo Phật.

Nhân một hôm chân sư Kambala du hành đến xứ Sambhola . Các bà phi cùng quận chúa Laksminkara ra đón tiếp ngài để được thụ pháp . Sau khi được điểm đạo . Quận chúa tu tập rất miên mật cho đến tuổi muời sáu . Vua Janlendra sai người sang đón về nhà chồng . Nhưng khi đến xứ Lankapuri , quận chúa đã tìm cách thoát thân và trốn vào một hang động để tu tập cho tới lúc hoàn toàn chứng đắc .

Vua Indrabhuti nghe tin em gái bỏ trốn . Ngài tự nhủ thầm : “ Em gái ta non dại mà còn giác ngộ Phật pháp một cách sâu sắc như vậy .  Ta nghĩ thật hỗ thẹn cho bản thân.” . Suy nghĩ như thế , vua bèn thoái ngôi giao lại ngai vàng và công việc triều chính cho người con cả . Còn bản thân ngài đi đến một lâu đài nhỏ để tu tập trong 12 năm thì đắc Đại thủ ấn . Nhưng không một ai biết sự thành tựu này .

Một ngày nọ , hoàng tử cùng đoàn tùy tùng đến vấn an vua cha . Khi họ định mở cửa . Bổng một giọng nói từ trên cao vọng xuống : “ Không cần vào ! . Ta đang ở trên này ” . Mọi người nhìn lên , thấy đức vua ngự trên ngai vàng giữa hư không . Họ sung sướng rạp mình đảnh lễ . Ngài Indrabhuti ngự giữa không trung suốt bảy ngày để thuyết giảng Diệu pháp cho con trai và đoàn tùy tùng .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 43: Mekopa – Người có tia nhìn dữ dội

Chân sư truyền :
“ Hãy nhận ra bản chất  tâm ngươi ” .
Đoạn ngài nói :
Chớ phân biệt các pháp ;
Hãy kết bạn với “ kẻ không hai” .
Hãy sống nơi mộ địa ;
Ngươi sẽ nhận ra nguyên lý “ Nhất như ” .
Hãy đi vào cuộc đời ,
Khật khùng như bậc thánh .

Truyền thuyết

Mekopa làm nghề bán cơm . Nhưng ông tốt bụng và thường ngày hay cúng dường cho một nhà sư du-già . Một ngày nọ , nhà sư du-già hỏi lý do vì sao Mekopa đối xử với ông như vậy . Mekopa đáp: “ Tôi đang tích lũy công đức để mong đời sau được khá hơn. ” . “ Nếu muốn thế, ngươi nên tu tập thiền định ” . Rồi Sư làm phép hoán nghiệp , điểm đạo cho Mekopa và truyền tâm pháp .  Sư nói:

Tâm ngươi là ngọc như ý ,
Niết-bàn , địa ngục là đây .
Biết và không biết là hai ,
Cả hai vốn từ đâu tới ? .
Kìa ! ;
Vũ trụ trong tâm ngươi .
Không tăng không giảm ;
Vì các pháp là ảo ảnh .
Mê muội cho là thật ;
Nên bị trói buộc mãi.

Mekopa liền nhận ra : Tất cả các hiện tượng chỉ là những mảnh vụn trong tâm . Trong khi tâm của ngài là không gian bao la vô tận . Không một vật đến và không một vật đi . Ngài trụ trong trạng thái định tưởng như thế suốt sáu tháng . Sau khi xuất định , Mekopa lang thang khắp nơi . Khi ở mộ địa , khi trong nội thành . Hành vi vô cùng bí hiểm . Đôi mắt lúc nào cũng lấp lánh ánh sáng dữ dội . Ngài hoằng pháp khắp nơi và hóa độ vô số đệ tử .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 44: Kotalipa – Người bán rong

Tất cả niềm vui và đau khổ đều phát xuất từ tâm ,
Hãy vâng lời chân sư đào xới mảnh đất tâm .
Ngay cả bậc trí còn khổ nhọc ,
Và lao động quên mình trên núi đá .
Nhưng chẳng hề nhận ra Niết-bàn nơi tâm mình ;
Giác thức nằm một góc trong tâm .
Sáu trần cảnh là dòng lạc thú ,
Các ảnh tượng mơ hồ đều vô ích .
Chúng là nguyên nhân của âu lo ,
Vậy hãy xả thiền ;
Nghỉ ngơi trong làn gió mát của thiên nhiên .

Truyền thuyết

Kotalipa gặp được chân sư Santipa trong khi đang khai hoang vỡ đất ở một vùng núi cao . Lúc ấy đại sư Santipa đang trên đường từ Sri Lanka trở về quê nhà ở Ma-kiệt-đà . Rời khỏi vùng Ramesvaram bốn ngày đường Santipa gặp Kotalipa . Óng này dừng tay làm việc nhìn vị đại sư đi ngang qua .

Santipa cũng nhìn thấy liền gọi Kotalipa đến gần và hỏi thăm . Kotalipa chắp tay vái chào đáp : “ Tôi là người dân nghèo . Vì chiến tranh nên trôi dạt đến vùng này.  Ngày ngày khai hoang vỡ đất để trồng trọt sống qua ngày ” . Đại sư nói : “ Ta có câu thần chú có thể dùng để đào núi , lấp sông . Ngươi có muốn nhận lấy để tu tập không ? ” . Kotalipa vui sướng nhận lời .

Sư ngửa mặt lên trời nói : “ Bởi vì tất cả khổ vui đều từ tâm ngươi sinh ra . Nên phải luôn giữ cho tâm được thanh tịnh . Bản chất thanh tịnh trong tâm ngươi cũng không hề thay đổi như ngọn núi kia vậy . Niềm vui và nỗi buồn chỉ là những chức năng của tâm . Ngươi có thể xẻ núi , lấp song . Nhưng không bao giờ có thể nhận ra được bản chất thanh tịnh an lạc của tâm ” . Kotalipa thiền định theo lời dạy của sư . Sau 12 năm thì chứng đắc .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 45: Kamparipa – Người thợ rèn

Thân là bể rèn đốt hòn than vọng tưởng ,
Thổi hơi vào hai ống Nhâm mạch và đốc mạch .
Nhóm lửa thanh tịnh thức đốt cháy sắt ba độc ,
Ta rèn được Pháp giới ;
Chân lý chính là đây  .

Truyền Thuyết

Đối với Kamparipa, nghề rèn vốn là một công việc cha truyền con nối . Vì thế từ khi lớn lên ông kiếm sống bằng nghề ấy . Nhân một hôm có nhà sư Du-già đến viếng thăm . Kamparipa tâm sự : “ Tôi đang làm công việc mà từ đời ông đến đời cha đã làm ” . Vị sư hỏi : “ Ngươi có cảm thấy sung sướng và hài lòng với công việc thường ngày không ? ” .

“ Làm thế nào mà sung sướng được! . Suốt ngày sức nóng của than hồng làm rát bỏng cả mặt mũi tay chân . Tôi chẳng qua bất đắc dĩ phải làm nghề này để kiếm sống qua ngày mà thôi ” . “ Vậy ngươi có thể cho ta một ít thức ăn được chăng ? ” .

Hai vợ chồng người thợ rèn cảm thấy ngạc nhiên khi thấy vị sư xin thức ăn từ những người ở giai cấp hạ tiện . Nhưng họ cũng vui vẻ cúng dường cho sư . Ắn xong , sư hỏi muốn nhận lãnh Phật pháp hay không . Họ cung kính thưa : “ Không ai hạ mình truyền trao giáo pháp cho những người dân nghèo khổ bần cùng như chúng tôi . Thưa đại sư ” . “ Không sao , nếu các ngươi phát nguyện tu tập . Ta sẽ truyền cho giáo pháp Đại thừa ” .

Nghe nói , hai vợ chồng vui mừng đảnh lễ vị đạo sư . Sư làm phép khai tâm điểm đạo , truyền cho họ phương pháp thiền định và cách thức để khai mở các luân xa . Sư nói : “ Các ngươi có thể sử dụng các vật thường ngày làm đối tượng  thiền định .  Hai ống thụt là hai luồng hỏa hầu . Tim là trung tâm lực , ý thức là thợ rèn , giác thức thanh tịnh là lửa , sắc ý là than . Đập sắt ba độc cho đến khi trở nên niềm vui thanh tịnh .

Hãy lấy việc làm thường ngày làm thiền định ,
Hai ống thụt là hai luồng hỏa hầu .
Lalana nằm bên phải ;
Rasana nằm bên trái .
Đốt sắc ý cho tan chảy rót vào huyệt đạo Avadhuti ,
Lửa giác ngộ làm tan chảy ba thanh sắt độc ;
Tan vào Pháp giới vô tận
.

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 46: Jalandhara - Người được chọn

 

Hãy tự ban phép lành

gom cả ba thế giới ,
Nhốt vọng tưởng vào trong .
Lalana bên phải ,
Rasana bên trái ;
Dưới cùng Avadhuti .

Truyền Thuyết

Jalandhara là người thuộc giai cấp bà-la-môn, vì chán ghét cảnh đời nên thường hay ra nơi mộ địa ngồi trầm tư về cuộc đời . Một hôm , trong lúc mãi tư duy trong một trạng thái thanh tịnh . Jalandhara chợt nghe giọng nói của Kim Cương Thánh Nữ từ trên không vọng xuống : “ Này con !  . Ta chúc con có thể hiểu được chân lý rốt ráo ” . Jalandhara lấy làm vui mừng liền nỗ lực niệm danh hiệu của Thánh Nữ cho đến lúc bà hiện ra trước mặt và truyền cho ngài tâm pháp .

Thánh nữ dạy rằng : “ Trước hết con hãy gom ba cõi và tất cả các pháp hữu vi cũng như vô vi . Có tướng và không tướng . Nhốt chúng trong cái lồng ba nghiệp ( thân , khẩu , ý )  . Biến tất cả thành một khối tan chảy vào các luân xa . Chuyển hai luồng hỏa hầu ( Lalana và Rasana ) vào trung tâm lực ( Avadhuti ) . Cho thoát ra cổng thanh tịnh trên đỉnh đầu . Sau đó , quán tánh bất khả phân ly của các pháp và không tánh như tánh ướt không lìa khỏi nước ” .

Những lời dạy ẩn dụ thật là khó hiểu đối với một người bình thường . Nhưng Jalandhara được thiên nữ khai quang điểm nhãn nên ngài mau chóng hiểu nghĩa của pháp môn . Sau 7 năm tu tập miên mật thì ngài chứng đắc thần thông Đại thủ ấn .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 47: Rahula - Con người lẩn thẩn

 

Rahula con người kỳ diệu ,
Là hành tinh rồng che khuất ánh sáng trăng .
Rahula của tri kiến giải thoát và bất nhị ,
Che khuất vầng sáng của hiện tượng tương đối .

Truyền Thuyết

Rahula sinh ra và lớn lên ở vùng Kamrupa . Tuổi già khiến ông trở nên lẩm cẩm và thường đau yếu . Điều này khiến mọi người trong gia đình thường phàn nàn và xem ông như một gánh nặng . Rahula cảm thấy khốn khổ và lo lắng về việc hậu sự .

Ông thường hay lang thang ở khu mộ địa với hy vọng tìm gặp được một chân sư giúp ông tu tập hầu sau khi tái sinh có được một cuộc sống tốt đẹp hơn . Dịp may đã đến , Rahula thổ lộ nỗi lòng với vị sư Du-già : “ Thưa thầy ! . Thời thanh xuân của tôi đã qua . Cái già sồng sộc kéo đến , bệnh tật lúc nào cũng đe dọa . Còn cái chết chưa biết đến lúc nào .  Đám con cháu lại tỏ ra khinh nhờn , láo xược . Giờ tôi chỉ mong được bình yên đón chờ cái chết ” .

Vị sư nói : “ Đúng vậy ! . Đúng vậy ! . Nay ông đã già . Ba dòng thác sinh , già , bệnh đã cuốn ông đi .  Không bao lâu nữa , cơn bão thứ tư sẽ dứt mạng sống của ông . Chẳng hay ông có muốn đem theo gì vào cõi chết ? ” . “ Thưa thầy , nếu được thì điều con muốn là sự bình an ” .

Vị sư liền đọc bài thi tụng :

Tâm không già không chết ,
Tâm không mất không còn .
Tâm không đến không đi ,
Muốn ngộ được bản tâm y theo pháp tu tập .

Rồi sư khai tâm cho Rahula và dạy : “ Hãy vận tâm quán tưởng chữ A ngay trên đỉnh đầu . ( Ở đây nói đến chữ A trong Phạn ngữ Sanskrit ) . Từ chữ A lưu xuất một vầng sáng như trăng rằm và hãy mô phỏng các pháp đều đi vào vầng sáng ấy ” . Rahula nghe xong và cung kính đãnh lễ sư để thọ nhận . Từ đó, ông siêng năng tu tập cho đến khi đạt thần thông Đại thủ ấn .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 48: Dharmapa - Học giả uyên bác

 

Hãy rót dầu cảm xúc vào ngọn đèn hiện tượng ,
Thắp ngọn bấc sáu trần bằng lửa thanh tịnh bất nhị ;
Đốt cháy tan ý tưởng vu vơ .

Truyền Thuyết

Dharmapa là một nhà hiền triết xứ Bhodhinagar . Dành trọn cuộc đời để nghiên cứu và quảng bá phương pháp thiền định của riêng ông . Nhưng khi tuổi đã xế chiều , ông cảm thấy hình như bản thân vẫn còn thiếu sót một điều gì.  Và có lẽ đó là một vị chân sư . Ông cứ ưu tư mãi về chuyện ấy .

Một đêm nọ ông nằm mộng , Dharmapa thấy Kim Cương Thánh Nữ dạy cho phương cách thiền định . Từ điềm lành ấy, ông nỗ lực cầu nguyện và quán tưởng hảo tướng của vị thánh nữ cho đến lúc bà hiện hình trước mặt ông . Vị thánh nữ làm lễ quán đảnh và đọc bài thi tụng như sau :

Các pháp là ngọn đèn ,
Sắc ý là dầu ;
Cảm thọ là bấc .
Đốt ngọn lửa trí huệ ,
Rót dầu vọng tưởng vào đèn ý .
Đốt bấc cảm thọ bằng lửa huệ ,
Ngọc như ý là đây .

Sau 6 năm tu tập thì Dharmapa chứng đắc thần thông Đại thủ ấn .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 49: Dhokaripa - Người mang bình bát

 

Trời đất mênh mông chứa đầy bình bát ,
Tri giác là các pháp .
Các pháp bất khả phân ,
Chân như là tuệ giác .

Truyền Thuyết

Dhokaripa là hành khất ở thành Hoa Thị (Pataliputra) . Ông luôn mang theo bên mình chiếc bình bát . Mỗi khi xin được thứ gì , Dhokaripa đều bỏ vào trong ấy . Một hôm khất thực suốt buổi . Nhưng Dhokaripa vẫn không có gì để bỏ vào bình bát .  Ông chán chường, dừng chân ngồi nghỉ dưới một gốc cây . Nơi đây xuất hiện một nhà Du-già đến gần yêu cầu ông chia sẻ một ít vật thực để lót dạ . Nhưng Dhokaripa lấy làm tiếc vì không có gì để cúng dường . Dù vậy, nhà sư vẫn hoan hỷ dạy :

Này Dhokaripa ! ,
Hãy bỏ tất cả kiến thức của ngươi .
Vào trong bình bát rỗng ;
Và quán tưởng cả hai là một .

Dhokaripa nhận được chân lý ấy . Ngài tu tập theo lời dạy trong 3 năm thì chứng đắc . Từ đó , ngài vẫn luôn mang theo bên mình chiếc bình bát . Mỗi khi có ai hỏi đến ngài đều đáp :

Đây là chiếc bình bát rỗng ,
Ta chỉ nhận của cúng dường thanh tịnh .
Vì thanh tịnh là niềm vui ,
Lành thay ! ,
Người biết được bí mật của Dhokaripa ;
Chỉ là chiếc bình bát rỗng .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đai sư thứ 50: Medhini - Người nông dân mệt mỏi

 

Thông qua tuệ giác của sự hiểu biết bẩm sinh ,
Và phương tiện thiện xảo của giáo pháp .
Nền tảng ấy là bản chất thật của chúng sinh ,
Khi niềm tịnh lạc khởi lên ;
Có nghĩa là đến đích .

Truyền Thuyết

Medhini là nông dân ở thành Hoa Thị tình cờ gặp được chân sư trên cánh đồng ông đang cày bừa . Sư truyền pháp cho ông , nhưng vì cuộc sống bận rộn khiến ông không thể thực hành thiền định như ý muốn . Medhini bèn tìm đến thầy bày tỏ trở ngại . Sư nói

Ý thức là cái cày ,
Cảm thọ là bò kéo .
Cày cánh đồng nhân duyên gieo hạt giống trí huệ ,
Thu hoạch vui thanh tịnh .

Medhini lãnh hội được ý thầy . Nên quay về tu tập sau 12 năm thì chứng đắc .

Đại sư thứ 51: Pankajapa - Bà-la-môn thác sanh từ hoa sen

 

Bơ vơ giữa cuộc đời ,
Không một chút kiến thức .
Làm sao phân biệt được ,
Đá quý với thủy tinh .
Nhưng với sự nhận thức ,
Được sự hướng dẫn từ một chân sư .
Cũng chẳng khác gì nhau ,
Vì ánh sáng mặt trăng , mặt trời ;
Chỉ là tia chớp của loài đom đóm .

Truyền thuyết

Pankajapa thuộc giai cấp bà-la-môn , nhưng tương truyền ông sinh ra từ một đoá sen trong một cái hồ lớn ở vùng xa xôi hẻo lánh . Cách hồ không xa có một bức tượng của đức Bồ Tát Quán Thế âm . Nhưng những người Bà La Môn lầm tưởng là tượng của đại Phạm Thiên Vương nên họ thường lui tới để lễ bái cúng dường .Theo phong tục bản xứ, mỗi tín đồ đều mang ba nhánh hoa đến cúng dường trước tượng . Sau đó lấy một nhánh đặt lên đầu để được ban phúc .

Một ngày nọ , đại sư Long Thụ đi ngang qua đền . Ngài ghé lại và cúng dường lễ bái thánh tượng của Bồ Tát . Đức Quán Thế âm Bồ Tát thị hiện thâu nhận lễ vật và lấy một cành hoa đặt lên đầu đại sư Long Thụ . Pankajapa chứng kiến việc lạ lấy làm ngạc nhiên và ganh tị .

Ông bảo với ngài Long Thụ : “ Ta lễ bái cúng dường bức tượng này suốt 12 năm nhưng chưa hề được ân huệ như thế . Lẽ nào ngươi chỉ lễ bái có một lần duy nhất mà đã được ban phúc ” . Ngài Long Thụ đáp: “ Ý nghĩ của ngươi thật bất tịnh . Điều này không phải lỗi ở ta ” . Pankajapa chợt hiểu mình đã sai bèn đập đầu xuống đất cầu ngài Long Thụ thu nhận làm đệ tử . Đại sư nhận lời điểm đạo cho ông và đọc bài thi tụng .

Từ bi là niềm vui sướng vô biên ,
Vì vậy ,
Bậc thánh nhân không phân biệt kẻ thân hay người sơ
Như cơn mưa lớn tưới khắp muôn nơi ,
Đó là trí tuệ của đức Quán Thế âm Bồ Tát .
-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 52: Ghantapa - Người rung chuông

 

Tự ban phép lành cho chính mình ,
Bằng cách buộc tâm ở ba nơi :
Kinh Lalana ở bên phải ,
Kinh Rasana ở bên trái ;
Avadhuti ở ruột cùng .
Để nắm bắt chân lý ,
Kẻ trí giả cần quan tâm đến ba điều :
Chân sư – tâm – và hiện tượng .

Truyền thuyết

Ghantapa vốn là tu sĩ của đại tu viện thuộc vùng Sri Nalanda . Ngài nổi tiếng là người giữ gìn giới luật tinh nghiêm và thông thạo về Ngũ minh môn . Sau đó chẳng bao lâu , ngài rời Nalanda đi vân du đây đó để hoằng dương chánh pháp làm lợi lạc quần sinh và thực hành hạnh vô ngã . Và để mở rộng tầm hiểu biết về mọi mặt .

Vào thời đó , hoàng đế Devapala do công đức đời trước nên cai trị một vương quốc giàu có và thịnh vượng gồm một triệu tám trăm ngàn hộ dân cùng với hai nước chư hầu khác là KamapuraBengal . Xứ Kamapura có chin trăm ngàn hộ . Xứ Bengal có bốn trăm ngàn hộ tổng cộng ngài cai trị cả thảy ba triệu một trăm ngàn hộ dân .  Thủ phủ Pataliputra là nơi đạo sư Ghantapa đến truyền bá đạo pháp . Thường ngày ngài đi khất thực và về nghỉ ngơi dưới một bóng cây đại thụ .

Một hôm, hoàng đế bàn với hoàng hậu rằng : “ Tất cả các pháp đều vô thường . Tất cả chúng sinh đều phải chịu khổ đau . Tất cả những thấy biết , cảm thọ trong cuộc sống thật là vô nghĩa . Đối với công việc triều chính ta đã chu toàn trách nhiệm . Ta đã trải rộng biên cưong lo cho dân lành một cuộc sống bình yên , no đủ . Vậy chúng ta nên cúng dường những thứ vật thực cần thiết cho tăng chúng để tích lũy công đức cho đời sau hay không ? ” .

Hoàng hậu nghe qua bèn tâu : “ Trong nhiều đời thuộc quá khứ , bệ hạ đã từng cúng dường cho các thánh tăng . Nên đời này mới được hưởng phước báo . Cớ sao chúng ta lại không tiếp tục tạo dựng công đức cho đời nay lẫn đời sau ? . Thần thiếp nghe nói hôm nay có một du tăng từ phương xa đến . Có lời đồn rằng : Ngài là một bậc đạo hạnh, trí huệ thông suốt như một bậc thánh ; chẳng có gì quí giá ngoài những vật dụng cần thiết và một tấm tọa cụ và hường ngày ngài đi khất thực loanh quanh .

Vậy , ta nên thỉnh ngài đến hoàng cung để dự đại tiệc . Chúng ta sẽ thiết đãi ngài tám mươi bốn món ăn chính . Mười bốn loại thịt ngon , rượu bồ đào và năm loại thức uống khác nhau . Chúng ta sẽ thay chiếc đèn cũ kỹ của ngài bằng ánh sáng lấp lánh của những viên kim cương . Và rồi , sẽ dâng ngài tất cả những thứ giải trí mà vương quốc của chúng ta có thể mang lại ”  .

Đức vua nghe những lời của hoàng hậu liền hoan hỷ chuẩn y . Sáng hôm sau , vua sai quân hầu đến thỉnh sư . Nhưng ngài từ chối , sứ giả đành phải quay về báo lại với đức vua . Hôm sau nữa , đức vua đích thân đi cầu thỉnh . Khi đến nơi , ngài cúi mình đảnh lễ và muốn biết lý do vì sao sư từ chối lời mời đến hoàng cung .

Sư đáp : “ Bệ hạ bất tất phải phiền lụy đến thân .” . “ Quả nhân vì kính tín đại sư nên mới thân hành đến đây . Mong đại sư quá bước đến hoàng cung ” . “ Vương quốc của bệ hạ đầy rẫy những điều tác tệ . Nên ta không đến đâu ” . “ Cúi mong đại sư hoan hỷ lưu lại với chúng tôi chỉ một năm thôi ” .

Mặc cho đức vua nài nỉ , Ghantapa vẫn một mực từ chối không chịu đến viếng hoàng cung dù chỉ một ngày . Sư bảo : “ Đức vua đi , đứng , nằm , ngồi đều không tránh được tội lỗi . Quả thật bất tịnh , nên ta dứt khoát không nhận lời ” . Thế là , vua đành phải quay về . Nhưng rồi ngày nào ngài cũng đến vấn an sư với hy vọng sư sẽ đổi ý . Cứ như thế suốt bốn mươi ngày nhưng không đem lại kết quả gì .

Cuối cùng vua và hoàng hậu cảm thấy bị xúc phạm quá đáng . Ngọn lửa sân hận bùng cháy trong tâm thức . Vua hạ chiếu rao truyền khắp nơi : Người nào có thể phá được phạm hạnh của sư Ghantapa sẽ được trao cho nửa vương quốc và được thưởng một trăm cân vàng .

Lúc bấy giờ ở kinh thành Hoa Thị (Pataliputra) có mụ điếm già tên là Darina luôn mong mỏi một cuộc sống giàu sang .  Khi hay tin bèn tìm đến hoàng cung để hiến kế . Mụ khẳng định với vua rằng : Mình có  thể thỏa mãn yêu cầu của vua và làm cho nhà sư kiêu mạn kia phải thân bại danh liệt . Thế là vua chấp thuận kế sách .

Darina vốn có một thời oanh liệt ở chốn lầu xanh nên biết đủ trăm phương nghìn kế để quyến rũ đàn ông . Mụ lại có một cô con gái vô cùng xinh đẹp ở tuổi vừa mới cặp kê . Nàng hãy còn rất trong trắng chưa hề bị nhiễm ô bởi cuộc đời . Nàng có  khuôn mặt tựa trăng rằm , dáng đi uyển chuyển . Lời nói dịu dàng , khôn ngoan và thân hình khêu gợi với bộ ngực tròn đầy .  Vì thế mụ quyết định : “ Ta sẽ khiến con gái đem ông tăng này trở lại với thế giới của dục vọng . Thế là sẽ phá hủy được đạo hạnh của y trong vòng mười ngày ” .

Thế là mụ già  đi đến chỗ ở của Ghantapa để cúng dường . Mỗi lần đến như thế , đều tỏ ra rất cung kính đảnh lễ trước ngài . Đến ngày thứ mười , mụ tiến lại gần bên sư thưa : “ Bạch thầy ! . Xin thầy cho phép tôi được phục vụ trong suốt mùa an cư này ” . Ghantapa vẫn không hề quan tâm đến mụ . Nhưng từ ngày này sang ngày khác , mụ cứ theo nài nỉ xin được phục vụ ngài và cuối cùng mụ cũng được sự đồng ý của sư . Darina lấy làm vui mừng liền bày ra một cuộc tiệc để ăn mừng cái gọi là sự thành công bước đầu của mình . Mụ ngâm nga luôn miệng :

Mánh khóe của một cô gái ,
Giúp nàng thực hiện ước mơ .
Sức quyến rũ của nàng ,
Là vũ khí vô cùng lợi hại .

Mụ nhủ thầm : “ Bằng mưu mẹo ta có thể lừa phỉnh cả thế gian này . Sá chi một nhà sư ” . Thế là mụ điếm già  cố tìm cách phô trương năng lực của mình . Khi mùa an cư bắt đầu , Ghantapa bảo với mụ chỉ nên sai các người nam mang vật thực đến cúng dường . Nhưng sư không đề cập với mụ việc không cho người nữ đến phục vụ ngài . Darina ưng thuận .

Trong hai tuần lễ đầu , mụ sai toàn thanh niên mang vật thực như gạo và nước suối đến cúng dường . Nhưng đến ngày thứ mười lăm , mụ chuẩn bị một bữa tiệc lớn và sang trang điểm cho cô con gái ăn vận lộng lẫy như công chúa . Đoạn sai nàng cùng năm mươi thanh niên mang thật nhiều vật thực đến cúng dưòng và căn dặn con gái : Khi đến nơi phải đứng từ xa quan sát vị trí túp lều của sư .

Cô gái vâng theo lời mẹ và cố gắng ghi nhớ những lời mẹ dặn . Sau khi đám thanh niên ra về . Cô gái tìm cách lén vào bên trong căn lều của Ghantapa . Khi nhà sư từ trong rừng trở về , ngài thấy vắng đi những người hầu nam và ngài lấy làm ngạc nhiên thấy một thiếu nữ ăn vận sang trọng như một công nương đang ở trong chỗ ở của mình .

Thắc mắc sư hỏi cô gái : “ Chuyện gì đã xảy ra với các chàng trai thế ? ” . “ Thưa thầy , họ không có thời gian lưu lại nên tiện thiếp phải ở lại để phục vụ ngài ” ; cô gái trả lời . Sư ăn xong , nhưng cô gái vẫn cứ nán lại không chịu ra về . Mãi đến khi sư nghiêm khắc xua đuổi , cô gái liền đáp : “ Trên trời có những đám mây ngũ sắc . Thiếp e rằng trời sắp đổ mưa . Vì vậy , thiếp phải nán lại ” .

Cô gái lưu lại cho đến khi mặt trời lặn khuất chân trời . Cuối cùng cô nói : “ Mặt trời đã tắt nắng mà tôi không có người đi cùng để hộ vệ . E rằng đi một mình giữa đêm tăm tối sẽ bị cướp mất tư trang và thiệt hại đến tính mạng ” . Đến lúc này không thể từ chối được nên sư đồng ý cho cô ngủ lại ở bên ngoài căn lều .

Nhưng khi đêm đến , cô gái giả vờ hoảng sợ kêu khóc ầm ĩ .  Không thể làm khác hơn , sư đành để cho cô vào bên trong để ngủ . Túp lều lại quá nhỏ dành cho hai người nên tất nhiên thân thể hai người phải chạm vào nhau . Cho đến nửa đêm , thân thể hai người quyện vào nhau làm một và họ cùng nhau trải qua bốn từng lạc thú .

Sáng hôm sau , Ghantapa yêu cầu cô gái ở lại và họ trở thành một đôi vợ chồng .  Một năm sau , đứa con cất tiếng khóc chào đời . Trong thời gian ấy , nhà vua càng trở nên mất kiên nhẫn hơn . Ngài cứ luôn hỏi thăm mụ Darina về việc thực hiện quỷ kế của mụ đã thành công đến đâu nhưng mụ cứ né tránh . Cho tới ba năm sau , mụ mới đến báo cho nhà vua biết kết quả của âm mưu hại sư Ghantapa .

Biết được tin , nhà vua lấy làm hài lòng phán : “ Hãy bảo với con gái nhà ngươi , trong ba ngày nữa ta sẽ đến viếng thăm nàng và nhà sư ” . Đúng ngày hẹn , vua tập trung dân chúng khởi hành đi đến chỗ sư Ghantapa . Khi ấy Ghantapa bàn với vợ : “ Chúng ta nên ở đây hay nên đi sang một xứ khác ? ” . Cô gái muốn ra đi , vì cô sợ mọi người sẽ quở mắng và sĩ nhục cô . Vì vậy , Ghantapa dấu đứa bé trong tấm áo choàng , kẹp theo một bình rượu ở nách rồi dẫn vợ ra đi .

Rủi thay , họ gặp nhà vua ngay giữa đường . Đức vua ngồi trên mình voi cất giọng dè bỉu : “ Cái gì dưới lớp áo của thầy vậy ? . Và cô gái xinh đẹp này là ai ? ” . “ Ta mang theo bình rượu và đứa bé trong tấm áo choàng là con của ta ” . Ghantapa đáp, mắt vẫn nhìn thẳng vào đức vua . Đức vua nói : “ Khi ta mời đến hoàng cung , thầy từ chối lại còn chê ta là kẻ tội lỗi.  Bây giờ hãy nhìn lại xem .  Một thầy tu lại có vợ có con . Rõ ràng như năm với năm là mười . Thầy đúng là một con người đầy tội lỗi ” . Sư thản nhiên đáp : “ Ta vô tội . Ngươi chớ sĩ nhục ” .

Khi vua lập lại lời cáo buộc một lần nữa , Ghantapa hất tung đứa bé và bình rượu xuống dưới đất . Nữ thần đất cả kinh vội dùng thần thông phụt một dòng nước cực mạnh lên cao hứng lấy đứa bé và bình rượu đặt lơ lửng giữa khối nước . Đứa bé trở thành sấm sét và bình rượu biến thành một cái chuông ( Ghanta ) .

Nhà sư Du-già và người vợ cùng biến thành hai vị  thần SamvaraVarahi trong tư thế âm dương giao hòa . Cả hai bay lên trên không trung , còn nhà vua và đoàn tùy tùng bị ngập trong làn nước . Đám người sắp bị chết đuối sợ hãi nhìn đau đáu lên trời gào khóc van xin mong cứu giúp :  “ Chúng tôi xin quy y thầy ” . Nhưng lúc ấy  Ghantapa đang trong Phẫn Nộ Bất Động Đại Định ( Samadhi of Immutable wrath ) nên vẫn im lặng .

Khi mọi người sắp nguy khốn thì Bồ Tát Quán Thế Ấm hiện thân , dùng bàn chân chèn nơi chỗ đất nứt và làm cho nước trở về chỗ cũ . Thế là mọi người được cứu sống. Họ mừng rỡ cúi lạy cầu xin sư tha tội . Bấy giờ , tượng Quán Thế Ấm bằng đá bỗng xuất hiện ngay chỗ ấy . Cho đến ngày nay ở vị trí nơi chân của bức tượng này vẫn còn phun ra một tia nước nhỏ cao đến sáu thước . Lúc ấy sư xuất định và dạy :

Dược thảo và thuốc độc sẽ tạo ra kết quả trái ngược ,
Nhưng trong bản chất rốt ráo như sự thuận duyên nghịch duyên .
Có nghĩa trên con đường tu tập đều hữu ích như nhau ,
Vậy chớ nên phân biệt khi bậc trí giả chẳng chối bỏ điều chi ;
Cớ sao đứa con tinh thần lại không được thừa nhận ? .
Cho dù các ngươi bị đánh độc đến năm lần ,
Chắc chắn cũng bị lạc lối trong luân hồi .

Qua lời giải thích của sư , đức vua cùng mọi người từ bỏ các kiến chấp và ý tưởng sai lầm . Họ nhận được niềm tin và đồng lòng quy y Pháp . Từ đó, Ghantapa được mệnh danh là “ Người giữ chuông ” .  Danh tiếng của ngài vang dội khắp nơi .

Trong sáu kiếp thuộc đời quá khứ , cô gái luôn là  người khiến cho sư phải từ bỏ Phạm hạnh thanh tịnh . Nhưng trong đời này , vì tâm phân biệt của sư không còn nữa và cấu trúc nhị phân trong tâm đã tan biến trong cảnh giới vô tận của tánh không . Nên dòng tâm thức của ngài đã phát triển đến mức cùng tột .

Ghantapa đặt tên cho con trai là Vajrapani tức Kim Cương Thủ .  Còn vợ ngài, do công đức phục vụ ngài trong nhiều đời . Nên nay cô cũng thoát khỏi Vô minh và Ghantapa có quyền năng và phẩm tính của một vị Phật .

Hành Trì

Một bản dịch khác liên quan đến đạo sư Ghantapa sẽ làm sáng tỏ những chỗ còn mơ hồ trong truyền thuyết kể trên . Theo bản dịch này , Ghantapa vốn là con trai của đức vua Nalanda . Ngài không chịu nối ngôi cha lại đi xuất gia thọ giới cụ túc với Hòa thượng Jayadeva Subhadra . Sau đó trở thành quốc sư của vua Nalanda .

Ngài gặp Darikapa và được vị này  điểm đạo và truyền Mandala Samvara ; và bảo ngài vào rừng tu tập . Đến một hôm ngài nghe giọng nói vọng xuống từ không trung bảo phải đi đến Oddiyana . Vị nữ chân sư của ngài vốn làm nghề chăn lợn .  Ban đầu ngài tỏ ý từ chối vì bà có dung mạo cực kỳ xấu xí . Nhưng sau đó ngài nhận ra bà chính là một Dakini . Một lần nữa , vị nữ chân sư này truyền cho ngài Mandala Samvara .

 

Tại rừng già ở Oddiyana ngài đã xúc phạm đức vua . Khi từ chối đi cùng với nhà vua vào kinh thành . Cô gái được sai đến để quyến rũ chính là yếu tố ngài còn thiếu trong thiền định . Ghantapa đã điểm đạo và nhận cô là Dakini . Mặc dù đức vua tìm cách nhạo báng nhưng thực ra Ghantapa đi vào thành để hóa độ dân chúng .

Tương truyền ngài dùng thần thông hóa hiện ra hai đứa bé một trai và một gái .  Đoạn dùng muỗng lớn chiết rượu . Rồi sai chúng đi đổ đầy các bình rượu của mọi nhà trong kinh thành . Sau đó , ngài vất cái muỗng xuống đất khiến nước phụt lên từ một khe nứt . Hai đứa bé biến thành sấm chớp và  chuông . Ngài cùng vợ biến thành hai vị thần Samvara . Điều này giải thích lý do Omsa chính là nơi Kim Cương thừa được truyền bá rộng rãi .

Truyền thuyết thường đưa ra chủ đề lớn đề cập về : Sự nông muội của hạng người tự cho rằng tư duy mình là đúng . Họ chấp chặt những nguyên tắc luân lý hữu hạn để kết tội người khác . Vì dám có lối sống vượt thoát sự thường tình trong những quy ước của xã hội .

Cô gái Dakini trong tiền kiếp đã từng quyến rũ và cám dỗ Ghantapa . Trong những kiếp ấy , ngài bị trói buộc bởi những mệnh lệnh của luân lý quy ước . Nhưng trong đời này , tâm đã thuần thục . Nên ngài chấp nhận giáo pháp của Dakini . Đồng thời đạt giải thoát sau khi trải qua bốn trạng thái an lạc .

Tâm thanh tịnh của ngài đã ấn chứng Đại thủ ấn . Nên đức vua đâu thể hiểu được :  “ Tâm hoan hỷ không bao giờ ô nhiễm ” . Nhà vua tự cho mình có lý khi kết tội : “ Người đàn ông và một người đàn bà sống trong tội lỗi ” . Vì ngài không thể chấp nhận : Sự thanh tịnh khả hữu nơi người khác . Nếu truyền thuyết nêu rõ về việc : “ Thiền định Đại thủ ấn ngăn không cho Ghantapa chấp nhận lời mời của nhà vua ” . Như thế trong câu chuyện này thiếu vấn đề trả nghiệp . Khi vua tìm mọi cách để làm nhục ngài .

Trong giáo pháp sư dạy cho nhà vua và mọi người . Ngài đã truyền lại cái ngài đã chứng nghiệm :

“ Chớ ưa thích điều tốt ,
Chớ ghét bỏ điều xấu .
Hãy chấp nhận mọi thứ như tự thân của chúng .
Và hãy thâm nhập vào thực thể ;
Để nếm được vị chung của các pháp ” .

Chính vì điều này , Ghantapa đã không nhận ra sáu kiếp thuộc về quá khứ . Riêng ở đây có hai cặp phạm trù thuộc về đạo đức :

Thứ nhất :

Cuộc sống ban đầu của ngài là :
Bậc chân tu đầy đủ giới đức và sống phạm hạnh .

Thứ hai :

Cuộc sống về sau là nhà Du-già phóng khoáng .

Tuy cả hai phương tiện tuy khác nhau nhưng cùng một mục tiêu đạt thành . Nhưng điều này có vẻ hơi nguy hiễm . Vì khi các bậc thầy rao giảng truyền thuyết này cho người đang bám víu vào các tiêu chuẩn đạo đức nhị phân ; để tu tập mong tìm sự thanh tịnh và tỉnh giác . Chắc chắn sẽ nhanh cảm thấy bị hụt hẫng và rơi vào hố thẳm của sự  nghi ngờ và lầm lẫn .

Tuy thế , vẫn không có sự trùng lấp nào cho thấy con người bị xã hội ruồng rẫy vì phi đạo đức có thể được khai tâm trong môn Tantra này . Những ý niệm luân lý đôi khi cũng là những trở ngại khó vượt qua để thành tựu Bồ Tát nguyện . Vì đôi khi những nguyên tắc có tính quyết đoán không thể hài hoà và cũng không thỏa hiệp với hành động từ bi .

Sử liệu

Về mặt lịch sử , Ghantapa là người đồng thời với đệ nhị hoàng đế Devapala ( 810 -830 ) . Nhưng hình như không phải là vị vua mà Ghantapa đã xúc phạm . Vì Devapala là đại thí chủ rất hào phóng của tu viện Nalanda . Vào thời ấy , xứ Bengal được gọi là Bengala bao gồm cả đông và tây xứ Bengal hiện nay . Không kể những phần đất của Bihar . Và Kamapara chính là thành phố tiếp giáp với thung lũng Brahmaputra và thủ phủ là Pataliputra bao gồm cả đông và nam Bihar .

Ghantapa rất nổi tiếng ở Tây Tạng . Vì sự nghiệp khai sáng dòng tu Samvara Pancakrama . Pancakrama bao gồm các phương pháp luyện tập thân thể được Ghantapa đề cập trong mười tám tác phẩm nổi tiếng của ngài . Hầu hết những tác phẩm này đều liên quan đến Samvara Tantra . Ngài từng nhận được sự khải huyền về Samvara mạn-đà-la do Kim Cương thánh nữ . Có lẽ bà này chính là người phụ nữ chăn lợn ở Oddiyana . Nhưng cũng có  thể là nữ Du-già Vilasyavajra , đệ tử của sư Dombipa Heruka .

Trong dòng Mật tông Tây tạng , đôi khi người ta gác bỏ tên Dengipa qua một bên, . Nhưng lại đề cập đến Darikapa như là một chân sư của Samvara . Dòng Kalacakra cũng gồm Ghantapa . Điều này khiến ngài trở thành một trong những người Ấn độ đầu tiên được truyền môn Tantra này . Do đó , có thể kết luận môn Tantra này đã xuất hiện tại đông Ấn vào khoảng thế kỷ thứ 9 .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 53: Jogipa - Kẻ hành hương

 

Hãy kiên trì và chú mục vào ánh sáng trong tâm ,
Tỏa sáng rực rỡ như đầu một ngọn lửa .
Tất cả các hiện tượng tĩnh và động ,
Tất cả tan chảy và chìm vào hư vô .

Truyền thuyết

Jogipa là người có năng lực và có cơ duyên với môn Tantra . Nhưng hoàn toàn kém trí huệ . Nên dù được chân sư Savanpa truyền cho Pháp và phương cách thiền định . Ông vẫn không hề có chút tiến bộ nào trong việc tu tập . Jogipa đem thắc mắc của mình trình bày với tôn sư .

Sư bảo ông phải đi hành hương đến 24 thánh địa . Trong lúc đi hành hương phải trì tụng thần chú Kim Cương Tát đãa . Jogipa y pháp tu tập trong 12 năm thì đắc Đại thủ ấn . Sau khi đắc pháp , ngài vân du khắp nơi để hành đạo và hóa độ vô số đệ tử thọ được năm trăm năm .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

 

Đại sư thứ 54: Celukapa - Kẻ biếng nhác

 

Sau nhiều năm thực hành lời dạy của chân sư;
Ta bỗng thấy :
Đất , nước , lửa , gió không tồn tại ,
Tất cả hiện tượng đều là Đại ấn .

Truyền thuyết

Celukapa sinh ra trong một gia đình hạ tiện ở vùng Mangalapur . Vốn là kẻ lười nhác lúc nào cũng tỏ ra uể oải vì chứng ngủ gật . Nhưng Celukapa rất sợ sinh tử , luân hồi và nghiệp báo . Một hôm đang ngồi dưới gốc cây bổng có một nhà sư Du-già là Maitripa đi ngang hỏi : “ Chẳng hay hiền hữu lo âu chuyện gì ? ” .

Ông trả  lời : “ Thưa thầy , tôi đang suy nghĩ . Làm cách nào để thoát khỏi nghiệp báo ; và mong gặp được chân sư truyền thụ giáo pháp . Nhưng vì quá lười nên không chịu đi tìm . Nay cơ duyên đã đến, mong thầy từ bi nhiếp thọ ” .Maitripa bảo : “ Nếu ngươi được khai tâm điểm đạo thì dứt được bệnh hay ngủ . Lại còn có khả năng thoát khỏi luân hồi . Nhưng nhất thiết phải nỗ lực tu tập ” . Mừng quá ông trả lời : “ Đệ tử xin vâng lời ” .

 

Đại sư Maitripa truyền cho ngài giáo pháp của Samara, và dạy cách thiền định để khai thông các trung tâm lực . Ngài dặn : “ Hãy tập trung các pháp hiện tượng vào ba nghiệp : Thân , khẩu , ý và dẫn hai luồng hỏa hầu ( Lalana và Rasana ) đi vào trung tâm lực ( Avadhuti ) . Mô phỏng thành cái hồ lớn có con thiên nga trong hồ .   Sau khi dồn tất cả năng lực vào Avadhuti . Ngươi có thể vượt qua sự mệt mỏi , hôn trầm và trụ trong một trạng thái vô niệm và tịch tĩnh ” . Celukapa tu tập trong 9 năm thì dứt các vô minh và đạt Đại thủ ấn.

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

 

Đại sư thứ 55: Godhuripa - Người bẫy chim

Các hiện tượng trong hay ngoài đều từ tâm hiện xuất ,
Khi nhận ra bản chất của tâm là ánh sáng .
bất kể khi ngủ nghỉ , đi lại , mơ mộng hay thiền định ;
Đều hiển hiện trong Pháp giới .
Hiểu được trọn vẹn như vậy ,
Chắc chắn sẽ nhận ra Phật tánh .

Truyền thuyết

Godhuripa là dân xứ Disunagar sống bằng nghề bẫy chim . Một hôm đang dùng tấm lưới lớn để bẫy chim . Bổng gặp nhà sư Du-già.  Sư hỏi thăm về nghề nghiệp .  Godhuripa bảo rằng : “ Do nghiệp bất thiện đời trước nên kiếp này tôi phải làm nghề bẫy chim để sống . Dẫu biết rằng không phải là một nghề tốt . Nhưng không có cách nào khác hơn , thưa đại sư ” . Sư nói : “ Nếu vậy , đời sau của ngươi lại càng tệ hại hơn . Sao ngươi không tu tập pháp Phật để tìm thấy sự an lạc ? ” . “ Xin thầy xót thương mà dạy cho pháp giải thoát ” .

Sư liền làm phép khai tâm điểm đạo cho Godhuripa rồi dạy rằng : “ Ngươi hãy quán sát tất cả âm thanh trong thế gian này đều là tiếng chim hót . Cả hai thứ đều là một thì chứng vào Pháp giới ” . Godhuripa tu tập được 9 năm thì dứt vô minh Chứng đắc Đại thủ ấn . Ngài thọ được một trăm năm và hóa độ trên ba trăm đệ tử .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 56: Lucikapa - Kẻ đào tẩu

Từ vô thủy đến vô chung ,
Ta đắm mình trong bể trầm luân .
Lời của chân sư là con tàu vững chãi ,
Giúp ta vượt qua bao đại dương ;
Đến bên kia bờ giải thoát .

Truyền thuyết

Lucikapa là một người thuộc giai cấp Bà-la-môn.  Vì thấy cảnh chết chóc của những người chung quanh, ông sinh ra chán nản không muốn sống nơi chốn phồn hoa đô hội . Nên tìm đến ẩn cư ở một vùng xa xôi hẻo lánh . Lucikapa rất muốn tu tập pháp Phật . Nhưng chưa tìm được cho mình một chân sư .

Một hôm, nhìn thấy một vị tăng đi ngang qua chỗ ở . Ông vội chạy ra vái chào và đảnh lễ rất cung kính . Vị sư hỏi : “ Vì sao ngươi lại vái chào ta ? ” . “ Thưa , bấy lâu tôi mong được tu tập pháp Phật nhưng chưa gặp được chân sư . Nay duyên may đưa đến , xin thầy xót thương truyền cho diệu pháp ” . Sư hoan hỷ làm phép quán đảnh và khai tâm cho Lucikapa . Ngài y pháp tu tập sau 12 năm thì đắc pháp . Sau khi đắc pháp , ngài đọc một bài thi tụng ngắn để nói lên sự giác ngộ :

Luân hồi và Niết bàn là hai ,
Riêng ta thấy hai như một .
Giải thoát chính là niềm an lạc ,
Thế nên ;
Chẳng dựa vào một vật gì ,
Nếu được như thế ;
Cho dù khó khăn đến mấy cũng qua được bờ kia .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

 

Đại sư thứ 57: Nirgunapa - Trẻ thơ giác ngộ

Giáo pháp của chân sư ,
Dẫn đường ta đi đến chốn bình an .
Nơi ấy ,
Không có chỗ cho cảm xúc dữ dội ;
Hay tư tưởng mâu thuẫn trú ngụ .
Lời dạy của một chân sư làm tan những cơn sóng dữ ,
Những con sóng quấy rầy ta trong thiền định .

Truyền thuyết

Nirgunapa sinh trưởng ở vùng Purvadesa . Sự ra đời của ông là một niềm vui sướng lớn đối với cả gia đình . Không may là khi lớn lên , Nirgunapa không thể ngồi dậy hay cử động bình thường như bao đứa trẻ khác . Điều này khiến cha mẹ Nirgunapa thất vọng . Hơn nữa , tuy lớn tuổi nhưng trí óc của cậu chẳng khác nào đứa trẻ lên năm . Cha mẹ cậu thường nói với nhau : “ Thằng Nirgunapa nhà ta thật vô tích sự .  Lẽ ra chúng ta chẳng nên sinh ra nó ” .

Tuy khờ khạo nhưng nghe những than phiền của lời bố mẹ Nirgunapa cũng thấy rất buồn tủi . Cho đến một hôm , Nirgunapa tự lăn mình ra khỏi nhà đến một nơi vắng vẻ và gặp một nhà sư Du-già . Sư bảo : “ Ngươi hãy đứng dậy , vào thành mà kiếm cơm . Cớ sao cứ nằm ì ra đấy ? ” . Nirgunapa đáp : “ Tôi không thể dậy được ” .

Thương hại cho hoàn cảnh Nirgunapa . Sư nhường một ít thức ăn và hỏi : “ Ngươi có biết làm nghề gì không ? ” . “ Thưa thầy , thực sự tôi không biết làm nghề bất cứ gì cả ” . “ Nhưng vẫn phải ăn , ngươi không sợ chết đói à ? ” . “ Thưa có , nhưng tôi biết phải làm gì đây ? ” . “ Nếu ngươi gắng công tu tập thiền định , ta sẽ dạy  ” . “ Thưa thầy, nếu nằm mà thiền định được thì tôi xin vâng lời ” .

Sư làm phép khai tâm cho Nirgunapa và dạy : “ Người giác ngộ và pháp được ngộ đều là vô minh . Kẻ nào không nhận hiểu được chân lý này . Vẫn bị phiền não sai khiến . Khi tâm thức vắng lặng . Tất nhiên  phiền não không có chỗ trụ . Không có sự tách biệt giữa các pháp và tánh không . Nếu nắm bắt được chân lý này , ngươi có thể đi lại an nhiên tự tại ” .

Nirgunapa tuân theo lời dạy của sư , vừa đi khất thực độ thân vừa tu tập thiền định . Cho đến khi : Giác ngộ được các pháp và tánh không là sự hợp nhất của ánh sáng tự tâm . Từ đó có ai gặp và hỏi về lai lịch xuất thân của ngài . Nirgunapa thường nhìn vào mắt họ với ánh mắt từ bi khiến kẻ đó phải động lòng rơi lệ .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 58: Jayanada – Vị điểu sư

Vào đại định ,
Ta náu mình trong thanh tịnh ;
Thoát khỏi sự bủa vây của sự phân biệt suy lường .
Nhận biết mình đã thoát tai ương ,
Vì vọng tưởng không còn theo đuổi kịp .

Truyền thuyết

Jayanada là một quan nhân xứ Bengal theo đạo Bà-la-môn . Vua xứ này cũng là người của đạo Bà-la-môn . Tuy vậy , Jayanada rất hâm mộ đạo Phật và ngài đã bí mật cải đạo để tu tập pháp môn Mật tông . Cho nên , ngài có những sở đắc tâm linh . Nhưng không một ai biết được điều bí ẩn này .

Trong khi ngài tu tập Pháp thuộc về “ Bí điển ” . Pháp tu cúng dường thức ăn bằng cách gia trì mật chú rồi tung lên không trung để hiến cúng cho chư thần . Có người biết được tâu lên vua . Nhà vua ra lệnh giam ngài vào ngục tối . Ngài nói : “ Tâu bệ hạ , cúng dường thần thánh đâu phải là tội lỗi .  Xin bệ hạ xét lại ” . Nhưng vua vẫn không thay đổi quyết định .

Khi vào tngục , Jayanada vẫn tiếp tục tu tập và bớt phần thức ăn ném ra ngoài cửa sổ để cúng dường . Mỗi lần như thế có một bầy quạ đến để ăn .  Thấy hiện tượng lạ , vua ra lệnh dời Jayanada đến trại giam khác . Nhận thấy không có thức ăn như thường lệ , đàn quạ tụ tập thành một đàn lớn đông vô số kể bay đến hoàng cung cắn mổ tất cả mọi người .  Vì cho rằng đức vua đã cầm tù Jayanada là người nuôi dưỡng chúng . Khi ấy vua mới nhận ra Jayanada vô tội . Bèn thả ngài ra và yêu cầu ngài xua đàn chim đi chỗ khác . Đồng thời ban cho hai mươi đấu gạo để ngài cho chim ăn hằng ngày .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 59: Pacaripa – Người bán bánh

đừng nhìn quanh quẩn
Chú mục vào tâm
Thiền định thực hành
được vui thanh tịnh

Truyền thuyết

Pacaripa làm nghề bán bánh mì dạo ở thành Campa . Vì nghèo khổ , vẫn chỉ có bộ quần áo duy nhất mang trên người . Ông thường nhận bánh mì của một chủ hiệu rồi đem đi bán dạo khắp nơi để kiếm sống . Một ngày nọ , không bán được ổ bánh nào mà bụng thì đói meo nên đành phải ăn một ổ bánh . Chưa ăn được phân nửa thì một nhà sư đến khất thực . Pacaripa không thế nào biết nhà sư này chính là hóa thân của đức Bồ Tát Quán Thế âm .  Tuy nhiên , ông vẫn vui vẻ nhịn phần ăn để cúng dường vị sư ấy .

Trước khi trao bánh , Pacaripa cung kính đảnh lễ vị sư và nói rằng bánh ấy không phải của mình . Vị sư cười nói : “ Nếu quả vậy , ngươi đúng là Đại thí chủ của ta . Có lẽ ta nên truyền pháp cho ngươi ” . Pacaripa lập chuẩn bị một Mandala dâng hoa lên cho sư.   Nhà sư làm lễ qui y truyền giới Bồ Tát cho ông cùng với chân ngôn Lục tự đại minh .

Ngày nọ , Pacaripa gặp chủ hiệu bánh mì . Ông đòi khoản tiền bánh Pacaripa còn thiếu . Pacaripa nói rằng mình quả thật không có vật sở hữu nào đáng giá để trừ vào món nợ . Người chủ hiệu bánh tức giận xông vào đánh đập Pacaripa . Khi ấy , Pacaripa kêu lên : “ Đâu chỉ mình ta ăn còn có thầy ta ăn nữa ” .

Tiếng kêu của Pacaripa vang dội như sấm . Khiến ông chủ bánh hoảng sợ dừng tay nói : “ Ta đánh ngươi như thế cũng đã đủ trừ nợ . Bây giờ ngươi hãy đi cho khuất mắt ” . Pacaripa đi vào ngôi đền thờ đức Quán Thế âm , đứng trước tượng đòi tiền nửa ổ bánh mì . Lập tức có ba mươi lượng vàng hiện ra trước mắt . Pacaripa liền trả hết nợ cho ông chủ bánh .

Khi ấy , Pacaripa thầm nghĩ : “ Hẳn đức Quán Thế âm chính là thầy của ta ” . Vì vậy , ông khởi hành đi về phía núi Potala là nơi Bồ Tát trú ngụ . Trên đường , Pacaripa phải băng qua một rừng gai . Có lúc bị gai nhọn đâm vào da thịt , chân tay đến rướm máu .

Đau đớn , Pacaripa kêu lớn danh hiệu của Bồ Tát . Bổng đức Quán Thế âm hiện ra nói : “ Đúng , ta là chân sư của ngươi . Ngươi không cần phải đến Potala mà hãy quay về Campa để hoằng dương chánh pháp ” . Pacaripa quá đỗi vui mừng,bay bổng lên hư không quay về xứ cũ .

-  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -  -

Đại sư thứ 60: Campaka - Đức vua yêu hoa

Thanh quang hiển hiện là sự kết hợp của Bi và Trí ;
Tuyệt đối bẩm sinh ( Sahaja ) ,
Là cây như ý hoa trái chính là Ba thân Phật .

Truyền thuyết

Sở dĩ đức vua xứ Campa lấy vương hiệu là Campaka . Vì xứ này có loài hoa gồm  hai màu vàng trắng rất thơm và đẹp . Ngoài nỗi vui thú quyền lực,  nhà vua rất yêu thích loài hoa đặc biệt này . Trong vườn thượng uyển của cung điện mùa hè luôn có một chiếc ngai kết bằng hoa Campaka vàng .

Một hôm , vua đang ngự trên chiếc ngai đặc biệt . Bổng có nhà sư đến để khất thực .  Vua tự thân rửa tay chân cho sư và sai người mang một chiếc đệm để sư an tọa để cúng dường vật thực . Sau đó , vua cùng triều thần nghe sư thuyết pháp . Sau thời Pháp vua hỏi : “ Thưa thầy ! . Ngài đã vân du khắp nơi . Có bao giờ thấy loại hoa nào đẹp như hoa ở đây không ? . Và có vị vua nào như quả nhân không ? ” .

Sư đáp : “ Tâu bệ hạ ! . Hương của loài hoa Campaka thật là kỳ diệu . Khó có loài hoa nào sánh bằng . Nhưng mùi phát ra từ thân bệ hạ lại rất khó ngửi . Thật vậy , tuy vương quốc bệ hạ giàu có , hùng mạnh . Nhưng ngài cũng phải bỏ lại tất cả để ra đi với đôi bàn tay trắng ” .

Những lời lẽ của sư khiến vua chợt xét lại bản thân mình . Ngài cầu xin sư dạy thêm Phật pháp . Sư bèn dạy cho vua : Luật nhân quả là định luật chi phối mọi hoạt động của con người . Kế đó , sư truyền cho vua phép thiền định . Nhưng vua lâu nay có thói quen thưởng ngoạn hoa và tâm trí lúc nào cũng nhớ đến hoa nên thật khó tu hành tinh tấn . Sư biết vậy bèn dạy :

Các pháp vốn không ;
Vì thế là hoa của giáo Pháp .
Tâm trí là ong hút nhụy không hề cạn ,
Ong , hoa , phấn là một và an lạc là mật .
Đó chính là lời Phật dạy ;
Vì thế hãy tu tập chớ nghi ngờ .

Campaka nghe lời dạy nắm được yếu lý của pháp tu . Ngài thực hành 12 năm thì chứng đắc .

Đại sư thứ 61: Bhiksanapa - Lưỡng xỉ đạo nhân

Con đường trơn trợt ngài đã đi qua ,
Khó một ai theo được .
Sự giác ngộ ấy không có gì sánh bằng ,
Vì phàm phu không thể nào hiểu được .
Nhà Du-già tối thượng ,
Có quyền năng cân bằng hoàn hảo ;
Đạt đến chân nghĩa nhờ lời dạy của Bổn sư

Truyền thuyết

Bhiksanapa là một người hành khất ở vùng Pataliputra . Ngày nọ , sau buổi sáng đi lang thang khắp nơi trong thành . Nhưng chẳng có ai ban cho chút thức ăn nào . Bhiksanapa cảm thấy đói và mệt liền ngồi nghỉ ở bên vệ đường . Chợt một vị Thánh nữ ( Dakini ) xuất hiện trước mặt ông .

Vị Thánh nữ ân cần thăm hỏi vì cớ sao Bhiksanapa buồn rầu như thế . Bhiksanapa liền kể với Thánh nữ về nỗi khổ của mình . Bà nói : “ Ta có một cách giúp ngươi thành tựu ước nguyện ” . “ Vâng, xin bà chỉ bày ” . “ Nhưng ngươi có gì để dâng tặng ta chăng ? ” . Bhiksanapa nghe hỏi liền dùng tay lấy hết sức bình sinh nhổ một cái răng trên và một cái răng dưới dâng cho vị Thánh nữ .

Biết rằng gặp được bậc pháp khí . Vị Thánh nữ liền làm phép khai tâm và truyền pháp cho Bhiksanapa . Sau đó , ngày ngày đi khất thực để độ thân , Bhiksanapa tinh cần tu tập thiền định trong 7  năm chứng đắc Đại thủ ấn.

-  -  -  -  -  -  -   -  -  -  -  -

Đại sư thứ 62: Dhilipa - Con người hưởng lạc

Khi ta nhận ra bản chất nguyên thủy là Phật ,
Phật trở thành bản chất của tất cả thực thể .
Nhờ năng lực của Tuyệt đối bẩm sinh ,
Ta nhập vào Kim cương định .

Truyền thuyết

Tại Satapuri có người bán dầu tên gọi là Dhillipa . Công việc kinh doanh này đem lại cho ông ta một số lợi nhuận rất lớn . Vì vậy ông trở thành một trong những người giàu có nhất trong vùng . Thế nên , cuộc sống của Dhilipa rất xa hoa . Mỗi bữa ăn , ông dùng đến 84 cái dĩa , 12 loại thịt và 5 loại thức uống . Đây là cách dùng bữa của một bậc vương giả thời ấy .

Một ngày nọ , đạo sư Bhahana đến viếng Dhilipa . Sau khi nghe Sư thuyết pháp , Dhilipa lấy làm cảm động . Ngỏ ý muốn mời Sư lưu lại một thời gian tại nhà của mình và Sư đồng ý .

Một hôm đang nhìn Dhilipa đang làm công việc trích ly dầu ra khỏi những hạt mè . Sư nhận xét công việc này có thể ngày một phát đạt hơn . Nhưng khó thể đạt tới sự giải thoát.  Dhilipa liền xin Sư truyền pháp . Sư nói :

Thân ngươi là hạt vừng ,
Dầu chính là vọng tưởng .
Bản tâm là ngọn đèn ,
Bấc là pháp thế gian .
Đốt đèn bằng lửa tuệ ,
Xua đi bóng vô minh .
An trú trong thanh tịnh ,
Niềm vui chẳng nghĩ bàn .

Dhilipa nghe xong bừng tỉnh ngộ . Từ đó tinh tấn tu tập trong 9 năm thì chứng đắc Đại thủ ấn .

-  -  -  -  -  -  -   -  -  -  -  -

Đại sư thứ 63: Kumbharipa – Người thợ gốm

 

Bánh xe tập quán quay nhanh ,
Tạo nên bài ca và vũ điệu của sự hiện hữu .
Nhưng giờ đây ngọn lửa tri kiến bừng cháy ,
Đẩy lùi bóng tối của vô minh .

Truyền thuyết

Kumbharipa làm nghề thợ gốm ở  thành Jomanasri . Công việc đơn điệu hằng ngày khiến ông đâm ra mệt mỏi và muốn có một sự thay đổi để cuộc sống bớt tẻ nhạt . Ngày kia , có nhà sư Du-già đến lò gốm để khất thực , Kumbhripa nói : “ Bạch đại đức ! . Làm cái nghề nặng nhọc này tôi cũng chỉ kiếm được một ít thu nhập để sống qua ngày . Tôi cảm thấy chẳng có một chút hứng thú gì . Thật là khổ não ! ” .

Hiền hữu , ông nên biết rằng tất cả chúng sinh đều chịu phiền não vô tận , nào phải chỉ riêng ông ? . Nay ta dạy ông pháp này :

Đất sét là đam mê ,
Ý tưởng được chuẩn bị .
Đất cát là vô minh ,
Lăn trên bánh xe tham ái .
Sáu căn là sản phẩm ,
Trí tịnh là lửa nung ;
Cho chin gốm lục nhập .

Người thợ gốm nhận hiểu được lời dạy của Sư , tu tập thiền định trong 6 tháng thì tâm trí thanh tịnh dứt được tham ái . Kumbharipa vừa làm việc vừa thiền định nên những sản phẩm do ông làm ra đều tinh xảo và có những nét đẹp kỳ diệu .

-  -  -  -  -  -  -   -  -  -  -  -

Đại sư thứ 64: Carbaripa – Người chết sửng

Đại nguyện của chư Phật ,
Chính là nhận ra tự thể .
Những ai nhận ra sự thanh tịnh của bản tâm ,
Thì người đó có con mắt Phật .

Truyền thuyết

Tại một làng quê thuộc xứ Magadha ( Ma-kiệt-đà ) có một gia đình làm nghề chăn nuôi gia súc . Họ sở hữu hàng ngàn con bò và vô số cừu ngựa . Khi người cha qua đời vì già bệnh , người con mở tiệc lớn thết đãi toàn bộ dân chúng trong vùng . Bữa tiệc này kéo dài trong nhiều ngày với đầy đủ  những món ngon vật lạ .

Sáng sớm trước khi buổi tiệc kết thúc . Cả gia đình cùng thực khách kéo nhau ra bờ sông Hằng để tắm rửa tẩy trần . Chỉ còn lại người vợ và đứa bé con làm nhiệm vụ trông nhà .Lúc này đại sư Carbaripa đột nhiên xuất hiện để khất thực . Nhưng người vợ trẻ sợ chồng quở trách nên không dám cúng dường . Đại sư nói : “ Nếu vì ngươi cúng dường thức ăn cho ta mà chồng ngươi hoặc mẹ chồng quở mắng, thì hãy đến với ta .  Từ nơi đây , ngươi có thể nhìn thấy ánh lửa bên kia ngọn đồi, đó chính là nơi ta trú ngụ .  Nếu họ không tức giận thì có lẽ tốt hơn nhiều . Giờ thãy cho ta một ít thức ăn ” .

Thiếu phụ liền mang cho Sư một ít vật thực và lắng nghe Sư nói chuyện một cách vui vẻ . Sau khi vị Sư rời khỏi nhà . Bà mẹ chồng quay về , nhìn thấy một ít thức ăn còn sót lại trên những chiếc đĩa .  Bà hiểu chuyện và sỉ nhục nàng . Lần này , người thiếu nữ trở nên giận dữ thật sự . Nàng bế đứa con nhỏ tìm đến chỗ đại sư Carbaripa . “ Lành thay!  Lành thay ! ” . Sư nói xong liền dùng tịnh thủy rảy vào người hai mẹ con .  Họ liền hóa thành hai tượng Phật bằng đá .

Người chồng khi quay về không thấy vợ con bèn tìm đến chỗ Sư . Sư lại dùng nước sái tịnh biến ông chồng thành tượng Phật đá . Sau đó gia đình , họ hàng của họ đến tìm đều bị rơi vào số phận tương tự . Tất cả đều bị biến thành những tượng Phật đá đứng sừng sững giữa nơi hoang vắng .

Đứa bé trai của người thiếu phụ tốt bụng đạt được tám thần thông . Từ đôi tinh hoàn của đứa bé lưu xuất đề-hồ có khả năng biến các kim loại thành vàng . Hậu môn lưu xuất rượu trường sinh và từ đôi mắt phát xuất ra hai luồng hào quang . Dân chúng trong vùng đồn đại việc lạ lùng chưa từng có này đến tai đức vua xứ Campa .

Đức vua hiểu được sự việc cho xây một ngôi đền lớn để thờ tất cả những tượng Phật đá này . Tương truyền rằng những nhà tu Du-già thường đến đây để tu thiền định .  Và trong lúc thiền định , nếu tâm khởi lên vọng tưởng thì các tượng đá sẽ hóa thành người thật dùng gậy đập vào lưng hành giả .

-  -  -  -  -  -  -   -  -  -  -  -

Đại sư thứ 65: Manibhad - Bà nội trợ hạnh phúc

 

Khi tâm bị khởi che bởi vô minh ,
Ý duyên theo trần cảnh .
Khi thực thể sáng tỏ như bản chất của ta ,
Bản chất ấy hiện ra như thực thể .

Truyền thuyết

Thị trấn Agaru có một gia đình giàu có . Gia đình này có cô con gái ở tuổi 13 tên là Manibhadra đã hứa gả cho chàng trai cũng cùng đẳng cấp xã hội . Theo tục lệ chàng trai phải đến ở rể chờ cho đến khi cô gái đủ tuổi kết hôn . Trong thời gian này , đại sư Kukkuripa bổng đến nhà Manibhadra để khất thực . Nhìn thấy nhà sư,  cô gái thốt lên : “ Ngài trông thật đẹp ! . Cớ sao lại đắp tấm vải rách đi xin ăn . Trong khi ngài có thể tự mình kiếm sống và cưới một người vợ ?”  .

“ Thưa thí chủ , tôi sợ vòng sinh tử luân hồi và đang tìm thấy niềm an lạc đầy giải thoát trong cuộc sống như thế này . Thân người khó được , Phật pháp khó gặp . Nay tôi nắm bắt lấy cơ hội có một không hai này để tu tập . Nếu lấy vợ có con , sẽ rất bận bịu, làm thế nào tu tập ? . Như thế , đời sau sẽ càng tệ hại hơn . Do đó tôi từ bỏ việc theo đuổi phụ nữ ” .

Cô gái tỏ ra rất cảm phục nhà Sư . Sau khi cúng dường vật thực cô nài nỉ : “ Xin thầy chỉ cho tôi con đường giải thoát ” . “ Ta sống nơi mộ địa,  nếu cần thí chủ có thể đến gặp ” . Sau khi nghe những lời thuyết pháp của đại sư, Manibhadra trở nên ưu tư về thân phận con người trong cuộc đời đầy bất trắc này . Cuối cùng cô quyết định tìm đến với đại sư .

Đại sư Kukkuripa quán xét thấy trình độ tâm linh của cô gái phát triển cao . Nên truyền cho cô pháp thiền định và thần thông . Sau đó , cô tìm chỗ vắng vẻ tu tập một mình trong bảy ngày đêm . Sau thời gian ấy , cô trở về nhà thì bị cha mẹ la rầy đánh đập . Cô nói : “ Không ai trong thế gian này là cha hay mẹ của tôi cả . Một gia đình giàu có chỉ có thể nuôi dưỡng nhưng không thể giải thoát cho một cô gái ra khỏi sinh tử luân hồi . Vì vậy , tôi phải nương tựa vào chân sư để tu tập thiền định hầu mong giải thoát khỏi luân hồi ” .

Lời lẽ xác đáng của cô khỉến cha mẹ cô lấy làm lạ nhưng không thể đối đáp lại . Manibhadra tu tập định tâm vào một điểm duy nhất . Sau đó một năm , vị hôn phu đến đón cô về nhà riêng . Cô vui vẻ theo chồng không một chút phản kháng . Trong cuộc sống mới , cô luôn tỏ ra đảm đang việc nhà , nói năng khiêm tốn, cử chỉ hòa nhã . Chẳng bao lâu hạ sinh một bé trai và một bé gái .  Cô nuôi nấng và dạy dỗ chúng theo cách riêng của cô . Mười hai năm trôi qua kể từ ngày Manibhadra gặp được Chân sư .

Một buổi sáng cô ra suối lấy nước . Vì mang nước đầy bình lại vấp phải một gốc cây . Cô ngã xuống làm chiếc bình vỡ tan . Chiều đến người chồng không thấy vợ , vội đi tìm . Khi đến nơi , ông thấy vợ mình nằm dưới đất . Đôi mắt mở to đăm đăm nhìn vào chiếc bình vỡ . Ông đến gần hỏi han , nhưng cô vẫn cứ nhìn trân trối vào chiếc bình như không nghe thấy gì .  Mọi người đến tìm cách vực cô ngồi dậy nhưng hoàn toàn vô ích .  Cô vẫn nằm bất động cho đến lúc đêm xuống . Bổng dưng cô bật đứng dậy hát :

Chúng sinh hữu tình  đập vỡ chiếc bình của họ,
Cuộc sống sẽ kết thúc .
Nhưng tại sao họ lại quay trở về nhà ,
Ngôi nhà của lục thú ? .
Hôm nay ta đập vỡ chiếc bình ,
Nhưng không quay về ngôi nhà ấy nữa ,
Ta đã đi tới niềm vui thanh tịnh .
Thầy ta quả tuyệt vời ,
Vì thế nếu ngươi muốn ? ;
Hãy nương vào bậc Thánh .

Hát xong , Manibhadra bay vào hư không .

-  -  -  -  -  -  -   -  -  -  -  -

Đại sư thứ 66: Mekhala - Người chị dâng thủ cấp

Tất cả các hiện tượng ,
Bên trong lẫn bên ngoài .
Cả thảy là do tâm ,
Tất cả chung một vị .
Trong thiền định thù thắng ,
Không cần phải nỗ lực .
Ta tìm thấy niềm vui ,
Thanh tịnh và bất nhị .

Truyền thuyết

Tại vùng Devikota , gia đình nọ có hai cô con gái tên là MekhalaKanakhala .  Hai cô gái được gia đình gả cho các chàng trai con của một người dân chài . Hai người chồng này rất thô lỗ thường hành hạ , đánh đập và chửi mắng họ . Khiến những người láng giềng hay đem câu chuyện bất hòa trong gia đình họ ra làm đề tài bàn tán . Mặc dù họ chẳng làm điều gì sai trái .

Một hôm , người em gợi ý : “ Chị ơi ! . Có lẽ chúng ta nên thoát khỏi sự bất công này và trốn sang một nơi khác ” . Nhưng người chị không đồng ý nói : “ Chúng ta bị sỉ nhục là vì thiếu đức hạnh . Như thế , sống ở nơi nào cũng có khác gì nhau . Chúng ta phải ở lại đây ” .

Một ngày nọ , đại sư Krsnacarya du hành qua vùng Devikota .  Đi theo ngài là 700 môn đồ , trên đầu là một chiếc lọng bay lơ lửng . Những chiếc trống bằng sọ người dùng để triệu thỉnh quỷ thần kêu vang khắp không trung và những dấu hiệu kỳ lạ xuất hiện . Khiến bất cứ ai nhìn thấy cảnh tượng này đều phải thừa nhận đây là một vị đã tu chứng .

Hai chị em rủ nhau ra nghênh đón đại sư và cầu xin ngài truyền pháp . Sư điểm đạo cho họ và truyền cho Kim Cương tâm pháp và bảo họ lui về tu tập . Sau 12 năm tu tập hai chị em đều đắc pháp . Họ quay lại chốn cũ tìm gặp Chân sư . Sư tiếp hai chị em một cách nồng nhiệt . Nhưng không nhận ra đệ tử của mình .

Sư hỏi họ là ai . Cả hai nhắc lại sự việc cũ sư nhớ ra và nói : “ Nếu là đệ tử , lẽ ra các ngươi phải mang lễ vật đến cúng dường ” . “ Chúng con có thể cúng dường những gì ? ” . “ Hãy cho ta thủ cấp của các ngươi ” .“ Vâng , chúng con xin làm vui long thầy ” . Hai cô gái liền há lơn miệng thoát ra thanh kiếm tuệ giác .  Họ dùng kiếm ấy tự chặt đầu dâng lên đại sư . Trước khi tự chặt đầu , họ hát :

Nhờ giáo pháp của Chân sư ,
Chúng con không còn phân biệt .
Luân hồi và Niết-bàn ,
Chúng con không còn phân biệt ,
Chấp nhận và từ chối .
Chúng con không còn phân biệt ,
Ta và ngườ i.
Để làm chứng cho sự giác ngộ
Chúng con xin dâng người món quà này .

Sư đáp lại:

Lành thay ! ;
Hai nữ thánh đã đến bờ bên kia .
Hãy quên niềm vui riêng ,
Vì thế ,
Hãy sống vì kẻ khác .

Rồi Sư đặt đầu của họ lên vai , tức thì đầu gắn vào cổ nguyên vẹn như cũ không để lại một dấu vết .

-  -  -  -  -  -  -   -  -  -  -  -

Đại sư thứ 67: Kanakhala – Người em dâng thủ cấp

 

 

Kumbharipa Mặc áo giáp nhẫn nhục
đội chiếc mũ đức hạnh
Ta lái con thuyền tâm
Với niềm tin kiên cố
vượt qua cơn bão bùng.

Truyền thuyết

( Được kể chung trong truyền thuyết về đại sư Mekhala ) .

-  -  -  -  -  -  -   -  -  -  -  -

Đại sư thứ 68: Kilakilapa - Kẻ rộng mồm

 

Trên bầu trời trong trẻo của Pháp giới ,
Tiếng sấm của năng lực thanh tịnh nổ rung chuyển .
Khiến tất cả các chứng nghiệm về thế giới hão huyền ,
Đã biến đổi và được tô điểm ;
Bởi giác thức thanh tịnh của Ba Thân .

Truyền thuyết

Tại Bhiralipa có anh chàng hạ tiện tên là Kilakilapa . Rất nhiều người biết đến vì tính cách ồn ào và ưa cãi vã .Vì anh ta ưa tranh chấp , gây hấn . Dần dần mọi người đều sinh ra ác cảm và cùng nhau xua đuổi anh ta ra ngoài thành . Kilakilapa đi đến khu mộ địa trong trạng thái buồn bã . Nhà sư Du-già thấy tình cảnh thảm thương bèn đến hỏi nguyên cớ . Kilakilapa thành thực kể lể nỗi tình . Sư thương tình khai tâm cho y và truyền pháp tu thiền định :

Lời của ngươi ;
Và lời của mọi người cũng chỉ là âm vang .
Nhưng âm vang thì cũng chỉ là âm vang ,
Vì thế ;
Hãy quán tưởng tất cả âm thanh đều biến mất trong bầu trời .
Giống như sự biến mất của một cơn sấm sét ,
Và  rơi vào một đám mưa .

Kilakilapalãnh hội được giáo pháp và chuyên cần tu tập cho đến khi chứng đắc .

-  -  -  -  -  -  -   -  -  -  -  -

Đại sư thứ 69: Kantalipa - Thợ khâu giẻ vụn

 

Chân sư là kim khâu ,
Từ bi là sợi chỉ .
Ta vá ba cõi lại ,
Thành tấm vải tuyệt vời .

Truyền thuyết

Kantalipa làm nghề khâu giẻ vụn sống ở vùng Manidhara . Một ngày nọ , khi đang làm công việc may vá . Kantalipa sơ ý để kim đâm vào tay chảy máu , ông cảm thấy đau nhói tận trong tim . Chợt buồn cho số phận của mình ông nằm lăn ra đất khóc than . Thánh Nữ ( Dakini ) hóa thân thành người thường hiện ra nói :

“ Ngươi đừng than khóc nữa ! . Đây là quả báo đời trước do nghiệp bất thiện .  Nghiệp quả như bóng với hình . Nếu như ngươi không tu tập , đời sau cũng còn phải chịu đựng nỗi đau ấy ” . “ Vậy xin người hãy chỉ cho tôi cách thoát khổ ” . “ Ngươi có thể tu tập thiền định được chăng ? ” . “ Thưa được , không gì có thể ngăn được quyết tâm của tôi ” .

Thánh nữ liền điểm đạo cho Kantalipa và giảng về Bốn tâm vô lượng ( Từ , bi , hỉ , xả ) .  Bà nói :

Giẻ vụn là hư vô ,
Kim may là trí tuệ .
Hãy dùng chỉ từ bi ,
Khâu y phục mà mặc .
Che chở cho ba cõi .

Kantalipalãnh hội được giáo pháp , tinh tấn tu tập cho đến khi chứng ngộ .

-  -  -  -  -  -  -   -  -  -  -  -

Đại sư thứ 70 : Dhahulipa – Người bện dây thừng

 

Trong bầu trời bất nhị ,
Ẩn chứa kho tàng trí tuệ khó ai tìm ra được .
Vậy hãy an trú trong Vô tác tướng ,
Chắc chắn  niềm vui chân thật sẽ đến gần .

Truyền thuyết

Dhahulipa sinh trưởng vùng Dhokara , làm nghề bện dây thừng bằng cỏ kusa mang ra chợ bán để sinh sống qua ngày . Một ngày nọ , sau khi lao động quá nhiều . Đôi tay của ông bị trầy xước rỉ máu nhiều chỗ vì loại cỏ này rất sắc bén . Quá đau nhức , ông tìm đến một nơi vắng vẻ ngồi khóc than một mình . Nhà sư Du-già nhìn thấy vẻ buồn tủi của ông , bèn hỏi thăm cớ sự và Dhahulipa liển kể lể nỗi niềm .

“ Chỉ một vài vết trầy xước nơi tay mà ngươi thống khổ như vậy . Thề thì làm thế nào nchịu đựng được nỗi đau khổ lớn hơn ở cảnh giới thấp ? ” . “ Cúi xin thầy từ bi mở lối cho con ” . Vị sư liền khai tâm và làm phép điểm đạo cho Dhahulipa , rồi dạy phép thiền định . Theo lời dạy Dhahulipa tu tập 12 năm thì chứng đắc .

Đại sư thứ 71: Udhilipa - Người muốn hóa chim

 

Theo đuổi vọng niệm là rồ dại ,
Kham nhẫn chịu nghiệp là giải nghiệp .
Chẳng trụ vào đâu tâm là chính ,
Tìm kiếm vẩn vơ chỉ phí công .

Truyền thuyết

Nhờ công đức bố thí của đời trước nên Udhilipa thừa hưởng một gia tài đồ sộ . Ông sống xa hoa trong một lâu đài tráng lệ . Một hôm , ông đang ngắm nhìn cảnh vật qua khung cửa sổ . Chợt thấy có những áng mây ngũ sắc tựa hình dáng những con thú và con sếu hiện ra rồi bay mất hút vào bầu trời . Ông nhủ thầm : “ Giá ta bay được như con chim kia thì thật vui thú biết bao ” .

Ý tưởng ấy luôn ám ảnh tâm trí Udhilipa . Khi đại sư Karnaripa đến lâu đài để khất thực . Ông cúng dường Sư những thứ tốt và ngon nhất . Để đáp lại , ông khẩn cầu Sư dạy cho ông pháp thuật để có thể bay bổng như loài chim . Sư Karnaripa truyển cho ông môn Catuspitha Hagogim và bảo ông phải hành hương đến 24 Thánh địa để xin của 24 vị Dakini 24 loại dược thảo . Nhất là phải trì tụng chân ngôn Kim cương Thánh nữ 10.000 lần tại mỗi nơi Thánh địa .

Sau khi cuộc hành hương dài đằng đẳng kết thúc . Udhilipa đạt trạng thái không còn vọng tưởng . Nhận biết bản chất thực sự của các pháp và chứng đắc thần thông .  Quả nhiên ông đã bay được như chim .

———————————————–

Đại sư thứ 72: Kapalapa - Người mang bình bát đầu lâu

Tất cả hiện tượng vốn không hai ,
Áo quần , trang sức ở bên ngoài .
Lưng đeo bình bát bằng xương sọ ,
Cổ khoác dây chuyền lấy từ xương .
Bản ngã tự là không thật ,
Tìm kiếm làm chi chỉ phí công .

Truyền thuyết

Kapalapa là thường dân xứ Rajapuri , có một vợ và năm con trai . Chẳng may vợ mất sớm , Kapalapa mang xác vợ ra nơi mộ địa . Trong khi đang than khóc về cái chết người vợ yêu dấu . Ông nhận được tin năm người con trai cũng đột nhiên qua đời . Kapalapa lại mang xác năm đứa con đặt cạnh thi thể của vợ . Trong hoàn cảnh đau thương . Chân sư Krsnacarya xuất hiện hỏi ông về nguyên do của sự đau buồn . “ Bạch đại đức ! . Vợ con tôi nay đã chết cả và không còn chỗ nương tựa . Tôi chỉ mong chết theo họ để khỏi phải chịu đựng nỗi đau khổ này ” .

“ Này hiền hữu ! . Tất cả chúng sinh trong ba cõi đều bị đám mây tử thần bao phủ . Không chỉ riêng mình ngươi chịu nỗi khổ sinh ly tử biệt . Nếu chỉ ngồi than khóc và không làm gì để vơi đi nỗi sầu thì thật là vô ích . Vì thần chết cũng rình rập ngươi từng giây phút, . Tốt hơn ngươi nên tu tập thiền định để dứt trừ phiền não ” . “ Cúi xin ngài từ bi thương xót chỉ dạy cho tôi ” .

Krsnacarya làm phép đưa ông ta nhập vào Mandala của thủ thần Hevajra và truyền cho giáo pháp . Để hỗ trợ cho pháp tu của Kapalapa , Sư lấy xương của năm người con xâu lại thành từng vòng đeo nơi cổ Kapalapa và dùng xương sọ của người vợ làm bình bát .

“ Hãy quán tưởng bình bát này và hư không là một . Sự thể nhập của cả hai chính là cách thiền định của ngươi ” . Theo lời dạy của Chân sư, Kapalapa tu tập trong 9 năm thì giác ngộ được chân lý .  Để nói lên sự giác ngộ của mình, ngài đọc kệ:

Ta là nhà sư Du-già ,
Bình bát bằng xương sọ .
Vì ta đã nhận ra ,
Bản chất của chiếc đầu lâu và thực tính của các pháp là một .
Với tri giác như thế ,
Ta đi lại tự tại không điều gì có thể ngăn ngại .

———————————————–

Đại sư thứ 73: Kirapalapa - Kẻ chinh phục

Từ thuở vô minh phủ lấy ta ,
Sinh tâm phân biệt người với ta .
Ngay lúc nhận ra lẽ thật ấy ,
Bao nhiêu vọng tưởng khuất dần xa .
Cả tên “ Phật ” cũng là nhãn hiệu ,
Đem dán làm chi khắp hà sa ? .
Khi biết bản tâm là trống rỗng ,
Hình thù không có tìm đâu ra ? .

Truyền thuyết

Kirapalapa cai trị một vương quốc rộng lớn và hùng mạnh . Nhưng vua không bao giờ thỏa mãn với sự giàu có . Nên thường đem quân đánh phá các nước láng giềng để vơ vét của cải . Tuy vậy , ngài không hề có ý niệm gì về cảnh tàn khốc của chiến tranh . Một lần , vua cùng quân lính đi tiếp quản một thành phố bị đánh chiếm . Đức vua lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy những cảnh tượng hãi hùng sau cuộc chiến .

Phụ nữ , trẻ con , người già , người bệnh bị bỏ lại trong thành vì tất cả đàn ông thanh niên đều đã chạy trốn . Tất cả các nạn nhân đều tiều tụy , hốc hác và đói khát . Họ lang thang , vất vưởng khắp trên đường phố . Chứng kiến sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh . Đức vua động lòng từ bi , xuống chiếu tha tội cho các trai tráng để họ có thể trở về đoàn tụ cùng gia đình . Từ đó , hằng ngày vua đều tổ chức chẩn bần , bố thí cho người nghèo đói .

Một hôm , có nhà sư Du-già đến kinh thành để khất thực . Vua hoan hỷ cúng dường những thứ tốt nhất và khẩn cầu sư giáo hóa . Sư làm lễ quy y cho đức vua , truyền giới Bồ Tát và dạy ngài về Bốn tâm vô lượng cùng với phép thiền định . Nhưng nhà vua vẫn không thỏa mãn , ngài muốn được thọ lãnh pháp môn tối thắng . Để có thể chứng ngộ trong đời hiện tại . Sở nguyện như vậy , nhưng công việc triều chính khiến ngài khó lòng tu tập tinh tấn . Vì thế , ngài liền trình bày trở lực với tôn sư .

Chân sư nói : “ Ngươi hãy quán tất cả chúng sinh trong ba cõi là thống soái các chiến binh kiêu hãnh . Trong vô tận bản tâm lưu xuất  hằng hà sa số các anh hùng hợp lực đánh bại kẻ thù kia . Rồi ngươi, đức vua vĩ đại , tắm mình trong sự vinh quang ấy.” . Đức vua lãnh hội ý nghĩa lời dạy và có thể tinh tấn tu tập trong khi vẫn giải quyết những công việc triều chính . Nhờ đó đạt đến sự giải thoát .

———————————————–

Đại sư thứ 74: Sakara – Người sinh từ hoa sen

Long vương Basuka chế ngự những con người đau khổ ,
Bằng những trận mưa dầm dề .
Nơi có quyền năng cao nhất của Như Lai ,
Long vương của trí tuệ .
Ban những cơn mưa xuân mát mẻ của Bí mật Pháp ,
Cho những ai may mắn hiểu được lý âm dương .

Truyền thuyết

Indrabhuti cai trị vương quốc Kanci gồm một triệu bốn trăm ngàn hộ . Nhưng chưa có con nối nghiệp . Ngài cùng hoàng hậu ngày đêm cầu khẩn Trời Phật ban cho một hoàng tử . Sáu tháng sau , hoàng hậu nằm mộng thấy bà nuốt trọn ngọn núi Meru , uống cạn nước của một đại dưong và gót hài của bà dẫm nát cả ba cõi thế giới .

Đức vua không đủ khả năng để giải thích giấc mộng . Ngài ban lệnh sẽ thưởng cho những ai có thể giải đoán được . Một đạo sĩ đến nói với ngài : “ Đây là điềm báo trước sự ra đời của một bậc Đại trí , một vị Bồ Tát hay một bậc Minh quân , một vì vua của Vương quốc chân lý . Ngay lúc ngài sinh ra sẽ có một trận mưa vàng bạc tưới đều khắp nơi ” .

Quả nhiên sau đó hoàng hậu thụ thai . Đúng như lời tiên đoán , đến kỳ khai hoa nở nhụy liền có một cơn mưa vàng bạc đổ xuống khắp nơi . Sau khi cơn mưa dứt , người ta phát hiện ra một hài nhi nằm trên đóa sen lớn trong vườn thượng uyển . Vị hoàng tử sơ sinh được đặt tên là Saroruha . Do công đức đời trước nên từ khi ngài sinh ra dân chúng luôn được sống trong sự sung túc . Ít lâu sau , hoàng hậu lại sinh thêm một hoàng nam .

Khi đức vua băng hà , Saroruha từ chối việc kế vị ngai vàng trao vương quyền cho em . Bản thân ngài trở thành một tu sĩ . Rời khỏi hoàng cung,  Saroruha đi về phía Sri Dhanyakataka để tìm chân sư . Trên đường đi tầm sư học đạo , Saroruha đã gặp được chân sư.  Đây chính là hoá thân của Bồ Tát Quán thế âm .

Để thử thách Saroruh a, Bồ Tát nói với Saroruha rằng : Ngài cũng có thể hiển lộ Pháp thân . Nhưng Saroruha thành thực thưa với thầy ngài không thể tự mình đi đến giải thoát . Saroruha cung kính đảnh lễ vị Chân sư để cầu pháp . Bồ Tát liền hiện thân truyền pháp thiền định Hevajra cho Saroruha rồi biến mất . Saroruha tiếp tục đi đến Sri Dhanyakataka để tu tập thiền định .

Một hôm , có vị du tăng từ xa đến nơi Saroruha đang tu tập để tìm hiểu giáo pháp .  Vị này xin làm thị giả cho ngài với điều kiện là khi nào ngài đắc quả thì truyền pháp cho ông ta . Sư đồng ý . Vị du tăng liền lưu lại trong hang động để phục vụ ngài trong suốt 12 năm .

Ngay lúc Saroruha bắt đầu nhập thất, nạn đói hoành hành khắp nơi vì nắng hạn . Người chết nhiều vô kể . Sợ biến cố này làm  kinh động đến Chân sư và làm trở ngại việc thiền định của thầy . Nên thị giả im lặng không tiết lộ . Vào ngày cuối cùng của thiền thất trải qua 12 năm . Thị giả đến khất thực tại hoàng cung , nhưng tại đây người ta cũng chỉ có thể cúng dường cho ông một chén gạo nhỏ .

Ông cẩn thận mang về dâng lên vị Chân sư . Rủi thay , lúc bước qua ngưỡng cửa thì vị này vấp té làm rơi bát gạo vung vãi khắp nơi . Sư thấy thế bèn hỏi :  “ Ngươi say à ? ” . Thị giả thú thật ông đã giấu thầy về nạn đói .  Sư quở trách : “ Cớ sao ngươi không cho ta biết ?  . Ta có thể làm mưa để cứu dân lành ” .

Saroruha nhặt những hạt gạo bị đổ dưới đất rồi đi ra dòng song . Tại đây , ngài tác pháp cúng dường cho các Hộ pháp Long vương . Đoạn dùng ấn chú triệu thỉnh tám vị Long vương đến quở trách cho đến khi đầu của bọn họ sắp vỡ tung . Ngài mắng : “ Nạn đói này là do các ngươi gây ra . Các ngươi phải chịu trách nhiệm . Hôm nay các ngươi phải làm một cơn mưa thực phẩm , ngày mai là mưa ngũ cốc , ngày kế tiếp lại là mưa thực phẩm . Sau đó phải mưa vàng bạc trong ba ngày . Đến ngày thứ bảy hãy mưa như bình thường ” . Các vị Long vương vâng lệnh làm theo lời Sư .

Sau đó Sư truyền tâm pháp cho thị giả Rama và dặn dò đệ tử : “ Ngươi không được hành động vì lợi ích của bản thân mà hãy vì lợi ích của chúng sinh . Nếu không , sẽ không bao giờ đạt tới cứu cánh giải thoát . Sau khi ta đi rồ i, ngươi nên đến Sri Parvata mà tu tập ”. Nói xong , như có đôi cánh Sư bay vút vào không trung . Sau khi Rama đến Sri Parvata thì lấy một công chúa làm vợ và hai vợ chồng từ bỏ cung điện vào sống trong một khu rừng già cho đến khi tu chứng .

———————————————–

Đại sư thứ 75: Sarvabhaksa - Kẻ háu ăn

Trong vô minh tất cả mùi vị đều khác nhau ,
Trong giác ngộ mọi thứ đều một vị .
Khi còn vô minh ,
Niết-bàn và Luân hồi là hai ;
Khi giác ngộ ,
Cả hai chỉ là một .

Truyền thuyết

Sarvabhaksa là thần dân của đức vua Singhacandra thuộc vương quốc Abhira .  Ông ta có cái bụng rất to và ăn không biết no . Ông có thể ăn bất cứ  món gì mà ông vớ được . Một hôm không tìm đuợc đủ thức ăn , bụng cồn cào dữ dội . Sarvabhaksa đến ngồi ở một cái hang đá , đầu óc suy nghĩ miên man đến cái ăn .

Chân sư Saraha gặp ông ở chốn này bèn hỏi han . Kẻ háu ăn nói : “ Bụng tôi lúc nào cũng cồn cào như lửa . Ăn rất nhiều nhưng chẳng hề biết no và giời đây tôi đang đói lắm ” . “ Nếu ngươi không chịu đựng được cái đói , khi tái sinh trong loài ngạ quỷ thì ngươi biết làm sao ? ” . Sarvabhasa bèn hỏi : “ Ngạ quỷ là gì ? ” .

Đại sư Saraha liền giải thích về bản chất của loài quỷ đói và nguyên nhân phải thác sinh vào đó . Nghe xong , Sarvabhaksa rùng mình kinh sợ , vội thưa : “ Làm sao tôi có thể tránh khỏi bị đọa vào ác đạo ? . Xin thầy mở lòng từ bi cứu giúp ” . Sư điểm đạo và truyển pháp thiền định Chân sư Bhusuku đã tu tập : “ Hãy quán tưởng bụng ngươi là bầu trời , sức nóng trong bao tử là một đám cháy lớn , thức ăn uống là tất cả các pháp thế gian . Khi ăn , hãy nuốt cả vũ trụ vào ” .

Sarvabhaksa tu tập rất miên mật . Trong thiền định , ông nuốt cả mặt trăng, mặt trời và núi Meru . Khiến thế gian chìm trong bóng tối . Dân chúng kinh hoàng trước việc lạ ấy . Các thiên nữ đến cầu xin ngài Saraha . Sư bảo với đệ tử : “ Hãy quán tưởng những gì ngươi ăn đều không rốt ráo ” . Sarvabhaksa vâng lời tiếp tục tu tập đến khi đạt Đại thủ ấn . Khi ấy mặt trăng , mặt trời lại hiện ra và tỏa sáng như trước .

———————————————–

Đại sư thứ 76: Nagabodhi - Kẻ trộm

Đó là gia tài lớn dành cho chúng ta ,
Và cho những ai sống trên trái đất .
Để chúng ta tự giải thoát khỏi đói nghèo,
Khi đã nắm lưỡi gươm trí tuệ ,
Với niềm tin sẽ chiến thắng ma quân ;
Sau cuộc chiến ta vui vầy cùng bạn .

Truyền thuyết

Trong thời  gian đại sư Arya Nagarjuna ( Long Thụ ) còn lưu trú tại vùng Suvama Vihara . Có một kẻ trộm đứng rình rập bên ngoài căn nhà . Đứng nơi ngưỡng cửa , tên trộm thấy đại sư đang dùng bữa bằng bát vàng . Y móng tâm định vào đánh cắp .  Đại sư đọc được ý nghĩ trong đầu kẻ trộm , bèn ra cho hắn một cái cốc bằng vàn g. Thấy hành vi lạ kỳ của sư , tên trộm phân vân tự hỏi : “ Lão trọc này làm gì thế ? . Chẳng lẽ ông ta biết được ý nghĩ của ta? ” .

Gã trộm liền kêu lên :  “ Tại sao ngài làm như vậy ! . Tôi không cần đánh cắp nó đâu” . “ Ta là Arya Nagarjuna . Tài sản của ta cũng là của ngươi . Cứ ăn uống thoải mái và ở lại đây bao lâu cũng được . Khi nào chán muốn ra đi . Ngươi có thể mang theo những gì mà ngươi thích ” .

Cung cách lạ thường của nhà Sư chẳng khác nào nhát gươm chém mạnh vào tâm thức kẻ trộm . Anh ta rạp mình cung kính đảnh lễ và cầu xin đại sư thu nhận làm đệ tử . Đại sư Nagarjuna truyền cho y phép thiền định về Guhyasamaja :

Giữ tâm không khởi niệm ,
Quán tưởng một cành gai .
An trụ nơi đỉnh đầu ,
Ánh sáng màu hồng nhạt;
Soi rọi khắp châu thân .

Đọc bài kệ xong,  đại sư vận thần thông hóa ra vô số của cải ngọc ngà châu báu khiến kẻ trộm kia vui thích không còn muốn ra đi . Anh ta quyết tâm tu tập thiền định theo lời Sư dạy . Sau 12 năm khổ luyện . Một cây gai lớn đột nhiên nhô ra từ xương sọ của Nagabodhi là cho ông đau đớn đến tột cùng . Ông mang việc này thưa với Chân sư Nagarjuna . Sư cười lớn đọc bài thi tụng :

Gai kia là sắc ý ,
Gây thương tích chúng sinh .
Điên đảo cho là thật ,
Phiền não không hề vơi .
Các pháp vốn không thật ,
Tan hợp như mây trời .
Mây không đem lợi lạc ,
Mây chẳng não hại ai .

Qua lời dạy của đại sư , Nagabodhi thấu hiểu được tính duyên hợp của các pháp .  Ngài tiếp tục tu tập trong 6 tháng thì đắc pháp , gai nhọn kia tự biến mất . Sau đó , Sư truyền cho Nagabodhi tám đại thần thông và chỉ định ngài kế thừa giáo pháp .

———————————————–

Đại sư thứ 77: Darikapa - Ông vua nô lệ

Cảnh giới thanh tịnh sẵn có trong mỗi chúng ta ,
Nhưng vô minh che phủ khiến ta không nhìn thấy .
Hãy tích lũy công đức và quán chiếu ,
Cho dù chúng nỗ lực trong nhiều kiếp .
Nhưngnếu  không có Chân sư ,
Chúng ta cũng khó nhìn ra .

Truyền thuyết

Sau cuộc săn bắn , đức vua Indrapala trên đường quay về hoàng cung và đi ngang qua một khu chợ giữa lúc trưa . Nhà vua nhận ra đạo sư Luipa trong đám đông đang vái chào ngài . Vua bảo với sư Luipa : “ Ngài là một trang nam tử tướng mạo khôi ngô tuấn tú , đừng ăn những thứ ươn thối nữa . Ta sẽ cung phụng đầy đủ cho ngài tất cả những thứ cần thiết . Thậm chí cả vương quốc của ta, nếu ngài muốn ” .

“ Nếu bệ hạ có thể cúng dường sự trường sinh bất lão . Bần tăng sẽ vui lòng đón nhận ” . “ Ta không có điều ấy , nhưng có thể tặng ngài vương quốc lẫn công chúa Con ta ” . “ Tâu Bệ hạ ! . Những điều đó chẳng mang lại ích lợi gì cho bần tăng ” . Đức vua cảm thấy phân vân và xoay người lại bảo với vị đại thần bà-la-môn : “ Quả thật đúng như lời nhà sư kia nói . Ngai vàng , điện ngọc chỉ mang lại cho ta những phiền toái . Trên cuộc đời này , ta chưa hề thiếu thốn một thứ gì . Kể cả những món ngon , vật lạ , y phục sang trọng , phụ nữ mỹ miều . Nhưng tất cả mọi thứ đều làm ta chán ngắt ! ” .

Sau cuộc kỳ ngộ ấy, vua Indrapala thoái vị , nhường ngôi lại cho thái tử . Ngài cùng vị quan đại thần tìm đến nơi sư Luipa ẩn cư để học đạo . Sư ân cần tiếp đón và theo ước nguyện của hai người và truyền cho Samara đàn pháp . Cả hai không có vật gì cúng dường cho Sư nên họ đi đến quyết định cúng dường chính bản thân họ như những người nô lệ .

Kế đó , Sư dẫn hai môn đệ này đến vùng đất Orissa . Băng qua xứ Bhiraputi để tới Jantipur . Đây là thành phố lớn có ba trăm ngàn hộ gia đình . Trong thành có một ngôi đền lớn.  Sống trong ngôi đền là bảy trăm nữ vũ công chuyên trách về nghi thức cúng tế.  Sư Luipa tìm đến gặp bà chủ ngôi đền là Darima, hỏi xem bà có cần mua nô lệ hay không .

Darima nhìn thấy tướng mạo vua bèn bằng lòng ngay và trao cho sư Luipa một trăm đồng tiền vàng . Sau khi thỏa thuận hai điều kiện : Một là nhà vua được phép ngủ riêng , hai là nhà vua sẽ được trả tự do sau khi phục vụ đủ thời gian tương xứng với số tiền đã bán . Nhận tiền xong , sư Luipa cùng vị đại thần ra đi .

Nhà vua phục vụ bà chủ ngôi đền trong 12 năm . Hằng ngày , ông rửa chân , dọn dẹp và làm đủ mọi thứ công việc vặt vãnh khác .Tuy vậy , đức vua không hề xao lãng lời dạy của Chân sư và luôn tỏ ra tử tế làm thay công việc cho những nô lệ khác . Nên rất được mọi người thương mến .

Một hôm, có vị vua tên là Kunci mang theo 500 đồng tiền vàng đến ngôi đền để giải trí . Mỗi lần được phục vụ , vua Kunci thưởng cho nhà vua trong lốt nô lệ bảy đồng tiền vàng . Vào một đêm trời nóng , vua Kunci cảm thấy khó chịu trong người , ông đi ra bên ngoài để dạo chơi . Chợt nghe có mùi hương thơm kỳ diệu và nhìn thấy ánh sáng phát ra từ một lùm cây . Nên đức vua tò mò tìm đến .

Thật ngạc nhiên , vua thấy kẻ nô lệ đang ngồi trên một ngai vàng . Chung quanh là 15 thiếu nữ vẻ đẹp như tiên nga đứng hầu . Vua lập tức báo cho bà chủ Darima . Bà này chạy vội đến nơi , quỳ gối thưa : “ Chúng con người phàm mắt thịt nên không nhận biết ngài là bậc Thánh tăng . Xin ngài tha thứ cho tội bất kính đã khiến ngài phục vụ như kẻ tôi tớ ” . Sư mỉm cưòi , lặng lẽ bay vào không trung .

———————————————–

Đại sư thứ 78: Putalipa - Kẻ mang ảnh tượng

Phật tính nằm trong mỗi chúng sinh ,
Thế nên ;
Đừng theo con đường chấp thủ tri giác đã từ bỏ
Nếu ố gắng quay về nẻo Phật tâm ,
Hiển nhiên ngươi sẽ chứng được đạo .
Ai được Chân sư ban pháp lực ,
Người ấy thâm nhập vào Pháp giới .
Nếm được vị chung của tuyệt đối ,
Dấu ấn Kim cương sẽ được ấn lên người .

Truyền thuyết

Putalipa sinh trưỏng ở vùng Bangala , do cơ duyên đời trước nên được một nhà sư Du-già truyền cho phép thiền định Hevajra . Vị chân sư trao cho Putalipa một bức họa Mandala , trong đó có tượng của Thủ thần Hevajra và căn dặn : “ Ngươi hãy đeo bức họa này ở trước ngực trên đường hành đạo ” .

Putalipa vâng lời thầy , tu  tập trong 12 năm thì chứng đắc . Nhưng không một ai có thể nhận biết điều kỳ diệu này . Một hôm , Putalipa đến khất thực tại hoàng cung.  Nhà vua bỗng để ý thấy vị Thủ thần Jevajra trong bức họa đứng trên vị thần đức vua lâu nay thờ phụng . Hình ảnh này khiến nhà vua cảm thấy bị xúc phạm, ngài quát lớn :  “ Có đúng là vị thần của người ngồi lên trên vị thần của ta như ngồi trên một chiếc ngai không ? ” .

Sư từ tốn đáp :  “ Bức họa này không do tôi vẽ .  Nó là kiệt tác của một nghệ sĩ đích thực . Có lẽ hình vẽ này phạm thượng , nhưng sự thật đúng như vậy ” . Nhà vua có vẻ nguôi giận nói : “ Bức họa rất đẹp và đường nét tinh xảo . Nhưng cớ sao vị thần của ngươi lại sử dụng vị thần của ta như một cái ngai ? ” . “ Tâu Bệ hạ ! . Vị thần của tôi cũng là vị thần của Bệ hạ ” .

“ Ngươi có thể chứng minh cụ thể được vị thần của ngươicó pháp lực vô biên  chăng ? ” . “ Tâu Bệ hạ ! , không khó . Chỉ cần Bệ hạ sai người vẽ bức họa . Trong đó vị thần của Bệ hạ ngồi bên trên vị Thủ thần của bần tăng . Trải qua một đêm , vị trí của hai Thủ thần sẽ đảo ngược ” . “ Nếu sự việc đúng như lời . Ta thề sẽ qui y Phật pháp ” .

Đức vua cho mời họa sĩ đến vẽ một bức họa theo lời đề nghị của Sư . Quả nhiên , sáng hôm sau vị trí của các Thủ thần đã đảo ngược lại . Quá cảm phục pháp lực của nhà sư . Đức Vua cùng triều thần đều xin quy y Tam bảo .

———————————————–

Đại sư thứ 79: Upanaha - Thợ đóng giày

Những mẫu khuôn của trái tim thanh tịnh ,
Không được tạo bởi vọng tưởng .
Mà nó tự hiển hiện ,
Nên thực thể luôn luôn sinh động ;
Để đáp ứng những nhu cầu và khát vọng của ta .

Truyền thuyết

Tại Sendhonagar có người thợ giày tên gọi là Upanaha . Ngày nọ , ông tình cờ gặp một nhà sư Du-già đi khất thực trong thành . Upanaha sinh tâm ngưỡng mộ nên đi theo nhà sư ra tận nơi mộ địa . Sư nhận thấy người thợ giày có đầy đủ tín căn nên giảng về Tứ diệu đế và những lợi ích của sự giải thoát .Kế đó , Sư khai tâm cho y bằng bài thi tụng :

Những cái chuông ;
Do người tạo ra để gắn lên đôi giày đem bán .
Âm thanh reo vui trên đôi chân của kẻ khác ,
Tiếng chuông rung trên bước chân ;
Khác nào tiếng âm vang cuộc đời .
Hãy quán niệm rằng :
Không có sự phân ly giữa các âm thanh .

Upanalatu tập trong 9 năm thì trừ dứt vô minh và đạt Đại thủ ấn .

———————————————–

Đại sư thứ 80: Kokilipa - Kẻ sành điệu

Vô tác tướng là giáo pháp bí mật ,
Không ràng buộc là nhận ra nghĩa lớn .
Niềm vui không chủ đích là thiền định ,
Không đạt cái gì là mục đích tối thượng .

Truyền thuyết

Vào những tháng mùa hè nóng nực , đức vua Kokilipa thường rời hoàng cung để đến khu rừng nhỏ gần đó thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên . Ngài thường ngồi trên những tấm đệm được bọc bằng vải lụa , trong khi các cung nữ vây quanh ca hát và nhảy múa cho nhà vua giải trí .

Một lần , trong khi vua đang vui đùa cùng các cung nữ . Một nhà sư Du-già đến gần để khất thực nhưng lính canh xua đuổi ngài đi . Đức vua nghe thấy quở mắng đám lính rồi cho mời nhà sư đến bên cạnh . Vua ân cần tiếp đãi và cúng dường vật thực cho Sư , đoạn hỏi một cách tự mãn : “ Cách sống của Sư và lối sống của ta . Cái nào mang lại nhiều vui thú hơn ? ” .

Vị sư đáp : “ Tâu bệ hạ , một đứa trẻ sẽ trả lời lối sống của ngài là vui thú nhất . Nhưng với bậc trí giả lại cho cách sống của ngài là độc dược đối với tâm hồn ” . “ Ý đại sư muốn nói gì ? ” . “ Nếu bệ hạ pha trộn quyền lực thế tục với ba độc ( tham,  sân , si) thì cuộc đời sẽ kết thúc một cách thảm hại . Chẳng khác nào uống rượu độc với thức ăn ngon ” .

Vua Kokilipa vốn thông minh nên nhanh chóng lãnh hội lời dạy của Sư . Ngài quy y và được truyền cho phép thiền định Samvara . Không bao lâu , ngài nhường ngôi lại cho con để có điều kiện tu tập . Nhà vua thưòng đến một khu rừng để thiền định , nhưng tâm ngài hay xao động bởi tiếng hót của loài chim Kohila . Biết được trở ngại của đệ tử , vị tôn sư dạy :

Như những đám mây đen ,
Vần vũ trên bầu trời im vắng .
Tạo cơn mưa thấm nhuần cây cỏ ,
Sấm nổ trong tai ngươi .

Và mưa vọng tưởng rưới lên niềm cảm xúc ,
Cây ba độc nở hoa .
Những đóa hoa phiền não ,
Kẻ nhu nhược hằng yêu thích .

Trong vô tận bản tâm ,
Bầu trời thường tịch tĩnh .
Không sấm sét ,
Không âm thanh cuồng nộ .

Chỉ có mây an lạc ,
Mang lại những giọt nước ngọt ngào .
Nuôi dưỡng cây năm thức ,
Đấy chính là phép lạ của bậc trí giả .

Nhà vua nghe theo lời dạy của Chân sư , thực hành thiền định sau thời gian 6 tháng thì đắc pháp .

———————————————–

Đại sư thứ 81: Anangapa - Kẻ ngớ ngẩn

Luân hồi là giấc mộng ,
Sắc thân tựa cầu vồng .
Tham dục là tên độc ,
Cắm sâu da thịt người .
Mê loạn cho là thật ,
Như đóm giữa hư không ;
Tỉnh giấc tàn mộng ảo .

Truyền thuyết

Trong nhiều kiếp quá khứ , Anagapa đã tu hành từ bi và nhẫn nhục . Do vậy khi tái sinh vào kiếp này , ông có được thân tướng đẹp đẽ và trang nghiêm . Mỗi khi so sánh mình với kẻ khác , Anangapa thường tỏ ra rất tự mãn , cao ngạo . Một hôm , có nhà sư Du-già đến chỗ Anangapa để khất thực . Ông hoan hỷ ngỏ ý mời nhà sư lưu lại tư gia của ông ít hôm . Sư chấp nhận . Anangapa rửa chân cho Sư và chuẩn bị chỗ nghỉ ngơi đoạn cúng dường vật thực .

Sau đó , Anangapa hỏi : “ Cớ sao ngài tự đọa đày bản thân mình như thế ? ” . “Để tự mình giải thoát khỏi vòng sinh tử ” . “ Về cơ bản , có sự khác biệt nào về tính cách giữa ngài và tôi ? ” .

Nhà sư nói : “ Khác biệt rất lớn . Kiêu mạn là tính cách của hiền hữu . Lòng kiêu hãnh không có năng lực sáng tạo . Tín trí là tính cách của tôi và niềm xác tín mới có thể tạo ra năng lực vô tận ” . “ Năng lực gì thưa đại sư ? ” . “ Trước hết là năng lực tu tập Phật pháp để hóa giải những phiền não trong cõi luân hồi . Nhưng rốt ráo hơn cả là năng lực thành Phật dựa trên căn bản tín trí ” .

“ Kẻ phàm phu như tôi có thể đạt tới năng lực như thế không ? ” . “ Nghề nghiệp chuyên môn hiền hữu là gì ? ” . “ Tôi không có nghề nghiệp chuyên môn nào ” . “ Vậy hiền hữu có thể ngồi yên để tu tập thiền định chăng ? ” . “ Thưa đại sư , tôi nghĩ việc ấy có thừa khả năng ” .“ Lành thay ! ” . Sư liền truyền pháp thiền định Samvara cho Anangapa . Nhờ căn tính thuần thục nên chỉ sau 6 tháng tu tập   . Anangapa giác ngộ thấu đáo được chân lý .

———————————————–

Đại sư thứ 82: Laksminkara - Nàng công chúa điên loạn

 

Thứ nhất ,
Bậc trí giả tạo hình ảnh giác ngộ
Thứ hai ,
Bậc trí giả thiền định một cách kiên trì ;
Về tính rỗng không của các pháp .
Thứ ba ,
Bậc trí giả tự biết  phải làm những gì cần làm .

Truyền thuyết

Laksminkara là em gái của vua Indrabhuti thuộc vương quốc Sambhola . Từ bé,  vị công nương này vẫn thường đến dự các buổi thuyết pháp , và cô có tầm hiểu biết sâu rộng về Mật tông ( Tantra ) . Nhưng hoàng huynh của cô là đức vua Indrabhuti đã hứa gả cô cho hoàng tử xứ Jalendra , con vua Lankapuri .

Khi đến kỳ hạn rước dâu , cô phải rời quê hương để về nhà chồng . Nhưng khi đến nơi , cô từ chối không chịu vào hoàng cung . Cô nói : “ Hôm nay là ngày xấu , ta không thể nhập cung ” . Khi đi dạo quanh bên ngoài hoàng cung , Laksminkara cảm thấy thất vọng ghê gớm . Vì dân chúng xứ này không phải là tín đồ đạo Phật .

Liền sau đó , vị hoàng tử trẻ cùng đám tùy tùng đi ngang qua . Họ vừa trở về từ một cuộc săn bắn với nhiều xác thú treo lủng lẳng trên yên ngựa . Một người tùy tùng của Laksminkara dò hỏi và biết rằng vị hoàng tử vừa mới đi qua chính là chồng sắp cưói của cô . Là một Phật tử thuần thành , Laksminkara cảm thấy mình như một kẻ bị phản bội . Cô than khóc vật vã đến ngất xỉu : “ Anh ta cũng là con nhà Phật , vì sao lại gửi thân ta đến chốn ác trược này ! ” .

Khi Laksminkara hồi tỉnh , cô đem tất cả của hồi môn phân phát cho dân nghèo trong thành phố trước khi vào hoàng cung  . Vào đến nơi , cô tự giam mình trong căn phòng dành riêng cho cô dâu mới và từ chối không cho ai vào trong mười ngày . Laksminkara xé rách áo quần rồi lấy lọ nồi , bùn đất trét lên khắp người,  tóc để bù xù và giả vờ điên dại .

Với tướng mạo bề ngoài gớm ghiếc như một kẻ điên nhưng trong tâm Laksminkara vẫn luôn chú mục thiền định . Thất vọng , vị hôn phu của cô cho vời các ngự y đến để chữa trị, nhưng không một ai có thể đến gần được Laksminkara . Cô giả vờ giận dữ tấn công họ, ném vào họ bất cứ thứ gì mà cô vớ được .Rồi thời gian qua đi , người trong hoàng cung không còn quan tâm đến bà hoàng điên dại này nữa . Cơ hội thuận tiện để cho Laksminkara có thể trốn thoát đã đến . Bà nhanh chóng trốn khỏi hoàng cung .

Ban ngày , Laksminkara đi nhặt những thức ăn dư thừa vứt cho chó hoang . Ban đêm , bà ra chốn mộ địa để nghỉ ngơi . Bảy năm sau , Laksminkara chứng đắc Đại thủ ấn . Cô truyền tâm pháp cho một đệ tử . Người này chỉ là kẻ quét dọn các hố xí trong hoàng cung , nhưng ông ta nhanh chóng đạt tới mục đích tu tập .

Cho đến một ngày nọ , đức vua Jalendra trong một cuộc đi săn bị lạc lối . Ngài dừng chân để nghỉ ngơi nhưng ngủ quên trong cơn mệt mỏi . Khi vua tỉnh giấc thì bóng đêm đã buông xuống không thể tìm thấy lối về . Khi đi ngang qua hang động nơi vị nữ Du-già Laksminkara trú ngụ . Đức vua tò mò nhìn vào và thấy một vị nữ Du-già toàn thân phát sáng và chung quanh có vô số thiên nữ đứng hầu .

Một niềm ngưỡng mộ khởi lên trong tâm , ông không nghĩ đến chuyện tìm đường quay về hoàng cung nữa . Đức vua bước vào cung kính đảnh lễ trước vị Thánh nữ và xin nương theo giáo pháp của bà . Laksminkara bảo : “ Ngươi không nhất thiết phải trở thành môn đệ của ta . Chân sư đích thực của ngươi là một trong những người phụ trách quét dọn hố xí trong hoàng cung . Vị ấy là một bậc chứng đắc ” .

“ Trong hoàng cung có rất nhiều người làm công việc này.  Làm sao có thể nhận biết vị chân sư? ” . “ Vị ấy chính là người sau khi hoàn tất bổn phận của mình thường hay bố thí vật thực cho kẻ nghèo khó ” .

Theo lời chỉ dẫn đức vua tìm thấy vị Chân sư của mình . Ngài mời vị ấy đến bệ rồng và đặt lên ngai vàng . Cung kính đảnh lễ , cầu xin được truyền pháp . Vua được làm phép quán đảnh để khai tâm và lãnh thọ pháp thiền định Kim Cương Varahi .

———————————————–

Đại sư thứ 83: Samudra - Thợ mò ngọc trai

 

Nhận ra cái “ không sinh ” ,
Mà không trải qua tu tập .
Nhà Du-già kia là kẻ ăn thịt đồng loại ,
Với đứa bé ẵm trên tay .
Nếu pháp thiền định của y ,
Lìa bản chất của chính mình ;
Khác nào con voi kia kẹt dưới vũng lầy .

Truyền thuyết

Samudra làm nghề thợ lặn ở Sarvatira . Thường ngày , ông dong thuyền ra tận khơi xa , lặn sâu xuống đáy đại dương để mò trai lấy ngọc rồi đem ra chợ bán . Một bữa nọ , sau một ngày ngâm mình dưới làn nước sâu lạnh lẽo , Samudra không tìm được một viên ngọc trai nào . Nên đi thơ thẩn đến nơi mộ địa , lòng buồn bực và than thầm cho số phận

Đại sư Acintapa thấy người thợ lặn đang buồn rầu nên an ủi ông ta : “ Tất cả chúng sinh đều bị chi phối bởi luật nhân quả . Kiếp trước gieo hạt giống gì , kiếp này hưởng trái ấy . Thế hãy cam chịu ! ” . Nhưng Samudra nài nỉ :  “ Thưa thầy ! . Cầu mong thầy rủ lòng từ bi chỉ cho lối thoát ra khỏi tình cảnh này ” . Sư giảng giải cho Samudra về Bốn tâm vô lượngBốn sự an lạc :

Lòng từ bi che chắn tám gió ,
Vui hòa hợp khiến tâm thanh thản .
Lưu xuất một luồng an lạc ;
Bốn niềm vui tụ ở bốn luân xa .
Quán “ không tính ” chẳng rời an lạc ,
Thì khổ đau không thể đến gần .

Samudrahiểu được yếu lý và thiền định trong 3 năm thì đắc Đại thủ ấn .
———————————————–

Đại sư thứ 84: Vyalipa - Nhà luyện kim thuật

 

Hình ảnh của thực thể rốt ráo ,
Là hình ảnh Chân sư .
Có quyền năng vô song ,
Nơi tịch tĩnh nhất để ngắm nhìn không tính .
Hòa hợp trọn vẹn là nhận bản chất của sự chứng đắc ,
Khi nốc một hơi cạn hết sữa trời
Có nghĩa bạn đang tồn tại đấy .

Truyền thuyết

Người bà-la-môn giàu Vyalipa . Nuôi ước vọng được trường sinh bất tử . Một hôm , ông mua lượng thủy ngân rất lớn . Đoạn thêm các dược thảo vào thủy ngân để nấu thành một thứ cao đặc sệt . Nhưng còn thiếu một loại dược liệu nên thứ cao dang dở ấy không có công hiệu . Trong cơn giận dữ , ông ta ném quyển cẩm nang bào chế thuốc trường sinh xuống dòng sông Hằng .

Lúc bấy giờ , Vyalipa luyện tập pháp thiền định của đạo Bà-la-môn được 13 năm . Nên dương vật teo lại như chưa từng có . Ông sống như một kẻ hành khất lang thang khắp nơi . Một ngày nọ , ông thấy mình đang ở trong một ngôi làng bên bờ sông Hằng . Gần đấy là ngôi đền Ramacandra .

Tại đây , ông gặp một cô gái lầu xanh . Cô kỹ nữ này khoe với ông một quyển sách mà cô đã nhặt được khi đi tắm trên sông . Vyalipa cười ngất khi xem , vì đó chính là quyển sách trước đây ông đã ném xuống dòng sông Hằng . Xong ông kể lại mọi chuyện cho cô gái nghe .

Cô cảm thấy bị cuốn hút bởi ý tưởng được sống lâu , bèn có nhã ý tặng cho Vyalipa ba mươi lượng vàng để tiếp tục công việc điều chế thuốc . Bản thân Vyalipa vẫn còn hồ nghi và không dám tin rằng công việc nghiên cứu sẽ mang lại kết quả .  Nhưng cô gái tỏ ra hết sức khích lệ . Nên một lần nữa Vyalipa mua thủy ngân về để tiếp tục chế thuốc .

Sau một năm miệt mài làm việc , vẫn không có một dấu hiệu nào nói lên sự thành công . Vì còn thiếu loại đào hồng ( Myrobalan ) . Một hôm khi cô gái đi tắm về . Vô tình một cánh hoa bé tí ngẫu nhiên dính trên đầu ngón tay . Khi cô ta vẫy nhẹ , nó rơi vào bình thuốc của Vyalipa .

Lập tức có những dấu hiệu của sự thành công . Cô vội vàng báo cho Vyalipa . Ông lo ngại là bí mật này lộ ra ngoài , nhưng cô gái đoán chắc chưa hề để tiết lộ điều quan trọng này cho một ai . Đêm hôm ấy , cô gái rưới một ít cỏ chát ( Chiraita ) lên thức ăn của Vyalipa . Trước đây , Vyalipa không thể ăn được loại rau chát ngắt này . Nhưng giờ đây ông có thể thưởng thức một cách ngon lành .

Cô cho rằng đây là hiệu quả của tiên dược . Vyalipa giải thích :  “Dấu hiệu thành công căn bản của công phu điều chế tiên dược gồm có tám điềm lành . Được kết tụ thành hình tròn xoay chuyển từ trái sang phải và bay liệng trên không trung .  Những điềm lành ấy là : Một cái lọng quý , hai con cá vàng , một bình đựng ngọc , một đóa hoa Kamala , một tấm đệm trắng , một viên kim cương , một lá phướn và một luân xa có tám nan hoa . Vyalipa cùng cô gái và một con thỏ đồng uống tiên dược và cả ba trở nên bất tử .

Với tính ích kỷ , Vyalipa từ chối không cho ai khác biết đến công thức chế biến loại tiên dược này . Sau đó , họ lên các cõi Trời để trú ngụ , nhưng chư thiên xua đuổi không cho họ vào Thiên giới . Vì vậy họ đành phải quay về trần gian và sống tại xứ Kilampara . Tại đây họ dựng một ngôi nhà trên đỉnh núi đá cao chót vót , bao bọc xung quanh là một đầm lầy . Địa thế vô cùng hiểm trở nên không một ai có thể bén mảng đến nơi họ ở .

Khi ngài Arya Nagarjuna tức Bồ Tát Long Thụ đắc phép thần túc , ngài phát nguyện tìm cho ra phép luyện thuốc trường sinh đã thất truyền từ lâu tại đất Ấn . Ngài liền vận thần thông bay lên trên đỉnh núi đá , giấu bớt một chiếc giày rồi đến vái chào đạo sĩ Bà-la-môn Vyalipa . Vyalipa sững sờ vì sự xuất hiện của kẻ lạ .

Arya Nagarjuna nói với ông nhờ có chiếc giày mà ngài mới có thể đến được chốn này . Và đồng ý đánh đổi chiếc giày ấy để lấy công thức bào chế thuốc trường sinh . Sau cuộc trao đổi với Vyalipa , ngài Nagarjuna cũng truyền dạy pháp thiền định cho ông này để tu tập trở thành một nhà sư Du-già giải thoát . Còn ngài trở về Ấn độ với chiếc giày còn lại và ở trên vùng núi Sri Parvata tiếp tục tu tập cứu độ chúng sinh .