Phật học phổ thông (TL)

Download ebook Mục lục

Bài I-1 LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI

-HT. Thích Thiện Bình-

 

I- Dẫn nhập:

Các tôn giáo có mặt trên thế giới đều có Giáo chủ. Giáo chủ của đạo Phật là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chúng ta là Phật tử đi theo con đường Ngài đã đi, phải hiểu rõ cuộc đời, sự tu học của Ngài để thực hiện.

II- Bối cảnh Ấn độ trước khi Phật Đản sanh:

Bị đô hộ bởi người A-Ly-A (Aryan) từ Trung Á tràn sang Ba Tư xuống Bắc Ấn Độ (có thuyết từ vùng Coucase) chinh phục và thống trị thổ dân Ấn độ là Bạc-La-Tỳ-Đồ (Dravida).

Dùng luật Mã-Nổ (Manu) để cai trị lãnh thổ Ấn độ phân làm 05 vùng và dân chúng chia làm 04 giai cấp: Giáo sĩ Bà-La-Môn (Bràhaman), Sát-Đế-Lợi (Ksatriya), Phệ-Xá (Vaisya) và Thủ-Đà-La (Sùdra).

Sự độc quyền áp bức của hàng giáo sĩ Bà-La-Môn và độc quyền chính trị của giai cấp Sát-Đế-Lợi. Họ được hưởng quyền thế tập, toàn quyền sanh sát đối với nhân dân, xem lãnh thổ cai trị như tư hữu riêng của họ.

Nhân dân cầu nguyện và ước vọng có được một cuộc sống mới an cư lạc nghiệp.

III- Sự ra đời khác biệt của chúng sanh và chư Phật:

Chúng sanh ra đời là “đầu thai”. Đầu thai là do nghiệp báo thiện hay ác bắt buộc luân hồi để chịu quả báo lành hay dữ.

Chư Phật Đản sanh (sự ra đời vui vẻ, hân hoan, sáng rạng cho cõi đời), Thị hiện (hiện rõ nguyên hình mọi người có thể thấy được), Giáng sinh (từ chỗ cao xuống chỗ thấp sinh ra). Giáng sinh hay Thị hiện là vì lòng từ và lợi ích của chúng sanh nên tự nguyện ứng thân xuất hiện cứu độ chúng sanh tự tại vô ngại không bị nghiệp nhân câu thúc.

IV- Ngày và nơi Giáng sinh của Đức Phật:

Ngài sinh vào ngày 15-04 năm 623 TCN tại vườn Lâm-Tỳ-Ni (Lumbini) gần thành Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilavsu) vùng biên giới giữa Népal và Ấn Độ.

V- Thân thế và tên họ của Ngài:

Ngài thuộc dòng dõi Thích Ca (Sakya). Thân phụ là quốc vương Tịnh Phạn (Suddhodana), mẹ là hoàng hậu Ma Da (Màya). Quốc vương trị vì một vương quốc ở ven sườn Hy-Mã-Lạp-Sơn (Hymalaya) phía Đông Bắc Ấn độ. Tên ngài là Sĩ-Đạt-Ta (Tất-Đạt-Đa). Họ là Gotama (Cồ Đàm) thuộc bộ lạc Sakya (Thích Ca).

VI- Đời sống của Thái tử trước khi xuất gia:

Đời sống và giáo dục của Thái tử:

Thái tử được dạy dỗ và nuôi nấng một cách toàn diện về cả hai lãnh vực văn chương và võ thuật. Từ 7 đến 12 tuổi học thông cả 5 môn: Thanh minh (ngôn ngữ văn học); Công xảo minh (công kỹ nghệ học); Y phương minh (y học); Nhân minh (lý luận học); Nội minh (đạo học) và 04 Thánh điển Vệ-Đà (Veda): Câu-Ly-Phệ-Đà (Rigveda); Tha-Mã-Phệ-Đà (Sama-veda); Dạ-Nhu-Phệ-Đà (Yadurveda); A-Thánh-Bà-Phệ-Đà (Atharvaveda), làm cho hai vị danh sư nổi tiếng: Sằn-Đề-Đề-Bà (Ksomtídiva) và Tỳ-Sa-Mật-Đa-Ta (Visvàmiatra) phải thán phục.

Tiếp xúc nỗi đau nhân thế:

Khi Ngài ra ngoài 04 cửa thành, tiếp xúc: - Một cụ già chân mỏi, gối chùn - Một người bệnh hoạn quằn quại - Một thây ma hôi thối – Một đạo sĩ ly dục nghiêm trang. Nhận chân các cảnh trên Thái tử quyết tìm con đường dẫn tới Giác Ngộ, khắc phục mọi khổ đau của cuộc đời và hướng đến an lạc.

Bài I-2 LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI (Tiếp theo)

 

VII- Xuất gia và học đạo:

Qua những cảnh bất công và đau khổ Thái tử đã mục kích, lòng thương chúng sanh đang chìm đắm trong bể khổ thôi thúc Thái tử đi tìm con đường giải thoát. Đêm mồng 8 tháng 2, sau bữa tiệc Thái tử đến phòng thăm Da-Du-Đà-La (Yasodharà) và La-Hầu-La (Rahula), thấy vợ con đang yên giấc, người nhìn lần cuối từ biệt. Thái tử gọi nô bộc Xa-Nặc (Channa) dắt tuấn mã Kiền Trắc (Kanthaka) vượt thành ra đi. Năm ấy Thái tử vừa tròn 19 tuổi.

- Trao y phục và trang sức lại gia đình:

Đến bờ sông A-Nô-Ma (Anomà), Thái tử giao ngựa Kiền trắc cho Xa Nặc, cạo bỏ râu tóc, trao y phục và đồ trang sức nhờ Xa-Nặc trở về cung tạ lỗi với Phụ hoàng. Người xin thực hiện sự xuất gia học đạo.

- Học đạo với A-La-Ra Ka-La-Ma (A-La-Lam):

Gặp đạo sĩ A-La-Lam, Thái tử rất hoan hỷ vì đây là một vị Bà-La-Môn học rộng hiểu sâu, tận tình giải bày nhưng đích của ông chỉ đến cấp Thiền vô sở hữu xứ, còn trong tam giới, chưa thật giải thoát.

- Học đạo với Uất-Đầu-Lam-Phat (Uddaka Ràmputtà) :

Thái tử tìm đến vị đạo sĩ lừng danh là Uất-Đầu-Lam-Phất, ông này tuy có kiến thức sâu rộng hơn nhưng hướng tu không khác nhau, chỉ chứng được cấp Phi tưởng xứ thuộc Vô sắc giới.

- Tu khổ hạnh 6 năm:

Sau khi từ giã vị đạo sĩ, Thái tử đi vào rừng khổ hạnh ở thôn Ưu-Lâu-Tần-Loa (Uravelà), nước Ma-Kiệt-Đà (Magadha) cùng 5 người bạn: Kiều-Trần-Như, Bạt -Đề, Đề-Bà, Ma-Ha-Nam, Ác-Bệ cùng tu khổ hạnh trải qua thời gian 6 năm. Thái tử nhận thức: Chân lý tối hậu giải thoát an lạc không phải qua môn hành xác, không thể dựa vào một tha lực nào khác mà được thể hiện chính trong nội tâm của mỗi người.

- Tự chọn hướng tu:

Thái tử nhận thức rằng muốn tìm con đường giác ngộ, không thể với một tâm hồn bì quyện, một thân xác tiều tụy mà phải với một tâm hồn minh mẫn trong một thân thể khỏe mạnh. Thái tử đã nhận bát sữa cúng dường của thôn nữ Su-Dà-Đa (Sujàta), xuống tắm tại dòng sông Ni-Liên-Thiền (Neranjrà), rồi đến ngồi dưới cây Tất-Bát-La (Pipala) chánh niệm tỉnh giác.

VIII- Thành đạo:

Sau 49 ngày tịnh tâm, Thái tử đã thắng được cả giặc ở nội tâm lẫn ngoại cảnh, tâm trí được khai thông, Ngài hốt nhiên đại ngộ.

Trong đêm thứ 49, vào lúc canh hai, Ngài chứng quả “Túc Mệnh Minh, thấy rõ được tất cả khoảng thời gian quá khứ của mình trong tam giới.

Nửa đêm chứng quả Thiên Nhãn Minh”, thấy được tất cả bản thể của vũ trụ và nguyên nhân cấu tạo của nó.

Đến canh tư, Ngài chứng quả Lậu Tận Minh”, biết rõ nguồn gốc của khổ đau và phương pháp dứt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Ngài đã đạt được đạo “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”, cũng gọi là Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngày Thành đạo: mồng 8 tháng 12 âm lịch.

Bài I-3 LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI (Tiếp theo)

 

IX- Đức Phật giáo hóa (chuyển pháp luân):

Sau những suy tư, Ngài quyết định truyền bá giáo lý cứu khổ cho thế gian.

Đức Phật nghĩ đến hai vị đạo sĩ đã tận tình hướng dẫn sự tu chứng của mình là Alara Kalama và Uddaka Ràmputtà, nhưng với thiên nhãn Ngài thấy hai vị ấy đã qua đời.

Đức Phật đến vườn Nai (Lộc Uyển) gần thành Bénares (Ba-La-Nại) hóa độ cho năm người trước đây đồng tu tại khổ hạnh lâm: Kiều-Trần-Như, Bạt-Đề, Đề-Bà, Ma-Ha-Nam,Ác-Bệ.

Bài thuyết pháp đầu tiên là Tứ Đế, Đức Phật khuyên các vị tu sĩ trong khi tu hành không nên mắc vào hai cực đoan:

- Không nên đam mê vào thú vui nhục dục của thế gian. Vì đó là cái tầm thường, nhất thời, ngăn cản mọi sự tiến bộ tâm linh.

- Không nên khổ hạnh ép xác, vì nó làm mệt mỏi tâm thần, mê mờ trí tuệ, tổn hại bản thân.

Đức Phật dạy nên đi theo con đường trung đạo, dẫn đến cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt, giải thoát.

  1. Bốn chân lý cao cả (Tứ Đế):
  2. Chân lý về sự khổ (Khổ Đế): Mọi người sanh ra không ai thoát khỏi khổ đau: Sanh, già, bệnh, chết, các tai ương hỏa, thủy, phong oán cừu gặp nhau…
  3. Chân lý về nguyên nhân của khổ (Tập Đế): Tất cả nguyên nhân bắt nguồn từ tham, sân, si tích luỹ qua nhiều đời, nhiều kiếp mà thành.
  4. Chân lý về sự diệt khổ (Diệt đế): Muốn được cảnh giới tịch diệt phải tu đạo giải trừ tham, sân, si.
  5. Chân lý về con đường diệt khổ (Đạo đế): Đi theo con đường Bát chánh, tu tập Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần.v.v...

Đức Phật dạy: nếu thấu hiểu Bốn Thánh Đế một cách rốt ráo mới giải thoát.

  1. Tám con đường chánh:
  2. Chánh kiến: Thấy biết chân chánh, chính xác.
  3. Chánh tư duy: Suy nghĩ chân chánh, tư duy chân chánh.
  4. Chánh ngữ: Nói năng chân chánh, không nói lời độc ác, chia rẽ vô nghĩa.
  5. Chánh nghiệp: Việc làm phải chánh đáng, không làm những việc hại người, hại mình.
  6. Chánh mạng: Sinh sống với những nghề chơn chánh, không làm những nghề bất lương, lừa đảo…
  7. Chánh tinh tấn: Siêng năng chân chánh, diệt bỏ những điều bất thiện, làm những điều lành.
  8. Chánh niệm: Nhớ nghĩ chân chánh, không nghĩ điều tà vạy, mê lầm.
  9. Chánh định: Tập trung tư tưởng chân chánh, không để tư tưởng tán loạn, chạy theo dục vọng.

X- Hóa độ vị xuất gia đầu tiên Da-Xá (Yasas):

Da-Xá là con trai của một triệu phú gần thành Ba-La-Nại, chán cuộc đời đầy xa hoa, phú quý tầm thường ở đời. Da-Xá tìm đến Đức Phật nghe thuyết Bát chánh đạo, Tứ đế… thấu đạt đạo lý liền xin Phật xuất gia. Đây là đệ tử xuất gia đầu tiên.

XI- Hóa độ thiện nam, tín nữ đầu tiên:

Câu-Lê-Da - thân phụ của Da-Xá đi tìm con, khi đến vườn Nai nghe pháp, nghe đức Phật dạy về công đức trì giới, bố thí liền phát tâm quy y làm đệ tử tại gia. Hôm sau, Câu-Lê-Da thỉnh Phật và 6 vị đệ tử về nhà cúng dường, vợ Câu-Lê-Da thấy Phật tướng hảo trang nghiêm, noi gương chồng xin Phật quy y. Đây là vị đệ tử nữ đầu tiên. Lúc bấy giờ, bạn bè, nam nữ gồm 50 vị xin quy y Phật.

Bài I-4 LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI (Tiếp theo)

 

XII- Hóa độ ba anh em ông Ca-Diếp:

Trong khu vực Ưu-Lâu-Tần-Loa (Uruvela) nơi Đức Phật giáo hoá, có ba anh em ông Ca-Diếp: Ưu-Lâu-Tần-Loa Ca-Diếp (Uruvels Kassapa), Na-Đề Ca-Diếp (Nadi Kassapa) và Dà-Da Ca-Diếp (Gaya Kassapa) theo đạo Bái Hỏa (thờ thần lửa) có hàng ngàn đệ tử. Phật quyết đưa họ về nẻo chánh nên lập tâm nhiếp phục. Nhận thức được chánh lý ba anh em và các đệ tử đều quy y Phật.

XIII- Thâu nhận Xá-Lợi-Phất (Sariputà) và Mục-Kiền-Liên (Mogallàna):

Sariputà là một chàng trai thông minh thuộc gia đình quyền quý ở làng Upatissa kết bạn thân với Mogallàna ở làng Kolita. Hai người thường luận bàn cuộc sống và đồng nhận thức thú vui vật chất chỉ là tạm bợ, vô vị. Hai vị quyết xa gia đình tìm đạo lý, sau khi tiếp xúc với các vị danh sư nhưng không thỏa mãn, nên chia tay và hẹn nếu ai tìm được con đường đạo sẽ báo cho nhau. Sariputà được Sa môn Ác-Bệ (Assaji) hướng dẫn tóm tắt giáo lý qua bài kệ đã học từ Đức Thế Tôn: “Các pháp do nhân duyên sanh, duyên ấy Như lai đã chỉ rõ và phương pháp chấm dứt”. Là người thông tuệ nên Ngài đã thấu triệt chân lý, theo lời giao hẹn để cùng Mogallàna đến xin làm đệ tử Phật. Hai vị đều chứng quả A-La-Hán và trở thành thượng thủ trong Tăng đoàn.

XIV- Quy y cho vua Tần-Bà Sa-La:

Vua Tần-Bà Sa-La nước Ma-Kiệt-Đà trước đây đã tha thiết yêu cầu Thái tử Tất-Đạt-Đa ở lại cùng nhau trị dân, nhưng Thái tử không nhận, chỉ tìm đạo giải thoát là mục đích chính. Vì vậy, Vua Tần-Bà Sa-La nói: Nếu tìm được đạo giải thoát nhớ đến hóa độ cho nhà vua. Do đó đức Phật trở lại Ma-Kiệt-Đà để hoá độ cho nhà vua.

XV- Quy y cho vua Ba-Tư-Nặc:

Vua Ba-Tư-Nặc nước Xá-Vệ nghe nhân dân bàn tán nên đã cùng bá quan đến Kỳ-Viên yết kiến Phật. Ông là người cống cao ngã mạn nên khi gặp Phật đã tỏ ý khinh thị. Những người tu hành xưa nay phải khổ hạnh trong rừng sâu, tóc bạc, răng rụng, nhiều người chưa chứng được quả, Ngài đã chứng rồi sao?

- Thưa Đại vương! Nhiều người xưa nay với thói quen hay khinh thị, miệt thị tuổi trẻ. Đại vương nên biết thế gian có 04 điều không thể khinh thị: Vương tử hài nhi - Rồng con mới đẻ - Tàn lửa cỏn con - Tu sĩ thiếu niên.

Vua Ba-Tư-Nặc nghe Phật giảng dạy, thấu đạt đạo lý, xin phát nguyện quy y, sau trở thành một trong các đệ tử hộ pháp đắc lực.

XVI- Phật giáo hóa vua Tịnh-Phạn và các Vương tử:

Vua Tịnh-Phạn thất vọng trước sự trở về của Thái tử Tất-Đạt-Đa với bình bát và đoàn tùy tùng xin ăn khắp xóm, cả những nhà ty tiện Thủ-Đà-La. Tịnh-Phạn vương đến bảo: “Con mau lên xe nhập cung”.

Đức Phật từ chối: “Bần đạo không còn là Thái tử Tất-Đạt-Đa. Xin ngài để bần đạo theo nề nếp tổ truyền, thừa kế pháp tông của chư Phật”.

Vua Tịnh Phạn: “Tổ truyền của người là làm vua trong cung cấm. Tổ tiên của người đâu có đi lang thang khất thực đầu đường cuối ngõ như vậy”.

Sau những sự giảng dạy của Đức Phật, Tịnh-Phạn vương thấu đạt tình lý nên dắt tay nhau cùng các Vương tử về vương cung. Đức Phật giảng dạy cho mọi người nghe lý do Ngài xuất gia, cùng việc làm của Ngài và chúng Tăng.

Tịnh-Phạn vương, vương tộc và bá quan sau khi lãnh hội đều hoan hỷ, tán thán và phát nguyện xin quy y.

XVII- Các Tịnh xá đầu tiên:

Cảm mến đức độ của Phật và chư Tăng, để tránh bớt mưa nắng, Vua Tần-Bà Sa-La cho xây Tịnh xá trong vườn Trúc-Ca-Đà cạnh thủ đô Vương-Xá lấy tên là “Trúc Lâm Tịnh Xá” thỉnh Phật và chúng Tăng về thường trú tại đó.

Trưởng giả Cấp-Cô-Độc được sự hoan hỷ phát tâm của Thái tử Kỳ-Đà nên xây dựng một Tịnh xá tại nước Kiều-Tất-La, thủ đô Xá-Vệ trong vườn rộng rãi, phong cảnh kỳ thú của Thái tử Kỳ-Đà nên gọi là Tịnh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên, gọi tắt là Tịnh xá Kỳ viên.

Từ nay, nhân dân và ngoại đạo thường đến hai tịnh xá này học, chất vấn nên trở thành trung tâm truyền bá của Phật Giáo lúc bấy giờ.

XVIII- Vị Tỳ kheo ni đầu tiên:

Một hôm, bà Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề dẫn 500 phụ nữ trong dòng họ đến rừng Ni-Câu-Đà, ngoài thành Ca-Tỳ-La cúng dường Phật và chúng Tăng. Phật tán thán sự bố thí của bà và các vị thí chủ. Nhân dịp này bà Ma-Ha xin phép được cùng 500 phụ nữ xuất gia thọ Cụ túc giới như phái nam. Ba lần cầu thỉnh, ba lần bị cự tuyệt. Với sự thỉnh cầu của Ngài A-Nan, về sau Đức Phật chế thêm một số giới luật cho phái nữ thọ trì Bát Kỉnh Pháp, chấp thuận cho bà Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề và các phụ nữ được xuất gia. Bà Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề trở thành vị Tỳ kheo ni đầu tiên trong hàng đệ tử xuất gia của Phật.

XIX- Đệ tử và lời giáo huấn cuối cùng:

Trên đường tiến về hướng Bắc, đến rừng Sa La Song Thọ ở thành Câu-Thi-La, đức Phật và A-Nan dừng chân lại nhà ông Thuần-Đà-Ma-Da (Cunda) thọ bát cháo nóng do Chiên-Đà-Nhỉ cúng dường (đệ tử của Thuần-Đà-Ma-Da). Sau đó Ngài tiếp tục hành hoá đến rừng Sa La Song Thọ.

Nghe tin Phật sắp nhập Niết bàn, vị Bà-La-Môn trên 100 tuổi đến xin Phật quy y. Phật chấp nhận và giảng Bát Chánh Đạo cùng Tam Pháp Ấn. Tu-Bạt-Đà-La liễu ngộ liền chứng đạo quả. Đây là vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật.

Trước khi thị hiện Niết bàn Đức Phật dạy: Các vị có gì chưa thấu đạt ta sẽ hướng dẫn không nên bi ai quyến luyến, hữu tình hữu tội là lẽ đương nhiên.

A-Nan bạch Phật: Sau khi Phật nhập Niết bàn chúng đệ tử sẽ nương tựa vào đâu? Đức Phật dạy rằng: “Pháp là vị Thầy của các ngươi. Hãy nên nương tựa vào Pháp”.

Bài I-5 Ý NGHĨA GIỚI LUẬT

 

Giới là một trong ba môn học: Giới, Định, Tuệ. Ba môn học này còn gọi là Tam vô lậu học. Ba môn học này có công năng đoạn trừ lậu hoặc, vượt khỏi sự trói buộc của ba cõi.

I- Ý nghĩa giới luật:

Thường chúng ta hiểu Giới là Luật, Luật là Giới. Nhưng Giới là Luật, Luật là Giới sao không gọi là Giới tạng mà chỉ gọi Luật tạng? Bởi Giới chưa hẳn có Luật mà Luật thì phải có Giới. Giới Luật y như một thang thuốc, Giới như vị thuốc còn Luật như thang thuốc. Có thang thuốc 5 vị, có thang thuốc 10 vị… Vậy theo ý nghĩa Giới Luật là gì?

- Chữ Luật có 4 tên gọi:

  1. 1. Tỳ-Ni hay Tỳ-Nại-Da, phiên âm từ chữ Vinaya dịch là Luật hay Điều phục. Điều phục những sai trái nơi thân, miệng, ý. Cũng có nghĩa là diệt, diệt trừ phiền não.
  2. Mộc-Xoa hay Ba-La-Đề-Mộc-Xoa, tiếng Phạn là Pràtimoksa dịch là Biệt giải thoát.
  3. Thi-La (Sila) dịch là Giới.
  4. Ưu-Ba-La-Xoa (Uparakasa) dịch là Luật.

- Trong Luật tạng cũng có định nghĩa:

Giới: Là phòng phi chỉ ác (ngừa điều quấy, dứt điều ác).

Luật: Xử, đoán, khinh, trọng, khai, giá, trì, phạm.

Nói cách khác, Giới là những điều ngăn ngừa những hành động sai trái, dứt trừ mọi xấu ác. Luật là những pháp luật nguyên tắc mà chúng ta noi theo để chỉnh đốn các hành vi, lời nói cho đúng với khuôn phép, phân xử tội nào nặng, tội nào nhẹ, thế nào là phạm, thế nào là không phạm.

Chữ Giới còn có nghĩa là Biệt giải thoát hay Xứ xứ giải thoát (giải thoát riêng từng phần), tức là giữ giới nào giải thoát giới ấy. Nó còn có nghĩa là trói buộc các hành động của thân khẩu không cho rơi vào đường ác.

II- Thời gian và lý do Phật chế giới:

Theo Luật tạng, đến năm thứ 13 sau ngày thành đạo, giới luật mới được Đức Phật chế định.

Vì sao giới luật không được chế định ngay từ khi Phật thiết lập Tăng đoàn?

Theo truyền thống chư Phật, các Đức Thế Tôn chỉ thiết lập các giới điều khi nào thấy cần thiết, tức khi có hiện tượng vi phạm gây nên ảnh hưởng không tốt cho sinh hoạt của Tăng đoàn thì Phật mới kiết giới, chế định một giới điều để ngăn ngừa hiện tượng xấu ấy không còn xảy ra về sau.

Cũng vậy, trong những năm đầu chư Tỳ kheo sinh hoạt thanh tịnh trong khuôn khổ của chánh pháp, nên Phật không đề cập đến giới bổn mà chỉ dạy dưới hình thức đơn giản và tổng quát nhằm mục đích hộ trì các căn như về chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng… Mãi đến năm 13, sau khi Phật thành đạo, Tăng đoàn lúc bấy giờ đông đảo, khó tránh khỏi sự sinh hoạt vượt ra ngoài đời sống phạm hạnh, do đó Phật mới chế định giới điều.

III- Mục đích Phật chế giới:

Phật nói ra điều gì cũng nhằm vào sự an lạc, giải thoát cho hàng đệ tử, không bao giờ Phật nói điều gì không có ích, dù đó là một sự thật. Do vậy, giới luật Phật chế định cũng nhằm vào 10 lợi ích sau đây:

  1. Nhiếp thủ ư tăng: Ai thọ trì giới pháp của Phật thì người đó gọi là Tăng.
  2. Linh tăng hoan hỷ: Nhờ có giới pháp mà chư Tăng tu hành nghiêm túc, sống đời phạm hạnh, tránh mọi tội lỗi, nhờ đó khiến chư Tăng hoan hỷ.
  3. Linh tăng an ổn: Nhờ có giới pháp mà Tăng được an ổn. Trong Tăng đoàn, ai ai cũng giữ giới thanh tịnh, an lạc thì thành một đoàn thể thanh tịnh, an lạc.
  4. Linh vị tín giả tín: Khiến người chưa có lòng tin phát khởi lòng tin. Tăng già là hình ảnh của Đức Phật tại thế gian. Tăng có trang nghiêm thanh tịnh thì mới thành Tăng Bảo, mà Tăng trở thành Tăng Bảo thì bấy giờ Tăng mới là chỗ quy ngưỡng của tín đồ, làm phát lòng tin cho tín đồ.
  5. Dĩ tín giả linh tăng trưởng: Khiến cho người có lòng tin càng tin hơn. Một vị Tăng có đầy đủ phạm hạnh sẽ làm phát khởi lòng tin, mà đã tin rồi thì lòng tin càng kiên cố hơn.
  6. Nan điều giả linh điều: Người khó điều phục được điều phục. Giới luật là cây thước để đo hành động, lời nói của mọi người, nhờ giới luật mà trị phạt những hạng khó điều phục, mặc tẩn những kẻ ương ngạnh, ngoan cố.
  7. Linh tàm quý giả đắc an lạc: Khiến người có tàm quý được an vui. Người trì giới dù phạm một loại nhỏ cũng sanh lòng sợ hãi, đó là người biết tàm quý. Người có tàm quý là người được an lạc và cũng là niềm an lạc cho cả chúng.
  8. Đoạn hiện tại hữu lậu: Nhờ giới mà đoạn trừ được hữu lậu ở hiện tại.
  9. Đoạn vị lai hữu lậu: Giữ giới trừ được hữu lậu hôm nay mà cũng trừ được phiền não cho ngày mai bởi phiền não ngày nay là mầm móng cho ngày sau.
  10. Linh chánh pháp cữu trụ: Khiến cho chánh pháp tồn tại lâu dài ở thế gian.

Nếu không có giới luật thì Tăng già không thành Tăng già, cư sĩ không thành cư sĩ, mà đã như thế thì không có người truyền trì, mạng mạch đạo pháp làm sao tồn tại ở thế gian, vì “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp”.

  1. Nội dung các loại giới:

Có nhiều hình thức phân loại giới, ở đây chia làm 2 loại: Biệt Giới Thông giới.

Biệt giới là giới của hàng xuất gia, giới của hàng Thanh Văn. Tỳ kheo 250 giới, Tỳ kheo ni 350 giới, Sa di 10 giới, Sa di ni 10 giới, Thức xoa 6 giới, Cư sĩ 5 giới.

Thông giới tức là Bồ Tát giới. Ai thọ cũng được: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức xoa, Cư sĩ, Trời, Rồng…đều được thọ. Miễn là người thọ giới hiểu và nghe được vị thầy truyền giới, không kể kẻ tật nguyền, thân căn không đủ cũng được thọ gọi là Thông giới. Giới này từ khi thọ cho đến khi thành Phật không mất, miễn đừng làm mất tâm Bồ đề. Còn Biệt giới chỉ tận hình thọ, khi chết hoặc thay đổi giới tánh thì mất giới.

V- Tính chất và nền tảng:

Cứ theo từng giới cấm một, cũng như toàn thể giới bổn đặc biệt là 10 giới chung căn bản cho người tại gia và xuất gia liên hệ đến thân, khẩu, ý. Chúng ta có thể tìm ra tính chất và nền tảng của giới.

Ở đây đơn cử giới sát, căn bản của giới này là không giết người, thứ đến là không giết hại các loài sinh vật khác. Khi giữ Giới này thì ngăn ngừa được sân tâm, nuôi dưỡng từ tâm, khiến cho tâm được an tịnh, an lạc ngay trong hiện tại; từ đây người giữ giới không tạo các nghiệp ác để tránh thọ quả báo khổ trong tương lai. Về phần chúng sanh khác khi mình giữ giới không sát sanh thì đời sống của chúng được bảo đảm an toàn …Kết quả việc giữ giới, tính chất của nó đem lại an lạc cho mình và cho người, điều hòa được tập thể, tạo được lòng tin cho kẻ khác, đem lại an lạc và giải thoát cho tự thân người giữ Giới, ấy là trí tuệ, đem lại an lạc cho tha nhân ấy là từ bi. Trí tuệ và từ bi là nền tảng mà trên đó giới được kiết tập.

Hướng đi của Giới là đem lại lợi ích an lạc cho mình và cho người. Giới là bảo vệ, giới giúp người tu hành thân tâm an lạc trong từng bước đi. Giới đúng nghĩa của nó không có ý nghĩa nào trói buộc cả. Ngoài một số hành động nếu làm hẳn nhiên phá đổ hạnh thanh tịnh nên tuyệt đối bị cấm. Ngoài ra các sinh hoạt khác của người tu tập giải thoát đều được tùy duyên khai mở.

Như vậy giới luật trong Phật pháp không mang tính cố chấp mà ý nghĩa tự nguyện, thiết thực đem lại lợi lạc cho mình và cho người nhằm nuôi dưỡng tín tâm cho mình và cho người.

(Tài liệu học tập cho lớp Phật pháp cư sĩ áo lam TP. Nha trang soạn theo “Cương Yếu Giới Luật” của HT. Thích Thiện Siêu)

Bài I-6 NGŨ GIỚI

-Thích Huệ Giáo-

Để trở thành một người Phật tử, việc phát nguyện Quy Y Tam Bảo và giữ gìn Ngũ Giới là việc làm đầu tiên. Do đó, chúng ta cần phải học để hiểu, để thực hành hầu mang lại nhiều lợi lạc cho chính chúng ta, gia đình và khả dĩ kiến tạo một xã hội tốt đẹp.

I- Ngũ giới

Ngũ Giới là năm điều răn cấm mà Đức Phật đã chế ra dành cho Phật tử tại gia, là nền tảng để bước lên những giới pháp rộng lớn hơn. Ý nghĩa của năm giới, Đức Phật đề ra mục đích giúp cho người con Phật ngăn ngừa những ý tưởng xấu ác, những hành động bất chánh và những lời nói thiếu cẩn trọng hại mình hại người.

Giới nhà Phật mục đích khiến mỗi người tự hoàn thiện lấy mình và hướng tới một con người toàn diện, chân - thiện - mỹ. Giới nhà Phật không phải là sự bắt buộc, áp đặt vào một ai mà chính là sự tự nguyện của mỗi người. Đức Phật không phải là một vị thần linh tối cao, cũng chẳng phải là vị quan tòa cầm cân nảy mực mang tích chất thưởng phạt. Đức Phật chỉ là một vị Thầy dẫn đườngcho chúng ta thấy đâu là con đường trong sáng, cao thượng cần phải đi và đâu là con đường tối tăm cần phải tránh.

Năm giới chính là thành trì để ngăn chặn ba nghiệp thân, miệng, ý của chúng ta. Sống và thực hành giữ gìn năm giới này chúng ta không rơi xuống vực sâu của tội lỗi, nghiệp chướng. Do đó, giới mang một tinh thần đặc biệt; người mà giữ được giới nào thì có an lạc và giải thoát ở giới đó. Càng khép mình trong nhiều giới thì chúng ta càng không gây những nghiệp nhân cũng như nhận lấy những nghiệp quả, có một đời sống thật trong sáng, không sợ hãi. Năm điều ấy là:

  1. Không được giết hại.
  2. Không được trộm cắp.
  3. Không được tà dâm.
  4. Không được nói dối.
  5. Không được uống rượu.

II- Năm giới:

  1. Không được giết hại: Phật khuyên chúng ta không được giết hại sinh mạng từ loài nhỏ cho đến loài lớn, từ loài người đến loài vật. Vì rằng, chúng sanh ai cũng tham sống sợ chết. Sinh mạng có giá trị cao quý, phải được tôn trọng. Giết loài vật để phục vụ cho loài người là điều không thích hợp.

Đạo Phật cấm giết hại với nhiều lý do sau:

  1. Tôn trọng sự sống, sự cân bằng của loài khác: Sinh mạng là báu vật tuyệt đối mà tất cả chúng ta ai cũng muốn gìn giữ. Quý trọng sinh mạng mình lại muốn chà đạp lên sinh mạng người khác là điều vô lý. Đức Phật dạy: “…ai cũng sợ chết. Vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết”.
  2. Nuôi dưỡng lòng từ: Lòng từ bi của Đức Phật xem tất cả mọi loài như con, ai cũng có nỗi khổ và có quyền hạnh phúc. Học đức tánh từ bi của Ngài, là người Phật tử chúng ta không nên giết hại sinh vật bất cứ trong trường hợp nào. Vì lòng từ bi chúng ta không nỡ thấy con vật đau đớn, nghe tiếng kêu la khổ sở. Do đó, chúng ta không nỡ ăn thịt, không nỡ giết hại.
  3. Tránh nhân quả báo ứng: Để tránh nhân sát hại cũng như nhận lãnh quả báo giết hại. Chúng ta thực hiện không giết hại sẽ có lợi ích sau:

* Phương diện cá nhân: Không sát hại, không mang tâm tàn sát lẫn nhau thì chúng ta có được tâm thái không sợ sệt, hối hận, ngủ được yên giấc, nhẹ nhàng.

* Phương diện xã hội: Người người không giết hại nhau, nhà nhà không giết hại nhau, xã hội không có chiến tranh, thế giới hoà bình, an lạc.

  1. Không được trộm cắp: Trộm cắp là lấy những vật thuộc sở hữu người khác không được phép, không ưng thuận của người có vật đó, hoặc cưỡng ép, bức bách hay lừa đảo họ để lấy.

Vì những lý do sau Đức Phật cấm đệ tử của Ngài không được trộm cắp:

  1. Tôn trọng sự công bằng - quyền sở hữu: Chúng ta không muốn ai lấy những gì thuộc về mình. Do đó, mang tâm lấy của người khác là một điều nghịch lý. Một xã hội văn minh, con người có tri thức thì không thể tồn tại những nghịch lý này. Xã hội thiếu công bằng, tôn trọng thì dễ dàng dẫn tới một xã hội luôn hiện hữu chiến tranh và cấu xé lẫn nhau.
  2. Vì lòng từ bi: Chúng ta sẽ đau khổ khi mất mát tiền bạc, của cải, vậy người khác cũng thế. Vì lòng thương yêu chúng ta không làm việc này.
  3. Tránh nghiệp quả: Lấy của người khác là một hành động xấu - lòng tham ít được con người chấp nhận - lấy những vật ít giá trị thì trở thành bất tín, vật lớn thì bị tù đày. Người giữ được giới này thì dĩ nhiên không rơi vào những trường hợp trên và không bị khinh thường, tương lai không bị sụp đổ bởi tiếng xấu.
  4. Xây dựng xã hội thanh bình: Nếu con người sống trong xã hội ý thức và giữ gìn giới này chắc chắn có một xã hội mà ở đó con người không lo âu, phập phòng trong đời sống bởi sự mất mát, không có kẻ nhìn ngó đến tài sản của mình.
  5. Không được tà dâm: Tà dâm là muốn nói sự dâm dục không đoan chính. Khởi tâm dâm dục với vợ (hoặc chồng) người, lén lút lang chạ với người khác gọi là tà.

Phật cấm hàng cư sĩ tại gia không được tà dâm với mục đích để tôn trọng hạnh phúc của mọi người, bảo vệ hạnh phúc gia đình mình và gia đình người khác. Tránh oán thù và gieo quả báo xấu xa, đen tối.

  1. Phương diện cá nhân: Lợi ích của việc giữ giới thứ ba được diễn tả trong kinh Thập Thiện như sau:

- Sáu căn được vẹn toàn.

- Trọn đời được kính trọng.

- Không có phiền lụy quấy nhiễu.

- Gia đình hạnh phúc, không ai xâm phạm.

  1. Phương diện xã hội: Lợi ích không tà dâm được biểu hiện rõ rệt trong một xã hội không có thù hằn giữa vợ chồng này với vợ chồng khác, trẻ em không bị bỏ rơi bởi cha mẹ chúng tham dâm và xã hội sẽ cường thịnh.
  2. Không được nói dối: Nói sai sự thật, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác.
  3. Nói sai sự thật: Nói lời không thật, nói ngược vấn đề, có nói không, không nói có, trái nói phải, phải nói trái. Tóm lại, ý nghĩa và lời nói không đi đôi với nhau.
  4. Nói thêu dệt: Nói cho người nghe xiêu lòng, khó xử, nói cho người nghe mát dạ.v.v… tất cả đều là thêu dệt.
  5. Nói lưỡi hai chiều: Đến bên này thì hùa theo nói xấu bên kia, qua bên kia thì ngược lại, tạo thêm sự oán thù, hiểu nhầm giữa hai bên, ngăn cách sự hòa hợp.
  6. Nói lời hung ác: Là lời nói cộc cằn, thô tục, chửi rủa làm cho người nghe đau khổ, buồn rầu, chán nản, sợ hãi…

 

Phật cấm nói dối với những lý do sau đây:

  1. Tôn trọng sự thật: Người Phật tử phải tôn trọng sự thật, nói sai sự thật sẽ bị trở ngại đường đạo - con đường đi tìm xứ Phật.
  2. Vì lòng từ bi: Nói để dẫn người khác đến đau khổ oán thù với nhau, dẫn đến người khác vì lời nói của mình lắm lúc phải bức tử. Đó là thiếu tình thương, lòng từ bi. Là Phật tử phải nuôi dưỡng lòng từ.
  3. Xây dựng sự trung tín: Từ cá nhân gia đình đến xã hội không ai tin mình, không ai tin ai thì sẽ không thành tựu được công việc, từ việc lớn đến việc nhỏ.
  4. Tránh nghiệp báo khổ đau: Con người sở dĩ hại mình từ miệng là do trong lời nói chứa đầy lưỡi dao. Là Phật tử, không nên sống như thế, chỉ tạo nghiệp báo.

Lợi ích không nói dối từ cá nhân đến xã hội:

Cá nhân được tôn trọng không gây oán thù, được tin cậy trong giao dịch, xã hội gắn bó, yêu thương và thông cảm.

  1. Không được uống rượu: Nghĩa là không được uống những chất kích thích, làm say người. Không uống, không ép người uống, không khuyến khích người khác uống say để làm não loạn tâm trí của họ. Uống để chữa bệnh thì có thể được. Đức Phật cấm hàng Phật tử không được uống rượu vì những lý do sau:
  2. Nuôi dưỡng hạt giống trí tuệ: Có rất nhiều người vì uống rượu tự biến mình thành kẻ sống như đã chết. Chết mất sự hiểu biết, cuồng loạn tâm trí, lay lất không định hướng. Nhiều lúc thuốc độc vẫn không nguy hiểm bằng rượu. Vì thuốc độc chỉ hại chết một đời người, nhưng rượu làm tiêu tan hạt giống trí tuệ, phải chết đi sống lại nhiều lần.
  3. Ngăn ngừa những nguyên nhân tội lỗi: Uống rượu không chỉ phạm vào giới uống rượu mà còn có thể phạm vào nhiều giới khác nữa bởi lẽ không làm chủ được thân và tâm.

Lợi ích không uống rượu:

  1. Về cá nhân: Vun trồng được hạt giống trí tuệ, giữ gìn sức khoẻ, tránh bệnh tật, tâm trí được tỉnh táo.
  2. Phương diện quần thể: Gia đình yên vui, con cái ít bệnh tật, xã hội an hoà.

III- Kết luận:

Giới trong nhà Phật chính là để: “Phòng phi chỉ ác” nghĩa là ngăn ngừa những hành động phi pháp, ngăn chặn những hành động độc ác. Chính đó là căn bản của giải thoát.

Giới là một trong ba môn học: Giới - Định - Tuệ, con đường dẫn tới Niết bàn an lạc.

Giới là giềng mối để thiết lập con người, gia đình và xã hội toàn thiện.

Bài I-7 BÁT QUAN TRAI GIỚI

-HT. Thích Huệ Quang-

 

Lời nói đầu:

Đức Phật dạy: “Sau khi Ta nhập diệt, các đệ tử nên tôn trọng Ba-La-Đề-Mộc-Xoa. Như tối gặp sáng, như nghèo gặp của báu, phải biết đó là bậc Thầy. Nếu Như Lai ở đời thì cũng không khác vậy”.

Nay chúng ta phát tâm tu học Phật, mong cầu giải thoát và chứng Thánh quả, song không chỉ mong cầu là được mà cần phải thực hành thực tiễn. Thực hành không ngoài hai phương diện: “Hành thiện và đoạn ác”. Nếu ác pháp không đoạn thì thiện pháp khó sanh. Do đó, đức Như Lai chế ra giới, làm cửa ngõ để vào đạo tu học, nền tảng cho các hạnh lành, mà cũng là bức thành che chắn khỏi bị thiên ma phá hoại.

Đối với Phật tử tại gia, ngoài 5 giới căn bản, còn có Tam tịnh giới, Bát quan trai giới.

  1. Bát quan trai giới: Là nhân xuất gia, gieo duyên với Tam bảo.
  2. Bát quan trai giới: Là nhân Phật quả, nên duyên với Phật bảo.
  3. Bát quan trai giới: Là nhân pháp xuất thế, nên duyên với Pháp bảo.
  4. Bát quan trai giới: Là nhân cho pháp xuất gia, nên duyên với Tăng bảo.

Đây là một chân thật pháp môn tu để đạt đến Thánh quả.

Đức Phật vì hàng tại gia học Phật ở tại nhà tuy vẫn tu học được, song vì quyến thuộc bao quanh, ân ái ràng buộc trở ngại cho việc tu trì (đây chưa nói ngũ dục hoan lạc) cho nên ngài chế Bát Quan Trai giới để cho người tại gia tu tập trong một ngày một đêm. Thực hành hạnh xuất gia để gây nhơn xuất thế vậy.

Tại sao pháp Phật coi trọng công đức xuất gia quan trọng như vậy? Bất luận Thánh quả của hàng Đại hay Tiểu thừa cũng đều do xuất gia mới hoàn thành. Ba đời chư Phật không có vị nào không xuất gia mà không thành Phật cả. Vậy chúng ta học Phật, mong mỏi tương lai thành Phật, nếu không phát tâm xuất gia làm sao thành tựu được mục đích.

Thí dụ như: Sẽ chứng được quả A La Hán mà không xả nổi mái tóc để xuất gia thì chỉ dừng ở Tam quả. Vậy phải biết xuất gia mới đạt được quả vị cao nhất của cả Đại và Tiểu thừa.

Chú thích danh nghĩa:

Bát quan trai giới

Bát : Là chỉ số, là 8.

Quan : Là cửa, là đóng kín.

Trai : Là thanh tịnh, trinh khiết.

Giới : Răn ngừa.

Bát quan trai giới là tám cửa để ngăn ngừa sự sai quấy, để thân tâm được thanh tịnh. Phật chế Bát Quan Trai Giới cho người Phật tử tại gia thọ trì tu tập, huân chủng công đức, tăng trưởng nhơn xuất gia, còn gọi là Trưởng dưỡng luật nghi, hay Cận trụ luật nghi.

  1. Trưởng dưỡng luật nghi:

Do thường tu Bát quan trai giới, tức là tu niệm theo hạnh xuất gia. Sống theo hạnh xuất gia lâu ngày, cảm nhận đời sống xuất gia, trưởng dưỡng căn lành, nên gọi là trưởng dưỡng luật nghi.

  1. Cận trụ luật nghi:

Là thân cận an trụ nơi đạo tràng Tam Bảo làm quy tắc xuất gia. Tuy hiện chưa xuất gia nhưng tu Bát Quan Trai Giới là chủng thắng nhơn cho việc xuất gia, tuy thọ một ngày đêm, nhưng nhiều lần tựa hồ như gần gũi hàng xuất gia, làm phương tiện xuất gia trọn đời.

Chế lập danh tự:

Tám giới còn gọi là Bát phần giới, hay Bát chi giới. Bát quan trai giới gồm:

  1. Không được sát sanh.
  2. Không được tham lam trộm cắp.
  3. Không được dâm dục.
  4. Không được nói dối.
  5. Không được uống, bán rượu.
  6. Không được trang sức, thoa dầu thơm, ướp phấn sáp vào mình.
  7. Không được nằm ngồi giường cao, chiếu tốt, ca, hát, xem, nghe.
  8. Không được ăn phi thời.

Công đức thọ Bát Quan Trai Giới thuộc vô lậu, là Đại thừa nên công đức hữu lậu thế gian không thể so được.

Hữu lậu (5 giới cúng dường, bố thí… phước báo nhơn thiên, Đức Phật nói với Đế Thích).

Công đức của người thọ trì Bát Quan Trai Giới đủ chứng được quả Bồ Đề xuất thế của Tam Thừa Thánh quả, như bậc A-La-Hán xả gánh nặng sanh tử; bậc Bồ Tát thế gian (Thế gian Bồ Tát giới giả thị) như vậy công đức thù thắng của Bát Quan Trai Giới thực sự không thể nghĩ bàn.

Tuy nhiên, người thọ Bát Quan Trai Giới phải tinh niệm tương tục trong thời gian thọ trì. Tất nhiên giới đức trang nghiêm nhờ đó đạt được đại quả.

Kinh Đại Bửu Tích (phẩm Vô Lượng Thọ, trang 42, quyển 1 bìa mỏng), Đức Phật nói: “Này A Nan, chúng sanh ở mười phương, người và chư Thiên nguyện cầu về nước an lạc của Đức Vô Lượng Thọ thời có ba hạng:

  1. Hạng người bỏ nhà lìa ái dục làm Sa môn, phát tâm Bồ Đề tu tập các công đức và chuyên niệm danh hiệu của Đức Vô Lượng Thọ.
  2. Hạng người chí tâm nguyện cầu về nước ấy dù chưa thể xuất gia làm Sa môn. Nhưng phát tâm Bồ Đề tu Bát Quan Trai Giới và chuyên niệm danh hiệu của Đức Vô Lượng Thọ.
  3. Hạng người chí tâm nguyện cầu về nước ấy, một lòng tin Đức Phật chẳng nghi, chẳng trái, phát tâm công đức chú tâm xưng niệm danh hiệu của Đức Vô lượng Thọ”.

Bài I-8 QUY Y TAM BẢO

-Thích Thiện Vinh-

 

Mở đề

Nhân loại chúng ta là những kẻ lữ hành, đã rời quê hương quá xa, quá lâu rồi, nay muốn trở về quê nhà mình, nhưng quên mất lối về. Vậy cần phải nhờ người chỉ lối đưa đường. Đức Phật và chư Thánh Hiền mới đủ sáng suốt để dẫn dắt chúng ta về nhà đúng đích. Vậy, chúng ta hãy về nương nơi Đức Phật, chánh pháp và chư Thánh Hiền Tăng, để thoát khỏi mọi thứ khổ đau, được an vui nhẹ nhàng thanh thoát trên đường về quê cha đất tổ của mình, nơi đây hết sạch sanh tử luân hồi và mọi thứ khổ đau. Sự trở về ấy gọi là Quy y.

  1. Định danh:
  2. Quy y là gì?

Quy : Là trở về.

Y : Là nương tựa.

Quy y là trở về nương tựa nơi mà mình vì si mê lầm lạc, phóng đảng, lìa bỏ ra đi, như đứa con trẻ khờ dại đã rời cha mẹ để đi hoang phá. Bây giờ hết sự dại khờ - do kinh nghiệm khổ đau - quay trở về nương tựa lại dưới bóng hạnh phúc và tình thương yêu của cha mẹ.

Xét cho cùng thì chữ “nương tựa” có hai ý nghĩa:

- Một là nương tựa tạm thời. Như nương tựa tổ ấm bà con, quyến thuộc bạn bè xã hội... luôn luôn bị vô thường, biến dịch chi phối toàn bộ nên không thể nương tựa lâu dài được.

- Hai là nương tựa vĩnh cữu. Đó là nương tựa Tam Bảo, nương tựa tự tánh Tam Bảo, nơi nương tựa tuyệt vời, cùng tột nhất của tất cả chúng sanh.

Chữ Quy Y nguyên dịch nghĩa chữ Nam mô của tiếng Phạn, Quy y cũng có nghĩa là kính vâng hay phục tùng.

  1. Tam bảo nghĩa là gì?

- Tam bảo là ba ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo Tăng bảo.

Ở thế gian vàng bạc, ngọc ngà và danh vọng là quý báu. Nhưng sự thật vàng bạc, danh vọng đâu có thể cứu được con người khỏi khổ sanh, già, bệnh, chết, mà lắm khi lại còn làm cho con người thêm khổ nữa! Còn Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo thì có đủ năng lực dắt dẫn con người ra khỏi những cái khổ nói trên. Bởi thế, người đời mới tôn sùng Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi báu (Tam Bảo).

  1. Phật: Chữ Phật do chữ Phạn Buddha phiên âm ra. Người Tàu dịch là “Giác giả”, người Pháp dịch là L’illuminé. Ba chữ ấy đều dùng một nghĩa: Bậc đã giác ngộ, sáng suốt hoàn toàn về ba phương diện: Tự giác, Giác tha, Giác hạnh viên mãn.

- Tự giác: Tự mình tu chứng, tỏ ngộ chánh pháp, đạt đến quả vị tối thượng thành Phật.

- Giác tha: Là đem cái thực nghiệm tu chứng, tỏ ngộ chánh Pháp của mình mà giảng giải dìu dắt, hướng dẫn chúng sanh cùng tu chứng giác ngộ như mình nên gọi là giác tha.

- Giác hạnh viên mãn: Là hoàn thành hạnh tự giác, giác tha đầy đủ trọn vẹn, nên gọi là giác hạnh viên mãn.

  1. Pháp: Pháp là từ chữ Phạn Dharma mà dịch nghĩa ra. Pháp là phương pháp tu hành mà Phật đã phát huy ra, để diệt trừ mọi mê muội khổ đau và chứng được quả Phật. Ba tạng Kinh điển gọi chung là Pháp.
  2. Tăng: Tăng hay Tăng già là do chữ Phạn Sangha mà phiên âm ra. Tàu dịch là Hòa hợp chúng, nghĩa là một đoàn thể tu hành từ 4 người trở lên, cùng nhau sống chung một chỗ, đồng giữ giới luật của Phật, cùng chia sớt cho nhau một cách hòa thuận những gì đã thâu nhận được từ vật chất cho đến tinh thần.
  3. Quy y Tam Bảo là thế nào?

Quy y Tam Bảo là trở về nương tựa ba ngôi báu: Phật, Pháp, Tăng.

- Tại sao phải quy y Phật?

Vì Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, từ bi vô lượng, phước huệ vô biên, đức hạnh viên mãn. Vì Phật là người dẫn đường vĩ đại nhất, đã có kinh nghiệm bản thân, thoát ra ngoài vòng sinh tử để chứng đạo.

- Tại sao phải quy y Pháp?

Vì chỉ có pháp của Phật mới đầy đủ công năng để đưa chúng ta ra khỏi bể khổ, đến bờ giải thoát.

- Tại sao phải quy y Tăng?

Vì Tăng là những người đã hi sinh gia đình, tiền của, danh vọng... để tình nguyện thay Phật dẫn dắt chúng sanh trên đường đạo.

II. Ba bậc Tam Bảo

Tam Bảo có ba bậc:

- Đồng thể Tam Bảo.

- Xuất thế gian Tam Bảo.

- Thế gian trú trì Tam Bảo.

  1. Đồng thể Tam Bảo:
  2. Đồng thể Phật bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh sáng suốt.
  3. Đồng thể Pháp bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một Pháp tánh từ bi bình đẳng.
  4. Đồng thể Tăng bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể thanh tịnh, sự lý hòa hợp.
  5. Xuất thế gian Tam Bảo:
  6. Xuất thế gian Phật bảo, là chỉ cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật A Di Đà, và tất cả các Đức Phật trong mười phương, ba đời đã tự giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của thế gian.
  7. Xuất thế gian Pháp bảo, là chỉ cho chánh Pháp của Phật có công năng làm cho chúng sanh thoát khỏi sự ràng buộc của thời gian như: Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Lục độ...
  8. Xuất thế gian Tăng bảo, là chỉ cho các vị Thánh tăng đã ra khỏi sự ràng buộc của thế gian như: Đức Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Ca Diếp, A Nan...
  9. Thế gian trú trì Tam Bảo:
  10. Thế gian trú trì Phật bảo, là chỉ cho xá lợi của Phật, các tượng bằng kim khí, gỗ, đất, xi măng, thêu, vẽ, in trên vải, trên giấy hiện đang tôn thờ.
  11. Thế gian trú trì Pháp bảo, là chỉ cho ba tạng Kinh điển: Kinh, Luật, Luận viết, in trên giấy, vải hiện đang đọc tụng.
  12. Thế gian trú trì Tăng bảo, là chỉ các vị tỳ kheo, tu hành chân chánh, đạo đức trong sạch, giữ giới luật nghiêm tinh, tôn thờ lý tưởng giải thoát.

III. Sự Quy Y Tam Bảo:

Khi hiểu Quy y Tam bảo rồi, ta phải thực hành sự quy y.

  1. Sự quy y Phật: Hằng ngày, chúng ta phải nhớ tưởng tới Phật, chiêm ngưỡng, hết lòng lễ bái, cung kính, nguyện trọn đời theo chân Phật. Đó là quy y Phật.
  2. Sự quy y Pháp: Là thường đọc tụng Kinh, Luật, Luận, nghe giảng, tìm học hiểu giáo lý Phật Đà, niệm Phật, bỏ ác làm lành, giữ tâm ý trong sạch.
  3. Sự quy y Tăng: Trọng Phật, kính Tăng là sự kính tín của hàng Phật tử. Chúng ta gần gũi chư Tăng để học hỏi Phật Pháp, tu hành, tâm phải thành kính tôn trọng chư Tăng. Vì Tăng là vị đại diện của Phật, để dẫn dắt chúng ta trên đường diệt khổ được vui.
  4. Lý Quy Y Tam Bảo:

Lý quy y Tam bảo: Nghĩa là nương tựa ba ngôi báu trong tâm chúng ta. Nếu chúng ta chỉ có sự quy y Tam Bảo thì chưa đúng ý nghĩa quy y. Thật thế, bên trong tâm chúng ta cũng có đủ Tam bảo. Chúng ta cần thực hành lý quy y Tam bảo, hay ba tự quy: Tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng.

  1. Tự quy y Phật: Là trở về nương tựa Phật tánh ở nơi chính mình. Phật dạy: “Chúng sanh là Phật sẽ thành”, nên gọi là Tự quy y Phật.
  2. Tự quy y Pháp: Là trở về nương tựa pháp tánh ở nơi mình. Trong tâm ta có đủ pháp từ bi, bình đẳng, nhẫn nhục, tinh tấn... chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy và làm theo đúng, gọi là Tự quy y Pháp.
  3. Tự quy y Tăng: Là trở về nương tựa ông thầy trong tâm mình, tức là đức tánh thanh tịnh, hòa hợp ở nơi mình. Như Tăng già là hiện thân của hòa hợp, thanh tịnh nên gọi là Tự quy y Tăng.

Như thế, chúng ta về nương tựa tánh Phật của mình; về nương tựa pháp từ bi, hỷ xả, bình đẳng ở nơi mình; về nương tựa Tăng là sự hòa hợp thanh tịnh ở nơi mình. Như vậy, gọi là Lý quy y Tam Bảo.

  1. Nghi Thức Quy Y:

Sau khi chúng ta đã hiểu rõ Sự Lý quy y rồi, chúng ta cũng cần biết qua Nghi thức quy y.

  1. Trước tiên phải gội rữa thân tâm cho trong sạch:

Quy y là buổi lễ quan trọng nhất trên đường tu tập của chúng ta. Nó là cuộc khởi hành để đi đến giải thoát. Vì thế, chúng ta không thể xem thường, cử hành một cách bừa bãi được.

Khi muốn quy y, chúng ta phải y phục chỉnh tề, sắm khay lễ, thỉnh chư Tăng đến giới trường, đảnh lễ và cầu xin chư Tăng rũ lòng từ bi truyền trao giới cho mình.

Trước ngày hành lễ, thân tâm chúng ta phải được gội rữa trong sạch, tâm ta phải sám hối cho ba nghiệp thanh tịnh, ta mới đón nhận pháp thanh tịnh cao quý của Tam Bảo.

  1. Phát nguyện:

Đến giờ quy y, chúng ta quỳ xuống, theo lời hướng dẫn của chư Tăng chí thành phát nguyện:

- Đệ tử xin suốt đời quy y Phật.

- Đệ tử xin suốt đời quy y Pháp.

- Đệ tử xin suốt đời quy y Tăng.

Đã phát nguyện quy y, ta biết chắc sẽ không bị đọa vào ba đường ác.

- Đệ tử quy y Phật rồi, khỏi đọa địa ngục.

- Đệ tử quy y Pháp rồi, khỏi đọa ngạ quỷ.

- Đệ tử quy y Tăng rồi, khỏi đọa súc sanh.

Thế là trọn vẹn Tam quy Tam kiết.

Để bảo tồn lý tưởng cao cả của mình và giữ vững đức tin trên đường đạo, người quy y tự nguyện một cách mạnh mẽ và thành khẩn.

- Đệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y trời thần quỷ vật.

- Đệ tử quy y Pháp, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo tà giáo.

- Đệ tử quy y Tăng, nguyện trọn đời không quy y bè đảng xấu ác.

Lễ quy y đến đây đã hoàn tất.

  1. Lợi ích của sự quy y Tam Bảo:

Quy y Tam Bảo có những lợi ích như sau:

- Quy y rồi không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

- Được nơi nương tựa vững chắc nhất cho đời mình.

- Ít lo âu sợ sệt.

- Giảm bớt sự hận thù.

- Giảm bớt tham sân si.

- Trí huệ được tăng trưởng.

- Phước đức càng ngày càng tăng.

- Xa lìa bạn ác, gần gũi bạn lành.

- Được gần các bậc thiện hữu tri thức.

- Thêm lòng từ bi bình đẳng...

Bài I-9 LUÂN HỒI

-Thích Trí Viên-

  1. Mở đề:

Có một số người quan niệm rằng, con người sau khi chết là hết. Một số người lại cho rằng, sau khi con người chết, linh hồn vẫn tồn tại. Giáo lý nhà Phật không chấp nhận các quan điểm trên, mà tùy theo sự tạo nghiệp của chúng ta mà có luân hồi.

Vậy, Phật tử chúng ta tìm hiểu việc này qua lời thuyết minh của Đức Phật Thích Ca sau đây.

  1. Chánh đề:
  2. Định nghĩa:

Luân : Bánh xe xoay tròn.

Hồi : Quay lại, quay về.

Luân hồi là xoay tròn qua lại. Từ nghĩa này, đạo Phật thuyết minh: Chúng sanh trong Tam giới luân chuyển, xoay vòng qua lại mãi trong 6 đường, qua bốn dạng hình: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh. Tùy theo nghiệp đã gây tạo rồi chính chúng sanh ấy thọ nhận. Giống như bánh xe được gắn vào trục xe, phải chịu sức quay của trục xe giống như nghiệp của chúng sanh. Nếu chúng sanh nào gặp được môi trường sống tốt, nghĩa là gặp minh sư, bạn tốt hướng dẫn tu học làm lành, tỉnh ngộ thoát vòng lẫn quẫn sanh tử để đạt đạo, từ quả vị A-La-Hán trở lên thì không còn luân hồi nữa.

  1. Luân hồi của vật:

Con người luân hồi theo nghiệp thì vật chất luân hồi theo môi trường thời gian và tính chất của nó. Ví dụ: Con người chết một thời gian, thịt xương tan rã, tạo thành đất nuôi hoa quả. Hoa quả được con người ăn, lại nuôi con người, đắp đổi xoay vần qua lại là vậy.

Con người sống bằng nghiệp sát sanh, trộm cắp, sau khi chết, thần thức chịu thọ nghiệp ác (nhân quả). Ngược lại, người nào không gây ác nghiệp, mà tạo nghiệp lành thì sau khi chết, sanh đến cõi lành, gặp mọi sự tốt đẹp trong cuộc sống. Cho nên trong kinh Địa Tạng đã nói: “Con người ấy là một Đức Phật tương lai, cũng con người ấy lại là tội nhân nơi địa ngục”, luân hồi theo luật Nhân Quả là vậy.

Do vậy, Phật tử chúng ta không nên nhầm lẫn hiểu rằng, thần linh nào đó có quyền quyết định cuộc sống của mỗi chúng ta. Mà ngược lại, chính mình có đủ bản năng thành Phật, nếu chúng ta biết tu đúng chánh Pháp.

Vì thế, muốn không có sanh tử luân hồi thì tu hành dứt nghiệp, sẽ không luân hồi trong Tam giới.

“Ác nghiệp do mình tạo, tự mình sinh ra. Ác nghiệp làm hại kẻ ngu dễ dàng”. (PC.161).

Nếp sống lý tưởng của người con Phật là:

“Không làm các điều ác

Hãy làm các hạnh lành

Giữ tâm ý trong sạch,

Là lời Chư Phật dạy”.

PC.183

  1. Kết luận:

Qua trình bày trên, Phật tử chúng ta nên tự mình suy tư, tự mình tiến tu để phá bỏ thường kiến và đoạn kiến (con người sau khi chết còn mãi, hay chết là hết) để hiểu rằng chúng sanh tùy theo nghiệp tạo mà chịu luân hồi. Tinh thần tự chủ là nền tảng được Đạo Phật đề cao.

Dẫu nơi bãi chiến trường,

Thắng hàng ngàn quân địch,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng.

PC.103

Bài I-10 BỔN PHẬN NGƯỜI PHẬT TỬ TẠI GIA

-Thích Giác Không-

  1. Mở đề:

Đã sinh ra trong đời, ai cũng mang theo một “số phận” mà nhà Phật gọi là “nghiệp quả”. Từ cội nguồn căn bản này mà có người làm giáo viên, có người làm nghề buôn bán.v.v... Như vậy, với thân phận này mỗi người hãy tự chu toàn bổn phận để đảm bảo tính chất hài hòa giữa mình và người trong những mối quan hệ xung quanh cuộc sống. Đó cũng chính là ước mơ muôn thuở mà con người đang mong mỏi tìm cầu. Cho nên đối với Phật tử tại gia thì việc chu toàn đó như thế nào? Sau đây chúng ta tìm hiểu vấn đề này.

  1. Chánh đề:

Đức Phật là bậc đã giác ngộ hoàn toàn nên Ngài không còn gây nhân đau khổ. Trái lại, chúng ta là hàng phàm phu đang ước muốn trở thành Phật tử tại gia, tất nhiên chúng ta phải nghe lời Phật dạy để biết những điều gì người Phật tử tại gia nên làm.

  1. Đối với tự thân:

Chúng ta biết rằng thân và tâm luôn có một tương quan chặt chẽ, hễ thân đau thì ảnh hưởng đến tâm và ngược lại. Do vậy, là Phật tử chúng ta phải thận trọng khéo léo trong việc ăn uống, ngủ nghỉ, làm lụng cũng như tiếp xúc, hấp thụ những gì có giá trị để xây dựng và bảo vệ nếp sống đạo đức hướng thượng và tinh thần tỉnh giác.

  1. Đối với gia đình quyến thuộc:

Là người đệ tử của Đức Phật, chúng ta phải lấy hiếu hạnh làm đầu, vì “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”.

Đối với cha mẹ phải hết lòng hiếu kính, lo lắng miếng ăn, giấc ngủ, gánh vác đỡ đần công việc nặng nhọc, chăm sóc thuốc thang lúc đau yếu và luôn nghĩ nhớ công ơn sanh dưỡng để lo việc đáp đền.

Đối với con cái thì phải dạy dỗ điều hay lẽ phải, tránh xa tội lỗi hung ác, gần gũi người hiền trí, siêng năng học hành. Khi con cái khôn lớn trưởng thành, chúng ta phải lo định liệu cưới gả hợp thời đúng lúc, cũng phải nghe ý kiến tham gia của con cái với sinh hoạt gia đình.

Trong quan hệ vợ chồng nên thương yêu, chung thủy, lo lắng giúp đỡ nhau trong sự hiểu biết. Phải nên ngồi lại với nhau để cùng nhau xây dựng, tháo gỡ những khúc mắc, bất đồng hay lỗi lầm thiếu sót. Chúng ta phải ý thức được rằng sự hòa ấm của gia đình là lễ phẩm cao quý nhất mà chúng ta dâng lên cha mẹ tổ tiên, đó cũng chính là nhựa sống mà những bậc cha mẹ truyền lại vì vinh quang và hạnh phúc hiện tại và ngày mai của thế hệ con cháu.

Đối với bà con thân thích, phải nêu yêu thương đùm bọc trong tình nghĩa máu mủ và biết chia sẻ niềm vui nỗi buồn. Cũng phải tha thứ cho nhau về những sơ ý lỗi lầm và giữ gìn kín đáo những chuyện riêng tư không nên cho người khác biết. Lại phải thường xuyên thăm viếng, động viên, con cháu nhắc nhở nhau trong tình huyết thống.

  1. Đối với người ngoài gia đình:

Bước ra khỏi cửa ngõ gia đình, chúng ta thấy mối tương quan trở nên đa diện, chằng chịt từ gần đến xa, từ thân thích đến chưa quen biết... Ở đây chúng ta chỉ bàn tới phạm vi giới hạn. Trước hết là đối với Thầy, Tổ chúng ta phải kính trọng vâng lời và giữ lễ nghĩa. Bởi lẽ người xưa có dạy: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Đối với học trò chúng ta phải thể hiện phong độ người thầy, luôn cởi mở bao dung và hết lòng dạy dỗ, phải có tâm niệm mong muốn học trò tiếp thu và tiến bộ hơn mình.

Đối với chư Tăng phải hết lòng thành kính và khéo léo trong việc hộ trì. Có một điều trọng yếu mà chúng ta không thể bỏ quên, đó là phải để tâm học giáo lý Phật Đà, phải thỉnh cầu chư Tăng giảng cho những chỗ cần yếu mà chúng ta chưa hiểu, chưa biết. Từ đó mình có thể thực hiện đời sống của người Phật tử tại gia hộ trì Tam Bảo, hoàn thành trách nhiệm thiêng liêng mà Đức Phật đã giao phó cho hàng Phật tử chúng ta.

Đối với cơ quan, cơ sở và những người hữu trách: là Phật tử chúng ta không thể tách rời môi trường xã hội, và cũng không thể chìm đắm trong dòng chảy lãng quên của nó, bởi đời không tốt thì đạo cũng khó mà thành công. Đối với đạo không tròn bổn phận thì đời cũng khó thăng hoa. Bổn phận đối với đạo được chu toàn, chúng ta thực hiện tốt mọi quy ước, nề nếp cũng như giờ giấc một cách sáng suốt, sắp xếp công việc đúng người, đúng chỗ, thưởng phạt công minh.

  1. Kết luận:

Với một truyền thống giàu lễ nghĩa của người Việt Nam, thì những điều đã trình bày trên không có gì là kiểu cách, khó khăn lắm, mà dường như chúng ta đã biết rất rõ. Nhưng điều quan trọng không chỉ dừng lại ở chỗ hiểu biết mà chính là thực hành, thực hành một cách kiên nhẫn liên tục. Nếu không liên tục thì khó mà đạt được thành công.

Hơn nữa, chúng ta là Phật tử, bổn phận chúng ta là tìm cầu sự giác ngộ. Vì vậy, chúng ta thực hiện những bổn phận này trong sự tỉnh giác nhẹ nhàng, chắc chắn. Đó chính là thành quả mà chúng ta gặt hái được trên hành trình giải thoát.

Bài I-11 VÔ THƯỜNG

-Thích Thông Huệ-

Khi nói đến vô thường, liền hiểu ngay đó là luật tuần hoàn của vũ trụ. Nơi nào có sự vận hành, chuyển biến, đổi dời, nơi đó có vô thường. Vì vậy, vô thường là một định luật phổ biến, bao gồm cả vũ trụ và nhân sinh.

Vì mang tính phổ biến nên vô thường là một cuộc Đại hóa - sự biến hóa cùng khắp, bất cứ ở đâu và lúc nào. Dù Đức Phật có xuất hiện hay không, thì ngọn lửa vô thường vẫn cứ điềm nhiên ầm ỉ thiêu đốt cả thế gian, không một phút tạm ngừng. Vì thế, đứng về mặt tục đế hữu hình hữu hoại thì hẳn nhiên vô thường là chân lý bất di bất dịch.

Thân, Tâm và cảnh giới là một dòng chảy (Quá, Hiện, Vị lai). Chánh báo và Y báo của một chúng sanh tạo thành dòng sông sinh mệnh. Lực đẩy tạo thành dòng sông sinh mệnh ấy chính là sự khát ái vào những sở thuộc như: Sự nghiệp, tài sản, danh vọng nhằm củng cố cái tôi (giả ngã) trong vòng luân hồi vô tận. Khi nào cái tôi còn bén rễ, khi nào ý thức chấp ngã còn xen vào cuộc sống thì khi ấy vòng luân hồi vẫn còn xoay chuyển mãi.

Vô thường có ba:

- Nhất kỳ vô thường.

- Tương tục vô thường.

- Sát na sinh diệt vô thường.

Nhất kỳ là thô tướng nhất của vô thường, chỉ cho sự kết thúc của một tiến trình như sự chết của một người, nhưng chết không có nghĩa là mất hẳn mà chỉ là tạm vắng ở nơi này, để chuẩn bị biểu hiện thành sự sống ở nơi khác.

Tương tục là sự sinh diệt, băng hoại thường xuyên trong lòng sự vật, là sự chuyển biến không ngừng, nên sự tương tục ấy là tế tướng của vô thường.

Sát na sinh diệt là sự vô thường ma mãnh nhất, nhỏ nhiệm nhất. Sát na là thuật ngữ nhà Phật sử dụng, chỉ cho đơn vị ngắn nhất của thời gian. Một niệm thoáng qua trong tâm thức có đến 90 sát na. Mỗi sát na chỉ có Phật trí mới thấy được.

Ba phạm trù thuộc ba phân loại vô thường ở trên không chỉ có trong các hiện tượng vật lý, mà thâu gồm luôn trong các hiện tượng sinh lý và tâm lý nữa.

Kinh Pháp Hoa, phẩm Thí Dụ, Đức Phật dạy:

“Chúng sanh bị chìm đắm trong vô số nạn khổ, thế mà không biết, lại hoan hỷ vui chơi, chẳng kinh chẳng sợ, chẳng hề biết chán, chẳng chịu tầm cầu giải thoát. Ở trong nhà lửa tam giới cứ dong ruỗi đông tây, tuy gặp đại khổ mà chẳng biết đó là nguy khốn!”.

Phật nói vô thường (nhà lửa) nhằm phá cái chấp thường của phàm phu. Vì mê mờ điên đảo, vọng nhận các pháp là thực hữu, bèn đem cái tâm vô thường, dùng cái thân vô thường, nắm bắt các pháp vô thường, cho đến mãn kiếp không bao giờ được thõa mãn tâm vọng cầu. Người lớn hay sống về quá khứ, tuổi trẻ hay mơ mộng về tương lai, người tỉnh thức biết khéo sống nơi giây phút hiện tại. Mảnh đất lập thân của người phàm là quá khứ và vị lai. Nơi an thân và lập mệnh của người tỉnh thức là hiện tại. Những kỷ niệm vui buồn quá khứ chỉ còn là những viễn ảnh mờ xa rơi rớt, là những bóng ma của hư tưởng. Một cuộc vui nào rồi cũng phải qua đi, một nỗi buồn nào cũng nhạt phai theo năm tháng.

Cổ Đức có dạy:

“Thời gian tợ tên bắn, ngày tháng như thoi đưa, vô thường mau chóng, gắng gỗ chớ dần dà! Ngày tháng cứ thản nhiên trôi qua, mạng sống cũng theo đó dần dần đoạn giảm, như cá thiếu nước, nào có vui gì...”

(Quang âm tợ tiễn, nhật nguyệt như toa, vô thường tấn tốc, thiết mạt ta đà. Thị nhựt dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc...).

Trong 1 giây có đến 125 triệu tế bào chết đi, nhường chỗ cho 125 triệu tế bào khác sinh ra, trong ấy thật không thể tìm thấy cái tôi.

Đây là lời Phật dạy về nghĩa vô thường của 5 uẩn:

“Này các Tỳ Kheo, sắc là vô thường trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỳ Kheo, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, đối với sắc quá khứ không tiếc nuối, đối với sắc vị lai không hoan hỉ, đối với sắc hiện tại hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt”.

“Thọ là vô thường... tưởng là vô thường... hành là vô thường... thức là vô thường...”

(Tương Ưng 3 - Ba thời vô thường. tr. 23)

Và đây là phân đoạn thứ hai, Phật dạy về nghĩa vô thường của năm uẩn.

“Sắc, này các Tỳ Kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho sắc sinh khởi, cái ấy cũng vô thường. Sắc đã được cái vô thường làm cho sinh khởi, thì từ đâu có thể thường được”.

“Thọ là vô thường… tưởng là vô thường… hành là vô thường… thức là vô thường…”

(Tương Ưng 3 - Cái gì vô thường. tr. 26)

Theo đây, luật vô thường bình đẳng đối với tất cả chúng sanh (5 uẩn), dù là kẻ sang người hèn, kẻ ngu người trí. Quỷ vô thường tuy không thấy hình dạng, nhưng có khả năng làm mạng căn con người chết dần, chết mòn. Sự nhận diện thường trực nơi tất cả mọi thay đổi chuyển dời của cuộc sống không phải để đi đến sự bi quan, chán đời, mà là sự nhận diện cần thiết nhằm thực hiện sự chuyển hóa nơi tâm thức, vốn là sự mê lầm cổ hủ đang đè nặng lên thân phận kiếp người. Bình tâm mà nhận xét, thú vui thế gian tuy là tạm bợ, mong manh nhưng vẫn có hấp lực phi thường; hấp lực đó cũng chính là ma lực vô hình dẫn dắt chúng sanh trôi lăn theo sáu nẻo. Chúng sanh chịu khổ sanh tử không khác nào con tằm mùa xuân kéo tơ làm kén tự trói buộc mình; cũng như con thiêu thân tự lao vào đèn chịu cái họa chết thiêu. Nếu như không đủ phước duyên gặp minh sư dẫn dắt thì làm sao tỏ ngộ được chánh pháp?!

Cổ đức dạy:

“Tuy sống một trăm năm như trong khoảng sát na, như lượn sóng rút về biển Đông, như ánh sáng còn sót lại của buổi chiều tà, như đánh đá nhá lửa, như bóng câu thoáng qua khe cửa, như ngọn đèn trước gió, như giọt sương sớm mai trên đầu ngọn cỏ, nếu không gặp được chánh pháp ắt phải chịu vĩnh viễn kiếp trầm luân!”.

(Tuy niên bách tuế du nhược sát na, như đông thệ chi trường ba, tợ tây thùy chi tàn chiếu, kích thạch chi tinh hỏa, sậu khích chi tấn câu, phong lý chi vi đăng, thảo đầu chi triêu lộ. Nhược bất ngộ ư chánh pháp, tất vĩnh đọa ư du đồ hỉ!).

Một tâm thức mê mờ quay cuồng trong cảnh sống say chết mộng thêu dệt nên hoàn cảnh sống, trong đó mình là tác giả. Thế nên Kinh Hoa Nghiêm cho rằng tâm chính là một đại danh họa, họa ra thân năm uẩn và thế giới y báo:

“Tâm như người thợ vẽ

Vẽ mỗi mỗi ngũ uẩn

Trong tất cả thế giới

Đều do tâm tạo tác”

 

(Tâm như công họa sư

Họa chủng chủng ngũ uẩn

Nhất thiết thế giới trung

Giai do duy tâm tạo).

Vô thường thuộc yếu tố thời gian, là một diễn trình đi từ nhân đến quả, diễn trình đó nơi chúng sanh hữu tình thì biểu hiện thành sinh, già, bệnh, chết; nơi các pháp thì có sinh, trụ, dị, diệt; nơi thế giới thì có thành, trụ, hoại, không. Sự thay đổi của bốn mùa, sự di chuyển của các hành tinh vệ tinh cũng không ra ngoài quy luật của diễn trình đó. Thế giới vĩ mô, thế giới vi mô, thế giới trung bình cũng cùng một loại. Hễ có thành ắt có hoại, có hợp ắt có tan. Người quán thông lý vô thường thì liền dừng, ấy là người tỉnh, người giác. Cái thực vĩnh cữu vốn vô hình, vô tướng; còn cái hữu hình, hữu tướng chỉ là giả tạm. Nhưng sự sống vĩnh hằng cũng không thể tìm ngoài cái vô thường ảo mộng. Hãy bình thường trong mọi hoạt dụng của cuộc sống và tìm giải thoát ngay trong cảnh bình thường đó.

Xin thay lời kết bằng một đoạn thơ của Thiền sư Minh Chanh Thanh Đàm, thuộc đời thứ 42, Tông Tào Động, khoảng đầu thế kỷ 19:

“Công danh cái thế màn sương sớm

Phú quý kinh nhân giấc mộng dài.

Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật

Công phu luống uổng một đời ai”.

Bài I-12 TỨ ÂN

-Thích Thiện Tấn-

Hằng năm đến ngày rằm tháng Bảy, trong Phật Giáo đều có tổ chức lễ Vu Lan để người Phật tử báo hiếu Tứ ân. Hạnh hiếu là hạnh đứng đầu trong các hạnh, là căn bản đạo đức: “Bách hạnh, hiếu vi tiên”. Trong các Kinh thường đề cập về vấn đề Tứ ân như: “Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” hoặc “Tứ ân tam hữu tận triêm ân”. Làm người đã thọ ân thì phải tri ân và báo ân là thể hiện đạo lý “Uống nước phải nhớ đến nguồn”. Muốn báo ân một cách đúng pháp thì phải hiểu rõ Tứ ân là gì.

Tứ ân là bốn ơn, còn gọi là Tứ trọng ân, tức là bốn ơn nặng gồm có:

- Phụ mẫu ân, tức là ơn cha mẹ.

- Chúng sanh ân tức ơn chúng sanh.

- Quốc vương ân tức là ơn tổ quốc.

- Tam Bảo ân tức ơn Phật, Pháp, Tăng.

Mọi người khi mới sinh ra cho đến khi nhắm mắt, không ai là không nhờ sự nuôi lớn xác thân và trưởng dưỡng tinh thần nhờ vào bốn đối tượng ấy. Người thế gian không quy y Tam Bảo thì họ có ân thầy dạy dỗ. Thầy ở đây là thầy dạy chữ hoặc nghề nghiệp. Như vậy mọi người đều mang nặng Tứ ân cần phải đáp đền.

  1. Phụ mẫu ân:

Cha mẹ là người có công lao to lớn trong việc mang nặng đẻ đau, nuôi lớn và lo cho tương lai sự nghiệp của con. Ca dao có câu:

“Nuôi con chẳng quản chi thân

Chỗ ướt mẹ nằm chỗ ráo con lăn

Con ho lòng mẹ tan tành

Con sốt lòng mẹ như bầu nước sôi...

Những khi trái gió trở trời

Con đau lòng mẹ đứng ngồi không yên...”

Kinh Thi dùng “Chín chữ cù lao” để chỉ cho công sinh thành của cha mẹ. Đó là: sanh, cúc, phủ, dục, súc, trưởng, cố, phục, phúc. Nghĩa là: sanh nở, nâng đỡ, vỗ về, dạy dỗ, cho bú, nuôi lớn, trông nom, nuông chìu và che chở.

Trong Kinh Tâm Địa Quán Đức Phật dạy rằng:

“ Quả đất ở đời gọi là nặng

Mẹ hiền ân nặng quá hơn nhiều

Tu Di người đời gọi là cao

Mẹ hiền ân cao quá hơn nhiều

Gió lốc ở đời gọi là mau

Nhất niệm mẹ hiền mau hơn nhiều”.

Đức Phật dạy người con phải xem cha mẹ như trời, Phật và phải cung kính, cúng dường hầu hạ. Để nói lên công lao khó nhọc của người mẹ, ca dao có câu:

“Đố ai đếm được lá rừng

Đố ai đếm được mấy từng trời cao

Đố ai đếm được vì sao

Đố ai đếm được công lao mẫu từ”.

Cha mẹ suốt đời khó nhọc chỉ vì con, con khổ thì cha mẹ lo, con sướng thì cha mẹ mừng. Nhưng đến khi khôn lớn thì không còn tưởng nhớ đến cha mẹ nữa mà còn làm cho cha mẹ buồn phiền. Vì vậy, nên trong Kinh Nhẫn Nhục đã dạy: Cùng tột điều thiện không có gì bằng hiếu, cùng tột điều ác không có gì bằng bất hiếu.

Đã biết công ơn cha mẹ sâu nặng như thế nào, nên bổn phận làm con là phải biết hết lòng báo hiếu. Trong Kinh Thi Ca La Việt, Phật kể sáu bổn phận của người làm con đối với cha mẹ:

- Cung kính vâng lời cha mẹ.

- Phụng dưỡng khi cha mẹ già yếu.

- Giữ gìn thanh danh và truyền thống gia đình.

- Bảo quản tài sản do cha mẹ để lại.

- Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời.

- Hướng dẫn cha mẹ đi theo con đường giải thoát.

Người con Phật còn phải giữ giới, đọc tụng kinh sám, cúng dường bố thí để hồi hướng công đức cho cha mẹ. Người con phải noi gương hiếu hạnh của Đức Phật Thích Ca, Bồ Tát Địa Tạng, Tôn giả Mục Kiền Liên... các sự tích hiếu hạnh rất nhiều mà Kinh sách có đề cập như: Voi trắng con nuôi cha mẹ. Chim oanh vũ lấy lúa nuôi cha mẹ mù...

Chữ hiếu được phân tích theo nhiều phương diện như: Hiếu kính, hiếu dưỡng, hiếu thuận, hiếu thiện.

Hiếu kính là hết lòng cung kính, xem “Cha mẹ tại tiền như Phật tại thế”. Ca dao đã nói về hiếu kính như sau:

“Khôn ngoan nhờ ấm cha ông

Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ

Làm con chớ có hững hờ

Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm”.

Hiếu dưỡng là nuôi dưỡng cha mẹ về cơm ăn áo mặc, đừng để cho thiếu thốn.

“Đói lòng ăn đọt chà là

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”.

Hiếu thuận là không ngăn cản việc làm đúng đắn của cha mẹ.

Hiếu thiện là hướng dẫn cha mẹ tu tập theo Phật pháp để hiện đời an vui, vị lai sanh về cõi Phật.

Đền ơn cha mẹ chi bằng của cải vật chất sung túc, nhưng cũng chưa thể gọi đó là báo ân cha mẹ, nếu như tâm cha mẹ còn mê. Cái chính của hiếu vẫn là hiếu thiện. Nếu hiếu kính, hiếu dưỡng, hiếu thuận đầy đủ mà không khuyên cha mẹ bỏ việc ác vẫn là bất hiếu. Chúng ta phải hướng dẫn đời sống tinh thần cho cha mẹ như:

- Nếu cha mẹ không có niềm tin Tam Bảo thì khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam Bảo.

- Nếu cha mẹ xan tham thì khuyên cha mẹ phát tâm bố thí.

- Nếu cha mẹ làm ác thì khuyên cha mẹ hướng về điều thiện.

- Nếu cha mẹ theo tà kiến thì khuyên cha mẹ theo chánh kiến.

Như thế đủ đền ơn cha mẹ (Kinh Tăng Chi). Ngoài việc báo hiếu với cha mẹ, người con phải có hiếu với ông bà tổ tiên, vì có ông bà mới có cha mẹ.

  1. Chúng sanh ân:

Ngoài quan hệ giữa cha mẹ thầy trò, chúng ta còn có những sự tương quan mật thiết với nhau trong cộng đồng xã hội. Nếu tách rời ra thì mỗi người không thể nào sống được thuận tiện. Có cơm ăn là nhờ nông phu cày ruộng, gieo gặt. Có áo mặc là nhờ người trồng bông, thợ dệt, thợ may. Cho nên có câu:

“Thân phi nhứt lũ thường tư chức nữ chi lao,

Nhật thực tam xan mỗi niệm nông phu chi khổ”.

Có nhà cửa là nhờ thợ mộc, thợ hồ xây dựng. Khi đau ốm thì nhờ thầy thuốc. Nhà bác học Pasteur đã tìm ra vi trùng chó dại và nghiên cứu thuốc chữa khỏi. Bác sĩ Yersin đã tìm ra vi trùng bệnh dịch hạch. Hải Thượng Lãn Ông suýt chết vì nếm vị thuốc mới tìm được để trị cho bệnh nhân. Người tu sĩ được an tâm tu hành là nhờ ơn đàn na cúng dường. Nhân loại được sinh tồn là nhờ có sự tương trợ lẫn nhau nên có ân nghĩa với nhau.

Vì đã thọ ơn chúng sanh nên chúng ta phải đền ơn bằng cách hòa mình vào cuộc sống xã hội, chung sức xây dựng các công việc hữu ích như làm cầu, làm thủy điện, bảo vệ môi trường sống. Làm các việc từ thiện như cứu giúp người tàn tật, cứu trợ thiên tai bảo lụt, xây dựng nhà tình nghĩa, không sát hại sinh vật, tùy theo khả năng của mình. Đức Phật đã có lần xâu kim cho một bà lão, hoặc tắm cho một vị sa môn bị bệnh. Làm lợi ích cho xã hội đúng theo tinh thần Phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật.

Đức Phật thấy rõ chúng sanh đang sống hiện tại đã từng là anh em cha mẹ của chúng ta trong nhiều kiếp nhân quả luân hồi. Cho nên báo ân chúng sanh là báo ân đa sanh phụ mẫu và quyến thuộc quá khứ của chúng ta.

  1. Quốc Vương ân:

Ngày xưa trong thời quân chủ thì gọi là Quốc vương ân, bây giờ thời đại dân chủ thì gọi là Tổ quốc ân. Tổ quốc ân là lãnh đạo các cấp chính quyền, là người chống ngoại xâm, đem lại độc lập cho đất nước, giữ gìn an ninh trật tự cho nhân dân. Trong đó có những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh xương máu để bảo vệ tổ quốc thanh bình. Chính quyền điều hành guồng máy Nhà nước, chăm lo đời sống nhân dân.

Nhờ có Nhà nước chúng ta mới được an cư lạc nghiệp. Cho nên làm người chúng ta phải có nhiệm vụ đối với quốc gia dân tộc, phát huy truyền thống yêu quê hương tổ quốc, đem sức lực và trí tuệ giữ gìn sự nghiệp của các bậc tiền nhân để lại.

  1. Tam Bảo ân:

Tam Bảo ân là ơn chư Phật, giáo Pháp và chư Tăng.

Đức Phật có phước đức trí tuệ rất cao sâu, không thể nghĩ bàn. Ngài là đấng Pháp vương nói ra vô lượng pháp môn để cho chúng sanh y theo tu hành mà được giải thoát. Đức Phật là bậc Y vương đem pháp dược chữa lành tâm bệnh cho chúng sanh. Ngài là ruộng phước tối thắng trong thế gian và xuất thế gian, cho nên chúng sanh chịu trọng ân của Ngài.

Pháp bảo là giáo pháp để cho chúng sanh làm phương pháp tu tập đoạn trừ vô minh phiền não. Nương theo Kinh-Luật-Luận hành trì Giới-Định-Tuệ sẽ viễn ly sanh tử, đạt đến Niết bàn. Pháp bảo là thuốc hay có thể chữa lành tâm bệnh của chúng sanh, vì Pháp có công năng giải thoát cho nên chúng sanh phải tri ân Pháp.

Tăng bảo là đoàn thể của những vị xuất gia, gồm có Bồ Tát Tăng, Thinh Văn Tăng, và phàm phu Tăng. Tăng già tượng trưng cho sự hòa hợp. Chư Tăng đem giáo pháp của chư Phật truyền cho đại chúng, làm lợi ích cho loài hữu tình. Nhờ chư Tăng mà chúng sanh biết được Phật pháp để tu hành, cho nên ơn chư Tăng rất lớn.

Muốn báo ân Tam Bảo thì phải học đúng, hiểu đúng và làm đúng những lời dạy của Đức Phật. Truyền bá chánh pháp hoặc ấn tống kinh sách để dìu dắt kẻ hậu học. Cúng dường Tam Bảo để chư Tăng có điều kiện học tập và hành đạo, nghe lời dạy bảo của chư Tăng.

Nói tóm lại, Tứ ân là ân cha mẹ, ân chúng sanh, ân tổ quốc, và ân Tam Bảo hoặc ân thầy dạy. Cha mẹ có công nuôi lớn thân này, chúng sanh có công ơn cung cấp mọi tiện nghi cần thiết, tổ quốc bảo vệ cuộc sống an lành, quyền lợi được bảo đảm. Tam Bảo giáo huấn cho chúng sanh tu tập từ bi hỷ xả, vô ngã vị tha, làm lợi mình lợi người, được an lạc trong hiện tại và vị lai. Muốn thực hiện báo đáp Tứ ân một cách chơn chánh thì tất cả mọi người chúng ta phải vun bồi đạo đức cho chính mình, giáo dục đàn con cháu noi theo gương hiếu hạnh của cha mẹ. Việc báo hiếu, báo ân không phải chỉ là việc làm của người Phật tử mà là của toàn xã hội vì tất cả mọi người đều chịu bốn ân ấy. Báo hiếu Tứ ân là đạo đức của con người trong mọi thời đại. Nếu thực hiện được những việc làm như trên thì đúng thật người con chí hiếu, người con đại hiếu đã góp phần làm cho gia đình và xã hội an vui.

Bài I-13 THỜ PHẬT - LẠY PHẬT - CÚNG PHẬT

-Thích Trí Viên-

 

  1. Mở đề:

Chúng ta là người con Phật, muốn thiết lập một cuộc sống thực tế hạnh phúc an vui ngay nơi đời này mà chưa thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật là chưa tròn bổn phận. Hình ảnh và đức tính của chư Phật là biểu tượng tinh thần trong sáng, tình thương bao dung trang trải đến mọi loài, thể hiện năng lực đoạn tận mọi khổ đau và phiền não, mang lại cuộc sống an lạc cho chúng sanh. Đức Phật có thể ẩn hiện sinh động nhiều cách suy nghĩ, được tôn vinh qua nhiều nghi thức hay cầu đảo... Nhưng, người con Phật chơn chánh không nên đánh giá tầm thường hay hiểu mù mờ về Đấng Giác Ngộ như vậy.

Với thế gian, không thờ Cha Mẹ, lạy cúng khi Cha Mẹ qua đời là người con chưa trọn chữ hiếu. Với Phật tử, không thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật là chưa trọn vẹn lẽ Đạo. Ngoại trừ những ai không có điều kiện hay hoàn cảnh không thích hợp, như vợ hoặc chồng không tôn thờ một lý tưởng.

Kiếp này, người Phật tử chúng ta có phúc duyên nhiều đời nên gặp được Phật-Pháp-Tăng (thế gian trụ trì Tam Bảo). Tuy là trong thời kỳ mạt pháp, vẫn còn có nơi để chúng ta nương tựa, tu học, chuyển đổi nếp sống xô bồ thành nếp sống thanh cao, vẫn là trợ duyên rất lớn cho chúng ta. Do đó, thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật là những bước đầu trợ duyên cho chúng ta tìm cầu giải thoát.

Vậy, thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật như thế nào đúng với tinh thần chánh Pháp?

  1. Thờ Phật:

Là tôn thờ lý tưởng giác ngộ của Đức Phật. Ngài giác ngộ về sanh, lão, bệnh, tử của chúng sanh, giác ngộ về duyên sanh vô ngã của các Pháp. Cho nên Phật tử chúng ta quy kính tôn thờ Ngài. chúng ta nên biết rằng, Đức Phật vì đại sự nhân duyên, xuất hiện cõi Ta bà này không ngoài sự độ sanh, chứ không phải Ngài tu hành thành Phật để bảo chúng ta phải thờ Ngài hay tôn kính Ngài! Nếu ai đó hiểu như vậy thật là sai lầm. Nói gọn lại, Đức Phật là một chúng sanh đã giác ngộ, nên những hiện tượng đau khổ, vô thường, bất an triền miên của chúng sanh, Ngài nhìn rõ, thấy rõ và nói lại thật rõ cho chúng sanh biết để ý thức và quyết định kiếp sống của chính mình. Vì vậy Phật tử thờ Phật là thể hiện lòng thành kính ngưỡng mộ và thờ Ngài như người cha lành, như người thầy đáng quý trọng.

  1. Nơi thờ Phật:

Tôn trí hình tượng Phật nơi tôn nghiêm nhất trong nhà. Chúng ta thờ một đức Phật là biểu tượng mười phương chư Phật, hay ba hình tượng là đủ, không nên thờ nhiều hình tượng, rồi không đủ thì giờ hay thờ ơ việc lau dọn, để bám bụi nhiều, có tội.

  1. Hình thức thờ:

Tùy theo hoàn cảnh mỗi gia đình, một cái bàn (có thể gắn vào vách như cái trang...) bộ chân đèn, một lư hương, hai chén nước trong, một bình cắm hoa, một cỗ bồng để dâng trái cây, một cây đèn dầu nhỏ (đèn hột vịt). Một tượng Phật tôn trí chính giữa (nếu thờ 3 Đức Phật thì tôn trí ngang nhau). Như vậy là đủ.

  1. Nghi lễ an vị Phật:

Chọn ngày thích hợp, thỉnh Tăng Ni về làm lễ an vị đơn giản. Nếu nơi nào không có Tăng Ni thì mời quý Phật tử lớn tuổi, có đạo hạnh thực hiện nghi lễ an vị. Có một điều nên quan tâm là: mọi người trong gia đình phải chí thành khi hành lễ an vị.

  1. Sau khi thỉnh Phật về thờ ở nhà, người Phật tử nên làm những gì?

* Mỗi ngày lau dọn bàn thờ Phật sạch sẽ, dâng hương hoa cúng dường.

* Sắp xếp thời giờ thích hợp, mỗi ngày tụng một thời kinh, nếu không tụng kinh được thì dâng hương niệm Phật cũng tốt. Động viên mọi người trong gia đình cùng tụng kinh hay lễ bái. Thể hiện được điều này thì gia đình hạnh phúc, an vui trong hào quang của Phật.

* Không để vật dụng lung tung trên bàn thờ Phật, tượng Phật thờ lâu năm bị hư, rách thì thay tượng mới, tượng cũ đem về chùa nhập tháp.

  1. Mục đích thờ Phật:

Là để mọi người trong nhà chiêm ngưỡng hạnh nguyện và lòng từ bi của Đức Phật. Thờ Phật là tạo phước duyên làm Phật. Thờ Phật là để noi gương cao thượng của Đức Phật, sửa đổi những thói hư tật xấu của chúng ta. Phật tử không nên quan niệm sai lệch, xem Phật như một vị thần hộ mệnh để chúng ta mua may bán đắt.

  1. Lạy Phật:

Lạy Phật để tỏ lòng cung kính như lúc Phật còn tại thế. Lạy Phật: “Chúng con nguyện sống đời rộng rãi” (Nghi thức tụng niệm).

Khi Đức Phật còn tại thế, vua quan, thứ dân mỗi lần đến thăm Đức Phật thì đảnh lễ, ôm chân Phật, tỏ lòng quý kính, sau mới thưa thỉnh việc gì cần, hay nghe Đức Phật giảng pháp. Do đó, lạy Phật có nghĩa là xin Ngài chỉ dạy mọi điều cao quý để chúng ta có cuộc sống thanh bình, không thù oán, căm hờn với nhau, mà ngược lại được an vui giải thoát, gắn chặt tình thương. Nhưng phải lạy thế nào cho đúng phép?

* Trước khi lạy Phật phải dọn mình sạch sẽ, y phục phải trang nghiêm.

* Mỗi khi lạy, nên lạy ba lạy, hoặc nhiều càng tốt, tùy theo sức khỏe và thời gian.

* Lạy xuống nên ngữa hai bàn tay, đưa trán đụng hai bàn tay, lạy phải nghiêm chỉnh, thân ngay thẳng, tác phong phải nghiêm.

* Thân lạy, tâm hướng về tướng hảo, lòng từ của Đức Phật.

  1. Mục đích lạy Phật:

* Dẹp tâm ngã mạn.

* Tạo phước, gây duyên, để đời đời được gặp Phật, tu theo hạnh nguyện của Ngài để tương lai được chứng quả như Ngài.

* Không phải cầu danh lợi mà vì tỏ lòng tôn kính.

* Cao hơn nữa, lạy Phật cũng chính là lạy ngay nơi Phật tính của mình (Chánh quán lễ). Bởi vì trong khi niệm Phật, chúng ta đã thể nhập vào Pháp giới chư Phật, không tự, không tha, không năng, không sở thì sự lễ bái hay niệm Phật mới hoàn hảo. Ngài Văn Thù đã dạy: “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch”. Nghĩa là người lạy và đấng mình đang lạy thể tánh nhất như, vắng lặng.

  1. Cúng Phật:

Chư Phật và chư Bồ Tát là bậc Ứng cúng, nên ai phát tâm cúng dường chư Phật là được phước báo tốt lành, gây nhơn làm Phật. Vì vậy, người con Phật thể hiện tinh thần cúng dường chư Phật là một việc rất cần thiết.

Như vậy, cúng Phật như thế nào cho đúng chánh Pháp?

Vật dụng cúng Phật: Hương, hoa, đèn, trà, quả, nhạc (theo nghi chẩn tế của chư Tổ đã dạy). Cao hơn nữa, Kinh đã dạy: “Hương giới, hương định, hương huệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến” đó là những món cúng dường có ý nghĩa mà người Phật tử dâng trọn lên chư Phật, chư vị Bồ Tát. Thể hiện được tâm nguyện cúng dường đã nêu trên là đủ ý nghĩa. Chúng ta không nên dâng cúng rườm rà, bày biện quá nhiều mất vẻ trang nghiêm.

Cúng Phật là cúng tấm lòng của chúng ta thể hiện qua nén hương thơm, cành hoa tươi đẹp là đủ rồi, không nên chạy theo những nghi lễ rườm rà biến Đức Phật làm biểu tượng mê hoặc lòng người. Nếu người con Phật làm không nhận định và thực hiện những chỉ dẫn trên, thì chúng ta đã vô tình khẳng định sự sai lầm của chính mình về Đức Phật. Đạo Phật tích cực bác bỏ mọi sự mê hoặc qua nhiều hình thức và xem đó là một định chế của vô minh. Phật tử chúng ta không nên để vướng vào những sai lầm đáng tiếc như vậy.

Tóm lại, người Phật tử chơn chánh không chỉ có đức tin đối với Tam Bảo mà còn phải suy nghĩ, nhận định đúng để có sự hiểu biết trong sáng đối với mọi sinh hoạt của đạo Phật, thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật vậy.

Bài I-14 TAM PHÁP ẤN

-Thích Trí Viên-

Tam Pháp Ấn là 3 pháp yếu quan trọng trong hệ thống giáo lý Phật Đà, do Đức Thích Ca Mâu Ni triển khai, được ấn chứng kinh tạng, như Tạp A Hàm, kinh số 262: Nhứt thiết hành vô thường, nhứt thiết pháp vô ngã, Niết bàn tịch diệt.

  1. Pháp ấn thứ 1: Nhứt thiết hành vô thường.

Tất cả các hành đều vô thường. Chữ Hành ở đây có nghĩa là những hiện tượng sinh diệt không ngừng. Những hiện tượng này có hiện tượng bằng sắc, có hiện tượng bằng tâm. Nhưng dù sắc hay tâm, cũng đều do nhân duyên tập hợp sinh diệt mà thành, nên gọi là những hành (chư hành). Vậy, Chư hành vô thường: Tất cả mọi hiện tượng đều vô thường. Ông Heraclit, một triết gia Tây phương đã nói: “Người ta không bao giờ tắm hai lần trong một dòng sông”. Ông đề cập sự vận chuyển vô thường của mọi sự vật như sự vận chuyển của dòng sông. Phương Đông, một triết gia, đức Khổng Tử cũng nói: “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ”: Chảy mãi thế này, ngày đêm không thôi.

Vô thường không phải là một khái niệm, nó là lẽ thật chất mà trí năng con người còn giới hạn, chưa phải là tuệ giác, nên chưa chứng đạt lẽ thật của vô thường. Cứ than phiền vô thường nhưng vẫn sống với vô thường, nên chúng ta bị vô thường chi phối, làm rối loạn đảo điên. Một người cha than với đứa con: Cuộc đời sao vô thường thế? Đứa con trả lời tại sao cha cứ than phiền vô thường hoài? Qua đối đáp trên, chúng ta đã ý thức rằng: Vô thường là tính cách thiết yếu của mọi sự sống. Nếu không có vô thường thì không có sống, không có hy vọng, không có niềm tin. Nhờ vô thường, mọi sự vật có tiến bộ. Ví dụ: Không có vô thường thì cây cối không lớn và cho hoa trái. Ngài Long Thọ cũng dạy: “Nhờ vô thường, vô ngã mà tất cả được thành tựu”.

  1. Pháp ấn thứ 2: Chư pháp vô ngã

Tất cả các pháp đều vô ngã. Vô ngã là không có một vật nào tự nó độc lập mà tạo thành. Cái này nương cái kia và ngược lại để thành. Cây lúa không tự nó tạo thành cây lúa mà phải nương vào đất, nước, gió, lửa mà có. Xét cho cùng, vô ngã là vô thường. Vô thường là xét về thời gian, vô ngã là xét về không gian.

Chúng ta vẫn biết, nói về vô ngã như là không thực tế. Nhưng là đạo lý giải thoát. Khi tha nhân xúc phạm đến cái ngã thì chúng ta bằng mọi cách bảo vệ, nên bị ngã dẫn dắt chúng ta vào thế giới đảo điên, buồn phiền, đau khổ.

  1. Pháp ấn thứ 3: Niết bàn tịch diệt

Sự chấm dứt, sự yên lặng. Chấm dứt cái gì và yên lặng thế nào?

Chấm dứt mọi khái niệm về vô thường, vô ngã và cả Thường, Ngã cũng phải chấm dứt luôn thì im lặng hoàn toàn. Không phải ý niệm về Vô thường ta phải vượt qua mà ý niệm về Thường cũng phải vượt qua. Ý niệm về Vô ngã, và Ngã đều vượt qua thì được tịch tĩnh. Nếu chúng ta không kẹt vào ý niệm thường hay vô thường thì chúng ta trực nhận Niết bàn - Tịch tĩnh. Như chúng ta đã ăn sầu riêng, không có ý niệm này nọ về sầu riêng nữa. Người chưa ăn sầu riêng họ đang kẹt khái niệm về sầu riêng. Chỉ khi nào họ được ăn sầu riêng thì họ giải thoát những ý niệm về sầu riêng. Như vậy, khi nào chúng ta chưa chứng được vô thường, vô ngã; vẫn còn nghe, còn học vô thường, vô ngã thì chúng ta chưa tiếp xúc được Niết bàn.

Chúng ta cũng biết rằng, tất cả những khổ đau phiền toái đều phát sinh từ cái nhìn của chúng ta. Từ những suy nghĩ, giận hờn, ganh ghét, tuyệt vọng... tất cả những nỗi niềm đau đớn ấy phát xuất từ cách chúng ta nhìn đời. Ví dụ: Tôi có ý niệm về hạnh phúc. Chừng nào tôi chưa nắm trọn vẹn trong tay thì chừng đó tôi chưa có hạnh phúc. Cũng từ cách nhìn cuộc đời về hạnh phúc, không được nên đau buồn. Khi chúng ta bị kẹt vào ý niệm hạnh phúc rồi là tự chúng ta khóa chặt cửa hạnh phúc. Vậy, ý niệm của chúng ta là lao ngục cho chính chúng ta. Niết bàn là gì? Niết bàn là phá tung những lao ngục ấy. Khi đã phá tung những ý niệm đó, vô thường, vô ngã, hạnh phúc thì chúng ta có cơ hội đi ngay vào thế giới của sự vắng lặng, của Niết bàn. Niết bàn không phải là khái niệm mà cái chúng ta đang có, nhưng chúng ta không chịu sống, không chịu trở về.

Tam Pháp Ấn là những pháp rất cần mà chúng ta tiếp nhận từ Đức Phật, để vượt mọi khái niệm, trở về với sự yên lặng chính chúng ta vậy.

Giá trị ấy được giải bày trong phạm vi bài này.

(Tài liệu tham cứu, Kiều và văn nghệ đứt ruột, TNH.)

Bài I-15 CHÁNH BÁO - Y BÁO

-Thích Trí Viên-

  1. Mở đề:

Sự phát triển khoa học, kinh tế, giáo dục và nhiều nhu cầu thực tế khác cho cuộc sống nhân loại đang đà tăng tốc, khẳng định sự tiến bộ của loài người thật đáng quý trọng. Tuy nhiên, nếu bị cuốn hút theo nhịp đà này mà bỏ quên hay không quan tâm xây dựng mô hình đạo đức được tôi luyện thì liệu có bảo đảm hạnh phúc cho con người hay không?

Quan niệm thông thường của con người có được cho mọi người phải hội đủ hai yếu tố: Tinh thần lành mạnh, của cải vật chất dồi dào. Cả hai yếu tố ấy nhà Phật gọi là Chánh báo và Y báo. Vậy, Chánh báo và Y báo nghĩa như thế nào?

  1. Nhập đề:
  2. Định nghĩa:
  3. Chánh báo là quả báo chánh, cũng gọi là chánh quả, là ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) năm món tích tụ lại.
  4. Y báo là quả báo phụ thuộc vào Chánh báo, như nhà cửa, ruộng vườn, tiền tài, danh vọng liên hệ cuộc sống mọi vật.

Qua định nghĩa trên, chúng ta biết rằng, mọi sự tốt đẹp hay xấu xa do Chánh báo quyết định hậu quả. Như vậy, không ai trong chúng ta không mong muốn mọi cái đẹp điều hay đến với chúng ta và thành công như ý nguyện. Muốn đạt mục đích ấy, người con Phật nào sửa đổi mỗi hành vi, lời nói, xây dựng Chánh báo cao đẹp thì Y báo sẽ tốt. Chánh báo tốt đẹp, hạnh phúc đối với Phật tử tại gia nói riêng không gì bằng vâng thọ tam quy, giữ gìn ngũ giới, từ đó tiến mãi hướng giải thoát.

Chánh báo là nền tảng cho mọi thành tựu của con người. Do đó, Đức Phật dạy: “Phàm làm điều gì phải nghĩ đến hậu quả của nó”. Quả báo chính là bà Thanh Đề tham lam ích kỷ, ngay nơi cảnh đọa đày đau khổ vẫn ôm tâm bỏn xẻn nên (Y báo) bát cơm do người con Đại hiếu Mục Kiền Liên dâng cúng cũng hóa thành lửa, không dùng được. Nếu ngay lúc ấy tâm bà (Chánh báo) Thanh Đề khởi niệm rộng rãi thì Y báo đáp ứng khỏi bị đói khát. Vì vậy, Chánh báo tức tâm biết tu thì mọi điều tốt đẹp sẽ đến. Cần nên hiểu chữ tu là sửa đổi, chỉnh đốn, mài dũa.

Ví dụ: Tôi tu cái mặt, tức là tôi rửa cái mặt... chứ không chỉ vào chùa cạo tóc, “Hạ thủ công phu” mới gọi là tu thì quá hạn hẹp. Tu là hoán đổi tánh hư tật xấu trở thành người tốt đẹp. Người thế gian hiểu nhầm đã đành, mà người Phật tử thọ Tam quy, Ngũ giới hiểu lệch lạc mới quá khổ! Nhà Phật dạy: “Tu cái tâm, dưỡng cái tánh. Tâm không tu thì cạo tóc ở trong chùa chẳng khác nào mấy anh cầu thủ vẫn cạo tóc kia mà! Thậm tệ hơn, người đời thường nói: Để khi già mới tu! Do đó, xây dựng Chánh báo là điều quan trọng, tức là tu tâm. Xây dựng Chánh báo là tâm phát nguyện giữ giới, không sát sanh hại vật, không trộm cắp tà vạy, không điêu ngoa xảo quyệt, không đâm thọc lừa đảo, không say sưa be bét mà phát nguyện phóng sanh bố thí, mở rộng lòng từ, không thủ đoạn lấn áp, chèn ép cuộc sống, không hách dịch khinh người, quý mến lẫn nhau, hiếu kính cha mẹ, ông bà, tôn trọng mọi sự sống, quan tâm giúp đỡ sự nghiệp giáo dục để đào tạo mẫu người tốt cho xã hội, ích nước lợi dân thì ai không quý mến, kính trọng đối với ta. Do Chánh báo, tức là bản thân và tâm niệm ta tốt nên mọi người trong gia đình làng xóm xã hội đều kính yêu ta, tức kết quả tùy theo đó mà mang lại tiếng lành danh thơm, nghĩa là y báo nhịp nhàng theo chánh báo, giống như người xưa thường nói: “Hình ngay bóng thẳng”.

  1. Con người và hoàn cảnh:

Nếu Chánh báo tức con người có tài đức, dù ở lãnh vực nào, hoàn cảnh nào vẫn tạo nên mọi ích lợi chung mới đáng trọng. Chánh báo tốt nghĩa là người đó luôn luôn có tâm niệm đẹp, tài đức song toàn, bao giờ họ cũng nghĩ đến lợi ích cho số đông, không ích kỷ nhỏ mọn, cuộc sống nhẹ nhàng. Vì thế, người Phật tử chúng ta nên xây dựng Chánh báo bằng nhiều phương thức Chân, Thiện, Mỹ thì Y báo phụ thuộc theo đó mà hỗ trợ cho chúng ta mọi ý nguyện tìm cầu giải thoát.

  1. Kết luận:

Những giải trình nêu trên cho chúng ta nhận định rõ ràng, nên cải hóa, bồi dưỡng Chánh báo thật tốt để thân không làm ác, miệng không nói những lời ác độc, ý không nghĩ xấu, ba nghiệp tu thiện sẽ bước đến bờ giải thoát.

Hãy làm theo chánh pháp,

Việc ác tránh không làm.

Người thật hành đúng chánh pháp,

Đời này vui đời sau cũng vui.

(Kinh Pháp Cú: -169)

Bài I-16 TỤNG KINH - TRÌ CHÚ - NIỆM PHẬT

(Tiếp theo)

-HT.Thích Huệ Quang-

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp

Bá thiên vạn kiếp nan tạo ngộ

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì

Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa. (Giải)

 

Mở đề:

Người Phật tử đã phát tâm tu theo pháp Phật, nếu chỉ Thờ - Lạy - Cúng thì chưa thể gọi là thuần thành. Bởi vì ba món trên là hình thức, thuộc về Sự; còn Tụng Kinh - Trì Chú - Niệm Phật thuộc về . Sự - Lý viên dung công đức mới thành tựu.

Hơn nữa, từ vô thỉ cái vọng hoặc đã thành chủng tử ẩn núp trong tàng thức dễ phát hiện hằng giờ, dễ gây ra những loạn tưởng vọng niệm. Nay nhờ tiếng Kinh (lời Phật dạy), nương đó để tâm hồn ta được yên lặng sáng suốt, ý ta trở về với chánh niệm, tỏ ngộ lý lẽ huyền diệu của chư Phật. Do đó tụng Kinh, niệm Phật là ta thâu tâm vào một cảnh (cảnh Phật thanh tịnh), nhiếp ý vào tiếng Kinh. Tâm cảnh nhứt như trở thành Phật đạo.

Bởi vì cùng với thờ lạy và cúng Phật, chúng ta cần phải Tụng Kinh - Trì Chú - Niệm Phật là căn bản của người Phật tử vậy.

Định nghĩa Tụng Kinh:

  1. Tụng: Là đọc thành tiếng với tấm lòng thành kính, giọng điệu thiền âm đọc theo tiếng chuông, tiếng mõ.
  2. Kinh: Là lời dạy của Phật, được ghi chép thành bộ gọi là Kinh, bao gồm các phương pháp tu hành, còn gọi là Pháp Bảo. Kinh là một trong 3 tạng pháp do Đức Phật nói trong 49 năm, chia ra từng thời giảng và nhiều bộ mà chỉ dạy hợp với chơn lý, tùy theo căn cơ của chúng sanh. Mỗi bộ Kinh có một ý nghĩa, chỉ dạy từng phương thức tu tập. Đơn cử như Kinh A-Di-Đà.

Đức Bổn Sư chỉ bày Y báo - Chánh báo của Đức Phật A-Di-Đà đầy đủ công đức thanh tịnh, trang nghiêm nơi cảnh Tịnh độ an lạc, khuyến chúng sanh phát chánh tín, phát thiện hạnh, phát nguyện chí thành trì niệm danh hiệu Đức Phật A-Di-Đà, sẽ được nhờ Chư Phật sáu phương hộ niệm. Chư Thiên, thiện nhơn hộ trì, tức sẽ được vãng sanh lên bực Bất thối.

Kinh Địa Tạng, nơi cung Trời Đao Lợi vì Phật mẫu mà Bổn Sư nói rõ các hạnh nghiệp của chúng sanh, tùy theo đó mà thọ quả.

Kinh Vu Lan, Phật dạy phương pháp báo hiếu.

Do đó, tụng Kinh phải tịnh tâm từng câu Kinh để hiểu ý nghĩa lời dạy của Phật (đọc Kinh giả minh Phật chi lý), thân phải trang nghiêm cung kính, miệng đọc tụng suốt thấu câu Kinh, ý liên tưởng xét từng chữ tụng. Ba nghiệp cũng kết hợp trong câu Kinh công đức được vô lượng.

Cách thức nơi tụng Kinh: Nơi chỗ tụng Kinh phải chỉnh đốn trang nghiêm. Thân phải chỉnh tề ngay thẳng dáng vẻ cung kính, miệng đọc từng câu, từng chữ rõ ràng tránh nhầm lẫn sai sót, tiếng dịu dàng vừa phải. Ý luôn theo dõi câu Kinh, xét nghĩ ý nghĩa, chớ để tâm leo qua cảnh khác, và theo đó mà tu hành.

Lợi ích: Trong một thời tụng Kinh mà ba nghiệp được thanh tịnh, giới định được viên mãn, trí huệ được phát triển. Công đức vô lượng đem lại lợi ích cho mình, cho gia đình và cùng các người chung quanh. Hơn nữa, Pháp âm của Chư Phật lại được rộng truyền.

Định nghĩa Trì Chú:

  1. Trì : Nắm giữ, bền chắc
  2. Chú : Chú nguyện, chú tâm. Chú: Đọc đủ là thần chú. Thần: Uy linh bất trắc. Chú: Tùy tâm sở nguyện (giải).

Y nơi Kinh lập danh, đó là nghĩa hiển.

Y nơi Chú lập danh, đó là nghĩa mật, vì mật nên không thể giải mà chỉ đọc theo Phạm âm.

Tụng Kinh và Trì Chú có gì khác nhau không?

+ Có khác nhau về thể cách: Kinh tụng chậm mau theo âm điệu và theo sở nguyện nhiều ít. Chú trì chú nguyện bền chắc, lời đọc có phần mau hơn và đọc nhiều lần.

+ Không khác về tâm nguyện: Tương ứng theo sự mong cầu tiêu ba nghiệp, phát trí huệ nên khi trì niệm, ý chăm chú liên tưởng đến sự cầu nguyện không nên lửng lờ. Ba nghiệp tương ứng đầy đủ như thế, sự cầu nguyện sở thành, công đức vô lượng.

Lợi ích của sự trì chú:

Chú có công năng vô lượng. Nếu người thành tâm trì chú thì được nhiều hiệu lực phi thường không thể tưởng tượng được. Kinh nói: Nguyện các đức Như Lai ở mười phương nhân nơi chú tâm đây mà đắc đạo quả Phật (NKHG)

Xin trích dẫn sự lợi ích nơi Chú Đại Bi.

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát nói rằng: Trước vô lượng kiếp có Đức Phật ra đời hiệu là Thiên Quang Vương Như Lai, Ngài thuyết Thần Chú Đại Bi Tâm Đà La Ni. Hồi đó tôi mới chứng được sơ địa, chỉ nghe một lần tôi liền được siêu chứng thập địa. Tức thời tôi phát nguyện: Qua đời sau, nếu tôi có làm lợi ích cho chúng sanh thì giờ đây cho tôi được nảy sanh ngàn tay ngàn mắt, tức thời tôi được như ý; và tôi còn nguyện: Nếu người nào tụng được trăm biến Đại Bi Thần Chú đây, thì có thể trừ dứt 5 ngàn ức kiếp sanh tử trọng tội, thân tâm được an ổn. Đến lúc mạng chung được Chư Phật Bồ Tát nắm tay dẫn dắt về cõi Cực Lạc. (NKHG trang 75)

Bài I-17 TỤNG KINH - TRÌ CHÚ - NIỆM PHẬT (Tiếp theo)

-HT.Thích Huệ Quang-

Mở đề:

Niệm Phật là tâm tưởng ghi nhớ danh hiệu của Đức Phật. Cảm nhận hạnh nguyện độ sanh của Đức Phật đó. Bởi vì chúng sanh (nói chung) sống trong kiếp luân hồi, vì vô minh nên tham ái ràng buộc, mờ đục chân tâm, vọng tưởng phát khởi, chẳng khác trong nước có bùn nhơ. Nay muốn được trong cần có chút phèn, chất nhơ sẽ lắng, nước lại được trong. Vậy, câu niệm Phật có công năng phá trừ vọng niệm, hóa giải phiền não, khiến cho người niệm Phật tâm sanh chánh niệm, giải trừ phiền não, trí tuệ phát khởi.

Hơn nữa, câu niệm Phật công đức rất to lớn, gồm thâu cả 3 tạng giáo điển, các thần chú, cùng các pháp viên đốn như tham thiền, quán tưởng. (PHPT tr. 148) NKHG332.

Cuộc đời muôn đắng ngàn cay

Một câu niệm Phật tan ngay tức thì

Niệm Phật dứt bỏ oán thù

Lòng không hung dữ ngục tù đâu vương

Niệm Phật mở rộng lòng thương

Oán thương bình đẳng tai ương nào vào.

Vậy niệm danh hiệu của Đức Phật nào?

Đức Phật nào cũng có đủ 10 danh hiệu (1), một tâm toàn giác, từ bi phước trí vô biên. Niệm danh hiệu của Đức Phật nào cũng đều có cảm ứng công đức như vậy.

Tuy nhiên, để thích hợp với mọi hoàn cảnh, căn cơ tâm nguyện, cũng là một pháp môn tu, thường gắn bó với niệm Phật nên đa số Phật tử trì tụng danh hiệu của Đức Phật A-Di-Đà còn gọi là tu pháp môn Tịnh độ. Do lời dạy của Đức Phật Thích Ca rằng: Đến thời mạt pháp cách Phật rất xa, chỉ còn lưu truyền Kinh A Di Đà và câu lục tự Di Đà đủ năng lực để đưa chúng sanh về cõi Cực lạc.

Vậy phải niệm Phật bằng cách nào?

Có nhiều cách như: Trì danh Niệm Phật, Tham cứu niệm Phật, Quán tưởng niệm Phật, Thật tướng niệm Phật.

  1. Trì danh Niệm Phật: Là giữ một lòng nhớ danh hiệu Phật. Tâm quán tưởng 6 chữ Nam mô A-Di-Đà Phật. Tâm tưởng, miệng niệm, ý nghĩ quen dần kết thành ghi nhớ.
  2. Tham cứu niệm Phật: Pháp niệm này cũng giống như trên, nhưng thêm vào vừa niệm vừa suy xét thân phận nơi mình và công đức độ sanh cũng như cảnh giới của Đức Phật.
  3. Quán tưởng niệm Phật: Pháp niệm này vừa niệm vừa hình dung Đức Phật. Ý tưởng chư Phật thấy ta và ta thấy Phật (Pháp này dễ đi đến chỗ nhứt tâm).
  4. Thật tướng niệm Phật: Pháp niệm với chân tâm, không biến dịch với thanh tịnh Như Lai (PHPT- tr 336-q1)

Lại còn có 4 cách sau đây:

  1. Niệm ra tiếng: Đối trị tán loạn hôn trầm.
  2. Niệm mặc nhiên: Niệm lâm râm, niệm không ra tiếng, nhưng tinh thần đặt hết vào câu niệm Phật.
  3. Niệm lễ bái: Miệng niệm, thân lạy; miệng niệm câu Phật hiệu, thân lạy 1 lạy. Ý nghĩ đến Phật, thân, khẩu, ý tập trung vào câu hiệu Phật, không còn chỗ hở để trần sự xen vào.
  4. Niệm không niệm vẫn là niệm: Mặc dù có niệm thành lời hay không, nhưng tâm vẫn nhớ câu niệm, coi như câu niệm Phật nằm trong tâm. Sở dĩ miệng niệm là cốt nhắc cho tâm nhớ.

Như thế, cứu cánh của pháp môn niệm Phật thành đạt. Song muốn có kết quả mỹ mãn, điều kiện phải có 3 món tư lương là Tín, Nguyện, Hạnh là căn bản của tu pháp môn Tịnh độ.

- Tín: Là tin lời dạy của Đức Thế Tôn từ bi chân thật dạy tu pháp môn này. Tin thế giới ta đang sống nầy đầy phiền não ô trược. Cõi Tịnh độ trang nghiêm thanh tịnh do nguyện lực của Đức Phật A-Di-Đà là thật có và 48 lời thệ nguyện của Đức Phật A-Di-Đà là chơn thật. Tín chánh niệm của ta cùng tâm niệm của Đức Phật A-Di-Đà chắc chắn cảm ứng với nhau, thế nào cũng được tiếp dẫn vãng sanh.

- Nguyện: Thực hiện các điều lành, luôn giữ câu niệm Phật. Lìa 3 nghiệp, vượt bến mê, sớm giác ngộ là một lòng cầu về Tịnh độ. Hơn nữa, lập chí với sự thiết tha, lập nguyện với tấm lòng bền vững; dù đạo hay đời muốn thành tựu chí hướng phải kiên định.

- Hạnh: Thực hiện theo chí nguyện, bền giữ câu niệm A-Di-Đà, niệm mãi đến lúc nào được nhất tâm bất loạn.

Lợi ích câu niệm Phật của pháp môn Tịnh độ:

Đạo Phật có muôn ngàn pháp môn, nhưng pháp môn niệm Phật dễ tu, mau chứng hơn cả (PHPT tr.368 q1), với lời thệ nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của Đức Phật A-Di-Đà là: Thề quyết không giữ ngôi chánh giác, nếu khi tôi thành Phật có chúng sanh trong 10 phương một lòng tin tưởng Tôi, hằng ngày niệm danh hiệu Tôi để cầu vãng sanh cực lạc mà đến khi lâm chung chẳng được như nguyện.

- Niệm Phật trừ được niệm của chúng sanh.

- Niệm Phật trừ được tâm buồn phiền.

- Niệm Phật để hóa giải các oán khiên.

- Niệm Phật mừng vui cùng đạo hữu.

Tóm lại, kết quả Pháp môn niệm Phật là viên đốn, lại thích hợp với mọi hoàn cảnh căn cơ trình độ của quần chúng, người trí thức, bác nông phu, người thợ thuyền, kẻ buôn bán ở đâu cũng đều niệm Phật được cả. Tuy dễ tu mà kết quả chắc thật viên mãn được vãng sanh Cực lạc quốc.

Chúng ta trót sinh ra trong cõi Ta bà này, ai cũng biết có thân là khổ, dù được vui chỉ chốc lát chỉ là tạm bợ, mà khổ lại theo đuổi triền miên. Vậy chúng ta chuyên cần niệm Phật để sớm được giải thoát.

Mạc đãi lão lai phương niệm Phật

Cô phần đa thị thiếu niên nhơn.

Bài I-18 TỤNG KINH - TRÌ CHÚ - NIỆM PHẬT (Tiếp theo)

-HT.Thích Huệ Quang-

Mở đề:

Như đã nói ở bài trước. Nay muốn được rõ nghĩa câu Kinh, mà Đức Phật đã nói để dạy chúng ta tu hành. Sau đây, tôi trích một câu Kinh mà chúng ta thường đọc tụng để rõ ý nghĩa (tụng Kinh Giả Phật Chi Lý).

Đề Kinh - Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não.

Tam chướng: Nghiệp báo chướng, Sở tri chướng, Phiền não chướng.

Phiền não: mệt nhọc, âu lo, buồn phiền, mê dối (hoặc), phiền não làm rối loạn thân tâm, chẳng đặng giác ngộ làm trở ngại Đạo quả Niết bàn.

Phiền não - chủ yếu nơi nội tâm chờ ra mặt.

Phiền não được chia làm hai loại:

Loại 1: Căn bản phiền não.

Loại 2: Tùy phiền não.

  1. Căn bản có 6 giống:
  2. Tham: Ham muốn - Dục - Ái.
  3. Sân : Trái sự ham muốn giữa ta và người sinh ra hờn giận.
  4. Si: U tối không rõ thị phi. Không tin nhân quả,sanh khởi các giống tà kiến, tà hạnh.
  5. Mạn: Tự ngã - Khinh thường.
  6. Nghi: Hoài nghi - Thiếu tin tưởng.
  7. Ác kiến: Mất chánh kiến, thấy biết sai lầm với 5 giống trên, sanh tập quán nhiễm sân, mê hoặc tối tăm. Đây là 5 độn sử thuộc tư hoặc, nay học để hiểu rõ, thời gian ngắn, sức tu hành giảm dần đến chỗ đoạn trừ.

Ác kiến có 5 giống - Tư tưởng đen tối, thấy biết sai lầm. Giống phiền não này ngăn cản sự thấy biết chính xác chân lý để lãnh ngộ (còn gọi Kiến hoặc hay Lợi sử).

Cần tu học với thời gian đoạn trừ, cho thấy biết được chân chánh lợi ích việc tu chứng.

  1. Tùy phiền não có ba loại:
  2. Tiểu tùy phiền não có 10 giống:
  3. Phẫn : Hung bạo - Nộ khí.
  4. Hận : Tích kiết sự thù oán.
  5. Phú : Lật lạc - Tráo trở - Che dấu.
  6. Não : Áo não - Phiền muộn
  7. Tật : Đố kỵ - Ganh ghét.
  8. Xan : Keo cú gạt gẫm.
  9. Cuống : Dối trá khinh mạng.
  10. Siểm: Ninh hót, bợ đỡ.
  11. Hại : Hành động hung ác, do sân hận phát sinh tàn nhẫn.
  12. Kiêu: Tự đắc, tự cao.
  13. Trung tùy phiền não có 8 giống:
  14. Vô tàm: Đối nội tâm, không biết hổ thẹn.
  15. Vô quý: Đối ngoại cảnh không biết lo sợ để sửa chữa
  16. Đại tùy phiền não có 8 giống:
  17. Hôn trầm : Tâm gật gù u tối.
  18. Trạo hối : Tâm xáo trộn không yên (bất định).
  19. Bất tín : Tâm thiếu tin tưởng nhân quả...
  20. Giải đãi : Chần chờ không siêng năng.
  21. Phóng dật : Phóng túng, không biết tự kiềm chế.
  22. Thất niệm : Tâm mất chánh niệm.
  23. Tán loạn : Tâm không chuyên nhất.
  24. Bất chánh tri : Mất chính xác sự thấy biết.

Trên đây do 6 giống phiền não, trước sanh khởi 3 loại sau (tiểu, trung, đại) còn gọi là Chi mạt phiền não, làm trở ngại cho việc tu hành, ngăn che trí tuệ, thối thất tâm Bồ Đề. Nay chúng ta biết phiền não nó là gì, để cố gắng đoạn trừ bằng trí tuệ, để thăng hoa việc tu hành, tiến lên bờ giác.

Bài đọc thêm I-1 MẪU NGƯỜI SIÊU VIỆT

Thích Trí Viên-

Nam Mô Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật

 

Kính thưa quý Phật tử!

Hôm nay mùa sen đã nở, Phật đản lại về. Người con Phật khắp năm châu bốn biển thiết lễ kỷ niệm một mẫu người siêu việt trong tập thể loài người. Người siêu việt ấy chính là Thái tử Tất-Đạt-Đa, con Vua Tịnh-Phạn và Hoàng hậu Ma-Da ở phía Bắc Ấn Độ.

Theo tục lệ Ấn Độ, người con gái sinh con đầu lòng phải về nơi quê cha đất mẹ để sinh con. Hoàng hậu Ma-Da cũng không ngoài tục lệ ấy.

Xa giá và đoàn nữ tùy tùng đưa Hoàng hậu Ma-Da lên đường về quê mẹ. Mấy chốc, đoàn người ra khỏi cấm thành, ngang qua khu vườn có hoa thơm cỏ lạ, Hoàng hậu ra lệnh ngừng xe, vừa bước xuống xe một đóa hoa vô ưu hé nở. Hoàng hậu đưa tay lên hái thì hạ sinh Thái tử. Nhà Vua nghe tin này rất mừng. Vua Tịnh-Phạn sắc lệnh đoàn người đến rước Hoàng hậu Ma-Da và Thái tử. Về đến cung triều, nhà vua sắc lệnh mở yến tiệc, mở kho lương thực bố thí mọi người nghèo khó. Thái tử được đặt tên là Tất-Đạt-Đa (Nhứt thiết nghĩa thành).

Một Thái tử đầu lòng nên được chăm sóc đặc biệt, quan tâm nuôi dưỡng không kể cả thời tiết. Ngày tháng trôi nhanh Thái tử lớn lên, suy tư càng lớn. Một ngày nọ, ý chí vượt thành xuất gia lại đến, sau những lần ra 4 cửa thành cùng vua cha ngoạn cảnh.

Thái tử Tất-Đạt-Đa là một con người như bao con người có mặt nơi thế gian này, nghĩa là cũng sinh từ bụng mẹ, bằng xương, bằng thịt. Nhưng khác với con người là Thái tử sớm ý thức được cuộc đời là vô thường, là đau khổ, là ích kỷ, là tham lam, là thù hận, cho nên Thái tử bằng mọi cách tránh nó đi, tìm cho mình lối sống thanh cao, giàu lòng nhân ái, rồi đem cái thanh cao, nhân ái ấy chỉ dạy cho mọi người.

Khi ý thức điều ấy một cách rõ ràng, giữa đêm, Thái tử Tất-Đạt-Đa đã vượt thành xuất gia, bỏ lại cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, một mình một bóng vào rừng tu học. Giờ đây:

“Chiếc thân vui bạn với yên hà,

Theo tiếng gọi lòng từ thôi thúc

Rừng khổ hạnh lần dò bước tới...

Kham chịu cảnh màn trời chiếu đất,

Không ngại ngùng thú dữ ma thiêng.”

Vào rừng học đạo, không có nghĩa là chấp nhận mọi cách tu của các giáo phái (tu khổ hạnh, làm nhục thân xác...). Lúc đầu Ngài cũng thực tập như mọi người, nhưng rồi không một phương pháp tu hành nào được kết quả giải thoát mà chỉ là hành hạ xác thân, phơi bày si mê, cuồng loạn. Thái tử Tất-Đạt-Đa tự chọn cho mình một phương pháp tu hành khác.

Như vậy, qua 6 năm trường, phí mất bao nhiêu thời gian và sức lực, cuối cùng còn lại một thân hình da bọc xương, thể xác ngày càng yếu đuối. Một ngày nọ, Thái tử xuống sông Ni-Liên-Thuyền, tắm rửa tự thân sạch sẽ, vừa lên bờ sông, có hai thí chủ cúng một bát sữa cừu tươi, Ngài hoan hỉ nhận lấy. Sau khi uống sữa, tinh thần của Thái tử tỉnh lại, thân thể khỏe dần. Thái tử Tất-Đạt-Đa bước vào rừng sâu, đi mãi đi mãi, cuối cùng gặp một gốc cây to lớn, cành lá tỏa mát. Thái tử chọn nơi đây là nơi dừng chân cuối cùng. Thái tử sửa soạn chỗ ngồi và thệ nguyện rằng: “Dù thịt Ta có rửa, xương Ta có mục, máu Ta có khô, nếu Ta chưa tìm ra chân lý thì Ta không rời khỏi gốc cây này”. Thái tử bắt đầu áp dụng phương pháp tu.

Thiền tọa, quán tưởng là duy nhất. Thái tử tọa thiền để quán tưởng: Vì sao chúng sanh phải sanh, già, chết và khổ. Khổ khi sanh, khổ khi sống, khổ khi bệnh tật, khi chết và luân hồi trong biển khổ ấy mãi mãi. Gần trọn 49 ngày đêm, Thái tử thiền tọa quán tưởng liên tục. Bằng sự quán tưởng không ngừng nghỉ, tận cùng của sự quán tưởng. Ngài đã khám phá được do 12 chuỗi duyên sinh trói buộc liên tục, chính là nguồn gốc của mọi sự thống khổ và đau thương mà chúng sanh phải chịu một quy luật liên tục chi phối trong nhiều kiếp sống. Nhờ sự chứng đạt này, Ngài có một năng lực phi thường, trí tuệ siêu việt, để cuối cùng trở thành một vị Đại Giác Ngộ có một không hai trên thế gian này.

Không một sự thành công nào mà không trải qua gian nan thử thách. Cho nên, Thái tử Tất-Đạt-Đa cũng phải đối diện mọi chướng ngại ấy, nhất là đêm cuối cùng trước giờ quyết định thành Phật. Quyết liệt nội chướng, thân Ngài ngứa rát khó chịu, bên ngoài xuất hiện những đạo binh ghê tởm, mặt dữ hung tợn, chúng ra lệnh Ngài phải đứng dậy. Nhưng Ngài kiên định không nhúc nhích, chúng ma dùng tên bắn xối xả. Không được cách này, chúng dùng mỹ nhân kế khuyến dụ, cuối cùng bị Ngài quát rằng: “Túi đựng đồ hôi thúi, các người mang đi nơi khác, Ta không cần những thứ nhơ ấy”.

Như vậy, cả nội ma, ngoại chướng không làm Ngài lay chuyển. Ngài dứt sạch dục lậu phiền não, nên canh hai, Ngài chứng được Túc Mạng Minh, nghĩa là Ngài đã nhận thấy toàn bộ những quá khứ kiếp đã là gì, sống thế nào. Canh ba Ngài chứng Thiên Nhãn Minh, nghĩa là Ngài đã thấy tất cả mọi sự thật giả dối của sự vật. Canh tư, Ngài chứng Lậu Tận Minh, tận diệt mọi Hoặc - Nghiệp, thấy rõ Pháp Tứ Đế, đoạn tận mọi mê lầm. Khi sao Mai vừa mọc, Ngài hốt nhiên Đại Ngộ, nghĩa là Ngài đã thành Phật và tuyên bố với muôn loài rằng: “Ta lang thang trong vòng luân hồi sanh tử qua bao nhiều kiếp sống, tìm mãi mà chưa gặp kẻ làm nhà, hôm nay Ta đã biết rõ chân tướng kẻ làm nhà”. Ngài tuyên bố: “Hởi kẻ làm nhà! Nay Ta đã gặp nhà ngươi rồi, ngươi không còn tham vọng xây cất nhà theo ý ham muốn mẫu mã của nhàngươi. Tất cả rui mè, kèo cột của nhà ngươi đều bị tàn lụi hết rồi”.

Bộ mặt thật, tạm bợ của đảo điên, vô thường được phơi bày qua trí tuệ bừng sáng của Bậc Đại Giác, làm rung chuyển cả sơn hà vũ trụ, chim muông ca hát, hoa lá xanh tươi, nhạc trời nổi dậy, chư thiên vui mừng chấp tay kính lễ đấng Đại giác của muôn loài. Chính giờ phút này, ánh hào quang tỏa chiếu khắp vũ trụ, sơn hà. Bấy giờ Ngài vừa tròn 30 tuổi.

* Bước đường giáo hóa:

Sau khi chứng quả Đại Giác, Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni còn do dự, phân vân việc chỉ dạy chúng sanh những sự thật mà Ngài chứng ngộ. Nhưng nhìn lại, căn cơ chúng sanh mỗi người mỗi khác, căn trí chậm chạp. Họ sống như những nụ sen trong đầm nước, có cái vừa mới ló lên mặt nước nhưng chưa nở, có cái ló lên đã nở, có cái còn ngâm trong nước. Đức Phật chưa quyết định rời tòa Đạo Tràng thì vua Trời Phạm Thiên biết được ý nghĩ của Phật, liền hiện xuống cầu Phật đem giáo pháp của Ngài chứng ngộ chỉ dạy cho chúng sanh, để tỏ ngộ đâu là vô thường, đâu là vô ngã, đâu là đau khổ, đâu là Niết bàn an vui, giải thoát tự tại. Qua lời cầu thỉnh chân thành của Trời Phạm Thiên, Giáo Pháp của Ngài được ban như một trận mưa, cây lớn thì hứng nhiều nước, cây nhỏ thì tiếp nhận ít. Chúng sanh cũng thế, căn trí lanh lẹ thì tiếp thu nhanh nhẹn, căn trí chậm chạp thì tiếp nhận ảo mờ.

Những người được giáo hóa đầu tiên là năm anh em Kiều Trần Như. Đây là những bạn đồng tu ban đầu với Ngài, nhưng phương pháp tu hành không phù hợp với con đường Giác Ngộ, nên Đức Phật đã bỏ nhóm năm anh em Kiều Trần Như, một mình một bóng, tự chọn cho mình phương pháp tu hành khác. Do đó, Ngài đạt kết quả mà hôm nay nhân loại vẫn còn ca tụng. Bài pháp đầu tiên, Đức Phật dạy cho năm anh em Kiều Trần Như là Tứ Diệu Đế, tại Lộc Uyển. Đây cũng là bài giảng đầu tiên trên bước đường hoằng hóa độ sanh của Đức Phật. Và cứ như thế, hàng ngàn lớp học hình thành, từ vua chúa đến thứ dân, không phân biệt kẻ sang người hèn, hễ ai có duyên đều được Phật hóa độ không phân biệt giai cấp, lớn nhỏ, màu da.

Sau khi giáo hóa năm anh em Kiều Trần Như, năm người trở thành những vị xuất gia đầu tiên và Tam Bảo được hình thành tại ngôi vườn này. Như vậy, chúng ta biết rằng, trong thời Đức Phật còn tại thế là thời kỳ chánh pháp, mà thời đại chúng ta đang sống là thời kỳ mạt pháp, sự tu hành và chứng ngộ rất khó đạt.

Lòng kiên định và tính nhẫn nại của Phật Giáo, mà hình ảnh linh động nhất, trọn vẹn nhất, kính ngưỡng nhất là dung mạo Đức Phật. Ngài từ một con người, thật là người, làm điểm tựa, tự mình đi tìm đạo, tự mình tu khổ hạnh, tự mình chịu nhẫn nhục cho đến khi chứng quả, không nhờ một thần lực nào, không nương cậy quyền thế nào mà chỉ nương nơi chính mình để đạt phạm hạnh tối thượng Giác ngộ.

Kính thưa quý vị Phật tử!

Chúng ta là những Phật tử bất hạnh, không sanh cùng thời có Phật, lại trót kiếp vị lai mạt pháp. Sống trong tham lam và giành giật, là vì chúng ta đã đồng lõa với Si-Mê mà tạo nghiệp. Đã tạo nghiệp thì lời Đức Phật dạy: “Con người, tự chủ động hành vi của mình, và chịu trách nhiệm đối với cuộc sống hiện tại và tương lai của mình, không quy trách nhiệm cho thần thánh hay bất cứ thế lực siêu nhân nào. Chỉ có con người với con người mới chịu trách nhiệm về cuộc sống hạnh phúc hay đau khổ của bản thân chính mình”.

Tự mình điều ác làm

Tự mình làm nhiễm ô

Tự mình ác không làm

Tự mình làm thanh tịnh

Tịnh không tịnh tự mình

Không ai thanh tịnh ai!

(Kinh Pháp Cú: 155)

Như vậy, chỉ có hành động nghiệp là quan trọng, chi phối toàn bộ cuộc sống của con người. Trong thời mạt pháp, chúng ta biết nghe, biết suy nghĩ, biết quay về tự thân, nghĩa là chúng ta biết vâng theo những di huấn của Đức Phật để lại. Tuy chúng ta đang lặn hụp trong biển tình mạt pháp mà ý thức được không xuôi dòng biển tình tham lam và ích kỷ thì chính chúng ta có thiện duyên với Phật Pháp. Chúng ta nên cố gắng gây thêm những thắng duyên để ngày càng phát triển. Nếu quá khứ ảnh hưởng điều thiện, thì hiện tại và tương lai quyết định hạnh phúc cho chính mình.

Khả năng chuyển ác thành thiện là sự mong cầu của Đức Phật đối với con người, đối với xã hội. Được như vậy, chính mình là Phật, là một người không chỉ vì mình mà vì đồng loại, chúng sanh, vì một xã hội tốt đẹp, mọi người sống thật sự an vui, tôn trọng lẫn nhau, cuộc sống trong lành, nhà nhà an vui, hoa lá xanh màu, môi trường được trong sạch, mọi sự được bảo vệ.

Trong giờ phút thiêng liêng này, Phật tử chúng ta nguyện cầu chư Phật gia hộ muôn loài chúng sanh được tắm gội trong tình thương và lẽ phải, biết quay về con đường Giác Ngộ như sự tỏa chiếu hào quang ngày Đản sanh Đức Từ Phụ Thích-Ca-Mâu-Ni, mà hôm nay chúng ta thiết lễ kỷ niệm.

NAM MÔ LÂM TỲ NI VIÊN, VÔ ƯU THỌ HẠ,

THỊ HIỆN ĐẢN SANH,

BỔN SƯ THÍCH-CA-MÂU-NI PHẬT

Bài đọc thêm I-2 THÔNG ĐIỆP SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT

-Thích Thông Huệ-

 

Vào ngày trăng tròn cách đây trên 25 thế kỷ, có một bậc vĩ nhân xuất hiện ở đời. Ngài sinh vào cung Vua Tịnh Phạn năm 563 trước Tây lịch. Đó là Thái tử Sĩ Đạt Ta, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Cuộc đời của Ngài từ lúc đản sinh cho đến khi nhập diệt là một cuộc đời hết sức đẹp đẽ và có ý nghĩa. Ngài đã đi vào quá khứ, nhưng uy đức và trí tuệ của Ngài vẫn còn sống mãi với con người và cuộc đời. Hôm nay, nhân ngày Phật đản sinh, chúng ta cần ôn lại một đôi điều trong các Kinh điển Phật giáo để hiểu được ý nghĩa sự ra đời của Đức Từ phụ. Từ đó chúng ta nguyện noi gương Ngài, luôn tinh tấn trên bước đường tự lợi, lợi tha. Chúng ta đều biết, Hoàng Hậu Ma Gia hạ sinh Ngài tại vườn Lâm Tỳ Ni, trên đường về quê ngoại. Khi mới sinh ra, Ngài đi được bảy bước, mỗi bước có hoa sen nâng chân, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, Ngài đọc bài kệ như sau:

Thiên thượng Thiên hạ

Duy ngã độc tôn

Nhất thiết thế gian

Sinh lão bệnh tử

Tạm dịch:

Trên trời và dưới trời

Chỉ có Ta trên hết

Tất cả trong thế gian

Đều Sinh lão bệnh tử

Những hình ảnh trên đây mang nhiều ý nghĩa rất sâu mầu. Vì sao Thái tử Sĩ Đạt Ta đi bảy bước mà không nhiều hơn hoặc ít hơn? Con số bảy nói lên điều gì? Về mặt thời gian, người ta thường cho là có ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Về không gian thì có bốn phương chính: Đông, Tây, Nam, Bắc. Nhưng quan niệm về thời gian và không gian, thật ra chỉ là con đẻ của vọng tưởng, không phải là lẽ thực. Cho nên, hình ảnh Thái tử đi bảy bước tượng trưng Ngài đã siêu vượt được thời gian và không gian, không còn bị ràng buộc trong những quy ước tương đối của con người.

Về hoa sen, tất cả một Phật tử đều biết một đặc điểm rất tuyệt vời của nó, là mọc từ bùn nhơ mà vươn lên rồi toả hương thơm ngát. Hoa sen ở trong bùn mà không bị lấm bùn, không bị bùn làm ô nhiêm. Thái tử cũng như thế, sinh vào chốn trần lao để làm lợi ích cho chúng sinh nhưng không bị vướng mắc, nhiễm nhơ bởi bùn lầy ngũ dục.

Bài kệ bốn câu Ngài đọc đã làm một số người hiểu lầm. Đạo Phật là đạo Vô ngã, vì sao vị Giáo chủ lại đề cao cái “Ta” của mình quá đáng như thế? Nếu đọc kỹ hai câu sau, chúng ta mới thấy cái nghĩa lý uyên áo trong đó. Tất cả chúng sinh, không ai thoát được bốn điều khổ não là Sanh, Già, Bệnh, Chết, dù ở cõi Chư Thiên (trên trời) hay cõi người (dưới trời). Chỉ riêng “Ta” là trên hết vì “Ta” đã thoát được sự ràng buộc này. Thử hỏi, tất cả những hình tướng của thế gian, có cái gì không chịu sự chi phối của lý vô thường? Có sanh thì có diệt, có hình tướng thì phải có hũy hoại, dù là thân hình có 32 tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Thái tử. Vì thế, cái “Ta” ở đây dứt khoát không phải là cái ngã hữu tình hữu hoại của Ngài, mà chính là cái “Chơn Ngã”. Đó là Chơn-tâm, Phật tánh, là Bản-tâm-thanh-tịnh, là Phật-tri-kiến, là Tâm Viên-giác, là Bản-lai-diện-mục… Nó có vô số tên vì bản chất nó không có tên. Nó không có hình tướng nên không thể bị hũy diệt. Nó trùm khắp vạn hữu nên siêu việt cả không gian và thời gian. Tất cả mọi hàm linh đều có cái Ngã này, không ai hơn không ai kém. Phật đã nhận ra và sống viên mãn với nó nên Ngài thành Phật, còn chúng ta vì quên nó nên cứ mãi trôi lăn trong vòng luân hồi.

Hiểu được những điều này, chúng ta thấy mình được đôi phần an ủi. Nếu chúng ta ngồi trong tư thế thiền tọa, tâm an định không bị vọng tưởng lôi dẫn, thì rõ ràng ngay lúc ấy chúng ta cũng đang ngồi trên tòa sen. Nếu chúng ta đi từng bước thiền hành, tâm an trú trong giờ phút hiện tại mà không duyên theo các pháp, thì mọi bước đi của chúng ta cũng có hoa sen nâng chân. Và nếu chúng ta luôn luôn tinh tấn, gội rữa dần từng lớp bụi ngũ dục, ở ngay trong cuộc đời mà không mà không bị nhiễm ô theo trần cảnh, thì một lúc nào đó, ánh trực giác đột nhiên bừng lên, bóng tối vô minh từ bao đời kiếp sẽ bị xua tan không còn dấu tích.

Trong Kinh A Hàm có câu: Một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường đã xuất hiện trên thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho Chư Thiên và loài người. Vì sao đức Phật được gọi là một “chúng sinh”. Ở đây chúng ta phải hiểu chữ “Chúng sinh” theo nghĩa, các hình tướng do nhiều pháp hợp lại mà thành. Như vậy, thân tướng của đức Phật, dù đủ vẻ đẹp và tướng tốt, cũng là do tứ đại giả hợp mà thành, cũng bất tịnh và vô thường như mọi người. Do đó Ngài cũng là con người, là chúng sinh, nhưng khác chúng ta ở chỗ, Ngài là một con người phi thường, một chúng sinh duy nhất. Bởi vì, Ngài là một chúng sinh không còn tham - sân - si, không còn lậu hoặc phiền não. Bởi vì, Ngài là một con người tuy sinh ra nơi chốn trần lao, nhưng tự tại với mọi cám dỗ của ngũ dục lục trần. Sự xuất hiện của Đức Phật mục đích cao cả, là vì lợi ích và hạnh phúc của Chư Thiên và loài người. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng chói về sự quên mình để đem lại an lạc và chỉ bày chân lý tối thượng cho chúng sinh.

Kinh Pháp Cú 193, Phật dạy: “Khó gặp được Như Lai, không phải đâu cũng có, chỗ nào Phật đản sinh, nơi đó tất an lạc”. Nếu cho rằng Như Lai là Đức Phật có 32 tướng tốt, gọi là Như Lai xuất thế, thì quả thật rất khó gặp. Đức Phật Thích Ca ở Ấn Độ đã nhập diệt trên 2.500 năm, đến nay chúng ta vẫn chưa thấy có một vị Phật nào khác ra đời. Nhưng nếu hiểu theo tinh thần Kinh Kim Cang, Như Lai tức không từ đâu đến cũng không đi về đâu, nghĩa là phi sắc phi tướng, vô hình vô vật, thì khi chúng ta tọa thiền, tâm lặng lẽ mà hằng tri, thì khi ấy Như Lai đã hiện tiền. Một niệm tỉnh giác thì Đức Phật ra đời, vì Phật là Giác. Một niệm điên đảo chạy theo trần cảnh thì Đức Phật nhập diệt. Khi Như Lai tự tâm đản sanh, nghĩa là lúc tâm an định sáng suốt thì rõ ràng nơi ấy tức khắc được an lạc.

Trong Kinh Pháp Cú 182: “Được sinh ra làm người đã là khó. Được sống còn lại khó hơn. Được nghe chánh pháp là khó. Được gặp Đức Phật ra đời là rất khó”. Quả thật, được làm thân người là khó, vì ngoài thế giới loài người ngoài bốn châu nhân gian, còn có các cõi khác như địa ngục, ngạ quỷ… Nhưng cái khó ở đây là khó phát tâm tu hành, vì thường thì những nơi quá sung sướng (như cõi trời) hoặc quá khổ sở (như địa ngục), chúng sinh ít có điều kiện được nhắc nhở để tiến tu. Còn cõi người thì không quá sung sướng mà cũng không quá khổ cực, nhiều khi gặp những thăng trầm trong cuộc sống hay đau khổ mất mát, đó là những cơ hội để con người thấy rõ lý vô thường hay lý nhân quả, từ đó nguyện theo con đường Phật dạy.

Trong bốn cái khó ở trên, được gặp Phật ra đời là khó nhất. Trong một thế giới, không bao giờ có hai vị Phật xuất hiện đồng thời. Chỉ khi nào giáo pháp của vị Phật trước hết lưu truyền, thì vị Phật sau mới ra đời. Hiện nay, dù đang trong thời mạt pháp, chúng ta không tận mắt thấy được Ứng hóa thân của Phật, nhưng chúng ta vẫn còn nghe chánh pháp, vẫn còn chiêm ngưỡng được dung nhan của Ngài qua hình tượng. Cho nên, nếu có ai tự xưng là Phật, giảng pháp cho người khác, hoặc phao tin sắp có Hội Long Hoa, Phật Di Lặc ra đời…, thì đó chỉ là những lời dối trá, mê hoặc người đời, nhằm phục vụ cho một ý đồ đen tối nào đó.

Sự thị hiện của Ứng hóa thân Phật trên cõi đời là một sự kiện hiếm gặp, là điều vị tằng hữu (chưa từng có). Nhưng chúng ta có khi nào tự hỏi, Ngài xuất hiện trên đời để làm gì? Trong Kinh Pháp Hoa, Phật dạy: “Chư Phật xuất hiện ở đời chỉ vì một đại sự nhân duyên: Khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”. Bản hoài của Chư Phật mười phương là muốn chỉ cho chúng sinh thấy, ai cũng có tri - kiến - Phật, tức Phật tánh như nhau, bình đẳng không khác. Từ đó sẽ nhận ra và hằng sống được với Phật tánh của chính mình một cách viên mãn.

Kinh Phạm Võng, Trường Bộ tập I, Phật dạy rằng: Này các Tỳ kheo! Thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của Như Lai còn tồn tại, thì Chư Thiên và loài người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thì Chư Thiên và loài người không thể thấy được”. Khi Đức Phật còn tại thế, thân 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Ngài là một điều kiện tốt để dễ gần và dễ giáo hóa những chúng sinh căn cơ thấp kém. Vì chìu uốn theo tánh dục của chúng sinh nên Ngài phải thị hiện sắc thân như thế. Nhưng dù thân ấy có tồn tại, mà cái nghiệp lực thúc đẩy thọ lãnh thân sau đã không còn. Chính lòng ái dục đã tạo dòng nghiệp lực khiến đưa đến một đời sống khác, với chánh báo và y báo tương ứng. Ứng hóa thân của Phật, vì có hình tướng nên Chư Thiên và loài người có thể thấy được. Khi thân ấy đã hoại, Đức Phật trở về với pháp thân vô tướng nên không ai có thể thấy được Ngài. Tất cả chúng ta đều có pháp thân vô tướng như thế. Vấn đề ở chỗ chúng ta có nhận ra không, và tu hành cách nào để sống được với nó, miên mật từng phút giây.

Chúng ta đã xét qua một số ý nghĩa về sự đản sinh của Đức Phật, để thấy rõ rằng, sự xuất hiện của Đức Thế Tôn, vị Giáo chủ của chúng ta, là một việc hy hữu ở đời. Cứ mỗi lần mùa Khánh Đản đến, người Phật tử về chùa, nghe quý Thầy nhắc lại về cuộc đời và những đức tính cao đẹp của Ngài, chúng ta mới biết rằng, Ngài cũng đã trải qua vô lượng kiếp tu hành, cuối cùng mới thị hiện là Thái tử Sĩ Đạt Đa ở Ấn Độ, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Ngài là một bậc vĩ nhân, đã để lại một hình ảnh không bao giờ phai mờ trong lòng những người con Phật khắp năm châu bốn biển. Vì cuộc đời Ngài quá vĩ đại và đẹp đẽ, nên từ xưa đến nay, biết bao người đã dùng mọi hình thức văn hóa để ca tụng cái toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ của Ngài. Biết bao người đã nguyện theo gương Ngài, quên mình để phụng sự chúng sinh, hy sinh hạnh phúc riêng tư để lo cho hạnh phúc của nhiều người. Những sứ giả của Như Lai đã mang thông điệp của Đức Phật đi vào cuộc đời, làm cho con người hiểu được bản chất của kiếp sống là vô thường, là đau khổ, từ đó thúc dục con người sớm theo lời dạy của Ngài tu hành để được giác ngộ và giải thoát.

Hôm nay, một lần nữa kỷ niệm ngày Phật đản, chúng ta đem hết tâm thành quy ngưỡng và đảnh lễ Ngài. Chúng ta thấy mình rất có phước duyên nên mới được làm người, được thấm nhuần dòng sữa pháp, được Chư Tăng Ni hướng dẫn tu hành, được làm bạn đạo cùng những người hiền thiện. Chúng ta nguyện nhớ mãi hình ảnh Ngài bước trên hoa sen khi mới ra đời, để bắt chước Ngài cũng bước từng bước an lạc, thảnh thơi trên những bất ổn của cuộc sống. Thân ngũ uẩn của chúng ta tuy ở trong trần thế, nhưng phải biết vươn lên, không để bùn nhơ của ngũ dục làm ô nhiễm. Từ đó, chúng ta sẽ góp phần thổi một luồng sinh khí mới vào cuộc đời, khiến mọi người cũng được an lạc và hạnh phúc. Đây là cách duy nhất để đền đáp ơn khó đền của Đức Bổn Sư vô cùng quý kính của chúng ta.

Bài đọc thêm I-3 CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT

-Thích Huệ Giáo-

 

Đức Phật thường được ca tụng như một bậc vĩ nhân. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, bởi vì vĩ nhân thường được hiểu như những bậc kỳ tài xuất chúng trong một lĩnh vực nào đó, hoặc có thể là nhiều lĩnh vực, mang lại lợi lạc cho con người, trong một mức độ nào đó. Có thể là một vĩ nhân ở phương Đông nhưng chưa hẳn là kỳ tài ở phương Tây. Nhưng Đức Phật Thích Ca hoàn toàn khác, trước hết Ngài đã làm lợi lạc không những cho cả loài người ở cả Đông lẫn Tây, cả Âu sang Á, mà còn làm lợi ích cho cả những loài không phải là loài người: Thiên nhơn chi đạo sư (Thầy của trời người). Như thế, là những người con Phật, những người Phật tử chúng ta không những chỉ biết được về cuộc đời của Ngài và hơn thế nữa chúng ta cần phải biết rõ, để xưng tụng và để học hỏi, trong muôn vàn tấm gương cao quý ấy.

Thông thường khi tìm hiểu về một con người nào đó, hay để ca tụng chúng ta cần hiểu rõ lai lịch và hoàn cảnh xã hội con người ấy đang ở. Thiết nghĩ, chúng ta cũng phải tìm hiểu hoàn cảnh trong thời điểm Đức Phật ra đời. Xã hội đó là Ấn Độ, chiếc nôi của nền văn minh phương Đông.

I- Xã hội Ấn Độ trước và trong thời kỳ Đức Phật ra đời:

Nói đến Ấn Độ cổ đại, chúng ta quan tâm đến nền văn minh sớm nhất của nhân loại, nói đến những trường phái triết học, đề cập đến lĩnh vực tôn giáo, tất cả chúng như một vườn hoa, có đầy đủ hương sắc tranh nhau nở rộ.

Bên cạnh, là những đô thị khai quang thật sớm, những chính thể nhà nước sớm nhất, những phép tắc để trị dân, khuôn phép sống cho con người, những lời thơ, tiếng hát đã trở thành bất hủ, tất cả những cái này là nền móng cho nhân loại phát triển về sau.

  1. Tư tưởng Triết học và Tôn giáo trước khi Đức Thế Tôn xuất thế:

Vào khoảng 3.000 năm trước công nguyên, giống người du mục Aryan cư trú tại miền Trung ương Á-Tế-Á, họ đã vượt qua dãy núi Hindukusk di chuyển xuống vùng Đông Nam Á-Tế-Á, và một phần khác thì tràn xuống Đông Nam thuộc Ba Tư (Iran), một phần khác thì tràn xuống Đông Nam, xâm nhập vào phía Tây Bắc nước Ấn Độ, đánh đuổi người bản xứ, chiếm lĩnh vùng Panjab (Ngũ hà địa phương) thuộc lưu vực sông Indus, và cuối cùng sự lan truyền rộng lớn của giống người này được gọi là dân tộc Aryan Ấn Độ.

Dân tộc này chiếm cứ và cư trú vùng Panjab, họ trở nên phồn thịnh mỗi ngày, không những về mặt kinh tế, lẫn cả về mặt tư tưởng họ cũng phát triển. Bộ sách đầu tiên do dân tộc này chế tác là Kinh điển Rg-Veda (Lê Câu Phệ Đà) 40 quyển, là nguồn tư tưởng văn hóa đầu tiên trong thời kỳ thứ nhất của Bà-La-Môn giáo, từ khoảng năm 1500-1000 trước công nguyên.

Nôi dung kinh điển Rg-Veda ban đầu đơn thuần chỉ là những bài thi ca có tính cách thần thoại, trong đó bao hàm nhiều tư tưởng nói về vũ trụ và nhân sinh quan. Và về sau, chính tư tưởng nói về vũ trụ và nhân sinh quan này đã làm nền tảng để khai triển cho những trào lưu tư tưởng hậu lai.

Hệ tư tưởng ở thời kỳ thứ hai của Bà-La-Môn giáo là thời đại Brahmana (Phạm Thư), trong khoảng 1000-800 năm trước công nguyên. Trong thời kỳ này, Aryan tiến dần về phía Đông, chiếm cứ khu đất đồng bằng phì nhiêu trên bờ sông Hằng Hà (Ganga), lấy nghề canh nông làm mục tiêu, đặt các chức vua quan, bắt những người khác giống làm nô lệ, chia xã hội thành bốn giai cấp khác nhau: Giai cấp Bà-La-Môn (Brahmanah) chủ trương việc nghi lễ tôn giáo; Giai cấp Sát-Đế-Lợi (Ksatriya) là giai cấp vua quan nắm quyền cai trị; Giai cấp Tỳ-Xá (Vaisya) là giai cấp bình dân, nông, công, thương; Giai cấp Thù-Đà-La (Sudra) là giai cấp tiện dân, đời đời làm nô lệ.

Nội dung của sách Brahmana hoàn toàn như một pho sách có tính cách thần học. Trong đó bản ngã làm trung tâm. Brahman và Atman tên tuy khác nhưng có cùng một bản thể. Brahman thuộc phương diện vũ trụ và Atman thuộc phương diện tâm lý chi phối toàn bộ tư tưởng của con người lúc bấy giờ. Atman khi lìa thể xác thì linh hồn quy thuộc về Brahman.

Nội dung tư tưởng thứ ba của Bà-La-Môn giáo là triết học Upanishad (Áo Nghĩa Thư), được hình thành khoảng thời gian 800-600 trước công nguyên, nội dung tư tưởng triết học này chủ trương thuyết Phạm ngã đồng nhất, và Lý tưởng giải thoát. Tư tưởng này trải dài qua 3 giai đoạn: Giai đoạn một là đi tìm con đường giải thoát, nhưng giải thoát phải đi tìm tự nơi chính bản thân mình, không phải tìm ở bên ngoài, do đó nhân của giải thoát là tự giác, nhân của luân hồi là bất giác. Giai đoạn thứ hai là muốn thoát khỏi luân hồi phải an trụ vào bản tính, và bồi dưỡng trí tuệ. Giai đoạn thứ ba là noi theo phương pháp tu trì, để mong đạt đến trực quán trí, tức là qua phép tu Yoga.

  1. Tư tưởng Triết học và Tôn giáo ở thời kỳ Đức Thế Tôn xuất thế:

Tư tưởng trong ba thời kỳ: Rg Veda, Brahman và Upanishad đều là những tư tưởng căn bản của Bà-La-Môn giáo. Bắt đầu từ năm 600 B.C trở về sau, tư tưởng Ấn Độ không ngừng ở đấy và tiếp tục phát triển những tư tưởng mới lần lượt ra đời. Như Kỳ-Na Giáo, Phật Giáo, Lục sư ngoại đạo Sáu phái triết học. Ở đây chúng ta không học về triết học và tôn giáo Ấn Độ, những vấn đề ấy không phải là lịch sử Phật Giáo Ấn Độ. Do đó, chúng ta chỉ tìm hiểu sơ lược tên xưng, nội dung của chúng sẽ nằm vào thời học khác:

Kỳ-Na Giáo (Jaina): Giáo tổ tên là Vardhamana (Đại Hùng). Giáo phái này chủ trương về Vật hoạt luận. Tư tưởng triết học căn bản của giáo phái này là Thực thể (Dravaya). Thực thể chia làm hai trạng thái là sinh mệnh yếu tố và sinh mệnh phi yếu tố. Sinh mệnh yếu tố thì gồm đủ cả hai phần lý trí và tình cảm. Phi sinh mệnh yếu tố được chia làm năm yếu tố: Không (Akasa), Pháp (Dharma), Phi pháp (Adharma), Vật chất (Pudgala) và Thời gian (Kala). Vì mong giải thoát luân hồi nên giáo phái này chủ trương tu khổ hạnh làm mục đích tối cao.

Lục sư ngoại đạo phái (Sat-Tirthakarah): Trong sáu phái ngoại đạo mỗi phái đều chủ trương khác nhau. Tên của những phái như sau:

- Phái Purana Kassapa (Phú-Nan-Dà Ca-Diếp).

- Phái Makkhali Gosala (Mạt-Già-Lê-Câu Xá-Lợi)

- Phái Ajitakesa Kambali (A-Di-Da-Thúy Xá Khâm-Bà-La).

- Phái Pakudha Katyayana (Bà-Phù-Đà Ca-Chiên-Diên)

- Phái Sanjaya Belatthiputta (Tán-Nha-Gia Tỳ-La-Lê-Tử).

- Phái Nigantha Nataputta (Ni-Kiền-Đà Nhã-Đề-Tử.

Sáu phái triết học: Sáu phái triết học có ảnh hưởng hệ tư tưởng Bà-La-Môn hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, tên của chúng như:

  1. Phái Nyaya (Chính lý phái: Thủy tổ là Akasapada (Túc Mục)
  2. Phái Vaisesika (Thắng luận pháp).
  3. Phái Samkhya (Số luận pháp).
  4. Phái Yoga (Du Già pháp).
  5. Phái Mimamsa (Nhĩ-Man-Tát phái).
  6. Phái Vedanta (Phệ-Đà-Đa phái).
  7. Trạng thái chính trị và xã hội trong thời Đức Thế Tôn:

Trước khi Đức Thế Tôn xuất thế, bộ máy chính quyền được tổ chức theo chính thể cộng hòa, nhưng đến thời kỳ Đức Thế Tôn, chế độ đó tan rã và được thay thế bằng chính thể quân chủ chuyên chế. Cũng trong thời kỳ này, dân tộc Ấn Độ rất tôn trọng nghi thức tế tự, kinh thần. Mặt khác, theo sự tiến triển của xã hội, liền phát sinh ra bốn chức nghiệp: Sĩ, Nông, Công và Thương, dần dà nghề nghiệp này đã hình thành sự phân chia những giai cấp rõ rệt và lớn mạnh, đứng đầu là giới Tăng lữ Bà-La-Môn. Những giai cấp này được tồn tại bởi hình thức thế tập, cha truyền con nối, nên giai cấp nô lệ cứ đời đời làm nô lệ, tạo thành một tổ chức xã hội bất công (con quan rồi lại làm quan, con sải ở chùa lại quét lá đa). Để duy trì sức mạnh bền vững của mình, nương vào tư tưởng của bốn giai cấp ấy, Bà-La-Môn giáo cũng hình thành bốn thời kỳ tu hành của mình:

  1. Phạm trì kỳ: Thời kỳ sinh hoạt của tuổi thiếu niên. Ở tuổi này phải học tập kinh Vệ-Đà. Tới khi học nghiệp thành tựu thì trở về nhà.
  2. Gia cư kỳ: Thời kỳ sinh hoạt gia đình tuổi tráng niên, lập gia đình, xây dựng người thừa kế.
  3. Lâm cư kỳ: Kỳ sinh hoạt xuất gia cho những người làm xong nghĩa vụ gia đình, vào rừng để tu tập thiền định.
  4. Du hành kỳ: Thời kỳ du hành của thời đại lão niên, thời kỳ này mong cầu cho sự tu hành được thành tựu.

Do vậy, chúng ta thấy rằng đây chẳng phải là một xã hội lý tưởng, mặc dầu sức mạnh của giai cấp cầm quyền có thống lĩnh đến đâu chăng nữa. Xã hội này sẽ không có an lành và hạnh phúc cho quần chúng nhân dân. Sự khinh bỉ và phân biệt, sự nghèo đói và lầm than trong tư tưởng, tất cả đều là những nỗi khổ mà bất cứ con người nào ở mọi thời đại đều muốn thoát khỏi. Từ đó, ước vọng có một nhà lãnh đạo tinh thần tài ba xuất hiện, để cứu giúp cho con người ra khỏi đen tối, đó là diều tất yếu.

II- Cuộc đời Thái tử Tất-Đạt-Đa:

Sự ra đời của Đức Phật đã đáp ứng được nguyện vọng khao khát của dân tộc Ấn Độ lúc bấy giờ. Sự xuất hiện của Ngài là vầng trăng soi rọi khắp hang cùng ngỏ hẽm bóng đêm, như ánh mặt trời xuất hiện xua đuổi bóng đêm giai cấp xiềng xích nhân thế.

  1. Thời niên thiếu:

Thái tử Tất-Đạt-Đa đản sinh ngày rằm tháng tư âm lịch (tính theo lịch Tàu) biểu hiện cho một sức sống vươn mầm. Ngài đã đem lại hạnh phúc đầu tiên cho dòng họ Thích-Ca. Vua Tịnh-Phạn và Hoàng hậu Ma-Da có niềm hạnh phúc nho nhỏ là có người con nối dõi theo ước muốn của hai người và làm cho khung trời của xứ Ca-Tỳ-La-Vệ rung động. Lễ đặt tên cho Thái tử, với hai dòng nước mắt vừa tủi phận và chan hòa hạnh phúc của tiên nhơn A-Tư-Đà, sự thông minh tột bực, nhanh nhẹn trong tiếp thu mọi kiến thức xã hội được trao truyền từ những bậc thầy tài ba, buổi lễ tịch điền ngồi yên lặng tĩnh tọa bên những đống lúa mạ non xanh rờn, những kỳ tỉ thí so tài vượt lên tất cả mọi thí sinh tham dự. Những điều kỳ diệu ấy, đã làm cho cả thần dân kính phục, hoàng gia sanh lo lắng bởi những điều tiên đoán đầy linh nghiệm mỗi ngày được hiển lộ từ nơi Thái tử.

Mặc dầu là một Thái tử thông minh xuất chúng, có một đời sống sung mãn vật chất, quyền uy, bên cạnh tình yêu thương phụ mẫu rộng lớn, âu yếm của người vợ sắc đẹp nghiêng trời Gia-Du-Đà-La, với sự chăm sóc chu toàn ngày đêm của hằng trăm cung tần mỹ nữ, trên tất cả thú vui của cuộc đời, với tiếng khóc của con thơ La-Hầu-La. Thế mà Thái tử Tất-Đạt-Đa vẫn canh cánh trong lòng một nỗi buồn man mác muôn thuở, tựa như chẳng ai hiểu nỗi tâm trạng của Ngài. Nỗi buồn của một xã hội đầy đói khát, bất công ư? Nỗi buồn vì sự mong muốn của Ngài không được toại nguyện ư? Chẳng phải!

Nỗi buồn ấy, chính là nỗi đau khổ triền miên của kiếp người, dưới con mắt của bậc đại trí, một lớp vỏ bọc vật chất, thú vui tạm bợ, không phải là niềm hạnh phúc chân chánh của kiếp người, những thứ ấy đã và đang được xây dựng bởi ước muốn và dục vọng, bao bọc bởi bản ngã, tô điểm trên nền tảng tà kiến, của trăm thứ tư tưởng trong xã hội hiện tại. Một xã hội mà trong đó giá trị con người bị đánh mất (sự phân chia giai cấp tàn khốc) để rồi con người sẽ nhận lãnh cái khổ lớn lao từ Sanh ra cho đến khi Già, Bệnh rồi Chết. Thái tử đã thấy rằng, trong mỗi con người không có cao thấp, sang hèn trong khi máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn, con người không phải từ nơi giai cấp sanh ra, và được ân sủng bởi một đấng tối cao nào cả. Hạnh phúc và đau khổ từ nơi mỗi tự thân con người, mỗi con người cần phải có và hiểu được đâu là hạnh phúc chân chánh và đâu là sự tạm bợ của nó; và tất cả những suy nghĩ này, đã khiến Thái tử vất bỏ tất cả những thứ mong manh đang có được, như bỏ chiếc dép ra khỏi chân một cách nhẹ nhàng, đi tìm con đường thoát khỏi nỗi khổ sinh tử cho chúng sanh.

  1. Thái tử xuất gia:

Vào ngày mùng tám tháng hai âm lịch, khi bốn bề đều vùi trong giấc ngủ. Cái nhìn cuối cùng đến vợ đẹp con ngoan chính là sự chia tay mãi mãi với niềm hạnh phúc giả tạo, hoan lạc của trần thế. Thái tử Tất-Đạt-Đa cùng người hầu cận của mình lặng lẽ vượt thành, bỏ lại sau lưng tất cả ngai vàng điện ngọc, để trở thành kẻ không nhà lang thang mãi trong rừng sâu, xuất gia thành Sa môn khổ hạnh.

Với những tháng ngày đau thương nhất của hoàng tộc, cũng chính là những ngày tháng sa môn Tất-Đạt-Đa trải qua nhiều phen thử thách, với sự hoang vu của núi rừng, với những lời chỉ dạy của các bậc thầy được xem là nổi tiếng đắc đạo lúc bấy giờ. Lại một lần nữa, Tất-Đạt-Đa, kẻ không nhà, bỏ lại sau lưng tất cả những kinh nghiệm đã học được từ những vị ấy với lòng tri ân vô hạn, để một mình tìm cho mình một lối thoát. Những gì Ngài đã học được từ sách vở, thầy giáo, những kinh nghiệm tu chứng nhiều năm trong rừng thẳm của các Đạo sư, Tất-Đạt-Đa đều đem ra thử nghiệm, với sáu năm khổ hạnh, có những lúc bụng chỉ có một hạt mè, một hột gạo, hoặc chỉ có một hớp nước, đã có lúc Ngài kiệt sức, ngã quỵ, thân thể chỉ còn da bọc xương; để rồi nhà khổ hạnh Tất-Đạt-Đa bừng tỉnh rằng đấy chỉ là cực đoan, giết hại thân thể, hình phạt tinh thần, không có lợi ích.

Bát sữa của cô lâm nữ Tu-Xà-Đề dâng cúng cho Ngài chính là quyết định nhận lãnh từ sự nhận thức cao cả. Không thể tu hành trong một thân thể yếu đuối, ép xác, và sẽ không có tinh thần minh mẫn trong tấm thân bạc nhược. Cũng thế, với một đời sống sung mãn cũng không thể là con đường tốt cho ý chí vươn lên. Con đường Trung đạo của khổ hạnh, Cồ Đàm mở ra và lời đại nguyện dõng mãnh: “Dầu xương tan thịt nát, nếu Ta chưa tìm ra con đường cứu giúp chúng sanh ra khỏi bể khổ sanh tử thì Ta không rời chỗ này” bên bờ sông Ni-Liên-Thuyền. Suốt 49 ngày nhập định tham thiền, một đêm trăng khuyết, ánh trăng vừa ló dạng Thái tử Tất-Đạt-Đa đã trở thành Đấng Thế Tôn Vô Thượng.

  1. Thái Tử Thành đạo:

Trong bóng đêm tịch mịch, ngày mùng 8 tháng 12 ÂL, vào canh 2 Đức Thế Tôn đã chứng quả Túc mạng minh, hiểu rõ được nhiều kiếp trước của mình. Sang canh 3 Ngài chứng được Thiên nhãn minh, nhận thức rõ bản thể vũ trụ và nguyên nhân hình thành. Sang canh tư, Ngài chứng Lậu tận minh, biết rõ nguồn gốc của khổ đau và phương pháp dứt trừ khổ đau. Sự bừng ngộ của Ngài là vầng trăng bất diệt đi ngang qua dòng sinh diệt. Trí tuệ của sự giác ngộ là kết tinh của vô lượng kiếp trầm mình trong thế giới sinh diệt nhưng chưa hề biến diệt. Sự giác ngộ của Ngài đánh dấu cho một thế giới khác, những thế giới đã đổ nát bây giờ được vực dậy và tăng thêm sức sống. Sự thành đạo của Ngài không những đã làm chấn động tâm thức của loài người mà hàng chư thiên ở nhiều cảnh giới khác đều chấn động. Thái tử Tất-Đạt-Đa đã trở thành bậc Ứng Cúng - Chánh Biến Tri - Minh Hạnh Túc -Thiện Thệ - Thế Gian Giải - Vô Thượng Sĩ - Điều Ngự Trượng Phu - Thiên Nhơn Sư - Phật - Thế Tôn.

III- Thời kỳ Đức Phật truyền đạo:

Đức Phật đã nhiều lần dự định nhập Niết bàn, qua nhiều lần thưa thỉnh của Đế-Thích, Ngài quyết định rống pháp âm vi diệu, tựa như tiếng rống của loài chúa sơn lâm là khiếp sợ cả vùng núi thăm thẳm, cũng thế, lời pháp trong sáng thiêu đốt cả núi rừng vô minh.

  1. Đức Phật truyền đạo:

Dưới cội Bồ Đề, bên dòng sông Ni Liên Thuyền, Đức Phật không vội vã rao giảng chánh pháp cao minh - khó hiểu, Ngài dùng tuệ nhãn xem xét căn cơ của chúng sanh và quyết định đứng dậy khi biết rằng: “Căn cơ của chúng sanh tựa như những bông sen tươi đẹp, có những bông đã vượt lên mặt nước,có những bông hoa còn nằm ngang lưng chừng mặt nước, có những bông hoa còn nằm sâu dưới lòng nước”. Từ đó, bằng vô lượng phương tiện Ngài đã mở bày hóa độ chúng sanh khắp cả cõi Ấn Độ. Đầu tiên là 5 người bạn đồng tu với bài pháp Tứ ĐếVô Ngã Tướng. Tam Bảo (ba ngôi quý báu để loài người nương tựa) bắt đầu từ đây. Những kẻ ngoại đạo cứng đầu, những vị quân vương đều được Ngài khai thị và quy đầu làm đệ tử xuất gia, tại gia cho đến những kẻ bần cùng hốt phân, nghèo nàn, dâm nữ, tướng cướp và ác độc tất cả đều bình đẳng trong lời dạy của Ngài và hơn thế nữa có mặt trong hàng ngũ của Tăng đoàn, một trong ba ngôi báu, không một mảy may tự ti.

  1. Đức Phật nhập Niết bàn:

Lời dạy cuối cùng khi công viên quả mãn, những gì cần làm Đức Phật đã làm, việc gì đã xong thì cũng đã hoàn tất: “Các con hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, hãy là hòn đảo của chính mình làm nơi nương tựa... Ta chỉ là bậc Thầy dẫn đường... Giáo pháp còn thì Ta còn...” Tất cả những lời dạy ấy là những lời dạy cuối cùng của một bậc Đạo Sư, không phải là một Thượng đế tối cao và cũng không phải là một bậc đầy quyền năng bởi những lời dạy hàm chứa tính tự giác và giác tha của mỗi con người. Tại xứ Câu-Thi-La bên rừng cây Sa-La Đức Phật đã an nhiên nhập diệt, để lại một khung trời tím ngắt làm nát lòng người con Phật nhiều nơi trên xứ Ấn và những vùng lân cận, nơi có dấu chân Ngài đi qua.

IV- Sự thị hiện của Đức Phật:

Sự thị hiện của Đức Phật, đầu tiên chúng ta muốn nói đến là lòng từ bi của Ngài vì thương tưởng đến chúng sanh trầm luân trong sinh tử, khổ não trong cuộc sống lầm than. Trong kinh Pháp Hoa nói rằng: Đức Phật ra đời vì một nhân duyên lớn: Khai thị chúng sanh nghộ nhập Phật Tri Kiến.

Trên phương diện lịch sử, Đức Phật là một con người có thật, một con người lịch sử, không phải là một vị Thần hay một vị Thượng đế giáng trần như nhiều tôn giáo khác đã tô vẽ cho vị giáo chủ của họ. Đức Phật thị hiện có ý nghĩa khác hẳn với sự giáng thế của nhiều vị giáo chủ khác, không phải từ quyền uy hoặc trong trạng thái tuyệt đối của một đấng tối cao, mà là một vị Thầy giản dị mang ánh sáng Giác Ngộ đến với loài người.

Sự thị hiện của Đức Phật đánh đổ toàn bộ khối suy tư hữu ngã, hữu thần như Ngài đã tuyên bố khi Đản sinh tại vườn Lâm-Tỳ-Ni: Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn. Ngã chính là chỉ cho chơn ngã, chân tâm của mỗi con người chứ không phải là bản ngã hay tiểu ngã của riêng Ngài và cho rằng Ngài là trên tất cả. Chính ngay những giây phút đầu tiên từ khi Đản sinh Thái tử Tất-Đạt-Đa đã làm một cuộc cách mạng vĩ đại, cuộc cách mạng ấy là mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử tôn giáo mà trước đây đã đè nặng lên ý thức của con người.

V- Tính chất cách mạng trong cuộc đời Đức Phật:

Cách mạng đúng nghĩa là sự đổi mới từ trạng thái này sang trạng thái khác của một hiện tượng, chứ không phải là sự phá vỡ hoặc đập đổ những cái cũ để thay thế vào đó những điều mới, cho dù điều đó đúng hay sai, có thực tế áp dụng hay không vào đời sống hoặc có mang lại ích lợi thiết thực.

Xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ trở nên tàn khốc trong tâm thức của con người, bởi sự đè nặng lên chúng là những giai cấp thống trị, sự kỳ thị giữa con người và con người, giá trị làm người bị chà đạp, con người không có tự do và có quyền được lựa chọn cho mình một cách sống phù hợp.

Bên cạnh đó, tư tưởng gìn giữ độc lập quyền thần linh bao phủ một hào quang vừa xa vời với con người thực tế, và quyền lực giai cấp để bảo vệ địa vị của một tầng lớp thống trị, tất cả mọi thứ đó trở nên gay gắt và tạo ra nhiều khổ não trong đời sống con người lúc bấy giờ. Hệ quả tất yếu đã sản sinh nhiều tư tưởng và hình thức tế lễ của tôn giáo cũng chính là sự thể hiện khao khát ước vọng của con người đến một điều gì đó tốt đẹp hơn hoàn cảnh hiện tại.

Đức Phật đã đáp ứng đầy đủ nguyện vọng ấy, Ngài đã đánh đổ toàn bộ sự bất công đã mang lại sự khổ đau tàn khốc cho con người và xã hội được vun bồi tô vẽ qua nhiều thế kỷ. Quyền uy nắm giữ độc lập tôn giáo và xã hội là một minh chứng, Thánh điển Vệ-Đà là tư tưởng tiêu biểu tại thời điểm ấy. Sự cách mạng của Đức Phật thể hiện trên câu nói thật ngắn gọn mà đầy trí tuệ và bình đẳng: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành, đây là sự xác nhận quyền làm Phật của con người, mỗi người đều có khả năng, sức mạnh tinh thần như nhau và được quyền nhận hay không nhận những gì thuộc về con người. Tư tưởng cách mạng này đánh đổ toàn bộ cả hai lĩnh vực xã hội và tôn giáo không những chỉ trong thời điểm ấy mà cho đến hôm nay vẫn luôn luôn giá trị và được áp dụng thường xuyên đến nhân loại.

 

IV- Ý nghĩa cao cả về cuộc đời Đức Phật

Từ bi là ý niệm khởi đầu từ khi còn là Thái tử Tất-Đạt-Đa cho đến khi thành ngôi Chánh giác và cho đến trọn vẹn 49 năm hoằng hóa độ sinh, lòng từ bi của Ngài như là suối nguồn là động cơ manh nhất, khiến Đức Phật không bao giờ thấy mệt mỏi. Tình thương vô biên ấy vượt qua biên giới phàm tình, tục đế; tình thương không dựa trên hữu ngã, không hạn hẹp và ích kỷ. Tình thương vô biên này đã nói lên ý nghĩa cao cả nhất cuộc đời của Ngài và nói lên giá trị những lời dạy của Ngài xuyên suốt thời gian và không gian; trong lịch sử tôn giáo chúng ta khó tìm thấy nơi vị giáo chủ nào sánh kịp.

Trí tuệ là con đường để đạt đến của Thái tử Tất-Đạt-Đa, vì chỉ có trí tuệ thật sự thì con người mới có khả năng vượt lên trên nỗi thống khổ đang vây kín con người, có trí tuệ con người mới tìm được nguồn hạnh phúc thật sự mà con người mong muốn, khao khát và vượt qua mọi sợ hãi từ tư duy hữu ngã. Sự hiểu biết trọn vẹn này đã mở ra nhiều phương trời ý thức mới trong lịch sử triết học và tôn giáo của nhân loại và ngoài phạm vi của loài người. Có trí tuệ chân chánh này con người mới không còn luẩn quẩn trong rừng rậm phân biệt ý thức và tự khẳng định mình hơn giữa cuộc đời này: Thấy tất cả các pháp như chiêm bao, ảo thuật, bóng nước, ảo tưởng, sương mai và điện chớp.

Nếu không có Từ Bi và Trí Huệ thì ý nghĩa cuộc đời Đức Phật vẫn tầm thường như bao mảnh đời khác, và con đường giải thoát, giác ngộ cũng không thể thực hiện được. Có Từ Bi và Trí Huệ cuộc đời Đức Phật quá cao cả và cao cả hơn nữa là lịch sử loài người vẫn chưa tìm ra con người thứ hai.

VII- Ý nghĩa các sự kiện đặc biệt:

Mỗi sự kiện đi qua cuộc đời Đức Phật đều mang một tầm vóc quan trọng, nếu chúng ta càng hiểu rõ thì dễ dàng hiểu được những lời dạy của Ngài và sự ghi nhớ về Ngài của chúng ta được trọn vẹn. Do đó, tìm hiểu những ý nghĩa cao cả thật cần thiết, trong đó bao gồm những mốc đoạn.

  1. Đản sinh: So sánh nhiều hiện tượng trong thế giới bình thường này, có nhiều hiện tượng lạ cho thấy Đức Phật không phải là con người thường như bao con người khác được bao bọc với dáng, thân hình một con người bằng da bằng thịt. Theo đạo Phật, thì con người sinh ra bắt nguồn từ nghiệp thức đã chuyển - dẫn nhiều đời của người ấy. Nhưng Đức Phật lại khác, một con người bằng thân tạo thành từ tứ đại nhưng tâm thức là một sự kết tinh của phước đức và trí huệ chứ không phải là nghiệp thức, không phải từ dục vọng hay từ ái dục thôi thúc. Điều này được chứng minh qua nhiều trong kinh điển cũng như trong Jatakas (Truyện tiền thân của Đức Phật). Ngài là một vị Bồ Tát đản sinh, đã viên mãn cả trí tuệ và phước đức.
  2. Xuất gia: Đây không phải là ý tưởng hay chí nguyện được xuất phát sau khi Ngài đản sinh mà chính là sự xuất hiện bởi hạnh nguyện độ sanh từ nhiều đời mà Ngài đã làm. Đặc tướng ấy đã thể hiện trên dung nhan của Ngài mà kẻ phàm phu như tiên nhơn A-Tư-Đà cũng có thể thấy được. Sự xuất gia của Ngài trong một hoàn cảnh cũng không mấy đặc biệt, vì xuất gia là con đường phải đi nằm trong văn hóa và truyền thống từ trước của văn minh Bà-La-Môn giáo. Tuy nhiên, đặc biệt Ngài đã tìm ra ánh sáng mà trước và sau đến hôm nay vẫn chưa có vị thứ hai kế tiếp, nghĩa là người đã hoàn thiện được mục đích và lý tưởng của mình.
  3. Thành đạo: Con đường trung đạo là con đường giải thoát mà chỉ có Đức Phật mới tìm ra, sự chứng ngộ được nằm trong những lời dạy và những kiến thức đã có sẵn trong ý thức hệ lúc bấy giờ, chứ không ở đâu xa, và cũng không có nhiều điều mới lạ. Có khác chăng là nó thoát khỏi suy tư hữu ngã và đi thẳng vào vô ngã của vạn pháp, một cánh cửa không vướng kẹt.
  4. Hóa độ: Một tấm gương của một vị Thầy vĩ đại, chỉ có con người có giàu lòng từ bi và chí nguyện mới có thể ròng rã trong 49 năm hay cả cuộc đời của mình cống hiến cho chúng sanh như chưa bao giờ ngừng nghỉ mỏi mệt và khởi tâm niệm chán nản, với nhiều chủng tính người khác nhau.
  5. Niết bàn: Công đã mãn, việc đã thành, những gì cần làm Ngài đã làm xong, không một mảy may khởi niệm, như bàn tay không còn nắm bắt một vật gì, sự an tịnh của Ngài hiện thân thật người, đến như một con người và ra đi như một con người, không đau khổ hay hạnh phúc khi đến và không khởi niệm đau khổ hạnh phúc khi đi: Như Lai nghĩa là không từ đâu mà đến, và không đi về đâu.

Nếu hiểu rõ được sâu sắc về cuộc đời của Đức Phật thì sự tôn vinh và ca ngợi Ngài sẽ mang lại nhiều lợi lạc giá trị. Càng hiểu rõ để thực hành và ghi nhớ thì ý nghĩa của cuộc đời và con người của chúng ta đang sống cũng trở nên ý nghĩa và sẽ không bao giờ là kẻ hủy báng người mình tôn kính (Tin Ta mà không hiểu Ta là hủy bán Ta).

Như thế chúng ta cũng biết được rằng, Đức Phật xuất hiện vì con người và lợi ích cho con người bằng xương bằng thịt, Ngài không phải là một thượng đế giáng trần, càng không phải là một thần linh đầy biến hóa mà là một vị Thầy. Vị Thầy đầy đủ Từ Bi và Trí Tuệ, đủ cả mọi công hạnh, làm khuôn phép cho xã hội đi theo một trật tự, trong đó an lạc và giải thoát được đề cao.

 

Tài liệu tham khảo:

- Doãn Chính - Lương Minh Cừ, Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại. NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội 1991

- Thích Thanh Kiểm, Lịch sử Phật Giáo Ấn Độ. Thành hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. PL: 2533 - 1989.

- Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông, quyển 1. Thành hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. 1989.

- Cao Hữu Đính, Phật và Thánh chúng. Viện cao đẳng Phật học Trung phần xuất bản. Nha Trang. 1973

- Gia đình Phật tử Việt Nam, Tài liệu tu học học Bậc Kiên. Ban Hướng dẫn Trung Ương GĐPTVN.PL : 2545 - 2001

- Ludwig Theodore, Ban phiên dịch, Những con đường tâm linh phương Đông, 2 quyển. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 2000.

 

Bài II-1 LỊCH SỬ 33 VỊ TỔ THIỀN TÔNG

hay

“CHƯ TỔ THIỀN ẤN HOA”

-Thích Giác Nghiêm-

Sau khi đức Phật Niết bàn, vị Tổ đầu tiên thay Phật dẫn dắt Giáo hội là Ngài Đại Ca Diếp đến Tổ Huệ Năng là 33 vị.

Ấn Độ có 28 vị và Trung Quốc có 6 vị, Tổ Bồ Đề Đạt Ma vừa là Tổ thứ 28 của thiền Ấn Độ, vừa là Sơ Tổ Thiền Trung Hoa.

Yếu chỉ của Thiền là lấy tâm truyền tâm: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”.

Bởi vậy cho nên quý Thiền sư khi hành đạo và ra đi không lưu lại dấu vết gì. Đó cũng là quan niệm phổ biến của người Đông phương. Với lại nhất là người tu xem phẩm giá đạo đức là quan trọng, còn cá nhân là vô nghĩa. Do vậy, sách vở ghi chép về cuộc đời và đạo nghiệp của các Thiền sư thiếu nhiều chi tiết, năm tháng và nhiều sự kiện cũng không thống nhất. Các sử truyện lại chứa đầy màu sắc huyền bí.

Song, cây có cội, nước có nguồn, chúng ta là kẻ hậu học không có quyền quên lãng những vị Tổ của chúng ta. Do đó, chúng ta hôm nay bắt đầu học đến 33 vị Tổ Thiền Tông.

Bài II-2 TỔ MA HA CA-DIẾP

(MAHAKASYAKA)

hay là (MAHÀ KASAPA)

(Đồng thời với đức Phật)

-Thích Giác Nghiêm-

 

Đức Phật lúc còn tại thế, trong 45 năm thuyết giáo, với hơn 300 hội, Phật giảng rất nhiều Pháp môn tu. Với tất cả pháp hành trì, hạnh nào cũng đáng nể, quý trọng. Trong số 1250 đệ tử chứng Thánh quả, Ngài Ma-Ha-Ca-Diếp không những dốc lòng giữ gìn phẩm hạnh, mà còn hành hạnh đầu đà(tức là hành khổ hạnh).

Sau được Đức Phật phó chúc, kế thừa lãnh đạo Giáo đoàn, trở thành vị Tổ đầu tiên của Thiền tông, hay còn gọi là vị Tăng thống đầu tiên của Phật giáo.

I- Quê quán, dòng họ:

Ngài dòng Ba-la-môn ở Ấn Độ, vương quốc Ma-Kiệt-Đà (Magadha) thôn Sa-La-Đà, nhà rất giàu có, ở tại thị trấn Giao Lưu (Mahatitha). Con của đại bá hộ Kapila và thân mẫu là Sumanadévi .

Sinh ra, ngài được đặt tên là Piphali (Thường Tịnh), có đầy đủ phước tướng, cơ thể sáng chói màu vàng, vì vậy mới gọi là Maha Kasapa (là ẩm quang tức là uống ánh sáng). Lên 8 tuổi, rước thầy về nhà dạy các môn: Văn học, toán, thi hoạ, âm nhạc, thiên văn, tướng số v.v… các đạo sĩ Ba-la-môn còn dạy phép tế đàn bốn mùa, Thánh điển Phệ-Đà, Nhân Minh Học vv… tỏ ra rất thông minh, với các môn học Đại Ca-Diếp thấu hiểu rất nhanh. Ngay còn nhỏ đã biểu lộ ý muốn sống một đời thanh tịnh xuất gia.

II- Những tiền kiếp của Kasapa (Ca-Diếp) và của Bhadda kapilani (Mỹ Hạnh):

Nhiều kiếp trong quá khứ, Ngài Ca-Diếp và Mỹ Hạnh đã từng sống với nhau, nhiều kiếp làm anh em, làm vợ chồng, làm đạo hữu, làm huynh đệ cùng tu với nhau.

III- Ngài Ca-Diếp gặp Phật:

Năm 30 tuổi, Ngài Ca-Diếp xuất gia và vào rừng tìm đạo; chính cũng ngày đó đức Phật thành đạo dưới cây Bồ Đề nhưng ngài Ca-Diếp chưa biết. Hai năm sau mới gặp Đức Phật.

Tôn giả Ca-Diếp phát nguyện thọ hạnh đầu đà (Dhutanga) tức là tu khổ hạnh, gồm 10 điều:

1 - Nhặt vải quấn tử thi, hay vải bỏ đi khâu lại làm y, gọi là y phấn tảo (Pamsuku).

2 - Chỉ có tam y và nhất bát (tức là không có y dự trữ, tam y = y Tăng-già-lê, y Uất-đà-la-tăng và y An-đà-hội) (Tecivarika).

3 - Phải đi khất thực mỗi buổi sáng và phải ăn trước 12 giờ trưa (Pindapatika).

4 - Mỗi ngày ăn một bữa, ngồi bán già hay kiết già mà ăn, đã đứng dậy thì không ngồi xuống ăn nữa (Ekasanika).

5 - Đi khất thực phải bình đẳng, không chọn nhà giàu, nghèo, nhà quen (Sabbadàna carika).

6 - Ở trong rừng hoặc nơi hoang vắng, không ở trong xóm (Arànnìka).

7 - Ở dưới gốc cây không dựng trại, cất cốc (Rukkhamùlika).

8 - Nếu không có rừng núi, chẳng có bóng cây, thì phải kiên nhẫn ở chỗ trống, không được tìm kiếm cho ra hang hay động (Abbhekalika).

9 - Chỉ nhận thức ăn vào bình bát, vừa đủ và vừa ăn trong bình bát (Pattapindika, Khalupaccha Bhattika).

10 - Thường xuyên dùng nghĩa địa làm nơi hành đạo (Sosanika).

Tôn giả Ca-Diếp có dũng khí thực hiện tu hạnh đầu đà, để phát triển tính tri túc, hạnh xả bỏ, rèn luyện nghị lực giải thoát, Ngài hiểu sâu giáo pháp, tinh tấn hành trì không bao giờ lơi lỏng và chỉ bảy ngày sau liền chứng quả A-La-hán.

IV- Tiếp độ Mỹ Hạnh (Bhadda Kapilani):

Một thời gian ngắn sau khi Ngài Ca-Diếp xuất gia, bà Badda (Mỹ Hạnh) cũng quyết chí xuất trần. Thời gian này Đức Phật chưa cho phép thành lập hệ thống Ni giới, nên bà ẩn cư trong một tu viện của các nữ đạo sĩ không phải Phật giáo.

Năm năm sau, Giáo hội Tỳ-kheo-ni Phật giáo ra đời, bà mới gia nhập. Tỳ-kheo-ni Mỹ Hạnh đã vượt qua nhiều khó khăn, quyết chí tu hành, trở thành một giảng sư được nhiều người hâm mộ. Và sau đó đắc quả A-La-hán.

V- Đạo nghiệp của Tổ Ma Ha Ca-Diếp.

Tôn giả Ca-Diếp tên thật là Pipphali Kassapa dịch là Thường Tịnh Ca-Diếp, nhưng đệ tử Đức Phật có nhiều vị mang tên Ca-Diếp cho nên người trong thời đó để tỏ lòng tôn trọng Ngài và dễ phân biệt, họ đã tự động gọi Ngài là Thường Tịnh Đại Ca-Diếp hay gọi tắt là Đại Ca-Diếp. Ngài thường thương và độ người nghèo khó.

Đức Phật rất quý trọng tôn giả Ca-Diếp, đến lúc tuổi già, râu tóc bạc phơ, thân thể thì gầy, vẫn không giờ phút chểnh mảng hạnh đầu đà, mặc y rách vá chằng chịt, ở trong rừng, giữ phạm hạnh cao thượng.

Nhưng thành công độc đáo nhất của Tôn giả Đại Ca-Diếp đã được chính đức Phật nhiều lần khen ngợi và xác nhận là Tương đương với Ngài: “Ca-Diếp có khả năng điều khiển thiền lực một cách tức khắc và như ý muốn” đây quả là một công phu tuyệt đỉnh, xứng đáng được xem ngang hàng với thiền lực của một vị Phật.

 

VI- Đối xử với Thiên chúng:

Nhiều vị Thiên chúng muốn tiếp xúc và cúng dường nhưng Tôn giả rất nghiêm khắc chỉ dành ưu tiên cho người nghèo khó.

 

VII- Nhân duyên với đệ tử và đồng đạo:

Thường dạy các Tỳ kheo một cách đúng đắn để họ tu.

VIII- Vai trò kế thừa của Maha Kassapa:

Đức Phật đã giao phó cho Tôn giả Đại Ca-Diếp sau này điều hành Giáo hội và dặn thêm: “Nay ta giao phó cho ngươi, ngươi khéo giữ gìn chánh pháp, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau này truyền lại cho Anan”.

Sau khi làm lễ Trà-tỳ và chia Xá-lợi Phật cho các nước về thờ. Trưởng lão Đại Ca-Diếp suy nghĩ: “Di sản hài cốt của Đức Bổn Sư được lưu truyền như thế này, thì di sản tinh thần là Phật ngôn phải được bảo tồn ra làm sao?”. Ngài liền tuyên bố trước đại chúng:

-“Xá lợi của Phật chia cho các quốc vương, thỉnh về xây tháp tôn thờ, cầu được phước báo nhân thiên. Còn hàng Tỳ kheo lo việc kiết tập Kinh điển để cho hậu thế làm đuốc soi đường”. Ngài bèn nói kệ:

“Đệ tử Như Lai

Chớ vội Niết bàn

Người được thần thông

Nên đến kiết tập”.

Tập trung được tất cả 500 vị A-La-hán, chọn động Tát-Bát-La ở núi Kỳ-Xa- Quật làm nơi kiết tập.

- Ngài Anan đọc Kinh tạng (Sutta Pitaka).

- Ngài Ưu-Ba-Ly đọc Luật tạng (Vinaya Pitaka).

- Vua A-Xà-Thế lo việc ủng hộ mọi mặt suốt 3 tháng.

Cuộc kiết tập thành tựu viên mãn.

Một thời gian sau, Tổ Đại Ca-Diếp quyết định Niết bàn, lúc đó ngài 120 tuổi.

IX- Kết luận:

Qua cuộc đời ngài, chúng ta thấy ngài luôn luôn hướng tâm đến phẩm hạnh đạo đức, thực hành hạnh đầu đà cho đến cuối đời, thiểu dục, tri túc. Cuộc sống nội tâm quá thuần thục, từ cử chỉ hành vi, lời ăn, tiếng nói luôn luôn được thúc liễm, không cho chệch lề lối. Ngài đã chọn và sống trọn vẹn chí nguyện ấy, giữ trọn ý chí và Ngài đã tự chiến thắng mình.

Ngài là tấm gương sáng cho Giáo hội noi theo, phẩm hạnh đạo đức của Ngài là hương vị tuyệt vời, ảnh hưởng rất lớn cho đương thời và mai sau.

Ngày nay, để duy trì Đạo pháp và làm lợi lạc cho mọi người, chúng ta hãy noi gương đức Tổ Đại Ca-Diếp để nâng cao phẩm hạnh đạo đức, dầu chúng ta ở trong vị thế nào.

Bài II-3 TỔ ANANDA

( Một kho tàng Pháp Bảo)

-Thích Giác Nghiêm-

 

Tôn giả Anan là một vị đại đệ tử được nhắc đến nhiều nhất trong Kinh tạng Phật giáo.

Trong hàng Thánh chúng hay mười đại đệ tử của Đức Phật, về tuổi tác Ananda là trẻ nhất, thường gọi tắt là Anan. Tổ luôn luôn thân cận bên Phật. Vị Thánh tăng mà cái tên đã chiếm toàn vẹn sắc thái phổ thông trong Kinh điển đạo Phật, cho nên nói đến ngài Anan là nói về một Thánh tăng, là một kho tàng Phật pháp. Ngài không những là một đại Hộ pháp, mà còn có công lưu truyền giáo lý của Đấng toàn giác cho đời sau, ngài là một vị A-la-hán. Ngài được sự ngưỡng mộ của mọi người ngay trong thời Đức Phật còn tại thế.

 

I- Quê quán và dòng họ:

Ngài là con thứ của Bạch-Phạn-vương, con chú của Ngài Tất-Đạt-Đa (tức là Phật Thích-Ca), dòng Sát-Đế-Lợi (dòng Hiệp sĩ) nước Ca-Tỳ-La-Vệ.

Sinh sau Đức Phật 36 năm, ngay trong đêm thành đạo, cho nên Trung Quốc dịch là Khánh Hỉ, Ngài có nhiều tướng tốt, ngay lúc nhỏ đã khôi ngô tuấn tú, thông minh, hoà nhã và vui vẻ với mọi người.

 

II- Đạo nghiệp của tổ Anan:

  1. Làm thị giả Phật:

Sau dịp Đức Phật thăm thành Ca-Tỳ-La-Vệ lần đầu tiên, mặc dầu tuổi còn trẻ, Anan vẫn tình nguyện xuất gia theo Phật trong nhóm bảy vương tử của hoàng cung, trong đó có: Đề-Bà-Đạt-Đa, A-Na-Luật, La-Hầu-La .vv…

Dầu tuổi nhỏ nhưng luôn siêng năng dự các buổi thuyết pháp của Phật, với tính thông minh sẵn có, ngài Anan nhớ hết những lời Đức Phật đã nói. Càng lớn lên, ngài càng trở nên thông minh và khôi ngô.

Hai mươi năm sau ngày xuất gia, Anan được đề cử làm thị giả cho Phật, ngài Anan chấp thuận và đưa ra 5 điều kiện:

1- Không mặc áo của Phật cho dù cũ hay mới.

2- Nếu không được thí chủ mời, không theo Phật đến nhà Phật tử thọ sự cúng dường khi Phật được thỉnh mời.

3- Được ra ngoài hay đi chỗ khác, khi Phật tiếp tín chúng đến hỏi đạo, nếu sự hiện diện của thị giả không cần thiết.

4- Không ăn thức ăn thừa của Phật.

5- Được tuỳ tiện sắp xếp hoặc cho hay không cho, mỗi khi khách đến gặp Phật.

Năm điều trên được Đức Phật chấp thuận và khen ngợi. Ngoài ra, Anan còn yêu cầu một điểm nữa, là nếu Đức Phật thuyết pháp ở đâu không có ngài tham dự, thì xin Đức Phật thuyết lại bài pháp ấy cho ông nghe.

  1. Tôn giả Anan hành đạo:

Tôn giả là một đại đệ tử rất quan trọng mặc dầu còn trẻ, được Đức Phật chỉ định làm thị giả, đồng thời còn đại diện Như Lai để ban bố giáo lệnh và thuyết pháp.

Ngài Anan đã làm tròn phận sự một cách xứng đáng, mặc dầu bận rộn nhiều công việc nhưng luôn luôn tinh tấn, nhẫn nại và bền bỉ trui rèn nội tâm.

Không những Tôn giả nhớ rõ những bài pháp Đức Phật thuyết để có thể thuyết lại không sai, không thiếu, mà còn nhớ kỹ những mẫu chuyện, những lời pháp cùng những đề tài được nói nhiều nơi khác nhau của Đức Phật. Khi thuyết pháp, ngài dùng những tài liệu rải rác đó, gom lại phù hợp đề tài để trình bày cho hội chúng nghe một cách đầy đủ súc tích, phong phú và sâu sắc.

Lại thêm, ăn nói hòa dịu, từ tốn, vui vẻ, sẵn sàng giúp đỡ mọi người, nên tôn giả Anan được Tăng - Ni và Phật tử quý mến, ngay Đức Phật từng khen ông trước mọi người như sau:

“Khi các hàng Phật tử ghé thăm, họ chỉ cần thấy dung mạo của Anan là đủ rồi, nếu Anan có thời gian thuyết pháp thì càng hay, còn giả sử Anan bận rộn, không chào hỏi họ một tiếng, họ cũng hoàn toàn hoan hỷ, không bao giờ phiền trách. Ấy chính là cái phúc hạnh của một bậc sắp bước vào ngưỡng cửa giải thoát”.

Có một cư sĩ ngoại đạo nghe ngài Anan thuyết pháp, rồi quy y Tam Bảo, vị ấy hiểu rõ chân lý đã mừng rỡ khen ngợi:

“Thật là Thánh đạo! Thật là chân nhân! Sa môn Anan đã không đề cao pháp học của mình, cũng không xuyên tạc giáo lý của người khác. Ông chỉ biết ngay thẳng diễn tả những điều chân thật, mà ý nghĩa nào dầu có tiềm ẩn sâu xa nhất ông cũng không bỏ qua”.

Hàng vua chúa cũng quý trọng ngài.

Mặc dầu được nhiều người khen ngợi, có thiện cảm, nhiều đặc quyền; hàng ngày tiếp xúc với đủ hạng người nhưng Tôn giả Anan không gặp sự ganh tỵ, phàn nàn, đố kỵ, không ai bất mãn và ganh ghét cả. Sở dĩ ngài được đề cao vì ngài biết khiêm hạ, dâng trọn cuộc đời cho đạo pháp, không có tánh kiêu căng, tự cao, ngã mạn.

Tôn giả Anan ngoài việc hầu hạ Phật một cách chu đáo chuyên cần, còn là người phụ tá của vị Giáo chủ, người tổ chức khéo léo, trông nom công việc của chư Tăng, giúp đỡ mọi người và nổi bật nhất là đóng vai trò hộ tá xuất sắc của Đức Phật, cả về mặt ngoại giao, có khi giải quyết những vấn đề phức tạp, tế nhị giữa con người với con người, Tăng-già với xã hội và với tôn giáo khác.

Trong suốt 25 năm gần gũi với Đức Phật, tôn giả Anan chỉ đắc Tu-Đà-Hoàn, nhưng Đức Phật xem Anan rất hoàn hảo, Ngài nói:

“Nầy Anan! Nếu ví Như Lai là người thợ gốm và ông là tác phẩm, thì người thợ gốm ấy, đang hoàn toàn thoả mãn vì đã đem hết khả năng của mình để nắn một tác phẩm vừa ý nhất.”

  1. Anan là kho tàng Pháp bảo:

Biệt tài nổi bật của ngài Anan là đa văn đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật, có khả năng nhớ nhiều, nhớ dai, không thiếu sót nên toàn thể Phật tử thời bấy giờ tặng ngài danh hiệu là “Một tông đồ xuất chúng” mặc dù chưa đắc quả A-la-hán. Ngài đã nghe lời Phật dạy nhiều hơn ai hết, rồi nhớ hết và hiểu ý nghĩa một cách súc tích nhất, cho nên có thể phối hợp với các Phật ngôn dạy trước với các Phật ngôn dạy sau để trình bày một cách sâu sắc.

  1. Anan đối với nữ giới:

Ananda dần dần lớn lên trong Tăng đoàn, với thiên tánh ôn hoà, thuần hậu, cởi mở, vui vẻ, ưu ái với mọi người, lại thêm dung mạo khôi ngô nên được phái nữ bên trong và ngoài Tăng đoàn ngưỡng mộ.

Nhờ tôn giả Anan khẩn cầu tha thiết nên Đức Phật đã cho phép nữ giới xuất gia.

Có lần Tôn giả gặp nạn Ma-Đăng-Già.

  1. Những mẫu đàm luận của Anan với Đức Phật:

Những mẫu đàm thoại giữa ngài Anan với Đức Phật tìm thấy trong Kinh điển rất nhiều và đa dạng. Từ những thắc mắc hay tò mò của ngài Anan, hoặc những buổi thuyết pháp Anan không dự, đều được Đức Phật trao đổi với Ngài Anan.

  1. Tiền kiếp của Ngài Anan:

(Kể một ít giai thoại về kiếp sống quá khứ của Ngài Ananda).

 

III- Anan lúc Phật sắp Niết bàn:

Những lời giáo huấn của Đức Phật thời gian cuối. Tôn giả Ananda đã sơ xuất không “thỉnh Phật khoan nhập Niết bàn” và sau đó Đức Phật hứa khả với Ma vương, Ngài sẽ nhập Niết bàn trong vòng 3 tháng tới - Đức Phật chọn địa điểm dưới gốc Sa-La Song Thọ, gần thành Kusinàrà xứ Mallas.

 

IV- Anan sau khi Đức Phật viên tịch

Tham dự kiết tập Kinh điển, tôn giả Anan tụng lại tất cả các bài Kinh Đức Phật đã thuyết.

Tổ Đại Ca-Diếp (Tổ thứ nhất) trước khi nhập Niết bàn vào núi Kê-Túc để nhập định trong núi đá. Ngài đã đến gặp Tôn giả Anan để phó chúc truyền lại ngài Anan làm vị Tổ thứ hai nối tiếp sứ mạng kế thừa, Tổ Ca Diếp nói: “Khi Như lai sắp Niết bàn có dặn tôi sau này đem chánh pháp nhãn tạng giao phó cho ông. Nay tôi cơ duyên đã mãn, đã đến lúc tôi giao phó cho ông. Ông khéo giữ gìn chớ để đoạn dứt”.

Từ ngày đó, Tôn giả Anan trở thành vị Tổ thứ 2 của Thiền tông Ấn Hoa.

 

V- Tổ Anan Niết bàn:

Sau khi thọ nhận sự truyền thừa Tổ vị thứ 2, Tổ Ananda tiếp tục lãnh đạo giáo đoàn và tích cực tuyên dương chánh pháp.

Môn đệ của Tổ Anan có hai vị xuất sắc đó là: Thương-Na-Hòa-Tu và Mạc Điền Địa (Mạc-Điền-Đề-Ca). Tổ Anan quyết định sẽ chọn Thương-Na-Hòa-Tu làm người kế Tổ vị.

Đến khoảng 120, tuổi Tổ Anan quyết định nhập Niết bàn, thời gian này hai nước Ma-Kiệt-Đà và Tỳ-Xá-Ly bất hòa, đối đầu đang giao chiến với nhau nên để tránh sự tranh chấp gây oán thù, ngài quyết định Niết bàn giữa con sông Hằng là biên giới của hai nước. Nghe tin Tổ Anan sắp Niết bàn ở giữa sông, vua và nhân dân hai nước đến đảnh lễ và bắt loa xin ngài chớ vội Niết bàn và xin hãy vào bờ.

Ở giữa dòng sông, thấy hai vua và nhân dân đều đến thỉnh mời, Tổ Anan nói lớn:

“Vì hai nước bất hoà, hai bên còn oán hận nhau do đó ta xét thấy giữa sông nhập diệt là giải pháp công bằng nhất. Ta cầu mong hai nước chấm dứt chinh chiến, lập lại hoà bình thân hữu” rồi nói bài kệ:

Hai vua khéo giao hòa.

Tôi Niết bàn an tịnh

Chớ nhớ thương buồn khổ

Vì không còn các nghiệp”.

Nhờ vậy mà hai vua lấy lại hoà khí, hợp nhau làm lễ hoả táng nhục thân Tổ và phân chia xá lợi, xây tháp tôn thờ.

Nhờ cách nhập diệt và lời kêu gọi ấy của Tổ, mà hai nước hòa giải được hận thù, chấm dứt chinh chiến, sống trong hòa bình và hợp tác.

 

  1. Kết luận:

Trong hàng đệ tử Phật, có nhiều đại đệ tử rất đáng cho hậu thế tôn sùng và noi theo. Một trong những vị đó là Thánh tăng Anan. Người con Phật mỗi lần tụng đọc Kinh đều có đọc đến tên Ngài Anan.

Ngài Anan không những là một đại Hộ pháp, mà còn có công lưu truyền giáo lý của đấng Toàn giác cho đời sau. Chúng ta cần noi gương Tổ Anan trong vấn đề tuyên dương chánh pháp để tự lợi và giúp ích cho mọi người. Lấy chánh pháp trang nghiêm bản thân, trang nghiêm giáo hội, cũng chính là để góp phần trang nghiêm, xây dựng xã hội an bình và hạnh phúc.

Bài II-4 BỒ TÁT MÃ MINH

(ASVAGHOSHA)

(Cuối thế kỷ thứ năm, sau Phật nhập Niết bàn)

-Thích Giác Nghiêm-

Giáo pháp của Đức Phật chỉ có một vị giải thoát, mục đích duy nhất là đưa chúng sanh đến giác ngộ và giải thoát. Nước trong biển cả chỉ có một vị mặn, nhưng tùy theo biển rộng, biển hẹp, biển sâu, biển nông mà hình thể của nước có khác nhau.

Bởi vậy, giáo pháp của Đức Phật tùy căn cơ, trình độ, hoàn cảnh của chúng sanh mà có nhiều pháp môn. Đến thế kỷ thứ 5 sau Phật Niết bàn, nhờ Tổ thứ 12 là Bồ Tát Mã Minh khởi sự xương minh, Phật giáo phát triển cao xa và lan truyền rộng lớn. Bồ Tát Mã Minh là một Pháp sư trí tuệ hơn người, có tài hùng biện.

I- Quê quán, dòng họ và tên hiệu:

Bồ Tát Mã Minh người xứ Ba-La-Nại (Bénares) phía Tây Thiên-Trúc, không rõ tên họ, thuộc dòng Bà-la-môn. Bồ Tát học rộng, tài cao, có biệt tài hùng biện, có nhiều công đức thù thắng, nên có tên là Công Thắng. Ngài có danh hiệu Mã Minh vì lý do sau đây:

  1. Khi Bồ Tát vừa chào đời, các con ngựa trong xứ đều hí vang lên.
  2. Ngoài tài hùng biện, còn giỏi đánh đàn. Khi Bồ Tát gẫy đàn, tất cả ngựa chung quanh vùng đều hí vang lên.
  3. Khi Bồ Tát thuyết pháp, ngựa trong các chuồng đều lặng lẽ lắng nghe không chịu ăn uống, khi Bồ Tát xuống đàn, chấm dứt buổi thuyết pháp, các con ngựa đều hí vang, rồi ăn trở lại. Bởi vậy có danh hiệu là Mã Minh (ngựa hí).

 

II- Đạo nghiệp của Bồ Tát:

  1. Mã Minh xuất gia:

Ngài Mã Minh lúc đầu tin theo ngoại đạo, thời trai trẻ là một học giả Bà-la-môn giáo, trí tuệ hưon người, có biệt tài hùng biện, không có đối thủ nào tranh luận nổi. Vì vậy, Mã Minh kiêu căng, thường tìm người tài giỏi để tranh luận. Mã Minh tìm đến Tổ Phú-Na-Dạ-Xa đang thuyết pháp để tranh luận. Với tánh kiêu ngạo sẵn có, nhưng thua tài Tổ Phú-Na-Dạ-Xa. Vì Tổ đối xử tốt, cảm hóa Mã Minh, nên Bồ Tát quy phục Tổ, và xin được xuất gia, làm đệ tử thọ trì giới pháp.

  1. Giúp cảm hóa ngài Mã Minh:

Ngài Mã Minh xin thế phát làm đồ đệ, nhưng mỗi lần nghĩ đến thất bại của mình, ông vẫn còn thấy xấu hỗ, luôn tìm cách tự tử. Ngài Phú-Na-Dạ-Xa biết rõ điều đó, nên hết lòng dùng phương tiện cảm hóa, dần dần ngài Mã Minh thấy mình thua kém Tổ về nhiều mặt, nên không còn thấy bị hạ nhục, bỏ tánh kiêu ngạo, mà say sưa học tập, nghiên cứu Phật pháp, để hiểu sâu hơn. Nhờ vậy mà bổ sung thêm sự hiểu biết, trở thành một biện sĩ lỗi lạc, thắp sáng ngọn đuốc đại thừa Phật giáo. Thanh danh của Ngài không những vang dội khắp Ấn Độ mà còn ra cả nước ngoài.

  1. Cái giá của Ngài Mã Minh:

Vua Kaniska nước Nguyệt-Chi (Tukhàra) - một nước thế lực mạnh đã thâu tóm các nước phía Bắc Ấn Độ và cả vùng Trung Á, Tế Á lập thành một đại đế quốc. Lại tiếp tục mở rộng lãnh thổ đánh xuống Trung Ấn Độ, đánh xứ Ma-Kiệt-Đà, mang về chiến lợi phẩm gồm: Cái bát của Phật, nhà sư Mã Minh và 100 triệu đồng tiền vàng.

  1. Hoằng pháp ở nước Tukhàra:

Vua Kaniska tổ chức thuyết pháp để cho quần thần và dân chúng trong nước Nguyệt-Chi nghe, để cho mọi người được lợi lạc và thấy rằng: Chiến lợi phẩm nhà sư Mã Minh quý giá và xứng đáng hơn 100 triệu đồng vàng.

  1. Tuyền tâm ấn - Thắp sáng giáo pháp vị tha rộng lớn:

Tổ Phú-Na-Dạ-Xa thấy ngài Mã Minh có thể đưa hệ phái Bắc truyền lên đỉnh cao thời đại, nên ngài đem Chánh Pháp Nhãn Tạng của Như Lai truyền trao cho ngài Mã Minh, là con người phi thường, thừa sức bẻ gãy hàng ngoại đạo, phục hồi uy thế Phật giáo. Ngài trước tác hơn 100 bộ Kinh - Luận, nổi tiếng nhất là bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận. Mục đích làm sáng tỏ, chỉ rõ gốc mê ngộ, rút ngọn nghĩa lý sâu rộng của Phật đã nói, giúp người phát khởi lòng tin vào Đại thừa.

  1. Hóa độ Tôn giả Ca-Tỳ-Ma-La:

Ca-Tỳ-Ma-La tu pháp ngoại đạo, có thần lực biến hóa, uy thế mạnh, được Tổ Mã Minh hóa độ, cùng ba ngàn đồ đệ cầu xin được xuất gia. Chấp nhận lời thỉnh cầu, Bồ Tát triệu tập 500 vị Thánh tăng cử hành lễ truyền trao giới Cụ túc. Trong buổi lễ Bồ Tát khai đạo rằng;

Nầy các giới tử! Các ngươi hãy dõng mãnh khởi tâm hướng đến Bồ Đề, người có tâm Bồ Đề rộng lớn sẽ chứng thành đạo quả giác ngộ và giải thoát

Quả nhiên, Ca-Tỳ-Ma-La được giới thể đầy đủ, từ thân phát ra ánh sáng và có mùi hương lạ tỏa khắp đạo tràng.

III- Truyền tâm ấn cho Ca-Tỳ-Ma-La và Niết bàn:

Một hôm, thấy cơ duyên hóa độ đã mãn, cơ thể cũng đã già yếu, Bồ Tát Mã Minh gọi Ca-Tỳ-Ma-La đến và di chúc:

Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta phó chúc cho ngươi. Ngươi hãy tích cực truyền bá, chớ để hoại diệt. Nghe ta nói kệ”:

“Ẩn hiển đều pháp gốc

Sáng tối nguyên không hai

Nay truyền pháp liễu ngộ

Không lấy cũng chẳng bỏ”.

Truyền tâm ấn xong, Ngài vào chánh định an nhiên thị tịch. Ca-Tỳ-Ma-La và đồ chúng đem chân thể của Bồ Tát để vào khám phụng thờ.

IV- Nhận thức và kết luận:

Bồ Tát Mã Minh người nước Ba-La-Nại (Bénares), nằm giữa lưu vực sông Hằng và nhánh sông Sona bao quanh. Khi tổ Phú-Na-Dạ-Xa đến Ba-La-Nại thiết lập đạo tràng, Đại sĩ Mã Minh đến phó hội, Tổ biết là người phi thường. Theo lời Phật huyền ký, kinh Mahamada đã ghi: “Sau khi Phật diệt độ khoảng 600 năm, các ngoại đạo tà thuyết thịnh hành hủy diệt Phật pháp. Lúc bấy giờ có Bồ Tát ra đời tên là Mã Minh, nói pháp rất hay, phá trừ tà thuyết, hàng phục ngoại đạo”. Quả thật, sau Phật Niết bàn, Bà-la-môn giáo sống dậy, hạ uy thế Phật giáo. Tổ biết Ngài Mã Minh thừa sức bẻ gãy hàng ngoại đạo, Tổ đem pháp tạng phó chúc lại, với bài kệ, đại ý nói: “Trong ngộ có mê, trong mê có ngộ, cũng như trong tối có sáng, trong sáng có tối, cả hai không rời nhau. Khi tối hết thì sáng cũng không còn. Liễu ngộ được Pháp mê ngộ, ẩn hiện thì chẳng còn một mà cũng chẳng có hai”.

Nhìn chung Bồ Tát Mã Minh thuộc dòng Bà-la-môn, là một học giả trí tuệ hơn người, vốn có tài hùng biện, học hỏi liễu ngộ thêm Phật pháp nên dễ dàng đả phá, loại trừ được tà thuyết ngoại đạo, khởi đầu xiển dương giáo thuyết vị tha rộng lớn của Đại thừa Phật giáo.

Bài II-5 BỒ TÁT LONG THỌ

(NÀGÀRJUNA)

(Giữa thế kỷ thứ sáu, sau Phật nhập Niết bàn)

-Thích Giác Nghiêm-

Việc thắp sáng đèn trí tuệ của Phật giáo Bắc truyền cũng như chấn hưng lại chánh pháp sau một thời gian dài bị tà thuyết ngoại đạo thạnh hành, cố ý hủy diệt chánh pháp, Bồ Tát Mã Minh được xem là người phát động phong trào đứng ra mở rộng tư tưởng Đại thừa, mặt trời trí tuệ ló dạng.

Về sau Ngài Long Thọ (Nàgàrjuna) làm phong trào lớn mạnh, mặt trời trí tuệ lên đỉnh cao, có công nghiên cứu tổ chức về giáo học Đại thừa Phật giáo, nhờ vậy mà ánh sáng Phật giáo tỏa chiếu rực rỡ, thắp sáng đèn trí tuệ cho mọi người.

Cho nên, sử Phật giáo bên Ấn Độ có chép: “Vào cuối thời Chánh pháp có Bồ Tát Mã Minh, đầu thời Tượng pháp có Bồ Tát Long Thọ, là những bậc Luận chủ tuyệt luân trong môn đạo học. Hai Bồ Tát phá hết tà kiến, hư ngôn, dùng Phật giáo như đường thẳng, chẳng còn bị các tà luận làm trở ngại”.

I- Quê quán, dòng họ, tên hiệu và con người của Bồ Tát Long Thọ:

Ngài nguyên tên là Siddhipâda, hiệu là Long Thọ (Nàgàrjuna), còn có tên là Long Thắng. Ngài ở nước Tỳ-Đạt-Bà (Vidharbha), ở Nam Ấn Độ, thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Ra đời vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6 sau Phật Niết bàn, tức là vào khoảng thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ hai Tây lịch.

Sở dĩ có tên hiệu Long Thọ, vì bà mẹ Ngài sanh nơi cội cây A-Chu-Đà-Na (Arjuna), lại khi lớn làm lãnh tụ một nhóm nhân tài tu luyện ở dưới tàng cây cổ thụ to lớn, nên có tên là Long Thọ. Lại có truyền thuyết nói nhờ Long vương ở dưới Long cung cho ngài Kinh. Long là rồng tên chữ là Naga, Thọ là cây A-Chu-Đà-Na (Arjuna) nên tên Ngài chữ Phạn là Nàgàrjuna, dịch là Long Thọ.

II- Đạo nghiệp của Bồ Tát Long Thọ:

  1. Xuất gia tu học:

Cậu bé Siddhipâda may mắn được vào trong tu viện Nalanda, 8 tuổi được tập sự Sa di, siêng năng học tập, tinh tấn tu hành, trở nên xuất sắc các môn học. Năm 20 tuổi, ngài đi chu du khắp nơi, tiếp xúc nhiều đạo sĩ, học thuật gia, tìm hiểu học hỏi thêm và không có môn nào không xuất sắc, như: Thiên văn, địa lý, khám và chữa bệnh, pha chế thuốc bệnh, thuốc trường sanh, bói toán, sấm ký, mật tông, chế biến luyện kim. Ngài cũng là một nhà quản lý và luận sư, là một bậc hoàn hảo siêu xuất.

  1. Được truyền tâm ấn:

Ngài Long Thọ cùng một số đồ đệ vào hang núi dưới tàng cây cổ thụ để tu luyện. Tổ thứ 13 của Thiền tông là Ca-Tỳ-Ma-La cũng vào hang núi, gặp nhau, qua tiếp xúc thấy Ngài Ca-Tỳ-Ma-La xứng đáng là bậc thầy của mình, ngài Long Thọ cùng đồ chúng xin xuất gia,sau thọ Cụ túc giới.

Một hôm, thấy cơ duyên đã mãn, cơ thể đã già yếu, Tổ Ca-Tỳ-Ma-La gọi ngài Long Thọ đến, truyền trao tâm ấn và phó chúc cho ngài làm vị Tổ thứ 14 của Thiền Tông Ấn Hoa.

  1. Tổ Long Thọ hoằng hóa Nam Ấn Độ:

Chúng ta biết ngài Long Thọ xuất thân từ một gia đình danh gia thế phiệt, dòng dõi Bà-la-môn ở miền Nam Ấn Độ. Trong thời gian này tại quê hương ngài trị vì là một quốc vương hùng mạnh, quyền uy lớn nhưng theo tà giáo. Không tin và ra sức phá hoại Phật giáo, làm cho cả một vùng rộng lớn không có một ngôi chùa, không có một nhà sư nào ở được. Ngài Long Thọ có tâm nguyện và quyết tâm dùng phương tiện để giáo hóa nhà vua. Nhờ chịu khó, chịu khổ và phương tiện thiện xảo đã cảm hóa được quốc vương kính tin Phật giáo và dân chúng lần lần quy y Tam Bảo, làm đồ đệ của ngài. Và riêng ngài rất được mọi người sùng kính.

  1. Ngài Long Thọ độ Ca-Na-Đề-Bà (Kanaseva):

Đến một vùng người dân theo ngoại đạo từ lâu, chưa hiểu Phật giáo, chỉ tin theo phước nghiệp, chưa hiểu về Phật tánh, Ngài Long Thọ giảng pháp và dùng phương tiện cho họ hiểu và độ cho họ. Nhờ đó mọi người cảm ngộ, một số xin xuất gia, trong đó có con một ông trưởng giả giàu có tên là Ca-Na-Đề-Bà (Kanaseva). Ca-Na-Đề-Bà từ nhỏ đã tỏ ra thông minh, có tài biện luận, lại hay đùa bởn, thích làm phước thiện, nên có tên là Tác Thiện.

  1. Xiển dương Phật giáo Bắc truyền:

Bồ Tát Long Thọ lúc thiếu thời đã tinh thông các kinh điển Véda của Bà-la-môn giáo và các học thuật. Nhưng đều chưa thỏa mãn, nên quyết tâm xuất gia tìm đạo cao siêu mầu nhiệm của Phật giáo. Lúc đầu ngài học giáo lý Tiểu thừa, về sau nghiên cứu giáo lý Đại thừa làm cho ngài thích thú và say mê. Ngài tổ chức lại hệ thống giáo học rõ ràng của Đại thừa, ngài trước tác các luận điểm cho sâu sắc, sắc bén hơn, để làm sáng tỏ các vấn đề khúc chiết trong Kinh, để cho mọi người dễ dàng tỏ ngộ lý cao siêu huyền diệu của Phật pháp mà ứng dụng.

Bồ Tát ra sức phá dẹp các tà thuyết ngoại đạo, thắp sáng đuốc trí tuệ Bát Nhã, dương cao lý Trung đạo. Ngài đã trước tác rất nhiều bộ luận, nên cổ lai thường gọi Ngài là bậc luận chủ của ngàn bộ luận. Rất tiếc là vào thế kỷ thứ 8 Tây lịch, quân Hồi giáo đã đánh phá nhiều lần, triệt hạ các chùa tháp, giết hại Tăng Ni và tiêu hủy kinh sách, trong đó có nhiều bộ luận của ngài.

  1. Vua Satàvahana xây chùa cho ngài Long Thọ:

Một hôm thấy cơ duyên đã mãn, tuổi đã già, Bồ Tát Long Thọ gọi Ka-Na-Đề-Bà (Kanaseva) đến để di chúc.

Chánh pháp nhãn tạng của Như Lai truyền đến ta, nay ta đem giao phó lại cho ngươi, ngươi hãy tích cực truyền trì chớ để hủy diệt, hãy nghe ta nói kệ:

Vị minh ẩn hiển pháp

Phương thuyết giải thoát ly

Ư pháp tâm bất chứng

Vô sân diệc vô hỷ”.

Tạm dịch:

 

Vì sáng pháp ẩn hiện

Mới nói lý giải thoát

Nơi pháp tâm chẳng chứng

Không hận cũng không mừng.

Phú Pháp xong Bồ Tát Long Thọ nhập “Nguyệt Luân Tam Muội”, hiện tướng thần biến, từ trên bổn tòa an nhiên thị tịch.

III- Nhận thức và kết luận:

Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn một thời gian, bên ngoài Bà-la-môn giáo và các phái ngoại đạo sống dậy, bài xích Phật giáo và triệt hạ mãnh liệt. Nội bộ thì chia rẽ, phân chia nhiều bộ phái, mà rõ nét là chia ra Nam truyền và Bắc truyền.

Về Bắc truyền, Phật giáo thiên về lý Không của Bát Nhã, kể cả Phật tánh. Về Nam truyền Phật giáo, chư Tăng chú trọng hành trì giới luật và tín đồ làm các phước thiện.

Bồ Tát Long Thọ có công tổ chức lại thành một hệ thống Giáo học Đại thừa. Ngài là một triết gia trứ danh đã lập nên học thuyết Trung Quán Tánh Không của các hiện tướng. Ngài đi hoằng hóa nhiều nơi, trước tác nhiều bộ luận liên quan đến nhiều bộ kinh, nên giáo nghĩa của Ngài cũng trở thành đa phương, đa dạng, làm sáng tỏ nhiều bộ kinh mà sau đó các Tông phái dùng làm yếu chỉ. Cho nên cổ lai thường tôn xưng Ngài là vị tổ khai sáng của Thiền tông, Tịnh Độ tông, Mật tông, Hoa Nghiêm tông, Tam Luận tông v.v...

Suốt cả cuộc đời Bồ Tát Long Thọ đã tích cực làm rạng rỡ giáo pháp Bắc truyền, nối tiếp sự nghiệp truyền trì Chánh pháp nhãn tạng. Nhờ vậy, mà ánh sáng Phật giáo tỏa chiếu rực rỡ, thắp sáng đèn trí tuệ cho mọi người.

Bài II-6 THỌ GIỚI - HỌC GIỚI - TRÌ GIỚI

-Thích Minh Thông-

 

I- Thọ giới

Kinh Hoa nghiêm: “Giới là gốc của vô thượng Bồ đề”. Do đó, tinh thần căn bản của Phật giáo là giới học, tức là đệ tử Phật phải tôn trọng và tuân giữ giới luật, bất luận tại gia hay xuất gia. Khi bước vào cửa nhà Phật, điều trọng đại nhất là phải thọ giới, bằng không thì dù tin Phật, học Phật cũng chỉ là ngoài cửa mà thôi.

Giới luật của Phật, do sự bất đồng trên thân phần và cấp bậc nên:

* Tại gia:

- Tam quy giới

- Ngũ giới

- Bát quan trai giới

- Bồ Tát giới

* Xuất gia:

- Sa-di - Sa-di-ni

- Thức-xoa

- Tỳ-kheo - Tỳ-kheo-ni

- Bồ Tát giới

Có ba điểm cần nói:

  1. Tam quy y cũng là giới. Giới là phòng phi chỉ ác, quy y Phật thì không quy y trời thần…
  2. Bát quan trai của Phật tử là 8 giới của sa di… do cửa này không thông với đường xuất gia, đóng chặt cửa sinh tử, thêm vào quá ngọ chẳng ăn, nên gọi là trai, hợp lại thành Bát quan trai giới.
  3. Bồ Tát giới là thông giới, không luận là xuất gia hay tại gia đều bình đẳng. Phật pháp tuy nói bình đẳng trên phương diện tánh thể chứ không nói đến trên phương diện nghiệp lực. Đức Phật nói: mọi người đều có thể thành Phật, vì mọi người đều có Phật tánh. Nhưng vì Phật tánh ấy bị vô minh cạn mỏng hay sâu dày mà có hiển lộ sai khác. Cho nên trên giới luật của Phật cũng có tầng cấp, từ Tam quy, Ngũ giới đến tầng cấp Tăng-già, đều có thể lấy Tam quy - Ngũ giới làm nền tảng. Người thọ Tam quy không thể đạt đến giới hạnh của Tỳ kheo, Bồ Tát giới, trái lại, không có một vị tỳ kheo - Bồ Tát giới nào không thọ Tam quy - Ngũ giới. Vì thế nên biết, Tam quy - Ngũ giới là cửa ngõ vào đạo. Bồ Tát tỳ kheo mới là con đường tiến sâu vào cửa Phật. Do đó, người thọ Tam quy rồi phải tiến lên thọ Ngũ giới. Người thọ Ngũ giới rồi phải tiến lên thọ Bồ Tát giới. Người thọ Bồ Tát tại gia lấy giới làm thầy.

Khi Đức Phật sắp diệt độ, Ngài Anan thưa Phật: “Sau khi Đức Thế tôn diệt độ, chúng con nương ai để tu học?”. Đức Phật dạy: “Này Anan, sau khi Như lai diệt độ, các ông phải tôn trọng cung kính Ba-La-Đề-Mộc-Xoa, như người nghèo gặp của báu, như người đi trong đêm tối gặt được sáng…Do vậy, này Anan, các ông hãy lấy giới luật làm thầy, dù đức Như Lai có ở đời cũng không khác”. Có lấy giới làm thầy, chúng ta mới có thể chính mình trì giới, cũng trợ giúp và bảo hộ người khác trì giới.

-Vì sao phải có Giới Luật?

Tục ngữ có câu: “Gươm đao tuy bén song chẳng chém người vô tội”. Pháp luật quốc gia đối với người dân tuân giữ pháp luật vốn chẳng có tác dụng, song vì muốn bảo vệ sự an toàn và lợi ích cho người tuân giữ pháp luật nên cần phải có. Lại nữa, người ác không thể không có; đồng thời ranh giới giữa thiện và ác chỉ trong gang tất mà thôi. Vì thế cần có pháp luật.

Giới luật của Phật cũng vậy. Trong 12 năm đầu, sau khi Đức Phật thành đạo, vốn không có giới luật. Thời kỳ này đệ tử Phật đều là những bậc hảo tâm xuất gia, thiện căn sâu dày, thường sau khi được khai thị họ liền chứng Thánh quả. Vì thế, Tăng đoàn thời kỳ này không cần phải chế định Giới Luật để kiểm thúc, đại chúng vốn thanh tịnh. Mãi đến năm thứ 13 trở về sau, có vị Tỳ kheo do sự ép buộc của người mẹ, đã cùng người vợ cũ tác bất tịnh, giới luật của Phật mới được chế định. Đây là vì để bảo vệ sự thanh tịnh, trang nghiêm của Tăng đoàn và cũng để giữ gìn giới thể của Tỳ kheo.

Tuy giới luật Phật chế rất nhiều, nhưng không ngoài 5 giới cơ bản, từ 5 giới này triển khai ra nhưng cũng nhằm bảo vệ sự thanh tịnh của 5 giới. Năm giới là căn bản đạo đức làm người cũng là đức tính cơ bản của luân lý. Cứu cánh của 5 giới là chánh nhân của liễu sanh thoát tử. Ngũ giới giữ được rốt ráo thì cách tịnh độ của chư Phật không xa.

Công năng của 5 giới là dứt nghiệp duyên, nghiệp nhân sanh tử. Đã không tạo nhân sanh tử thì dù chẳng lìa sanh tử thì trong sanh tử chẳng tìm ra dấu vết của ta. Vì thế, giới luật của Phật chế định không phải bó buộc đệ tử, mà đó chính là con đường giải thoát, cũng là phương thuốc ngăn ngừa sự hư đốn của Tăng già.

Phật tử tại gia nếu không có giới luật làm cương lĩnh thì con đường thoát ly sanh tử không phải dễ. Tăng già không có giới luật làm khuôn phép thì Phật giáo không còn là Phật giáo nữa.

Do đó, lúc Đức Phật sắp Niết bàn, Ngài dạy đệ tử phải lấy Giới luật làm thầy là vậy. Phật giáo chỉ cần người đệ tử Phật trì giới, giữ giới thì chánh pháp cữu trụ ở thế gian, bản chất Tăng già sẽ trường tồn mãi mãi.

II- Thọ giới:

Chữ Pháp môn trong câu: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học” trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện là pháp môn gì? Đó là học điều Phật học, hành điều Phật hành, chứng điều Phật chứng. Có người nói rằng: Giới chỉ ngừa lỗi ngăn ác, cũng giống như quy ước của xã hội, luật pháp của quốc gia. Thật ra giới là ngăn cấm, cấm ngăn Phật tử không làm ác, và cũng khuyên Phật tử nên làm thiện. Điều phải làm nên làm, gọi là tác trì; trái lại điều nên làm mà chẳng làm là chỉ phạm. Điều chẳng nên làm thì chẳng làm, gọi là chỉ trì. Trái lại, điều chẳng nên làm mà làm là tác phạm. Chỉ trì thuộc mặt tiêu cực, tác trì thuộc mặt tích cực.

Ngũ giới là giới điều căn bản nhất trong giới luật của Phật, nên gọi ngũ giới là căn bản giới, không luận là bát giới, thập giới, tỳ kheo giới… không một giới nào mà không từ ngũ giới mà ra. Ngũ giới học chẳng tột thì tất cả các giới khác không thể thông được. Ngũ giới giữ được thanh tịnh thì các giới khác giữ được dễ dàng.

III- Trì giới

Mục đích của thọ giới và học giới là trì giới, nếu như thọ mà không học, không trì ấy là người đọc tên thực đơn mà không ăn. Đức Phật chế giới là muốn cho Phật tử tuân hành, chẳng phải để tăng trưởng sự hiểu biết, cao đàm diệu luận, phê phán người này phạm giới, người kia phạm quy cũ. Đây chính là việc đau lòng trong cửa Phật, việc xấu trong chùa. Hơn nữa, do từ miệng Phật tử nói ra, lại thêm thắt cho sự việc càng đậm đà và càng xa sự thật. “Ông nói việc xấu của tôi, tôi vạch thẹo của ông”, chỉ sự nói chẳng độc, vạch chẳng sâu, đến cuối cùng khiến người nghe có cảm tưởng rằng thật không có đệ tử nào của Phật thanh tịnh cả. Nay chẳng những hủy diệt danh dự của chính Phật tử, mà cũng phá nát tín tâm của thiện tín, làm tổn hại sự trang nghiêm của Tam Bảo.

Nếu như mọi đệ tử Phật đều học giới, trì giới thì người phạm giới chắc chắn sẽ giảm bớt, không có sự phê bình công kích người phạm giới, bởi người chân chính trì giới không bao giờ muốn mình phạm giới, nếu thấy người phạm giới, nên đến trước người phạm giới khuyến cáo, hoặc ba lần khuyên can. Qua ba lần khuyên can, bỏ thì tốt, không bỏ thì làm phép Yết-Ma. Nếu chẳng được như thế, người nói lỗi người khác cũng là người phạm giới. Nếu như nói đúng thì thành phạm nói lỗi tứ chúng, nếu nói chẳng đúng sự thật thì phạm giới vọng ngữ. Nếu người bị nói là người xuất gia thì thành tội hủy báng Tam Bảo. Ba điều này là giới trọng của Bồ Tát.

Bài II-7 THẬP THIỆN NGHIỆP

-Thích Giác Nghiêm-

A - Mở Đề:

Thập Thiện Nghiệp hay nói cho đủ là: “Thập Thiện Nghiệp đạo”. Pháp thập thiện là nền tảng của đạo đức, là cái móng vững chắc, là nấc thang căn bản để tiến lên đạo giải thoát. Do vậy, người tu tại gia hay xuất gia, dầu người tu theo Tiểu thừa hay Đại thừa đều lấy pháp Thập Thiện Nghiệp làm nồng cốt, căn bản. Cho nên: “Thập Thiện Nghiệp là cội gốc của tất cả các pháp lành trên thế gian và xuất thế gian”.

Người học đạo phải thâm nhập pháp Thập Thiện. Học về Nhân quả luân hồi chúng ta thấy rằng, hễ gieo nhân gì thì chúng ta gặt quả ấy, hoặc ngay trong đời hiện tại, hoặc trong những đời sau, nhân nhỏ thì quả nhỏ, nhân lớn thì quả lớn.

Người cư sĩ tại gia nếu chỉ thọ Tam quy và Ngũ giới thì kết quả mạng chung tái sanh làm người và được kết quả tương đối. Muốn tiến lên thêm thì phải tu Thập Thiện, có tu Thập Thiện thì tiến lên từ vị trí người được sanh cõi trời. Vậy Thập Thiện Nghiệp nghĩa là gì chúng ta tìm hiểu nội dung sau đây:

B - Chánh Đề

 

I- Định nghĩa

“Thập Thiện Nghiệp” là mười nghiệp lành, cũng có thể gọi là Thập thiện giới, Thập thiện pháp hay nói cho đầy đủ là “Thập Thiện Nghiệp đạo”.

“Nghiệp” dịch từ chữ Phạn Karma mà ra, nó có nghĩa là hành động từ việc làm, lời nói và ý nghĩ tạo ra.

Nghiệp có thể chia ra làm ba tính cách: Lành, dữ, hoặc không lành dữ (gọi là vô ký). Việc lành theo đạo Phật nghĩa là có lợi ích cho mình và cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai. Việc dữ nghĩa là có hại cho mình và cho chúng sanh trong hiện tại cũng như trong tương lai.

Nghiệp là một năng lực do những sự thiện và ác của chúng ta tạo thành từ những đời trước. Nếu trong đời trước mình thường làm lành bằng thân miệng ý thì kết quả tốt đẹp theo ủng hộ mình, nâng đỡ mình, đó là phước nghiệp. Trái lại, nếu trong đời trước mình hay làm những việc ác bằng thân, miệng, ý thì đời này điều xấu sẽ đến, gặp những hoạn nạn, đau khổ, đó là tội nghiệp. Về tội nghiệp thì thi sĩ Nguyễn Du có ghi lại trong truyện Kiều rằng:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”.

II- Chỗ phát khởi của mười nghiệp:

Nghiệp thì nhiều không thể kể xiết được, nó muôn hình vạn trạng, có những nghiệp mình phải quán xét cho kỹ, xem tánh chất của nó mới phân biệt được đó là nghiệp lành hay nghiệp dữ

Nếu trong tâm thiện thì phát ra hành vi lợi lạc chúng sanh, đó là thiện nghiệp; nếu trong tâm ác thì hành vi sẽ tổn hại chúng sanh, đó là ác nghiệp.

Nhưng tựu trung người ta có thể phân ra mười loại nghiệp lành và mười loại nghiệp dữ.

1- Những nghiệp dữ:

  1. Những nghiệp dữ do thân phát khởi có ba: Sát sanh, trộm cướp, tà dâm.
  2. Những nghiệp dữ do miệng nói ra có bốn: Nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác.
  3. Những nghiệp dữ do ý nghĩ phát khởi có ba: Tham lam, sân hận, si mê.

2- Những nghiệp lành:

Nếu chúng ta làm ngược lại với mười nghiệp dữ thì sẽ có được mười nghiệp thiện. Mười nghiệp lành chia ra như sau:

  1. Về thân có ba: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm.
  2. Về miệng nói có bốn: Không nói dối, không nói thêu dệt, không nói lưỡi hai chiều, không nói lời hung ác.
  3. Về ý nghĩ có ba: Không tham lam, không sân hận và không si mê.

III- Ý nghĩa và giá trị của mười nghiệp lành:

1- Không sát sanh:

Không sát sanh tức là không giết hại, không đoạn mạng của chúng sanh.

Trong kinh Niết bàn có nói rằng: Giết từ một con kiến cho đến từ một mạng súc sanh, vì con vật nhỏ cũng có chút thiện căn, nên hể có giết thì phải chịu tội báo.

Giết từ một người phàm cho đến một vị tu đắc quả A-na-hàm thì sẽ đoạ vào ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mà chịu khổ não.

Còn giết cha mẹ cho đến giết bậc A-la-hán, Bích Chi Phật thì phạm tội nặng, sẽ đọa vào đại địa ngục A-tỳ, chịu khổ đời đời, kiếp kiếp không biết khi nào ra khỏi.

Chúng ta là Phật tử, phải cố gắng không sát sanh, vì chúng ta cũng biết rằng không có sự vui mừng nào hơn khỏi bị giết. Cũng chẳng có ân huệ nào hơn không hại mạng.

Với kinh Bồ Tát Giới có nói: “Tất cả lục đạo chúng sanh đều là họ hàng ta, cha mẹ ta đã chết đi rồi sanh lại trong nhiều đời nhiều kiếp”.

Cho nên không sát sanh mà lại phóng sanh là nghiệp lành đứng đầu trong Thập nghiệp thiện.

- Người hằng ngày không sát sanh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng lòng từ bi, là một nhân chánh để tu hành thành Phật và được mười pháp lành như sau:

  1. Tất cả chúng sanh đều kính mến
  2. Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sanh
  3. Trừ sạch thói quen giận hờn.
  4. Thân thể thường được khoẻ mạnh.
  5. Tuổi thọ được lâu dài.
  6. Thường được thiên thần hộ trợ.
  7. Ngủ ngon giấc và không chiêm bao.
  8. Trừ hết các mối oán thù.
  9. Khỏi bị đọa vào ba đường ác.
  10. Sau khi chết được sanh lên cõi trời.

2- Không trộm cướp:

Không trộm cướp nghĩa là không lấy những vật gì không phải là của mình, và người ta không cho mình. Quyền tư hữu là một quyền quan trọng, đã đành mạng sống là quý trọng, nhưng có mạng sống mà không có đủ vật thực, áo quần, nhà cửa, những thứ cần thiết, thì người ta không thể sống được. Cho nên người đời ai cũng quý trọng tài sản, nếu vì một lý do gì bất chính, người ta bị tước đoạt mất tài sản, thì đau khổ buồn phiền như chính mình mất một phần sanh mạng. Tiền là huyết mạch, cho nên khi bị trộm cướp, nhiều người sẽ thất vọng và nếu mất hết của cải, họ buồn phiền đau ốm có khi đến quyên sinh.

Như vậy ai nỡ lòng nào trộm cướp cho đành!

Vả lại, theo lẽ công bằng, mình không muốn ai lấy của mình, thì mình cũng đừng lấy của ai. Việc gì mình không muốn người làm đau khổ cho mình, thì mình cũng đừng làm đau khổ cho người.

Một xã hội không trộm cướp thì mọi người không lo lắng, nhà khỏi đóng cửa, an ninh trật tự an toàn; đất nước thái bình, an lạc.

- Nếu không gian tham trộm cướp, mà lại làm hạnh bố thí thì được những pháp lành sau đây:

  1. Tiền của có dư, không bị nạn giặc giã cướp mất, không bị chính quyền tịch thu, không bị nạn lụt trôi, lửa cháy và con cái phá tan.
  2. Được nhiều người tin cậy thương mến.
  3. Không bị lừa dối, gạt gẫm, phụ bạc.
  4. Xa gần đều khen ngợi lòng ngay thẳng của mình.
  5. Lòng được an ổn, không lo sợ bị tổn hại gì cả.
  6. Được tiếng tốt đồn xa.
  7. Ở chỗ nào cũng không hề sợ hãi.
  8. Của cải, sức khỏe đều được an ổn.
  9. Nói năng biện luận đầy đủ không thiếu sót.
  10. Khi chết rồi được sanh lên cõi trời.

3- Không tà dâm:

Dâm dục là cái nhân sanh tử luân hồi. Người xuất gia là phải sống độc thân, giữ phạm hạnh, không dâm dục. Nhưng người cư sĩ tại gia được phép có gia đình, nhưng tình cảm không được thay đổi, chỉ một vợ một chồng, không lang chạ với người khác, vợ chồng quan hệ phải tiết độ, có sự đồng tình thì gia đình mới được hạnh phúc, xóm giềng bà con mới được hài lòng, quí chuộng.

- Không tà dâm sẽ được bốn điều lợi:

  1. Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
  2. Xa lìa được những sự phiền não, quấy nhiễu rộn ràng.
  3. Vợ hay chồng không ai dám xâm phạm.
  4. Được tiếng tốt người đời khen ngợi.

4- Không nói dối:

Không nói dối là nói đúng sự thật, việc thế nào nói thế ấy, trong lòng và lời nói không trái ngược lẫn nhau, việc phải thì nói phải, việc quấy thì nói quấy, việc có thì nói có, việc không thì nói không. Dầu nói dối để lừa phỉnh chơi cũng có hại; không nên nói dối để che dấu tội lỗi; nói dối vì lợi lộc hay khoe khoang lại càng không nên. Nói dối trong những trường hợp khẩn cấp cứu khổ độ nguy cho người và cho vật mới không phạm tội.

- Người không nói dối, lại nói ngay thật, thì được những điều lợi sau đây:

  1. Miệng thường thơm sạch.
  2. Được người đời tín cẩn kính phục.
  3. Mở lời thành chứng; Người, Trời luôn luôn kính mến.
  4. Thường dùng lời êm dịu an ủi chúng sanh.
  5. Được tâm ý lúc nào cũng vui, thanh thản, ba nghiệp thường trong sạch (thanh tịch).
  6. Nói không sai lầm lòng thường hoan hỉ.
  7. Mỗi khi nói, có thần lực, Người, Trời đều tôn trọng vâng làm.
  8. Trí huệ thù thắng không ai áp bức chế phục được.
  9. Không nói thêu dệt:

Không nói thêu dệt nghĩa là không trau chuốt lời nói, không dùng lời hoa mỹ để gạt người, để quyến rũ làm những điều sai quấy. Những lời nói thêu dệt là những người có lòng dạ bất chánh, lợi dụng lòng tin của người để trục lợi.

- Người không nói thêu dệt sẽ được ba lợi ích:

  1. Được người trí thức yêu mến.
  2. Hay đáp được những câu hỏi khó khăn.
  3. Được làm người có uy đức, cao quí trong cõi nhân thiên.
  4. Không nói lưỡi hai chiều:

Người không nói lưỡi hai chiều để ly gián tình thân giữa người này với người khác, giữa nhóm người này với nhóm người khác, tức là không đến bên này nói xấu bên kia, không đến bên kia nói xấu bên này; không nói chuyện gièm pha; không dùng lời trái ngược để làm cho những kẻ thân thành thù, gần thành xa..

Người không nói hai lưỡi, ngược lại nói những lời êm ái hòa thuận, làm cho bạn bè kính trọng nhau, bà con thêm tin yêu nhau, khiến cho ai ai cũng vui vẻ bằng lòng nhau.

- Người ấy sẽ được những lợi ích sau đây:

  1. Được thân bất hoại, không ai hãm hại được
  2. Được bà con bất hoại , không ai phá hoại được.
  3. Được lòng tin bất hoại, thuận theo bổn nguyện.
  4. Được pháp hạnh bất hoại, chỗ tu kiên cố.
  5. Tình bằng hữu của thiện tri thức được vững bền bất hoại.
  6. Không nói lời hung ác:

Không nói lời hung ác tức là không nói lời hung dữ, độc ác, cộc cằn, thô tục, làm cho người nghe khó chịu, không mắn nhiếc làm cho người nghe hỗ thẹn, khổ tâm, tủi nhục …

Người không nói lời hung ác, chẳng hề bươi móc việc không hay của ai, mà lại ưa nói ra những lời tốt đẹp của kẻ khác, thường nói những lời dịu dàng, thanh nhã, hiền hậu, lời đạo đức, từ bi, làm lợi lạc cho tất cả ai, nghe cũng hân hoan, kính trọng.

- Người như vậy được công đức như sau:

  1. Nói lời nào cũng khôn khéo, đúng lý và lợi ích.
  2. Nói điều gì ai cũng nghe theo và tin cậy.
  3. Nói ra lời nào cũng không ai chỉ trích mà lại được mến yêu.
  4. Không tham muốn:

Người ta thường gọi là tham lam, tham muốn hay tham dục, vì ở đời có năm món dục lạc, mà người ta thường tham muốn nhất: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Ngũ trần dục lạc ấy vui ít mà khổ nhiều.

Người không tham muốn những thứ ấy, là người biết tu hạnh thiểu dục tri túc, tức là muốn ít, biết đủ; đời sống giản dị bớt thì thanh nhàn, cao quý.

- Người không tham muốn thì được thành tựu những điều tốt đẹp sau:

  1. Ba nghiệp thân, khẩu, ý đước tự tại không chướng ngại, các căn đều đầy đủ.
  2. Của cải không sợ bị cướp giật hay mất mát.
  3. Có phước đức nên vật dụng đầy đủ để dùng.
  4. Những sự tốt đẹp sẽ đến với mình mặc dầu mình không mong ước.

 

 

  1. Không giận hờn:

Không giận hờn (sân hận) là vẫn giữ sự bình tĩnh, điềm đạm, nhu hòa trước những cảnh trái ý nghịch lòng. Giận hờn là một tánh xấu rất tai hại, nó như ngọn lửa dữ. Kiếp trước có tánh sân hận thì hiện đời thân hình thô xấu, mặt mày không sáng tươi.

- Người nào không giận hờn thì được tám pháp vui mừng nơi tâm như sau:

  1. Tâm không khổ não.
  2. Tâm không giận hờn.
  3. Tâm không tranh tụng.
  4. Tâm nhu hòa ngay thật.
  5. Có lòng từ bi của bậc Thánh.
  6. Sẵn lòng làm lợi ích, an lạc cho chúng sanh.
  7. Thân tướng trang nghiêm, mọi người đều tôn kính.
  8. Do hòa ái, nhẫn nhục được mau sanh lên cõi trời Phạm thiên.
  9. Không si mê:

Không si mê tức là xa lìa tà kiến, biết phán đoán các việc rành rẽ, nhận định rõ ràng, đúng đắn, không cố chấp theo sự hiểu biết riêng của mình, không tin những thuyết không hợp chân lý, nhất là không mê tín dị đoan.

Người không si mê tức là người có trí tuệ, tin vào giản trạch nhân quả luân hồi rõ ràng, nên không tạo tội mà phước đức ngày càng tăng trưởng.

- Người không si mê thì thành tựu được mười pháp công đức như sau:

  1. Được ý vui chơn thiện và bạn hữu chơn thiện.
  2. Tin sâu nhân quả, thà bỏ thân mạng chứ không làm ác.
  3. Chỉ quy y Phật chứ không quy y thiên thần ngoại đạo.
  4. Tâm được ngay thẳng, thấy biết chơn chánh.
  5. Thường làm thân người, trời; khỏi bị đoạ vào ba đường ác.
  6. Phước huệ được nhiều, lại càng tăng thêm mãi
  7. Xa hẳn đường tà, thực hành đạo chánh.
  8. Lòng không chấp ngã, bỏ hết ác nghiệp.
  9. Yên ở vào nơi chánh kiến
  10. Không bị các tai nạn.

 

C- Kết luận:

Mười nghiệp lành, cũng như mười nghiệp dữ, đều do thân, miệng, ý, phát khởi ra. Muốn được nghiệp lành, thì cần phải dứt hẳn mười nghiệp dữ. Bỏ các nghiệp dữ rồi, mỗi ngày cứ phát triển nghiệp lành mãi, thì sẽ được bốn điều lợi ích như sau:

  1. Cải tạo thân tâm:

Con người thường bị nghiệp lực chi phối cả thân và tâm. Sự thực hành mười nghiệp lành sẽ hoán cải thân và tâm của mình trở thành tốt đẹp. Như không sát sanh mà lại phóng sanh, làm hung ác sẽ đổi thành tâm từ bi, sự thù oán sẽ đổi thành ân nghĩa, điều lành phát ra từ thân mình nên ai thấy cũng mến, cũng muốn gần gũi.

  1. Cải tạo hoàn cảnh:

Hằng ngày do làm các việc lành với lòng từ bi, giúp ích mọi người, ngay thật, hiền hòa, bỏ tham và lại bố thí, nên nó lần lần cải đổi hòan cảnh cuộc sống của mình, từ từ bớt khổ được sự an vui.

  1. Tạo nhân cõi trời:

Người tu Thập Thiện Nghiệp là gieo nhân tốt để cải thiện cuộc sống trong đời này và được gặt kết qủa đẹp đẽ cho đời sau, là sanh lên cõi trời để hưởng phước lạc đầy đủ. Hưởng phước cõi trời xong, trở lại làm người vẫn hưởng được giàu sang phú quí an vui hạnh phúc như cõi trời vậy.

  1. Căn bản Phật quả:

Thập Thiện Nghiệp là căn bản, là nền móng vững chắc để người tu bước lên chánh quả, vì rằng mười nghiệp lành này, có công năng ngăn ngừa các hành vi độc ác, làm ba nghiệp thân, miệng, ý, được thanh tịnh. Trong tương lai tránh khỏi đọa lạc ba đường ác, lại hưởng được phước báu của người, trời và tiến đến đạo của Niết bàn.

Vậy, ước mong tất cả mọi người, nên tu Thập Thiện Nghiệp để tạo hạnh phúc cho mình, cho gia đình mình và cho tất cả chúng sanh.

Như vậy mới là bậc có trí tuệ, biết nhận định và làm theo lẽ phải.

Bài II-8 NHÂN QUẢ

Trong thực tế không có sự vật nào tự nhiên sanh, mà mọi vật phải cần có điều kiện mới sinh được. Điều kiện ấy là nhân và sự vật sinh ra là quả.

Vậy nhân quả là gì?

Nhân lànguyên nhân, quả là kết quả. Nhân là cái hạt, quả là trái do hạt ấy phát sinh. Nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy.

Nhân quả là một đạo lý sâu xa, khó hiểu, phức tạp, và phạm vi của nhân quả rất rộng, nên cũng có nhiều cách phân tích nhân quả khác nhau, do đặt nặng về phương tiện này hay phương tiện khác.

Ở đây ta tạm phân tích các nhân làm 4 thứ:

1- Câu hữu nhân:

Là những nhân cùng có một lần, kết hợp với nhau để ra quả. Nếu các nhân không kết hợp với nhau thì tất nhiên không sinh được quả, mà đã không sinh được quả, thì nhân cũng không thành nhân. Tất cả sự vật đều không tự sinh, vì trước khi sinh ra, chính mình đã không có, làm sao mà tự sinh được.

Một sự vật không thể do cái khác sinh ra, vì đối với mình mới có cái khác, khi mình chưa có thì cái khác đối với mình cũng không thành, làm sao có cái khác sinh ra mình được. Đạo lý này chỉ rõ nhân quả này đối đãi với nhau mà có chứ không phải riêng mình có, và chính nơi các quả mới nhận được các nguyên nhân sinh ra nó, ảnh hưởng các nguyên nhân đó vẫn tồn tại trong quả. Vì khi ảnh hưởng đó hết tồn tại thì quả cũng không còn. Vì thế nên nhân và quả tuy không phải đồng nhau, nhưng cũng không khác hẳn với nhau.

Lại các sự vật không phải không có nhân mà tự nhiên sinh. Một nhân không thể sinh ra được quả. Vì một vật không chịu ảnh hưởng một sự vật khác thì không thay đổi, mà đã không thay đổi thì trước sau vẫn như nhau.

Muốn phát sinh ra một sự vật, cần phải có nhiều nhân cùng một lần, kết hợp ảnh hưởng lẫn nhau mới sinh ra được.

Ví dụ: Cái bàn gỗ. Gỗ là nguyên liệu chính, nhưng nếu để gỗ y nguyên thì không thể thành cái bàn. Cần phải có công nhân, đinh, búa... kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên kết quả cái bàn. Đó gọi là câu hữu nhân.

2- Đẳng lưu nhân:

Lại muốn có quả, các nhân cần phải liên tục, kết hợp ảnh hưởng lẫn nhau trong một thời gian nhất định. Vì nếu cưa xẻ mà không bào ráp thì cũng không thể thành cái bàn. Tác dụng của mỗi nhân còn phải tiếp tục tồn tại nội quả, thì quả mới khỏi tiêu diệt. Sự tiếp tục tồn tại của các nhân, cùng nguyên nhân tạo thành quả, đó gọi là đẳng lưu nhân.

  1. Tăng thượng nhân:

Ngoài những nhân trên, tuy không phải là tối cần thiết, nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của quả, đó là Tăng thượng nhân. Ví như phải có hạt giống, đất, nước... thì bông lúa mới có thể mọc và có hạt, nhưng nếu cày bừa kỹ, nước phân đầy đủ thì bông lúa sẽ có nhiều hạt hơn. Đó gọi là Tăng thượng nhân.

  1. Dị thục nhân:

Các nhân trên, cái có trước, cái có sau, cái thì tiếp tục trong một thời gian dài hay ngắn nhưng có tác động kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau để tạo thành quả. Sự kết hợp ảnh hưởng lẫn nhau trong thời gian dài và cuối cùng tạo thành quả. Đó là dị thục nhân.

Dị thục có ba nghĩa:

  1. Dị thục nhi thục: Như trồng lúa ba bốn tháng trước, sau đó mới có lúa.
  2. Dị loại nhi thục: Do nhân công cày bừa, gieo cấy... hạt lúa mới thành cây lúa. Cây lúa sinh ra bông lúa.
  3. Biến dị nhi thục: Phân, nước... không phải là lúa nhưng lại biến ra lúa.

Nhưng các nhân có trực tiếp sinh ra quả không?

Như trên đã nói, một nhân quyết định không sinh ra được quả, và mỗi nhân riêng biệt thì đều không sinh ra được quả, trong khi quả sinh ra, phần lớn các nhân đều thuộc về quá khứ đều đã thay đổi, nhưng tác động của nhân đó đã tạo điều kiện cho quả sinh ra. Việc các nhân tác động, ảnh hưởng lẫn nhau làm cho quả sinh ra như thế, gọi là duyên.

Duyên có nhiều nghĩa, khi các sự vật tác động, kết hợp, chi phối, nương tựa, ảnh hưởng, đối đãi lẫn nhau đều gọi là duyên cả.

Duyên có 4 thứ:

Sử dụng quả: Là tác dụng của các nhân, mỗi nhân đều có tác dụng. Nên mỗi nhân đều có sử dụng quả riêng biệt. Ví dụ như cái bàn, gỗ có sử dụng quả của gỗ, dụng cụ có sử dụng quả của dụng cụ... Các sử dụng quả riêng biệt ấy kết hợp lại tạo thành cái bàn, đều có thể nhận định được nơi cái bàn.

Đẳng lưu quả: Là kết quả tiếp tục tồn tại trong một thời gian nhất định của các tác dụng, các nguyên nhân.

Tăng thượng quả: Là kết quả làm cho tốt hơn hoặc xấu hơn của các tăng thượng duyên.

Dị thục quả: Là kết quả tổng hợp hiện tại, do các duyên tạo thành.

Tóm lại, nhân quả là một chuỗi tác dụng tương tục với nhau không dứt, nhân sanh ra quả, quả trở lại làm nhân. nhân chuyển quả nối, khiến chúng sanh trôi lăn mãi trong vòng sanh tử, tử sanh không cùng tận.

Bài II-9 TỨ DIỆU ĐẾ

-Thích Trí Viên-

A- Mở đề:

Sau khi thành chánh giác, Đức Thích Ca Mâu Ni liền nghĩ đến việc độ sanh. Nhưng một vướng mắc lớn là Giáo lý Ngài chứng ngộ quá cao siêu, còn căn cơ chúng sanh quá thấp kém, làm sao hiểu và chứng ngộ như Ngài. Tuy vậy, bằng mọi phương tiện Ngài vẫn làm tròn trách nhiệm độ sanh.

Với trọng trách, Đức Thích Ca phương tiện nói Pháp Tứ Diệu Đế (giáo lý tiệm tu) mà những vị tiếp nhận đầu tiên là năm anh em Kiều Trần Như, những người bạn cùng tu khi Ngài mới vào núi.

Bài Pháp này được nói tại vườn Lộc-Uyển, xứ Ấn Độ. Sau khi nghe bài Pháp Tứ Diệu Đế, năm anh em Kiều Trần Như dứt trừ được mọi thành kiến sai lệch, trí tuệ mở rộng và ngộ được Đạo, đạt quả vị A-La-Hán. Đây là năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Tam Bảo hình thành từ ngày đó. Vậy, Phật tử chúng ta tiềm hiểu Tứ Diệu Đế là gì? Và gồm những gì?

B- Nhập đề:

  1. Định nghĩa:

Tứ là bốn; Diệu là quý báu, hay đẹp, hoàn toàn; Đế là chắc thật đúng đắn, rõ ràng. Vậy, Tứ Diệu Đế là bốn điều chắc thật, thực tế rõ ràng, một chân lý đúng đắn mà không có lý thuyết nào có thể chi phối sự thật này, xuyên xuốt cả thời gian và không gian, nó bất di bất dịch đối với sự vật (Pháp). Đây là giáo lý rất cơ bản của Tiểu thừa. Tứ Diệu Đế gồm có:

Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế Đạo Đế

  1. Khổ Đế:

Khổ: Là bản chất ràng buộc đưa đến khó chịu, đau buồn đối với người và vật, không những thân khổ mà tâm cũng khổ, “Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai” (ca dao). Khổ đối nghịch vui sướng.

Đế: Là chắc thật, bao trùm tất cả mọi sự vật…

Vậy, Khổ Đế là sự đau khổ muôn đời, không một ai, không vật nào tránh khỏi. Sống là khổ, già là khổ, chết là khổ, ái biệt ly là khổ, mong cầu không được là khổ, oán ghét mà hay gặp mặt là khổ, năm uẩn chống trái nhau là khổ, gọi chung là Bát Khổ; hay gọn lại là Tam khổ: Khổ khổ, Hoại khổ vàHành khổ (do tinh thần suy nghĩ và thấy mọi vật đều vô thường nên luôn luôn có tâm trạng ray rứt khổ sở, không lúc nào cảm thấy vui).

Khổ Đế là một sự thật của sự sự vật vật, không ai, không vật nào, không lúc nào cảnh đau buồn khổ cực chấm dứt đối với muôn loài chúng sanh.

 

  1. Tập Đế:

Tập: Là nguyên nhân đưa đến mọi kết quả, là lý do để có kết luận.

Do đó, Tập Đế là nguyên nhân dẫn đến mọi sự khổ. Bệnh tật là nỗi khổ đau của mọi loài. Nhưng nguyên nhân nào bị bệnh và khổ đau mà mọi loài phải gánh chịu? Nguồn gốc do Tập Đế đem lại.

  1. Diệt Đế: Diệt là đoạn trừ, là chấm dứt sự việc; là chấm dứt các nguyên nhân đưa đến tái sanh

Như vậy muốn hết khổ phải làm gì?

Muốn hết khổ phải diệt trừ dục vọng mê mờ. Diệt trừ sự khổ qua phương pháp Tu, bằng những Pháp Môn do chính Đức Phật chỉ dạy, tùy theo trình độ, hoàn cảnh của mỗi người mà áp dụng.

  1. Đạo Đế: Là con đường cuối cùng mà hành giả thực hiện giáo lý để chứng quả Giải thoát, an lạc. Nếu ai mong muốn giải thoát an lạc mà không áp dụng pháp môn tu tập thì chẳng khác nào bệnh cần uống thuốc mà không uống thì không thể hết bệnh. Đức Phật là vị thầy thuốc khám bệnh cho thuốc, còn uống hay không, hết bệnh hay không là do bệnh nhân quyết định, thầy thuốc hết bổn phận.
  1. Bố cục Tứ Diệu Đế:

Thật chất mọi loài chúng sanh, không loài nào, người nào muốn đau khổ đến với mình. Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Đã có sanh là có khổ, có tử, có buồn, có vui. Cho nên Tứ Diệu Đế là bài pháp Đức Phật trình bày rất khoa học; nghĩa là, Đức Phật chỉ cái chung phải có, phải đến, phải chịu, sau đó Ngài nói nguyên nhân, và Ngài hướng dẫn tiếp cho chúng ta phương pháp dứt khổ (tu). Đã khổ tức bị đày đoạ, dày vò, mà dứt khổ thì được vui, nếu không tu chứng như Ngài, không ai nói rõ những điều này. Do vậy, người Phật tử chúng ta nên suy nghĩ thật cặn kẽ để tiến tu.

Về đức tin đối với Tam Bảo, người Phật tử chúng ta rất vững, đôi lúc còn mạnh nữa. Nhưng tìm hiểu những lời dạy của Đức Phật như Pháp Tứ Diệu Đế để tiến tu, đôi khi không quan tâm. Thật đáng tiếc nếu người Phật tử nào không học, không hiểu Tứ Diệu Đế thì không rõ ý nghĩa Phật tử, chớ đừng nói đến an lạc, giải thoát

  1. Kết luận:

Tứ Diệu Đế là Giáo Lý rất căn bản, dù Tiểu Thừa hay Đại Thừa không thể bỏ qua. Muốn tu hành có kết quả không thể không tu. Pháp môn này dù rằng Pháp môn tiệm giáo. Không đòi hỏi người phải có trình độ học thức cao rộng, mà ngược lại ai tu cũng được, trình độ nào tu đều thích hợp. Cho nên, Phật tử chúng ta phải quyết tâm nghiên cứu Tứ Diệu Đế để thực hành có hiệu quả.

Đức Phật đã tin tưởng trao lại chúng ta bằng cung cấp phương tiện đầy đủ cho cuộc hành trình về cõi an lạc. Đến hay không do chính mỗi người chúng ta tự quyết định lấy.

Đức Phật đã chu toàn trách nhiệm ban đầu cho cuộc đời giáo hoá.

Bài II-10 BÁT CHÁNH ĐẠO

-Thích Trừng Thiền- A- Mở đề:Bát Chánh Đạo là pháp môn tu tập chân chánh, là nền tảng căn bản của mọi pháp môn tu. Con người sở dĩ luân hồi đau khổ là vì không nhận thức được chân giá trị của pháp môn Bát chánh đạo. Do đó, ngày cũng như đêm, tâm trí bị thúc dục bởi ngoại cảnh điêu hoa rồi sanh ra hành động, những lời nói, những ý nghĩ tà vạy, tạo vô số nghiệp chướng bất thiện, gây khổ đau cho chính mình và người. Tất cả và tất cả đều do sự bất chánh của thân, khẩu, ý tạo ra. Để phá tan những vầng mây đen tối, chặn đứng mọi phiền não khổ đau đó, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni căn cứ nơi chân lý siêu việt mà dạy cho chúng sanh pháp môn Bát Chánh Đạo, và chúng sanh nhờ nương vào tám nẻo chánh này mà tự tin, tu tập, tự đào tạo một cuộc đời vui tươi sáng lạng, một nhân cách hoàn hảo cho chính mình, và từ đó hướng dẫn mọi người cùng tiến bước trên con đường giải thoát tự tại, cùng xây dựng một Tịnh độ tại nhân gian.B- Chánh đề:I- Định nghĩa Bát Chánh Đạo: Bát Chánh Đạo là con đường chân chánh có tám phương tiện nhiệm mầu đưa chúng sanh từ bờ mê đến bờ giác, từ phàm phu đến đời sống thanh cao của bậc Thánh. Cho nên, Bát chánh đạo còn được gọi là Bát Thánh đạo.Bát chánh đạo gồm:1. Chánh kiến2. Chánh tư duy3. Chánh ngữ4. Chánh nghiệp5. Chánh mạng6. Chánh tinh tấn7. Chánh niệm8. Chánh địnhTrong tám phần này, chúng ta nhận thấy quan trọng nhất là chữ “Chánh”. Cho nên, có thể nói gọn là: Trong mọi cử chỉ, mọi hành động của thân, khẩu, ý chúng ta phải cẩn thận, phải đo lường, phải chơn chánh. Đó là điều quan trọng là nòng cốt của mọi pháp môn tu. II- Nội dung và giá trị từng phần của Bát chánh đạo:1. Chánh kiến: Còn gọi là Chánh tri kiến, nghĩa là thấy biết một cách chơn chánh, đúng với sự thật của sự vật. Có thể nói, con người chúng ta hơn hẳn mọi loài (Nhơn vi tối thắng) là nhờ vào trí thông minh, kiến thức và sự linh động nhạy bén của khối óc, của tâm thức. Nhưng chỉ hơn vậy không đủ, mà phải cộng thêm sự “chơn chánh” nữa mới hoàn hảo. Bởi ta thấy biết bao người dựa vào trí thông minh, sự hiểu biết của mình mà tạo ra biết bao cảnh điêu tàn khổ sở, hại mình, hại người, thậm chí hại cả dân tộc, quốc gia, nói rộng ra nữa là cả vũ trụ, cả thế giới. Tất cả những tai hoạ đó là do sự hiểu biết của họ không được chân chánh. Họ chỉ biết vụ lợi riêng cho cá nhân, cho dục vọng, hay nói cách khác là do tri kiến của họ chấp vào bản ngã nên không nhận rõ được thật tướng của các pháp, từ đó gây ra muôn vàn tội lỗi. Như vậy, chúng ta thấy Chánh tri kiến là điều rất quan trọng, nó quyết định cuộc đời rạng sáng cao thượng của chúng ta. Cho nên, nói chúng ta không thể có một sự thông minh mà thiếu vắng trí thấy biết chơn chánh. Đức Phật nhận rõ điều đó, nên chỉ cho chúng ta con đường Chánh tri kiến để dứt trừ những sự thấy biết mê lầm trầm trọng trong vô lượng kiếp đến nay, và bằng nguyên lý duyên khởi, vô thường, vô ngã… Đạo Phật đã giúp chúng ta có được một “tri kiến như thị” thấu rõ mọi cốt lõi của vạn pháp, để từ đó thoát khỏi mọi chướng ngại pháp, đạt đến cứu cánh Niết bàn. Như vậy, người có Chánh kiến là người nhận rõ được cái nào thật, cái nào giả, cái nào tà ngụy, cái nào chơn chánh nên không còn mê lầm giữa sự và lý.2. Chánh Tư Duy: Là sự suy nghĩ, nhận xét một cách đúng đắn, kinh gọi là “Như lý tư duy”. Nếu như chúng ta làm một việc gì đó mà không đắn đo suy nghĩ một cách thấu đáo thì rất dễ mắc sai lầm và nếu như vậy thì hậu quả khó đo lường được. Người xưa nói “sai một ly đi một dặm” nghĩa là chỉ một chút suy nghĩ sai lầm nhỏ thôi thì cũng đủ dẫn chúng ta lạc hướng sai đường rất xa. Vậy cho nên trước khi làm một việc gì, chúng ta phải suy xét thật kỹ và luôn nghĩ đến hậu quả của nó. Đối với người tu theo Phật giáo phải luôn để tâm suy xét vào những hành vi lỗi lầm của mình mà chí thành sám hối. Hơn nữa, những suy nghĩ của chúng ta cần phải phối hợp với giới, định, tuệ, hợp với chân lý, từ đó phát sinh cái nhìn đúng về sự vật, về bản thân, về hoàn cảnh của mình. Như vậy, chúng ta mới chuyển hoá được những dòng tâm thức vô minh đen tối và hướng đến ánh sáng trí tuệ, từ bi, vô ngã. 3. Chánh ngữ: Là lời nói chân chánh, không thiên vị, không dối trá, không thêu dệt, không nói hai chiều… lời nói phải công bình, ngay thẳng, đúng với sự thật. Thường con người chúng ta ít thận trọng trong khi nói nên hay mắc phải những sai lầm, gây tạo cho tha nhân những phiền muộn, đau khổ, sân hận… cũng từ lời nói không ý thức mà gây ra biết bao tội lỗi cho ta và người. Lời nói cũng được ví như con dao hai lưỡi, bởi nó có thể đem lại lợi ích cho người mà cũng có thể đem đến tai hoạ cho người, nên Cổ đức nói “Lời nói của người có thể là mũi tên độc giết người, mà cũng có thể là một phương thuốc hồi dương”. Qua đó, ta thấy được tầm quan trọng của lời nói như thế nào, chúng ta chớ xem thường lời nói. Ca dao Việt nam có câu:Lời nói không mất tiền muaLựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.Lựa lời mà nói ở đây không phải là như nịnh, như hót mà là phải suy nghĩ đắn đo, nói sao cho hợp tình hợp lý, hợp thời cơ, nói sao cho người nghe chấp nhận được sự thật mà không một mảy may buồn phiền, trái lại họ cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng phơi phới. Lại nữa, Chánh ngữ đối với Phật giáo tầm quan trọng là phải hợp thời, hợp cơ cho nên Chánh ngữ đôi khi là “vô ngôn ngữ”. Đức Phật đã từng dạy “Im lặng như chánh pháp, nói năng như chánh pháp”. Im lặng là một mật ngữ rất cần thiết, rất quan trọng và cũng là một câu giải đáp vô cùng lý thú, làm chấn động tâm can của đối phương. Chính dân tộc Việt Nam ta cũng đã rút ra được kinh nghiệm này: “Im lặng là vàng, nói năng là bạc”. Như vậy, khi thấu hiểu được chân giá trị của lời nói, người hành trì Chánh ngữ có lúc tạo cho đối phương một cảm giác sảng khoái, nhẹ nhàng, nhưng cũng có lúc làm cho đối phương chừng như tiếng sét đánh chấn động cả trời đất. Và nhờ vậy mà trí tuệ của họ được phát sáng, nhận rõ được chân tướng của vạn sự vạn vật.4. Chánh nghiệp: Là hành động, việc làm chơn chánh, phù hợp với lẽ phải, như không sát sanh, không trộm cướp, không tà vạy… mà làm những việc tín nghĩa như trì giới, bố thí, phóng sanh. Chúng ta thường thấy, người đời vì tư lợi mà tính toán so đo và làm những việc bất chánh, họ bất chấp cả pháp luật, cả nhân quả, có khi vì một lợi nhuận nhỏ mà họ đành nhẫn tâm sát hại mạng người… Nói chung, chúng sanh vì đắm chìm trong ngũ dục nên bất chấp tất cả, nhưng khi bị nhân quả báo ứng hay bị pháp luật hành hình, xử trị thì họ mới than van, oán trách, hối hận những hành vi sai trái của mình, nhưng tất cả đều đã quá muộn màng, ăn năn hối lỗi sao kịp. Đức Phật, vị đại giác ngộ nhìn thấu rõ đạo lý nhân quả, dạy chúng ta phải thận trọng từng hành động, từng việc làm của mình để khỏi làm tổn hại đến quyền lợi, nghề nghiệp, địa vị, danh giá, hạnh phúc của người khác cũng như của chính mình. Và hơn thế nữa, Ngài dạy chúng ta xây dựng đạo hạnh trên tinh thần tự lợi, lợi tha như kinh đã đề cập:Không làm các việc ácSiêng làm các hạnh lànhGiữ tâm ý trong sạchAy lời chư Phật dạy.(Kinh PC. 183)5. Chánh Mạng: Là sinh sống bằng nghề nghiệp chơn chánh, lương thiện và trong sáng bằng chính năng lực của mình. Không gian tham, lường gạt, không làm giàu trên mồ hôi nước mắt của người khác, mà phải biết chọn cho mình một nghề nghiệp chơn chánh, đúng đắn không tổn thương một sinh vật nào, không làm cho người khác khổ đau về nghề nghiệp của mình. Người tu Chánh nghiệp là người có ý thức khá cao, họ xây dựng nhân cách ngày càng hoàn hảo, không vì lợi mà quên nghĩa tình, không vì danh mà bán đứng lương tâm. Đây là mẫu người khuôn vàng thước ngọc, là tấm gương sáng cho tha nhân noi theo.6. Chánh Tinh Tấn: Là siêng năng, chuyên cần, thẳng tiến đến mục đích chơn chánh mà mình đang hướng đến. Phàm làm người ai cũng muốn thành đạt trên mọi lĩnh vực, nhưng thử hỏi muốn mà không làm, hoặc làm mà không tinh tấn, siêng năng thì kết quả khó mà khả quan được, ngược lại còn tổn thất rất lớn nữa là khác. Cũng như người đẩy xe lên dốc đèo nếu không tinh tấn liên tục thì không những chiếc xe đó không lên được dốc đèo mà còn bị tuột xuống và có nguy cơ hư xe, gãy trục và còn hại đến bản thân nữa là khác. Vậy nên, Tinh tấn đóng một vai trò rất quan trọng trong công việc thành bại của chúng ta. Song, tuy Tinh tấn là sức mạnh đưa đến thành công, nhưng chúng ta phải biết tinh tấn một cách chơn chánh, có nghĩa là chúng ta phải siêng năng làm những việc đúng và hợp với lẽ phải, với chơn lý chớ không phải tinh tấn làm những việc bất chính, mưu đồ đoạt lợi cho bản thân. Do vậy, người tu theo Chánh tinh tấn, trước phải nương vào Chánh tư duy, tự mình sửa đổi những thói hư tật xấu và quyết tâm phát triển mọi hạnh lành một cách triệt để, hòng bạt trừ mọi phiền não và làm lợi ích cho tha nhân. Muốn như vậy thì người tu phải theo lấy chánh trí làm mãnh lực, lấy Niết bàn làm chỗ quy hướng, một lòng hướng đến giải thoát, không trì trệ giải đãi, nhờ vậy mà không một trở lực nào ngăn cản nổi bước tiến của họ và cũng nhờ đó mà đạt đến suối nguồn hạnh phúc.7. Chánh niệm: Là ghi nhớ những điều hay lẽ phải, những điều chơn chánh, những pháp môn có công năng chuyển hóa phiền não và ác nghiệp. Chánh niệm có năng lượng thắp sáng tâm ý và làm phát sanh trí tuệ. Người có chánh niệm là người có khả năng kiểm soát mọi hoạt động, lời nói và ý nghĩ của mình, bởi nhờ có chánh niệm mà họ luôn sống trong tỉnh thức, trong thời gian của hiện tại hiện tiền. Do vậy, mà tà niệm không móng khởi được. Đây là những người đang sống và thực sống, bởi họ ý thức được sự sống và tỉnh giác trong mọi hành động.8. Chánh định: Định là Thiền định. Chánh định là tập trung tư tưởng vào những điều chân chánh, đúng với chân lý. Chánh định có hai phần là Chỉ và Quán.a. Chỉ: Là chặn đứng vọng niệm, không cho vọng thức chạy theo ngũ dục, lục trần. Hay nói khác là nhiếp sáu căn, phòng hộ sự oai nghi, làm chủ thân, tâm và hoàn cảnh.b. Quán: Là vận dụng trí tuệ quán chiếu các pháp để thấy được thật tướng của nó. Nhờ thấy được thật tướng các pháp mà tâm không bị nhiễm trước và dao động. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Đức Lục Tổ dạy: “Đối với các pháp, tâm không nhiễm trước, đối với các cảnh tâm không dao động, đó là thiền định”. Cũng lời dạy này cho ta thấy trong Quán vốn có Chỉ, trong Chỉ vốn có Quán. Sở dĩ chúng ta chia làm hai phần giải thích là cốt để dễ hiểu mà thôi, chứ Chỉ và Quán phải luôn tương quan tương duyên với nhau, nếu thiếu mất một trong hai phần này thì sẽ không toàn bích và khó đạt đến đạo quả Bồ Đề. C. Kết luận:Bát Chánh Đạo là một pháp môn tu không thể thiếu đối với người học Phật. Nội dung của pháp môn này là khuyến hành giả thanh lọc những tà vạy của thân, khẩu, ý. Hay nói khác hơn là khuyến hành giả thực hành tam Vô lậu học, vì Bát chánh đạo là hóa thân của Giới, Định, Tuệ. Cho nên, trong ba mươi bảy phẩm Trợ đạo, Bát chánh đạo là pháp môn quan trọng nhất, cốt lõi nhất. Nếu chúng sanh nào nương vào pháp môn này tu tập thì quyết định sẽ được giải thoát. Nhưng Đức Phật đã từng khẳng định với Tu-Đạt-Đà-La trước lúc Ngài nhập Niết bàn: “Nơi nào có Bát Chánh đạo là nơi đó có nhất đẳng sa môn, nhị đẳng Sa môn, tam đẳng Sa môn, tứ đẳng Sa môn”. Vậy ai là người muốn đạt được an lạc hạnh phúc, muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi, thì ngay từ bây giờ chúng ta hãy nương vào pháp môn Bát chánh đạo này mà tu tập hành trì. Chú giải: Sự tương quan giữa Bát chánh đạo và Tam vô lậu học:Giới: Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng.Định: Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.Tuệ: Chánh kiến, Chánh tư duy.

Bài II-11 TỨ NHIẾP PHÁP

-Thích Thông Huệ - Tất cả chúng ta, ai tu hành cũng đều muốn nỗ lực cho tự thân được lợi ích, đó gọi là Tự lợi. Khi chính mình được chuyển hóa tốt đẹp, chúng ta đem kết quả đó cùng san sẻ giúp ích cho người khác, đó gọi là Lợi tha. Tự lợi và Lợi tha là con đường tu hành của các vị Bồ Tát. Chúng sanh đa bệnh nên phương tiện giáo hóa của Phật cũng phải có nhiều và tương ứng, cũng như tùy bệnh mà cho thuốc. Trong đó, phương tiện hữu hiệu và tác động sâu xa vào lòng người là Tứ Nhiếp Pháp.Tứ Nhiếp Pháp là bốn phương tiện để nhiếp phục, cảm hóa tâm lý của người đời.Khi đã cảm hóa được họ, lần hồi, từng bước hướng dẫn người phát khởi niềm tin, mở mang trí tuệ và thâm nhập Phật Pháp. Các phương tiện này là: - Bố thí nhiếp, Ái ngữ nhiếp, Lợi hành nhiếp và Đồng sự nhiếp.1- Bố Thí Nhiếp:Là Phật tử, chúng ta đều biết, theo nhân quả hữu lậu, người hay bố thí sẽ được kết quả giàu sang phú quý, nếu gian tham, keo kiệt thì phải chịu nghèo đói khó khăn. Nhưng cũng tùy tâm lượng của chúng ta khi bố thí mà quả hưởng được có khác nhau; nếu trước khi bố thí mà còn đắn đo toan tính, hoặc sau khi bố thí lại tiếc rẻ, thì có thể cũng được hưởng quả giàu sang nhưng phải làm lụng khó khăn cực nhọc lắm.Nói cho cùng, mọi khổ sở, đau thương trên cuộc đời này đều do lòng tham ích kỷ của con người mà ra.Từ tham lam đưa đến sân hận khi lòng tham không được thỏa mãn, rồi có thể gây ra hậu quả không thể lường trước. Cho nên, chúng ta chỉ biết bo bo giữ lợi ích riêng cho mình, thì ngay bản thân và cả gia đình, xã hội sẽ mãi mãi chìm đắm trong khổ đau. Chỉ khi nào chúng ta mở lòng ra lo cho những người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình, thì không những người khác bớt khổ mà chính mình cũng được an vui. Một số người đã kể, trước khi biết Phật Pháp, họ thường xuyên buôn bán thua lỗ, chỉ vì ham tranh hơn thua, gây hiềm khích với người khác. Khi đã quy y biết cách xử sự, không còn quá tham lam, họ được cảm tình với mọi người nên công việc làm có kết quả hơn. Đó là do bản thân họ chuyển hóa cho nên được quả lành, chứ không phải nhờ sức gia trì của vị Thần, Thánh nào hết. Ở đây, chúng ta cũng cần phân biệt bố thí với cúng dường. Bố thí có nghĩa là đem những gì mình có san sẻ cho người có hoàn cảnh, điều kiện sống khó khăn hơn mình, bất phước hơn mình. Cúng dường nguyên nghĩa là cung dường, nghĩa là cung kính, cấp dưỡng, là dâng phẩm vật, tài vật lên những người có địa vị, đạo đức cao hơn mình. Vì sao đức Phật lại khuyên chúng ta nên thực hành hạnh bố thí? Để trong vòng luân hồi chúng ta có một đời sống kinh tế sung túc, dễ dàng hơn cho việc tu hành. Khi có điều kiện, chúng ta lại tiếp tục cúng dường, và như vậy, trong những kiếp về sau, chúng ta lại càng thuận lợi trong việc tiến tu hơn nữa. Đối với các vị Bồ Tát, một trong những hạnh nguyện của các Ngài là giúp đỡ chúng sanh bằng tinh thần hay vật chất, tùy nhu cầu của họ. Đến lúc gần gũi được họ, làm cho họ tin tưởng và cảm mến, Bồ Tát mới thu nhiếp để đưa họ đến với Phật pháp. Đó là Bố thí nhiếp. Con người thường sống bằng tình cảm hơn là lý trí, nên nếu chỉ dùng lời nói đạo đức, đôi khi thất bại. Vì vậy, Bồ Tát phải dùng bố thí như một phương tiện để nhiếp phục chúng sanh. Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Phẩm Phạm Hạnh thứ 15, Phật dạy: “Này, thiện nam! Bồ Tát lúc thực hành hạnh bố thí, đối với chúng sanh khởi lòng thương tưởng như con. Lại nữa, lúc thực hành bố thí đối với chúng sanh khởi lòng xót xa giống như cha mẹ săn sóc đứa con đang bệnh. Lúc thực hành hạnh bố thí, tâm Bồ Tát vui mừng như cha mẹ thấy con đã khôn lớn có thể sống tự tại”. Đoạn Kinh này đã diễn tả một cách chính xác tấm lòng của Bồ Tát đối với chúng sanh, khi thực hành bố thí, các vị xem chúng sanh như con đẻ của mình. Chúng ta khi có con, lo cho máu mủ của mình một cách chu đáo từ lúc nhỏ đến khi lớn, tâm chúng ta thương con như thế nào thì Bồ Tát thương chúng sanh như thế ấy. Tuy nhiên, tình thương của chúng ta đôi khi trang trải không đều giữa đứa con này với đứa con khác, còn Bồ Tát thì bình đẳng. Các Ngài thương muôn loài chúng sanh không hạn cuộc, không phân biệt, còn chúng ta lại quên các Ngài, như những đứa con hoang bỏ cha mẹ ra đi lang thang trong ba cõi sáu đường.Lúc thực hành bố thí, tâm lượng Bồ Tát lo cho chúng sanh như cha mẹ săn sóc đứa con đang bệnh. Tình thương của cha mẹ thật bao la như biển cả, bất tận như suối nguồn, và đôi khi chúng ta cũng hiểu được cảm thương của Bồ Tát dành cho chúng sanh. Nếu cha mẹ chỉ lo cho cái thân vật chất hữu tình hữu hoại của con thì Bồ Tát lại chú trọng đến đời sống tinh thần. Mà đời sống tinh thần thì vô vàn quý giá hơn so với đời sống vật chất, vì đó là hành trang cho tất cả chúng sanh đi hết lộ trình đến giải thoát viên mãn. Bồ Tát biết rõ có rất nhiều người thiếu thốn, đau khổ về tinh thần, dù họ đang ở địa vị nào, hoàn cảnh nào; và chỉ có thuốc chánh pháp mới điều trị bệnh khổ cho chúng sanh.Khi hành hạnh bố thí và nhiếp nhục được chúng sanh, hướng dẫn họ đi theo chánh đạo để được giác ngộ và giải thoát, tâm Bồ Tát vui mừng như thấy con lành bệnh. Và sau đó, tâm các Ngài buông xả như cha mẹ thấy con khôn lớn, đã vững bước trên đường đời. Sự buông xả này rất phù hợp với tinh thần Ba-La-Mật, tức vô trước, vô trú, vô nhiễm. Dù làm tất cả mọi việc để được lợi ích cho chúng sanh, tâm các Ngài vẫn thênh thang như hư không, không thấy có người ban ơn, có kẻ chịu ơn và có pháp để làm ơn. Đó gọi là “Tam luân không tịch”. Nhìn chung, bố thí được chia làm ba loại:a. Tài thí: Gồm nội tài thí và ngoại tài thí.Nội tài thí: Dùng cả thân mạng hoặc một vài bộ phận của cơ thể để bố thí. Đây là hành động buông xả lớn của Bồ Tát. Hiện nay có phong trào hiến máu nhân đạo, hiến tặng cơ quan hoặc hiến xác cho khoa học, đều thuộc về loại này.Ngoại tài thí: Dùng tài sản của mình kiếm được một cách lương thiện, san sẻ cho những người thiếu thốn, khó khăn về vật chất hơn mình.Một điều chúng ta cần lưu ý: Ai cũng biết nỗi khổ của chúng sanh thì vô hạn nên sự bố thí cũng phải vô biên. Nhưng trong sự bố thí, ngoài lòng từ bi, chúng ta còn phải có trí tuệ. Nếu chúng ta nhẹ dạ, giúp người một cách mù quáng, như giúp kẻ nghiện hút, bài bạc… thì vô tình chúng ta càng làm hại cho họ. Mỗi người Phật tử phải là một người chiến sĩ trong mặt trận đạo đức, chống lại những tệ nạn, những cái xấu ác, làm trong sạch xã hội. Đó là giúp ích cho mọi người và cho cả bản thân mình.b. Pháp thí: Sự thiếu thốn khó khăn về vật chất làm con người khổ đau, nhưng sự nghèo nàn mất mát về tinh thần càng làm cho họ thấy bất hạnh hơn. Cái khổ về tinh thần gây tổn hại nhiều hơn cái khổ về vật chất, nhiều khi ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và cả tính mạng của con người. Y học đã chứng minh nhiều trường hợp loét dạ dày tá tràng, bệnh tim mạch, thần kinh và đặc biết là hội chứng kích động (Stress) là hậu quả của sự căng thẳng, lo nghĩ hay buồn phiền lâu ngày.Các vị tu hành đem Phật pháp giảng dạy cho chúng sanh, mục đích làm chúng sanh bớt khổ, đó gọi là Pháp thí. Nhưng cũng phải tùy căn cơ trình độ của từng người mà lập phương tiện giáo hóa, cũng như tùy bệnh mà cho thuốc (khế cơ), và những lời giảng dạy phải phù hợp với chánh pháp, phải có giá trị bất di bất dịch (khế lý). Khi Phật pháp được truyền bá rộng rãi theo tinh thần khế cơ và khế lý, chúng sanh nương vào đó tu hành, cuộc đời sẽ an lạc, xã hội sẽ nhờ đó cũng bình yên thịnh vượng. Pháp thí quan trọng hơn Tài thí như thế nào, trong kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương quyển ba, Phẩm Diệt Nghiệp Chướng, Phật dạy: “Này thiện nam! Giả sử có người đem bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới cúng dường Như Lai, nếu lại có người khuyến thỉnh Như Lai chuyển đại pháp luân, thì người này được công đức hơn người kia. Vì sao? Vì người kia dùng tài thí, người này dùng pháp thí. Này thiện nam tử! Đừng nói chi đem bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới bố thí, mà nếu người đem bảy báu nhiều như hà sa tam thiên đại thiên thế giới cúng dường tất cả chư Phật, thì khuyến thỉnh cũng vẫn hơn cả sự cúng dường ấy, do vì pháp thí có năm điều thù thắng. Những gì là năm? Một là pháp thí gồm cả lợi mình, lợi người, còn tài thí thì không được như thế. Hai là pháp thí hay khiến chúng sanh ra khỏi ba cõi dục. Ba là pháp thí làm pháp thân thanh tịnh, còn tài thí chỉ tăng trưởng sắc thân. Bốn là pháp thí thì vô cùng, vì nó không có tướng mạo nên không bị mai một theo thời gian. Năm là pháp thí dứt được vô minh, còn tài thí thì chỉ khuất phục được tham ái. Thế cho nên, này thiện nam! Công đức khuyến thỉnh vô lượng vô biên không thể thí dụ”.Ở đây, Đức Phật chỉ rõ năm điều thù thắng của Pháp thí : - Thứ nhất: Pháp thí dùng cả lợi mình, lợi người. Ví dụ, khi một người nói Pháp cho một đám đông nghe, trước hết người ấy có lợi ích vì đã gieo một nhân tốt là Bố thí pháp; người nghe được chánh pháp, nếu y theo đó tu hành, cuộc đời sẽ được chuyển hóa, tâm sẽ được thăng hoa. Tài thí thì không được như vậy, vì nếu bố thí để họ dùng phương tiện đó làm điều xấu, thì chính sự bố thí ấy lại làm hại cho họ và cho những người xung quanh.- Thứ hai: Pháp thí hay khiến chúng sanh ra khỏi ba cõi: dục, sắc và vô sắc, nếu chúng sanh biết tu hành theo chánh pháp, đoạn trừ Tham-Sân-Si, được giác ngộ và giải thoát. Nếu dùng tài thí đó là đang tu phước hữu vi, giỏi lắm cũng chỉ sanh về cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên, tức là chưa giải thoát cõi dục. Rồi khi hưởng hết phước, có thể lại bị đọa vào các đường ác.- Thứ ba: Pháp thí làm cho pháp thân thanh tịnh, còn tài thí chỉ tăng trưởng sắc thân. Sắc thân của chúng ta do nghiệp tạo nên dễ bị hoại diệt, biến đổi vô thường; nhưng trong đó còn có pháp thân vô tướng, không bị biến hoại theo thời gian và không gian. Nếu trong suốt cuộc đời, chúng ta chỉ lo chăm sóc cho cái sắc thân, thỏa mãn nhu cầu của nó là ăn, mặc, ở, tức cái hạ tầng kiến trúc của đời sống, mà quên đi phần thượng tầng kiến trúc là văn hóa, tâm linh, thiền định, trí tuệ, thì rõ ràng chúng ta chỉ sống bằng bản năng như loài vật. Chỉ có thượng tầng kiến trúc mới nuôi dưỡng pháp thân, còn những nhu cầu vật chất tầm thường chỉ làm chúng ta mãi đắm chìm trong vô minh tăm tối. Pháp thí sẽ giúp chúng ta biết chánh đạo, sống với cái cao cả minh triết, là những yếu tố quyết định sự tiến hóa của toàn thể loài người.- Thứ tư: Pháp thí thì vô cùng, vì nó không có tướng mạo, nên không bị mai một theo thời gian. Người thí pháp vô cùng, vì có thể nói pháp suốt đời, nói ở mọi chỗ mà vẫn mãi mãi lưu xuất được, vì nghe pháp cũng vô cùng, vì dùng pháp để tu theo, suốt đời vẫn không hết, không cạn, ngược lại vì tài thí có hình tướng nên có giới hạn có cùng tận.- Thứ năm: Pháp thí dứt được vô minh, còn tài thí chỉ khuất phục được tham ái. Khi nghe pháp, sự hiểu biết của chúng ta càng sâu rộng, trí tuệ càng phát triển, đến rốt ráo có thể dứt được vô minh. Tài thí chỉ tạm giải quyết khó khăn trước mắt cho người được bố thí, còn người được bố thí ấy cũng chỉ tạm thời khuất phục được tham ái ngay lúc ấy mà thôi. Do những đặc tính quá ưu việt của pháp thí đã nói trên, rõ ràng công đức của người thí pháp và người khuyến thỉnh thí pháp thật vô lượng, vô biên, tài thí không thể so sánh nổi. Nếu mỗi Tự viện đều là những nơi khuyến thỉnh pháp thí, thì Phật tử sẽ được muôn phần lợi lạc, đời sống được cải thiện, đau khổ sẽ không còn, xã hội cũng được trong sạch hơn. Vì vậy, đã là Phật tử, chúng ta phải luôn trau dồi học hỏi, ngày càng thâm nhập Phật pháp. Trước hết, chúng ta phải áp dụng Phật pháp để chuyển hóa tự thân, tự cứu mình ra khỏi mọi ràng buộc khổ não của đời sống. Sau đó,chúng ta đem sự hiểu biết bằng trí tuệ và sự thanh lương của tâm hồn mình ra giúp ích cho người khác, thì hành động pháp thí ấy mới có kết quả.c. Vô uý thí: Khi tu hành đắc lực, tâm yên tĩnh, trí tuệ mở mang, Bồ Tát thấy rõ mọi lẽ thực - hư của cuộc đời, các Ngài không còn lầm chấp các pháp nữa. Được sức tự tại vô uý, các Ngài đem cái vô uý đó mà che chở đùm bọc cho chúng sanh, làm chúng sanh không còn lo sợ, được an ổn dù gặp bao hệ lụy. Đó gọi là Vô uý thí. Chúng ta từ lúc sinh ra đã sợ sệt nhiều điều: Sợ bóng tối, sợ cô đơn, sợ đau ốm, tai nạn, sợ hoàn cảnh khó khăn, thậm chí sợ những điều không đáng sợ. Bồ Tát hiểu rõ điều này, nên các Ngài dùng sức vô úy che chở cho chúng sanh. Khi chúng sanh đã an ổn, tin tưởng và có tình cảm, các Ngài mới hướng dẫn họ đến với Phật pháp. Hạnh vô uý này thật ra rất khó, đòi hỏi người bố thí phải tu hành có kết quả, thấy rõ và thâm nhập lý duyên sinh - vô ngã, mới có thể thực hiện được.Tóm lại, chúng ta thấy bố thí là một quan niệm sống, một nghệ thuật sống cao đẹp, phát sinh từ tâm từ bi. Nếu không có tâm từ bi thì không thể hành hạnh bố thí. Ngoài ra, muốn bố thí đạt đến cứu cánh, thì phải hợp với tinh thần Ba-la-mật, nghĩa là khi giúp người mà chúng ta hoàn toàn không thấy mình là người ban ơn. Có như vậy, chúng ta mới phục vụ người khác bằng một tâm trong sáng, không có tính toán mưu đồ.2. Ái ngữ nhiếp: Ái ngữ nhiếp là dùng lời nói mềm mỏng dịu dàng, gây được cảm tình với người khác, và từ đó hướng dẫn họ tu tập theo chánh pháp

Trong cuộc sống hằng ngày, mọi người cần sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp, khi muốn bày tỏ ý kiến với người chung quanh. Một người có nỗi buồn muốn thố lộ, phải dùng lời nói; người có niềm vui muốn san sẻ, cũng phải dùng lời nói cho người khác cảm thông. Nhưng dù vui hay buồn cũng phải biết cách sử dụng lời nói làm sao để ai nghe cũng mát lòng, đẹp ý. Đó là Ái ngữ. Chỉ có loài người mới có ngôn ngữ, nên chúng ta cần nên biết trân quý để sử dụng cho đúng thời, đúng mức. Thật ra, ngôn ngữ là con dao hai lưỡi, có thể an ủi, xoa dịu nỗi đau khổ cho người khác, nhưng ngược lại có thể gây tổn thương cho cả mình và người. Do vậy, là Phật tử, lời nói của chúng ta thốt ra phải mang tính cảm thông và xây dựng. Một số phụ huynh thường áp dụng quyền hạn của bậc trưởng thượng, bắt con cháu phải theo đúng ý mình, đôi khi làm chúng bị tổn thương. Dĩ nhiên, quyền lực cũng cần thiết nhưng phải dùng đúng lúc. Cho nên, sử dụng ái ngữ đối với con cái hay người chung quanh là một nghệ thuật và là điều cần thiết.

Nếu đôi mắt được xem là cửa sổ của tâm hồn, thì ngôn ngữ chính là chỗ biểu hiện của tâm hồn ấy. Vì sao nói như vậy? - Bởi vì lời nói của một người có thể biểu hiện được tư cách, trí tuệ và đời sống nội tâm của người đó. Một nhà hiền triết có nói: “Tạo hóa rất khéo sắp đặt, cho mỗi người hai mắt, hai mũi, hai tai nhưng chỉ có một miệng”. Cần hai mắt để thấy rõ, cần hai mũi để hít thở cho đủ dưỡng khí, cần hai tai để lắng nghe, nhưng chỉ cần một miệng để vừa ăn vừa nói! Đức Khổng Tử đã bảo: “Đa ngôn đa bại” (nói nhiều hại nhiều).

Trong Kinh A Hàm Đức Phật dạy rằng: “Này các Tỳ kheo! Có ba lối nói: Một là nói như phân, hai là nói như hoa, ba là nói như mật.

- Thế nào là nói như phân? - Này các Tỳ kheo! Hạng người nói không đúng sự thật, nói dối trá, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói ác ngữ. Đây là hạng người nói như phân.

- Và này các Tỳ kheo! Thế nào là nói như hoa? - Hạng người nói đúng sự thật, không dối trá, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác ngữ. Đây là hạng người nói như hoa.

- Và này các Tỳ kheo! Thế nào là người nói nói như mật? - Hạng người không những nói đúng sự thật, không dối trá, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác ngữ, mà còn luôn luôn nói những điều lợi ích, nói những lời hướng thiện, tai ưa nghe, khả ái, đi thẳng đến tâm, lễ độ được nhiều người ưa thích, thích ý. Đây là hạng người nói như mật”.

Vì sao Đức Phật ví những người vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu là nói như phân?

- Trong cơ thể, chất hạ tiện nhất, bẩn thỉu nhất là phân. Khi một người nói ra những lời ấy, người khác cũng nhờm gớm, không muốn nhìn, không muốn gần, như đối với phân vậy.

- Hạng người thứ hai khiến người chung quanh muốn gần gũi, yêu mến, được ví như hoa, vì hoa vừa có màu sắc vừa có hương thơm, khiến người thích nhìn ngắm, thưởng thức.

- Hạng người thứ ba đặc biệt hơn cả, họ đã thành tựu được chánh ngữ và sử dụng chánh ngữ để làm lợi ích cho người khác, giúp người khác đi vào chánh đạo, thăng hoa trong cuộc sống. Đức Phật ví hạng người này nói như mật, vì ngoài hương vị thơm ngon và ngọt ngào, mật còn có một số tác dụng trị liệu. Y học hiện đại kết hợp với y học cổ truyền đã chứng minh, mật có một số tác dụng chính như thanh nhiệt, giải độc, giúp an thần, tăng trí nhớ và trị suy nhược thần kinh, kích thích tiêu hóa và điều hòa acide trong dạ dày, long đàm và giảm ho, đặc biệt còn làm tăng thể trạng và sức đề kháng của cơ thể. Hạng người nói như mật, không những dùng ái ngữ khiến người cảm mến muốn gần, mà lời nói của họ còn khiến cho người bớt khổ, điều trị được bệnh phiền não cho người.

  1. Lợi hành nhiếp:

Lợi hành nhiếp là những hành động làm lợi ích cho một người hay nhiều người khác, sau đó đưa họ về với đạo lý. Ví dụ: Dắt một người mù lòa qua đường, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tham gia các tổ chức công ích, từ thiện.

Trong Thiền sử đã kể, nhiều vị Thiền sư dùng y thuật điều trị bệnh cho người; sau khi người lành bệnh mới đưa họ về với chánh pháp. Như thế, Y phương minh là một trong Ngũ minh, phương tiện hành đạo của Bồ Tát, cũng thuộc Lợi hành nhiếp. Hiện nay, có rất nhiều tổ chức Y tế phục vụ bệnh nhân nghèo vô điều kiện, như các bệnh viện miễn phí, các tổ chức phẫu thuật đem lại ánh sáng và nụ cười cho những người mù và dị tật sứt môi. Tổ chức các thầy thuốc không biên giới... cũng nhằm mục đích đem lại sức khỏe cho con người. Có thể trong những tổ chức đó, các vị Bồ Tát cũng có mặt để nhờ lợi hành mà thu nhiếp chúng sanh, nhưng các Ngài không bao giờ để lộ mình là Bồ Tát.

Chúng ta cũng cần phải phân biệt Lợi hành và Đồng sự.

Trong lợi hành luôn luôn có ý nghĩa phụng sự người khác mà quên lợi ích của bản thân mình. Còn đồng sự, sẽ phân tích sau, chỉ là cùng sống, cùng làm, cùng hưởng thành quả như đối tượng mình muốn nhiếp phục. Trong lợi hành có sự hy sinh nhiều hơn, và lợi ích mình mang lại cho người có thể thấy một cách rõ ràng và tức thời, nên dễ khiến người cảm phục và tin theo.

  1. Đồng sự nhiếp:

Đồng sự nhiếp là hòa mình vào cùng việc làm, hoàn cảnh, cùng chia bùi xẻ ngọt với người,sau đó dẫn dắt họ đến với Phật pháp. Cuộc sống hòa mình cùng chung buồn, vui, sướng, khổ với người là một nghệ thuật đắc nhân tâm. Nhưng muốn hòa đồng như thế, chúng ta phải có lối sống, có phong cách, có ngôn ngữ gần giống người mà mình muốn nhiếp phục. Đối với nông dân, chúng ta phải lam lũ, tay lấm chân bùn, ăn nói bình dân như họ. Đối với hàng trí thức thượng lưu, chúng ta phải có văn hóa, trình độ, phong cách tao nhã tương tự như thế. Dĩ nhiên, từ “hòa đồng” ở đây chỉ có nghĩa là sống, nói năng và làm việc phải gần giống đối tượng, chứ không phải giống hoàn toàn, nhất là đối với những người kém văn hóa, hay sống trụy lạc, bê tha. Đây là ý nghĩa việc “Hòa quang đồng trần” của các vị Bồ Tát. Các Ngài sống chung đụng với đủ hạng người, từ hạng giàu có thượng lưu đến tầng lớp bần cùng nghèo khổ, từ những người lương thiện đạo đức đến những kẻ trộm cướp lưu manh. Các Ngài gần gũi họ nên hiểu họ một cách sâu sắc, được họ tin tưởng mến yêu, từ đó mới giúp đỡ họ, nhiếp phục họ một cách hiệu quả. Hình ảnh đẹp đẽ và tiêu biểu của Đồng sự nhiếp là Tế điên Hòa thượng, có cuộc sống gần gũi với đời thường, quẩy bình rượu, xách cá chép thỏng tay vào chợ.

Một điều chúng ta cần ghi nhớ: Vì sao các vị Bồ Tát có thể hòa mình vào mọi tầng lớp trong xã hội mà không đánh mất mình? - Bởi vì các Ngài như một chai nước trong đã lọc hết cặn bã, dù lắc cách mấy cũng không bị vẫn đục. Có như vậy các Ngài mới hướng dẫn, giáo dục được chúng sanh đi theo chánh đạo. Còn chúng ta như nước còn đục, không thể bắt chước các Ngài sống buông thả, đã không làm lợi ích được cho ai mà trái lại còn hại bản thân mình. Cho nên, chúng ta phải biết rõ trình độ tu tập, sức tự tại và thâm nhập Phật pháp của mình đến đâu, để uyển chuyển linh động khi thực hành động sự nhiếp.

Thật ra, khi có phước duyên nghe và hiểu được Phật pháp, chúng ta đều muốn mọi người đều được lợi ích như mình. Nhưng nếu chính bản thân mình chưa tu tập, chưa chuyển hóa mà vội vàng đem Phật pháp ra nhiếp phục người khác, thì việc làm đó không có căn bản, đôi lúc gây tác dụng ngược với ý mình. Vì vậy, vấn đề tự lợi phải được đặt lên hàng đầu, đó là gốc rễ của lợi tha, còn lợi tha chỉ là hoa trái của tự lợi. Quan trọng là phải sống được với bản tâm chơn thật của chính mình, từ đó có thể biểu hiện ra ngôn ngữ và hành động, ngay cả dáng vẻ cung cách cũng toát lên một sự bình an thanh lương khiến người khác quý kính và tự giác nghe theo. Vào thời Đức Phật, chỉ cần nhìn dáng đi, phong cách hay lối sống của Ngài và các Thánh đệ tử, nhiều người đã phát tâm tu hành, thành tựu đạo nghiệp.

Tứ nhiếp pháp mang tính tâm lý, tính thông cảm và tính xã hội rất cao.

Nói rằng “mang tính tâm lý” vì cả bốn pháp nhiếp này đều đi sâu vào tâm hồn của người khác. Bồ Tát sẵn sàng lăn xả vào cuộc đời, hy sinh vì mọi người để cảm hóa thu phục người. Có thể nói đây là môn tâm lý học của Phật giáo.

Mang tính thông cảm” vì có thông cảm với nỗi khổ đau, khó khăn thiếu thốn của người, ta mới giúp đỡ người bằng tấm lòng, không cầu mong đền đáp, mà muốn thông cảm, ta phải đặt mình vào hoàn cảnh của người. Có như thế ta mới thương mến người một cách chân thành, đem lại lợi ích cho người một cách vô vụ lợi.

Về tính xã hội” thì quá rõ ràng, vì xã hội có tính cách cá thể và tập thể, mà thực hành Tứ nhiếp pháp là thực hành đối với một người, một tập thể nào đó. Nhờ mang tính xã hội mà đạo Phật được truyền bá rộng rãi từ thành thị đến nông thôn, tận các vùng sâu vùng xa. Nhờ tính xã hội mà đạo Phật có mặt ở mọi tầng lớp, từ giàu có đến nghèo hèn, từ trí thức thượng lưu đến bình dân thất học.

Đạo Phật dùng Tứ nhiếp pháp để chinh phục lòng người, như thế cũng là “vũ khí”. Nhưng thứ vũ khí này không phải là công cụ giết người để thỏa mãn quyền lực và tham vọng của kẻ ác, mà là phương tiện để đưa con người về đường chân chánh, giúp người tìm được sự bình an nội tâm. Đạo Phật rất xa lạ với giáo quyền, mà lại mang tính tự do dân chủ, tôn trọng quyền con người một cách triệt để. Đạo Phật đặc biệt còn mang tính từ bi, vì từ bi nên chủ trương dùng đức báo oán; vì thế có sức mạnh vô địch có thể san bằng mọi nghịch cảnh oán thù. Do vậy, đạo Phật đã tồn tại hơn hai ngàn năm trăm năm mà chưa từng có một cuộc Thánh chiến nào, chưa từng gây đổ máu cho ai. Đây là nét đẹp tuyệt vời của Phật giáo.

Khi thực hành Tứ nhiếp pháp, ta đã thể hiện tâm từ bi, tức ban vui cứu khổ cho cuộc đời. Đây là pháp tu của hàng Bồ Tát chứ không phải là của người tầm thường, bởi đó không chỉ là tu cho riêng bản thân mình mà còn làm cho nhiều người khác cùng chuyển hóa, nét tự lợi và lợi tha của Bồ Tát. Tuy nhiên cần lưu ý, trong công cuộc giáo hóa chúng sinh, phước duyên và công huân tu tập của từng vị Bồ Tát là những điều kiện tiên quyết. Công huân tu tập là đời sống căn bản của vị Bồ Tát, còn phước duyên là do vị ấy tích lũy trong nhiều đời kiếp.

Chúng ta cũng cần phân biệt giữa phước và duyên. Phước là có của cải, có điều kiện tốt để làm lợi ích rộng rãi, được nhiều người hỗ trợ; phước biểu hiện trên tư cách, trên cuộc sống của một người. Duyên là có khả năng lôi kéo, thuyết phục người khác, khiến người khác chịu phục tùng. Tùy công huân tu tập và phước duyên mà một vị Bồ Tát có quyến thuộc nhiều hay ít. Có nhiều người muốn giúp đỡ, làm lợi ích cho người khác, nhưng do phước duyên còn mỏng nên thất bại trong công cuộc giáo hóa chúng sanh. Cũng có trường hợp, công huân tu tập chưa đi đến đâu mà ra làm thầy thiên hạ, không có gì để truyền tải cho người nên không thu được kết quả bao nhiêu.

Tóm lại Tứ nhiếp pháp là pháp môn phương tiện mang tính nhiếp hóa, cảm phục được lòng người một cách hữu hiệu. Đây là những hạnh tu lợi tha của những người có tâm hồn Bồ Tát, muốn hiến dâng cuộc đời mình cho lợi ích chung, bởi vì “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phậtvậy.

Bài II-12 TỨ CHÁNH CẦN

-­Thích Thánh Minh- Trong đời này làm việc gì cũng phải có tinh thần hùng lực và vô úy, chúng ta cần xây dựng sự nghiệp trong xã hội hay tu học đạo nghiệp trong Phật pháp đều gặp chướng ngại, nếu ta do dự không tiến tới, hoặc có chút giải đãi sẽ không thành công một việc gì cả. Giải đãi là tập khí nặng nề của con người. Tâm lý chung của con người là ưa nhàn nhã, thích hưởng thụ nên khó phát tâm dõng mãnh tấn tu đạo nghiệp.Đức Phật - bậc đạo sư của chúng ta - như một vị lương y đại tài tuỳ theo căn bệnh của chúng sanh mà chỉ cho một phương thuốc thích hợp để chữa trị dứt căn bệnh ấy. Để sách tấn nhắc nhở chúng ta hoàn thành mọi thiện pháp, đức Phật đã chỉ dạy cho chúng ta pháp tu Tứ Chánh Cần. Đây chính là phương thuốc hữu hiệu nhất để trị tâm bệnh giải đãi của chúng sanh.Vậy, trên bước đường học đạo ai muốn xác định cho mình một lập trường vững chắc, tỏ rõ một thái độ dứt khoát quyết tâm hướng về nẻo đạo trong sáng, thì hãy cùng nhau tìm hiểu Tứ Chánh Cần.Vậy Tứ chánh cần là gì? Ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng Tứ chánh cần ra sao? Chánh: Là chánh đạo, chánh là chánh đáng. Cần: Là siêng năng, là sự nỗ lực tinh tấn. Tứ chánh cần: Là 4 sự nỗ lực tinh tấn hợp với chánh đạo. 4 điều quan trọng chánh đáng đó là:1- Việc ác chưa sanh khởi cần phải ngăn ngừa đừng cho phát sanh .2- Việc ác nào đã sanh cần phải dứt trừ hẳn.3- Việc thiện chưa sanh cần phải khiến cho phát sanh.4- Việc thiện nào đã sanh cần phải làm cho tăng truởng.Chánh cần còn gọi là Tinh tấn, là sự siêng năng vô hạn đối với chí nguyện tu học. Hành động này rất cần cho mọi pháp tu học. Tinh là chuyên ròng không tạp (thuần nhi bất tạp). Tấn là tiến mãi khônglùi (tiến nhi bất thối). Chúng ta tu tập cải ác hành thiện nếu không chịu nỗ lực tinh tấn thì làm sao mà hoàn thành được mọi hạnh lành? Vì Tứ chánh cần có vai trò rất quan trọng, cho nên được Đức Phật nhắc đến nhiều lần trong các kinh. Trong 37 phẩm trợ đạo, Tứ chánh cần chính là chi phần Tinh Tấn. Trong Bát chánh đạo là Tinh tấn giác chi. Trong Thất giác chi là Tấn căn, Tấn lực v.v…Trong Lục độ, không luận bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ nếu thiếu Tinh tấn thì cũng không thể nào thành tựu được Ba la mật.Để chứng minh điều ấy, chúng ta hãy cùng nhau lật lại những trang sử Phật giáo sáng ngời để cùng nhau ôn lại những công hạnh tu hành của chư Phật, chư đại Bồ tát, chư lịch đại Tổ sư: - Đức Phật trong nhân từ quá khứ từng xả thân cho cọp, cắt thịt cho chim ưng, làm những việc khó làm, nhẫn những điều khó nhẫn…. - Tôn giả A-Na-Luật, một hôm trong pháp hội bị hôn trầm giải đãi che lấp tâm tánh nên ngủ gục và được đức Phật nhắc nhở:“ Than ôi ông ham ngủNhư sò ốc trong vỏNgủ một giấc ngàn nămKhông nghe được danh Phật!” A-Na-Luật nghe xong, trong lòng rất hổ thẹn, bèn phát nguyện từ nay về sau không ngủ nữa, mỗi ngày nếu không kinh hành thì tụng kinh, một hai ngày không ngủ thì không sao, nhưng A-Na-Luật thức liên tiếp nhiều ngày đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và nhất là con mắt. A-Na-Luật tinh tấn như vậy, một thời gian sau Ngài trở nên mù lòa. Đức Phật rất thương Ngài vì nỗ lực tu mà mù lòa nên dạy pháp Kim Cang Chiếu Tam Muội, chẳng bao lâu ngài chứng được Thiên Nhãn Thông, A-Na-Luật chỉ nghe dạy một câu mà tinh tấn như thế! - Bồ Tát Quan Thế Âm với:“Ba mươi hai tướng hiện tàĐộ khắp muôn loài kiếp hằng saNgàn chỗ nguyện cầu ngàn chỗ ứngThuyền ra biển khổ độ người ra”.Nếu không tinh tấn thì làm sao đạt như vậy? - Bồ Tát Địa Tạng với lời nguyện: “Địa ngục chưa hếtThề chưa thành PhậtChúng sanh độ tậnMới chứng Bồ đề”. - Đại sư Huyền Trang đi Thiên Trúc thỉnh kinh, trải qua tám trăm dặm sa mạc, song Ngài vẫn nguyện thà hướng về Tây mà chết còn hơn quay về Đông mà sống! Nếu không phải là người có lòng nhiệt tình với tôn giáo, tâm tinh tấn vì đạo thì sao làm được như vậy?- Huệ Khả đại sư tham bái Đạt Ma tổ sư, đứng giữa tuyết chặt tay, không lui sơ tâm, nếu không có tâm tinh tấn cầu pháp, sao được như vậy? Thật vậy! Gương hành đạo cao cả của Đức Thế Tôn, hình ảnh sáng ngời phản ánh công phu tu tập của chư vị Tổ sư, hạnh nguyện độ sanh không mỏi mệt của chư vị Bồ tát, sự thành tựu đạo nghiệp của chư vị Thánh Tăng là những minh chứng hùng hồn nhất. Để chứng tỏ rằng: Tứ chánh cần là yếu tố cần thiết để tạo nên sức mạnh của sự tu tập giải thóat, nó là đức tính cần yếu nhất để thành tựu mọi hạnh lành và mọi đức tính khác.Trên đây chúng ta đã hiểu được ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của Tứ chánh cần rồi, vậy chúng ta hãy đi sâu vào phần nội dung:1. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh:Lương tâm! Lương tâm! Tuy mọi người lớn tiếng kêu gọi làm người phải có lương tâm, nhưng rốt cuộc vẫn có rất đông người thiếu lương tâm! Thân phạm tội gian dâm, tay phạm tội trộm cướp, miệng phạm tội ác khẩu đều do tâm sai sử, Tâm là chủ, Kinh Hoa nghiêm dạy:“Tâm như công họa sựNăng họa chủng chủng vật”Dịch là:Tâm như họa sĩ khéoVẽ được cả muôn vật.Kinh Bát Đại Nhân Giác cũng dạy rằng: “Tâm thị ác nguyên” nghĩa là tâm là nguồn tội ác, những chuyện cầm acide tạc vào mặt để phá hủy nhan sắc người mình từng thương; những chuyện bạn thân lâu năm lại giết nhau phi tan mất xác! Những tội ác tày trời này không phải bắt nguồn từ tâm hay sao? Một người có lòng tư lợi sẽ che mờ bản tánh quang minh chánh đại. Lòng tự lợi quá nhiều thì đâu còn kể đến chuyện nhân tình, chuyện hại người lợi mình nào cũng dám làm cả. Trên đời này, nhỏ từ việc phi nhơn nghĩa trong gia đình, cho đến chuyện chiến tranh của quốc gia xã hội, không điều gì là chẳng phải do tâm xúi giục. Xã hội ngày nay lo mở mang phát minh khoa học, khích lệ sự tiến bộ nghệ thuật, đều không ngoài mục đích đem lại cho đời sống ngày càng phong phú, tươi sáng hơn, sung sướng hơn, nhẹ nhàng hơn, thỏa mãn hơn, xê dịch mau chóng hơn, sống lâu hơn, đem lại hạnh phúc cho nhân sinh nhiều hơn. Nói tóm lại, khoa học đem lại cho đời sống con người đạt đến chỗ cao tột nhất về mọi vấn đề. Nhưng trong đại chiến thế giới 1939-1945, với quả bom nguyên tử quăng xuống Hiroshima với sức tàn phá khủng khiếp về nhân mạng và mọi vật dụng trong tần hoạt động 50km2 của nó ảnh hưởng phóng xạ lâu dài đầy nguy hiểm của nó. Con người bàng hoàng bừng tỉnh mà thấy rằng Khoa học như con dao hai lưỡi. Nhận thấy điều nguy hại đó cho nên ngày nay cả nhân loại đang lên tiếng kêu gọi hòa bình cho trái đất, chấm dứt chiến tranh bằng hạt nhân nguyên tử. Vì người ta e sợ rằng con người không đủ lý trí để chế ngự lòng tham, phút chót nào đó, sân si tham vọng chợt lên tiếng thì có thể đại chiến vô cùng nguy hại cho kiếp sống mong manh của con người. Do đó, Khoa hoc kỹ thuật không thể hoàn toàn làm cho nhân loại hết khổ, chỉ có Phật pháp là phương pháp trị tận gốc khổ đau, giúp con người khai mở lương tri, chấm dứt nguồn tâm tạo tội.Đặc điểm nổi bật của Đạo Phật ở chỗ là điều ác chưa sanh khởi cần phải ngăn ngừa, đừng cho phát sanh. Đây là điều ngoại trừ Phật ra, ngoại trừ những con người biết sống đời sống chuộng tri thức, chuộng những giá trị tâm linh ra, chúng ta không tìm thấy ở đâu có. Chúng ta phải cố gắng từng ngày từng giờ, từng giây phút gìn giữ đừng cho điều ác móng khởi nơi tâm, cho đến khi nào tâm mình được thuần thục an nhiên, không còn nghĩ đến điều ác nữa mới thôi. Thực hiện được điều này là chúng ta đã góp phần đem lại sự bình an, hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Được như vậy thế giới mới hòa bình an ổn, nhân loại mới hạnh phúc chơn thật.2. Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh:Pascal – nhà thiên tài khoa học, nhà tư tưởng, nhà văn của nước Pháp đã từng nói: “ Con người là một cây sậy có tư tưởng”. So với vũ trụ bao la thì con người thật nhỏ bé và yếu ớt như cây lau sậy, nhưng con người lớn hơn vũ trụ vì con người có tư tưởng. Nhờ có tư tưởng phán đoán suy luận nên con người phân biệt được điều ác điều thiện, chuyện lỗi chuyện phải. Từ đó nỗ lực khắc phục những khiếm khuyết lầm lỗi để tiến lên chỗ cao đẹp hơn.“Nhân vô thập toàn”, đã là người thì không ai không có lỗi. Khi chưa hiểu biết Phật pháp chúng ta đã lỡ tạo ra nhiều điều ác, nay chúng ta đã hiểu Phật pháp rồi thì chúng ta phải tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh.Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật dạy: “Người có lầm lỗi mà không tự sám hối để mau chấm dứt tâm tạo tội ấy, thì tội lỗi càng chồng chất vào thân như nước chảy về biển, dần dần trở nên sâu rộng. Nếu có tội tự nhận biết tội, bỏ ác làm lành thì tội tự diệt, như bệnh được đổ mồ hôi, dần dần sẽ khỏi bệnh”.Đức Phật cũng đã từng dạy:Có hai hạng người cao thượng ở đời là : 1- Người không có tội lỗi.2- Người có tội mà biết hối lỗi.Có lỗi mà không biết hối lỗi thì tội càng tăng trưởng, bởi vì khi không biết hối lỗi thì mình yên chí mà tiếp tục làm lỗi. Trái lại nếu biết tu tỉnh, sửa chữa lỗi lầm thì tội sẽ tiêu tan không còn nữa.Tất cả những điều ác tạo ra cũng đều xuất phát từ tâm. Nếu tâm chuyển hóa thì thân khẩu ý sẽ chuyển hóa theo. Tội đã do tâm tạo ra thì cũng do tâm mà diệt, đây là điều quan trọng và đặc biệt của Phật Giáo. Tội là con người tạo ra và cũng do con người diệt trừ, chứ không do một đấng thần linh nào có thể xóa tội cho con người. Biết như vậy chúng ta phải tinh tấn trừ những điều ác đã phát sanh, cố gắng đoạn trừ tận gốc rễ đừng cho tái sanh nữa. 3. Tinh tấn làm phát sanh những điều lành chưa phát sanh (Trích Phật Học Phổ Thông quyển 1). Nhiều khi chúng ta có những ý định muốn giúp ích người này, nâng đỡ người khác, nhưng vì tánh giải đãi, hay thiếu nghị lực, chúng ta không thực hiện ý đẹp ấy, như thế dù có thiện ý bao nhiêu, cũng không đem lại lợi ích gì cho ta và cho người chung quanh cả. Muốn tạo những nghiệp thiện, như nói lời hòa nhã với mọi người trong mọi trường hợp, bố thí cho người nghèo túng, giúp đỡ cho người có công ăn việc làm, thì chúng ta đừng chần chờ, mà trái lại phải hăng hái, tinh tấn làm ngay. Ta phải luôn luôn thúc đẩy ta, biến ý nghĩ tốt thành hành động. Người Pháp có câu tục ngữ rất có ý nghĩa, để châm biếm những người do dự, ý tốt mà không bao giờ thực hiện : “Địa ngục lót đầy những dự định tốt” (I’enfer est pavé de bonnes intentions), thật đúng như vậy, ở đời có bao nhiêu người thiện chí, có ý định làm điều hay điều phải, nhưng cho đến chết vẫn chưa thực hiện được, và mang theo xuống địa ngục. Vậy, chúng ta phải luôn luôn hăng hái làm phát triển những điều lành, mỗi khi chúng muốn khởi trong tâm, đừng chần chờ, giải đãi cho đến khi tử thần đến gõ cửa mới ân hận là mình chưa gây tạo được cho mình những nhân lành gì cả, nên phải rơi vào địa ngục.

  1. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sanh (Trích Phật Học Phổ Thông quyển 2).

Những điều lành khi đã phát lộ ra hành động rồi, chúng ta đừng cho thế là vừa, là đủ, không cần phải cố gắng làm thêm nữa

Khi chúng ta làm một điều tròn lành, chúng ta có lợi về hai phương diện: Một mặt làm điều thiện có lợi ích cho mình và người, chẳng hạn như khi chúng ta thọ giới không sát sanh và thật hành theo giới ấy, chúng ta vừa ngăn chặn sự giết hại người và vật, mà vừa chuộc người và phóng sanh nữa, các giới khác cũng vậy, nghĩa là một mặt vừa “chỉ ác”, một mặt vừa “tu thiện”, rồi cứ như thế mà siêng năng, tinh tấn luôn luôn mới được. Chúng ta phải tập làm điều thiện cho thật thuần thục, cho thành thói quen, cho đến khi mỗi ý nghĩ, mỗi lời nói, mỗi việc làm đều thiện cả mới được.

Trên đường đạo không gì bằng tinh tấn

Không gì bằng trí tuệ của đời ta

Sống điêu linh trong kiếp sống Ta bà

Chỉ tinh tấn là vượt qua tất cả.

Đến đây tôi xin nhắc một giai thoại, Ô Sào Thiền sư là vị Tổ sư rất nổi tiếng tinh thông và am tường Tam tạng kinh điển, sống ẩn dật nơi rừng sâu núi thẳm. Đương thời bấy giờ bên Trung quốc có một vị quan lớn của triều đình nghe tiếng tăm đồn đãi, một hôm bèn quyết chí khăn gói lên đường để yết kiến Thiền Sư và vấn đạo. Trải qua mấy ngày trên lộ trình đầy vất vả, vị quan lớn ấy mới tìm gặp được Ô Sào Thiền sư. Ông chí thành tha thiết đảnh lễ cầu Thiền sư chỉ cho những điều cốt lõi của Phật pháp. Im lặng một hồi lâu Ô Sào Thiền sư mới chậm rãi đọc bài kệ: “Chư ác mạc tác Chúng thiện phụng hành Tự tịnh kỳ ý Thị Chư Phật giáo”.Nghĩa là: Không làm các điều ác, Nên làm các điều lành.Giữ tâm ý trong sạchLà lời chư Phật dạy.Vị quan lớn hỏi : - Chỉ có vậy thôi sao? Đúng thế cốt lõi của Phật pháp là như thế, Thiền sư trả lời. Vị quan lớn hoàn toàn thất vọng trước câu trả lời của Thiền Sư, ông ta đùng đùng nổi giận nói: “Tôi phải vất vã mới được gặp ông, tưởng đâu ông dạy được điều gì khác, chứ những điều ông vừa nói đó có gì lạ đâu, đứa con nít 3 tuổi vẫn nói điều ấy được cơ mà?”. Thiền sư Ô Sào rất bình tĩnh và thản nhiên đáp: “Vâng thưa ông, có những điều đứa con nít 3 tuổi vẫn nói được, nhưng chắc gì người già trên 70 tuổi làm được”. Vị quan lớn chợt ngộ được chỉ ý của Thiền Sư bèn sụp lạy và từ giã ra về. Chúng ta có suy nghĩ gì về lời dạy của Thiền Sư Ô Sào: “Có những điều đứa con nít 3 tuổi vẫn nói được, nhưng chắc gì người già trên 70 tuổi làm được.”?Cốt lõi của Phật pháp được cô đọng trong 4 câu kệ trên chắc chắn ai cũng đã thuộc lòng, nhưng điều quan trọng là ta có thực hành những lời của Đức Phật dạy hay không?Tóm lại, Tứ Chánh Cần là 4 phép siêng năng chánh đáng trong công cuộc diệt trừ tội ác và phát triển điều thiện, nó rất cần thiết cho việc tu tập của chúng ta. Như việc làm cần phải có sức lực, như đi cần phải có hai chân, hành giả trên đường về giải thoát luôn luôn tu tập Tứ Chánh Cần để hoàn bị mọi thiện pháp. Tinh tấn! Tinh Tấn! chúng ta cần tinh tấn tu tập Tứ Chánh Cần để đem lại sự an lạc giải thóat cho bản thân, để đem lại hạnh phúc đến với mọi người.

Bài II-13 NGŨ CĂN – NGŨ LỰC

-Thích Thiện Vinh- A-Mở đề :Trong 37 phẩm trợ đạo, Ngũ căn - Ngũ lực là những phương pháp quan trọng như các pháp khác; có thể đưa người tu từ địa vị phàm phu đến các Thánh quả trong 3 thừa, chúng ta phục sức trang nghiêm, là phương tiện công hiệu giúp người thẳng tiến trên bước đường tu đạo chứng quả.Vậy, người Phật tử chúng ta không thể không biết để hành trì.B- Chánh đề:I- Định nghĩa Ngũ căn:Ngũ căn là năm căn, căn đây tức là căn bản, là gốc rễ, là nguồn gốc để tất cả các thiện pháp phát sinh, nên gọi là ngũ căn. Năm căn ấy là: Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ căn.II-­ Thành phần và nội dung của Ngũ căn:1. Tín căn: Là lòng tin mạnh mẽ, vững chắc. Lòng tin này không giống như lòng tin mù quáng, vô điều kiện, bất chấp lý trí của phần nhiều các ngoại đạo. Lòng tin ở đây là con đẻ của lý trí, là kết quả của sự suy luận sáng suốt của sự quan sát kỹ càng. Đức Phật không bao giờ bắt buộc Phật tử tin một điều gì mà không suy luận được, không giải thích được. Vì lòng tin của người Phật tử khởi từ trí xét đoán. Bởi thế nên nó vô cùng vững chắc, mãnh liệt. Chính nó là căn bản phát sanh các hạnh lành. Đức Phật dạy: “Đức tin là mẹ của tất cả các công đức”. Nhưng Phật tử tin cái gì? - Phật tử tin Tam Bảo. Tin Phật: Phật tử biết rằng Đức Phật là đấng hoàn toàn giác ngộ, giải thoát mà Phật đã thân chứng.Tin Pháp: Pháp là chân lý, là sự thật mà Đức Phật đã khám phá ra và truyền lại cho chúng ta. Hay nói khác, Pháp là giáo lý đúng như thật mà Đức Phật đã thuyết minh. Chúng ta tin những giáo lý ấy, vì người nói ra là Đức Phật, đã thân chứng được và đã giác ngộ nhờ giáo lý ấy.Tin Tăng: Tăng là người thực hành các giáo lý của Đức Phật để giác ngộ mình và người, là người thay Phật đưa cao ngọn đuốc chánh pháp sáng ngời, để soi đường cho chúng sanh. Vì thế người Phật tử suốt đời quy hướng về Tăng.2. Tấn căn: Tấn là tinh tấn. Tấn căn là sự dõng mãnh tinh tấn trên bước đường tu tập, không lùi bước. Nếu đã có lòng tin chắc chắn, mà không siêng năng thực hiện, làm theo những điều mình tin, thì lòng tin suông ấy trở thành vô dụng, không đưa chúng ta đến đâu cả.Vậy cho nên người Phật tử đã tin Tam Bảo thì phải luôn luôn thực hành giáo lý của nhà Phật. Theo Luận Nhiếp Đại Thừa, Tinh tấn có 3 thứ:- Bị giáp tinh tấn: Nghĩa là mang áo giáp tinh tấn. Người Phật tử trong cuộc chiến đấu để diệt trừ khổ đau, tiến tới giải thoát. Phải mang áo giáp tinh tấn khi xông pha vào trận địa phiền não, khỏi bị quân ma làm hại. Nhờ có áo giáp ấy, người Phật tử tin tưởng năng lực của mình, hùng dũng tiến tới không sợ gian nan nguy hiểm, không lùi bước trước một trở ngại, hay một địch thủ nào.- Gia hạnh tinh tấn: Nghĩa là luôn luôn gắng sức không bao giờ ngừng nghỉ trên đường đi đến giải thoát. Với thứ tinh tấn này, người Phật tử càng tiến càng hăng, càng thêm sức lực, càng phấn chí, không bao giờ biết mệt mỏi.- Vô hỷ túc tinh tấn: Vô hỷ túc là không sung sướng tự mãn, cho là vừa đủ khi mới thu được một ít thắng lợi trên đường tu hành. Người Phật tử chưa chứng được Phật quả, thì còn gia công gắng sức tu luyện mãi, chứ không chịu dừng nghỉ, vui thú với một quả vị thấp thỏi, tạm bợ. Như người bộ hành khi chưa đến đích cuối cùng thì còn hăng hái bước nữa, chứ không chịu dừng bước bằng cách an phận ở mãi trong quán trọ bên đường.3. Niệm căn: Niệm là ghi nhớ. Ghi nhớ những gì?a. Thứ nhất Niệm thí: Nghĩa là nhớ tu bố thí. Người Phật tử thường ngày nhớ đem tài sản bố thí cho người bần cùng, đem hùng lực giúp người sợ hãi, đem chánh pháp chỉ giáo cho người si mê, khiến họ hết khổ được vui.b.Thứ hai Niệm giới: Nghĩa là nhớ trì tịnh giới để đoạn trừ các phiền não nghiệp chướng, tăng trưởng mọi hạnh lành. Giới có 3 thứ: * Nhiếp luật nghi giới: Những giới để ngăn cấm các hạnh nghiệp thô xấu, đoạn diệt các nghiệp chướng nơi thân tâm.* Nhiếp thiện pháp giới: Những giới để ngăn cấm các hạnh nghiệp thô xấu, đoạn diệt các nghiệp chướng nơi thân tâm.* Nhiêu ích hữu tình: Những điều luật làm lợi ích, an lạc cho tất cả chúng sanh.c. Thứ ba Niệm thiện: Luận Nhiếp Đại Thừa có nói thiện niệm trụ là an trụ 4 món thiền định để gạn sạch tất cả phiền não, thể chứng chân như.4. Định căn: Định hay tịnh là do dịch nghĩa chữ Phạn là Dhyana(Thiền na). Định là lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp để suy đạt thật nghĩa của nó. Theo Luận Nhiếp Đại Thừa, Định có thể có 3 bậc:+ An trụ định: Để tâm an trụ vào định cảnh, không cho tán động. Do đó phiền não được tiêu trừ.+ Dẫn pháp định: Do đoạn sạch phiền não nên các pháp sanh 6 món thần thông là công đức thù thắng.+ Thành sở tác sự định: Do đã phát khởi được các công đức, thần thông, nên thường làm lợi ích cho tất cả chúng sanh giải thoát sanh tử, chứng được Niết bàn.5. Huệ căn: Huệ là trí huệ sáng suốt, thâm nhập được chân tướng của vạn pháp. Trí tuệ ấy không có sự phân biệt, vì phân biệt là tác dụng của vọng thức, là mê lầm. Cũng theo luận Nhiếp Đại Thừa, Trí tuệ có 3 thứ: - Vô phân biệt gia hạnh huệ: Quán trí này không còn thấy có phân biệt, như còn có gia hạnh, nghĩa là còn phải vận dụng công tu hành, để thành tựu hoàn toàn vô phân biệt trí. Vì thế, nên gọi là “vô phân biệt gia hạnh huệ”- Vô phân biệt huệ: Trí huệ này không có sự phân biệt, mà không cần phải gia hạnh vì đã thuần thục. Do không phân biệt nên không có mê vọng. Nhờ trí tuệ này, người tu hành được tự tại để chứng chơn như. - Vô phân biệt hậu đắc huệ: Hay hậu đắc trí, nghĩa là trí huệ có được sau khi đã chứng được chân như. Trí huệ này hoàn toàn sáng suốt, tỏ ngộ được thật nghĩa của các pháp. Chư Phật nhờ hậu đắc trí này mà tu thành tựu vô lượng công đức, để cứu độ chúng sanh. Nói một cách tổng quát giản dị, huệ căn là trí tuệ do thiền định đã làm lặng sạch các vọng tưởng phân biệt mà phát sinh. Nó thông đạt được sự thật của các pháp; nó là căn nguyên phát sinh mọi việc vĩ đại để giải thoát chúng sanh.III. Định nghĩa Ngũ lực: Ngũ Lực tức là năng lực vĩ đại, năm thần lực của Ngũ căn. Nói một cách dễ hiểu: Ngũ căn như năm cánh tay; còn Ngũ lực là sức mạnh của năm cánh tay ấy.IV. Thành phần và nội dung của Ngũ lực :1. Tín lực: Tức thần lực của đức tin, hay sức mạnh lớn lao, vi diệu do tín căn phát sinh. 2. Tấn lực: Tức thần lực do đức tinh tấn, hay sức mạnh bất thối chuyển, kiên cố, có thể san bằng mọi trở lực, sức mạnh do tấn căn phát sinh.3. Niệm lực: Tức thần lực của sự tập trung tư tưởng hay sức mạnh lớn lao của niệm căn.4. Định lực: Tức thần lực của sự tập trung tư tưởng hay sức mạnh vĩ đại của định lực.5. Huệ lực: Tức thần lực của trí tuệ hay sức mạnh vô biên của huệ căn.

Nói một cách tổng quát, sức mạnh này là kết quả đạt được do sự kiên cố tu luyện của Ngũ căn. Nó như là một ngọn lửa bật lên sau khi người ta nỗ lực cọ xát hai cây củi vào nhau để nảy lửa.

C- Kết luận:

Như chúng ta đã thấy rõ ở trên, Ngũ căn - Ngũ lực vừa làm căn bản, vừa là nghị lực để phát sinh, tăng trưởng vô lượng công đức thù thắng.

Bất luận người nào hễ đã lấy trí làm nền tảng, tinh tinh tấn thực hành chánh pháp, hằng ghi nhớ chánh pháp để tiến tu (Niệm), tập trung tư tưởng để trừ các vô minh, phiền não (Định), đem huệ vô phân biệt (Huệ) để chứng chân như, thì người ấy thế nào cũng nắm chắc trong tay quả vị Vô thượng Bồ đề. Vì sao? Vì người ấy đã có những thần lực vĩ đại (ngũ lực) do ngũ căn gây ra. Với ngũ lực này, hành giả như người bộ hành có đủ phương tiện linh lợi diệu dụng để băng rừng, vượt biển và đi đến đích cuối cùng. Đích cuối cùng của người tu hành theo chánh pháp tức là thành Phật. Đến đích này, người ấy là ánh sáng của chúng sanh, là ruộng phước tối thắng để chúng sanh gieo mầm an lạc. Chính người này mới có đủ nghị lực, diệu dụng làm cho chúng sanh trở thành những kẻ hoàn toàn giải thoát, hoàn toàn giác ngộ. Kết quả của Ngũ căn và Ngũ lực lớn lao, quý báu như thế đó, chúng ta không thể tu không tu theo hai pháp môn này.

Bài II-14 THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

-Thích Thông Huệ-

I- Nội dung:

Chu Hy viết: “Cần kiệm cốt để trị gia, học hành cốt để khởi gia, hòa thuận cốt để tề gia, làm theo công lý cốt để báo gia”. Đây là phương châm làm người của nhà Nho, để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với nhà Phật, sự tu hành còn nhắm đến mục đích cao hơn: Xuất phiền não giaxuất tam giới gia. Đức Phật là bậc Vô Thượng Y Vương, có đến tám vạn bốn ngàn phương thuốc điều trị tâm bệnh cho chúng sinh; trong đó có những cách thức điều trị tận gốc, giúp chúng sinh khỏi được tâm bệnh phiền não và giải thoát sinh tử luân hồi. Pháp môn quán chiếu về Thập nhị nhân duyên là một trong những phương pháp điều trị tiệt căn ấy.

Cùng với Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên là giáo lý rất quan trọng trong hệ thống kinh điển Nguyên thủy. Đây là mười hai yếu tố liên hệ hỗ tương với nhau theo lý duyên sinh và nhân quả. Diễn biến trong cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Chúng thường được minh họa theo sơ đồ sau đây, gọi là Tam thế lưỡng trùng nhân quả (Ba đời và hai tầng nhân quả):

Vô minh

   

Quá khứ

 

Nhân

 

Hành

   
       

Thức

 

Tầng

     

Nhân

Danh sắc

 

Quả

     

Thứ

Lục nhập

Quả

Nhất

Hiện tại

     
 

Xúc

   
       
 

Thọ

   
       

Ai

   
     

Tầng

Thủ

Nhân

Nhân

     

Quả

 

Hữu

 

Thứ

   

Hai

Sinh

   

Vị lai

 

Quả

 
 

Lão tử

   
  1. Nhân quá khư:

Gồm Vô minh Hành, gọi là Nhân khổ.

Vô minh được hiểu theo nhiều cách, tùy theo gốc độ nhìn của mỗi tông phái; tựu trung có hai nghĩa chính: Thứ nhất, Vô minh là không thấy các Pháp đúng như thật, không nhận chân được thực tướng của các pháp là vô thường, duyên sinh vô ngã. Thứ hai, Vô minh là nhận lầm thân tứ đại và những tâm phân biệt lăng xăng làm thân tướng và tâm tướng của mình, mà quên mình đang sẵn đủ tự tánh bất sanh bất diệt. Đây cũng là Căn bản vô minh, là Hoặc.

Do Vô minh khuấy động, trong tâm phát khỏi buồn thương giận ghét... Từ sanh khởi ý thiện hoặc ác, đưa đến miệng và thân theo đó tạo nghiệp. Đây là Hành, động cơ chính để tái sinh.

Như vậy, vì có Vô minh nên có hành động tạo tác, vì có Hoặc nên mới có Nghiệp, mới trở lại lục đạo luân hồi. Chúng sinh bị nghiệp lực lôi dẫn để thọ sanh, khác với các bậc Bồ Tát, cũng lăn lộn vào các cõi nhưng do nguyện lực. Các Ngài cũng làm tất cả để độ người, nhưng không thấy có người làm, việc làm và đối tượng làm, nên không thuộc về Hành nghiệp.

  1. Quả hiện tại:

Gồm Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc và Thọ gọi là Quả khổ.

Đối với thức, chúng ta cần hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó là thần thức hay hương ấm. Khi thân trước mất đi, thần thức theo nghiệp dẫn để thọ thân sau. Nếu nghiệp không còn thì thức cũng diệt, nên nói Hành duyên Thức. Nghĩa thứ hai, hiểu theo Duy thức học, là Ý thức và Tàng thức. Vì chúng sinh vô minh, quên tánh giác, tạo nghiệp thiện ác mới phát sinh thức. Nếu giác ngộ, nhớ lại tự tánh thanh tịnh bản lai của mình thì thức không phải bị diệt, mà ngay đó chuyển thành Trí.

Thức làm duyên cho danh sắc hình thành. Danh là tinh thần, sắc là thể chất. Trong bào thai, danh sắc tạo nên nhờ sự phối hợp của tinh cha huyết mẹ và thần thức gá vào. Danh sắc cũng có nghĩa là phần tinh thần và vật chất của một cơ thể khi còn trong bào thai.

Lục nhập là sáu căn duyên với sáu trần. Khi đã ra đời, sáu căn tiếp xúc với sáu trần phát sinh sáu thức. Các căn càng tăng trưởng thành càng dính mắc với trần cảnh, tác động qua lại tạo nên xúc. Xúc là sáu căn tiếp xúc với sáu trần.

Khi có tiếp xúc giao thoa giữa căn và trần, cảm thọ phát sinh, nên xúc duyên thọ. Thọ gồm ba loại: Khổ, lạc và trung tính. Cần phân biệt cảm thọ vui (lạc thọ) của phàm phu với niềm vui của những bậc đã giác ngộ. Lạc thọ hình thành do sáu căn dính mắc theo trần, khi hình thành rồi trở lại chi phối thân và tâm. Đối với các Ngài, tuy vẫn đối duyên xúc cảnh nhưng không khởi niệm phân biệt chia chẻ, nên dù xúc và thọ mà tâm vẫn thanh tịnh an nhiên. Niềm hỷ lạc của các Ngài là một hạnh phúc đích thực, có chánh niệm và thanh tịnh.

  1. Nhân hiện tại:

Gồm Ái, Thủ Hữu.

Ái là ưa thích, đam mê. Đây là chi mạt vô minh hay nhuận sanh vô minh, cũng là Hoặc.

Phàm phu chúng ta có rất nhiều đam mê khát ái, nhưng quan trọng nhất là Ái ngã. Do yêu mình nên tìm mọi phương tiện phục vụ cho bản thân. Ngay cả tình cảm thương yêu đối vói người khác, ngẫm lại cũng chỉ vì mình mà thương. Cho nên, tình cảm nào cũng có tính ích kỷ, không nhiều thì ít. Cũng chính vì ái ngã, nên khi mất thân này liền tìm thân khác, tiếp tục vòng quay sinh tử.

Vì sao có Ái? - Bởi vì vô minh nhận thân tâm huyễn hóa làm thật mình; từ chấp ngã rồi chấp ngã sở đều có thật, nên sanh ái luyến. Ái lại làm tăng trưởng vô minh, nên hai yếu tố này có sự liên hệ hết sức chặt chẽ, và là hai động lực vô cùng mạnh mẽ làm chuyển động bánh xe luân hồi.

Cũng do ái ngã nên những gì bên ngoài làm mình vừa ý, mình lại muốn chiếm hữu. Đây là Thủ, giữ lấy cho riêng mình, là hành động tạo tác nên thuộc Nghiệp. Khi chiếm giữ được, liền phát khởi ý có sở đắc (hữu). Hữu là điều kiện để tái sinh vào ba cõi, nên còn được chia thành Dục hữu, Sắc hữu Vô sắc hữu.

  1. Quả vị lai:

Gồm Sanhlão tử.

Có nhân hiện tại tức có điều kiện tái sinh ở vị lai. Một hữu tình lại chào đời (sanh). Trong hữu tình này cũng có những yếu tố vô minh, thức... ái, thủ, hữu. Quy luật tất yếu của cuộc sống là có sinh trưởng thì phải có hoại diệt, nên Sanh duyên Lão tử.

Như vậy, mười hai nhân duyên đã giải thích tường tận guồng máy sinh diệt của loài hữu tình. Duyên hợp lại là sinh, duyên tan là diệt. Đi theo chiều thuận, nhân quá khứ sanh quả hiện tại (tầng nhân quả thứ nhất), và nhân hiện tại sanh quả vị lai (tầng nhân quả thứ hai). Đây là chiều lưu chuyển. Trong mỗi tầng nhân quả đều có Hoặc - Nghiệp - Khổ.

Vô minh : Hoặc

Hành : Nghiệp Tầng thứ nhất.

Thức... Thọ : Khổ

Ái : Hoặc

Thủ - Hữu : Nghiệp Tầng thứ hai

Sanh... Lão, tử : Khổ

Phần đông các nhà nghiên cứu về Phật học thường theo chiều lưu chuyển của mười hai nhân duyên để chứng minh và giải thích luân hồi. Người tu chúng ta thường ít chú trọng đến việc giải thích luân hồi, mà chủ yếu là liễu thoát sanh tử. Cho nên mới có chiều ngược lại, từ quả phăng lần đến nhân: Mọi người đều già chết (lão tử); Vì sao có già chết? - Vì có Sanh. Cứ đi ngược dần lên đến tận cùng, ta hiểu rõ bản chất của sanh tử là Vô minh. Đây là chiều hoàn diệt. Muốn giải quyết vấn đề sanh tử, phải giải quyết nơi nhân. Chúng ta thấy Đức Phật đã khéo dùng phương pháp đi ngược từ quả đến nhân, lần đầu tiên khi giảng về Tứ diệu đế: Cuộc đời là khổ (Khổ quả); Tìm hiểu vì sao có khổ (Tập nhân); Trừ hết các nguyên nhân gây khổ sẽ có an lạc giải thoát (Diệt quả); Các phương pháp để đạt đến giải thoát (Đạo nhân). Nguyên nhân của khổ tức Tập nhân trong Tứ diệu đế cùng tương đồng với Ái - Thủ - Hữu trong mười hai nhân duyên; và chẳng khác gì vọng tưởng sanh diệt mà nhà Thiền chủ trương buông bỏ.

II- Ý nghĩa:

Kinh A Hàm, Phật dạy: “Cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không, cái này sinh nên cái kia sinh, cái này diệt nên cái kia diệt”. Đây là một định lý duyên khởi. Tất cả các pháp từ vô tình đến hữu tình đều vay mượn nhau, hỗ trợ nhau, nương tựa nhau mà sinh khởi và tồn tại. Ví như một bó lau, cùng nương vào nhau để đứng vững; nếu một cọng lau ngã xuống, những cọng lau khác khó có thể trụ lại.

Mười hai nhân duyên cũng thuộc giáo lý Duyên sinh, nhưng hạn cuộc cho loài hữu tình. Nếu nhìn theo chiều dọc từ trên xuống dưới, thì chi phần trên làm duyên cho chi phần dưới phát sinh. Vô minh là Hoặc nhân của quá khứ, làm duyên phát sinh Hành nghiệp. Vì là nhân quá khứ, nên hiện tại người tu không thể sửa đổi gì được đối với Vô minh, mà chủ yếu chỉ chuyển hóa nhân hiện tại là Ái, Thủ, Hữu. Nhân hiện tại bị diệt trừ thì không có quả vị lai. Sanh, Lão tử ngay đây đoạn dứt.

Tuy nhiên, cách hiểu ấy chỉ là khái niệm về nhân quả theo diễn trình, có thời gian, không phản ảnh đúng tinh thần tương tức và tương nhập của đạo Phật. Thật ra, mỗi chi phần đều vừa là nhân, vừa là quả của mười một chi phần còn lại, và ảnh hưởng ở cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Rõ ràng là trong vô lượng kiếp chúng ta đã vô minh mới tạo nghiệp và trầm luân trong sinh tử. Kiếp này chúng ta cũng đang vô minh, đang tạo nghiệp; và trong tương lai, nếu không thức tỉnh chúng ta sẽ lại vô minh và tạo nghiệp không có ngày cùng. Như vậy, Vô minh có mặt ở cả ba thời.

Lại nữa, Vô minh có mặt trong Hành nên tác ý khởi niệm, sanh phiền não; đến lượt phiền não trở lại tác động làm Vô minh nặng thêm. Đây là liên hệ hai chiều, Vô minh duyên Hành và Hành cũng duyên Vô minh. Vô minh cũng đồng thời có mặt trong Thức, Danh sắc, Lục nhập... Nếu Thức không có Vô minh vì sao lại bị nghiệp dẫn lôi, thọ sanh theo nghiệp? Nếu Lục nhập không có Vô minh sao đối duyên xúc cảnh lại sanh tâm phân biệt, không thấy được thực tướng của các pháp? Nếu Ái không có Vô minh thì không có ý thức chấp ngã và ngã sở. Vì có Vô minh mới có phiền não, mà phiền não khổ đau thì luôn hiện hữu trong cuộc sống. Suy ra toàn bộ các chi phần khác, chúng ta sẽ thấy rõ sự tương quan trùng trùng điệp điệp: Mỗi chi phần có liên hệ nhân duyên với chi phần kế cận, đồng thời cũng liên hệ như thế với tất cả những chi phần còn lại. Sự tương quan này chằng chịt mật thiết trong cả không gian lẫn thời gian, không có điểm đầu tiên, cũng không có điểm tận cùng.

Tùy theo cách hiểu về mười hai nhân duyên và tùy theo sở thích, hành giả có thể áp dụng nhiều phương pháp vào công phu. Nhưng tựu trung, có hai mắt xích quan trọng. Nếu phá được một trong hai, có thể phá vỡ được sự liên hệ chằng chịt giữa hai chi phần: Đó là Vô minh và Ái. Hai chi này là động lực tác động hết sức mãnh liệt, làm chuyển động bánh xe luân hồi, đều có cùng bản chất vô minh.

Hành giả tu theo Duyên Giác, thực hành pháp quán về mười hai nhân duyên. Lúc đầu theo chiều lưu chuyển để thấy rõ sự vận hành của guồng máy sinh tử, trong tinh thần “Cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh”. Vì vô minh sanh nên Hành mới sanh, vì Hành sanh nên có Thức sanh... tiếp tục cho đến cuối cùng là Sanh - Lão tử. sau đó, hành giả quán theo chiều hoàn diệt trong tinh thần “Cái này không nên cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt”. Tuy vậy, vì Vô minh là tập nhân hùng hậu, khó thể can thiệp được, nên hành giả tập trung tâm lực đoạn trừ nhân hiện tại đó là Ái. Do Ái diệt nên Thủ - Hữu không còn; Thủ - Hữu diệt nên Sanh - Lão tử diệt; hành giả liễu thoát sanh tử, đạt quả vị Duyên Giác là Bích Chi Phật. Nếu sinh ra đời không gặp Phật pháp, tự quán lý duyên sinh của trời đất mà ngộ, hành giả được tôn xưng là Độc Giác Phật.

Hành giả tu theo Thiền Đốn Ngộ quan niệm về mười hai nhân duyên bằng tinh thần tương tức tương nhập, đã nói ở trên. Vô minh và Hành là biệt danh của Ái - Thủ - Hữu - Hữu; Danh sắc - Lục nhập - Xúc - Thọ là biệt danh của Sanh - Lão tử. Các vị quán chiếu sự liên hệ hỗ tương trùng điệp của tất cả chi phần, ngộ được lý duyên sinh, chứng Trí vô ngã, không còn chấp lầm thân tâm sinh diệt vô thường là thật mình. Vì vậy, đoạn trừ Căn bản vô minh. Đây là lối tu ngay gốc, khi gốc bị đoạn diệt thì các ngọn ngành theo đó tự tiêu. Nhưng làm thế nào đoạn trừ được Căn bản Vô minh? - Khi tâm hành giả hoàn toàn rỗng lặng, bặt hết mọi ý niệm phân biệt so sánh, biết tất cả các pháp mà không sanh tâm trên chúng, cái biết ấy mới ở trong trạng thái Như thị. Đây là cái ”Tri kiến vô tri kiến” Đức Phật đã dạy trong kinh Lăng Nghiêm, hành giả thấy Niết bàn ở ngay tại đây và bây giờ, không giở chân mà đến. Muốn tìm nước phải ngay sóng mà nhận, ngay trong phiền não phải thấy được Bồ Đề. Nếu thấy rõ trong si mê có hạt giống trí tuệ, trong Vô minh đồng thời cũng có Minh hiện hữu, ta sẽ hiểu được tinh thần bất nhị, một tư tưởng vút cao của nhà Phật.

Mười hai nhân duyên là một trong những giáo lý quan trọng trong hệ thống kinh điển của đạo Phật. Giáo lý này cũng nhằm giải thích và chứng minh luân hồi, nhưng chủ yếu nhằm đưa đến phương pháp giải thoát sanh tử. Chúng ta không thể chỉ hiểu mười hai nhân duyên theo “Tam thế lưỡng trùng nhân quả”, trong đó các chi phần liên hệ nhau theo chiều thời gian; mà nên hiểu theo tinh thần “Trùng trùng duyên khởi”; các chi phần liên hệ chằng chịt tương hỗ lẫn nhau theo cả không gian và thời gian, trùng điệp vô thủy vô chung. Áp dụng vào công phu tu hành, chúng ta theo thứ lớp đoạn trừ Chi mạt vô minh là Ái, rồi dần đến Thủ và Hữu. Đây là lối tu tiệm, cần dụng công nhiều, buông bỏ lần như chặt các ngọn. Tinh cần tu tập, một thời gian lâu xa sẽ thành công, vì có tu có tiến. Lối tu thứ hai theo Thiền Đốn Ngộ, chúng ta đoạn trừ Căn bản vô minh - thật ra không phải là “đoạn trừ Vô minh” mà ta ”nhận ra Minh ngay tại đó”. Tùy theo căn cơ và sở thích, chúng ta tự chọn cho mình một con đường, miễn sao đạt được mục đích tối hậu của đời tu: ra khỏi nhà phiền não và ra khỏi nhà Tam giới. -/-

 

Bài III-1 TỔ THƯƠNG-NA-HÒA-TU

(SAN AKAVASA)

(Thế kỷ đầu, sau Phật Niết bàn)

-Thích Giác Nghiêm-

Châu Á là một lục địa rộng lớn nhất trên quả đất này, đông dân nhất, nghèo đói cũng nhiều. Bởi vậy, con người châu Á phải phấn đấu để có cuộc sống tương đối ấm no, hạnh phúc và suy tư mơ ước tìm tòi đi đến một sự siêu tuyệt hơn trần thế, vĩnh viễn xa khỏi nghèo đói, khổ ải triền miên.

Từ đó, các tôn giáo lớn đều phát sinh tại châu Á như: Trung Quốc, Trung Đông, Ấn Độ. Riêng tại Ấn Độ, đạo giáo có nhiều hơn bất cứ nơi nào. Đạo giáo nhiều nên đạo sĩ cũng nhiều.

Thời Đức Phật còn tại thế và kể cả sau Đức Phật Niết Bàn, một số lớn các Tỳ kheo đều từ các đạo giáo khác quay về. Vào thời Tổ Ananda, có tôn giả Thương-Na-Hòa-Tu (San Akavasa) là một đạo sĩ của đạo tu Tiên, sau theo về Phật giáo và trở thành vị Tổ Thiền tông Ấn Hoa.

I- Quê quán, dòng họ và đạo giáo của Tổ:

Tổ Thương-Na-Hòa-Tu lúc chưa xuất gia là trưởng giả của một gia đình giàu có thuộc dòng Tỳ-Xá-Da thành Vương-xá, nước Ma-Kiệt-Đà. Trưởng giả ở trong thai mẹ sáu năm mới ra đời. Tương truyền xứ Ấn Độ khi nào có cỏ Thương-Nặc-Ca mọc thì sẽ có vị Thánh nhân ra đời, vì vậy cha mẹ ngài đặt tên ngài là Thương-Na-Hòa-Tu.

Trưởng giả ra đời vào đầu thế kỷ, sau Phật Niết bàn. Lúc đầu xuất gia làm đồ đệ của một vị Tiên ở núi Tuyết, nhờ nỗ lực luyện phép tiên nên chứng được thần thông. Về sau, được Tổ ANan khai hóa, trở về hoằng truyền Phật pháp.

 

II- Đạo nghiệp của Tổ Thương-Na-Hòa-Tu:

  1. Tổ được truyền tâm ấn:

Tổ ANan có hai có hai vị học trò ưu tú là Thương-Na-Hòa-Tu và Mạc Điền Địa (Mạc-Điền-Để-Ca), Tổ quyết định chọn Thương-Na-Hòa-Tu để truyền trao tâm ấn và kế thừa Tổ vị.

  1. Hàng phục độc long và hoằng pháp:

Tổ Thương-Na-Hòa-Tu di chuyển về xứ Ma-Kiệt-Đà, ở khu rừng Ưu-Lưu-Trà hàng phục hai độc long hung bạo, xây dựng tịnh xá, thiết lập đạo tràng, rộng giảng chánh pháp, dân chúng đến lập nghiệp đông đảo, phồn thịnh.

  1. Trừ tâm kiêu mạn cho đệ tử Ưu-Ba-Cúc-Đa:

Khi tuổi đã cao, tự thấy cơ duyên hoằng hóa đã hết, Tổ Thương-Na-Hòa-Tu trao truyền tâm ấn kế thừa tổ vị cho tôn giả Ưu-Ba-Cúc-Đa, rồi vào núi Bạch Tượng chuyên tâm thiền định chuẩn bị viên tịch.

Nhưng được biết đệ tử là Ưu-Ba-Cúc-Đa lười biếng, lại có tâm kiêu mạn, cống cao, xét có hại cho chúng đệ tử và Phật pháp nên Tổ xuống núi độ cho Ưu-Ba-Cúc-Đa sửa đổi.

III. Tổ Thương-Na-Hòa-Tu viên tịch và kết luận:

Sau khi dạy chúng xong, Tổ trở về núi Bạch Tượng nước Kế-Tân, kiết già an nhiên thị tịch.

Bài III-2 TỔ ƯU-BA-CÚC-ĐA

(UPAGUPTA)

(Cuối thế kỷ thứ nhất sau Phật Niết bàn)

-Thích Giác Nghiêm-

Từ trước thời Đức Phật trở về sau, đất nước Ấn Độ phân chia làm nhiều giai cấp; tư tưởng, tôn giáo vô cùng phức tạp. Đức Phật muốn xã hội không còn phân biệt giai cấp và đối với nhau bình đẳng thân thiện, tư tưởng tôn giáo ổn định, xây dựng cuộc sống tốt đẹp, phúc lạc, an tịnh và đi đến giác ngộ giải thoát.

Sau khi chứng quả thành đạo, thiết lập Giáo hội, Đức Phật thâu nhận tất cả mọi hạng người, không phân biệt giai cấp, không phân biệt đạo sĩ, quan quyền, thứ dân, kể cả người thuộc giai cấp Thủ-Đà-La – giai cấp nô lệ.

Sau Đức Phật Niết bàn, trong lịch sử truyền thừa của Thiền Tông Ấn Hoa, một vị trong giai cấp Thủ-Đà-La là Tôn giả Ưu-Ba-Cúc-Đa được chỉ định làm vị Tổ thứ tư nối tiếp sự nghiệp lưu truyền chánh pháp.

 

I- Quê quán, dòng họ:

Vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất, sau khi Phật nhập Niết-bàn, Ưu-Ba-Cúc-Đa (Upagupta) ra đời tại nước Sát-Lợi của Ấn Độ. Thân phụ là Thiện Ý thuộc dòng Thủ-Đà-La. Trước ngày Ưu-Ba-Cúc-Đa ra đời, ông Thiện Ý nằm mộng thấy mặt trời xuất hiện trong nhà. Bởi vậy, ông Thiện Ý tin là người con sắp ra đời, chắc chắn được rạng rỡ như mặt trời vàng. Thuở bé, Ưu-Ba-Cúc-Đa có tướng mạo tuấn tú, khôi ngô, tánh tình thuần hậu, trí tuệ rất minh mẫn. Dù còn ít tuổi cậu bé đã tỏ ra rất khéo léo trong việc xử sự, giao tiếp, hiểu nhanh khi nghe bất cứ một vấn đề nào.

II- Đạo nghiệp của Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa:

  1. Học phép buộc tâm:

Trên đường hoằng hóa, Tổ Thương-Na-Hòa-Tu nhiều lần đi qua nước Sát-Lợi và mỗi lần đều có ghé nói pháp giáo hóa cho gia đình ông Thiện Ý. Ưu-Ba-Cúc-Đa là con thứ ba trong gia đình có 3 người con; Tổ thấy cậu bé này mặt mũi khôi ngô, tính nết khéo léo, chững chạc, cậu luôn tỏ ra kính mến pháp sư, thường tìm cách lân la hỏi chuyện, Tổ nhận thấy cậu thích tu và tu được.

Năm 12 tuổi, Tổ bày cậu bé chơi trò gọi là “phép buộc niệm” để sẵn hai mớ sỏi trắng và đen, lúc khởi niệm tốt, bỏ vào hũ một viên sỏi trắng; lúc khởi niệm xấu bỏ vào hũ một viên sỏi đen. Cuối ngày đem ra đếm, nếu sỏi đen nhiều thì cố gắng loại trừ tâm xấu, phát triển tâm tốt. Kết quả sau 7 ngày chỉ có sỏi trắng.

 

 

  1. Xuất gia và được truyền tâm ấn:

Năm 17 tuổi, Ưu-Ba-Cúc-Đa xin được xuất gia và Tổ đã cho phép và được Tổ giao nhiệm vụ làm thị giả. Năm 20 tuổi thọ Cụ túc giới. Vì tuổi già sức yếu, nhận thấy cơ duyên hoằng hóa đã mãn, Tổ Thương-Na-Hòa-Tu đem pháp nhãn tạng phó chúc cho tôn giả Ưu-Ba-Cúc-Đa kế thừa làm vị Tổ thứ tư của Thiền Tông Ấn Hoa.

  1. Giáo hóa kỹ nữ Bà-Tu-Đạt:

Ngay thời còn nhỏ, mới 12 tuổi giúp cha mẹ buôn bán, với lòng nhân từ, rộng rãi khoáng đạt, nên bán hoa chỉ thu lời ít mà thôi, lại bố thí nhiều, nên nhiều khách mến mộ. Đến năm 17 tuổi, nhưng đối với xứ Ấn Độ lúc bấy giờ thì Ưu-Ba-Cúc-Đa đã là một thanh niên vạm vỡ, khỏe mạnh, tuấn tú; thời kỳ này sắp sửa xuất gia, có một khách hàng quen thuộc tên là Bà-Tu-Đạt là một kỹ nữ lộng lẫy, nhiều lần mời Ưu-Ba-Cúc-Đa đến nhà nhưng anh chàng từ chối.

Sau khi Ưu-Ba-Cúc-Đa xuất gia, nàng Bà-Tu-Đạt bị hoạn nạn, bị chặt hết tay chân, cắt tai, mắt, mũi, thành một người tàn phế xấu xí.

Nghe tin, Ưu-Ba-Cúc-Đa liền đến thăm, giảng pháp độ cho nàng giác ngộ, tâm được an, chứng được pháp nhãn thanh tịnh, nhờ đó tu hành, sau khi chết được sanh lên cõi trời.

  1. Vua ma Ba Tuần quy phục:

Ở tại nước Ma-Kiệt-Đà và trên đường du hóa các xứ, Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa lập đạo tràng, giảng pháp, có nhiều người đến nghe bừng ngộ chân tâm, chứng được đạo quả, mỗi khi thuyết pháp mọi nơi chuyển động, ảnh hưởng cung ma, vua ma Ba Tuần lo ngại ánh sáng Phật pháp lan tràn, bè phái của ma sẽ bị tàn lụi. Bởi vậy, vua ma Ba Tuần đến nhiễu loạn người nghe pháp. Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa dùng thần lực cải hóa vua ma, cuối cùng vua ma xin quy y Tam bảo.

  1. Tổ độ vua A Dục (A Nhữ Ca):

Vua A-Dục dòng dõi vua A-Xà-Thế, khi còn là thái tử võ nghệ đã xuất chúng, oai dũng hơn người, được sai đi chinh phục các nước. Sau khi vua cha băng hà, lên nối ngôi thì lại trị dân một cách bạo tàn, vô đạo, gian ác, nên người ta gọi ông là “Hắc Dục vương”, hay là “Bạo ác Dục vương”. Sau khi đã hướng về Tam bảo, ông bỏ hẳn các điều dữ, làm việc lành, phát tâm từ bi, trở thành một vị minh quân được dân chúng ca tụng, bây giờ gọi ông là “Đạt-ma A-Dục vương” (tức ông vua hiền lương).

  1. Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa tùy bệnh cho thuốc:

Tùy theo tánh tình, hoàn cảnh và căn cơ của mỗi người mà Tổ chỉ dẫn pháp tu để đối trị. Nhờ vậy mà khắc phục được cố tật và tu hành đạt được kết quả.

  1. Hoằng pháp ở thành Hoa Thị:

Thời vua A-Dục thì thủ đô đặt tại thành Hoa Thị, Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa ở vùng núi Ưu-Đà. Vua A-Dục hiểu Phật pháp, quy y Tam bảo và muốn trong triều cũng như dân chúng đều được nghe pháp của Phật mà tu dưỡng thân tâm, nên thỉnh Tổ cũng quý chư Tăng về thành giảng pháp; cũng nhờ Tổ mà nhà vua đã xây dựng các tháp thờ xá lợi Phật, xây dựng nhiều chùa, chôn nhiều trụ đá ở các nơi kỷ niệm chứng tích của Đức Phật.

Kể từ ngày được nhà vua mời vào thành Hoa thị giảng pháp, mỗi khi giáo hóa được một người tỏ ngộ Phật pháp, Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa để vào thất đá một thẻ tre dài 4 tấc. Đó là một phương pháp thống kê quy y. Thất đã được xây dựng bề dài 18 thước tay, ngang 12 thước tay, thời gian giáo hóa không bao lâu mà thẻ tre đầy ắp thất đá.

III- Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa Niết-bàn:

Thấy cơ duyên đã mãn, tuổi già sức yếu, Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa trao truyền tâm ấn phó chúc cho tôn giả Đề-Đa-Ca kế thừa Tổ vị, thành Tổ thứ 5 của Thiền Tông Ấn Hoa. Sau đó, Ngài ngồi kiết già an nhiên thị tịch.

  1. Nhận xét và kết luận:

Ngày xưa người ta thường nói đến các vị tiên, vị trời xuất hiện, có lẽ ngày nay con người tội lỗi quá, không khí ô nhiễm quá, các vị lánh xa con người chăng? Người tu cũng vậy, thời nay người tu khó chứng đắc là do con người bị màn vô minh dày đặc của tham, sân, si ô nhiễm, che lấp, bao bọc, làm cho định lực người tu không cao, khả năng phi thường sẵn có trong con người chưa được khai mở, nên chuyện thần thông phép lạ giống như chuyện mơ hồ. Về đạo nghiệp, ngoài việc cảm hóa kỹ nữ, làm cho vua ma Ba Tuần quy phục, hoằng pháp, Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa có phép buộc niệm và phép thống kê thẻ quy y thành quả hành đạo, đáng cho chúng ta áp dụng vào thực tế cuộc sống trong xã hội ngày nay.

Bài III-3 VÔ NGÃ

-Thích ThôngHuệ-

­

Có thể nói, Phật giáo là một tôn giáo độc nhất trong lịch sử nhân loại đã phủ nhận sự hiện hữu của một cái Ngã - linh hồn hay cái tôi - Phật thuyết minh vô ngã bằng thực chứng của chính Ngài. Kết quả đã đẩy lùi ý niệm sai lầm về Hữu ngã đang thống trị nơi các luồng tư tưởng, triết học và tôn giáo đương thời.

Khi thuyết này vừa khởi xướng thì các nhà lãnh đạo tư tưởng có sự phản ứng mạnh, vì rằng đã làm chấn động và đi ngược lại với truyền thống cố hữu. Nhưng bất chấp mọi cản trở, ánh sáng của duyên sinh vô ngã đã từng bước đi vào lòng người vì tính trong sáng và như thực bản lai của nó. Nhìn chung trong toàn bộ lời dạy của Đức Phật đối với hoàn cảnh lịch sử mà Ngài xuất hiện, quả thật Ngài là một nhà cách mạng văn hóa tư tưởng vĩ đại.

Rải rác đó đây trong các Kinh A-hàm cho biết, có cả 62 loại kiến chấp thịnh hành và quảng bá, làm cho người đương thời hoang mang không biết chỗ quy hướng. Trong 62 phân loại trên, tựu trung có hai loại kiến chấp cơ bản đó là Đoạn kiến và Thường kiến. Đoạn kiến cho rằng chết là kết thúc và tiêu mất vào hư không, sau khi chết là tuyệt diệt. Thường kiến thì cố tình xây dựng trên một cái Ngã (linh hồn) vĩnh viễn đời đời không có sự thay đổi, trước sau như một, thường tại bất biến. Với Thánh trí tự giác, Đức Phật bác bỏ hai luận điểm trên, và cho rằng đều rơi vào cực đoan thiên kiến. Chấp đoạn, chấp thường đều là biểu hiện của ngã tướng. Cái ý tưởng “tôi sẽ hiện hữu” là con đẻ của ngã tướng. Cái ý tưởng “tôi không hiện hữu” là con đẻ của ngã tướng, cho đến ý tưởng “tôi thành, tôi đạt, tôi đắc, tôi không còn, tôi tiêu mất...” cũng vẫn còn chạy quanh cái trục ngã tướng. Chấp ngã là nguồn cội của mọi khổ đau, khi nào ý thức chấp ngã còn họat động trong đời sống nội tâm, khi ấy sự khổ vẫn còn đeo đuổi chúng ta qua các kiếp sống. Phật nói vô ngã nhằm phát sinh chánh kiến, khi chánh kiến có mặt thì mọi khổ đau mới đẩy lùi.

Nếu thật là Ngã phải đủ ba yếu tố: Chủ tể, bất biến và đồng nhất. Ai cũng muốn thân thể đừng bệnh hoạn, già nua và chết chóc, ước muốn ấy không thành tức là thân này không có chủ tể. Ai cũng muốn trẻ mãi không già, nhưng trong tự thân cứ thay đổi biến hóa thường xuyên, thế là thân này không được bất biến. Thân này nhờ vay mượn các duyên giả hợp mà thành, thế là thân này không mang tính đồng nhất. Như vậy, thân này không có chủ tể, bất biến và đồng nhất nên không có Ngã, vì nhầm lẫn có một cái Ngã nên gọi là chúng sanh. Cái ảo tưởng về Ngã không còn thì gọi là Thánh, Bồ Tát, Phật. Chính cái tư duy hữu ngã mà con người trở thành tạo vật khổ đau và đóng bít con đường đi đến Niết bàn.

Chính vô minh và dục vọng xây dựng nên cái Ngã và cũng do ý tưởng sai lầm này mà vô minh và dục vọng phát sinh. Cho đến mọi tranh chấp giữa cá nhân và chiến tranh giữa các dân tộc cũng đều có gốc rễ từ ý tưởng sai lầm về Ngã. Cái ngã cá nhân, cái ngã gia đình, cái ngã xã hội thực ra cũng là một sai lầm. Phật nói vô ngã giúp chúng sanh thoát khổ, và vì vậy mà Ngài được tôn xưng là đấng cứu khổ. Sự chấp ngã đi theo chúng sanh qua các kiếp sống như hình với bóng. Vì muốn chúng sanh hết khổ mà Phật quyền nói vô ngã, cũng vì thế đạo Phật mang danh Ngài là đạo vô ngã. Lý thuyết này là kết quả tất nhiên do khám phá Ngũ uẩn và 12 Nhơn duyên vậy.

Không có một sự vật nào hiện hữu mà không do duyên sinh, vì duyên sinh nên chỉ tìm thấy sự tương thuộc lẫn nhau, nương tựa nhau mà tồn tại. Tất cả pháp chỉ có thể hiện hữu trong tương đối, giới hạn và phụ thuộc lẫn nhau. Muôn vật đủ duyên thì hiện, không đủ duyên thì ẩn tàng, trong đó không có sự mất hẳn (đoạn diệt) cũng không có yếu tố cố định (thường hằng). Duyên sinh vô ngã được coi là nguyên lý bản chất của đạo Phật, và cũng là nền tảng đạo đức cá nhân và xã hội. khi chưa quán thông vô ngã thì mọi việc làm để củng cố cái tôi ích kỷ, cũng vì thế mà trở thành hời hợt và không một chút thâm tình nào phổ hiện vào cuộc đời.

Duyên sinh là chỉ cho một hợp thể gồm nhiều yếu tố nương tựa nhau, quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau mà tồn tại. Không có một sự vật nào hiện hữu một cách độc lập mà không liên hệ đến các sự vật khác, nên vốn “Không”, nhưng không có nghĩa là không ngoa, mà không có tánh đồng nhất, không có tánh quyết định.

Trong Trung Luận thuộc phẩm Tứ Đế, Bồ Tát Long Thọ nói:

“Chưa từng có một pháp, không từ nhân duyên sanh

Thế nên tất cả pháp, thảy đều là không vậy”.

(Vị tằng hữu nhất pháp, bất tùng nhân duyên sanh

Thị cố nhất thiết pháp, vô bất thị không dã).

Các pháp do duyên sanh nên vô tánh, vô tánh vì duyên sinh. Đứng về phương diện duyên sinh thì chỉ là hiện tượng hữu sinh hữu diệt và phụ thuộc tồn tại, nhưng nói về phương diện vô ngã thì chỉ cho kết quả do thắp sáng mọi hiện hữu đều là duyên sinh, có thể nói vô ngã là bản thể của tất cả mọi hiện tượng (vật lý, sinh lý và tâm lý).

Không thể có một bông hoa tồn tại mà không cần đến ánh sáng mặt trời, không khí, đất nước, phân bón... vậy nên sự hiện hữu của bông hoa là sự hiện hữu của vũ trụ. Thân năm uẩn cấu thành một chúng sanh này, tất cả pháp cùng một cộng luật. Tất cả pháp tuy có thiên hình vạn trạng nhưng đều nằm trong cái luật chung đó, và đó là nghĩa bình đẳng của tất cả pháp. Có pháp nào không là duyên sinh, mà đã là duyên sinh thì toàn thể làvô ngã. Không thể xa rời các hiện tượng duyên sinh mà thấy được cái lý pháp thường hằng. Phật dạy:

“Ai thấy được duyên sinh là thấy được pháp.

Ai thấy được pháp là thấy được duyên sinh”.

Mãi cho đến thời hiện đại này, thuyết duyên sinh Vô ngã vẫn tồn tại mà không bị lỗi thời, ngược lại tính thuyết phục của nó đã cuốn hút và gây sức chú ý đối với các nhà vật lý học hiện đại một cách hấp dẫn. Về mặt khoa học, duyên sinh vô ngã soi sáng bản chất như thực của mọi hiện hữu.

Chư pháp tùng duyên sinh, diệc tùng nhân duyên diệtlà thực tại mang tính phổ biến, nó chi phối tất cả mọi hữu thể tồn tại. Nhờ chuyển động liên tục và giả hợp mà các pháp hiện hữu. Các pháp không thể tồn tại một cách độc lập, mà tồn tại nhờ phụ thuộc lẫn nhau.

Cội gốc đau khổ không phải là năm uẩn mà là “chấp thủ” vào năm uẩn, “khát ái” với năm uẩn, “vô minh” đối với năm uẩn. Hễ có chấp ngã là còn tạo nghiệp, còn tạo nghiệp là còn thọ khổ, cho nên gốc của khổ là nằm ở chỗ chấp ngã vậy. Đạo Phật được mệnh danh là đạo phá chấp, là đạo vô ngã cũng từ ý đó. Đây là những lời dạy của bậc Đạo sư về những đạo lý này:

“Sắc, này các Tỳ kheo, là vô ngã, quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại, vị đa văn Thánh đệ tử đối với sắc quá khứ không tiếc nuối, đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt”.

“Thọ là vô ngã... tưởng là vô ngã... hành là vô ngã... thức là vô ngã...”

(Tương Ưng 3 - Ba thời là Vô ngã. 24)

Và đây là những lời dạy tiếp theo ý này:

“Sắc, này các Tỳ kheo, là Vô ngã. Cái gì là nhân, cái gì là duyên do sắc sanh khởi, cái ấy cũng Vô ngã. Sắc đã được cái Vô ngã làm cho sanh khởi thì từ đâu là ngã được...”

“Thọ là Vô ngã... tưởng là Vô ngã... hành là Vô ngã... thức là Vô ngã...”

(Tương Ưng 3 - Ba thời là Vô ngã. 28)

Cái bi kịch của kiếp người không do một định mệnh khắc khe nào, không do một đấng sáng thế nào áp đặt mà chính do con người tự đày đọa mình trong vòng vô minh của ngã chấp. Và đây là minh chứng qua lời bậc Đạo sư dạy:

“Ví như, này các Tỳ kheo, có con chó bị dây thừng trói chặt vào một cây cột, hay cột trụ vững chắc, nó chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột, hay cây cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỳ kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy các bậc Thánh... không thấy các bậc chân nhân... quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức như là tự ngã... nó chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vì rằng nó chạy vòng theo, nên nó không giải thoát khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không giải thoát khỏi sanh, già, sầu, bi, khổ, ưu não. Ta tuyên bố: Không giải thoát khổ đau”.

(Tương Ưng 3 - Dây thừng, 178)

Duyên sinh Vô ngã thuộc yếu tố không gian, nói lên sự giả hợp Vô ngã của tất cả pháp. Ấy là cái thấy của Phật ở trong thiền định, chứ không phải cái biết thuộc tư duy hữu ngã của phàm phu, vốn đầy ắp ngã tính. Cái ánh giác phát sinh sau 49 ngày miệt mài thiền định nói lên hùng lực rất cần phải có trên con đường tầm cầu sự giải thoát tối thượng. Không thể đem kiến thức học hiểu hời hợt bằng lối tư duy phân biệt của trí năng mà có thể quán triệt được vô ngã. Trong một đoạn Kinh, Phật quở ngài A Nan, đủ chứng tỏ chỗ thậm thâm của đạo lý này:

“Này A Nan! Đừng nói thế, đừng nói thế! Giáo lý duyên khởi này là sâu xa và rất sâu xa. Chính vì không hiểu rõ, không thâm nhập giáo lý này mà nhân loại trở nên như một cuộn chỉ rối rắm, như một ổ kén, rồi như cỏ babaja, không thể thoát ly khỏi khổ sứ, ác thú, địa ngục và sanh tử”.

Vì chấp có một cái Ngã (linh hồn) đã ăn sâu vào tiềm thức, nên vào thời đại của Phật, những người nghe đến vô ngã liền đâm kinh hoàng khiếp sợ. Phật dạy:

“Hỡi các thầy Tỳ kheo, ý tưởng rằng: Ta có thể không còn tồn tại nữa (vô ngã), không còn gì nữa làm cho những người ngu lo sợ”.

Thế mới biết vào thời Phật, các luồng tư tưởng triết học và tôn giáo đương thời xây dựng nên cái trục “Hữu ngã” đã ăn sâu vào lòng người biết đến ngần nào!

Thực tại là cái gì vừa biểu hiện vừa ẩn tàng. Biểu hiện đó là duyên sinh, ẩn tàng đó là vô ngã; biểu hiện đó là sự hữu, ẩn tàng đó là sự vô; biểu hiện đó là sự sống, ẩn tàng đó là sự chết. Nếu chỉ nhận một mặt này mà quên mất mặt kia của thực tại, đó là thiên kiến. Người dung thông hai mặt đều cùng thể bình đẳng, bất khả phân ly (như sóng và nước).

Cái sai lầm căn bản của khoa học hiện đại là phân ranh thực tại thành những đối thể: Năng và sở, chủ và khách, trong và ngoài, người biết và đối tượng biết, người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu. Tách con người ra những hiện thực thiên nhiên là một minh chứng. Vì thấy con người khác với thiên nhiên nên mới dùng khoa học vạn năng chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên chiều theo tánh dục của con người để thỏa mãn lòng tham vọng vô bờ bến. Cái kết quả tất nhiên là thiên nhiên nổi loạn như đã chứng kiến trong thập niên này. Thực ra thân năm uẩn cũng là hiện tượng thiên nhiên như tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên khác. Con người và thiên nhiên là một, là nhất thể bình đẳng. Hãy trân quý thiên nhiên như trân qúy bản thân mình, đó là lời kêu gọi tha thiết của nhà đạo học.

Những lời Phật dạy (pháp Phật) mang tính tùy duyên mà truyền đạt nên chỉ phương tiện nhất thời, vốn không có thật pháp có thể nương tựa. Tự tính vỗn rỗng rang như hư không, vượt ngoài mọi đối đãi nhị biên, tùy duyên mà ứng hiện. Thế nên, Kinh Duy Ma Cật phẩm “Nhập bất nhị pháp môn” thứ 9 - Bồ Tát Phổ Thủ nói:

“Ngã, vô ngã là hai. Cái ngã còn không thể được, thì làm sao có cái vô ngã? Người nào thấy được thật tánh của ngã thì không còn khởi thấy hai. Đó là vào Pháp môn không hai”.

(Ngã, vô ngã vi nhị. Ngã thượng bất khả đắc, phi ngã hà khả đắc? Kiến ngã thật tánh giả, bất phục khởi nhị. Thị vi nhập bất nhị pháp môn).

 

Bài III-4 TAM THÂN

-Thích Giác Nghiêm-

A- Mở đề:

Chúng ta được biết, theo tư tưởng của Phật giáo thì chư Phật đều có đủ ba thân, đó là:

  1. Pháp thân.
  2. Báo thân.
  3. Hóa thân (hay ứng thân).

 

B- Chánh đề:

I- Định nghĩa:

  1. Pháp thân: Đó là thân chân thật, thường hằng, không biến đổi, không bị giới hạn bởi thời gian, không thể nắm bắt được bằng tri thức và khái niệm, không bị sinh lão bệnh tử chi phối. Pháp thân cũng là chơn như, là pháp tính, là bản thể, là thân tự tính.

Theo truyền sử thì sau khi chứng đắc đạo quả và trước khi rời gốc cây Bồ đề, Đức Thích Ca Mâu Ni, với chính pháp thân, Ngài đã tuyên thuyết kinh Hoa Nghiêm cho đối tượng nghe là chư vị đại Bồ Tát.

  1. Báo thân: Tức là hiện thân chúng sanh của chư Phật. Thân chúng sanh là thân Tứ đại, Ngũ uẩn tạo thành, giả hợp, vô thường, bị sinh tử chi phối, bị đói khát nóng lạnh hành hạ như bao chúng sanh khác. Đó là nhục thân của Thích Ca Mâu Ni từ khi nhập thai và sinh ra là Thái tử Sĩ-Đạt-Ta ở thành Ca-Tỳ-La-Vệ, có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp; lớn lên lập gia đình, xuất gia tu khổ hạnh rồi thành đạo, thuyết pháp độ sanh và cuối cùng nhập diệt tại thành Câu-Thi-Na. Có khi người ta còn gọi báo thân Phật là thân Thọ dụng.
  2. Hóa thân: Cũng còn gọi là ứng thân, là thân hóa hiện của Đức Phật. Do tâm nguyện cứu độ chúng sanh một cách bình đẳng và bao la, chư Phật thường tùy duyên và ứng hiện làm nhiều loại thân khác nhau của các loài chúng sanh khác nhau để dễ dàng hóa độ.

 

II- Tìm hiểu và ứng dụng để tu:

  1. Quan niệm thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy:
  2. Pháp thân: Chỉ cho giáo pháp của Phật, tự giác ngộ, ngũ phần pháp thân: Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến nhờ đó mà hiện thành pháp thân.
  3. Báo thân: Thân Phước và Trí do tu tập các pháp Ba-La-Mật mà thành như 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp trí tuệ như: Nhứt thiết chủng trí, Thập lực, Tứ vô úy (vô sở úy), đại bi. Nhờ ba thân này mà Ngài cứu độ chúng sanh.
  4. Hóa thân: Chỉ cho các thân trong thời gian tu tập Lục độ Ba-La-Mật, sinh thân Thái tử, thân thể có sanh, già, bệnh, chết.

 

 

  1. Quan niệm thời kỳ Phật giáo Phát triển:
  2. Pháp thân: Chỉ cho các pháp giới, biểu trưng của Đại Nhựt Như Lai, bao gồm tất cả các Phật, cũng gọi là Biến chiếu Như Lai, tức là hào quang biến chiếu khắp cả, chỉ cho thể của Phật bao trùm tất cả các phương Phật.
  3. Báo thân: Thân tướng thù thắng thần thông trí tuệ của Phật, biểu trưng là Tỳ-Lô-Giá-Na, có nghĩa là thanh tịnh, viên mãn.
  4. Hóa thân: Mỗi người tin Phật, học Phật, thể hiện cuộc sống theo Phật, thì Phật hiện hữu trong suy tư, trong việc làm. Vì vậy bao nhiêu người hướng tâm về Ngài, thì có bấy nhiêu Phật, dẫn đến hình thành tư tưởng “Thiên bá ức hóa Phật” của Phật giáo Đại thừa.

Theo tinh thần Đại thừa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là ứng thân ở Ta-bà để khai thị cho chúng sanh con đường vào Phật tri kiến. Sau khi ứng thân Phật Niết bàn, những người mang hình thức giống Phật, tu theo Phật và truyền bá chánh pháp tiêu biểu cho Phật tại trần gian là Hóa Phật.

 

  1. Ứng dụng để tu:

Đức Phật thành đạo quả do một quá trình lâu dài nhiều kiếp tu tập. Tuy Ngài mang thân tứ đại ngũ uẩn như mọi người, nhưng Ngài biết dùng sanh thân để tạo thành quả vị qua quá trình tu tập Ba-La-Mật, tu Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến để tạo thành năm thứ công đức hiệp thành Pháp thân của Phật.

Báo thân Phật không phải là một thân lạ lùng ở nơi xa xôi nào, nhưng trong sanh thân Ngài được sự cấu tạo từ sự kết hợp trí tuệ và những việc làm thánh thiện, lợi ích đối với đời, với nhân cách toàn thiện, trí tuệ toàn bích, đạo đức toàn mỹ, Đức Phật đã thành công trong việc giáo hóa.

Chúng ta cũng có pháp thân, nhưng vì không có báo thân viên mãn, tức là không đủ trí tuệ, đạo đức nên pháp thân không họat động được, Kinh gọi là “Như Lai tại triền”, ví như ngọc có trong quặng mỏ mà không biết khai thác thì không thể dùng được.

Vậy bây giờ chúng ta phải dứt trừ phiền não nghiệp chướng bằng cách tu Lục độ vạn hạnh, ngũ phần pháp thân để phát triển tinh thần, tăng trưởng trí tuệ và đạo đức bằng hạnh Bồ Tát và tâm đại bi, vì bên trong hàm chứa cốt cách của Phật, tất yếu bên ngoài lần lần cũng phải hiện tướng hảo trang nghiêm. Tích lũy dần công đức mặc dù sống giữa lòng cuộc đời, được coi như là Pháp thân của Phật và đó cũng là một phần trong tổng thân Phật Thích Ca, khi Ngài tu tròn hạnh Bồ Tát và tâm đại bi thì sẽ đạt đến bằng sự tu chứng thật sự, đạt quả vị Phật, tức Như Lai thân.

 

D- Kết luận:

Nói chung, căn cứ vào Đức Phật lịch sử và Đức Phật huyền sử mà hình thành quan niệm về ba thân:

- Pháp thân: Là thân siêu việt, chỉ cho pháp tánh mà Ngài chứng đắc.

- Báo thân: Là thân học tập, tìm hiểu và thực hành giáo pháp, phát triển trí huệ để nhận thức đúng đắn về sự khổ và chấm dứt khổ đau.

- Hóa thân: Tùy theo hoàn cảnh, thời gian, điều kiện của mình mà sống theo, tu tập, góp phần xây dựng, truyền bá giáo pháp cho chúng sanh.

Bài III-5 THIỂU DỤC VÀ TRI TÚC

-Thích Trừng Thiền-

 

  1. Mở Đề:

Ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) là những thứ mà người đời rất cần trong cuộc sống, họ không thể sống thiếu những thứ ấy, nhưng càng say đắm bao nhiêu thì con người càng bị phiền lụy bấy nhiêu. Bởi ngũ dục chính là con dao hai lưỡi nếu chúng ta không biết ứng dụng, không biết cách làm chủ thì sẽ bị chúng nhấn chìm trong bể khổ trầm luân. Có biết bao nhiêu người đã bị ngũ dục sai sử, điều khiển, và vì chúng mà con người đánh chém lẫn nhau, không kể bà con thân tộc, nước láng giềng, để rồi phải ngã quỵ, chết chìm trong đau đớn trằn trọc. Vậy mà chúng ta không hay không biết, lại còn đam mê, cưng chiều nó, mà thật chúng ta không biết mình là ai nữa.

Trước những thực trạng đau lòng ấy, Đức Phật - vị Đại giác ngộ với lòng bi mẫn vị tha - đã dìu dắt chúng ta vượt qua khổ ách thống trị của dục lạc, bằng cách đưa chúng ta đến con đường sáng, con đường “Thiểu dục tri túc”. Nếu chúng ta biết nghe lời Ngài, chịu đặt chân đi trên con đường ấy thì chắc chắn sẽ vượt thoát mọi ràng buộc khổ đau và tạo thành một nhân cách sống có giá trị, có phẩm hạnh đạo đức của một con người.

B- Chánh đề:

I- Định nghĩa: - Thiểu dục là ít muốn

- Tri túc là biết đủ.

Trong cuộc sống dù đã đủ mọi thứ, con người vẫn thấy thiếu, không bằng lòng những thứ mình đang có. Chúng ta muốn và muốn có nhiều hơn, chúng ta không bao giờ dừng, biết đủ. Do vậy, người xưa có câu: “Được voi đòi tiên” là vậy. Nhưng xét cho cùng, ta thấy càng chạy theo đời sống vật dụng bao nhiêu thì càng chồng chất hệ lụy, phiền não bấy nhiêu. Trái lại, nếu chúng ta có được chút ít tuệ giác, biết tỉnh thức làm chủ lấy mình thì sẽ cảm nhận được sự an lạc và hạnh phúc.

 

II- Đối tượng của lòng tham:

Đối tượng của lòng tham là ngũ dục lạc thế gian. Đó là:

  1. Tài : Tiền của
  2. Sắc : Sắc đẹp
  3. Danh : Danh vọng, địa vị
  4. Thực : Ăn ngon
  5. Thùy : Ngủ kỷ.

Hay còn gọi là:

  1. Sắc : Thích sắc đẹp
  2. Thanh : Thích nghe tiếng hay.
  3. Hương : Thích hương thơm.
  4. Vị : Thích mùi vị ngon ngọt.
  5. Xúc : Thích giao thoa với những gì mềm, láng…; những gì có cảm giác làm cho tâm hồn khoan khoái đam mê.

Đây là những thứ làm mê hoặc lòng người và khiến mọi người phải bi lụy, khổ ải luân hồi vì chúng.

 

III- Giá trị nhân cách, đạo đức và sự tác hại của lòng tham nhiễm, đa cầu:

Ngũ dục là những thứ con người rất cần trong cuộc sống, nhưng nó không phải là tất cả, nó chỉ là những thứ phương tiện sống, chứ thực cái sống gọi là có giá trị của con người là nhân phẩm, đạo đức, là những gì thanh cao, hướng thượng. Đó mới chính là con đường đích thực, và đó chính là những con người đích thực đang sống và biết sống.

Thử hỏi, nếu chúng ta có đầy đủ của cải, danh vọng và sắc đẹp nhưng không có đạo đức, không có nhân phẩm; những việc làm của chúng ta không được chân chánh, chỉ toàn là lường gạt, xảo trá, mưu mô thì mọi người sẽ đánh giá con người chúng ta như thế nào và sẽ nhìn ta với cặp mắt ra sao! Hơn nữa, khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay, mang theo được cái gì? Những tài, những sắc, những danh vọng ấy chúng ta có mang theo được không? Đức Phật dạy rằng: “Con người sau khi chết chỉ mang theo một thứ, đó là nghiệp lực”. Vậy, sao khi sống chúng ta không lo gom góp phước đức, không làm những việc thiện, việc tốt, những việc hữu ích để sau này chúng ta mang theo làm tư lương cho đời sau này của chúng ta? Làm tư lương cho một đời sống an lạc và hạnh phúc, mà chỉ lo gom góp những thứ không đáng, chất chứa cho nhiều, tạo tác bao ác nghiệp để rồi phải luân hồi sanh tử, chịu khổ trong tam đồ ác đạo. Càng chạy theo ngũ dục bao nhiêu thì nhân cách và đạo đức càng tệ hại bấy nhiêu!

Nhìn vào cuộc sống thực tế hiện nay, nhân loại đang theo đà phát triển của vật chất, và lún sâu vào ngũ dục lạc. Bằng mọi cách, họ cố đoạt được những gì tâm họ tham cầu, đấu tranh, thù hận, chém giết, vong thân… Thế lực của vật chất, sức mạnh của đồng tiền đã cuốn hút quyện sâu con người vào nơi bế tắc, biến con người trở thành nô lệ trung thành, tuân thủ nghiêm chỉnh cho sự đòi hỏi của thân tâm hoen ố.

 

IV- Thiểu dục tri túc – đời sống chơn hạnh phúc:

Kinh Di Giáo Đức Phật dạy: “Người cầu nhiều nên khổ não cũng nhiều. Người ít muốn không cầu, không dục vọng nên không có các họa đó. Sự ít muốn cũng phải thực tập, huống chi sự ấy còn đem lại đủ các công đức. Người ít muốn thì không dua nịnh quanh co để cầu được lòng người, cũng không bị các giác quan lôi kéo. Thực hành đức tính ít muốn thì lòng bình thản, không lo sợ, gặp cảnh ngộ nào cũng thừa thải, không bao giờ có cảm giác thiếu thốn. Có ít muốn là có Niết bàn. Đó là hạnh ít muốn”.

Lại nữa, trong Kinh Di Giáo, Đức Phật dạy :

“Các người muốn giải thoát khổ não thì hãy cứu xét sự biết đủ. Chính sự biết đủ là giàu sang, vui thú và an ổn. Biết đủ thì nằm trên đất cũng thấy vui, không biết đủ thì ở thiên đàng vẫn bất mãn. Không biết đủ thì giàu mà nghèo, biết đủ thì nghèo mà giàu. Không biết đủ thì luôn luôn bị năm thứ dục lạc lôi kéo, làm cho người biết đủ phải xót thương. Đó là hạnh biết đủ. (1)

Qua đó ta thấy Đức Phật dạy: Của cải, vật chất - nói chung là năm món dục - không đem lại hạnh phúc chơn thật mà đó chỉ là hạnh phúc trá hình, dẫn dụ chúng ta đi vào con đường phiền não khổ đau. Chỉ có thiểu dục tri túc mới đem lại hạnh phúc chơn thật trong hiện tại mà thôi.

Vậy, ai là người có tâm hướng đến con đường sáng, con đường của chân hạnh phúc, thì không thể không thực hành “Thiểu dục tri túc”.

 

C- Kết luận:

Thiểu dục tri túc là nếp sống của tinh thần tự giác. Người sống theo tinh thần ấy phải là người biết tự phản tỉnh lấy mình, không tham cầu những giả ảo vật chất trong cuộc sống, nhằm thỏa mãn những khát vọng cho riêng mình, mà quán triệt những khát vọng, thấy biết những pháp hữu vi đều là huyễn mộng, vô thường; coi mọi thứ là phương tiện sống, chứ không phải mục đích tối hậu. Như vậy, người sống theo tinh thần này phải là người sống trong “thực tại tuệ giác” luôn thăng hoa trí tuệ, thể nhập vào dòng bao la của vũ trụ, mở rộng lòng từ bi đến muôn người, muôn loài. Như vậy, mới là người biết sống “Thiểu dục tri túc” đúng với lời Đức Phật dạy:

 

“Thường dùng đức từ bi

Thanh tịnh như Phật dạy

Biết đủ và biết dừng

Sẽ vượt qua sanh tử”.

(Kinh Pháp Cú)

Bài III-6 LỤC HÒA

-Thích Tâm Tri-

 

­A. Mở đề:

Chúng sanh vì vô minh che lấp và do tập khí nhiều đời chi phối, khiến họ phần nhiều sống quá ích kỷ. Họ chỉ biết lo hạnh phúc của riêng mình, không nghĩ đến sự tương quan giữa mọi người. Do đó, xã hội mới có tranh chấp kỳ thị lẫn nhau. Đức Phật vì thương xót chúng sanh, gần nhất là các các đệ tử của Ngài cùng sống, cùng tu, cùng xây dựng một lý tưởng, cùng ở một trú xứ, cùng tôn trọng thương kính lẫn nhau nên Đức Phật dạy pháp Lục Hòa. Vậy Lục Hòa là những gì?

 

  1. Nhập đề:

I- Định nghĩa:

Lục hòa nói cho đủ là Lục hòa kính pháp, nói gọn là Lục hòa, là 6 phương pháp do Đức Phật dạy cho hàng đệ tử của Ngài nhờ đó sống với nhau trong sự thương kính hòa hợp để có sự an lạc. Sáu phép Lục hòa kính ấy là:

 

  1. Thân hòa cùng ở: Còn gọi là thân từ hòa kính hay thân hòa đồng trụ: Phép này Phật dạy chúng ta cùng sống chung trong một tổ chức, cùng tu học với nhau trong một trú xứ nên sống hòa đồng, từ ái với nhau, chia sẻ với nhau khi đau bệnh, thiếu thốn. Việc này nói là dễ nhưng thời nào, ở đâu, những người có tinh thần tu học mới biết sử dụng phép hòa kính này.

 

  1. Miệng hòa không tranh cãi: Còn gọi là khẩu từ hòa kính, hay khẩu hòa vô tránh: Ở đời người ta vẫn thường khuyên nhau: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Chúng ta là người con Phật được thừa hưởng gia tài Pháp bảo quý giá, trong đó có phép hòa kính, lẽ nào chúng ta không áp dụng trong tập thể tu học. Nó còn có ý nghĩa là chúng ta luôn luôn dùng ngôn ngữ từ ái đối xử với nhau. Chỉ có những người biết tôn trọng sự hòa kính này mới tạo sự an lạc lẫn nhau.

 

  1. Ý hòa cùng vui: Còn gọi là ý từ hòa kính, ý hòa đồng duyệt:

Người nào tâm trí thảnh thơi thì họ luôn luôn chế ngự được vọng tưởng điên đảo, không bị duyên cảnh bên ngoài chi phối, người ấy luôn luôn được an lạc và đem sự an lạc đó chia sẻ đến mọi người. Như ngọn đèn đặt ở đâu thì ở đó được tỏa sáng. Cũng vậy, người có tâm ý từ hòa ở đâu thì chúng sanh ở đó an lạc, hạnh phúc. Là đệ tử Đức Phật chúng ta luôn luôn ban rãi lòng từ bi đến cho mọi người cùng được hòa kính và an vui.

 

  1. Giới hòa cùng tu: Còn gọi là đồng giới hòa kính, hay Giới hòa đồng tu:

Tất cả mọi người nếu phát tâm thọ lãnh giới luật của Đức Phật, nhưng tùy theo tuổi tác, khả năng, giới tính và thọ các các giới khác nhau để trở thành bảy chúng đệ tử của Đức Phật. Như vậy, mỗi người khi đã thọ giới thì tự nguyện nhiếp phục ba nghiệp thân, khẩu, ý vào trong giới luật mà mình đã thọ giới và luôn luôn kính trọng giới đức người khác, khuyên nhắc nhau tu hành theo tinh thần giới luật. “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp” cho nên hàng đệ tử của Đức Phật phải kính trọng và phụng hành.

 

  1. Hiểu biết cùng chia sẻ: Còn gọi là đồng kiến hòa kính, hay kiến hòa đồng giải:

Sau khi Đức Thế Tôn thành tựu Tuệ Giác Vô Thượng, Ngài nhận thấy chúng sanh ai cũng có chủng tử Phật tánh, nên 49 năm hoằng hóa Ngài dùng đủ phương tiện để khai mở tuệ giác để họ đạt được giác ngộ.

Với tinh thần đó nếu chúng ta cùng ở cùng chia sẻ niềm an lạc và có sự hiểu biết tốt đẹp. Nếu Phật tử xuất gia hay tại gia mà cố chấp sự nhận thức hiểu biết của mình không chia sẻ sách tấn lẫn nhau thì sẽ gặp những trở ngại trên đường tu học và chứng ngộ, làm suy yếu Phật pháp.

 

  1. Có lợi cùng chia: Còn gọi là đồng lợi hòa kính, hay lợi hòa đồng quản:

Theo đạo Phật, chư Tăng cùng chung sống một trú xứ, kể cả khách Tăng, nếu có người cúng phẩm vật cho chúng Tăng thì được phân đều (hiện tiền Tăng). Nếu phẩm vật được dâng cúng dường hiện tiền Tăng mà có người có trách nhiệm đem dùng vào Phật sự khác, không phân chia đồng đều cũng là một lỗi lầm lớn. Vì lợi dưỡng cũng phân đều cho nhau từ tinh thần đến vật chất là cách xử sự cao đẹp, là cách biểu lộ lòng tương thân tương ái kính trọng lẫn nhau, cùng sống được an lạc, không bị vật chất chi phối tập thể, ở cùng môi trường tu học, như thọ Bát Quan Trai v.v...

 

II- Nguyên nhân Phật dạy Lục hòa:

Vào khoảng cuối đời hoằng hóa của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khuynh hướng định cư tập thể của chư Tăng phát triển. Khi chúng Tăng cùng sống chung đông đảo như thế không sao tránh khỏi những va chạm hàng ngày nhất là những người mới vào đạo còn mang nặng những tập khí thế gian. Nếu không có một nguyên tắc sống chung cụ thể thì Tăng chúng khó tồn tại được trong an lạc. Hơn nữa, thời bấy giờ, giáo chủ Ni-Kiền-Tử vừa từ trần, các đệ tử của ông ta nổi lên tranh chấp nhau khiến các Trưởng lão là đệ tử lớn của Đức Phật rất lo ngại. Do đó, Ngài A-Nan thỉnh cầu Đức Phật quy định một số nguyên tắc để hàng đệ tử của Ngài sống hòa hợp với nhau. Nhân dịp này Đức Phật dạy 7 pháp Diệt Tránh và 6 phép Hòa Kính.

  1. Kết luận.

Dù ở đâu, thời đại nào, hoàn cảnh nào, áp dụng 6 phép hòa kính này sẽ được tịnh lạc, an vui, hạnh phúc, dù xuất gia hay tại gia vẫn là con Phật, nên cần áp dụng thì việc tu học ngày càng tiến bộ. Nếu là Phật tử mà chúng ta không áp dụng 6 phép Lục hòa kính, thì không những chính chúng ta không có an lạc mà làm cho Phật pháp ngày càng suy đồi, không có lợi ích gì cho chúng sanh.

Vậy, áp dụng 6 phép Lục hòa kính là một nguyên tắc cần thiết để tập thể người con Phật tu học vững mạnh, mang lại mọi sự cao đẹp chung cho đạo pháp.

Bài III-7 THẬP BÁT GIỚI

-Thích Thông Huệ-

­

Thập bát giới (mười tám giới) là sự phân loại đối với những hiện tượng trong thế giới hữu hình, là quan niệm về vũ trụ và nhân sinh từ trí tuệ siêu xuất của Đức Phật. Đây cũng là pháp tu căn bản của Phật giáo, là con đường đưa đến giải thoát -Niết bàn.

Mười tám giới bao gồm sáu căn, sáu trần và sáu thức. “Giới” nghĩa là giới hạn, vì mỗi yếu tố đều có một phạm vi họat động và ảnh hưởng riêng biệt của nó. Sáu căn là Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) ở trong cơ thể con người, thuộc nhân sinh quan của Phật giáo. Sáu trần là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, những cảnh tượng bên ngoài, thuộc Vũ trụ quan của Phật giáo. Hệ thống Kinh Nguyên thủy gọi sáu căn là sáu nội xứ, sáu trần là sáu ngoại xứ, cộng lại là mười hai xứ.

Mỗi căn tiếp xúc với một trần tương ứng, sinh ra Thức: Mắt tiếp xúc với Sắc sinh Nhãn thức, khiến cho con người biết được hình dạng và màu sắc của sự vật, rồi khởi niệm phân biệt đẹp xấu to nhỏ; Tai tiếp xúc với Âm thanh sanh Nhĩ thức, phân biệt khen chê hay dỡ... Năm căn đầu (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) duyên với năm trần tương ứng (gọi là Tiền trần), phát khởi năm thức có tên Tiền ngũ thức, riêng Pháp trần không phải có hình tướng cụ thể, chỉ do những bóng dáng của tiền trần lưu ảnh trong tàng thức, khi có cơ hội trỗi dậy làm ta nhớ lại, Khi ấy căn tiếp xúc với Pháp trần, Ý thức phát sinh. Nhà Phật rất chú trọng đến tâm ý, vì đây là động cơ chính để tạo nghiệp thiện ác... “Công vi thủ, tội vi khôi”. Lập công đầu là nhờ ý thức mà ra.

Cách phân loại theo mười tám giới cho chúng ta có một nhận định đúng đắn về nhân sinh và vũ trụ. Lìa Căn - Trần - Thức, không có cái gì gọi là chúng sinh và thế giới. “Chúng” là sự tập hợp; “Sinh” là tạo ra, và phát khởi. “Chúng sinh” là vay mượn các duyên để sinh khởi và tồn tại một thân tâm. Đến cùng, thân năm uẩn của chúng ta chỉ là duyên hợp giả có, nhưng chúng ta lại mê lầm chấp nó là thật, là “Ta”. Do chấp có Ngã (ta) và Ngã Sở (của ta) nên sinh đắm luyến thân, quay cuồng theo ngũ dục, để đời đời, kiếp kiếp trôi lăn trong sinh tử. Cho đến thế giới vũ trụ vô biên, cũng không ra ngoài lý duyên sinh. “Vũ” chỉ cho không gian, “Trụ” chỉ thời gian. Không gian và thời gian thật ra chỉ là sản phẩm của vọng tưởng, do sự phân chia ước lệ của con người; không có cái gì không nhờ các duyên tụ họp mà thành. Vì vạn pháp đều do duyên hợp nên không đồng nhất và không có chủ thể, luôn luôn biến đổi nên vô thường. Vì không có chủ thể, không đồng nhất và vô thường, nên chúng là “Vô Ngã”. Đây là chân lý tuyệt đối mà chỉ có Đức Phật, bậc giác ngộ tối thượng mới thấu triệt và tuyên dương, khiến giáo lý nhà Phật như ánh sáng mặt trời soi thấu mọi bí mật ngàn đời trong tột cùng pháp giới.

Vì Căn và Trần đều không thật có, nên Thức, phát sinh từ sự giao thoa giữa Căn - Trần cũng không thật. Như vậy, sự hiện hữu của Căn - Trần - Thức là sự giả có do tâm biến hiện, còn tự tánh của chúng vốn là không.

Cái có này không thật có vì tánh nó là không, cũng không thật không vì duyên hợp giả có, cho nên gọi là Chân Không mà Diệu Hữu. Quán chiếu sâu xa điều này, chúng ta sẽ thấu triệt tinh thần “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” của Bồ Tát Quán - Thế - Âm. Soi thấy năm uẩn đều không, nghĩa là soi thấy mười tám giới cũng đều là tự tánh Không như thế nhận ra được chân không nhờ trí tuệ Bát-Nhã, chúng ta sẽ tự tại đối với mỗi biến đổi nhiễu nhương của đời sống, vẫn làm việc tích cực vì công việc và cuộc đời nhưng không đắm luyến bất cứ thứ gì, nên vượt qua tất cả mọi khổ nạn. Đây là tiền đề để giải thoát phiền não và sinh tử luân hồi.

Khi Tôn giả Phú-Lâu-Na thỉnh Phật dạy pháp yếu tu hành, Phật đã bảo: Chỉ cần sáu căn không dính mắc với sáu trần, ngay đó là giải thoát. Kinh Lăng Nghiêm mô tả lời giải đáp cho nghi vấn của ngài A-Nan, bằng lời dạy đồng thanh của mười phương chư Phật: Nguồn gốc của trầm luân sinh tử là sáu căn của ông, nguồn gốc Niết bàn giải thoát cũng là sáu căn của ông chứ không đâu khác. Ngài Điều Ngự Giác Hoàng, Sơ tổ Thiền Việt Nam Trúc Lâm Yên Tử cũng viết: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. Tiếp xúc với cảnh mà tâm không khởi niệm, đó đã là thiền, không cần hỏi thiền chi nữa.

Người đời khi mắt nhìn thấy sắc, liền khởi ý phân biệt đẹp xấu, đẹp thì thích, xấu không ưa, từ đó liên tưởng thêm nhiều chuyện khác. Vọng niệm cứ thế sinh diệt không ngừng. Người biết tu, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng... Đều nhận rõ nhưng không có ý niệm phân biệt chia chẽ, nên các căn không dính mắc với trần cảnh. Vì không dính mắc nên không tạo nghiệp, do đó thoát ly khỏi phiền não và sinh tử.

Nhiều người lầm tưởng, tu hành là phải trốn tránh thế gian, phải đè nén vọng tưởng, phải kiềm chế mọi nhu cầu của cơ thể. Thật ra, cấu tạo tâm - sinh - vật lý là cấu tạo tự nhiên của con người. Cơ thể chúng ta có những nhu cầu cần thiết để tồn tại và phát triển. Quá nuông chiều thân xác, chạy theo những thú vui trần tục mà xa rời đạo lý, chỉ biết sống theo bản năng làm một cực đoan không nên có. Nhưng quá khổ hạnh khiến thân thể hao mòn, tinh thần u mê trì trệ, là cực đoan thứ hai, cũng không hợp với đạo. Đức Phật không chủ trương bạo động, bắt đè nén thân xác hay trấn áp vọng tâm. Đối với thân, người tu khéo tùy duyên, vẫn ăn uống ngủ nghỉ, vẫn sống chan hòa cùng cuộc đời, chỉ không khởi niệm khen chê ưa ghét. Đối với tâm, người tu chỉ cần biết những tâm hành sinh diệt đều là vọng tưởng, không theo nó; vọng tưởng tự lặn là tâm được an, sống hồn nhiên như vậy, tu nhẹ nhàng như vậy mà lại âm thầm kết hợp với tự tánh.

Lại có người hiểu lầm, cho trạng thái vô tâm của nhà Thiền là hoàn toàn không còn “Tâm” gì cả, hoàn toàn vắng bặt mọi ý nghĩ, bặt luôn cả thấy nghe hiểu biết. Thật ra, tinh thần nhà Thiền là tinh thần trung đạo: không đè bẹp vọng tưởng cũng không dung túng vọng tâm. “Vô tâm” là không khởi tâm phân biệt, tâm sinh diệt, nhưng bản tâm chân thật chưa từng sinh diệt bao giờ. Ấy là chân tâm, là Phật tánh sẵn có, đầy đủ và bình đẳng ở muôn loài chúng sanh. Chúng sinh vì vô minh, cho thân-tâm-cảnh là thật có nên tiếp xúc với bên ngoài bằng cái biết có phân biệt so sánh - đó là tâm tỷ lượng, sau đó khởi thêm một số niệm khen chê - ưa ghét... càng lúc càng xa hẳn thực tại. Vì thế, tai có nghe mà không thấu, nhìn mà không thấy được sự thật của các pháp. Người biết tu hằng ngày vẫn đối duyên xúc cảnh, tất cả đều biết nhưng không khởi niệm. Đây là trạng thái hiện lượng của tâm, biết bằng trực giác không qua trung gian suy luận. Các Ngài có cái nhìn thấu suốt được thực tướng của các pháp, thấy các pháp như nó đang là, nên không xâm phạm đến bản vị của chúng. Nếu chúng ta luôn an trú tâm vào giờ phút hiện tại, không dong ruổi về quá khứ hay mơ màng đến tương lai, thì một thời điểm nào đó, các pháp sẽ vén mở sự bí mật ngàn đời và nhiệm mầu của chúng. Bởi vì, khi tâm thanh tịnh, thế giới trở thành pháp giới, Ta bà biến thành Tịnh độ.

Xét đến Tam vô lậu học (Giới-Định-Huệ), chúng ta thấy căn bản vẫn là sự tương quan giữa Căn - Trần - Thức. Giới được lập ra để cho sáu căn không dong ruổi theo sáu trần, như dây ràng buộc mũi trâu không cho ăn lúa mạ của người. Định là dứt bặt các duyên, không để tiền trần lưu ảnh phát sinh ý thức, Tuệ là quán chiếu Căn - Trần - Thức, thấu triệt được tự tánh không của tất cả các pháp; từ đó thẩm sâu vào lòng thực tại, thể nhập vào sự bình đẳng tuyệt đối giữa chúng sanh và chư Phật, giữa thế giới nhiễm ô phiền não với Tịnh độ - Niết bàn.

Mười tám giới không chỉ là pháp số trong giáo lý Phật môn, mà còn là những nhận định đúng đắn về con người và vũ trụ. Đó cũng là pháp tu, tuy đơn giản nhưng thành tựu thật phi thường. Chúng ta học và nghiên cứu lời Phật dạy, không phải để có một số vốn kiến thức suông về Phật pháp. Chúng ta phải tự áp dụng lời của Đức Phật dạy để tự hoàn thiện chính mình, để đi theo con đường Phật đã đi và đã đến đích, rồi góp phần của mình vào việc làm lợi ích cho người sau. Có như vậy, chúng ta mới làm đúng tinh thần học Phật và tu Phật.

Bài III-8 TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Thích Trừng Thiền

 

I.- Mở đề:

Tâm là nguồn năng lượng của sự sống, con người có giá trị hay không cũng xuất phát từ nơi tâm. Tâm có thể dẫn ta đến bất cứ cảnh giới nào. An vui hay đau khổ, thiên đàng hay địa ngục, Phật hay chúng sanh, tất cả đều do tâm tạo. Bởi thế con người chúng ta muốn được an vui tự tại thì trước hết hãy điều phục chính bản tâm của mình. “Tứ Vô Lượng Tâm” là pháp môn tu của bậc Thánh, vì lòng thương tưởng chúng sanh, muốn cứu vớt chúng sanh ra khỏi sông mê bể khổ mà quý Ngài hành trì pháp môn này. Con người chúng ta muốn trở thành bậc Thánh, muốn giải thoát cho chính mình thì trước hết phải cứu giúp mọi người, nghĩa là phải phát tâm rộng rãi, cao thượng, tất cả vì mọi người. Như chúng ta đã biết, “Cứu giúp mọi người chính là cứu giúp chính ta rồi vậy”. Cho nên chúng ta phải thân hành, khẩu hành, ý hành pháp môn Tứ vô lượng tâm. Pháp môn này giúp cho con người trở nên hoàn thiện và có được lối sống của bậc Thánh trong hiện tại, tạo phước đức cho mình và muôn loài.

Tứ vô lượng tâm gồm có :

- Tâm Từ vô lượng

- Tâm bi vô lượng

- Tâm hỷ vô lượng

- Tâm xả vô lượng.

 

II- Nhập đề:

Để hiểu rõ hơn, chúng ta hãy cùng nhau đi vào chi tiết từng phần một.

Trước hết chúng ta định nghĩa Tứ Vô Lượng Tâm: Tứ là bốn, vô lượng là cái tâm vô lượng, rộng lớn cùng khắp, vì lợi ích cho mọi người, mọi loài, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, nam nữ… Bốn tâm này còn gọi là bốn đức tính cao thượng bình đẳng.

Nếu chúng ta ai cũng thực hành viên mãn Tứ vô lượng tâm thì cõi đời này sẽ trở thành cảnh giới tịnh độ và tất cả chúng sanh đều được sống an vui, tự tại không còn cảnh lầm than, cảnh tai vạ và chém giết lẫn nhau.

Từ - Bi - Hỷ - Xả là bốn đức tính cao thượng ẩn chứa vô lượng vô biên công đức, cho nên là một Phật tử, là con người hướng thượng chúng ta không thể không thực hành pháp môn Tứ vô lượng tâm.

  1. Tâm Từ vô lượng:

Từ là lòng thương mến, và vì lòng thương mến mà gây tạo cái vui cho mọi người. Tâm Từ vô lượng là lòng mến thương vô cùng rộng lớn đối với toàn thể chúng sanh và gây tạo cho chúng sanh một niềm vui chơn thật. Đức Phật dạy: Tâm Từ phải được rải khắp cho tất cả chúng sanh, phải bao trùm vạn vật, phải sâu rộng và đậm đà như tình thương của mẫu từ đối với đứa con duy nhất, săn sóc bảo vệ con, dẫu cho nguy đến tính mạng cũng vui lòng (Kinh Từ Bi).

Đức Phật mượn tình thương của mẫu từ để so sánh với tình thương của người có tâm Từ rộng lớn đối với mọi người cũng vậy, chứ không phải Ngài đề cập đến lòng trìu mến, ít nhiều vị kỷ của người mẹ đối với đứa con duy nhất của mình. Tâm từ không phải là sự yêu thương thiên về xác thịt, cũng không phải là lòng luyến ái riêng với người nào. Vì tình dục và luyến ái là nguồn gốc của phiền não khổ đau. Người thực hành tâm từ phải có tâm địa của Bồ Tát, tức là phát tâm rộng lớn, bình đẳng để hướng dẫn chúng sanh đạt đến trạng thái an vui cứu cánh, chứ cái vui thế gian chỉ là giả tạm, trong đó ẩn chứa không ít phiền não khổ đau. Bởi do thoả mãn nhu cầu của tham, sân, si, mạn… mà được thú vui, hay nói cách khác là thoả mãn dục vọng mà vui. Do vậy cho nên cái vui đó không những không lâu bền mà ngược lại nó chính là nguyên nhân của cái khổ. Vậy mà chúng sanh luôn lấy cái khổ làm cái vui, lấy địa ngục làm thiên đàng. Nhận rõ cội nguồn đó, chư vị phát tâm Đại thừa, hành Bồ Tát đạo, luôn nhắm mục đích an lạc tối thắng, phát tâm từ rộng lớn hướng chúng sanh đến cảnh giới an vui chơn thật. Các Ngài tùy cơ, tùy thời, từ sự giúp đỡ bằng phương tiện vật chất rồi đến xây dựng tinh thần và thông qua giáo lý, các Ngài ban cho chúng sanh nhiều vị thuốc để chữa trị những vết thương phiền não như: tham, sân, si, mạn… và một khi những con vi trùng phiền não đã bị tiêu hủy hoàn toàn thì từ một chúng sanh, chúng ta sẽ hiện thân thành một bậc Thánh. Tức là sự an lạc vĩnh cữu, tâm thể nhẹ nhàng siêu thoát sẽ mãi trú trong ta. Đó chính là tâm Từ vô lượng mà chư vị Bồ tát bằng nhiều cách, nhiều phương tiện giúp cho chúng ta thức tỉnh, đoạn trừ mọi phiền não khổ đau, đạt đến cứu cánh an vui.

Phật tử chúng ta ngày nay, ai là người thấu đạt được nghĩa lý, hãy tự soi lại mình và tìm cho mình một hướng đi chính đáng, sống đời sống thanh cao thánh thiện, phát kiên cố tâm, lập Bồ tát hạnh, hành trì từ tâm vô lượng để cùng bắt tay nhau xây dựng cảnh giới Niết-bàn tại nhơn gian.

 

2- Tâm Bi vô lượng:

Là lòng thương xót rộng lớn đối với nỗi khổ đau của chúng sanh và quyết âm giúp chúng sanh thoát khỏi những khổ đau đó. Người có tâm Bi là người mang trong lòng một hạnh lớn, họ không sống cho riêng mình, không sống trong sự ích kỷ nhỏ nhen của cá thể, mà họ sống vì mọi người, mọi loài, với lòng vị tha vô bờ bến, họ luôn tìm cơ hội giúp ích cho nhân loại, cho chúng sanh, và nguyện vọng là bạt trừ những khổ đau phiền não cho chúng sanh và đưa tất cả đến bờ an lạc.

Xưa kia Ngài Địa Tạng Bồ Tát thấy cảnh khổ của chúng sanh, ngài động lòng và phát tâm đại bi rộng lớn và lập thệ rằng :Khi nào độ hết chúng sanh thì ta mới chứng được đạo, và nếu trong địa ngục còn một bóng dáng của chúng sanh thì thề chẳng thành Phật”. (Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề, địa ngục vị không, thệ bất thành Phật). Thật thế, những vị phát tâm Bồ Tát lập hoằng thệ nguyện là những vị mang trong mình một sứ mạng rất lớn, luôn ra vào trong sanh tử để hóa độ chúng sanh, chỉ rõ cho chúng sanh đường đi nước bước để tránh xa hầm hố tội lỗi. Các Ngài phân minh rõ ràng đâu là tà, đâu là chánh, đâu là khổ, đâu là vui để chúng sanh nhận rõ được bộ mặt thật mà chuyên tâm hành trì, hòng bạt trừ mọi khổ đau, đạt an vui tự tại.

Các nỗi khổ của chúng sanh vô lượng, vô biên không thể kể xiết. Nên người học Phật chúng ta trước phải vì mọi người, mọi loài phát tâm rộng lớn, tu Bồ Tát hạnh, không phân chia nhân, ngã, bỉ, thử; phát nguyện thực hành tâm Bi vô lượng. Trong Kinh Hoa Nghiêm, ngài Phổ Hiền Bồ Tát dạy: Nhơn vì chúng sanh mà khởi lòng từ bi mà phát tâm Bồ đề, nhơn tâm Bồ đề mà sớm thành chánh giác. Như vậy, người phát tâm đại bi là người đã thành tựu được một phần tâm thể của Phật rồi.

3- Tâm Hỷ vô lượng:

Nói cho đủ là tâm tùy hỷ vô lượng, nghĩa là vui theo cái vui của mọi người một cách bao dung rộng lớn. Cái vui theo này không phải là cái vui theo dục lạc của thế tục, mà là hài hòa, hoan hỷ theo tất cả mọi công quả của chúng sanh đã giác ngộ phản tĩnh, biết sống đời sống cao thượng, làm việc làm cao thượng. Kinh Vị Tằng Hữu có ghi: Thấy người tu hành Thập thiện cầu quả Tam thừa, khuyến khích cao thượng, giúp đỡ tùy hỷ. Thấy người đoan chánh, thấy người khỏe mạnh, giàu sang, trí tuệ, thấy người từ tâm, thấy người hiếu thuận. Nói tóm lại, thấy tất cả người làm việc thiện, việc phải thì nên vui vẻ khuyến khích. Đó gọi là tùy hỷ”. Đây là cái vui theo của hàng Bồ Tát độ sanh khi thấy chúng sanh làm những việc lợi ích cho bản thân, cho mọi người, tu theo chân lý, đạt được kết quả mỹ mãn, trong lòng các Ngài tràn ngập niềm vui. Đây không phải là cái vui thường tình của thế gian, mà là cái vui chơn thật của chư vị Hiền Thánh. Như vậy tâm hỷ vô lượng là lòng vui phát xuất từ tâm Bi, cho nên khi thấy chúng sanh được an vui, hạnh phúc hơn mình thì lòng vui mừng, không chút ganh đua, đố kỵ. Cái vui đó thúc đẩy người học Phật thành tựu đạo quả Bồ đề. Bởi trong sự tùy hỷ này không ẩn chứa sự ô nhiễm mê lầm, mà ngược lại nó ẩn chứa sự thanh khiết, giải thoát.

Để thành một Phật tử chơn chánh, chúng ta phải đắc một phần trong Phật pháp, phải phát Bồ-đề tâm làm theo lời dạy của ngài Phổ Hiền: Nếu làm cho chúng sanh được vui, tức là làm cho tất cả chư Phật được vui mừng”. Đây chính là người thực hành tâm hỷ vô lượng vậy.

4- Tâm Xả vô lượng:

Nghĩa là không còn cố chấp, vướng mắc, lưu luyến tất cả những gì đã làm, đã có, đã đạt về vật chất lẫn tinh thần. Hay nói một cách khác là không còn chấp hữu, chấp vô, chấp ngã, chấp pháp nữa, gọi là tâm xả vô lượng.

Kinh Vị Tằng Hữu Đức Phật dạy: Phàm ta làm tất cả công đức, làm ân huệ cho chúng sanh mà không mong cầu quả báo đời sau và đời sau nữa. Đó gọi là tâm Xả”. Chúng ta phần đông không làm được như vậy là bởi vì tư kỷ, vì phân biệt nhân ngã, chấp pháp nên khi ra công gắng sức làm một việc thiện nào đó thì lại tự hào, tự đắc, khoe khoang, tự thị… có vẻ ta đây. Những hạng người này vì danh lợi tự trói buộc mình vào vòng xiềng xích phiền não, khổ đau. Chư vị Bồ Tát thì không như vậy, các Ngài làm việc với tâm niệm đại xả, không vì danh, vì lợi cho nên không một chút mảy may phiền não nào xâm nhập vào lòng quý Ngài, được như vậy là nhờ quý Ngài đã phá tan tư tưởng nhơn, ngã, chúng sanh, thọ giả và hành Ba-la-mật. Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật dạy: Niệm mà không chấp nơi niệm mới thật là niệm. Hành mà không chấp nơi hành mới thật là hành. Nói mà không chấp nơi nói mới thật là nói. Tu mà không chấp nơi tu mới thật là tu. Lý hội được ý nghĩa ấy thì mới gần đạo, mờ mờ không rõ thì xa đạo”. Qua lời dạy này, ta thấy người tu các pháp lành mà không hành tâm xả thì cũng như nước đổ lá môn chứ chẳng có ích lợi gì, có chăng cũng chỉ là giả tạm mà thôi.

Như vậy, người muốn đạt tới cảnh giới an lạc, giải thoát mà không hành tâm xả là không bao giờ đạt được. Cũng như người đi thuyền qua sông rồi mà vẫn cố chấp vào thuyền mới vác chiếc thuyền trên vai mà đi. Như vậy không được tự tại mà còn vướng bận nữa là khác. Cho nên tâm xả là pháp môn trọng đại, là đỉnh cao nhất của hành giả muốn đạt tới cảnh giới an vui.

Qua đây, ta thấy người hành tâm xả vô lượng là người đạt được cảnh giới thanh tịnh, bình đẳng, không còn bị vướng mắc bị trói buộc; bất cứ một hình ảnh, ấn tượng cảnh vật nào, họ sống trong cuộc đời, làm tất cả những việc lợi ích cho đời nhưng không vướng mắc sự đời, họ đi rất thong dong, không bị dòng đời trói buộc, như chim bay trên hư không, không để lại dấu chân. Khi nào chúng sanh cần thì họ đến, khi nào xong việc thì họ đi một cách vô ngại, tự tại. Mười phương chư Phật Bồ-tát đều tu tâm xả vô lượng này mà đạt đến kết quả mỹ mãn. Chúng sanh ngày nay muốn đi trên con đường giải thoát, thì không thể không thực hành tâm xả vô lượng.

 

 

II- Kết luận:

Tứ Vô Lượng Tâm là bốn mắc xích dính liền nhau, tạo thành sự liên kết tuyệt mỹ, nên chư Phật, Bồ Tát dùng pháp môn này để nhiếp hóa chúng sanh, đưa chúng sanh đến bờ giác ngộ, giải thoát. Cũng như chúng ta khi giác ngộ pháp môn này rồi, tình đạo vị của chúng ta trang trải khắp muôn phương, không còn phân biệt nhân, ngã, bỉ, thử nữa, mà tất cả cùng sát bên nhau, cùng nâng đỡ nhau, dìu dắt nhau đồng lên bờ giải thoát, đồng trở về bản tánh thanh tịnh của chính mình.

Tứ Vô Lượng Tâm là bốn đức tính thanh tịnh có sẵn trong mọi chúng sanh, nhưng vì tham lam, sân hận, khổ não, cố chấp… đã làm bốn đức tính đó lu mờ đi. Nếu thấy rõ được chân lý đó, chúng ta quay về với chính mình, thắp sáng ngọn đuốc Từ - Bi - Hỷ - Xả để ánh hào quang của tự tâm bừng sáng và soi đường cho muôn ngàn chúng sanh thấy rõ lẽ thật, thấy rõ hướng đi để cùng tiến đến quả vị Bồ-đề.

Bài III-9: LỤC ĐỘ BA LA MẬT

-Thích Giác Nghiêm-

 

  1. Mở đề:

Lục độ Ba-La-Mật được Đức Phật chế ra cho người tu hành có tâm trí rộng lớn, thực hành để tự độ mình và độ cho người, ra khỏi biển sanh tử luân hồi đến bờ giác ngộ. Thường người ta nói Lục độ Ba-La-Mật là hành hạnh Bồ Tát.

 

  1. Chánh đề:

I- Định nghĩa:

Lục là sáu.

Độ là giúp, là chở, là đưa.

Ba-La-Mật là đến bờ bên kia, bờ giác.

Ý nói rằng chúng sanh bị sanh tử luân hồi, sống trong mê muội đau khổ. Cần phải được giúp đỡ, được đưa qua biển khổ sanh tử đó, qua khỏi cái sông mê để đến bờ Giác ngộ.

 

II- Thành phần của Lục độ Ba-La-Mật:

Lục độ Ba-La-Mật gồm có:

  1. Bố thí Ba-La-Mật.
  2. Trì giới Ba-La-Mật.
  3. Tinh tấn Ba-La-Mật.
  4. Nhẫn nhục Ba-La-Mật.
  5. Thiền định Ba-La-Mật.
  6. Trí tuệ Ba-La-Mật.

Sáu hạnh tu đó gọi là sáu nền đại hạnh của Bồ Tát, giúp cho mình tu mau tiến đến đạo quả, vừa làm lợi ích cho chúng sanh.

 

III- Ý nghĩa, giá trị và phương pháp tu của mỗi hạnh:

1- Bố thí Ba-La-Mật: Đạo Phật thường được gọi là đạo Từ Bi và lòng từ bi phải được thể hiện trong sự bố thí.

  1. Ý nghĩa về Bố thí Ba-La-Mật: Bố là cùng khắp, thí là cho, là trao tặng. Bố thí là cho cùng khắp, cho tất cả mọi vật, mọi nơi. Bố thí Ba-La-Mật là một hạnh lớn, đứng đầu trong lục độ, dùng phương pháp bố thí có công năng như một chiếc thuyền đưa mình và người từ bờ mê qua bến giác.
  1. Thành phần của Bố thí Ba-La-Mật:
  2. Tài thí: Tài thí là đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho, có hai loại:

- Nội tài: Là những vật chí thân quý báu nhất của mình như: Thân mạng, đời sống, tức là cả một sự hy sinh cao đẹp.

- Ngoại tài: Là những vật thường dùng của mình như: Thức ăn, đồ mặc, tiền bạc, xe cộ, ruộng đất, nhà cửa...

  1. Pháp thí: Là đem lời nói hay, lẽ phải, những chân lý đúng đắn, những lời dạy quý báu của đức Phật chỉ bày, khuyên bảo người. Hoặc y theo giới luật của Phật, tu hành chân chánh để làm khuôn mẫu cho người bắt chước. Tức là dùng cả khẩu giáo lẫn thân giáo để giúp đời.
  2. Vô úy thí: Tức là giúp người không sợ, hết sợ, đem đến sự bình tỉnh an vui cho người và vật.
  1. Phải bố thí như thế nào mới đúng chánh pháp?

Nhiều người giàu có đem tài sản bố thí, có người dám liều mạng cứu người, có người đi đến đâu cũng đem pháp ra giảng nói. Nếu nhìn bề ngoài, thì đó là những hành động bố thí cả. Nhưng nếu xét về tâm lý và động lực thúc đẩy bên trong, thì có hai trường hợp khác xa nhau.

  1. Bố thí chấp tướng: Tức là bố thí với dụng tâm như: cầu danh, cầu tài lợi vì ganh đua, vì muốn làm nhục người... đó không phải là Bố thí Ba-La-Mật.
  2. Bố thí không chấp tướng: Bố thí chỉ vì mục đích thương người, thương vật, không phân biệt thân sơ, kẻ cho, người nhận, đó là Bố thí Ba-La-Mật.
  1. Công đức của Bố thí Ba-La-Mật:

Pháp Bố thí là một nhân lành của quả phúc, nó dễ làm mà công đức, lợi lạc được cả người nhận và kẻ cho.

  1. Đối với người nhận: Được sự giúp đỡ thật là may mắn và được vui.
  2. Đối với người cho: Được sung sướng thấy làm việc phải, lại được tiến mau trên đường đạo, nhờ chiến thắng lòng tham, vị kỷ, trau dồi thêm lòng từ bi, bình đẳng. Thí pháp thì có lợi là tự nhắc mình để tiến tu.

 

2- Trì giới Ba-La-Mật:

Bất luận một đoàn thể một cơ quan, một tổ chức nào trong xã hội, muốn có quy cũ, trật tự, có đường lối để tiến triển đều có nội quy, có kỹ luật, hay lớn như quốc gia thì có luật pháp. Đạo Phật có mục đích cao thượng hơn là đưa người đến chỗ giác ngộ, cho nên lại cần có giới luật, đó là sự lợi ích và quan trọng để giúp người nương theo và tiến bộ.

  1. Ý nghĩa về Trì giới Ba-La-Mật: Trì là giữ chặt chẽ. Giới là những điều răn dạy, ngăn cấm. Trì Giới để tránh những điều quấy ác. Có trì giới mới thanh tịnh dễ bề tu định và phát huệ.
  1. Thành phần của Giới Luật: Tùy theo căn cơ và lối tu của mỗi hạng người mà có hai phần và hai bậc.
  2. Giới tại gia: Dùng cho người cư sĩ tức cận sự nam và cận sự nữ. Từ một đến năm giới hay tám giới (Bát quan trai).
  3. Giới xuất gia: Gồm Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni. Tùy sự tu hành thấp cao, nam nữ mà có giới nhiều hay ít.
  4. Giới Bồ tát: Giới này gọi là “Giới đạo tục thông hành” phát tâm tu Bồ tát hạnh để làm Phật sự và hóa độ chúng sanh lẫn cho người xuất gia và tại gia.

 

  1. Phải trì giới như thế nào mới đúng chánh pháp?

Trì giới Ba-La-Mật có hai cách: Sai chánh pháp gọi là trì giới chấp tướng, đúng chánh pháp gọi là Trì giới không chấp tướng.

  1. Trì giới chấp tướng: Tức là chỉ có hình thức bên ngoài, còn trong tâm thì vì háo thắng để người khen, để tự cao. Khinh dễ người, phạm giới, vì miễn cưỡng... đó là trì giới với tâm nhiễm ô.
  2. Trì giới không chấp tướng: Trì giới đúng đắn, vẹn toàn chỉ vì tu, vì thấy bổn phận của mình chứ không vì danh lợi, háo thắng, ép buộc...

 

  1. Công đức Trì giới Ba-La-Mật: Thọ trì giới luật nghiêm trang thanh tịnh thì trong hiện tiền thân được thơ thới, an vui, được mọi người kính mến quý trọng. Trong kiếp vị lai chắc chắn sẽ chứng được đạo quả. Sự tu chỉ cốt ở thực hành, thì trì giới nghiêm sẽ được chân giá trị cao quý và lợi ích lớn lao.

 

3- Tinh tấn Ba-La-Mật: Tinh tấn là một động lực mạnh mẽ, chủ yếu do năng lực nội tâm và tinh thần, thúc đẩy người đó đi đến thành công trong cuộc đời cũng như đạo.

  1. Ý nghĩa về Tinh tấn Ba-La-Mật: Tinh là tinh chuyên, rặt ròng một việc không có xen tạp. Tấn là tiến tới mãi mãi không dừng, không gián đoạn hay thối lui. Tinh tấn nói theo thông thường là siêng năng, chuyên cần trong việc phải. Tinh tấn trừ giải đãi.

 

  1. Thành phần của Tinh tấn Ba-La-Mật:
  2. Tinh tấn ngăn các điều ác đừng sanh.
  3. Tinh tấn diệt cho mau các điều ác đã sanh.
  4. Tinh tấn làm cho các điều lành phát sanh.
  5. Tinh tấn làm cho các điều lành đã phát sanh tăng được trưởng.

 

  1. Phải tinh tấn như thế nào mới đúng chánh pháp?
  2. Tinh tấn có chấp tướng: Như có mọi người thì lăng xăng, cần mẫn, chăm chỉ để được nghe tiếng khen; hoặc sợ bị la rầy thì chăm chỉ chuyên cần, hay vì háo thắng để tự cao. Còn không có ai thì giải đãi buông lung.
  3. Tinh tấn không chấp tướng: Tức là tinh tấn một cách chân thành, vì muốn làm vì ưa tu, chỉ vì mục đích sửa chữa tâm mình và cầu đạo giải thoát.

 

  1. Công đức Tinh tấn Ba-La-Mật: Tất cả những người có sự nghiệp vĩ đại ở đời, hay kết quả vẻ vang trong đạo, đều nhờ bí quyết duy nhất để thành công là tinh tấn. Dầu tu pháp môn nào hễ có tinh tấn mới có hiệu quả. Cho nên Đức Phật dạy các đệ tử trước khi nhập diệt là: “Hỡi các người hãy tinh tấn lên để giải thoát”

 

4- Nhẫn nhục Ba-La-Mật:

Sân hận là mầm độc hại, vô cùng nguy hiễm. Muốn trừ sân hận phải tu pháp nhẫn nhục Ba-La-Mật.

  1. Ý nghĩa về Nhẫn nhục Ba-La-Mật: Nhẫn là nhịn, chịu đựng cảnh trái ý nghịch lòng. Nhục là điều sĩ nhục, điều xấu ác làm tổn thương đến lòng tự ái của mình có khi gánh chịu những lỗi lầm của người khác, nhẫn nhục đến chỗ tột cùng mà không oán hận buồn phiền.
  1. Thành phần của Nhẫn nhục Ba-La-Mật:
  2. Thân nhẫn: Dầu đói khát, nóng lạnh, dầu bị hành hạ đánh đập, cũng cam chịu về phần thể xác.
  3. Khẩu nhẫn: Miệng cũng kham nhẫn được, không thốt ra lời nguyền rủa, cằn nhằn than van....
  4. Ý nhẫn: Nhẫn nhục cả trong tâm, không căm hờn, oán giận, không nghĩ tưởng thù hận.
  1. Phải nhẫn nhục như thế nào mới đúng chánh pháp:
  2. Nhẫn nhục có chấp tướng: Đó là sự nhẫn nhục vì sợ quyền thế, vì đang nằm trong hoàn cảnh bất lợi, vì cầu tiếng cầu chức quyền, nhẫn nhục vì khinh bỉ đối thủ...
  3. Nhẫn nhục không chấp tướng: Người tu chỉ vì muốn trừ được lòng sân hận, kiêu mạn, tật đố, tự ái, tham lam... và cũng muốn trau dồi lòng từ bi hỷ xả.

 

  1. Công đức Nhẫn nhục Ba-La-Mật:

“Một đóm lửa sân, có thể đốt tan muôn mẫu rừng công đức”. Cho nên sân hận rất tai hại. Muốn trừ sân hận một cách có hiệu quả, phải tu pháp nhẫn nhục, lửa sân hận chỉ có dập tắt bằng nước Nhẫn nhục Ba-La-Mật. Có nhẫn nhục thì gia đình mới đoàn kết, sum họp, bạn hữu tương thân, tớ thầy trung tín, thế giới hòa bình. Lòng từ bi chan chứa, người tu thì đạo quả viên thành.

 

5- Thiền định Ba-La-Mật:

Đạo Phật là đạo Từ bi mà cũng là đạo Trí huệ. Muốn có trí huệ phải tu Thiền định Ba-La-Mật.

  1. Ý nghĩa về Thiền định Ba-La-Mật:

“Thiền” phiên âm theo chữ Phạn là Thiền-Na, tức là tư duy, tĩnh lự.

Tư duy là tận tụy, bằng suy nghiệm, nghiêm tầm quán xét, suy cứu về đạo lý hay về một đề tài nào đó. Tĩnh lự là tâm thể tịch tĩnh, vắng lặng để thẩm sát, xét kỹ về các vấn đề đạo pháp. Chữ “Định” tiếng Phạn là Tam-Muội (Samadhi), có nghĩa là tập trung tâm lý vào một đối tượng duy nhất, không để cho tâm ý tán loạn. Thiền định là tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, không tán loạn, để tâm được vắng lặng và cho tâm dụng được mạnh mẽ, hầu quan sát và suy nghiệm chân lý.

 

  1. Các loại thiền định:

Thiền có nhiều phương pháp cũng nhiều mục đích khác nhau, do vậy mà có Thế gian thiềnXuất thế gian thiền. Nhưng quan trọng và đúng chánh pháp là đạt được định và phát triển trí tuệ, chứng được đạo quả. Muốn được như vậy, các món Thiền đầu tiên phải hành:

  1. Quán bất tịnh: Chú tâm quán sát kỹ thân bất tịnh để trừ tham dục, si ái.
  2. Quán từ bi: Dùng từ bi tâm quan sát những nỗi khổ của chúng sanh, thương yêu để cứu độ.
  3. Quán nhân duyên: Quán tất cả các Pháp trong thế gian đều là do nhân duyên hòa hợp mới thành lập.
  4. Quán niệm Phật: Dùng câu niệm Phật để trừ vọng niệm, chuyển đổi tà niệm thành chánh niệm.
  5. Quán sổ tức: Chuyên tâm quan sát từng hơi thở ra vào, để tâm an trú vào một cảnh, không cho vọng niệm xen vào.

 

  1. Công năng của Thiền định:
  2. Chế ngự tham dục: Nhờ quán bất tịnh, chế ngự được tham muốn về sắc, về vật dục, làm chủ được thân ý muốn, không bị tham dục lôi cuốn.
  3. Trừ nóng giận: Nhờ từ bi quán mà trừ bỏ được tánh giận, tàn ác, thiện căn được phát triển, lòng thương được mở rộng.
  4. Phá si mê: Nhờ quán Nhân duyên, tư duy, nghiệm xét về các vấn đề đạo pháp, nhận rõ lẽ thật của các pháp, do đó tâm trí được thoáng đạt, phá tan được màn si mê, điên đảo chấp trước.
  5. Ngăn các phiền não: Do Niệm Phật, tĩnh tâm, thấu hiểu đúng các pháp, nên phiền não hao mòn, trí tuệ và công đức thêm lớn.

- Diệt loạn tâm: Nhờ quán sổ tức, tâm trí được thanh tịnh, không rong ruổi vọng động bởi những vọng duyên vọng cảnh ở ngoài.

- An lạc: Vì tu quen và tha thiết thiền định, như một món ăn ngon lành hằng ngày không thể thiếu nên cảm thấy vui vẻ lạc thú.

Trị bệnh: Nhờ tu thiền định, tống xuất chất trượt trong người ra, kinh mạch điều hòa nên trị được tâm bệnh và cả thân bệnh.

 

  1. Các điều nên tránh:

- Không mong cầu được các phép thần thông.

- Trừ lười biếng, mê ngủ nghĩ.

- Thức ăn, đồ mặc không nên quá dư thừa.

- Không nên thích ở chỗ đông người.

- Tránh đam mê các dục: sắc, thinh, hương, vị, xúc.

- Tránh nghi ngờ: Nghi Chánh pháp, nghi mình, nghi thầy.

- Hiểu biết ma sự.

- Tránh dao động và hối hận: Không lăng xăng, miệng ưa ca hát, tranh cãi, nói nhiều những điều vô ích, tâm phóng túng, nghĩ lăng xăng...

 

  1. Trí tuệ Ba-La-Mật:

Vô minh là nguồn gốc của mọi tội lỗi, đau khổ. Muốn dứt trừ vô minh, phải tu chứng huệ.

  1. Ý nghĩa về Trí tuệ Ba-La-Mật: Trí là sự thấy, sự biết. Tuệ có nghĩa là hiểu rõ, rõ ràng. Trí tuệ Ba-La-Mật là nhận thức sáng suốt do chánh trí nhận hiểu, có khả năng soi sáng rõ ràng, phân biệt xác đáng một cách thấu đáo tinh tường đến nơi đến chốn, không thể sai lầm.
  2. Các loại Trí tuệ: Trí tuệ như định nghĩa trên là trí tuệ của đạo Phật, chứ không phải là trí tuệ phổ thông, thường dùng trong các sự học hỏi, hiểu biết, suy luận ở đời. Theo triết học Phật giáo, có hai khả năng nhận thức:
  3. Hiện lượng: Là sự nhận biết trực tiếp không cần qua trung gian suy luận, nó chia làm hai thứ:

* Chân hiện lượng: Là nhận thức trực tiếp mà đúng.

* Tợ hiện lượng: Là nhận thức trực tiếp mà sai.

  1. Tỷ lượng: Là sự nhận thức trực tiếp qua trung gian suy luận, nó chia làm hai thứ:

* Chân tỷ lượng: Là lối hiểu biết suy luận đúng đắn.

* Tợ tỷ lượng: Là lối hiểu biết suy luận mà sai lầm.

- Người phàm phu thì sự hiểu biết còn kém, nên phần nhiều là Tợ tỷ lượng.

- Đạo Phật chia trí tuệ làm hai loại lớn là “Căn bản trí” và” “Hậu đắc trí”.

* Căn bản trí: Là giác tính minh diệu của mỗi chúng sanh vốn có sẵn, nhưng vì qua quá trình lâu dài bị vô minh phiền não che lấp, nên chưa phát chiếu ra được.

* Hậu đắc trí: Là trí tuệ có được nhờ công phu tu tập như trì giới, thiền định. Người định được “Hậu đắc trí” ở địa vị giác ngộ thì tám thức chuyển thành bốn trí là: “Đại viên cảnh trí”, “Bình đẳng trí”, “Diệu quan sát trí” “Thành sở tác trí”.

 

  1. Làm thế nào để có được Trí tuệ?

Đức Phật chế ra nhiều pháp tu. Muốn đạt trí tuệ trong nhiều pháp tu ấy người ta thường nhắc nhở thực hành: “Văn, tư, tu” và “Giới, định, tuệ” nhiều nhất.

Văn tuệ: Là do tai nghe, mắt thấy văn tự của Phật vàhiểu được nghĩa lý.

Tư tuệ: Là do trí suy nghĩ, tư duy, tìm tòi mà rõ được nghĩa lý, hiểu biết sự thật.

Tu tuệ: Là do tu hành, tự thân thể nhập chân lý, giác ngộ, chứng được sự thật. “Văn, Tư, Tu” tương quan mật thiết, nên người tu cần phải áp dụng cả ba thứ mới dễ thành tựu.

Giới: Là những điều răn, điều cấm dành cho người tu.

Định: Là thiền định giúp cho tâm ý không loạn động.

Tuệ: Là sự phát chiếu của trí sau khi tẩy sạch phiền não, vô minh.

“Giới, Định, Tuệ” tương quan mật thiết với nhau: Do trì giới thân tâm không loạn động mà tâm trí được định. Tâm trí đã định thì trí tuệ mới phát triển. Khi trí tuệ phát chiếu thì tâm dễ định, tâm dễ định thì trì giới dễ dàng.

  1. Công năng của Trí tụê.
  2. Dứt trừ phiền não: Phiền não là do mê lầm, khi trí tuệ đã có thì mê lầm phải mất, như ánh sáng phát ra thì bóng tối liền tan. Mê lầm đã mất thì phiền não đâu còn.
  3. Thấy rõ sự thật: Ánh sáng trí tuệ phát ra thì vô minh tăm tối đều mất, thực tướng của sự thật là duyên sanh, vô thường, như huyễn bây giờ được lộ bày đúng sự thật.
  4. Thể nhập chân lý: Bị vô minh mờ ngăn che thì ta với người, ta với vật tưởng như riêng biệt sai khác. Nay nhờ trí tuệ soi sáng, thấy rõ tâm cảnh đều chơn không, phá tan kiến chấp, thành kiến, mê lầm.

 

  1. Những điều quan trọng để áp dụng Lục độ:
  2. Phát Bồ đề tâm: Là phát tâm rộng lớn vô tận với bốn lời thệ nguyện:
  3. Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ:

Tức là chúng sanh nhiều không số lượng, thệ nguyện đều độ khắp, chúng sanh rất nhiều, căn cơ, nghiệp duyên, chủng loại lại không đồng, nhưng phát tâm vô tận thệ nguyện độ. Nguyện độ hết dầu gặp khó khăn.

  1. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn:

Thệ nguyện dứt sạch, tâm chúng sanh luôn dong ruổi theo trần cảnh, phiền não do đó phát sanh, tự nguyện dứt trừ tất cả dù là vi tế phiền não.

  1. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học:

Pháp môn nhiều không kể xiết, thệ nguyện tu học. Phật dạy nhiều pháp môn để độ chúng sanh nhiều vô lượng. Người thực hành lục độ nguyện tu học hết.

 

  1. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành:

Phật đạo không gì hơn, thệ nguyện phải viên thành. Viên thành Phật đạo là quả vị tối thắng tối cao, quyết thực hiện cho được.

 

  1. Không xem trọng tài sản tính mạng:

Phật tử muốn thực hành Lục độ phải mở rộng cõi lòng, xem thường tánh mạng tài sản của mình, chỉ lấy sự lợi lạc chung làm trọng. Vì cứu một thân mạng có khi cần phải hy sinh không than trách không nuối tiếc.

 

  1. Xem chúng sanh khổ như mình khổ:

Luôn luôn phải hiểu trăm ngàn nỗi khổ chúng sanh đang chịu trong kiếp sống. Chúng sanh và mình cùng chung một bản thể. Cho nên chúng sanh đau khổ là mình đau khổ, cứu chúng sanh là cứu mình.

 

  1. Tự mình có đủ khả năng giải thoát cho mình và giúp tất cả chúng sanh:

Phật tử phải nhận hiểu, tuy nghiệp nhân bất thiện trong nhiều kiếp, nhưng tất cả đều có Phật tánh cho nên có thể tu hành để giải thoát và giác ngộ (vì khả năng sẵn có), có thể dùng mọi phương tiện nhiếp hóa và giải thoát khổ đau cho tất cả chúng sanh.

 

V- Kết luận:

Trừ mê và Diệt khổ là nguyện vọng duy nhất của người Phật tử chơn chánh. Muốn đạt được nguyện vọng ấy, cần phải cương quyết thực hành Lục độ Ba-La-Mật. Vì chỉ có hạnh Lục độ mới đủ công năng đưa mình và chúng sanh đến chân trời giải thoát và giác ngộ. Đạo Phật là đạo từ bi, mà cũng là giác ngộ. Từ bi thuộc về phước, Giác ngộ thuộc về tuệ. Vì vậy các Đức Phật và các vị Bồ Tát viên mãn được công hạnh tự lợi, lợi tha, đều lấy pháp Lục độ làm căn bản.

Đứng về một khía cạnh khác để nhận xét giá trị của Lục độ, chúng ta thấy: Bố thí và nhẫn nhục thuộc về Bi; Thiền định và trí tuệ thuộc về Trí; còn trì giới và tinh tấn thuộc về Dũng. Một Phật tử hoàn toàn phải có đủ ba phương diện Bi, Trí, Dũng mới mong đi đến bờ giác ngộ một cách thông suốt nhanh chóng.

Trong hoàn cảnh hiện tại của quý Phật tử, hạnh Lục độ tuy chưa thực hành được hoàn toàn nhưng cũng cần phải cố gắng. Vậy mong quý Phật tử nếu thực hành được một số phần nào đó, tức cũng đã tiến một bước khá dài trên con đường tự độ, độ tha và đang tiến đến hạnh phúc giải thoát.

Bài III-10 TỨ DIỆU ĐẾ LIÊN HỆ VỚI TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN

-Thích Trí Viên-

 

Tứ Diệu Đế là bài pháp căn bản, là nền tảng tổng thể của hệ thống giáo lý Phật-đà, là bài pháp đầu tiên được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hướng dẫn cho năm anh em ông Kiều Trần Như tại Lộc-Uyển, là cội nguồn tồn tại và hoại vong của con người và vũ trụ trong mối tương quan hạnh phúc và khổ đau; mở bày phương tiện du hóa trong suốt 49 năm, sau khi chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Đức Phật. Vậy từ đây đánh dấu sự hiện hữu của Tam Bảo tại thế gian.

Do tính chất quan trọng của giao lý Tứ Diệu Đế, hàng đệ tử Đức Phật chúng ta phải luôn luôn gắng học tập, nghiên cứu, suy niệm để tu tập hầu làm thăng tiến cho sự giải thoát giác ngộ.

Cũng vậy, chúng ta có thể nói: Người nào hiểu rõ giáo lý Tứ Diệu Đế sẽ hiểu được Kinh điển, giáo pháp Đức Phật dễ dàng. Như lời của Hoà Thượng Thích Thiện Siêu đã nói: Hiểu được giáo lý Tứ Đế thì lúc bấy giờ đi vào rừng Phật Pháp có trình bày gì đi nữa thì cũng thấy rõ manh mối, chủ đích nó nằm ở đâu(Trích Vô ngã là Niết bàn).

Bởi đây là bài pháp Đức Phật nói rõ thế giới chúng sanh đang sống này là khổ (Khổ đế), vì sao chúng sanh thọ khổ, nguyên nhân của sự chịu khổ (Tập đế), nêu ra đường hướng tu tập để không còn tái sanh, nghĩa là không còn nỗi khổ nữa (Diệt đế – Đạo đế). Giải thoát ra khỏi luân hồi, ba cõi sáu đường, đây là điểm chính yếu mà Đức Phật muốn hướng đến với muôn loài chúng sanh. Còn cái khổ từ bệnh tật như: đau răng, bệnh hoạn, nhức đầu, bệnh gan… những bệnh nan y là khổ, thuộc “Hữu thân – hữu bệnh” , như đức Lão Tử đã từng nói: “Ngô hữu đại hoạn vị ngô hữu thân” , cái khổ này thuộc về cái khổ do thân tứ đại; thoát khỏi luân hồi sanh tử mới là cái khổ cần phải đoạn tận mà cũng chính là sự ra đời của đức Phật, và cũng chính là sự khác biệt giữa lời dạy của Đức Phật với các vị tiên tri, giáo chủ khác. Chính vì vậy hàng Bồ Tát đệ tử của Đức Phật cũng bằng vào tinh thần đoạn khổ cho tất cả chúng sanh mà quý Ngài đã dõng mãnh phát Bốn hoằng thệ nguyện :

- Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ: Đó là quý Ngài y theo Khổ đế mà chúng sanh phải chịu để phát nguyện độ họ ra khỏi cảnh khổ đau triền miên trong luân hồi (Địa ngục vị không thệ bất thành Phật – Địa tạng Bồ Tát).

- Y theo Tập đế các Ngài phát nguyện: Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn (Kinh Phổ môn – Quán Thế Âm Bồ Tát).

- Y theo Đạo đế các Ngài Phát nguyện: Pháp môn vô lượng thệ nguyện học (Bát giả thường tùy Phật học – Ngài Phổ Hiền).

- Y theo Diệt đế các ngài phát nguyện: Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành (Phát nguyện của Đức Phật A Di Đà – Kinh A Di Đà).

Tứ Diệu đế với Tứ hoằng thệ nguyện tương quan mật thiết với sự nghiệp độ sanh là vậy.

Tứ hoằng thệ nguyện là bốn lời nguyện lớn bao la của Đức Phật, được hàm ý và hiển lộ trong hầu hết các Kinh điển của Phật giáo; có khi thuộc về Giới, có lúc thuộc về Định, có chỗ thuộc về Huệ. Như chúng ta đã biết, giáo pháp của Đức Phật không ngoài Giới, Định, Huệ làm căn bản cho sự tu tập, hay nói cách khác Kinh điển Phật giáo không ngoài Bốn hoằng thệ nguyện.

Vậy, tu tập Tứ Diệu đế là thực hiện Bốn hạnh nguyện cao cả của chư Phật và Bồ Tát để người con Phật chúng ta bước lên ngôi nhà của quý Ngài.

Bài III-11 NHÂN THỪA VÀ CON ĐƯỜNG TU TẬP

(Ngũ thừa Phật giáo)

- Thích Thiện Vinh-

Cuộc hành trình về đất Phật - Con đường này xa diệu vợi, không thể dùng con số, lời nói, ý suy của con người mà biết được bao nhiêu lâu ta mới thành Phật.

Lộ trình này khởi đầu từ nhân đạo. Còn bốn ác thú kia: A-tu-la, Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh, chưa đủ Pháp nhân để tu hành và cầu mong thành Phật. Cuộc viễn du phải trải qua năm bậc cấp, tức là Ngũ thừa. Nó cũng ví như lộ trình văn hoá, phải khởi đầu từ tiểu học, và tột cùng là tiến sĩ.

Tất cả chúng ta là những người đã, đang, và sắp bước những bước chân đầu tiên trên con đường diệu vợi này. Vậy chúng ta hãy cất bước lên đường, mà phải cần có chiếc xe mới có thể đến đích được! Xe có năm loại, tức là Ngũ thừa. Thừa là cổ xe, giáo pháp Phật ví như cái xe có thể chở người ta tới quả vị, nên gọi là thừa, có từ nhất thừa cho đến ngũ thừa.

Chủng loại 5 thừa: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ Tát thừa.

 

I- Nhân thừa và con đường tu tập:

Chúng sanh nhờ hành pháp ngũ giới mà được sanh lên cõi Người.

Giới là phòng bị, răn cấm, ngăn ngừa. Năm giới là năm điều luật Phật chế để đối trị và ngăn ngừa những hành động không thiện, những ý tưởng phi pháp (phòng phi chỉ ác). Giới còn có nghĩa là Biệt giải thoát, không phạm một điều luật, tức giải thoát được một hình ngục và hưởng thọ được công đức.

  1. Công năng của giới:

Giới là căn bản của Định và Huệ. Nếu thiếu Giới và Định, thì Huệ không phát triển và Phật quả không viên thành; như thiếu một nét ngang, thì hình ba góc không thành. Giới lại là ngọc ma-ni trang sức pháp thân huệ mạng và cũng là hàng rào sắt ngăn cản tội lỗi.

B. Sự quan hệ của 5 giới:

Năm giới là cấp bậc đầu tiên của con người trong khi hướng về điều thiện. Muốn bảo tồn nhân cách, duy trì đức hạnh, để xứng đáng với danh nghĩa làm người, cũng phải vâng giữ năm giới. Năm giới này chính do đức Phật chế ra.

  1. Hành tướng của năm giới:

Gồm có: Không sát sanh, không trôm cướp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.

  1. Không sát sanh: Không chấm đứt mạng sống của những động vật có tri giác cảm thọ, khác với thực vật và khoáng vật, nghĩa là không cố ý giết hại sinh vật, dù nhỏ nhiệm như côn trùng.

- Phương tiện giết hại: Tự mình giết, chủ tâm và tự giết hại chứ không phải vô ý giết lầm.

- Bảo người giết: Dùng uy lực lời nói sai bảo, khuyến khích kẻ khác giết hại.

- Thấy giết tùy hỷ: Thấy người giết hại mà sanh tâm tùy hỷ tán thành, không thương xót can gián.

* Lý do Phật cấm giết hại:

- Vì đồng thể: Mọi sinh vật, dầu hình thể khác nhau, nhưng sự sống chỉ là một, phải tôn trọng sự sống nên không được giết hại. Tất cả chúng sanh đều ham sống sợ chết như nhau, lại cùng chung một bản thể nên không được giết hại.

- Vì hiếu niệm: Chúng sanh không thoát khỏi luân hồi, nên có thể đầu thai trong ba đường dữ, muốn khỏi giết nhầm thân nhân nên Phật cấm giết hại.

- Vì quả báo: Giết hại người sẽ bị sát hại lại.

* Lợi ích của giới không sát sanh:

- An vui: Nếu không sát hại thì hiện tại tâm hồn được an vui, không phải ăn năn hối hận.

- Sống lâu: Đời này và đời sau được sống lâu, thân thể tráng kiện, ít bệnh tật, được nhiều người yêu mến.

- Từ bi: Giữ giới không giết hại là thực hành được một phần lòng từ bi không giới hạn của đức Phật.

Thật hành giới không sát sanh, không sát hại chưa đủ, Phật tử dùng mọi phương tiện khôn khéo để trả lại quyền được sống, quyền tự do cho muôn loài khỏi bàn tay sát hại của con người. Ăn chay là phương tiện để thực hiện tình thương cao rộng ấy.

2- Không trộm cướp: Nghĩa là mọi vật trong trong thế gian dù quí báu như vàng ngọc; hay nhỏ như cây kim, ngọn cỏ,… Phật tử không được manh tâm lấy dùng, khi chủ nhân không bằng lòng hay vắng mặt.

* Hành tướng trộm cướp:

- Đoạt thủ: Dùng uy thế sức mạnh chiếm đoạt tư hữu của người.

- Thiết thủ: Dùng mánh khóe quỷ quyệt để trộm cắp của người.

- Tra thủ: Dùng phương chước điêu ngoa dối gạt người cho đến bất cứ lúc nào, chiếm đoạt tư hữu của người một cách máy móc phi pháp, cho đến trốn thuế dối đò cũng vậy.

* Lý do Phật cấm trộm cắp :

- Tôn trọng tư hữu: Của cải tư hữu của người khác là vật không nên xâm phạm, vì vậy Phật cấm không được tự tiện lấy dùng.

- Hậu quả: Nếu giữ giới này thì đời sau được giàu sang đầy đủ, mọi người tín nhiệm, không bị lường gạt.

- Trực tâm: Đối lại với gian tham là trực tâm, đạo Phật là chánh đạo, nên người tu hành cần phải có trực tâm.

* Phương tiện thực hành giới không trộm cướp :

Hậu quả cao quý của đạo Phật là nâng cao đường sinh hoạt của xã hội, cả tinh thần lẫn vật chất bằng phương tiện tài thí. Muốn hoàn thành giới không trộm cướp, Phật tử cần phải bố thí.

3- Không tà dâm:

Không được sống đời sống hoang đàng trác táng ăn chơi. Kinh có câu: “Cội gốc đường sinh tử, dâm dục là thứ nhất”, vì duyên nghiệp và hoàn cảnh nên Phật cho tùy nguyện, nhưng triệt để không được hành dâm trái với luân thường chánh đạo.

* Phương tiện thực hành tà dâm :

- Thân: Sống trác táng ăn chơi, đọc xem các tranh ảnh báo chí nói về tà dục.

- Miệng: Nói những lời tà tục bất chính.

- Ý: Ý nghĩ những việc tà dục trái luân thường đạo lý.

Chỉ có tiết dục, thân thể mới đều hòa, tâm hồn mới trong trắng, và chỉ có thể do thế mới siêng năng tu hành đạo nghiệp.

Giải thoát triền phược: Tà dục là sợi dây ràng buộc ta vào sanh tử, không tà dục tức là cắt đứt một phần nào sợi dây ấy. Người tu hành phạm hạnh không được tà dâm.

* Lợi ích của việc không tà dâm :

- Hiện quả: Nếu không tà dâm thì được người đời tín cẩn, kính trọng, và thân thể cường tráng.

- Hậu quả: Đời sau sẽ sanh lên cảnh giới thanh tịnh không bị đọa đày.

- Thanh tịnh: Có thanh tịnh mới mong khỏi nhiễm ô; trừ tà dục là phương tiện thực hành thạnh tịnh của chư Phật.

 

4- Không vọng ngữ:

Không nói dối là không phỉnh gạt, lừa đối người; trái lại bao giờ cũng nói lời ngay thẳng thực thà

* Hành tướng vọng ngữ:

- Vọng ngôn: Lấy trái nói phải, lấy phải nói trái, không thấy nói thấy, thấy nói không thấy.v.v..

- Ỷ ngữ: Dùng lời nói hoa mỹ để xuyên tạc sự thật và khêu gợi lòng tham dục của người.

- Lưỡng thiệt: Đến người này nói xấu người kia, đến người kia nói xấu người này, khiến hai bên ghét bỏ nhau. Tất cả những lời nói có hại mình và hại người ở hiện tại và tương lai, đều phạm tội vọng ngữ. Trừ khi nói chơi, hay vì lợi người mà nói thì không phạm

- Ác khẩu: Nói lời thô lỗ, ác độc, như mắng chửi người v.v…

* Sự nguy hại của vọng ngữ:

- Hại của nói dối: Người nói dối không thấy được sự thật, làm ngăn che trí giác của mình, của người.

- Hại của ỷ ngữ: Mê hoặc lòng người .

- Hại của nói hai lưỡi: Gia đình tan nát, thân thích thù ghét nhau.

- Hại của ác khẩu: Làm người khác đau khổ, tức tối, uất ức.

* Lợi ích của giới không vọng ngữ:

- Hiện quả: Được mọi người tín thọ, thương yêu.

- Hậu quả: Đời sau được tướng lưỡi rộng dài.

- Hoan hỷ: Không nói lừa dối người, thì người được vui vẻ, hòa thuận và tâm hồn mình cũng khỏi thắc mắc, hối hận.

* Thực hành giới vọng ngữ:

Không nói dối là việc đáng quí, người Phật tử cần phải dùng những lời chân ngôn thực ngữ (pháp khí) để giảng dạy cho người, mong đưa họ về con đường chánh, con đường giác ngộ, hạnh phúc của chư Phật.

 

5- Không uống rượu:

Rượu là một chất làm cho con người ngu si, tối tăm, hôn ám, mê say, cuồng loạn, nên đức Phật chế cấm không được uống rượu.

- Tác hại của rượu: Người uống nhiều thì tâm thần rối loạn, ý niệm điên đảo, và thân thể hư mòn tiều tuỵ; rượu lại là một thứ thuốc diệt mất giống trí tuệ và mở đường cho tất cả tội lỗi.

* Trường hợp có thể uống rượu:

Nếu có bệnh, thầy thuốc bảo dùng thì được uống nhưng không uống nhiều, và đừng dùng những thứ làm say người. Ngoài ra không được vô cớ tự dùng, cho nên cũng không được bán rượu.

* Lợi ích của giới không uống rượu:

- Không bị cuồng say, tức là được bình tĩnh, sáng suốt. Không uống rượu là phương tiện làm lòng người bình tĩnh và lạc quan.

- Đời sau khỏi đoạ lạc vào nơi tối tăm, thiếu ánh sáng Phật pháp.

- Hiện đời khỏi bị người khác chê cười.

- Không uống rượu chính là để khai thông và làm tăng trưởng ánh sáng trí tuệ. Người Phật tử thực hành giới này, tức là sống đúng hạnh trí tuệ của chư Phật.

II- Cách thức giữ giới:

Chúng ta đã thấy giới là nền tảng của giải thoát và giác ngộ, cho nên muốn thân chứng Phật quả cần phải giữ giới này. Nhưng muốn giữ giới cho có kết quả, cần phải hiểu cách thức giữ giới.

- Cần phải hiểu rõ nghĩa của giới:

  1. Giới là nguồn gốc: Là nền tảng của giác ngộ, của giải thoát, không có giới thì không thể nào giác ngộ và giải thoát được.
  2. Giữ giới chỉ là một cử chỉ tùy nguyện: Tùy theo khả năng của mình, có thể giữ nhiều ít, nhưng đã nguyện giữ, thì phải triệt để tuân hành.
  3. Giới luật là do chính Đức Phật chế ra. Các vị Bồ tát, các vị Tổ sư, cũng không có quyền chế giới. Đức Phật căn cứ nơi tự tánh thanh tịnh, căn cơ của chúng sanh mà chế giới.

Giới có năng lực giải thoát và giác ngô rất nhanh: Tự thể của giới đã là một sức mạnh vô song rồi, mà người giữ giới cần phải có đại hùng, đại lực mới giữ nổi. Vì vậy, một người giữ giới tự thân tiềm tàng những sức mạnh vô hình làm mọi người đều cảm phục.

* Cần phải hiểu rõ ý nghĩa lễ truyền giới và hành tướng của giới để hành trì.

- Cần phải thành thật:

Mình tự thành thật với chính mình, có phạm tội hay không tự mình biết rõ. Có phạm tội, không được giấu, cũng không được đỗ lỗi cho người khác, hoặc tự che chở, tự tha thứ.

- Phải cương quyết hành trì:

Đã nguyện thọ và giữ giới thì phải cương quyết hành trì, dẫu gặp những trở lực mấy cũng không thể bỏ. Nếu tự lượng sức không thể giữ được, thì có thể không thọ giới. Nếu tự sức không thể giữ được toàn bộ năm giới, thì có thể xin làm lễ giữ bớt giới lại; điều cần thiết là đã nguyện giữ, thì phải cương quyết giữ .

- Phải lượng sức mình:

Tự mình phải biết lượng sức mình có giữ được giới ấy hay không, không được nhắm mắt thọ giới một cách mù quáng, vô ý thức.

- Phải biết sám hối:

Khi nào phạm thì nên đối trước Tam bảo, hoặc vị Bổn sư của mình mà phát lòng sám hối, chớ che dấu lừa mình, lừa người.

 
III- Phần kết:

Chúng ta đã thấy rõ giới là căn bản của giải thoát và giác ngộ, những ai đã phát nguyện tiến mạnh trên đường đạo, cần phải hành trì giới luật và cương quyết giữ 5 giới, không vì một trở lực gì mà thối thất. Có vậy, mới hiểu đúng chánh nghĩa của giới và mới nhận thấy người giữ giới là người cương quyết, nhiều nghị lực nhất, và được thấy mình một ngày một tiến trên đường đạo.

Vậy chúng ta muốn được tái sinh làm thân người thì cần phải giữ năm giới cấm. Vì lòng từ đức Phật thân chế ra, để chúng ta tu theo, tiến bước trên con đường giải thoát.

Bài III-12 THIÊN THỪA

-Thích Trí Viên-

 
I- Mở đề :

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy chúng sanh rất nhiều phương pháp tu hành nhằm trang bị cung cách xử sự với nhau trong cuộc sống một cách tốt đẹp, để cuối cùng có sự an lạc, giải thoát và chứng ngộ. Phương pháp rất nhiều (84 ngàn pháp môn tu) nhưng không ngoài hai tiêu hướng chính: Tiệm tu và Đốn tu.

Tiệm tu: Dành cho chúng sanh độn căn độn trí, hạ căn hạ trí.

Đốn tu: Dành cho bậc trung, thượng căn trí.

 

II- Nhập đề:

Chúng ta học Thiên thừa (trong Ngũ thừa) nghĩa là học cách tu tiệm (tu chứng ngộ dần dần). Nấc thang này là nấc thang Thiên thừa.

  1. Định nghĩa: Thiên thừa là cổ xe đưa người thực hiện pháp môn này đến cõi trời.
  2. Thứ bậc: Bậc thứ hai trong năm bậc.
  3. Giảng: Tu nhơn thừa, tu là sửa, là rửa, là chỉnh đốn lại. Vậy Phật tử nên phát nguyện tu ba nghiệp: Thân, khẩu, ý (tâm).

Thân tôi có những việc làm không tốt, không đàng hoàng, cần tu chỉnh lại, gọi là tu thân.

Miệng tôi ưa nói điều không chơn chánh, hủy báng mọi người, nói cao ngạo, ngã mạn ; bây giờ tôi ý thức không nói lung tung, không nói đảo điên mà phải giữ gìn chỉnh đốn lời nói ngay thật, tốt đẹp… (thiện hộ ư khẩu ngôn), gọi là tu miệng.

Ý (tâm) tham lam tật đố si mê, chạy theo những điều tà kiến, dù có ai góp ý cũng vẫn không vừa lòng. Rồi một thời gian nào đó gặp thiện duyên tốt, chúng ta nhận sự sai lầm nên tự mình nghiêm khắc, chỉnh đốn những ý nghĩ sằn bậy, gọi là tu tâm.

Như thế tu Nhơn thừa là lấy năm giới cấm của người Phật tử tại gia làm căn bản. Tu Thiên thừa: Thứ bậc này đã được trang bị sẵn từ cơ bản Nhơn thừa để tiến tu Thiên thừa. Do đó tu Thiên thừa cơ bản từ Nhơn thừa nhưng áp dụng phương pháp rộng hơn. Nhơn thừa là tu 5 điều, còn Thiên thừa là tu 10 điều. 10 điều ấy được tôi luyện: Thân có 3, khẩu có 4, ý có 3 (Phật tử nên đọc thêm bài “Thiên thừa con đương tu tập”).

  1. Pháp Môn Tu Chứng: Mỗi nấc thang là một quả vị cho từng Thừa một, như nấc thang của Nhơn thừa căn bản là năm giới. Người nào thực hành năm giới cấm này, hiện tại được an lạc và sau khi mất sẽ được sanh lên làm người, hoặc cảnh giới tương tự, tướng hảo tốt đẹp, được sống ở những nơi văn minh tiến bộ, cuộc sống lành mạnh giàu sang, sung túc, được mọi người thương yêu kính nể. Đây là sự chứng ngộ ở nấc thang Nhơn thừa. Nấc thang Thiên thừa cũng thế, nghĩa là người tu theo thừa này thực hiện đúng 10 điều thiện thì sẽ được sanh lên các cõi trời, được người người tôn quý. Như vậy, sự tu chứng từng thừa một tùy theo ứng dụng từng pháp môn. Ví dụ: Một em bé học lớp 5 không thể làm bài toán của người học lớp 10 (trừ thần đồng). Do đó chúng ta biết rằng tu Ngũ thừa có nghĩa là tu từng phần một, hay còn gọi là Tiệm giáo.

 

III- Kết luận:

Khi chúng ta phát nguyện tu Ngũ thừa, nghĩa là chúng ta tu chỉnh từng giai đoạn một, từ đó chúng ta mới đoạn trừ được kiến hoặc, tư hoặc. Do đó, kiến hoặc và tư hoặc ẩn tàng và hiện tướng nên làm trở ngại sự giác ngộ và giải thoát. Cho nên, nhờ tu Ngũ thữa chúng ta nhận định được luân hồi, nghiệp báo, thấy rõ lý Tứ đế, thấu triệt lý Nhân duyên, thì mới phát nguyện thực hành theo hạnh các vị Bồ Tát. Những yếu tố này là cơ bản hữu ích quyết định cho sự chứng ngộ.

Bài III-13 THANH VĂN THỪA

-Thích Trí Viên-

 

I- Mở đề:

Bậc Thanh văn thừa xếp hàng thứ ba trong Ngũ thừa Phật giáo. Thứ bậc này chưa mở rộng trái tim thương yêu, chưa tận tụy hy sinh đối với thế giới xung quanh. Họ chỉ hài lòng về sự giác ngộ và giải thoát của riêng mình, họ tự thu mình trong tư duy chưa thoát khỏi cửa kín của riêng mình. Do đó, họ chưa đủ lòng Từ để giải thoát cho kẻ khác, cho đồng loại. Tinh thần vị kỷ này ngược với trái tim độ tận chúng sanh của hàng Bồ tát.

 
II- Nhập đề:

Chúng ta học bài Thanh văn Thừa, nghĩa là phương pháp tiệm tu trong Tứ quả. Nội dung sẽ được trình bày sau đây :

  1. Định nghĩa: Thanh văn thừa là cổ xe thứ ba đưa người đến quả vị Thanh văn. Quả vị này lập nền tảng tu trì bằng pháp Tứ đế, liễu ngộ: Khổ, Tập, Diệt và Đạo, nhờ đó Thanh văn thừa tiếp tục quán Tứ đế.
  2. Giảng: Tu quán Tứ đế (tu quán 37 phẩm trợ đạo, trong bài Tứ diệu đếThích Trí Viên đã soạn). Chúng ta đã biết, “Trước nhất, Phật giáo không bi quan, cũng không lạc quan mà hiện thực, vì có lối nhìn hiện thực về nhân sinh và vũ trụ. Phật giáo nhìn sự vật một cách như thật”.

Phật giáo không tìm cách ru người vào ảo tưởng, về một thiên đường lừa bịp, cũng không làm người ta chết khiếp vì đủ thứ tội lỗi và sợ hãi tưởng tượng. Nó cho ta biết một cách khách quan ta là gì, thế giới quanh ta là gì, và chỉ con đường đưa đến tự do hoàn toàn, thanh bình, an ổn và hạnh phúc. Nơi đây có thể đưa ra một dẫn dụ: “Một y sĩ có thể phóng đại về một căn bệnh khiến bệnh nhân tuyệt vọng. Một y sĩ khác có thể tuyên bố không sao cả, không cần chữa; họ lừa dối con bệnh bằng một sự an ủi giả dối. Có thể cho rằng: người đầu bi quan, người sau lạc quan; cả hai đều nguy hiểm. Nhưng một y sĩ thứ ba định bệnh một cách một cách chính xác, hiểu rõ nguyên nhân và tính chất căn bệnh. Do thấy rõ được, nên bắt tay vào việc chữa trị, nhờ đó có thể cứu được bệnh nhân. Đức Phật giống như vị lương y sau cùng nầy. Ngài là vị lương y có trí tuệ và khoa học để trị những căn bệnh của thế gian. (Bhisakka hay Bhaisajyagury). (Trích trong “Đức Phật đã dạy những gì” trang 49, 50 của Ni sư Thích nữ Trí Hải dịch).

Qua câu chuyện trên, đạo Phật khuyên chúng ta: muốn tu đạt giác ngộ giải thoát, tự mỗi người phải ứng dụng, thể nghiệm lời Đức Phật dạy, tương quan sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày. Nếu những lời dạy lợi lạc cả mình và người thì pháp ấy là pháp “Liễu nghĩa”, chúng ta y theo, trân trọng. Ngược lại “Bất liễu nghĩa” thì chúng ta bất y. Và chúng ta nên quán triệt tinh thần Y nghĩa bất y ngữ thật trong sáng (vì lời nói có thể hay đẹp, nhưng không hàm chứa chất liệu giải thoát, chứng ngộ đỉnh cao). Như vậy, ai phát nguyện tu Thanh văn Thừa đều cần phải quán triệt lý Tứ đế. Khi người tu bậc này đã thấu triệt Tứ đế thì sở đắc (quả vị chứng đạt) như người cưa cây để lấy lửa, bắt đầu có hơi nóng, gọi là Noãn vị. Tiến thêm, phương pháp tu định và quán phép Tứ đế thì vượt lên noãn vị, như người leo lên tới đỉnh núi thì gọi là Đảnh vị. Đạt được từng phần trong an lạc bởi chân lý Tứ đế mà họ kham nhẫn vượt qua, nên gọi là Nhẫn vị. Kiên trì như vậy không mệt mỏi, phát nguyện tu Thanh văn thừa dần dần sẽ được pháp tánh (bản thể của các hiện tượng), tuy chưa chứng ngộ được chánh quả, nhưng đối với thế gian họ đã chứng vào bậc nhất, nên gọi là Thế đệ nhất vị (quả vị cao nhất của thế gian).

 

III- Kết luận:

Như hai Thừa trên, Thanh văn thừa được trợ duyên đắc lực của pháp Tứ đế nên đã đạt được Noãn vị, Đảnh vị, Nhẫn vịThế đệ nhất vị. Nhờ Tứ gia hạnh (bốn hạnh tăng tiến để chứng ngộ) này làm nền tảng Thanh văn hướng, sẽ chứng những quả: Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn và đỉnh cao là A-la-hán. Đạt được quả A-la- hán thì Kiến hoặc và Tư hoặc của ba cõi không có điều kiện phát sinh phiền não. Hay nói cách khác phiền não chướng là tiếng gọi chung của Kiến hoặc và Tư hoặc.

Như vậy, lợi ích để đạt được quả vị này đòi hỏi phải kiên trì, nhẫn nại. Nền tảng này chính là hướng tu Duyên giác thừa.

Bài III-14 DUYÊN GIÁC THỪA

(PRATEYKA BUDDHA)

-Thích Nhật Hiếu-

  1. Dẫn nhập:

Duyên giác thừa được xem là một trong năm trình độ tu tập và thân chứng của Phật giáo, thuật ngữ chuyên dụng Phật học gọi là “Ngũ thừa Phật giáo.”

  1. Nội dung:

a- Định danh Duyên giác:(1)

Duyên giác tiếng Phạn là Prateyka Buddha, Trung Hoa phiên âm là Bích-Chi-Phật, dịch nghĩa là Duyên giác, và cũng gọi là Độc giác. Duyên giác có hai nghĩa :

- Nhờ quán tưởng lý Thập nhị nhân duyên mà giác ngộ, đoạn hoặc trừ mê, chứng đắc giác ngộ giải thoát.

- Nhân lúc chứng kiến cảnh vô thường, đổi thay của cuộc đời, như nhìn thấy cảnh sanh tử của con người, hoa rơi tan tác, lá rụng tả tơi,v.v... mà giác ngộ cuộc đời là vô thường, giả tạm; đoạn hoặc trừ mê, chứng đắc giác ngộ giải thoát.

b- Sự giống nhau/ khác nhau giữa Duyên giác & Độc giác:

- Giống nhau: Duyên giác và Độc giác là bậc tự tu, tự chứng, tự giác ngộ và giải thoát cho chính mình; ưa thích trầm tư, thiền định nơi thanh vắng, an trụ và bằng lòng vào cảnh giới tu chứng của mình, chứ không đi thuyết pháp độ sinh.

- Khác nhau: Bậc Duyên giác có thể ra đời ngay khi Phật còn tại thế, còn bậc Độc giác ra đời tu hành và đắc đạo không có Phật ở đời.

c- Độc giác có hai hạng:

- Bậc Lân giác dụ: Bậc Độc giác cô thân, độc hành một mình không có bạn lữ, ví như con Tê giác một sừng sống độc thân trong rừng sâu.

- Bậc bộ hành: chung sống với đồ chúng, pháp lữ, thiện hữu, nhưng chỉ có một mình vị ấy là giác ngộ giải thoát.

Ở nghĩa này, đức Phật Thế tôn cũng được gọi là Độc giác hay Duyên giác, vì ngài đã tự tu, tự chứng. Chừng mực nào đó mà nói, với người đang bước những bước chân đầu tiên trên đạo lộ tu tập và thân chứng (Dự lưu, dự vào dòng thánh: Đạo & quả trong Tứ quả), đức Phật khuyên nên sống đời sống tri túc viễn ly và độc cư để tự đào luyện, un đúc năng lực (đức và trí) cho chính mình. Ngài đã từng dạy(2):

“Nếu không gặp bạn trí,

Cẩn trọng sống hiền lành,

Nên như vua từ bỏ,

Vương quốc bị xâm lăng

Hãy sống đời đơn độc

Như voi giữa rừng xanh.”

(Kinh Pháp cú 329)

Hoặc :

“Thà sống cảnh cô đơn,

Hơn bạn bè ngu ngốc

Sống lẻ loi đơn độc

Không gây nghiệp ác hành

Như voi giữa rừng xanh

Lang thang vô tư lự.”

(Kinh Pháp cú 330)

Tuy nhiên, với đức Phật, ngoài việc tự tu, tự chứng, tự giải quyết vấn đề sinh tử luân hồi, thành tựu tâm giải thoát và tuệ giải thoát tuyệt đối, chứng đắc quả vị tối thượng ra, Ngài còn thành tựu cả lãnh vực tự lợi và lợi tha. Chính vì vậy mà đức Phật được tôn xưng là bậc Lưỡng Túc Tôn (Phước đức và Trí tuệ vẹn toàn). Đây chính là điểm ưu việt mà hàng Duyên giác không thể sánh với đức Phật được.

d- Phân chia 12 chi phần nhân duyên theo nhân quả (Hoặc- Nghiệp-Khổ)(3)

1

Vô minh

   

2

Hành

   

3

Thức

 

Hoặc

4

Danh sắc

 

Nghiệp

5

Lụcnhập

   

6

Xúc

   

7

Thọ

   

8

Ái

   

9

Thủ

 

Khổ

10

Hữu

   

11

Sanh

   

12

Lão tử

   

Tóm lược 12 chi phần nhân duyên theo bài kệ:

“Vô minh ái thủ tam phiền não

Hành hữu nhị chi thị nghiệp đạo

Tùng thức chí thọ tương sanh tử

Thất chi đồng danh nhứt khổ đạo.”

e- Pháp tu và quả chứng của hàng Duyên giác(4):

Quán 12 nhân duyên theo chiều thuận (thuận lưu sinh tử - luân chuyển) và chiều nghịch (nghịch lưu sanh tử - hoàn diệt ), Đức Phật dạy:

“Vị ấy trầm tư về chuỗi duyên sinh(1), theo trình tự thuận chuyển (luân chuyển) và nghịch chuyển (hoàn diệt): “ Do vô minh(2), hành sinh; do hành(3), thức sinh; do thức, danh sắc sinh; do danh sắc, lục nhập sinh; do lục nhập (sáu giác quan) (4), xúc sinh; do xúc, thọ sinh; do thọ, khát ái (tham dục) sinh; do khát ái, chấp thủ sinh; do chấp thủ, hữu sinh; do hữu, sanh sinh; do sanh sinh, nên lão tử-sầu-bi- khổ-ưu-não sinh; Hay nguồn gốc toàn bộ Khổ uẩn sinh.

Ngược lại, “Bởi sự đoạn diệt của vô minh, dẫn đến sự vắng mặt hoàn toàn của khát ái, nên hành diệt; bởi sự đoạn diệt của hành, nên thức diệt; bởi sự đoạn diệt của thức, nên danh sắc diệt; bởi sự đoạn diệt của danh sắc, nên lục nhập diệt; bởi sự đoạn diệt của lục nhập, nên xúc diệt; bởi sự đoạn diệt của xúc, nên thọ diệt; bởi sự đoạn diệt của thọ, nên khát ái diệt; bởi sự đoạn diệt của khát ái, nên chấp thủ diệt; bởi sự đoạn diệt của chấp thủ, nên hữu diệt; bởi sự đoạn diệt của hữu, nên sanh diệt; bởi sự đoạn diệt của sanh, nên lão tử- sầu- bi- khổ- ưu- não diệt. Hay toàn bộ Khổ uẩn diệt”

Với tuệ tri về sự thật này, đức Thế tôn đã long trọng tuyên bố: “Khi mà sự thật tự nhiên của sự vật trở nên sáng tỏ đối với bậc Phạm hạnh (Bràhmana) tinh cần, tinh tấn, thiền định thì mọi nghi hoặc trong vị ấy đều tan biến; vị ấy nhận chân được nguyên lý thiên nhiên ấy là gì và duyên sinh tính của nó là gì.”

Vị ấy trầm tư về chuỗi duyên sinh theo trình tự của thuận chuyển và nghịch chuyển: “ Do vô minh sinh, hành sinh; ... Hay nguồn gốc của toàn bộ Khổ uẩn sinh. Do vô minh diệt, hành diệt; ... Hay sự đoạn diệt của toàn bộ Khổ uẩn.”

Với tuệ tri về sự thật này, đức Thế tôn đã long trọng tuyên bố: “Khi mà sự thật tự nhiên của sự vật trở nên sáng tỏ đối với bậc Phạm hạnh tinh cần, tinh tấn, thiền định thì mọi nghi hoặc trong vị ấy đều tan biến. Khi đó, vị ấy liễu tri sự đoạn diệt của Duyên sinh.”

Với tuệ tri sự thật này, đức Thế tôn đã long trọng tuyên bố: “Khi mà sự thật thiên nhiên của sự vật trở nên sáng tỏ đối với bậc Phạm hạnh tinh cần, tinh tấn, thiền định, vị ấy đã đứng lên tiêu diệt Ma vương (Màra) giống như vừng mặt trời soi sáng thế gian”

(Vinaya Texts, Translated from Pàli, by T.W. Rhys Davids PP. 75-78)

C- Kết luận:

Duyên giác thừa được xem là một trong Năm thừa Phật giáo, mà đây cũng chính là điểm khởi đầu của mọi hành giả trên đạo lộ tu tập hướng đến điểm đích thực giác ngộ và giải thoát cho chính mình; nhiên hậu có thể hướng đến cứu giúp mọi tha nhân đồng đạt được cuộc sống thánh thiện và hạnh phúc như mình. Nơi đây, có thể hiểu, với bậc Duyên giác, người có đầy đủ nghị lực, ý chí, vượt qua mọi chướng ngại của cuộc đời. Những vị này tuy sống thời mạc vận không có Phật ra đời, nhưng bằng nỗ lực của ý chí tự thân vươn lên, vượt qua mọi hệ lụy của cuộc đời, hướng đến giác ngộ giải thoát. Có thể xem đây là bài học về nghị lực vượt khó cho mọi người đệ tử Phật tại gia cũng như xuất gia của chúng ta; cho dù sống trong thời buổi khắc nghiệt, nhưng chúng ta cũng không vì đó mà thối tâm lùi bước trên con đường hướng tới điểm đích thực an lạc, hạnh phúc cho chính mình; hãy vững bước dù chông gai, dù khó khăn; hãy hiểu rằng thần linh oai lực cũng phải đành bất lực đối với kẻ đã tự đầu hàng. Chẳng phải Bậc Duyên giác là người đã tự thắng chính mình đó hay sao! Đức Phật cũng đã từng dạy: “Chiến thắng vạn quân chưa phải là đại thắng; mà tự chiến thắng lấy mình mới là chiến công oanh liệt.” Hãy dũng bước hướng đến chân trời đầy an lạc và hạnh phúc dài lâu trước tiên cho chính mình, ngõ hầu mới có khả năng lợi lạc cho tha nhân. Đây là mục tiêu và tính chất giác ngộ giải thoát của Duyên giác thừa.

 

 

 

  1. Tài liệu tham khảo :

Phật học từ điển, tg. Đoàn Trung Còn, xb.1966 tr.464

Kinh Pháp cú, dg. Tịnh Minh, xb. 1995, tr.152-153

Phật học phổ thông, tg. HT.Thích Thiện Hoa, xb.1997, tr.605

  1. Vinaya Texts, Translated from Pàli, by T.W. Rhys Davids PP.75-78
  2. Câu hỏi gợi ý :
  3. Sự giống nhau / khác nhau giữa Duyên giác, Độc giác và Toàn giác (Phật)?
  4. Ưu điểm / giới hạn của Duyên giác (Độc giác)?
  5. Pháp tu & quả chứng của Duyên giác?

Bài III-15 BỒ TÁT THỪA (BODHISATTVA)

-Thích Nhật Hiếu-

  1. Dẫn nhập:

Bồ tát thừa là mục tiêu cao nhất trong Ngũ thừa Phật giáo. Đây được xem là giáo nghĩa chỉ nam của Phật giáo Đại thừa trên đạo lộ hướng đến điểm đích thực của giác ngộ và giải thoát; trải qua lộ trình sơ phát tâm đến đích giải thoát an lạc của Niết bàn siêu việt.

 

  1. Nội dung :

1- Định danh Bồ tát:

Tiếng Phạn gọi là Bodhisattva, Trung Hoa dịch âm là Bồ-đề-tát-đỏa, giải nghĩa theo chiết tự là Bodhi (Bồ đề): Chánh giác; Sattva (Tát đoả): Hữu tình, Chúng sanh. Bodhisattva có 2 nghĩa: Giác Hữu tình, hoặc là Hữu tình giác.

- Giác hữu tình: Một hữu tình chúng sanh đã giác ngộ & giải thoát.

- Hữu tình giác: Sau khi đã giác ngộ & giải thoát rồi, vị này đem sự giải thoát và giác ngộ của mình cứu giúp chúng sanh. (I, Q.I, tr.289-290)

Vậy, Bồ tát là những người có tâm nguyện đại hiếu, đại bi và đại hạnh,... như Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Địa Tạng, v.v...

  1. Bậc chủng của Bồ tát :

2.1- Xét về tính chất:

a- Sơ phát tâm Bồ tát (Tân phát ý Bồ tát): người vừa mới phát tâm, vừa mới thành Bồ tát.

b- Bất thối chuyển Bồ tát: Bồ tát có hướng tâm mạnh mẽ, hướng đến ngôi vị Chánh giác để cứu độ chúng sinh không hề thối tâm.

c- Nhất sanh bổ xứ Bồ tát (Bồ tát Ma-ha-tát: Mahà- Bodhisattva): Vị này đã thành tựu công hạnh và năng lực tu hành viên mãn, thường du hành đến các cõi Phật, khi giáng thế vào cõi nào thì thành Phật - Như lai ở cõi ấy; như đức Phật Thích Ca, trước khi thành Phật thuyết pháp độ sinh ở cõi Ta-bà này, Ngài là vị Bồ tát Nhất sanh bổ xứ có tên gọi là Hộ Minh Bồ tát, tại cung trời Đâu Suất.

2.2- Xét về hình thức của một vị Bồ tát:

Những vị phát tâm Bồ-đề rộng lớn cứu thế độ sinh, những vị phát tâm thọ Bồ tát giới (10 giới trọng, 48 giới khinh), hạnh xả kỷ, vị tha như Tỳ kheo Bồ tát (Bồ tát xuất gia), Ưu-bà-tắc Bồ tát (Bồ tát tại gia).

3- Công hạnh của một vị Bồ tát:

Vì hạnh nguyện độ sanh nên Bồ tát dấn thân quên mình (xả kỷ, vị tha), như lời phát nguyện của ngài Địa Tạng: “Chúng sinh độ tận phương chứng bồ đề, địa ngục vị không thệ bất thành Phật”; lời phát nguyện của ngài A- nan: “...Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng, bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân, nguyẹn kim đắc quả thành bảo vương, hoằng độ như thị hằng sa chúng,...; ngũ trược ác thế thệ tiên nhập, như nhứt chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê- hoàn.”

Chính vì mục tiêu cao cả ấy, Bồ tát lấy lợi tha làm tự lợi, nên các ngài tu hạnh Lục độ Ba-la-mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ)

4- Hành trạng & quả chứng của một vị Bồ tát:

Theo Kinh Hoa Nghiêm, hành trạng của Bồ tát trải qua 52 từng bậc tu tập và thân chứng; từ địa vị Sơ phát tâm đến ngôi Chánh giác, gồm: Thập tín(1), Thập tru(2), Thập hạnh(3), Thập hồi hướng(4) , Thập địa(5), (II, Q.II, tr.151-195).

  1. Kết luận:

Bồ tát được xem là mẫu người lý tưởng cao đẹp nhất của cuộc đời. Đây là mục tiêu đào tạo và chuyển hóa con người cá nhân cũng như con người xã hội theo định hướng hạnh phúc, an lạc lâu dài và chắc thật theo tinh thần đạo đức học Phật giáo; chuyển hoá con người từ phàm phu, khổ đau, bi lụy,... hướng đến mục tiêu thánh thiện an lạc, hạnh phúc. Có thể nói đây là hướng giáo dục lý tưởng và khả thi nhất trong vai trò làm đẹp cuộc đời; bởi vì, Bồ tát là con người dấn thân, đi sâu vào tận ngõ ngách của cuộc đời để thực thi vai trò cứu nhân độ thế một cách hiệu quả nhất. Không ai hiểu rõ và đồng cảm với đời bằng chính bản thân họ; vì rằng, họ cũng từ một con người đã từng quằn quại trong bể dâu của cuộc đời, khi thoát khỏi cuồng lưu của dục vọng, của bể khổ sông mê, họ trở lại giúp đời.

Hạnh phúc thay! May mắn thay! Những ai được diễm phúc thấy được ánh sáng của giáo pháp. Không như người mù sờ voi, làm sao có thể cho rằng Phật giáo là những người quay lưng, dửng dưng và lãnh đạm với cuộc đời. Có biết chăng, có nhiều người là những Bồ tát dấn thân đang không quản ngại dầu sôi lửa bỏng, hy sinh một cách thầm lặng để gieo hạt giống từ bi, trí tuệ trên mảnh đất cuộc đời đầy rẫy đau thương này, cho xã hội nhiều hoa thơm đức hạnh và trái ngọt tình thương. Hãy bừng tỉnh và đứng lên! Anh, tôi, tất cả các bạn và mọi người chúng ta hết mê được tỉnh, hết khổ được vui; cùng làm những vị Bồ tát tỉnh thức cho đời hết bức hại nhau trong đêm trường đầy tăm tối của tham lam, cừu hận và si mê. Hãy nâng cao ngọn đèn tuệ đăng sáng soi cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho đời trong hiện tại và mãi mãi mai sau. Chẳng phải chúng ta đang tự trang nghiêm Phật độ bằng chính mình đó hay sao ?

PHỤ LỤC

Tư liệu tham khảo:

  1. Phật học từ điển, tg. Đoàn Trung Còn, xb.1966.
  2. Bồ tát đạo (Con đường lý tưởng), tg. Minh Đức- Thanh Lương, xb.1999,

III.Bồ tát giới kinh, tg. HT.Thích Trí Quang, xb.1998

  1. Kinh Hoa Nghiêm, tg. HT.Thích Trí Tịnh, xb.1997

Câu hỏi gợi ý:

1- Điểm giống nhau / khác nhau giữa bậc Bồ tát và Phật (Trí tuệ, Giác ngộ và Giải thoát)?

2- Hành trạng & Đạo lộ mà một vị Bồ tát kinh qua (khái quát)?

Bài III-16 PHÁT BỒ ĐỀ TÂM

-Thích Tâm Trụ-

I- Khái niệm: Tâm Từ rải khắp muôn phương

Tâm Bi rải khắp mười phương chan hoà

Lòng người nở một đóa hoa

Từ Bi giải thoát chan hoà tình thương.

Thật vậy, đạo Phật ra đời nhằm mục đích cải tạo thế gian đầy đau khổ triền phược để trở thành một thế giới an lạc và hạnh phúc.

Mục đích của đạo Phật đặt nặng vào con người, vì con người chính là then chốt của tội phước và đầu mối của Thánh phàm. Thế giới có khổ đau hay an lạc, tươi sáng hay tối tăm đều bắt nguồn từ con người. Cho nên đạo Phật luôn chú trọng đến con người và cải tạo con người bằng ba phương diện: Bi, Trí và Dũng.

- Bi là thực hiện tình thương đối với muôn loài, phá vỡ mọi giới hạn phân biệt, phát sinh từ ý niệm đê hèn và vị kỷ.

- Trí là để chiếu phá mọi ý niệm si mê cuồng vọng, nhằm đưa con người đến chỗ tỉnh giác và nhận thức chính xác hơn.

- Dũng là để vượt lên mọi ý tưởng thấp hèn của nghiệp lực và sợ hãi mà tiến đến chân trời cao đẹp.

Với tinh thần đó, Đức Phật đã chỉ dạy cho chúng ta những phương pháp phát tâm tu hành, rèn luyện nhân cách để trở thành một người thuần thiện có đầy đủ phước trí làm lợi lạc cho nhân sinh. Hội đủ ba đức tính này gọi là tâm Bồ đề. Vậy tâm Bồ đề là gì ?

 

II- Định nghĩa:

Bồ đề: Dịch âm Phạn ngữ Bohdi. Theo người xưa dịch là Đạo, nghĩa là có lòng cầu chân đạo, gọi rằng Bồ đề tâm.

Theo người đời nay, dịch Bồ đề là Giác, nghĩa là có lòng mong cầu được sự chơn chánh giác ngộ, gọi là Bồ đề tâm (hai ý nghĩa đồng nhau).

Đạo: Marga, Mago (thuật ngữ). Đạo có nghĩa là đưa đến, dẫn dắt. Chủ yếu gồm có ba loại:

  1. Hữu lậu đạo: Thiện nghiệp đưa con người đến chỗ thiện, ác nghiệp dẫn dắt con người thẳng đến chỗ ác. Nên hai nghiệp Thiện - Ác gọi là đạo.
  2. Vô lậu đạo: Các pháp như Thất giác, Bát chánh… có thể dẫn dắt người tu hành đến Niết bàn, gọi là đạo.
  3. Cái thể của Niết bàn: Gạt bỏ tất cả mọi chướng ngại, đạt vô ngại, gọi là đạo.

Giác: Gọi đủ là Giác giả Buddha (thuật ngữ) – Bậc giác ngộ. Giác có hai nghĩa là: Giác sát, giác ngộ. Giác giả bao gồm có ba tính : Tự giác, Giác tha và Giác hạnh viên mãn. Thiếu một trong ba tính đó thì không thể gọi là giác giả được.

Phát Bồ đề tâm:

Chữ phát có nhiều nghĩa: Phát sinh, phát khởi, phát hiện, phát triển và phát minh. Làm thế nào để phát khởi cái chí nguyện mong cầu Vô thượng Bồ đề? Lại làm sao để phát sinh cho đến phát minh tuệ giác Bồ đề? Nói chung làm thế nào để phát Bồ đề tâm?

Gồm có năm cách :

  1. Tự tánh phát
  2. Tư tự phát
  3. Thiện căn phát
  4. Đẳng lưu phát
  5. Đoạn chứng phát.

III- Nội dung:

1- Lấy phát Bồ đề tâm làm chủ yếu:

Mục đích của người tu học Phật là nhằm được tuệ giác siêu việt, tức Bồ đề tâm, để viên mãn công hạnh Tự lợi và Lợi tha. Nhưng muốn trở thành một bậc Thánh thiện, điều trước hết là phát tâm Bồ đề, vì Bồ đề được coi là mục đích tối hậu, mà tất cả người tu hành cần phải đạt đến và cũng là điều kiện duy nhất để trở thành một Bồ Tát. Vì thế, Tổ Thật Hiền có dạy: “Cửa chính yếu vào đạo thì sự phát tâm đứng đầu, việc khẩn cấp để tu hành thì sự lập nguyện đứng trước. Nguyện có lập thì chúng sanh mới độ, tâm có phát thì Phật đạo mới thành. Cái tâm quảng đại không phát, cái nguyện kiên cố chẳng lập thì dẫu có trải qua đời đời kiếp kiếp như các bụi, cũng y nhiên ở trong phạm vi luân hồi; tu hành dẫu có, cũng toàn là lao nhọc, khổ sở một cách vô ích. Do đó, Kinh Hoa Nghiêm đã nói: Quên hết tâm Bồ đề tu hành các thiện pháp thì gọi là hành động theo Ma vương. Quên mất còn thế huống chi là chưa phát! Nên muốn học đạo Như lai thì trước phải phát Bồ đề nguyện, không thể chậm trễ”.

Vậy, khi biết được phát tâm Bồ đề là cao cả và nhiều lợi ích, thì mọi người nên phát tâm. Nhưng muốn phát tâm trước hết phải hiểu nguyên nhân, thì người phát tâm mới có lòng tin vững chắc; có thấu triệt phương pháp thì chỗ phát tâm mới đúng đắn vậy.

 

2- Nguyên nhân phát tâm Bồ đề:

Sự phát tâm này xuất phát từ lòng tin tuyệt đối và trí hiểu biết sáng suốt. Tin tưởng và hiểu biết là điều kiện tối cần để chính mình có khả năng đạt được tâm Bồ đề. Vì hiểu rằng : Các Đức Phật khi chưa phát tâm cũng như ta, thế mà ngày nay các Ngài đã chứng quả Bồ đề. Nếu như ta phát tâm thì quả Bồ đề cũng sẽ đạt được. Nên biết rằng: Tánh Bồ đề sẵn có nơi chúng ta. Tin tưởng những kết quả thù thắng của người, Trời, Thanh văn, Duyên giác…như đã biết phát tâm rộng lớn thì kết quả cũng sẽ lớn. Tin tưởng mình có thể độ thoát tất cả chúng sanh và ngăn cản chúng sanh không cho tạo nhân khổ nữa thì sẽ đạt được. Do hiểu biết và tin như vậy nên phát tâm Bồ đề. Nếu được lòng tin vững chắc, hiểu rõ vấn đề thì chúng ta sẽ nghe Tổ Thật Hiền dạy về mười nguyên nhân để phát tâm Bồ đề được vững gồm có:

  1. Nhớ ơn nặng của Phật.
  2. Nhớ ơn cha mẹ.
  3. Nhớ ơn sư trưởng.
  4. Nhớ ơn thí chủ.
  5. Nhớ ơn chúng sanh.
  6. Nhớ khổ sanh tử.
  7. Trọng tánh linh của mình.
  8. Sám hối nghiệp chướng.
  9. Cầu sanh Tịnh độ.
  10. Làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài.

 

3- Phương pháp phát tâm Bồ đề:

Phương pháp phát tâm Bồ đề thì có rất nhiều, nhưng nội dung ở đây chỉ nêu ra 10 phương thức thực tiễn với đời sống tu học của người Phật tử chúng ta:

  1. Gần gũi bạn lành.
  2. Dứt lòng nóng giận.
  3. Vâng theo lời dạy chơn chánh của Thầy.
  4. Mở lòng thương mến đối với mọi loài.
  5. Siêng năng tu tập.
  6. Nên thấy điều tốt, không nên thấy điều xấu của người.
  7. Khuyên người bỏ điều lỗi, không nghe cũng không chán nản và hối tiếc lời khuyên của mình.
  8. Phát tâm tu hành hoặc làm những việc tốt, hoặc người khen ngợi cũng không kiêu hãnh.
  9. Thấy người có điều hay không nên ganh tỵ.
  10. Tưởng tất cả chúng sanh như con một, nghĩa là phải thực hiện tình thương và giúp đỡ bình đẳng cho tất cả mọi loài, không phân biệt màu da chủng tộc.

 

4- Chơn chánh phát tâm Bồ đề:

Người có trí sâu rộng nên phát tâm: Trên cầu thành Phật đạo, dưới dứt hết mọi khổ não cho chúng sanh. Hãy xem chúng sanh và ta đồng một thể tánh, nên chúng sanh đọa lạc là ta đọa lạc. Đây chính là đồng thể đại bi tâm, là lối phát tâm của Đại thừa Bồ Tát và phát tâm như thế gọi là chơn chánh phát tâm.

Như vậy, muốn phát tâm chơn chánh, điều kiện tất yếu phải có trí tuệ rộng lớn. Bởi vì tâm nguyện vốn dĩ có rất nhiều sắc thái khác nhau, nếu không có trí tuệ để phân trạch thì làm sao biết được đâu là chánh đâu là tà, đại, tiểu, chơn, ngụy, thiên, viên. Đây là tám sắc thái khác nhau, nếu không biết phân định lấy, bỏ thế nào thì sự phát tâm không đạt kết quả.

5- Biện giải về phát tâm Bồ đề không có định tánh:

Như đã biết, tánh Bồ đề không phải tánh bổn hữu cố định mà chỉ do duyên tu tập đối với các pháp như: Tu Lục độ… thì mới có tánh ấy. Cũng như các loài chúng sanh vốn không có tánh cố định, mà chỉ do mọi hành động thiện ác mới có các loại sai biệt mang tính cách khác nhau.

Như vậy, tánh Bồ đề vốn không cố định, chỉ do công phu tu tập và các nhân duyên trợ giúp để làm phát khởi tính ấy; đồng thời cũng căn cứ vào sự tu tập siêng năng hay biếng nhác mà phân định, có tiến thối khác nhau. Nếu tinh tấn tu tập thì từ địa vị con người có thể đạt được Thánh quả, còn ngược lại, từ con người rơi xuống địa ngục do tánh Bồ đề không được trợ duyên.

Phương thức phát tâm Bồ đề có rất nhiều, nhưng muốn áp dụng cho đúng đắn, tuần tự để tu tập thì điều căn bản là phải có một niềm tin vững chãi và một sự hiểu biết sâu xa. Như người đi biển có kim chỉ nam không còn lo ngại biển khơi diệu vợi. Còn nếu luận bàn tỉ mỉ thì chẳng những không rốt ráo mà lại làm cho người nghe, người đọc thêm rối loạn, không nắm được manh mối khiến cho kẻ nói người nghe đều vô ích. Chi bằng tùy theo chỗ hiểu biết và tin tưởng của mình mà siêng năng học hỏi, tùy theo trình độ của mình mà phát tâm tu học. Được như thế ngày qua tháng lại, cái sở học, sở hành của mình được mở mang sáng suốt vậy.

 

 

Bài VI-1 KIẾT TẬP TAM TẠNG

-HT. Thích Thiện Bình-

 

I- Lời mở đầu :

Đức Thế Tôn trong bốn mươi lăm năm giáo hóa, lần đầu tiên tại Lộc-Uyển cho ông Kiều-Trần-Như, lần cuối tại Câu-Thi-Na cho ông Tu-Bạt-Đà-La, Ngài dùng phương pháp khẩu truyền. Những đề tài Ngài thuyết giảng phần nhiều đều do một sự việc gì đó xảy ra, Ngài tập họp các đệ tử lại, phân tích, giải thích soi sáng sự việc, nhưng thường là tùy căn cơ, hoàn cảnh, nội dung nặng nhẹ mà Ngài đưa ra một giáo thuyết để đối trị thích nghi.

Phương châm của Phật:

“Thuốc phải ứng đúng với từng cơn bệnh một”.

II- Nguyên nhân kiết tập:

Sau khi Phật nhập Niết-Bàn bảy ngày, Ngài Ca-Diếp cùng năm trăm đệ tử từ thị trấn Ba-và(Pv) đến thị trấn Câu-Thi-Na (Kusinagara) gặp một vị đạo sĩ thuộc nhóm tà mạng (Ajivivaka) báo cho biết Phật đã nhập Niết-Bàn. Bấy giờ, một số thì ưu bi, sầu khổ, một số thì bình tĩnh, nhẫn nại, chịu đựng. Duy chỉ có một thanh niên Tăng tên là Subhaddha vỗ tay vui mừng, trong ý nghĩ rằng từ đây được sống tuỳ thích không còn bị khiển trách kiềm chế nữa. Để ngăn ngừa sự phá giới sau khi Phật nhập Niết-Bàn, Ngài Ca-Diếp đã đề nghị cùng quí vị Thánh Tăng nên sớm kiết tập:

- Hiện nay quí vị Thánh Tăng và nhất là những đệ tử thân cận Phật còn hiện tiền, nên sớm có đại hội yêu cầu họ tụng lại những lời dạy của Phật để chư Tăng được nghe và trùng tụng.

III- Kiết tập Tam Tạng :

Đức Phật thuyết pháp trong bốn mươi lăm năm, có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn nhưng qui chung lại thành ba tạng : Kinh, Luật, Luận.

a- Đại hội thành Vương Xá (Rajagaha)

Đại hội này họp trong động Thất-Diệp, ngoài thành Vương-Xá, có năm trăm vị A-la-hán tham dự, Ngài Ca-Diếp chủ trì. Vì vậy nên đại hội kiết tập này có tên là “Ngũ bách kiết tập” hay “Vương-Xá thành kiết tập”.

Ngài Ca-Diếp yêu cầu Ngài Ưu-Ba-Ly thuyết trình lại những điều Đức Phật dạy về giới luật cho hai bộ chúng xuất gia, minh xác điều này Phật thuyết vào dịp nào, cho ai, nơi đâu?

Sự thuyết trình của ngài Ưu-Ba-Ly đã tạo thành bộ “Bát thập tụng luật” căn bản đầu tiên.

Ngài Ca-Diếp yêu cầu Ngài A-Nan đọc lại những lời Phật dạy về giáo pháp và minh xác những lời Phật nói ra dịp nào, nơi đâu, ở đâu, cho ai, thuyết trình của Ngài hợp thành “Thánh giáo điển ngũ bộ” (Nikaya)

Theo Nam Truyền, trong khi Ca-Diếp đại hội kiết tập tại động Thất-Diệp, tại thành Vương-Xá thì Ngài Phú-Lâu-Na (Purma) đang cùng năm trăm vị tỳ kheo đang khất thực tại Nam-Sơn. Được tin, Ngài vội vã dẫn năm trăm Tăng chúng trở về thì đại hội đã bế mạc. Ngài Phú-Lâu-Na bèn nói : “Tuy quí Ngài đã đại hội kiết tập Phật Pháp như vậy rồi, nhưng còn những pháp mà tôi riêng nghe từ kim khẩu Phật thuyết cũng nên kiết tập thọ trì”. Vì vậy có từ:Giới ngoại kiết tập

Lần kiết tập nầy chỉ có hai tạng : Luật tạng, Kinh tạng.

b- Đại hội Thành Tỳ Xá Ly (Vaisali)

Sau khi Phật nhập Niết Bàn độ một trăm năm, chúng tỳ kheo Bạt Kỳ (Viji) trú tại thành Tỳ-Xá-Ly đưa ra mười điều luật mới cho là thích hợp với chánh pháp.

Trưởng lão Da-Xá (Yasas) đến đây, thấy chúng tỳ kheo nầy hành xử, Ngài phản đối, cho đây là phi pháp, nên Ngài đã bị họ trục xuất.

Trước hành động phi pháp đau lòng trên, Ngài đã đi khắp cả xứ Ấn Độ cầu thỉnh được bảy trăm vị trưởng lão Thánh Tăng về khai hội tại chùa Valikarama ở Tỳ-Xá-Ly để lên án mười điều luật phi pháp này. Đại hội tiến hành công việc qua hai giai đoạn :

- Thẩm định cặn kẽ từng điều luật một của nhóm Tỳ kheo Bạt-Kỳ, đối chiếu với các điều tương đương trong sách giới bổn.

- Thẩm định xong rồi mới đưa ra cho đại hội thông qua một cuộc họp khoáng đại. Kết quả đại hội này là : Mười điều luật mới của nhóm Tỳ kheo Bạt-Kỳ là phi pháp.

Đại hội này có bảy trăm vị trưởng lão tham dự nên có tên là: “Thất Bách kiết tập”, cũng gọi là “Tỳ-Xá-Ly thành kiết tập”.

Đại hội này không phải là kiết tập thánh điển, mà chỉ để chỉnh lý mười điều luật mới của nhóm Tỳ kheo Bạt-Kỳ.

c- Đại hội thành Hoa Thị (Patalipuha)

Để chấm dứt tình trạng sáu chục ngàn tăng sĩ đang sống trong sự phân hoá tại chùa A-Dục-Vương (Asokarana) những năm qua, Vua A-Dục-Vương sai sứ giả đi thỉnh Trưởng lão Mục-Kiền-Liên-Đế-Tu đang ẩn tu trên núi A-Lộ-Càng-Gia (Ahoganga) về thành Hoa-Thị.

Tại chùa A-Dục, Ngài Mục-Kiền-Liên-Đế-Tu chủ tọa và hướng dẫn nhà vua chất vấn chư Tăng những điều sai khác trong giáo pháp Phật. Sau sự trình bày của chư Tăng, Vua A-Dục phân định được đâu là chánh, đâu là tà, nhà Vua ra lệnh trục xuất số chư tăng theo dị giáo ra khỏi giáo đoàn. Từ đây giáo đoàn mới thanh tịnh tu học.

Trong số chư Tăng còn lại, Trưởng lão lựa được một ngàn vị Tăng thông hiểu Tam tạng. Ngài Mục-Kiền-Liên-Đế-Tu thỉnh các Ngài tham dự đại hội để kiết tập Tam Tạng. Tạng Luận được xuất hiện trong đại hội nầy. Đó là sách Luận sự hay Thuyết sự (Kathavattha). Tương truyền bộ luận này là do Ngài Mục Kiền-Liên-Đế-Tu biên soạn. Nội dung là bài xích tất cả tà thuyết, đặc biệt là bộ phái Án-Đat-Ta. Đại hội này gọi là “Hoa-Thị thành kiết tập”.

d- Ca-Thấp-Di-La thành kiết tập (Kasmira)

Đầu kỷ nguyên Tây lịch, Thượng tọa bộ phát triển mạnh ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, đặc biệt là Nhất Thiết Hữu Bộ(Sarvastivada) gọi tắt là Hữu bộ.

Đại hội lần nầy do Hữu bộ ghi chép, có hai thuyết:

- Đại hội nầy tham dự có năm trăm vị A-la-hán và năm trăm vị Bồ-tát. Đại hội nầy được tổ chức tại thành Ca-Thấp-Di-La (Kasmira) nước Kế-Tân, vùng Tây Bắc Ấn Độ, triều đại Vua Ca-Ni-Sắc-Ca. Do đó nên gọi đại hội nầy là “Ca-Thấp-Di-La thành kiết tập”. Đại hội do Ngài Ca-Chiên-Diên chủ tọa, Ngài Mã Minh Bồ-tát biên chép, thành quả đại hội nầy là sáng tác bộ A-Tỳ-Đạt-Ma Tỳ-Bà-Sa(Abhidharma Vikhasa) gồm một trăm vạn bài tụng.

- Đại hội này chỉ có năm trăm vị A-la-hán tham dự, Ngài Thế-Hữu chủ tọa. Thành quả đại hội nầy là sáng tác bộ luận nghi (Upadesa) gồm mười vạn bài tụng giải thích về Tạng Kinh. Ngoài ra còn tạo bộ Tỳ-Nại-Da (Vinaya) và bộ A-Tỳ-Đạt-Ma Tỳ-Bà-Sa (Abhidharma Vikhasa), mỗi bộ có mười vạn bài tụng giải thích về Kinh tạng và Luật tạng.

Đại hội này sự kiết tập đủ cả ba tạng : Kinh, Luật, Luận.

IV- Kết luận :

Đại hội kiết tập Tam Tạng tổ chức bốn lần. Nhưng mỗi kỳ kiết tập có khác nhau.

- Kỳ thứ nhất mới kiết tập hai tạng : Kinh, Luật.

- Kỳ thứ hai là chỉnh lý lại mười điều luật phi pháp nhóm Tỳ kheo Bạt-Kỳ.

- Lần thứ ba là hoàn chỉnh tam tạng: Kinh, Luật, Luận. Đại hội cũng loại được các vị Tăng theo phái dị giáo ra ngoài giáo đoàn.

- Lần thứ tư là chuyên biên về Tạng luận, theo chủ trương đường lối của Hữu-Bộ.

Trong bốn đại hội, việc làm tuy có khác nhau, sự suy luận của các sử gia cũng có sai khác. Điều quan trọng là công trình đã được thành tựu viên mãn, đã được Giáo hội Nguyên thủy chấp nhận, tạo thành gia tài tinh thần chung cho các bộ phái và Đại Thừa y vào đây để khai triển và tu học.

 

 

Bài VI-2 DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH PHỔ MÔN PHẨM

-Thích Trí Viên-

 

I- Mở đề:

Thân Tứ Đại Ngũ Uẩn của chúng sanh đều bình đẳng ở sự sống, đau bệnh và tan rã. Tuy vậy, mỗi loại bệnh có khác nhau nên cách chữa trị cũng khác nhau. Hàng đệ tử Đức Phật cũng thế, đều bình đẳng trong tình thương Đức Phật, nhưng không đồng nhau mỗi pháp môn tu. Tùy theo căn cơ hoàn cảnh mỗi người chọn cho mình pháp môn tu theo sở thích. Như trong bộ kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, mỗi Ngài Tổ Sư theo sở thích mỗi phẩm. Ngài Trí Giả, chuyên tu phẩm Phương Tiện, Ngài Nhật Liên Thánh Nhân tu theo phẩm Như Lai Thọ Lượng, Ngài Đạo Nguyên tu theo phẩm Như Lai Thần Lực, Tổ Huệ Năng tu theo phẩm Đà La Ni v.v…

Hôm nay lớp học Phật Pháp Cư Sĩ Áo Lam TP. Nha Trang phát nguyện tu học phẩm Phổ Môn thứ 25 trong 28 phẩm của Bộ Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Vậy, trước nhất chúng ta tìm hiểu nghĩa của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Phổ Môn Phẩm:

II- Nhập đề:

  1. Định nghĩa:
  2. Diệu Pháp là gì?: Diệu Pháp là pháp nhiệm mầu. Chữ Pháp là chỉ tất cả sự vật đang hiện hữu trong vũ trụ mà mỗi chúng ta có thể thấy bằng mắt, tai có thể nghe. Ở đây chỉ lời dạy của Đức Phật, lời dạy của Đức Phật có năng lực đoạn trừ tham, sân, si, ngã mạn, hẹp hòi, nhỏ mọn của chúng sanh, nên gọi là Pháp mầu nhiệm. Pháp có thể làm cho chúng sanh hiểu rõ mọi vật do duyên khởi tạo thành, nhưng giả tạo. Và Pháp chỉ rõ tự tâm mỗi chúng sanh có bản tính Giác Ngộ. Trong đó, mỗi chúng sanh là vị Phật tương lai, nên gọi là Pháp mầu, nghĩa là khẳng định rõ thật tướng bình đẳng nếu chúng sanh nào muốn qui hướng Giác Ngộ. Bởi thật tướng bình đẳng của các pháp là không gì hết. Nó không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt, không thường, không đoạn; thật tướng của các Pháp là vô tướng. Lẽ vô tướng nên hình thành các tướng.

Ví dụ: Nước vô tướng nên hình thành các tướng mà không chướng ngại. Khi đổ nước vô thùng vuông thì có tướng vuông, tướng dài trong ống dài. Nhờ vô tướng mới thành các tướng khác. Thật tướng bình đẳng là vậy mà bản chất nó vẫn mềm mại không đánh mất.

Diệu Pháp nầy nếu chúng sanh biết sử dụng, khai triển, phát huy đúng mức sẽ chứng ngộ, tức là thành Phật. Cho nên, ứng dụng có hiệu quả gọi là Diệu Pháp.

  1. Liên hoa: Là hoa sen. Người Ấn tôn trọng hoa sen vì nó đẹp nhất, ý nghĩa nhất trong các loài hoa. Do vậy, Đạo Phật dùng hoa sen làm biểu tượng giải thoát. Loài hoa nầy sống trong bùn, từ bùn mà nở hoa thơm không hôi mùi bùn.

Tuy Diệu Pháp ở trong luân hồi sanh tử mà không bị luân hồi sanh tử. Hoa sen ở trong bùn mà không hôi bùn. Ngược lại, bản chất hoa sen thơm. Cũng vậy, chúng sanh nào tuy ở trong ô nhiễm mà chuyển được ô nhiễm để thoát mùi đời, vượt vòng sanh tử sẽ đem lại lợi lạc cho mình và có năng lực độ thoát chúng sanh, tỏa hương thơm cho cuộc đời. Đó là đóa sen trong bùn.

Ngoài ra có loại hoa sen trong lửa nữa. Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói cách tu cho chính Ngài và nhắn gởi chúng ta:

“Đi cũng thiền ngồi cũng thiền,

Trong lò rực lửa nở cành sen”.

“Đi cũng thiền” nghĩa là dù đi tâm vẫn an nhiên tự tại, không vướng mọi cảnh, không nhiễm trần lao, luôn luôn tỉnh giác, ấy là “Đi cũng thiền”. “Ngồi cũng thiền” nghĩa là ngồi mà vẫn tỉnh giác, không tán tâm loạn ý, ấy là “Ngồi cũng thiền:”. Đi và Ngồi mà luôn tỉnh giác chính là trong lò lửa nầy (tam giới du như hỏa trạch) nở một cành sen.

Trong lò lửa nầy tức là cuộc đời trái ngang oan nghiệt, xấu xa, đau khổ, bẩn thỉu, áp bức, xâu xé nhau, chà đạp nhau, tranh quyền, tước lợi nhau, những loại hình, tâm ý ác độc ấy chính là lò lửa, bùng cháy bất cứ lúc nào, thiêu rụi chúng sanh. Tuy nhiên, người nào ở trong ấy biết điều phục, biết phương pháp thoát ra, từ đó đi ra. Như năm xưa Thái tử Tất Đạt Đa đã ra đi, chính người ấy là Thích Ca Mâu Ni Phật, là hoa sen nở từ trong lửa, rất đáng kính ngưỡng. Cho nên “Trong lò lửa rực nở cành sen” là vậy.

Theo tinh thần Kinh Pháp Hoa thì nhân, quả, lý, trí đều là Diệu Pháp, và lấy hoa sen làm biểu tượng giải thoát nên gọi chung là Diệu Pháp Liên Hoa. Vì thế, Diệu Pháp Liên Hoa là giáo Pháp tối thượng, dạy cho tất cả chúng sanh có một cuộc sống chân thật, không đảo điên theo trần cảnh.

  1. Kinh: Là lời dạy của Đức Phật. Lời dạy nầy phải khế hợp với chân lý, nghĩa là phù hợp mọi sự vật mà Đức Phật đã giác ngộ, không ước đoán mù mờ. Đức Phật đã chứng thực các Pháp thế nào, Ngài nói lại đúng như vậy, đó là khế lý. Tuy vậy, khi Ngài đem dạy chúng sanh cũng phải hợp với căn cơ của chúng sanh mới có lợi ích, gọi là khế cơ. Nếu khế lý mà không khế cơ thì không phải là Kinh Phật.
  2. Phổ: Rộng khắp, không hạn cuộc thời gian, không gian, không giới hạn đối tượng, chủng tánh màu da.
  3. Môn: Là Pháp môn cứu độ. Tinh thần Phẩm Phổ Môn nầy, Đức Quán Thế Âm dùng đủ pháp môn ứng hiện thân, độ khắp mọi loài chúng sanh. Nghĩa là Ngài đi đến gõ cửa từng nhà để cứu giúp chúng sanh đang mãi mê quyền thế danh vọng. Vì thế, Chư Phật mười phương ca ngợi hạnh nguyện Đức Quán Thế Âm.
  4. Phẩm: Là phần thứ tự. Như Phẩm Phổ Môn được xếp thứ 25 trong 28 phẩm Kinh Pháp Hoa do Ngài Cưu Ma La Thập đã dịch từ Phạn sang Hán văn.

* Lược giảng văn kinh:

Đức Phật dạy: “Cuộc đời là khổ nên ta ra đời”. Đức Phật xuất hiện thế gian để Khai, Thị, Ngộ, Nhập, Phật Tri Kiến cho chúng sanh. Đây chính là hạnh nguyện Chư Phật và Chư Bồ-Tát. Nếu Chư Phật và Chư Bồ-Tát không ra đời để khai thị cho chúng sanh thì chúng sanh mãi mãi trầm luân biển khổ.

Hạnh nguyện Bồ-Tát Quán Thế Âm mở rộng lòng từ bi nên nhận mọi loài sinh linh làm bạn gần gũi với chúng sanh mới cứu vớt họ khi cầu đến Ngài. Bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào, chúng sanh cần Ngài cứu khổ, Ngài sẽ xuất hiện, nên trong kinh gọi là: “Phổ Môn Thị Hiện cứu khổ tầm thinh từ bi thuyết pháp độ mê tân”. Nghĩa là khi nghe âm thanh cầu xin cứu khổ thì Ngài Quán Thế Âm thị hiện mọi nơi, mọi nhà để thuyết pháp độ sanh vượt khổ thoát mê (độ mê tân) thoát vòng lao ngục sanh tử khổ đau. Khổ đau ở đây không những sanh, già, bệnh, chết mà phải vượt ra luân hồi sanh tử bao đời kiếp. Chính cái khổ ấy mới đáng sợ, mới đáng nên ra khỏi. Vì vậy Phẩm Phổ Môn chủ yếu đề cập hạnh nguyện từ bi của Đức Quán Thế Âm mà chính Bồ-Tát Văn Thù là người khải thỉnh Đức Thế Tôn dạy bảo vì sao gọi là Quán Thế Âm.

(Trích bản lược dịch của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu) như sau:

“Lúc bấy giờ Bồ Tát Vô Tận Ý chắp tay bạch Đức Thế Tôn rằng: Bồ-Tát Quán Thế Âm vì lý do gì mà có danh hiệu ấy? Đức Phật dạy: Vô số trăm ngàn vạn ức chúng sanh chịu đủ khổ não, nếu nghe danh hiệu Bồ-Tát Quan Âm, một lòng xưng niệm thì Ngài liền nghe được âm thanh ấy và làm cho họ đều được giải thoát.

Người nào trì niệm danh hiệu của Ngài, dù có rơi vào đống lửa dữ dội, lửa không đốt cháy do vì thần lực của Quán Thế Âm. Nếu bị cuốn trôi bởi dòng nước lớn mà niệm hồng danh Bồ-Tát Quán Thế Âm, thì liền gặp được chỗ đất khô cạn. Giả sử có trăm vạn ức người vì kiếm vàng bạc, lưu ly, xà cừ, mã não san hô, hổ phách, trân châu và những ngọc quý, mà vào biển lớn, rồi bị trận gió cuồng phong thổi giạt thuyền buồm sa và nước quỷ. Nếu trong đoàn ấy dù chỉ một người, xưng niệm danh hiệu Bồ-Tát Quán Thế Âm, thì tất cả mọi người đều được giải thoát khỏi tai nạn quỷ dữ. Vì duyên cớ ấy mà danh hiệu của Ngài là Quán Thế Âm. Lại nếu có người sắp bị hành hình mà niệm danh hiệu Bồ-Tát Quán Thế Âm, dao gậy trong tay người kia đang nắm gẫy ra từng đoạn và kẻ tội nhân liền được giải thoát. Giả sử trong cõi đại thiên thế giới đầy dẫy quỷ dữ Dạ xoa, La sát muốn hại người nào, mà nghe người ấy xưng niệm hồng danh Bồ-Tát Quán Âm, thì các quỷ dữ còn không thể đem con mắt dữ mà nhìn người ấy, huống hồ làm hại. Lại nữa những người có tội hoặc không, đang bị gông cùm xiềng xích thân thể, mà niệm danh hiệu Bồ-Tát Quán Âm, thì những gông xiềng ấy đều bị hư hỏng, làm cho người ấy liền được giải thoát. Trong cõi đại thiên đầy dẫy giặc thù, có người dẫn đầu một đoàn lái buôn mang các vật báu đi qua đường hiểm, trong đoàn có kẻ nói lên lời rằng: “này các bạn ơi, đừng sợ hãi, hãy chuyên một lòng trì niệm danh hiệu Bồ-Tát Quan-Âm, vị Bồ-Tát ấy thường đem cho ta sự không khiếp sợ, nếu các anh niệm danh hiệu Bồ-Tát thì sẽ thoát được nạn giặc cướp này”. Những người lái buôn nghe nói, đồng thanh cất tiếng: “Nam Mô Quán Âm Bồ-Tát", mà được giải thoát. Nầy Vô Tận Ý, thần lực uy lực Bồ-Tát Quán Âm rất lớn lao. Người nhiều dâm dục, nếu thường cung kính niệm hiệu Quán Âm thì lìa dâm dục, người nhiều giận dữ, nếu thường cung kính niệm hiệu Quán Âm thì lìa được giận dữ, người nhiều ngu si, nếu thường cung kính niệm hiệu Quán Âm, thì lìa được ngu si. Bồ-Tát Quán Âm có sức oai thần rất lớn lao nên làm cho chúng sanh được nhiều lợi ích. Bởi thế mọi người thường nên tâm niệm đến Ngài. Nếu có nữ nhân cầu sinh con trai, lễ bái cúng dường Bồ-Tát Quán Âm thì liền được sanh con trai đầy đủ phước đức trí tuệ, cầu sinh con gái thì liền được sinh con gái xinh đẹp, gốc rễ phước đức, mọi người yêu kính. Bồ-Tát Quán Âm thần lực như vậy, người nào cung kính lễ bái Bồ-Tát, được phước rất nhiều, không phải công suông. Bởi thế mọi người nên niệm danh hiệu Quán Âm Bồ-Tát. Nầy Vô Tận Ý, giả sử có người trì niệm danh hiệu sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ-Tát, lại thêm suốt đời cúng dường đồ ăn, thức uống, y phục, đồ nằm, dược phẩm, ý ông nghĩ sao? Công đức của người cúng dường như vậy có được nhiều không?Vô Tận Ý bạch Đức Thế Tôn, thật là nhiều lắm. Đức Phật lại dạy, như nếu có người thọ trì danh hiệu Bồ-Tát Quán Âm, lễ bái cúng dường dù chỉ một thời, phước đức hai người bằng nhau không khác, ngàn vạn ức kiếp hưởng phước không cùng. Nầy Vô Tận Ý, thọ trì danh hiệu Bồ-Tát Quán Âm phước đức vô lượng vô biên như vậy. Ngài Vô Tận Ý lại bạch Đức Thế Tôn, Bồ-Tát Quán Âm du hành trong cõi thế giới Ta bà bằng cách nào, và thuyết pháp cho cả chúng sanh bằng cách nào?

Đức Phật dạy: Người ở nước nào đáng dùng thân Phật để mà giáo hóa, Bồ-Tát Quán Âm liền hiện thân Phật. Đáng được hóa độ bằng thân Duyên giác, Bồ Tát liền hiện ra thân Duyên giác. Đáng được hóa độ bằng thân Thanh văn, Bồ-Tát liền hiện ra thân Thanh văn. Đáng được hóa độ bằng thân Phạm vương, Bồ-Tát liền hiện ra thân Phạm vương. Đáng được hóa độ bằng thân Đế-thích, Bồ-Tát liền hiện ra thân Đế-thích. Đáng được hóa độ bằng thân Tự Tại, Bồ-Tát liền hiện ra thân trời Tự Tại. Đáng được hóa độ bằng thân Đại Tự Tại, Bồ-Tát liền hiện ra thân trời Đại Tự Tại. Đáng được hóa độ bằng thân hình của Thiên đại tướng quân, Bồ-Tát hiện thân Thiên đại tướng quân. Đáng được hóa độ bằng thân Tì-sa-môn, Bồ-Tát liền hiện thân Tì-sa-môn. Đáng được hóa độ bằng thân Tiểu vương, Bồ-Tát liền hiện thân hình Tiểu-vương. Đáng được hóa độ bằng thân Trưởng giả, Bồ-Tát liền hiện thân hình Trưởng giả. Đáng được hóa độ bằng thân cư sĩ, Bồ-Tát liền hiện thân hình cư sĩ. Đáng được hóa độ bằng thân Tể quan, Bồ-Tát liền hiện thân hình Tể quan. Đáng được hóa độ bằng thân Bà-la-môn, Bồ-Tát liền hiện ra thân Bà-la-môn. Đáng được hóa độ bằng các loại hình: Tỳ-kheo-tăng, Tỳ-kheo-ni, hoặc Ưu-bà-tắc hay Ưu-bà-di, Bồ-Tát hiện các loại thân ấy. Đáng được hóa độ bằng thân phụ nữ của các Trưởng giả, cư sĩ tể quan hay Bà-la-môn, Bồ-Tát liền hiện thân hình phụ nữ. Đáng được hóa độ bằng thân đồng nam hay đồng nữ, Bồ-Tát liền hiện ra thân đồng nam đồng nữ. Đáng được hóa độ bằng các loài trời, rồng hoặc Dạ-xoa hay Càn-thát-bà, hoặc A-tu-la, hoặc Ca-lâu-la, Ma-hầu-la-dà, người hoặc phi nhân, Bồ-Tát liền hiện các loại thân kia. Đáng được hóa độ bằng thần Kim cang, Bồ-Tát liền hiện bằng thần Chấp Kim cang. Bồ-Tát Quán âm đã thành tựu được công đức như vậy, dùng đủ loại hình du hành thế gian cứu vớt chúng sanh, bởi thế các người hãy nên nhất tâm cúng dường Bồ-Tát. Vị Bồ-Tát ấy, bậc đại hữu tình, thường có năng lực đem lại can đảm trong lúc nguy cấp, trong nỗi kinh hoàng, trong chốn tai nạn, cho nên mọi người trong cõi Ta bà mệnh danh Bồ-Tát là Người ban bố sự không khiếp sợ.

Vì hạnh nguyện rộng lớn của Đức Quán Thế Âm như thế, cho nên Phật tử chúng ta cần hiểu sơ lược tiểu sử của Ngài qua những sưu tầm trình bày sau đây: Trong quá khứ kiếp, Đức Quán Thế Âm là con trai trưởng của vua Vô Tránh Niệm nơi thế giới Xan Đề Lam, tên là Bất Huyền. Nhờ lòng chí thành cúng dường Đức Phật Bảo Tạng nên được thọ ký, sau khi thành Bồ-Tát tên là Quán Thế Âm. Một kiếp xa nữa, Ngài được Đức Phật Quán Thế Âm thọ ký danh hiệu là Quán Thế Âm. Tuy nhiên, phái Mật Tông đã khẳng định Ngài là vị Cổ Phật, có hiệu là Chánh Pháp Minh Vương Như Lai. Nhưng vì tinh thần độ sanh, Ngài hiện thân Bồ-Tát.

Trở lại nơi thế gian nầy qua nhiều hình thức họa khắc tôn thờ, như ở Trung Hoa, thờ Ngài Quán Thế Âm, Quan Âm Nam Hải hay Từ Hàng Đại Sĩ. (Ngài hiện làm người chèo thuyền cứu giúp kẻ bị nạn). Ở Nam Triều Tiên thờ Ngài dưới hình tượng ba đầu sáu tay, hay Thiên Thủ Thiên Nhãn, Mã Đầu Quan Âm. Ở Việt Nam thường thờ hình tượng Tiêu Diện Đại Sĩ (Quán Âm hóa thân Tiêu Diện Đại Sĩ) để hàng phục người làm điều xấu ác, như ăn cắp, bóc lột, thịnh nộ, công quyền, dùng quyền lực… Ở Ấn Độ dưới hình thức thờ: Chuẩn Đề Quán Thế Âm (Quan Âm hiện dưới dạng 700 vị nữ thần đặt dưới sự thống lãnh của Long Nữ), Như Ý luân Quán Âm (Quán Âm đeo chuỗi Anh Lạc) nghĩa là bao nhiêu mong cầu của chúng sanh được Bồ-Tát Quán Thế Âm giúp đỡ thành tựu ý nguyện.

Trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Quán Thế Âm ứng hiện dưới hình dạng Thiện Tài Đồng Tử. Hiện tại, Đức Quán Thế Âm Bồ-Tát là người trợ giúp Đức Phật A Di Đà nơi cảnh giới cực lạc Tây Phương cùng với Bồ-Tát Đại Thế Chí tiếp độ chúng sanh và giáo hóa nơi ấy. Không những vậy, Ngài Quán Âm còn làm bạn với chúng sanh cõi Ta-bà nầy, vì tình thương cứu vớt, nên giữa Ngài với chúng sanh trần thế có liên hệ mật thiết với nhau. Trong Tâm Kinh Bát Nhã, Ngài có tên là Quán Tự Tại, nghĩa là Ngài tự tại độ khắp cả loài hữu tình và vô tình, đem đến mọi an vui không chướng ngại. Tình thương Bồ-Tát Quán Thế Âm bao khắp mọi hình thức độ sanh là vậy.

Cho nên hóa thân Ngài chỉ hạn cuộc 32 thân, đây mới là con số tượng trưng. Vì thế Đức Thế Tôn trả lời Ngài Vô Tận Ý vì sao Đức Quán Thế Âm có danh hiệu Quán Thế Âm.

Vậy, Phật tử chúng ta vận dụng tâm niệm như thế nào mỗi khi tụng Phẩm Phổ Môn? Như chúng ta đã biết, đối tượng cứu khổ là hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm, cho nên chúng sanh cầu xin Ngài hộ trì khai sáng Huệ Tâm chứ không cầu xin Ngài thăng chức lấn quyền, lợi mình hại người. Cầu xin như vậy, chúng sanh biến Đức Quán Thế Âm là một vị thần linh tà kiến. Theo nhãn quang Phật Giáo, tà kiến là nghiệp của Ma, Từ bi và Trí tuệ là sự nghiệp giải thoát của người con Phật. Cầu lợi mình hại người là người không có lòng từ bi, xem Đức Phật là vị thần linh để cầu xin thăng chức lấn quyền là người Phật tử thiếu trí tuệ. Vì vậy cho nên Phật tử vận dụng tâm niệm tụng Phổ Môn là cầu Đức Quán Thế Âm gia hộ chúng ta có trí tuệ sáng suốt. Với trí tuệ sáng suốt, cuộc sống chúng ta nhẹ nhàng, thoát vòng cương tỏa sanh tử luân hồi, đoạn trừ được phiền não, thăng hoa cuộc sống, mọi tốt đẹp sẽ đến với chúng ta. Nếu Phật tử chúng ta không ý thức mỗi khi tụng Phổ Môn với ý niệm cao thượng như vậy, chính chúng ta bị nô lệ theo dục vọng điên đảo. Chúng ta biết rằng, hình ảnh và năng lực của Bồ-Tát Quán Thế Âm là sức mạnh và niềm tin, là người bạn gần gũi nhất với chúng sanh cõi Ta Bà này.

Vì vậy, chúng sanh nào hướng về Ngài, niệm danh hiệu Ngài với lòng chí thành lúc gặp sợ hãi, hoạn nạn thì sẽ có Ngài ứng hiện cứu giúp chúng ta qua nhiều hình dạng. Tinh thần Phẩm Phổ Môn là: Rưới mưa pháp cam lồ, dứt trừ mọi phiền não (Chú cam lồ pháp vũ, diệt trừ phiền não diệm). Tinh thần Vô Úy Thí của Đức Quán Thế Âm là điểm tựa đáng tin cậy cho chúng sanh trong mọi tình huống, thành tựu mọi công đức (Năng vị tác y hổ, cụ nhứt thế công đức).

III- Kết luận:

Không ngoài lòng chí thành tha thiết, chúng sanh nào có niềm tin vững mạnh, trì tụng xưng niệm Đức Quán Thế Âm, Phẩm Phổ Môn, chúng sanh ấy được công đức vô lượng (nghĩa là mọi thành tựu vô lượng như ý nguyện chân chính). Đây là nói tán thán của Bồ-Tát Trì Địa đã quỳ trước Đức Thế Tôn, cung kính bạch như vậy. Đức Thế Tôn lúc ấy đã dạy rõ hạnh nguyện Bồ-Tát Quán Thế Âm xong, thì có tám vạn bốn ngàn chúng sanh phát tâm tu, hướng đến Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Bài VI-3 LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM

-Thích Ngộ Tịnh-

 

Phần mở đầu:

Nói đến lịch sử Phật giáo Việt Nam, các nhà sử học Phật giáo phân ra như sau:

+ Thời kỳ Phật giáo du nhập.

+ Thời kỳ Phật giáo cực thịnh.

+ Thời kỳ Phật giáo suy yếu.

Có hai khúc quanh lịch sử:

+ Khúc quanh lịch sử thứ nhất:

Sự kết thúc thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm. Từ khi vua Vũ Đế nhà Hán sai Lộ-Bác-Đức sang xâm chiếm nước ta cho tới thời Ngũ-Quý, sau khi Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở đầu cho thời đại độc lập dân tộc.

Đạo Phật trải qua thời kỳ lâu dài ở nước ta đã thấm nhuần sâu vào đời sống dân tộc, đủ thời gian để bản địa hóa, Việt Nam hóa và hội nhập vào sinh hoạt xã hội Việt Nam.

Và sau đó thời đại độc lập của đất nước bắt đầu, cũng là thời đại đạo Phật chiếm địa vị độc tôn thành quốc giáo, thành tư tưởng chủ yếu của dân tộc.

+ Khúc quanh lịch sử thứ hai:

Vào cuối đời nhà Trần, khi đạo Phật để mất địa vị quốc giáo của mình trước sự cạnh tranh lấn át của Khổng giáo. Thời kỳ mà các sử gia đánh giá là thời kỳ bắt đầu suy yếu của đạo Phật, kéo dài mãi tới hiện nay.

I- Thời kỳ Phật giáo du nhập:

Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của ba xu thế:

* Xu thế thứ nhất: Ảnh hưởng Phật giáo Ấn Độ:

Nhiều sử liệu cho biết là Phật giáo được truyền thẳng từ Ấn Độ vào Việt Nam từ một thời xa xưa, có thể là trước Tây lịch, khi có phái đoàn của hai vị A-La-Hán Sona và Ultara đến Savanabhunui và xứ vàng, một vùng rộng lớn có thể bao gồm các nước nằm trong bán đảo Đông Dương. Rất có thể Trung tâm Phật giáo Luy-Lâu, ở miền Bắc Việt Nam là do các Tăng sĩ Phật giáo Ấn Độ qua đây truyền giáo lập thành.

* Xu thế thứ hai: Ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc.

Do thời kỳ Bắc thuộc 1.000 năm, và nhất là điều kiện địa lý gần gũi, nên Phật giáo Trung Quốc ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến Phật giáo Việt Nam. Những tông phái Thiền được chính thức thành lập đầu tiên tại Việt Nam là từ Trung Quốc du nhập vào.

* Xu thế thứ ba: Phật giáo được địa phương hóa:

Để tồn tại, thích ứng với lịch sử, địa lý, văn hóa Việt Nam. Cho nên Phật giáo được bản địa hóa, Việt Nam hóa.

Những tăng sĩ đầu tiên đến Việt Nam có bốn vị, đều là những người Ấn Độ hay Trung Á, đó là: Ma-Ha-Kỳ-Vực (Mahajavaka), Khâu-Đa-La (Kaudinya), Chi-Cương-Lương (Kalynaruci) và Khương-Tăng-Hội. Trong số những vị này, theo sử sách cho chúng ta biết, Ngài Ma-Ha Kỳ-Vực và Khâu-Đa-La đến Luy-Lâu, nơi Sĩ -Nhíp đang cai trị vào khoảng các năm (168-169). Theo cuốn “Cao Tăng truyện” của Huệ Hạo, chép sự tích Ma-Ha-Kỳ-Vực, đã cho biết Ngài đã đi từ Tây Trúc đến nước Phù Nam, sau đó dọc theo bờ biển đến Giao Châu và Quảng Châu.

Chúng ta có thể hiểu: “Từ Tây Trúc tức là từ Ấn Độ đến nước Phù Nam, dọc theo bờ biển đến Giao Châu, Quảng Châu”. Như vậy hai Ngài Ma-Ha Kỳ-Vực và Khâu-Đa-La đã bằng đường bộ hoặc đường thủy đến Phù Nam trước, có thể là Campuchia hiện nay. Sau đó dọc theo bờ biển Đông Dương đến Giao Châu tức Bắc Việt Nam và sau đó qua Trung Quốc.

Thiền sư Khâu Đa La

Thiền sư Khâu Đa-La, người bạn đồng hành của Ngài Ma-Ha-Kỳ-Vực đến Giao Châu. Theo sử ghi lại thì Ngài ở lại Giao Châu. Còn Ngài Ma-Hà-Kỳ-Vực, tiếp tục đi đến Lạc Dương, kinh đô nhà Hán thời bấy giờ.

Ngài Khâu-Đa-La ở lại Giao Châu có quan hệ đến huyền sử Man-Nương và việc thành lập các ngôi chùa Pháp-Vân, Pháp-Vũ, Pháp-Lôi, Pháp-Điện ở tỉnh Hà Bắc hiện nay.

Huyền sử này được ghi lại trong nhiều truyện khác nhau bằng văn Nôm, như “Cổ châu Pháp vân Phật Bản Hạnh”, hay bằng chữ Hán trong “Báo-Cực truyện” và trong cuốn”Kiến văn Tiểu Lục” của Lê Quý Đôn, cũng như trong tập “Lĩnh Nam trích quái” của Trần Thế Pháp. Nội dung các truyện có khác nhau, nhưng nhân vật chính vẫn là Ngài Khâu-Đa-La và cô gái Việt Nam Man Nương và bối cảnh địa lý là Trung tâm Phật giáo Luy Lâu với các ngôi chùa Pháp-Vân, Pháp-Vũ, Pháp-Lôi, Pháp-Điện, điều này chứng tỏ Phật giáo đã được truyền thẳng từ Ấn Độ vào Việt Nam, qua các Thiền sư Ấn Độ đầu tiên đến đây truyền giáo và sinh hoạt mật thiết với các tầng lớp nhân dân ở Việt Nam lúc bấy giờ.

“Từ Sơn Phủ, huyện Tiên Du

Phượng Hoàng non ấy có chùa Linh Quang.

Rừng xanh gọi đồi Mã-Mang

Kề bên Thạch Thất có làng non Tiên

Có Thầy ở mãi Tây-Thiên

Luyện tu đạo Thiền hiệu Khâu-Đa-La

Lập am dưới gốc cây đa...”

(Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh)

Cuốn “Thiền Uyển Tập Anh” và thời điểm Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Việt Nam.

“Thiền uyển Tập Anh” là cuốn sử Phật giáo Việt Nam xưa nhất hiện nay, còn lưu lại và được dịch nhiều lần ra tiếng Việt. Sách được soạn vào cuối thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIII và ghi chép rõ ràng cuộc đàm thoại giữa Thái hậu Kinh Nhân (Ỷ Lan) đời nhà Lý và Quốc sư Thông Biện về vấn đề đạo Phật truyền vào nước ta từ khi nào. Quốc sư Thông Biện trả lời như sau:

“Xứ Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc. Phật giáo vào Trung Quốc chưa phổ cập đến Giang Đông mà xứ ấy đã xây ở Luy Lâu hơn 20 bảo tháp, độ hơn 500 vị tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi. Thế là xứ ấy theo đạo Phật trước ta. Bấy giờ có các vị sư Ma-Ha-Kỳ-Vực, Khâu-Đa-La, Khương-Tăng-Hội, Chi-Cương-Lương, Mâu-Bác đều ở đó truyền đạo.”

Sự trả lời của Thiền sư Thông Biện, chỉ là nhắc lại câu trả lời của nhà sư Trung Á tên Đàm-Thiên, đối với vua Cao Tổ đời nhà Tùy. Khi vua Cao Tổ tỏ ý muốn cho một phái đoàn truyền giáo Trung Quốc qua Việt Nam để truyền bá đạo Phật. Đây là một xác nhận của người Trung Hoa từ đời nhà Tùy: Đạo Phật đã phát triển ở Bắc Việt Nam (Giao Châu) rất sớm, khi Giang Đông Trung Quốc chưa có Phật giáo.

Khương-Tăng-Hội và thiền học ở Việt Nam

Khương-Tăng-Hội (200-247) mà cuốn Thiền Uyển Tập Anh chép lại như sau: Khương-Tăng-Hội là một trong những vị tăng đầu tiên truyền bá Đạo Phật ở Giao Châu, là người Trung Á, theo cha mẹ qua Ấn Độ, rồi sau đó định cư ở Giao Châu. Cha mẹ mất khi Ngài mới lên 10 tuổi, sau đó xuất gia, học Phật ở Giao Châu, rồi trở thành một Thiền sư lỗi lạc ở đây.

Như vậy cho chúng ta biết rằng trước khi Ngài Khương-Tăng-Hội đến Giao Châu thì ở đây đã có Phật giáo và trung tâm Luy-Lâu là một trong ba trung tâm Phật giáo nổi tiếng ở Đông và Nam Á. Hai trung tâm kia là Lạc Dương và Bành Thành ở Trung Quốc.

Ngài Khương-Tăng-Hội không phải là vị tăng sĩ nước ngoài đầu tiên truyền bá đạo Phật ở Việt Nam mà chỉ là một người xuất gia học Phật và thành tài ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ rằng trung tâm Phật giáo Luy-Lâu ở Việt Nam mà Ngài Khương-Tăng-Hội đã đem Phật giáo truyền qua Trung Hoa.

Lạc Dương, trung tâm Phật giáo Trung Hoa có thể thành lập do các tăng sĩ Ấn Độ và Trung Á, theo con đường tơ lụa qua Trung Hoa truyền giáo. Trung tâm Lạc Dương có thể hình thành độc lập ở phía Nam, gần biển hơn, có thể do các Tăng sĩ từ Luy Lâu đến thành lập. Theo Hồ Thích, một sử gia cận đại nổi tiếng của Trung Hoa, cho rằng trung tâm Bành Thành có thể được thành lập bởi những tăng sĩ từ Giao Châu đi theo đường bộ từ Quảng Tây rồi Quảng Châu, sau đó, vượt núi đến vùng hạ lưu sông Dương Tử đến Bành Thành.

Ngài Khương-Tăng-Hội chủ giải kinh “An-Ban-Thủ-Ý” do An-Thế-Cao dịch ở Lạc Dương, chứng tỏ sự liên lạc ở Lạc Dương và Luy Lâu có từ đầu kỷ nguyên Tây lịch, mặc dầu đường sá cách trở xa xôi, mặc dù an ninh các con đường không được bảo đảm.

Tuy cả ba trung tâm Phật giáo, đều có giảng Phật pháp và phiên dịch kinh điển, nhưng chỉ có trung tâm Luy-Lâu mới có những sáng tác những bộ sách gọi là Luận, còn ở Lạc Dương và Bành Thành, chỉ có dịch thuật mà thôi.

Ở trung tâm Luy-Lâu, Mậu-Tử đã biên soạn cuốn sách “Lý hoặc Luận” nổi tiếng để phản bác lại những lời phê bình của các Đạo gia, Nho gia thời bấy giờ đối với Phật giáo, cuốn “Lục-độ yếu mục”“Nê-Hoàn-Phạm-Bối”. Sớ giải cuốn “A-Ban-Thủ-Ý-Kinh”, “Pháp cảnh”, “Đạo thọ”. Điều này cho biết rằng trình độ học Phật ở Trung tâm Luy-Lâu đã khá cao. Đồng thời gợi ý là Trung tâm Luy-Lâu phải được hình thành đã khá lâu rồi.

Ngài Khương-Tăng-Hội, đến Kiến Nghiệp thủ đô nước Ngô vào thời Tam-Quốc. Ngụy (phương Bắc), Thục (phương Tây), Ngô (ở phía Nam), vì vậy phần đất của nhà Ngô, còn gọi là Giang Nam hay Giang Đông (phía Nam Trung Quốc).

Lúc này, vùng Giang Đông từ sông Dương trở xuống chưa có bóng dáng Phật pháp, nên Ngài Khương-Tăng-Hội, đem Phật pháp từ Giao Châu sang truyền bá ở đây và được Ngô-Tôn-Quyền (229-252) trọng dụng. Ngài đã đến Kiến-Nghiệp (Nam kinh ngày nay) vào khoảng đầu thế kỷ III Tây lịch.

Ngài Khương-Tăng-Hội xuất hiện ở Giao Châu vào cuối thế kỷ thứ II, không có nghĩa Đạo Phật được truyền vào Việt Nam vào thời ấy. Ngài xuất gia năm lên 10 tuổi ở Giao Châu và học Phật đến khi thành tài mới lên đường đi Trung Hoa truyền đạo. Có nghĩa là khi Ngài Khương-Tăng-Hội cùng cha mẹ đến lập nghiệp ở Giao Châu thì Luy-Lâu, thủ phủ của Giao Châu đã là một Trung tâm Phật giáo phồn thịnh.

Đã có khá đông tăng sĩ Ấn Độ, Trung Á và Việt Nam ở Luy-Lâu rồi, nên mới có chùa (20 bảo tháp), phiên dịch kinh điển (15 cuốn). Vì vậy khi chưa qua Trung Hoa, Ngài đã phiên dịch và chú giải nhiều kinh ở Luy-Lâu. Ngài phiên dịch được 14 bộ kinh. Hiện nay, chỉ còn lưu lại 5 bộ, Ngài trước tác hai bộ “Lục-độ-Giải-mục”“Nê-hoàn-phạm-bối”. Lục độ là sáu hạnh Ba-La-Mật của giáo lý Đại thừa, tức là Phật giáo Bắc truyền ở Giao Châu. “Nê-Hoàn phạm bối” là các bài kệ được phổ nhạc, nói lên niềm hạnh phúc chứng đạo của các tu sĩ. Điều này cho thấy, Ngài Khương-Tăng-Hội đã biết dùng nghệ thuật âm nhạc để phổ biến và truyền bá Phật pháp trong dân gian.

Ngài Khương-Tăng-Hội còn dịch bộ kinh “Bát thiền tụng Bát Nhã”, một tác phẩm xưa nhất của văn hệ Bát-Nhã, thuộc Đại thừa giáo, Bát nhã nghĩa là trí tuệ. Ngài dịch bộ “Bát thiền tụng Bát Nhã”, chứng tỏ có nhiều bộ kinh, thuộc văn hệ Bát nhã đầu tiên đã có tại Giao Châu rất sớm.

Với thời điểm này, ở Lạc Dương, Chi-Câu-La-Sấu cũng có dịch Kinh Bát Nhã, gồm 18.000 bài tụng, tức là Dasasahasrika, chứ không phải là bộ kinh Bát Nhã mà Ngài Khương-Tăng-Hội dịch ở Giao Châu.

Ở trung tâm Luy Lâu, Ngài Khương-Tăng-Hội còn chú giải cuốn “An ban thủ ý” do một tăng sĩ người xứ An-Tức (Iran) gọi là An-Thế-Cao, dịch ở Lạc Dương. Cuốn “An-Ban thủ ý” dạy phép niệm hơi thở ra vào. Niệm hơi thở là tập trung ý nghĩ vào hơi thở. Đó là phương pháp tu tập Thiền định, được đức Phật giảng dạy trong nhiều kinh khác nhau, thuộc kinh tạng Nguyên thủy, tức là Tạng Pali hiện nay.

Ngài Khương-Tăng-Hội chú giải cuốn “An Ban Thủ Ý” chứng tỏ:

1- Trung tâm Luy Lâu vào đầu Tây lịch đã chú ý đến Thiền học, là phương pháp định tâm nhằm mục đích khai phát trí tuệ, được nói tới trong các bộ kinh Bát Nhã đầu tiên, như bộ “Bát thiền tụng Bát Nhã” mà Khương-Tăng-Hội đã dịch ở Giao Châu.

2- Phật giáo Việt Nam đã biết tới Thiền học hàng nhiều thế kỷ trước khi Ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi từ Trung Quốc qua lập tông phái Thiền ở Việt Nam.

3- Có sự liên hệ giữa hai trung tâm Phật giáo Lạc Dương ở Bắc Trung Quốc và trung tâm Luy-Lâu ở Giao Châu, thông qua các đoàn Tăng sĩ qua lại giữa hai trung tâm bằng đường bộ hay đường thủy.

Bài VI-4 49 NGÀY THIỀN ĐỊNH

-Thích Thông Huệ-

Như hoa sen đẹp đẽ và dễ thương, không ô nhiễm bùn nhơ nước đục, giữa đám bụi trần ta không vướng chút bụi nhơ. Như vậy, ta là Phật”. Đây là khúc ca khải hoàn của một người vừa chiến thắng trận cuối cùng trong cuộc trường chinh gian khổ, chiến đấu với kẻ thù phiền não ngay trong chính bản thân mình.

Để có một ngày vang lên khúc ca lịch sử ấy, Đức Bổn Sư của chúng ta phải trải qua sáu năm trời ròng rã nỗ lực công phu, không có một sự hỗ trợ nào bên ngoài, không một năng lực siêu phàm nào ban phước. Đến khi sức cùng lực kiệt, Ngài hiểu rằng, con đường mình đã theo những người đi trước không giải đáp được vấn nạn lớn của đời mình, là thoát ly sinh tử. Ngài đã quyết định tự mình làm thầy cho chính mình, tự tìm cho mình một lối đi riêng. Sau khi dùng món ăn gồm gạo và sữa do nữ thí chủ Sujàtà dâng cùng, sức khỏe phục hồi, Ngài trải qua 49 ngày đêm hành trì dưới cội cây Tất Bát La bên bờ sông Ni Liên Thuyền, cuối cùng thành tựu đạo quả vô thượng.

Nhân kỷ niệm ngày thành đạo của Đức Bổn Sư, chúng ta sẽ đi theo dấu chân Ngài qua bảy tuần công phu ấy. Dĩ nhiên, đây chỉ là sự khảo sát bên ngoài, còn những biến chuyển trong nội tâm Ngài thì làm sao ta có thể hiểu thấu, như Kinh Lăng Già đã nói: “Cảnh giới tự chứng của trí tuệ bậc Thánh, hàng phàm phu và Nhị thừa không thể với đến được”. Tuy vậy, những gì gặt hái được khi tìm hiểu về con đường tìm đạo và chứng đạo quả của Ngài, là những điểm sáng trọng yếu để chúng ta noi theo trên bước đường tu tập.

1- Tuần thứ nhất:

Suốt bảy ngày đêm, Đức Bổn Sư ngồi bất động dưới cội cây Tất Bát La, chứng nghiệm hạnh phúc siêu thoát. Một điều trong kinh không ghi rõ, hạnh phúc này thuộc thiền định nào trong Tứ Thiền Bát Định. Đến đêm cuối cùng, Ngài xuất thiền, ngồi suy niệm về mười hai nhân duyên theo hai chiều thuận nghịch.

Suy niệm theo chiều thuận, Ngài giải đáp được câu hỏi: “Vì sao có sanh tử luân hồi?”. Do chúng sinh vô minh nên có hành nghiệp; không biết tất cả các pháp đều là duyên hợp không thật có, nên khi tiếp duyên xúc cảnh luôn sanh thức tâm phân biệt. Lúc lìa đời, theo nghiệp thọ sanh vào bào thai gọi là danh sắc, bắt đầu một kiếp khác. Con người khi sanh ra đã có đủ sáu căn (lục nhập), tiếp xúc với sáu trần và dính mắc nên sinh những cảm giác (xúc sanh thọ). Có cảm thọ tất có ái luyến đam mê, từ đó sanh tâm chấp thủ và muốn chiếm hữu. Hữu là điều kiện thọ sanh trong ba cõi nên gọi là Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu, tạo nghiệp và lại theo nghiệp tiếp tục vào vòng sanh tử (sanh). Có sanh lại có già chết (lão tử). Cứ thế luân chuyển mãi không dừng. Toàn bộ sự đau khổ của thế gian sanh khởi theo phương thức ấy, yếu tố trước là nhân duyên của yếu tố sau.

Muốn đoạn trừ đau khổ ấy, phải đoạn trừ nguyên nhân. Suy niệm theo chiều nghịch, Ngài thấy rõ rằng, nếu Vô minh diệt thì Hành diệt. Tương tự cho đến các yếu tố khác, cho đến Sanh diệt thì Lão tử diệt; nếu chặt đứt một mắc xích trong mười hai nhân duyên thì chấm dứt luân hồi. Ngài đã trả lời câu hỏi thứ hai “Làm thế nào giải thoát sinh tử?”

Từ đó những phương pháp công phu trong Đạo Phật đều có mục đích cuối cùng là giải thoát, và đặt căn bản trên sự đoạn trừ một trong những mắc xích quan trọng: hoặc đoạn trừ Vô minh, tức giác ngộ bản tâm thanh tịnh; hoặc đoạn trừ vọng tưởng tức Hành diệt thì Thức diệt, không còn tạo nghiệp; hoặc đoạn tận Tham ái thì Thủ Hữu không còn...

Chấm dứt tuần đầu tiên, Đức Bổn Sư thấu triệt Lý Duyên Sinh, tức Tánh Không theo tinh thần Bát Nhã hay Lý Trùng Trùng Duyên Khởi theo tinh thần Hoa Nghiêm. Ngài tóm tắt bằng bốn câu kệ, nghĩa như sau:

Cái này có thì cái kia có

Cái này không thì cái kia không.

Cái này sanh thì cái kia sanh

Cái này diệt thì cái kia diệt.

 

2- Tuần thứ hai:

Trong tuần này, Đức Bổn Sư không tọa thiền. Ngài đứng ra xa, lặng yên nhìn cây Tất Bát La không chớp mắt.

Tư thế đứng lặng yên, nhìn mãi cái cây đã che mưa đỡ nắng cho Ngài, là một hình ảnh rất cảm động và có ý nghĩa giáo dục sâu xa. Bài học thứ nhất là một bài luân lý sinh động về lòng biết ơn và đền ơn. Đối với loài vô tình đã trợ duyên cho Ngài tu tập, Ngài còn tỏ lòng tri ân như thế, huống chi giữa người với người, sao không thể cư xử tốt đẹp có tình có nghĩa cùng nhau? Nếu không có đạo đức làm người, thì làm sao nghĩ đến chuyện thành Phật tác Tổ?

Bài học thứ hai, một người đã chứng nghiệm hạnh phúc xuất thế vẫn không lãng quên thế giới hiện thực, không phá hoại các pháp thế gian. Những bậc ngộ đạo vẫn ở trong cuộc đời nhiêu ích quần sanh, vẫn tỏa sáng cho đời bằng nhân cách cao cả, bằng trí tuệ siêu xuất và bằng đạo đức tuyệt vời của mình. Bởi vì, “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần, Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp”, đối với chân lý tuyệt đối thì không thọ một mảy trần, nhưng trong muôn hạnh cứu độ chúng sanh thì không bỏ một pháp nào.

Về sau, vua A Dục đã cho xây tại đây một tháp kỷ niệm. Từ cây Tất Bát La này, nhiều nơi trên thế giới đã đem giống về trồng để tỏ lòng tôn kính chiêm ngưỡng. Noi gương Đức Bổn Sư, những hàng môn đệ của Ngài nếu ngồi nghỉ dưới một bóng cây, trước khi đi phải biết cám ơn cái cây đã cho mình bóng mát.

3- Tuần thứ ba:

Chư Thiên quan sát thấy Đức Bổn Sư vẫn còn ở dưới cội cây. Các vị không thể hiểu thấu tâm lượng của một Bậc giác ngộ, nên khởi tâm nghi: “Chẳng biết Bồ Tát đã chứng đạt quả vị tột cùng chưa?”

Đức Bổn Sư lúc bấy giờ đã có thần thông, biết rõ tâm niệm của chư Thiên nên biến hóa một con đường bằng ngọc báu trải dài lên không trung. Ngài đi kinh hành trên con đường đó trong suốt tuần lễ. Chư Thiên vô cùng vui mừng, mưa hoa cúng dường, nhạc trời trổi lên tán thán ca ngợi Ngài không dứt.

4- Tuần thứ tư:

Ngài bắt đầu suy niệm về những điểm sâu mầu tinh tế của Tạng Luận, giáo lý vi diệu cao siêu của chư Phật ba đời.

Nhìn theo khía cạnh lịch sử, Đức Phật Thích Ca thành đạo cách đây 25 thế kỷ. Nhưng đứng về phương diện tâm chứng, Ngài tu Bồ tát đạo, hành Bồ tát hạnh đã ba A-tăng-kỳ-kiếp. Do vậy, trình độ giáo lý của Ngài đã cao tột, tất cả Tạng Luận Ngài đều thông hiểu và nhớ rõ không sai sót một điều. Lúc này, Ngài lắng sâu tâm thức, chiêm nghiệm đến tận những chỗ thâm sâu tột cùng của giáo lý; và khi suy niệm về Lý Nhân Quả tương quan, quyển thứ bảy của Tạng Luận, tâm Ngài trở nên hoàn toàn thanh tịnh. Ngay khi ấy, toàn thân Ngài phát hào quang rực rỡ sáng chói với sáu màu: xanh dương, vàng, đỏ, trắng, cam và một màu đặc biệt gồm năm màu trên pha lẫn lại.

5- Tuần thứ năm:

Trong tuần này, Đức Bổn Sư lại tọa thiền dưới cội cây và chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát siêu thế. Vào ngày thứ bảy, một vị Bà La Môn ngã mạn đến hỏi Ngài:

- Này Tôn giả Cồ Đàm, thế nào là một bậc Thánh nhân? Những điều kiện nào làm tả trở thành bậc Thánh nhân?

Ngài bình thản đáp:

- Người nào xa lánh tất cả những điều xấu xa tội lỗi, không có tâm ngã mạn, đã thanh lọc mọi ô nhiễm, thu phục sáu căn, thông suốt mọi pháp học, chân chánh sống đời phạm hạnh, người ấy được tôn là bậc Thánh nhân. Người ấy không còn sự bồng bột, dù ở bất cứ nơi nào trên thế gian.

Điều kiện trở thành Thánh nhân, trước tiên là phải tránh xa những điều bất thiện tội lỗi làm hại cho mình và cho người. Năm giới không sát - không đạo - không dâm - không vọng - không tửu, dành cho hàng cư sĩ tại gia chính thức là bước đầu căn bản của đạo đức làm người; cũng nhân ý nghĩa xa lánh mọi điều xấu xa bất thiện. Hai điều kiện đặc biệt trong lời dạy của Đức Bổn Sư là thu phục sáu cănkhông còn sự bồng bột. Con người chúng ta, khi mắt thấy sắc liền khởi niệm phân biệt đẹp xấu, tai nghe tiếng liền có ý khen chê hay dở... Những ý niệm phân biệt hay dẫn dắt chúng ta tạo nghiệp, quẩn quanh trong sinh tử. Cho nên, sáu căn dinh mắc sáu trần là nhân trầm luân trong ba cõi; nếu các căn vẫn tiếp xúc với trần cảnh mà không khởi ý phân biệt, ấy là nhân giải thoát. Thánh nhân thu phục sáu căn không phải quay lưng với trần tục, các Ngài vẫn đối duyên xúc cảnh mà luôn an nhiên tự tại.

Vua Nhân Tông có bài kệ:

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.

Như kim khám phá Đông hoàng diện,

Thiền bản đồ đoàn khán trụy hồng.

Nghĩa:

Thuở bé chưa từng rõ sắc không,

Xuân về hoa nở rộn trong lòng.

Chúa xuân nay bị ta khám phá,

Chiếu trải giường Thiền ngắm cánh hồng.

Thời niên thiếu bồng bột, chạy theo cảnh sắc âm thanh bên ngoài nên khi xuân về, ai cũng thấy lòng rộn rã. Bậc Thánh nhân thấu rõ lý Đạo, tâm bất động an nhiên trước mọi thăng trầm thịnh suy của cuộc sống. Vì thế, dù hoa nở hay tàn phai, “chúa xuân” vẫn vĩnh viễn thường còn.

 

 

6- Tuần thứ sáu:

Trời bỗng nhiên tối sầm, giông bão nổi lên dữ dội, mưa trút xuống như thác. Đức Bổn Sư vẫn ngồi tĩnh tọa, thể nhập tự tánh thanh tịnh bản lai.

Ngay lúc ấy, Mãng Xà Vương Mucalinda xuất hiện, dùng thân quấn quanh Ngài bảy vòng, rồi dùng đầu làm mái che mưa cho Ngài. Nhờ thế, toàn thân Ngài đều được khô ráo ấm áp. Cuối tuần, trời lại quang đãng. Mãng Xà Vương tháo mình ra, hóa thành một thanh niên đứng chắp tay cung kính hầu Ngài.

Đức Bổn sư đọc bài kệ:

Hạnh phúc cho người đã tiếp cận chân lý, biết tri túc, sống ẩn dật.

Hạnh phúc cho người có tâm thiện lành, nhu nhuyến với mọi chúng sinh.

Hạnh phúc cho người vượt thoát mọi tham dục thế gian.

Hạnh phúc tối thượng cho người phá được ngã chấp.

7- Tuần thứ bảy:

Tuần lễ quyết định này, Đức Bổn Sư chứng nghiệm Quả phúc siêu thoát, tức hạnh phúc của một Bậc Đại Giác Ngộ đã thành tựu quả vị Phật. Cảnh giới này thật vô cùng siêu tuyệt, hạnh phúc này thật vô lượng vô biên, không có một trí tuệ nào - kể cả trí tuệ của các hàng Bồ Tát mà có thể suy lường nổi.

Trong đêm mùng 8 tháng chạp, đêm thành đạo của Đức Phật, kinh chép lại rằng: Vào canh ba, Ngài chứng Túc mạng minh, nhớ lại vô số kiếp trước của mình một cách rõ ràng như nhớ chuyện hôm qua. Canh tư, Ngài chứng Thiên nhãn minh, thấy muôn loài chúng sinh chết đây sanh kia, lên xuống trong luân hồi lục đạo, rành mạch như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường. Đến canh năm, khi sao Mai vừa mọc, Ngài chứng Lậu tận minh, hoàn toàn dứt sạch lậu hoặc vô minh, thành Phật hiệu Thích ca Mâu Ni, Đấng Tôn Sư của trời người.

Và đây là một trong những Phật ngôn đầu tiên, một bài ca chiến thắng được tấu lên vào đêm huyền diệu ấy: “Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi! Này hỡi kẻ làm nhà kia! Nay ta đã thấy người rồi. Từ đây người không thể làm nhà nữa. Đòn tay người đã bị gãy, sườn nhà đã bị rã tan. Tâm ta đã tịch diệt hết các hành, tất cả ái dục đều dứt sạch”. “Kẻ xây nhà” ngũ uẩn là ái dục. Ái là sự yêu thích ở cõi Sắc và Vô sắc, có tính cách tế vi; Dục là sự ham muốn thô phù ở cõi Dục. Chúng sinh do ái dục nên tạo nghiệp, quẩn quanh trong sanh tử. “Đòn tay” là Vô minh, “sườn nhà” là những phiền não vi tế. Tất cả phiền não vô minh đều tận diệt, tất cả ái dục đều đoạn trừ. Ngài triệt ngộ các hành Vô thường và các pháp Vô ngã, chứng nhập Niết bàn thường trụ.

Như vậy, Đức Phật đã đạt đỉnh cao của trí tuệ xuất thế sau 49 ngày công phu thiền định, nỗ lực tự tu. Và bằng trí tuệ siêu xuất ấy, Ngài đã truyền dạy cho đời rất nhiều phương pháp tu tập, tùy trình độ căn cơ của mỗi người, tựu trung chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tìm về thể tánh bất sanh sẵn đủ. Cuộc đời của Đức Phật, từ lúc đản sanh đến khi thành đạo, là một tấm gương sáng tuyệt vời về trí tuệ, nhân cách và đạo đức. “Ngài đã tạo dựng một hệ thống triết thuyết vô cùng thâm sâu diệu mầu. Ngài là kết tinh của người thiện trí, bởi vì đứng trên phương diện tri thức, đạo đức và tính minh triết, chắc chắn Ngài là một trong những vĩ nhân cao thượng nhất lịch sử”. Những lời tán thán như trên thật vô cùng tận, nhưng ngôn từ nào diễn tả được lòng tôn kính ngưỡng vọng của chúng ta đối với Đấng Từ phụ cao cả!

Ngày Đức Phật thành đạo là một ngày rất quan trọng đối với những người con Phật, vì đó là ngày đánh dấu sự xuất hiện của Phật pháp trên thế gian. Chúng ta kỷ niệm ngày này để chiêm nghiệm về con đường tu tập của Đức Phật, để nhớ nghĩ đến ý chí siêu tuyệt và nhân cách vĩ đại của Ngài, để noi theo gương Ngài vững bước trên đường tu nhiều chông gai thử thách. Mong rằng tất cả chúng ta, bằng nỗ lực tự thân và lòng tin kiên định, sẽ có một ngày trọng đại như thế trong đời.

-----------------------------

* Tài liệu tham khảo: Đức Phật và Phật Pháp - tác giả Nãrada Thera - Phạm Kim Khánh dịch.

 

Bài VI-5 BỒ TÁT CA-NA-ĐỀ-BÀ

(KANASEVA)

(Cuối thế kỷ thứ sáu, sau Phật Niết bàn)

-Thích Giác Nghiêm-

Sau một thời gian dài Phật giáo lận đận, bị lu mờ vì Bà la môn giáo và các ngoại đạo chèn ép. Phật giáo thịnh hành trở lại, nhất là nhờ Phật giáo Bắc truyền phát triển và phục hưng thời vua Kaniska (Ca-Nhị-Sắc Ca) ở đầu thế kỷ thứ 6 sau Phật Niết bàn. Nhờ có Bồ Tát Mã Minh bắt đầu xương minh Phật giáo phát triển, mới có đà sâu rộng và lan truyền ra; rồi đến thời kỳ Bồ Tát Long Thọ, Ca-Na-Đề-Bà, nghiên cứu thêm, giảng nói sâu sắc thêm kinh Đại Thừa, với những lý luận làm sáng tỏ kinh pháp, và cộng thêm tài ba của quý Ngài, lại thêm các quốc vương ủng hộ, sùng bái; nhờ vậy mà Phật giáo như mặt trời sáng rỡ giữa hư không. Ngài Ca-Na-Đề-Bà chịu khó, phát triển hơn nữa, Ngài xứng đáng là vị Tổ thứ 15 của Thiền tông Ấn Hoa.

I- Quê quán, dòng họ, tên hiệu và con người của Đề-Bà:

Ngài Kanaseva tên thật là ÀRYADEVA, Trung Quốc dịch là Thánh Thiên, sau này còn có tên là Ka Na De Va tức là “Đơn Nhãn Đề-Bà”, nói nôm na là “Đề-Bà một mắt”, Ngài sinh ra trong một gia đình quý tộc ở SRILANCA (Tích Lan) dòng dõi Tỳ Xá ly tức là một chi phái của dòng Bà la môn, sinh ra khoảng cuối thế kỷ thứ 6 sau Phật Niết bàn (thế kỷ 1 TL), thường gọi Ngài thân mật cũng như gọi tắt là DeVa (Đề-Bà).

Từ thuở nhỏ, ngài Đề-Bà đã tỏ ra bẩm tính thông minh, có tài biện luận, lại có tánh ưa đùa giỡn, thích làm phước thiện nên cũng có tên là TÁC THIỆN.

Ngài thuộc gia đình quý tộc giàu có, học giỏi, thay vì nhận chức làm quan, thì ngài lại xuất gia tu hành dưới sự hướng dẫn của nhà sư Hermadeva. Sau đó qua Ấn Độ học văn hóa, tìm hiểu học hỏi Phật giáo Đại thừa, tìm học các luận thuyết. Rồi sau đó trở thành một nhà hùng biện, học rộng hiểu nhiều lại có tài biện luận nên ông được nhiều người biết tiếng, kính nể, nhưng vì tư tưởng quá khích, ưa bài bác các tông phái, các giáo phái, Ngài dùng ngôn ngữ sắc bén, lợi hại để đã phá nên không được người đời chấp nhận, không có học trò, Đề-Bà lấy làm buồn lắm.

Một hôm nghe nói ở một nước vùng nam Ấn Độ, có một ngôi miếu linh thiêng, Ngài bèn đến cầu nguyện, hy vọng thần trợ lực giúp cho lý luận của ông được lưu truyền ở đời thuận lợi.

Đến miếu thần, gặp thủ nhang nói rõ ý nguyện của mình, thủ nhang nói:

“ Ngôi miếu nầy thờ Ngài Đại Tự Tại thiên, thần tượng đúc bằng vàng, cao 2 trượng, ai cầu xin điều gì đều được như ý, thế nhưng tượng thần rất uy nghi, linh thiêng, không ai được vào nhìn, mà chỉ đứng phía ngoài cầu nguyện vọng vô thôi. Hôm nay Ngài đến cầu nguyện xin cứ đứng ngoài không phải vào trong”.

Ngài Đề-Bà nói:

“ Nếu quả thần tượng bằng vàng như lời ngài nói, tôi mới cần vào trong để xem, để chiêm ngưỡng, chứ tượng đất, tượng gỗ thì xem làm gì!”.

Đề-Bà cứ khăng khăng đòi vào, dù nghe nói là nguy hiểm, làm mọi người thất kinh, họ truyền tin nhau lũ lượt kéo đến xem con người liều lĩnh kia, gan to như thế nào mà dám vào trong miếu linh như vậy.

Từ chối không được, người thủ nhang đành để Đề-Bà vào, nhiều người cũng theo Ngài vào miếu, vào trong ngài Đề-Bà thấy tượng thần đúng là rất uy nghi, và đang đảo mắt nhìn mình, nếu người yếu bóng vía phải sợ, Đề-Bà trấn tỉnh nói:

“Vị thần kia! Nghe nói ông là Thiên thần, lẽ đương nhiên ông phải tỏ ra uy nghi thu phục lòng người, trái lại ông tự cậy mình là kim thân, gườm mắt dọa người ta, hỏi còn ai tín phục ông được!”

Nói xong Đề-Bà leo lên thang, móc một con mắt của Thiên thần. Mọi người chung quanh hoảng sợ, rồi hoài nghi và thầm nghĩ:

“Là một vị Thiên thần làm sao ông lại để cho một người Bà la môn trẻ tuổi làm bậy như thế. Hay là ngài bị đuối lý, nên mới chịu như vậy, chẳng hóa ra xưa nay đó chỉ là lời đồn hư danh thôi sao?!”

Giữa lúc ấy ngài Đề-Bà nói to:

“Đại Tự Tại Thiên là vị thần tối cao vô thượng, vừa rồi Ngài thử thách ta, ta đã hiểu lòng của Ngài, nhưng vẫn cứ móc một con mắt, cốt ý nói rằng sự linh thiêng của Ngài không phải do tượng. Thần linh không nhờ vào tượng mới là thiêng, nên ta móc mắt mà Đại Tự Tại Thiên không coi là bị xúc phạm. Cho nên việc ta vừa làm không phương hại đến Ngài”.

Nói xong Tôn giả Đề-Bà ung dung đi ra khỏi miếu, coi như không có việc gì xảy ra.

Tuy vậy, Đề-Bà biết Đại Tự Tại Thiên là vị Trời chí tôn thiêng liêng, đáng được phụng thờ. Đêm đó ông sắm lễ vật đến miếu tạ tội, Đại Tự Tại Thiên liền hóa thành người cao bốn trượng, nhưng chỉ có một mắt phải, nhìn chằm chằm vào lễ phẩm của Đề-Bà, nói:

“Lễ phẩm của người rất tuyệt, đều là những thứ quý hiếm. Nếu người thực hiểu lòng ta thì đừng làm như người khác, đem của ngon vật lạ đến cầu khẩn dâng cho ta, mà hãy đem lòng vô ngã của người dâng cho ta”.

Tôn giả Đề-Bà thưa:

“Đã như vậy Ngài cần thứ gì, nếu nó là của tôi, thì dù thế nào tôi cũng dâng cúng Ngài”.

Ngài Đại Tự Tại Thiên nói:

“Hiện nay ta thiếu con mắt trái mà hôm qua ngươi móc đi của ta, người hãy hiến cho ta con mắt trái của người”.

Tôn giả Đề-Bà nghe nói, không hề do dự, liền đưa tay móc con mắt trái của mình hiến dâng cho Thiên thần. Do uy lực của Thiên thần nên mắt trái của Đề-Bà vừa móc ra thì con mắt khác lại mọc lên, Đề-Bà tưởng chưa có kết quả cứ móc mãi, móc ra đến cả trăm con mắt. Thiên thần thấy Đề-Bà thành tâm bố thí nên nói:

“Thiện tai, thiện tai! Ta biết ngươi chân thành bố thí và có lòng vô ngã, nên sẽ giúp người, vậy ngươi cần gì?”

Tôn giả Đề-Bà thưa:

“Tôi chỉ có một ước nguyện là làm sao lý luận của mình được nhiều người theo, được hưng thịnh ở đời”.

“Ước nguyện của ngươi sẽ được như ý”.

Một thời gian sau Đề-Bà gặp Tổ Long Thọ, nghiên cứu thêm, sau nầy thành một Thiền sư lỗi lạc của Phật giáo Đại thừa, nổi tiếng lan ra các nước, đệ tử nhiều vô kể. Còn tôn giả vì thế mà mất con mắt trái, nên người ta gọi là “Đề-Bà một mắt”, tức KANADEVA.

Đây quả thật là một truyền thuyết ly kỳ, nhưng quả thật ngài Đề-Bà còn có một con mắt phải, nội dung tư tưởng của câu chuyện nó có ý nghĩa đối với lịch sử tư tưởng Phật giáo, coi thường cái ta, không chấp nhận có cái ngã, không coi trọng cái ta, cái thân của ta, nên sẵn sàng móc con mắt cho một cách dễ dàng, không sợ xấu, không sợ bị thiệt thòi, tổn thương đến cá nhân của mình.

Cho nên chủ trương “Sắc tức thị không”, phủ nhận mọi sự tồn tại, không thừa nhận hiện hữu vật chất của thế gian, nó chỉ là giả hợp, giả tạm, nó chỉ là tạm thời có mà thôi.

Trình độ sắc bén về mặt lý luận của tôn giả thật là hiếm thấy, người ngoài, người ta nói rằng chính vị sư quái dị nầy là vũ khí sắc bén để truyền bá Phật đạo, tự nhiên có sức lôi cuốn người mến mộ, mê hoặc được nhiều người, nhiều môn đồ, làm tôn phong nức tiếng, làm cho mọi người nghe theo, tôn kính ngưỡng mộ Ngài, có thể giải thích là do sự hỗ trợ của lực lượng siêu nhiên không? Thí dụ như lời của Đại Tự Tại Thiên hứa hỗ trợ chăng?

II- Đạo nghiệp của Bồ Tát Ca-Na-Đề-Bà.

1- Xuất gia, thọ tâm ấn:

Bồ tát Long Thọ đi khắp nơi hoằng hóa và theo bổn nguyện về miền nam Ấn Độ là quê hương của Ngài, Tôn giả Đề-Bà nghe tiếng Ngài Long Thọ nên đến nghe pháp, nghe xong cảm ngộ, rất nhiều người xin xuất gia, trong đó Đề-Bà là người dẫn đầu. Từ đó theo Ngài Long Thọ tu học, khi thì ở tại Phật học viện NALANDA, khi thì đi hoằng hóa các nơi. Một hôm thấy cơ duyên sắp mãn, Bồ tát Long Thọ gọi ngài Đề-Bà đến để dặn dò truyền trao tâm ấn cho Ngài Đề-Bà tiếp nối là vị Tổ thứ 15 của Thiền tông.

2- Ngài Kanadeva (Đề-Bà) tranh luận.

Ngài Đề-Bà nổi tiếng có tài hùng biện, ngôn từ hoàn chỉnh, ý đẹp lời hay. Dẫn ra đây một câu chuyện tranh luận của Ngài Đề-Bà với một nhân vật ngoại đạo. Ngài dùng từ khôi hài nhưng sâu sắc hiếm có trong lịch sử Phật giáo. Ngài đi hoằng hóa đến nước Bát La Da Ca, phải đương đầu với một ông Bà la môn, học rộng hiểu nhiều, rất có tài hùng biện, tiếng tăm cả nước nầy không ai tranh luận nổi. Nghe Tôn giả Đề-Bà đến, ông rất mừng, coi đây là một dịp để đánh bại người hùng của Phật giáo. Vị Bà la môn tìm gặp Ngài Đề-Bà và hỏi:

“Xin hỏi Ngài quý danh là gì?”

Ngài Đề-Bà trả lời: “Tôi là Trời”.

(Đề-Bà chữ Phạn là DEVA dịch là Trời, vị Bà la môn cũng biết vậy, nhưng lấy làm khó chịu. Tuy nhiên cũng bám lấy cái tên đích thực ấy mà hỏi tiếp:)

“Trời là ai?”

Tôn giả đáp:

“Trời là tôi”.

Ở Ấn Độ, chữ Trời và Thần đồng nhất với nhau, đều chỉ Thần, ví như Phạm thiên, Đại Tự Tại Thiên v.vv... đều là tên thần. Vị Bà La Môn hỏi Trời là ai, tức muốn lôi cuốn Tôn giả Đề-Bà vào lãnh vực thần học để tranh luận. Nhưng không, Tôn giả Đề-Bà trả lời gọn lỏn “Trời là tôi”, tức là lấy tên của mình để trả lời khéo léo, lẫn tránh vấn đề đối phương muốn kéo mình vào tranh luận mất thời giờ.

Thấy kế của mình không thành, để tránh thất bại, vị Bà la môn bèn dựa vào câu của Đề-Bà “Trời là tôi” để tiếp tục tranh luận, nên hỏi:

“Vậy tôi là ai?”

Ngài Đề-Bà trả lời: “Là chó”

Ngài Đề-Bà đã trực diện chửi vào mặt vị Bà la môn. Vị biện sĩ Bà la môn đang nghĩ về cái “tôi”, nên không hề biết bị xúc phạm. Vì cái “tôi” thường xuyên được thảo luận trong triết học Ấn Độ, dùng để chỉ chủ thể tự tại, tự tính hay bản tính của sự vật. Cái “tôi” mà Tôn giả Đề-Bà trả lời cũng có ý nghĩa ấy, chó cũng là thuộc bản tính của tôi. Chính vì lẽ đó mà vị Bà la môn kia không phát hiện ra mình bị hạ nhục mà còn tưởng đối phương đang bị lôi cuốn vào vấn đề do mình đưa ra. Cho nên ông hỏi tiếp:

“Chó là ai?”

Đề-Bà trả lời liền: “Là ông”

Vị Bà la môn hỏi tiếp: “Ông là ai?”

Đề-Bà trả lời: “Là Trời”

“Trời là ai?”

“Là tôi”

“Tôi là ai?”

“Là chó”

“Chó là ai?”

“Là ông”

Những câu hỏi và trả lời cứ lập đi lập lại nhiều lần như thế, vị Bà la môn kia chợt tỉnh, nghĩ ra mình đang bị nhục mạ, nhưng cũng phải nhịn cười vì những câu chửi mang tính hài hước, hóm hỉnh của đối phương. Đến lúc nầy ông mới khâm phục tài năng của Tôn giả Đề-Bà.

Nghiêm túc mà nói, đây không phải là cuộc tranh luận, mà là cuộc vấn đáp đầy thú vị (lý thú).

Do tính chất hài hước sâu sắc của Đề-Bà ưa đùa giỡn mà câu chuyện nầy được lưu truyền ở vùng Bát La Da Ca và bảo tồn đến ngày nay.

Trong lịch sử Phật giáo, những cuộc tranh luận giữa các Tăng lữ Phật giáo và các giáo phái rất nhiều. Văn hóa giữ thái độ nghiêm túc đã ghi chép lại các cuộc tranh luận ấy, chỉ câu chuyện nầy là tỏ ra có vẽ dung tục, đó cũng là ngoại lệ.

Vậy vấn đề mà vị Bà la môn muốn nêu lên trong câu chuyện này là gì? Đây chính là hình nhi thượng. Còn Tôn giả Đề-Bà trả lời lại là sự việc tầm thường trước mắt, điều này chứng tỏ Tôn giả Đề-Bà phản đối hình nhi thượng, không thừa nhận sự tồn tại của thế giới huyền học. (Hình nhi thượng là các vấn đề cao siêu, vô hình, thần học. Hình nhi hạ là chuyện đời thường).

Trong các tác phẩm còn lại của Tôn giả Đề-Bà (một số bị quân Hồi giáo tấn công vào Ấn Độ đốt sạch), Ngài coi toàn bộ thế giới chỉ là hiện tượng, ngoài ra không có thế giới bản thể của một hiện tượng siêu việt. Hiện tượng là giả, là kết quả các điều kiện nhân duyên hòa hợp, tạm gọi là có thôi, loại bỏ nó thì thế giới không có gì chân thật cả. Đây là hạt nhân “tính không” của Tôn giả Đề-Bà.

3- Thâu nhận La-Hầu-La-Đa (Rahulata)

Trên đường đi hoằng hóa các nơi, khi đến nước Ca Tỳ La Vệ (CAPILAVA) (nơi Thái tử Tất Đạt Đa Đản sinh), Ngài Đề-Bà gặp một gia đình trưởng giả giàu có là Phạm Ma Tịnh Đức, có hai người con trai, con lớn là La Hầu La Điểm, con thứ là La-Hầu-La-Đa, ông Tịnh Đức làm chủ một trang trại trồng cây ăn trái. Cây trong vườn mọc nhiều nấm thật lớn, nấu ăn có mùi vị rất ngon, nhưng trọn năm chỉ có ông Tịnh Đức và người con thứ La-Hầu-La-Đa ăn được, còn người nhà muốn ăn, nhưng ra vườn không thấy.

Nhân khi Tôn giả đến nhà nầy, hỏi chuyện, Ngài dẫn giải mới rõ lý do. La-Hầu-La-Đa đứng nghe, thấy vui trong lòng, phấn khởi liền nói kệ:

“Vườn cây mọc nấm lạ,

Ta ăn mãi không hết.

Trí giả giải nhân nầy,

Con quay về Phật đạo”.

Sau La-Hầu-La-Đa được xuất gia học đạo với Bồ tát Đề-Bà, Ngài nói:

“Đó là điều hợp với lời Phật huyền ký, con xuất gia sẽ sớm thành đạo quả.”

4- Chinh phục ngoại đạo:

Một thời gian khác, Tôn giả Đề-Bà đến du hóa ở thành Ba Liên Phất (Pataliputra), tại nơi nầy ngoại đạo đang thịnh hành, Phật pháp suy yếu, hàng ngoại đạo ra sức phá hoại Phật giáo, Tôn giả đến nơi nầy, thế nào ngoại đạo cũng tìm đến để tranh luận, vậy thì nhân đây, mình đến ngay hội sở của ngoại đạo chơi.

Giữa đường gặp một nhà truyền giáo của ngoại đạo, thấy Bồ Tát người lạ, lại là người khác đạo giáo, nhà ngoại đạo chận lại hỏi Bồ tát:

- Tại sao ngươi không đi trước?

Tôn giả hỏi lại : Tại sao ngươi không đi sau?

Ngoại đạo nói : Ngươi giống người hèn

Tôn giả nói : Ngươi giống người hiền lành.

Ngoại đạo lại hỏi : Ngươi đã hiểu rõ pháp gì?

Tôn giả nói lại : Ngươi trăm điều không rõ.

Ngoại đạo lại nói : Ta muốn làm Phật thì sao?

Tôn giả lại nói : Chúng ta tự soi sáng là được.

Ngoại đạo nói : Ngươi không hiệp được.

Tôn giả nói : Nguồn đạo ta được, ngươi không được.

Ngoại đạo lại nói : Ngươi đã không được, tại sao nói được

Tôn giả liền khẳng định:

- Ngươi còn có ngã, vì thế không được. Còn ta vô ngã, ta sẽ tự được.

Thấy đối đáp không thắng, ngoại đạo tự nói với nhau rằng: “Đó chính là bậc Thánh, cần phải quy hướng”.

Ngoại đạo đổi cách xưng hô, bây giờ hỏi:

- Ngài tên gì?

Tôn giả đáp: Ta tên là Đề-Bà.

Nghe được tên, đã biết được tiếng tăm của Bồ tát nên tỏ thái độ bái phục, riêng những người mới đến sau còn đặt nhiều vấn nạn, nhưng Bồ tát từ tốn giải đáp thông suốt, với tâm từ bi tỏa ra đã chinh phục được tất cả.

Ngài Đề-Bà một thời gian tu học ở Trung tâm Phật học NaLanDa với Ngài Long Thọ, đi đây đó tạo lập nhiều tu viện ở các nơi. Nay nghe tin, hiện ở Phật học viện NaLanDa có một luận sư lừng danh của Bà la môn giáo đến tranh luận tung hoành tại Phật học viện và không một Tỳ kheo nào ở đây đủ tài năng đối đầu tranh luận.

Ngài trở lại tu viện NaLanDa một lần nữa và chiến thắng vị Bà la môn đó chỉ trong ba vòng tranh luận

5- Ngài là một trong 84 vị Ma-Ha-Tất-Đạt.

Ma-Ha-Tất-Đạt dịch từ Phạn ngữ Sanskrit là MAHASIDDHA có nghĩa là Đại thành tựu.

Đây là danh hiệu chỉ những vị tu khổ hạnh đã đạt được cốt tủy của giáo pháp “TAN TRA” của Phật giáo bắc Ấn Độ và Tây Tạng gọi là “Vô thượng Du già”. Vô thượng Du già là một phương pháp tu tập thiền định có sự phù trợ của những lễ nghi gọi là nghi quỹ, có kèm khế ấn, thủ ấn, nói tóm gọn đây là một phương pháp tu theo Mật tông. Trong tu tập có sử dụng những Mạn Đà La (Mandala) và ăn những thức ăn theo cách hành lễ. Các bộ sách dạy cách tu vô thượng Du già Tan Tra nầy đều được ghi bằng một ngôn ngữ bí mật cho nên phải có Đạo sư (Guru LaMa) truyền học những khẩu quyết và cách thực hành. Quý vị trong phái nầy nói rằng Vô thượng Du già Tan Tra được giữ kín, bí mật, chỉ dành cho hạng thượng căn có duyên. Và theo như quý vị đó nói thì cách tu tập Vô thượng Du già với mục đích là “thành Phật trong kiếp nầy với thân nầy”. Cho nên rất khó và chỉ có những ai dày công tu luyện, đã đạt tâm vô chấp, những kiến giải nhị nguyên phân biệt đã tan biến phần nào mới có thể bước vào Pháp môn nầy được.

Có một sách nói rằng, ngài Đề-Bà là một tỳ kheo tu học tại Phật học viện NaLanDa, một hôm nghe có một vị Ma-Ha-Tất-Đạt nổi danh là Long Thọ đang hành đạo tại nam Ấn Độ liền bỏ đi tìm.

Gặp và được Bồ tát Long Thọ tổ chức một cuộc lễ Quán đảnh vào ban khuya, long trọng nhưng chỉ một ít người dự, theo thể thức Kim Cương thừa Mật Tông. Cuộc lễ nầy mục đích để vị GURU LAMA (Đạo sư hay chơn sư) chứng minh và truyền cho cách tu hành, trong Phật giáo Tây Tạng cuộc lễ Quán đảnh nầy cũng còn gọi là “Truyền Lực” (DBANG BSKURT).

Có một chuyện lạ là trong thời gian ngài Đề-Bà cùng ở với thầy, sau khi đi khất thực về, luôn luôn được nhiều thức ăn ngon lạ hơn thầy. Ngài Long Thọ một hôm bèn cho Đề-Bà ở nhà, một mình đi khất thực. Khi về Tịnh xá thì Ngài Long Thọ thấy một nữ thần đã dâng cúng bánh trái thực phẩm cho Đề-Bà và còn nói với Ngài Long Thọ chưa hết ô nhiễm hẳn như đệ tử.

Tôn giả Long Thọ khâm phục Đề-Bà và vì vậy mà Tôn giả Đề-Bà có tên là Thánh Thiên.

Bài kệ chứng đạo của Ngài Thánh Thiên như sau:

“Chư Phật cả ba đời

Duy nhất một tự tánh.

Chứng được tự tánh nầy

Là chứng được tâm thức.

Để mọi sự diễn ra

Hòa vào với thật tại.

Không hề có cơ cấu

Chính trạng thái buông thỏn

Là đời sống Du già”.

Theo truyền thống Tan Tra, Ngài Đề-Bà là một Ma-Ha-Tất-Đạt trong 84 vị Tất Đạt, tức là có: “Khả năng toàn diện thành đạt” tức là thần thông, hay nói rõ hơn là khả năng kiểm soát năng lực của cơ thể và năng lực chinh phục được thiên nhiên.

Nhưng đó chỉ là được thần thông, chưa đến quả vị rốt ráo của giác ngộ giải thoát, gọi là Đại Thủ Ấn (MaHaMuDraSiddhi).

6- Truyền tâm ấn và Niết bàn:

Một hôm thấy cơ duyên đã mãn, Bồ tát Đề-Bà gọi tôn giả La-Hầu-La-Đa (RaHuLaTa) đến truyền trao pháp tạng của Như Lai và căn dặn chớ để hoại diệt, Bồ tát nói kệ:

“Xưa đối người truyền pháp

Vì nói lý giải thoát

Nơi pháp thật không chứng

Không chung cũng không thủy”.

Đại ý nói: “Vì đối với người ttuyền pháp mà nói ra lý giải thoát. Khi đã thấu hiểu lý rốt ráo, nơi pháp không có chỗ nào là chỗ chứng đắc. Vì vậy, với pháp đã không chỗ chứng đắc, nên làm gì mà có chỗ ban đầu và chỗ cuối cùng”

Phú pháp xong, Bồ tát Đê Va nhập định phấn tấn, ngồi nghiêm chỉnh an nhiên thị tịch.

Đó là sự thị tịch theo sách Thiền ghi.

Còn thật ra Ngài đã bị ám sát (Giảng viên kể thêm về âm mưu, đến khi ám sát và lòng từ bi của Ngài đối với hung thủ).

7- Những trước tác của ngài Đề-Bà:

Đề-Bà là vị Bồ tát thứ 3 (sau Bồ tát Mã Minh và Long Thọ), đã dùng tài biện luận sẵn có phá dẹp ngoại đạo, làm nổi bậc giáo lý Bắc truyền, là những bậc đã phát huy chân giáo lý Đại Thừa Phật giáo, làm cho phát triển và hưng thịnh.

Ngài Đề-Bà trước tác các bộ luận:

- Bách Luận (SaTa Sàstra)

- Quảng Bách Luận (SaTaKrasa Sa tra)

- Bách tự Luận (SaTa Sàstra Vaipulya)

- Đại Trượng phu luận

- Đề-Bà Bồ Tát phá Lăng già Kinh Trung ngoại đạo Tiểu thừa tư tòng luận.

- Đề-Bà Bồ Tát Thích Lăng Già Kinh Trung ngoại đạo Tiểu thừa Niết bàn luận v.vv...

Ngày nay các tác phẩm của Ngài đã dịch sang Hán tạng và Tây Tạng thì còn, các tác phẩm ở Ấn Độ, Trung Á đã bị quân Hồi giáo mấy lần tấn công đốt sạch.

Các bộ luận của Ngài, ta thường thấy nương vào tư tưởng “Trung Luận” làm cơ sở, khởi xướng ra tư tưởng “Thực tướng luận”.

“Thực tướng luận” tức là quan sát về thực tướng của chư pháp, cho hết thảy mọi pháp đều là không, để biểu hiện lý “Trung đạo”, nên gọi là “Không tôn” hay “Trung quán tôn”.

Về sau nầy gọi là tư tưởng “Vô tướng giai không”.

III- Nhận thức và kết luận:

Bồ tát Đề-Bà có tài biện luận, từ thuở nhỏ đã tỏ ra bẩm tính thông minh, lại có tánh ưa đùa giỡn, Ngài cũng là người thích tu tạo phước đức, gia đình quý tộc giàu có, học giỏi, không muốn làm quan, chỉ muốn xuất gia tu hành, nối chí tiền nhân xương minh giáo nghĩa Bắc truyền, phá dẹp ngoại đạo tà kiến, có lòng từ bi nên cũng tự móc con mắt trao cho thần, không chút đau tiếc. Khi xuất gia, vào Phật học viện NaLanDa cố gắng tu học, thâm nhập kinh tạng, rồi đi hoằng hóa, gặp ngoại đạo đã kích thì Ngài phá dẹp không chút sợ sệt, không ngại khó khăn khổ nhọc, làm cho Phật giáo thêm rực rỡ. Những cuộc luận chiến kéo dài do âm mưu bao vây, thay nhau cố hại Ngài, nhưng cũng chịu thua, thật là những cuộc luận chiến đỉnh cao.

Ngài Đề-Bà thật là một Thiền sư, một luận sư nổi tiếng và người đời còn cho là vĩ đại nữa kia, lại là người có lòng từ bi hỷ xả của Phật. Khi bị hại, Ngài vẫn tâm niệm khoan dung với hung thủ, muốn giúp hung thủ hiểu rõ Phật pháp, ngăn cản đệ tử không cho bắt kẻ đã giết mình. Giờ phút đau đớn đó mà vẫn thuyết pháp cho kẻ thù và cho đệ tử với tấm lòng bao dung, với tâm đại bi. Ngài đã ân cần giáo hóa, nội tâm thanh thoát vượt ra khỏi sanh tử, vinh nhục, ái ố, hỉ nộ, thể hiện tinh thần đại bi hỷ xả của người Phật giáo. Về sau Ngài Đề-Bà được mọi người coi là hóa thân của tinh thần Từ Bi Phật giáo, được hàng vạn giáo đồ thời đó kính phục, hâm mộ, quý trọng, cho là một người đại mô phạm.

Bài VI-6 NIẾT BÀN

-Thích Thông Huệ-

 

Niết bàn, Phạn ngữ là Nirvàna, Pàli ngữ là Nibbàna, là pháp ấn thứ ba trong Tam Pháp Ấn. Trong Đại Trí Độ Luận, quyển thứ hai mươi hai, Tổ Long Thọ viết: “Chư hành vô thường, Chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tịnh”. Kinh Tạp A Hàm của Thượng tọa bộ Bắc phương, quyển thứ mười bản chữ Hán cũng có đề cập đến Tam Pháp Ấn như trong Đại Trí Độ Luận. Theo Hán dịch thì Niết bàn được chuyển dịch là Diệt, Tịch diệt, Diệt độ, Tịch, Bất sanh, Vô vi, Giải thoát v.vv... Ngoài ra, Niết bàn còn được giải thích khác nhau theo lập trường của Nam Tông và Bắc Tông Phật Giáo, theo quan niệm tiêu cực và tích cực của các Tông phái Phật giáo.

Niết bàn được xem là mục đích cứu cánh của đạo Phật, chỉ trạng thái tâm thức đã gột sạch hết mọi vô minh phiền não, sự giải thoát khỏi các kiết sử tùy miên, sự đoạn diệt hoàn toàn mọi tham ái, sự dập tắt tham sân si, trạng thái an tịnh tuyệt đối không còn bị bốn tướng sinh lão bệnh tử chi phối nữa.

Rất nhiều đoạn Kinh Đức Phật hay dùng phương pháp phủ định để hiển thị Niết bàn, như đoạn sau:

“Đồng nghĩa với Niết bàn giới, này các Tỷ kheo, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc”.

“Đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này các Tỷ kheo, được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo tám ngành là con đường đưa đến bất tử”.

(Tương ưng V - Một Tỷ kheo khác (2) - 7)

Có hai loại Niết bàn thường được biết đến, đó là Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn. Hữu dư Niết bàn là chỉ cho người đã đạt đến giải thoát khỏi vòng luân hồi, nhưng phần nhục thể vẫn còn tồn tại; Vô dư Niết bàn là cảnh giới vĩnh viễn khi xả ly phần nhục thể. Hai loại Niết bàn này của Phật Giáo có phần tương tự với hai loại giải thoát của Vedanta là Hữu thân giải thoát và Vô thân giải thoát.

Đức Phật với pháp thoại, giải thích về Niết bàn Hữu dư y và Vô dư y:

“Này các Tỷ kheo, thế nào là Niết bàn giới có dư y? Ở đây, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo là bậc Alahán, các lậu hoặc đã đoạn tận, phạm hạnh đã thành, đã giải thoát nhờ chánh trí. Trong vị ấy năm căn còn tồn tại, ngang qua năm căn ấy, vị ấy hưởng thọ khả ý, không khả ý, vì rằng tự ngã không có thương hại cảm giác lạc khổ. Với vị ấy, tham diệt, dân diệt, si diệt. Này các Tỷ kheo, đây gọi là Niết bàn có dư y”

(Phật thuyết như vậy, DuK III, 7 - 443)

Quả Hữu dư và Vô dư còn được giải thích: từ sơ quả đến tam quả Bất hoàn được gọi là Hữu dư. Quả Alahán thứ tư được gọi là Vô dư.

Niết bàn Hữu dư y hay Vô dư y thường là y cứ vào hữu thân hay vô thân, nhưng cả hai loại Niết bàn này đều khiến cho cái nguyên động lực đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt.

“Này các Tỷ kheo! Thân của đức Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của vị này tồn tại thời chư Thiên và loài người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thời chư Thiên và loài người không thể thấy được”.

(Trường Bộ I, Phạm Võng - 46)

Trạng thái tâm vắng lặng mà thường biết là đương thể của Niết bàn. Thế nên, Niết bàn chính là bản tâm thanh tịnh xưa nay. Nhờ cái đương thể của Niết bàn mà thế gian sinh diệt mới có chỗ dựa tối hậu. Niết bàn hay sinh tử rốt cùng cũng chỉ là cái tâm của chúng ta, vì sinh tử (mê) và Niết bàn (Giác) chỉ là biểu tượng hai mặt của tâm. Có khi người ta hiểu Niết bàn là một cảnh giới, nhưng là một cảnh giới vi diệu mà ở đấy tất cả dục vọng vô minh của cá thể không còn tồn tại nữa, vì thế những người đệ tử Phật muốn biết Niết bàn là gì, chỉ có thể kinh nghiệm một cách trực tiếp vào nguồn tâm của chính mình. Và khi nào mà ý niệm về TA CỦA TA không còn năng lực hoạt động trong tâm, thì tự nhiên hành giả sẽ kinh nghiệm được cái “một” cái “thuần nhất bất tạp” của muôn loài vạn vật. Có thể nói, Niết bàn là chân lý tuyệt đối, nó vượt ngoài nhị nguyên và tương đối. Người đạt được Niết bàn là người phục vụ kẻ khác một cách trong sạch nhất, vì họ không còn nghĩ về mình, họ đã thoát khỏi mọi sai lầm về Ngã và lòng khát khao muốn trở thành. Trong Niết bàn, không còn có thái độ thiên chấp và bưng bít. Niềm vui chân thật chỉ xuất hiện khi nào ta thoát khỏi mọi thành kiến ngã chấp và ý niệm có sẵn. Những người có lối sống phàm thường, đam mê trong dục lạc thật khó mà biết được sự an lạc nội tâm của các nhà tu hành đắc lực. Nhất là thời đại này, người ta đã xem nhẹ truyền thống tâm linh và đạo đức, lại xem trọng tri thức và vật chất. Và chính đó là mầm mống thác loạn trong đời sống nội tâm và đời sống xã hội loài người hôm nay. Giáo dục của thời đại không còn là giáo dục đạo đức nữa, mà giáo dục đã thiên về trí thức và hướng ngoại.

Cũng cần lưu ý, Niết bàn không thuộc về những tạo tác hữu vi. Tạo nhiều việc lành thì sinh về các Thiên giới, còn mức trung bình thì sinh vào nhân giới để hưởng thọ quả báo khổ vui. Cõi người có những vận mệnh khác nhau là vì trong những nhân lành có lẫn lộn nhân ác nhiều hay ít. Và tột cùng các thiện sự chỉ đạt được cao lắm sinh vào các cõi trời dục để hưởng phước báo hữu vi. Thế nên không thể dùng thiện sự trước tướng mà mong đạt đến cứu cánh Niết bàn (Vô vi). Muốn đến cõi sắc và vô sắc mà còn phải tu nhân thiền định, huống nữa là muốn thoát khỏi luân hồi.

Đức Phật thuyết giảng pháp thoại liên tưởng đến Niết bàn:

“Này các Tỷ kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió, không có hư không vô biên... không có phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau; không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các Tỷ kheo! Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh, không có an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên. Đây là sự đoạn tận khổ đau”.

(Phật tự thuyết, Ud 80 - 381)

Đây là pháp thoại thứ hai liên tưởng đến Niết bàn:

“Này các Tỷ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi”.

(Phật tự thuyết, Ud 80 - 382)

Và đây là pháp thoại thứ ba liên tưởng đến Niết bàn:

“Cái gì có nương tựa, cái ấy có giao động; cái gì không nương tựa, cái ấy không giao động. Không có giao động thời có khinh an, có khinh an thời không có thiên về, không có thiên về thời không có đến và đi, không có đến và đi thời không có diệt và sanh, không có diệt và sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có đời giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau”.

(Phật tự thuyết, Ud 81 - 382)

Vì Niết bàn được diễn tả bằng những từ ngữ phủ định, nên nhiều người hiểu lầm đó là trạng thái tự hũy diệt. Nếu hũy diệt, chỉ là sự hũy diệt dục vọng và mọi ý tưởng sai lầm về Ngã. Niết bàn không thuộc về có, vì không có tướng mạo. Niết bàn không thuộc về không, vì hằng tri hằng giác. Đây là trạng thái thoát ly năm thủ uẩn, là cảnh giới “Phi nhị biên, ly tứ cú, tuyệt bách phi”. Trạng thái tâm vắng lặngrõ biết là đương thể của Niết bàn. Cái đương thể này đầy đủ bốn đặc tính Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thì làm sao là hư vô đoạn diệt được. Thế nhưng, nhiều học giả Phật tử đã coi Niết bàn là hư vô tuyệt diệt. Là đệ tử Phật mà hiểu Niết bàn là cảnh hư vô tuyệt diệt là đã rơi vào kiến chấp đoạn diệt, bèn thành tà kiến, và dĩ nhiên là tự mình đã phản bội lại Đức Phật rồi.

Điểm nổi bật của Phật Giáo nguyên thủy coi Niết bàn là “tĩnh”. Ngược lại, nét đặc sắc của Phật Giáo phát triển coi Niết bàn là “động”. Nhưng thực ra tĩnh động chỉ là hai mặt của cái Một tuyệt đối mà thôi. Đến thời đại A Tỳ Đạt Ma Luận Thư (thời đại bộ phái) đã quan niệm Niết bàn là một cảnh giới vĩnh tịch, thắm đượm một màu sắc vô cùng tiêu cực. Phật Giáo phát triển đến thời hưng khởi đã quan niệm Niết bàn mang tính hoạt dụng tích cực hơn. Các vị Bồ tát vì mang đại nguyện độ sinh nên vĩnh viễn hoạt động mà lòng không nhiễm trước thế gian, cái tâm không nhiễm trước đó được mệnh danh là Bất trụ Niết bàn.

Tất cả mọi công hạnh độ sanh của chư Bồ tát cũng từ quan điểm “chủ động” ở trên mà được an lập. Các Ngài nguyện vĩnh viễn nơi bể sinh tử mà vĩnh viễn nơi bờ Niết bàn, vì sinh tử tức là Niết bàn, một loại Niết bàn rất sinh động. Niết bàn này của Phật Giáo phát triển, thực ra cũng chỉ là thừa kế Niết bàn của Phật Giáo nguyên thủy trên phương diện tích cực nhập thế độ sanh mà thôi.

Tất cả pháp hữu vi sinh diệt trong từng sát na. Quá khứ đã trôi qua, vị lai thì chưa đến, sự tồn tại chân chính chỉ có thể tìm thấy trong từng sát na hiện tại. Vì thế, Niết bàn chỉ có ở sát na hiện tại, ngay tại đây và bây giờ. Niết bàn cũng là chỗ tiềm ẩn của thế giới hiện thực, song song tồn tại với thế gian vô thường, và vô thường chính là dụng lực của Niết bàn vô vi.

Có một thiền khách hỏi:

- Thế nào là Đại Niết bàn?

Sư đáp:

- Hãy nơi sinh tử mà nhận lấy.

 

 

 

 

 

Bài VI-7 PHẬT GIÁO VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM

-Thích Thiện Tấn-

Hơn hai nghìn năm trăm năm trước, Phật Giáo đã ra đời tại Ấn Độ rồi truyền sang các nước lân cận và trở thành tôn giáo thế giới. Mục đích của đạo Phật là làm cho tất cả mọi người đều giác ngộ, sống tự do bình đẳng và hòa bình trong xã hội. Với bản chất lợi tha ấy, các vị sứ giả Phật khi đi truyền đạo đã mang tư tưởng từ bi và các phương tiện để truyền bá khắp nơi đúng theo tinh thần “Ngũ minh” của Đại thừa. Khi vào Việt Nam, Phật Giáo kết hợp với truyền thống yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, tạo thành nền văn hóa dân tộc sáng chói từ gần hai nghìn năm nay. Các bộ môn đã chịu ảnh hưởng Phật Giáo như văn học, tư tưởng, chính trị, ngoại giao, xã hội, y học, kiến trúc, điêu khắc.

1- Về văn học: Trong thời kỳ Phật Giáo mới du nhập nước ta, các nhà sư vì sứ mạng truyền giáo nên phải học rành chữ Pàli, chữ Sanskrit để dịch kinh sang chữ Hán, phải tinh thông chữ Hán mới giảng được kinh điển. Các nhà sư rất nổi tiếng về thơ văn, sách vở thời ấy đa số do các nhà sư trước tác. Các vị thiền sư còn giúp triều đình dạy dỗ nhân dân. Nhiều chùa còn được dùng như trường học và nơi trao đổi văn hóa nghệ thuật. Các vua quan thường đến luận bàn đạo lý và các việc khác. Ở các “trường chùa” này không phân biệt quý tiện, các thành phần nhân dân đều được học. Các danh thần như Thái úy Tô Hiến Thành, Thái bảo Ngô Hòa Nghĩa đều phải thụ giáo theo lễ với thiền sư ở núi Cao Dã.

Trong dân gian chịu nhiều ảnh hưởng như các truyện “Tấm Cám”, truyện “Phù du và con đom đóm”, truyện “Quan Âm Thị Kính, Phạm Công Cúc Hoa” v.v... Về tác phẩm Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều đã đề cập thuyết “vô thường”:

Trăm năm có nghĩa gì đâu

Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì

...

Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật

Mối thất tình, quyết dứt cho xong.

Nguyễn Du cũng ảnh hưởng nhiều về giáo lý Phật qua các câu thơ sau:

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát.

Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi

...

Ai ai lấy Phật làm lòng

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Khi đi hội chùa Hương, Chu Mạnh Trinh có làm thơ:

...

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái,

Lững lờ khe yến cá nghe kinh.

...

Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật

Cửa từ bi công đức biết bao.

Nguyễn Công Trứ lúc về già có ca tụng đạo Phật, có trùng tu và thường lui tới chùa.

“Thuyền từ một lá vơi vơi

Bể trần chở biết mấy người trầm luân.

Thiên thượng thiên hạ vô như Phật

Nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài.

Chiếc thuyền từ một lá vơi vơi

Vớt chìm đắm đưa người lên cõi tĩnh”.

Khi nói đến cuộc sống hiền hòa ở thôn quê, nhiều thi sĩ đã thấy hiện ra trước mắt họ cảnh chùa, hình ảnh Phật gần gũi và thân thương. Nguyễn Bính có đoạn:

Quê tôi có gió bốn mùa

Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm

Mai này tôi bỏ quê tôi

Bỏ trăng bỏ gió ôi chao bỏ chùa.

Những thuật ngữ “nghiệp”, “quả báo”, “lục tặc”, “thiện căn”, “hằng hà sa số”, “nam mô” v.v... đều được dân gian hóa một cách rộng rãi.

 

2- Về tư tưởng:

Nhiều thiền sư đã để lại những tư tưởng lạc quan tích cực mà các nhà nghiên cứu thường ca tụng:

Ngài Vạn Hạnh thiền sư do nắm được quy luật của nhân sinh và vũ trụ, không còn sợ hãi trước sự thạnh suy còn mất nên được an nhiên tự tại:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thạnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Với tinh thần bình tĩnh lạc quan đối với biến đổi của cuộc đời, thiền sư Mãn Giác đã viết:

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Trước sân, đêm trước một nhành mai).

Vua Trần Thái Tông quan niệm về cách tu hành được phát biểu trong lời bạt của quyển Khóa Hư Lục như sau:

Lễ Phật là tôn kính đức tính của Phật.

Niệm Phật là cảm ơn cái đức của Phật.

Giữ giới là thực hành đức hạnh của Phật.

Xem kinh sách là tỏ rõ chân lý Phật.

Ngồi thiền là đạt đến cảnh giới Phật.

Tham thiền là hợp nhất vào tâm Phật.

Thuyết pháp là thỏa mãn ý nguyện của Phật.

Trong thế kỷ thứ mười tám, một nhà Nho chịu ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật là Ngô Thì Nhậm, lấy hiệu là Hải Lượng thiền sư. Ông có tác phẩm “Trúc Lâm Tống Chỉ Nguyên Thanh”.

Tư tưởng không màng danh lợi của Tuệ Trung Thượng Sĩ đời Trần và Hương Hải thiền sư đời Trịnh Nguyễn v.v...

3- Về chính trị ngoại giao:

Các thiền sư thời Đinh - Lê - Lý - Trần với trách nhiệm ích nước lợi dân thường tham gia cố vấn chính trị:

Khi Lê Ngọa Triều mất (1009), Vạn Hạnh thiền sư và Đào Cam Mộc thu xếp lập Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Ngài đã giúp vua Lê Đại Hành và Lý Thái Tổ.

Vua Lê Đại Hành hỏi ý kiến ngài về vấn đề giặc Tống, Ngài nhận định được thế giặc nên khuyên vua án binh bất động trong 21 ngày giặc sẽ tan, và kết quả như vậy.

Năm 981, vua Chiêm bắt sứ thần Việt Nam và câu kết với nhà Tống, vua Lê Đại Hành hỏi ý kiến, Ngài đáp rằng: “phải cất binh đánh gấp, không được bỏ lỡ cơ hội”. Quả nhiên quân ta đại thắng.

Khuông Việt thiền sư (Ngô Chân Lưu) (930-1011): Năm 40 tuổi được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Tăng Thống. Sang triều Lê, Ngài vẫn giữ chức đó, vua rất kính trọng, sau có về quê lên núi dựng chùa giảng pháp.

Thiền sư Pháp Thuận: Nhân vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước, sư trả lời:

Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh.

(Vận nước như dây vấn

Trời nam hưởng thái bình

Vô vi ngự cung điện

Khắp nơi hết đao binh).

Sư muốn khuyên nhà vua áp dụng đạo lý vô ngã vị tha thì nhân dân an lạc, không còn chiến tranh.

Đa Bảo thiền sư: Trú trì chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng. Vua Lý Thái Tổ thường mời Ngài vào hỏi đạo, bàn việc nước và ngoại giao. Khô Đầu thiền sư cũng được vua Lý Thái Tổ phong chức đại sư để cố vấn quốc chính.

Nhờ lối ngoại giao khéo léo với nhà Tống nên vua Tống tặng kinh Đại tạng năm 1034 (Triều Lý Thánh Tôn).

Biệt tài ứng đối và thi văn của Pháp sư Pháp Thuận đã làm cho nhà Tống phải nể phục triều đình ta. Quốc sư Minh Không cũng từng đi sứ sang Tống và ông có tài ngoại giao.

Trần Khắc Dụng được cử sang nhà Nguyên thỉnh Đại tạng về in để phổ biến.

4- Về xã hội:

Do ảnh hưởng đạo từ bi của nhà Phật, các vua nhà Lý áp dụng giáo thuyết “Bố thí, ái ngữ” vào các lĩnh vực chiêu an, di dân lập ấp, ân xá tù nhân, giảm thuế, cấp ruộng đất cho tù binh Chiêm Thành. Ở triều Lý, nhân dân không có kỳ thị tôn giáo, chủng tộc, quý tiện mặc dù đạo Phật lúc ấy nắm quyền chủ đạo. Các vua có lòng quảng đại đối với quần chúng.

Năm Thông Thụy thứ 3 (1036) và năm 1040 vua mở hội chay, truyền ân xá tội nhân, ân xá một nửa thuế đinh điền. Thời ấy dân gọi vua Lý Nhân Tông là Phật Hoàng.

Ỷ Lan thái phi (vợ thứ của vua Lý Thánh Tôn) xuất của riêng lập nhiều chùa, phát tiền bố thí cho dân nghèo, chuộc những con gái nhà nghèo đã bán mình để gả cho những đàn ông góa vợ.

Năm 1137, vua Lý Thần Tôn khánh thành chùa Quảng Nghiêm, đại xá thả tù cả thiên hạ.

Vua Trần Nhân Tôn lúc đó 16 tuổi đã bỏ kinh thành trốn lên núi Yên Tử để tu nhưng bị vua cha gọi về. Đến khi ông lên ngôi thường tu thiền quán, đêm thường ngủ ở chùa Từ Phúc. Sau ông trở lại núi Yên Tử để tu, nhưng thường đi các nơi thuyết pháp, khuyên dân làm mười điều thiện. Vua có qua Chiêm Thành (1301) ở lại đó hai năm.

Vua Trần Anh Tôn tu ở am Ngọa Vân (núi Yên Tử) lấy hiệu là Thượng Vân Đại Đầu Đà, vợ là Khâm Từ cũng xuất gia làm ni. Năm 1299 vua sắc phát kinh Phật cho dân gian. Năm 1303 vua mở hội ở chùa Phổ Minh, ban phát tiền bạc, lụa vải cho dân nghèo, phát kinh sách cho thiên hạ.

5- Về y học:

Có sư Tuệ Tĩnh là người biết dùng những cây thuốc có sẵn trong nước để chữa bệnh cho dân ta rất là hiệu nghiệm. Ông được tôn là tổ sư của nghề thầy thuốc Việt Nam. Thiền sư Nguyễn Minh Không cũng là người giỏi thuốc, ông đã chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông, được vua phong làm quốc sư (1136).

6- Về kiến trúc điêu khắc:

Các công trình kiến trúc Phật Giáo ở Việt Nam không đồ sộ nhưng hòa hợp với thiên nhiên, cũng như tâm hồn trầm tĩnh của người Việt Nam. Vào thời trước, chùa tháp là trường mỹ thuật đào tạo các ngành kiến trúc, điêu khắc, hội họa. Các học viên học nghề với thầy mình qua việc dựng chùa, điêu khắc, tạo dựng tượng, tô vẽ trong các chùa. Chùa là nơi cất giữ tài sản mỹ thuật rất phong phú.

Nhiều chùa được xây dựng rất sớm và trở thành danh lam thắng cảnh, tiêu biểu như chùa Một Cột, chùa Hương, chùa Tứ Pháp. Chùa Kiến Sơ, chùa Khai Quốc gần thành Thăng Long xây dựng từ thời Lý Nam Đế, quốc sư Khuông Việt thường trụ ở đây, sau đổi là An Quốc rồi Trấn Quốc và Trấn Bắc.

Chùa Lục Tổ (Tiên Sơn) là nơi giảng pháp của Vạn Hạnh thiền sư, cũng là nơi tu học của Lý Công Uẩn lúc thiếu thời. Nhiều công trình khác như An Nam tứ đại khí là bốn vật báu của nước An Nam:

- Tháp Báo Thiên: Xây năm 1057 cao 10 trượng.

- Tượng Quỳnh Lâm (bằng đồng): theo truyền thuyết thiền sư Nguyễn Minh Không chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông, được vua thưởng đồng, ông đem đúc tượng này và các vật khác.

- Vạc Phổ Minh (Nam Định): Đúc đời Trần Nhân Tông, rộng 5 thước, nặng mười ngàn cân.

- Chuông Quy Điền: Đúc năm 1080 ở chùa Diên Hựu (chùa Một Cột).

Trong thời nhà Minh xâm lăng nước ta, tướng giặc là Vương Thông đã đem vạc và chuông phá để đúc súng đạn chống với Lê Lợi.

Gần đây ở Ngũ Xá (Hà Nội) có đúc tượng Phật bằng đồng to nhất nước ta, cao 5m. Những tuyệt tác điêu khắc được thế giới khen ngợi như tượng gỗ Rahula, Tuyết Sơn, Quan Âm nghìn tay nghìn mắt... là niềm tự hào của dân tộc, làm vinh dự cho nền mỹ thuật của nước ta.

Nghề khảm xa cừ cũng được tìm thấy một vị sư khai sáng hiệu là Phổ An. Vị này tục danh là Trương Công Thành, trước có làm quan triều Lý, sau đi tu. Ông lấy vỏ trai khảm liễn đối ở chùa Cổ Am cho nên những thợ khảm trai ở làng Khương Mỹ thờ ông làm tổ nghề này.

Đạo Phật mang tính tích cực “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp” luôn luôn thực hành lợi tha, đoàn kết, xây dựng và bao dung nên dễ dàng thấm sâu vào mạch sống dân tộc. Do ảnh hưởng lâu đời đạo lý từ bi của nhà Phật nên người dân đã sống và hành động đạo đức một cách tự nhiên mà người ta không biết là của đạo Phật. Đất nước trải qua bao thời kỳ gian khổ, đạo Phật vẫn luôn luôn hòa mình cống hiến cho nền văn hóa Việt Nam được rực rỡ qua các thời đại. Người Phật tử chúng ta nên phát huy truyền thống tốt đẹp đó, cống hiến khả năng của mình trong xã hội hiện tại để cho đất nước ngày càng thêm hưng thịnh.

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài VI-8 BỒ ĐỀ ĐẠT MA

(BODHIDHARMA)

TỔ THỨ NHẤT

THIỀN TÔNG TRUNG QUỐC

(Đầu thế kỷ thứ 11, sau Phật Niết bàn)

-Thích Giác Nghiêm-

Đức Thích Ca Mâu Ni Phật vì muốn cứu độ chúng sanh nên đã thị hiện ở cuộc đời này, giữa một xã hội phân chia giai cấp bất công và tư tưởng các tôn giáo hỗn tạp ở Ấn Độ, Ngài đã chối bỏ vương vị và lạc thú trần gian để xuất gia tìm đạo. Trên con đường thuyết pháp độ sinh, đức Phật đã sáng lập truyền thống lịch sử Thiền tông.

Sau Phật Niết Bàn, chính pháp Nhãn tạng được tiếp nối truyền thừa tại Ấn Độ qua 28 vị Tổ sư, vị Tổ Thiền tông thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma.

Về sau, theo lời thầy dạy, Ngài Bồ Đề Đạt Ma qua Trung Quốc truyền chính pháp Nhãn tạng và trở thành vị Tổ sư thứ nhất của Thiền tông Trung Quốc.

I- Quê quán, dòng họ và con người của Tổ:

Tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma), dòng Sát Đế Lợi ở Nam Ấn Độ, cha là vua Hương Chí, nước Quốc Hương, một nước lớn mạnh của miền Nam Ấn Độ thời bấy giờ, đó là nước Pallavas. Ngài là thái tử thứ 3, chưa xuất gia tên là Bồ Đề Đa La, sinh vào đầu thế kỷ thứ 11 sau Đức Phật Niết Bàn tức là khoảng thế kỷ thứ 6 Tây lịch. Hoàng gia theo Phật giáo, người anh thứ nhất của Bồ Đề Đa La là Nguyệt Tịnh Đa La thích tu phép Niệm Phật Tam Muội - Người anh thứ hai là Công Đức Đa La thích làm phước bố thí cúng dường. Còn Bồ Đề Đa La có tướng mạo hung dữ, đôi mắt luôn luôn trợn trắng, lông mày quặm lại, râu đen, nét mặt trông có vẽ dữ tợn. Nhưng ngài có một trái tim rất dịu dàng, tâm hồn có tính nghệ sĩ, nhưng mà cũng ngang tàng không biết sợ ai. Cuộc sống có vẻ cô đơn thâm trầm, Ngài có trí siêu việt và đặc tài hùng biện, thông minh, học và tìm hiểu cho đến tường tận, thích con đường xuất thế.

Do đó, khi vua Hương Chí thỉnh Tổ Bát Nhã Đa La (Prajnatara) Tổ thứ 27 vào hoàng cung cúng dường. Để nghiệm xem ba vương tử, ai là người siêu tuyệt, Tổ đem hạt châu quý ra hỏi:

- Trong đời, có vật gì quý hơn hạt châu?

Cả hai người anh đều cho rằng hạt châu đó quý nhất, ngoài nhà vua ra, không ai có được, chỉ có đạo lực như Tôn giả mới có thể được cúng dường hạt châu đó.

Vương tử thứ 3 là Bồ Đề Đa La thưa:

- Hạt châu đó là của báu thế gian, chưa thể gọi là trên hết, trong các thứ quý báu, chỉ có Pháp bảo là quý hơn hết - Hạt châu là quý báu của thế gian, là ánh sáng của thế gian; trong các thứ ánh sáng, chỉ có ánh sáng trí tuệ là cao tột. Hạt châu là quý báu là vật trong suốt trong sạch của thế gian, trong các thứ trong sạch chỉ có tâm trong sạch hơn hết.

Nhưng ánh sáng của Hạt châu không thể tự chiếu, cần nhờ ánh sáng trí tuệ mới phân biệt rõ được, đã thấy rõ mới biết là hạt châu, đã biết là hạt châu mới đánh giá được quý báu của nó. Nếu biết rõ cái quý báu của nó, báu mà không báu. Nếu biết rõ nó là châu thì nó là châu, mà chẳng là châu, cần nhờ trí, châu mới biết được thể châu, báu mà chẳng biết báu, cần nhờ trí bảo mới rõ pháp bảo.

Bởi thế, thầy có đạo nên báu kia liền hiện, chúng sanh có đạo thì tâm báu cũng thế.

Nghe Bồ Đề Đa La biện luận một cách biện chứng, logic, Tổ Prajnatara khen ngợi rồi hỏi tiếp:

- Trong các vật, vật gì không tướng?

- Thưa chân tánh vắng lặng là không tướng.

- Trong các vật, vật gì là tối cao?

- Trong các vật, nhân ngã là tối cao.

- Trong các vật, vật gì là tối đại?

- Thưa trong các vật, Pháp là tối đại.

Tổ Prajnatara hết sức vui mừng, nghĩ rằng Bồ Đề Đa La là pháp khí thượng thừa, sẽ nối nghiệp lớn về sau.

Khi vua Hương Chí băng hà, hai hoàng tử lớn kêu gào than khóc, riêng Bồ Đề Đa La ngồi Thiền định bên quan tài nhà vua suốt bảy ngày. An táng vua cha xong, Bồ Đề Đa La xin phép Hoàng hậu và hai anh được xuất gia theo Tổ Prajnatara.

II- Đạo nghiệp của Tổ Bồ Đề Đa La

1- Giáo hóa tại Nam Ấn Độ.

Theo lời thỉnh cầu của Bồ Đề Đa La, Tổ Bát Nhã Đa La (Prajnatara) hoan hỉ làm lễ xuống tóc và truyền giới cụ túc. Trong buổi lễ, Tổ nói với Bồ Đề Đa La:

- Đối với các pháp, hoàng tử đã thông hiểu, trong giờ phút trọng đại này, để phù hợp, ta đổi pháp hiệu của hoàng tử là Bồ Đề Đạt Ma.

Ngài luôn luôn hầu hạ bên thầy, đi hoằng hóa các nơi, một thời gian sau, Bồ Đề Đạt Ma được truyền tâm ấn, trở thành Tổ thứ 28 của Thiền tông và được Tổ Prajnatara căn dặn:

- Nhơn duyên lớn lao giúp Ngươi hoằng truyền Nhãn tạng Như Lai là ở bên Trung Quốc, nhưng Ngươi không nên đi sớm, vì có thể mắc nạn. Ngươi cứ tạm hoằng pháp lợi sinh ở xứ Ấn Độ nầy. Hãy đợi ta diệt độ (khoảng 60 năm sau) rồi lên đường cũng chẳng muộn.

Và Tổ Bát Nhã Đa La nói tiếp:

- Cũng không nên ở lâu tại Trung Quốc.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma cũng xin thầy chỉ cho những điều gì cần để ứng xử khi ở Trung Quốc giáo hóa.

Tổ Prajnatara đã dùng những lời sấm ký tiên đoán sự hung kiết trên đường hoằng hóa, qua hơn mười bài sấm ký, Tổ cũng dự đoán vận số của Phật giáo Trung Quốc.

Sau ngày Tổ Bát Nhã Đa La Niết Bàn, Ngài Bồ Đề Đạt Ma cùng chung sức với người huynh đệ đồng sư hoằng truyền Phật pháp tại nước nhà.

Với công lao hai vị, người đời phong tặng hai tôn giả là “Mở hai cửa cam lồ”. Tổ Bồ Đề Đạt Ma tinh chuyên về thiền quán, còn sư đệ tên là Phật Đại Tiên có một số đệ tử chia làm 6 nhóm: Hữu tướng, Vô tướng, Định tuệ, Giới hạnh, Vô đắc và Tịch tịnh.

Ảnh hưởng của Tổ Đạt Ma ngày càng mở rộng, nhưng hàng ngoại đạo vẫn tìm cách lũng đoạn sự phát triển của Phật giáo. Do đó, Tổ vẫn phải tiếp tục nỗ lực lo cho tiền đồ đạo pháp.

Sau khi vua Nguyệt Tịnh băng hà, thái tử Dị Kiến Đa La lên ngôi, Tổ Bồ Đề Đạt Ma giáo hóa vua và bá tánh một thời gian, Tổ đem ý định đi Trung Quốc cho vua biết, vì hoằng truyền Phật pháp, mở mang sâu rộng, vua Dị Kiến Đa La không dám cản ngăn, đành chuẩn bị một chiếc thuyền đi biển, lương thực, thủy thủ hộ tống, tiễn đưa sư thúc qua Trung Quốc.

2- Nói về công đức với vua Lương Võ Đế:

Ngót ba năm trời, vào năm 520 TL thuyền của Tổ Đạt Ma mới đến Quảng Châu, nghe tin một vị Thánh nhân Phật giáo từ Ấn Độ đến, quan đầu tỉnh Quảng Châu ra hải cảng Phiên Ngung đón tiếp, đồng thời quan đầu tỉnh cũng dâng sớ về triều tấu trình tin tức cho vua Lương Võ Đế, niên hiệu Phổ Thông, ngày 21-9 năm Canh Tý được rõ.

Thời bấy giờ Trung Quốc Phật giáo đã thâm nhập 600 năm, được mọi người đón nhận một cách nhiệt tình kể cả vua, quan. Tổ Bồ Đề Đạt Ma là người chứng ngộ đầu tiên tới Trung Quốc, danh tiếng của Ngài đã vang xa. Được sớ của tỉnh Quảng Châu, vua liền sai sứ thỉnh Tổ Bồ Đề Đạt Ma về thành đô Kim Lăng (Kiến Nghiệp).

Trong cuộc diện kiến, vua Võ Đế hỏi Tổ:

- Từ khi tức vị đến nay, trẫm đã tạo lập nhiều chùa, tu viện, đã nuôi hàng nghìn học giả dịch chép kinh điển, độ Tăng không kể hết, những việc làm như thế, có công đức gì chăng?

Tổ đáp: - Đều không có công đức.

Vua hỏi: - Tại sao không có công đức?

- Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo hữu lậu ở cõi người, cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thiệt.

- Như thế nào mới là công đức chân thật?

- Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn, thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức và công đức nầy không thể lấy việc thế gian mà cầu được, người đời khó làm nổi.

Lương Võ Đế lúc nầy thấy nghi ngờ, thầm nghĩ: Vị Tăng rợ Hồ này có lẽ là kẻ lừa đảo giang hồ. Công đức phải do người làm ra, đó là đạo lý mà mọi người đều biết. Vậy mà vị nầy lại nói công đức không phải là cái người đời dễ làm nổi, nghĩ đến đây Võ Đế muốn kiểm tra xem học vấn của Đạt Ma ra sao, bèn hỏi:

- Phật pháp nói “Thánh đế thứ nhất” nghĩa là gì?

Tổ đáp:

“Một khi tỉnh rõ, thông suốt rồi, thì không có gì là Thánh”. Cũng có sách ghi Ngài chỉ trả lời:

“Hư không vô Thánh”

Nghe trả lời, Võ Đế cười thầm, kinh có dạy “Khổ tập diệt đạo” là Thánh đế của Phật pháp, người học Phật ai mà chẳng biết, chẳng hiểu, vậy vị này đúng là kẻ lừa dối. Lương Võ Đế không giữ phép cung kính nữa, lớn tiếng quát hỏi:

- Ai đang đối diện với Trẫm đây?

Tổ Đạt Ma đáp:

- Không biết.

Vua Lương Võ Đế không lãnh ngộ được, lui về suy nghĩ, Tổ Bồ Đề Đạt Ma biết căn cơ chưa hợp, tạm lưu lại vài ngày.

3-Tiếp độ Thần Quang (Tuệ Khả):

Sau câu chuyện đối đáp với vua Lương Võ Đế, Tổ biết tâm vua không khế hợp với pháp mình. Vì vậy đến ngày 19-10 năm ấy, Tổ về Bắc Giang, rồi 23 tháng 11 lại sang Lạc Dương. Đến núi Tung Sơn, vào Chùa Thiếu Lâm ở Hà Nam (lúc đó là đời Hậu Ngụy thời vua Hiếu Minh, năm Thái Hòa thứ 10), trọn ngày tu thiền, ngồi hướng vào vách. Người đời không hiểu gì cả, họ gọi Sư là “Bích quán Bà La Môn”, nghĩa là ông Bà La Môn ngồi ngó vách.

Lúc bấy giờ có một vị Tăng tên là Thần Quang vốn là một sĩ phu, học rộng hiểu nhiều. Nghe danh của Tổ, đến Thiếu Lâm Tự, hôm đó nhằm tiết đông thiên (mồng chín tháng chạp), đến đêm tuyết xuống như mưa, trời đất mênh mông một màu trắng đầy tuyết phủ, Thần Quang không quản trời đông giá lạnh, đội tuyết lên chùa xin tu học, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đang thiền định, Thần Quang đứng yên ngoài sân trì chí chờ đợi, chẳng bao lâu trên mình phủ đầy tuyết trắng trông giống như người tuyết. Tổ thương tình quay lại hỏi:

- Ông đứng lâu trong tuyết như thế, ý muốn cầu việc gì?

Thần Quang thưa:

- Cúi xin Hòa Thượng xót thương, mở cửa cam lồ, rộng độ cho con.

Tổ nói: “Diệu đạo của chư Phật là phải nhiều kiếp tinh tấn, cần mẫn làm cho được những việc khó làm, nhẫn cho được những điều khó nhẫn, còn không thể đạt kết quả. Nay ngươi đem chút công lao nhỏ, trí nông, lòng đầy khinh khi, kiêu ngạo, đâu có thể cầu được pháp chân thừa”.

Nghe lời Tổ dạy như vậy, để chứng tỏ lòng thiết tha cầu đạo, ngài Thần Quang bèn lấy dao bén chặt cánh tay trái, dâng lên trước Tổ, để chứng minh lòng thành khẩn cầu đạo của mình.

Biết đây là pháp khí thượng thừa, Tổ bèn nói:

- Các Đức Phật ban đầu cầu đạo, vì pháp quên mình. Nay ngươi chặt cánh tay trước mặt ta, tâm cầu đạo như thế cũng khá cao.

Ngài Thần Quang thưa:

- Pháp ấn của chư Phật, con có thể nghe được chăng?

- Pháp ấn của Chư Phật không thể từ người khác mà được.

Thần Quang khẩn khoản xin:

- Tâm con chưa an, xin thầy dạy pháp an tâm.

- Ngươi hãy đem tâm ra đây ta an cho.

Nghe vậy, Ngài Thần Quang đứng chốc lát bèn thưa:

- Con tìm mãi không thấy tâm đâu cả.

Tổ Đạt Ma kết luận:

- Vậy là tâm nhà ngươi đã an rồi đó.

Nghe Tổ dạy, Ngài Thần Quang liền liễu ngộ, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đổi tên cho Ngài Thần Quang là Tuệ Khả.

4- Giảng phép và đạo:

Với sự kiện cầu đạo của Tuệ Khả, một người giỏi, lại được thâu nhận một cách đặc biệt như vậy, nên uy danh của Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền khắp nơi. Từ đây kẻ Tăng người tục đua nhau đến yết kiến Ngài, vì vậy tiếng tăm cũng đồn xa.

Sau này có nhiều người nói với Lương Võ Đế rằng: Bồ Đề Đạt Ma là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, tới Trung Quốc truyền tâm ấn của Phật.

Võ Đế rất hối hận, đã năm ba lần ban chiếu mời, nhưng duyên đã hết, Tổ Đạt Ma không nhận lời.

Vua Hiếu Minh Đế nước Ngụy sai sứ đến thăm ba phen, thỉnh Ngài vào cung để vua được cúng dường, Tổ đều từ chối. Để nói lên lòng kính trọng, nhà vua sai sứ đem lễ vật đến chùa Thiếu Lâm cúng dường.

Từ nay, Ngài mở cửa phương tiện giáo hóa, Tổ giảng dạy phép nhập đạo qua hai thể thức. Một là lý nhập và hai là hạnh nhập.

Nương theo giáo nghĩa để ngộ tâm tông, thấu rõ diệu lý - Phật với chúng sanh đồng một thể tánh Chân như, đó là lý nhập.

Còn hạnh nhập có 4 nghĩa:

- Một là Báo oán hạnh.

- Hai là Tùy duyên hạnh.

- Ba là Vô sở cầu hạnh.

- Bốn là Xứng pháp hạnh.

  1. a) Tại sao gọi là Báo oán hạnh: Người tu hành khi gặp cảnh khổ, những điều không vừa ý, phải có lòng nhẫn nhục, chịu khổ đừng nên oán trách. Trong kinh có nói:

“Gặp khổ không buồn” vì đó là nghiệp phải trả vậy thôi. Nương theo oán mà vào đạo, nên gọi là “Hạnh trả oán” tức là “Báo oán hạnh”.

  1. b) Hai là Tùy duyên hạnh: Mỗi người trong cuộc sống khổ hay vui đều do nghiệp đời trước mà chiêu cảm tạo thành. Nay nếu được quả báo tốt, hưởng an vui, hạnh phúc hay nghiệp xấu đến chịu đau buồn, tùy theo duyên ấy mà sống, lặng lẽ mà thuận với đạo, nên gọi là “Tùy duyên hạnh”.
  2. c) Ba là Vô sở cầu hạnh: Con người chúng ta thường ưa đắm mê, cái gì cũng ưa muốn, cầu mong, cũng thích, cũng ham. Nhưng mong cầu không thỏa mãn hết được, nó tăng thêm hoài. Người trí phải chuyển ngược thế tục, buông bỏ, dứt tưởng, chẳng cầu, vì rằng “Còn cầu là còn khổ, hết cầu mới được vui”. Xét biết không cầu mới thực là đạo hạnh, nên nói là “Hạnh không mong cầu” tức là “Vô sở cầu hạnh” vậy.
  3. d) Bốn là Xứng pháp hạnh: Cái lý thanh tịnh của tự tánh gọi là Pháp, cái lý thanh tịnh của tự tánh không có các tướng trước, nhiễm, kia, đây. Tìm hiểu được lẽ ấy thì mọi hình tướng hóa thành không, tin sâu như vậy thì không còn bị nhiễm trước, hết chấp hai bên, không lẫn tiếc, miễn làm sao lợi mình, lợi mọi người, hành lục độ Ba La Mật mà như không làm, làm mà không có tướng làm, hành mà không có gì là hành cả, nên gọi là “Hạnh tùy xứng theo Pháp” gọi là “Xứng pháp hạnh”. Cho nên có câu:

Ngoài dứt muôn duyên

Trong bặt nghỉ tưởng

Tâm như vách tường

Mới là vào đạo”.

5- Truyền tâm ấn:

Sau 9 năm hoằng hóa ở Trung Quốc, Tổ Bồ Đề Đạt Ma thấy được cơ duyên đã đủ, ý muốn trở về Ấn độ, liền gọi đồ chúng đến và hỏi:

- Sắp đến giờ ta trở về, các ngươi nên nói chỗ sở đắc của mình cho ta biết.

Đạo phó ra thưa:

- Theo chỗ con thấy, không chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, đó là dụng của đạo.

Tổ nói:

- Ngươi được phần da của ta.

Bà Ni hiệu là Tổng Trì ra thưa:

- Chỗ hiểu của con như Tổ Anan thấy Phật A Súc, chỉ thấy một lần không còn thấy lại.

Tổ nói:

- Ngươi được phần thịt của ta.

Đạo Dục ra thưa:

- Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con không một pháp có thể được.

Tổ nói:

- Ngươi được phần xương của ta.

Đến lượt Tuệ Khả ra vái Tổ ba vái, rồi lui lại đứng yên lặng một chỗ, Tổ nói:

- Người được phần tủy của ta.

Nói xong, Tổ gọi Tuệ Khả đến dặn dò:

- Xưa Như Lai đem Chánh Pháp Nhãn tạng giao phó cho Đại Ca Diếp, rồi lần lượt truyền đến ta. Nay ta đem pháp đó trao cho ngươi, ngươi hãy tích cực truyền giữ, chớ để dứt mất. Ta cũng trao cho ngươi áo cà sa và bát báu để làm pháp tín. Mỗi thứ tiêu biểu cho mỗi việc, ngươi nên biết như thế.

6- Hóa đạo ở Võ Môn và Niết Bàn:

Tổ Bồ Đề Đạt Ma rời chùa Thiếu Lâm đến chùa Thiên Thánh ở Võ Môn, tạm dừng lại ba ngày.

Quan Thái Thú thành này tên là Dương Huyễn Chi, người sùng mộ Phật pháp, nghe tin Ngài đến, liền tới đãnh lễ, ông hỏi:

- Thầy ở Ấn Độ được kế thừa làm Tổ, thế nào là Tổ, xin chỉ dạy cho.

Tổ đáp: - Hiểu rõ Phật là tâm, nói làm phù hợp, gọi đó là Tổ.

Huyễn Chi hỏi tiếp:

- Thưa, chỉ có nghĩa đó hay còn nghĩa nào khác?

- Cần rõ tâm ngươi, biết rành xưa nay, chẳng chấp có không, cũng chẳng cố chấp, chẳng hiền chẳng dữ, không mê không ngộ. Nên hiểu rõ như vậy cũng gọi là Tổ.

Huyễn Chi lại thưa:

- Đệ tử hướng tâm quy y Tam Bảo đã nhiều năm, nhưng vì nghiệp thế tục, trí tuệ còn tối tăm, chưa rõ chân lý, ít gặp thiện tri thức. Nay có duyên lành được gặp Sư chỉ dạy ít lời, lấy làm sung sướng, kính xin Sư từ bi khai mở đường tu cho.

Thể theo lời khẩn cầu, Tổ Đạt Ma dạy kệ:

“Cũng đừng thấy dữ mà sinh chê

Cũng đừng thấy lành mà ái mộ

Cũng đừng bỏ trí mà gần ngu

Cũng đừng vứt mê mà về ngộ”.

Được vậy thì:

“Đến đạo lớn to vô lượng

Thông Phật tâm môn cứu độ

Chẳng ước thánh phàm sánh vai

Vượt lên gọi đó là Tổ”

Vào thời nhà Ngụy, trong thiền môn có nhiều bậc kỳ tài, như Luật sư Quãng Thống, Tam tạng Lưu Chi v.v... đều là bậc loan phụng trong hàng Tăng chúng, thấy Tổ Bồ Đề Đạt Ma luôn luôn bài xích hình tướng, coi trọng vấn đề tâm linh, nhiều phen các vị ra sức nghị luận phải trái vô cùng sôi nổi. Để chấn hưng tâm tông, Tổ Đạt Ma gieo rải mưa pháp khắp nơi, kết quả thành công vẻ vang của Tổ càng kích thích kẻ ác, gia tâm dùng thuốc độc để hại Sư, qua 5 lần mưu hại, với tài năng sẵn có, Tổ đã thắng lướt. Đến lần thứ 6 này, thấy cơ duyên đã đủ, và đã tìm được người thừa kế, giao trách nhiệm, Tổ Đạt Ma không cần tự cứu, ngài tĩnh tọa, an nhiên thị tịch.

Bấy giờ là ngày 9 tháng 10 năm Bính Thìn, đời Hiếu Minh, hậu Ngụy, niên hiệu Thái Hòa tức năm Đại Thông thứ 2, triều nhà Lương (529 TL).

Đến 18 tháng 12 năm đó nhập tháp tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ, Trung Quốc.

7- Quảy dép về Ấn Độ:

Ba năm sau khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma Niết bàn, sứ thần Tống Vân thừa lệnh của vua Hậu Ngụy đi Ấn Độ về, gặp Tổ tại núi Thông Lĩnh, tay quảy một chiếc dép, một mình đi nhanh như bay, Tống Vân làm quan, có đến chùa gặp Ngài nhiều lần, đã biết nên hỏi:

- Thưa Tôn giã đi đâu đó?

- Ta về Ấn Độ.

Tổ đáp rồi nói tiếp:

- Chủ của ông đã chán đời rồi.

Thấy Tống Vân ngạc nhiên, Ngài lại nói tiếp:

- Ông sẽ hiểu - Nếu gặp người của tôi thì ông hãy nói với họ rằng tôi đi vào Hymalaya mãi mãi”.

Sau một ít câu chuyện thăm hỏi, ngẩn ngơ, Tống Vân từ giả Tổ, hấp tấp về phục mạng, thì ra vua Minh Đế đã băng hà.

Tống Vân tâu việc gặp Tổ lên vua Hiếu Trang mới lên ngôi, đồng thời cũng báo tin cho các đệ tử của Tổ biết. Tất cả đều không ai tin. Vì vậy vua Hiếu Trang ra lệnh quật mồ và dỡ nắp quan tài xem thử. Quả nhiên quan tài trống không, chỉ còn một chiếc dép.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma được vua Lương Võ Đế tôn xưng Ngài là Thánh Trụ Đại Sư và vua Đường Đại Tông ban thụy hiệu là Viên Giác Đại Sư, ngọn tháp của Tổ gọi là Không Quán. Thiền Tông Trung Hoa tôn Ngài làm Sơ Tổ.

8- Những bài pháp của Tổ Bồ Đề Đạt Ma:

Cuộc đời hành hóa của Tổ Bồ Đề Đạt Ma ở Trung Quốc có nhiều bài pháp. Những bài thuyết pháp của Tổ có thể chia thành hai thời kỳ; là thời kỳ thuyết pháp trước Lương Võ Đế và thời kỳ thuyết pháp cho các môn đồ.

Thời kỳ thuyết pháp trước ở vua Lương Võ Đế, Ngài nói những lời lẽ phá chấp, để thức tỉnh, để thay đổi cách nhìn theo lối thượng thừa của Phật pháp, như:

- Vua Lương Võ Đế rất hãnh diện ở chỗ đã có công tạo lập nhiều chùa, nhiều tu viện, nuôi hằng nghìn học giả dịch chép kinh sách, cung cấp tứ vật dụng để nuôi Tăng vô số, nhưng Tổ Bồ Đề Đạt Ma cho là “Chẳng có công đức gì cả”.

- Hay Tổ giảng: Phật là tự tâm, tại sao lìa tâm mà tìm Phật. Phật trước Phật sau chỉ nói về tâm - Cho nên “Tâm tức Phật, Phật tức tâm, ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm”v.v...

Thời kỳ thuyết pháp cho các môn đồ, thí dụ Tổ dạy 6 pháp môn tiến bước vào đạo Phật chủ yếu cho Thiền, sau này đặt tên là “Sáu cửa vào động thiếu thất”. (Thiếu thất Lục Môn). Sáu cửa gồm có:

  1. a) Cửa thứ nhất là mở vào tâm: Tâm là mạch sống của thiền, cho nên người xưa nói: “Thiền là tên gọi của tâm, tâm là bổn thể của Thiền”. Tâm đây là tâm Bát Nhã, tông Bát Nhã. Tông Bát Nhã là “không tông”, tông phái của cái “không”. Cái không Bát Nhã siêu việt và viên dung xa rời cái “có” và cái “không” của tri thức suy luận, bằng cách thực hành con đường trung đạo, đi vào lý không của kinh Bát Nhã.
  2. b) Cửa thứ hai là phá tướng: Phá vỡ tất cả hình tướng, chân lý do khối óc con người tạo dựng nên. Vì có tướng tức là có bỉ thử, có đối chọi nọ kia, có công thức, có nghi thức. Lìa các tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giã mới đạt đạo, trở về với chân tâm, tức là thành Phật.
  3. c) Cửa thứ ba là Nhị chủng nhập: Là hai đường vào đạo, hành giả muốn đạt đạo phải đi bằng hai con đường, đó là lý nhập hạnh nhập.

- Lý nhập là mượn giáo để ngộ tông, mượn bè để qua sông, mượn ngón tay để thấy trăng. Người tu muốn vào đạo không nên lệ thuộc vào văn giáo, đi thẳng vào chân lý nhiệm mầu, trực nhận thực tại hồn nhiên.

- Hạnh nhập là nương vào hạnh để đạt chân tâm (Bốn hạnh nhập đã nói rõ ở trước).

  1. d) Cửa thứ tư là Pháp an tâm: Tâm con người thường không an, bởi vọng động, tha hóa, rong ruỗi theo thời gian, không gian, tìm cầu cái bên ngoài mà không biết thức tỉnh, trở về với thực tại sẵn có trong tâm. Cái bệnh lo âu, chính ngay thời đại gọi là văn mình này, ở các nước Âu Mỹ cứ chạy theo vòng xoáy của cuộc đời nên lo âu, bất an thành truyền kiếp. Cho nên một số lớn người Tây Phương vào các thiền đường Phật giáo, họ được dạy thiền định, buông bỏ tất cả những vướng mắc, lo lắng và họ đã mừng lắm, Phật giáo đã có môn thuốc thần diệu trị được bệnh stress.

Bởi vậy nên Ngài Tuệ Khả sau khi chứng đạo đã có bài kệ như sau:

“Ba thuở cầu tâm, tâm chẳng có,

Tấc lòng kiếm vọng, vọng hoàn không.

Vọng nguyên không xứ tức Bồ Đề

Đó mới gọi là chân đắc đạo”.

  1. e) Cửa thứ năm là Ngộ tánh luận: Tức là Pháp thấy tánh thành Phật. Tức là người tu tự ý thức lại tánh Phật sẵn có đã bị chôn vùi nhiều kiếp do vô minh phiền não che khuất. Hay nói rõ hơn nữa, ta tự ý thức lại cái cốt Phật bổn lai của chúng ta bị chôn vùi từ không biết bao nhiêu kiếp nào dưới lớp chiêm bao, dưới từng lớp mặc cảm làm điên đảo cuộc sống, nào là mặc cảm tự ti, nào là cái mặc cảm phạm tội, nào là mặc cảm tội từ vô thỉ kiếp, tự suy nghĩ rằng chắc sa đọa khó mà ngoi lên được. Vậy thì giờ đây phải thức tỉnh lên, tự ý thức có sẵn tánh Phật, cốt Phật bên trong, đập vỡ cái vỏ mê mờ, tự ti mặc cảm bao quanh để thấy rõ, để thuận với đường đạo, thức tỉnh trên cái hiện tiền đó là “đương xứ tức chân”.
  2. g) Cửa thứ 6 là huyết mạch luận: Tức là mạch máu đạo Phật. Trở về với nguồn cội từ thể Phật, tất cả vạn tướng đều lưu xuất từ tâm. Ngoài tâm không có Phật, tâm tức Phật.

Các Đức Phật ở quá khứ, vị lai, đã và sẽ thành trong tâm, Phật trước Phật sau chỉ nói đến tâm. Chỉ vì chúng sanh điên đảo nên không tự giác tri được chính tâm mình là Phật. Cho nên kẻ nào tìm Phật ở ngoài, kẻ ấy hoàn toàn chẳng biết tâm mình là Phật.

Còn Thiếu thất là tên một ngọn núi cao 860 trượng, trong dãy núi Trung Nhạc, tại huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Có 36 ngọn núi, phía Đông gọi là Đại Thất (tức là nhà lớn), phía Tây gọi là Thiếu Thất (là nhà nhỏ), nhà đây là nhà đá, lấy đá núi dựng thành nhà, xếp thành am động. Thuở xưa, vua Hậu Ngụy Hiếu Văn có dựng lên đây một ngôi chùa cho Thiền sư Phật Đà Thiên Trúc ở, gọi là chùa Thiếu Lâm, chính tại ngôi chùa Tổ này, vào khoảng năm 520, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến chùa này, ngồi thiền 9 năm quay mặt vào vách đá (gọi là Cửu niên diện bích), sau đó truyền bá chánh pháp.

Pháp Thiền của Tổ Bồ Đề Đạt Ma gọi là trực chỉ, trỏ thẳng, tức là gãi đúng ngay vào chỗ ngứa, thí dụ ta mang giày ở chân, ngứa trong chân mà ta chỉ gải ngoài chiếc giày thì không đã ngứa được, muốn đã ngứa thì phải gãi thẳng vào da trần. Cho nên muốn thấy sự thật, phải tiếp nhận thẳng sự thật. Bởi vậy nên gọi là biệt truyền tức là truyền riêng.

9- Những tác phẩm được truyền lại:

Theo sự khảo sát và nghiên cứu các tư liệu đào được ở động Đôn Hoàng, các học giả đã cho rằng các tác phẩm để lưu truyền học thuyết của Tổ Bồ Đề Đạt Ma có:

- Luận Nhị Thập Tứ Hành.

- Quyển Nhị Nhập.

- Quyển Lăng Già Sư Tư Ký.

- Quyển Thích Lăng Già Yếu Chỉ Nghĩa (Luận Đạt Ma).

- Thiếu Thất Lục Môn.

- Đạt Ma Hòa Thượng Tuyệt Quán Luận.

- Thích Bồ Đề Đạt Ma Vô Tâm Luận.

- Nam Thiên Trúc Bồ Đề Đạt Ma Thiền Sư Quán Môn (Đại Thừa Pháp Luận).

- Thiếu Thất Dật Thư v.v...

III- Nhận thức và kết luận:

Tổ Bồ Đề Đạt Ma là vị Tổ thứ 28 truyền thừa Thiền Ấn Độ và vừa là Sơ Tổ của Thiền Tông Trung Quốc. Cuộc đời và đạo nghiệp của Tổ thật phi thường, tâm hồn hiên ngang mãnh liệt, cho nên trong sách Trung Quốc diễn tả Ngài vào đất Ngụy hiên ngang đường đường như một kiếm khách chốn hải tần. Rồi diễn tả Ngài như một hiệp sĩ với câu: “Tổ Đạt Ma đơn đao trực nhập” triều đình Lương Võ Đế, nói pháp như chuyển sóng, một mình đơn thân độc mã mà dám đạp đổ công thức thường lệ, dám nói thẳng...”

Tổ đã thổi vào tư tưởng đương thời luồng sinh khí mới, đặc biệt phá bỏ ước lệ tìm cầu Phật đạo bên ngoài mà phải đi sâu vào nội tâm. Chín năm trầm hùng ngồi nhìn vách để dạy người soi tâm.

Với những hiên ngang, phi thường, mãnh liệt như vậy, người sau lại còn muốn tô thêm cho đậm nét hình ảnh của Ngài có tướng thật hung dữ, mắt thì vẻ như trợn trắng, lông mày quặm, râu quai nón thì đen cả mặt.

Về cuộc đời của Tổ Đạt Ma có nhiều truyền kỳ. Như kinh Brash: kể Tổ Bồ Đề Đạt Ma thấy vua Lương Võ Đế không hiểu được đạo lý Thiền, liền bỏ vua Lương Võ Đế, vượt qua sông Dương Tử trên một cọng lau.

Alanw. Watts kể khi tham thiền, Tổ ngủ gục liền cắt lông mi mắt liệng xuống đất, sau mọc thành một bụi cây xanh tốt. Nhân khi khát nước, Tổ lấy lá xanh nấu nước uống liền khỏi buồn ngủ, trí óc lại sáng suốt. Cây xanh đó là cây trà đầu tiên do Tổ Bồ Đề Đạt Ma phát hiện. Tục uống trà bên Trung Quốc có từ đó. Về sau, các thiền Sư bên Nhật còn biến sự uống trà thành một nghệ thuật, gọi là Trà đạo. Trà và Thiền đi đôi, thường gọi là Thiền Trà (Cha zen Ichimi), uống trà vào giữ cho tỉnh táo và thức tỉnh. Việc phát hiện cây trà nầy là thời gian Tổ ở trên núi có tên là “Tai”, cho nên cây đó được đặt tên là Tai, các từ dùng cho trà trong bất cứ ngôn ngữ nào, đều được dẫn ra từ nguồn gốc Tai. Trong tiếng Anh nó đọc là Tea, tiếng Hindu Ấn Độ đọc là “Chai”, Trung Quốc đọc là “Tai”, cũng có thể được phát âm là “Cha”, còn Việt Nam là Trà hay trại ra là “Chè”.

Về triết lý tư tưởng, qua các bài thuyết pháp của Tổ sư, thật là lạ lùng, đó thật là kinh nghiệm tâm linh của Ngài.

Trong Tiểu luận viết về Tổ Bồ Đề Đạt Ma, ông Phạm Công Thiện ghi: “Chúng ta gọi tư tưởng của Bồ Đề Đạt Ma là tư tưởng không tư tưởng” có nghĩa là tư tưởng Bồ Đề Đạt Ma đưa con người đến chỗ chấm dứt của tiến trình tư tưởng, tức là sự giải thoát ra ngoài thân phận con người...

Giá trị tư tưởng của Bồ Đề Đạt Ma là phá hũy tất cả mọi tiêu chuẩn và trung gian, để nhảy thẳng vào thực tại, bởi thế tư tưởng của Tổ càng mâu thuẩn thì càng cao siêu, càng phi lý thì càng gần thực tại, càng xa lìa hệ thống thì càng gần ánh sáng chân lý, càng xa lìa những ý niệm chặt chẽ thì càng xa lìa những đau khổ phiền trược, càng xa lìa tư tưởng thì càng đến gần sự thực.

Tư tưởng cao siêu của Tổ Bồ Đề Đạt Ma được phát triển vào năm đời nối tiếp về sau, đúng như bài kệ truyền tâm ấn của Tổ, đại ý nói mục đích của Tổ đến Trung Quốc là để truyền chánh pháp cứu mê tình. Một hoa nở năm cánh, kết quả được viên thành.

 

 

Bài VI-9 THẬP HIỆU NHƯ LAI

-Thích Thông Huệ-

 

Một lần nọ, Tôn giả Xá Lợi Phất cung kính đảnh lễ Đức Phật Thích Ca và bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Chư Phật khắp mười phương, ở cả ba đời quá khứ - hiện tại - vị lai, không ai có trí tuệ và sự chứng đắc siêu việt bằng Thế Tôn”. Đức Phật Thích Ca trả lời: “Này Xá Lợi Phất, đừng nói quá lời như thế. Tất cả chư Phật đều bình đẳng ở trí tuệ, từ bi và hùng lực”.

Theo tinh thần này, vị Phật nào cũng có đầy đủ những đức tính và đặc điểm như Đức Bổn Sư của chúng ta. Sở dĩ chúng ta thường thờ phụng xưng tán Đức Phật Thích Ca hơn các vị Phật khác, vì chúng ta đang nằm trong vòng pháp hóa của Ngài, vì cõi Ta-bà đang có túc duyên được Ngài làm Giáo chủ.

Những đức tính và đặc điểm hình thành nhân cách của một vị Phật đều được ghi chép đầy đủ trong các văn hệ Phật Giáo Nam Tông và Bắc Tông. Trong đó có mười danh hiệu, thường gọi là Thập hiệu Như Lai, là những danh hiệu cao quý để tôn xưng những bậc đã thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chỉ riêng các vị Phật mới đủ Thập hiệu, vì mỗi danh xưng tượng trưng một đức tính cao cả, một đặc điểm siêu tuyệt, mà ngay những vị A-la-hán hay các hàng Bồ-tát cũng không thể sánh bằng.

1- Như Lai.

Trong các kinh luận, danh hiệu Như Lai được hiểu theo bốn nghĩa chính:

1) “Nói sao làm vậy, làm sao nói vậy”: Nghĩa này thường được đề cập trong Luận tạng Nam tông. Đức Phật luôn luôn Hạnh-giải tương ương, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Do vậy, lời dạy của Ngài có sức thuyết phục rất cao; và nhiều khi không cần dùng ngôn từ, hành động cử chỉ của Ngài cũng là những bài học quý giá cho các hàng môn đệ.

2) “Từ Như mà đến, rồi trở về Như”: “Như” là thế giới lý tưởng bất động, không khổ đau phiền não. Vì lòng từ bi, chư Phật thị hiện đến cõi Ta-bà này, giáo hóa chúng sanh (Lai). Khi hết duyên, các Ngài lại trở về thế giới lý tưởng ấy. Chúng sanh thì khác, do nghiệp mà đến rồi lại theo nghiệp mà luân hồi trong sáu nẻo.

3) “Như Lai là nghĩa Như của các pháp” (Như Lai giả, thị chư pháp như nghĩa). Các pháp vốn không có tâm phân biệt, vì tự thân của chúng là Chân như. Chúng ta khi tiếp xúc với vật, liền khởi niệm chia chẻ, phân ranh đẹp - xấu, rồi khen - chê, ưa - ghét; ưa thì muốn chiếm hữu, ghét lại muốn xa lìa. Từ đó, tạo nghiệp ở ý, rồi phát ra miệng nói, thân làm. Thật ra, tự tánh của các pháp không thể dùng văn tự để diễn bày, mà chỉ bằng trí tuệ thực chứng của Bậc Giác ngộ mới thấu triệt. Và chính vì thẩm thấu vào thực tại tự thân mầu nhiệm của vạn pháp, các Ngài thấy rõ tất cả pháp đều là Phật pháp, đều là Chân như.

4) “Không từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai”(Vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai). Ý nghĩa này rất sâu xa khó hiểu nếu chúng ta chưa có khái niệm về lý Bất nhị của nhà Phật. Phiền não và giải thoát, Ta-bà và Tịnh-độ thật sự chỉ là hai mặt tối -sáng của cùng một thực thể. Vì tự thân của các pháp là Chân như, vì tất cả pháp giới đều là pháp thân thường trụ - không hình tướng mà trùm khắp và hằng tri hằng giác, nên không đến không đi, không sanh không diệt. Nhận ra pháp thân thường trụ và sống trọn vẹn bằng thân tướng không tướng này, đó là sự giác ngộ tột cùng và viên mãn.

Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới có một đoạn nói về Như Lai: “Đức Như Lai chẳng phải đi, vì đã diệt hẳn thời gian không gian. Đức Như Lai chẳng phải đến, vì thể tánh vô sanh. Đức Như Lai chẳng phải sanh, vì pháp thân bình đẳng. Đức Như Lai chẳng phải thiệt, vì an trụ pháp như huyễn. Đức Như Lai chẳng phải vọng, vì lợi ích chúng sanh. Đức Như Lai chẳng phải dời đổi, vì vượt khỏi sanh tử. Đức Như Lai chẳng phải hư hoại, vì tánh thường chẳng biến đổi. Đức Như Lai một tướng, vì đều rời ngôn ngữ. Đức Như lai vô tướng, vì tánh tướng vốn không”*

2- Ứng cúng:

“Ứng cúng” có nghĩa “Xứng đáng được cúng dường”. Đây là danh hiệu tôn xưng những vị đã sạch lậu hoặc phiền não, là phước điền của thế gian. Các bậc Bồ-tát, A-la-hán cũng được tôn là Ứng cúng, nhưng đối với chư Phật, ý nghĩa này cao cả hơn. Một bài kệ xưng tán Đức Thích Ca có đoạn:

Công viên quả mãn

Viên chứng Bồ Đề

Trục loại tùy hình

Tế độ quần sanh.

Công hạnh của Ngài đã thành tựu viên mãn, sự giác ngộ đã toàn diện, toàn triệt. Khi muốn giáo hóa chúng sanh, Ngài thị hiện bằng hình thức tương ứng đễ dễ bề tiếp cận và nhiếp phục. Nhưng dù ở hình thái chúng sanh nào, Ngài cũng nổi bật nhất, tài giỏi nhất, hoàn mỹ về mọi phương diện, nên luôn luôn được tôn kính quý trọng, xứng đáng được cúng dường.

3- Chánh biến tri:

“Chánh” là chân chánh; “Biến” là cùng khắp; “Tri” là sự thấy biết. Chánh biến tri là sự thấy biết như thật về tất cả các pháp trong cùng khắp pháp giới. Đây là khả năng của một bậc Đại Giác ngộ, bằng trí tuệ Bát-nhã thấu triệt thật tướng của vũ trụ vạn loại. Sự thấy biết này không bị ảnh hưởng bởi không gian và thời gian.

Sau 49 ngày đêm thiền định dưới cội cây Tất-bát-la, Đức Phật Thích Ca thấy rõ mọi pháp đều là tập hợp của các nhân và duyên. Không có pháp nào tự nó hình thành, mà phải nhờ những pháp khác không phải nó, với những điều kiện nhất định nào đó, mới có thể tạo nên nó. Ví như cái bàn, phải nhờ sự tập hợp của gỗ, đinh, công người thợ... sắp xếp phân bố theo một công thức nào đó mới được tạo dựng theo hình thức hiện có. Suy xét đến tận cùng, nó không có thực thể, chỉ là tạm có do các duyên hợp lại. Vì thế, tự tánh của nó là không. Tánh Không là tánh bình đẳng của tất cả các pháp, cũng là thật tướng của toàn thể vũ trụ nhân sinh, mà chỉ những bậc thực chứng qua công phu thiền quán mới thấu triệt được.

4- Minh Hạnh túc:

“Minh” là trí tuệ, là Trí đức. “Hạnh” là công hạnh độ sanh, là Hạnh đức. Một vị Phật luôn đạt đến viên mãn cả hai lĩnh vực Trí và Hạnh một cách hoàn hảo, tạo nên nhân cách kỳ vĩ của các Ngài.

Tinh thần này được tượng trưng bằng ba hình ảnh chúng ta thường thấy thờ ở các chùa: Chính giữa tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca, bên phải là Bồ-tát Văn Thù, Bên trái là Bồ-tát Phổ Hiền. Bồ tát Văn Thù tượng trưng trí tuệ vô sư, còn gọi là Bát-nhã trí hay Căn -bản trí, tức trí tuệ do công phu tu hành mà có. Bồ-tát Phổ Hiền tượng trưng hạnh nguyện cứu dộ tất cả chúng sanh hữu duyên. Đức Phật Thích Ca, từ thế giới lý tưởng đến cõi Ta-bà giáo hóa chúng sanh, cần được sự phò tá của hai vị Đại Bồ-tát. Bởi vì chúng sanh cang cường khó điều phục, tham đắm ngũ dục mà quên tánh giác sẵn có của chính mình, nếu không đầy đủ trí tuệ và lòng từ bi thì Đức Phật khó bề tiếp độ muôn loài.

5- Thiện thệ:

“Thiện thệ” có ba ý nghĩa:

1- “Thiện” là khéo, “Thệ” là đi qua. Đức Phật là bậc Đại Giác ngộ đã khéo qua bờ bên kia, tức bờ giải thoát. Ngài không còn bị chi phối bởi quy luật sinh tử, chỉ vì nguyện lực cứu độ quần sanh nên thị hiện đến cõi Ta-bà. Kinh Hoa Nghiêm nói, thế giới Ta-bà được tạo dựng do thần-lực-hải của chư Phật, nguyện-lực-hải của chư Bồ-tát và nghiệp-lực hải của chúng sanh.

2- Thiện thệ là khéo đi qua và khéo an trú vào các Tam-ma-đề sâu xa, phát sinh trí huệ nhiệm mầu. Tam-ma-đề là Định, từ Định phát khởi trí huệ. Lộ trình Giới - Định - Huệ là lộ trình giác ngộ giải thoát mà người tu chúng ta phải cần hiểu rõ và trải qua.

3- Thiện thệ còn gọi là Thiện khứ, Thiện giải, Hảo thuyết. Thiện khứ là khéo đi luôn qua bờ giác, không trở lại sinh tử. Thiện giải là khéo hiểu biết về tất cả pháp thế gian. Hảo thuyết là thuyết pháp một cách vi diệu, có thể thuyết phục được mọi tầng lớp dân chúng. Trong Kinh mô tả giọng nói của Đức Phật Thích Ca hùng hồn, vang xa, có sức chấn động như tiếng hải triều âm, hội chúng đông đảo hàng ngàn người vẫn nghe rõ ràng lời dạy của Ngài. Đặc biệt là bài thuyết pháp nào của Đức Phật cũng đều có sức lôi cuốn, làm chấn động tâm thức người nghe, từ lúc bắt đầu, rồi đoạn giữa cho đến đoạn cuối cùng (gọi là Sơ thiện, Trung thiện, Hậu thiện). Thính chúng nghe Ngài thuyết giảng, nhiều người đã giác ngộ và đắc Thánh quả ngay tại pháp hội.

6- Thế gian giải:

“Giải” là hiểu biết. “Thế gian giải” là hiểu biết rành rẽ tất cả các công việc, sinh hoạt của thế gian. Đức Phật tuy sống trong môi trường thanh tịnh của người xuất gia, nhưng Ngài thông hiểu cặn kẽ và dạy bảo rất kỹ càng cho giới cư sĩ tại gia thuộc mọi giai cấp trong xã hội, từ cách cư xử giữa cha mẹ, vợ chồng, cha con, bè bạn, cho đến phương pháp mưu sinh; từ cách trị dân cho đến đường lối ngoại giao với các nước láng giềng... Có thể nói, Đức Phật là người thông thái uyên bác và đa tài đa năng bậc nhất trên cõi đời này. Vì sao nói như thế?

Các học giả, các nhà khoa học hàng đầu thế giới được người đời kính trọng vì kiến thức bác lãm, nhưng thật ra, các vị chỉ có sự hiểu biết tường tận trong phạm vi chuyên môn của mình. Khoa học ngày càng tiến bộ, mức độ chuyên khoa hóa ngày càng thâm sâu, thì mỗi nhà nghiên cứu lại càng phải đầu tư trí tuệ vào một lĩnh vực duy nhất nào đó. Trong các lĩnh vực khác, họ chỉ hiểu biết rất ít, hoặc hoàn toàn không hiểu biết gì cả. Chỉ có Đức Phật, với trí tuệ siêu tuyệt, Ngài rành rẽ mọi phương diện từ vũ trụ đến nhân sinh, từ con người đến xã hội, từ sinh hoạt thể chất đến nhu cầu tinh thần. Ngài lại biết cách hòa đồng vào các tầng lớp dân chúng, nói tiếng nói địa phương, tôn trọng phong tục tập quán của người bản xứ, dần dần khiến mọi người tin phục, tu theo đường lối của Ngài. Nhà Phật chủ trương “bất biến - tùy duyên”. Bất biến là yếu chỉ công phu phải luôn phù hợp với chân lý tuyệt đối. Tùy duyên là uyển chuyển theo đối tượng, tùy trình độ căn cơ của từng người mà có phương tiện giáo hóa thích hợp. Tinh thần tùy duyên càng được thực hiện trọn vẹn khi người thầy càng thông hiểu thế sự, càng có kiến thức quảng bác về thế giới và xã hội chung quanh.

7- Vô thượng sĩ:

Vô thượng sĩ là người trí thức cao tột, là bậc Thầy không ai sánh được. Danh hiệu này chỉ dành tôn xưng Đức Phật.

Bài kệ xưng tán Phật có bốn câu như sau:

Thiên thượng thiên hạ vô như Phật

Thập phương thế giới diệc vô tỉ

Thế gian sở hữu ngã tận kiến

Nhất thiết vô hữu như Phật giả.

Tạm dịch:

Trên dưới trời chẳng ai bằng Phật

Mười phương thế giới không ai hơn

Chính con nhìn khắp thế gian này

Tất cả không ai như Đức Phật.

Vì sao Đức Phật có trí tuệ siêu xuất không ai có thể so sánh nổi? -Kiến thức của thế gian là sự gom góp vay mượn từ bên ngoài, từ kinh nghiệm của người khác, nên chỉ có tính cách tương đối và thay đổi theo thời gian - không gian. Trí tuệ của Bậc Giác ngộ là trí không nhờ người khác mà được, chỉ do công phu thiền định phát sinh, nên thấu triệt và trùm khắp mọi sự vật hiện tượng. Bằng tâm định tĩnh nhưng hằng giác, Đức Phật đã thấy - chứ không phải suy luận - tận cùng bản chất các pháp, nên những lời dạy của Ngài đều là chân lý muôn đời, bất di bất dịch.

Nhà đại bác học của thế kỷ 20, Albert Einstein, đã nói: “Đạo Phật không cần thay đổi để phù hợp với sự tiến bộ của khoa học, vì Đạo Phật chính là khoa học”. Thật ra, Đạo Phật không chỉ là khoa học tự nhiên vì khám phá được bí mật của kiếp người, mà còn có tính siêu nhiên vì giáo lý của Đạo Phật không bị quy luật đào thải của cuộc sống ảnh hưởng đến. Những nhận định của vị Giáo chủ Đạo Phật về thế giới vạn hữu, trải qua hơn 2.500 năm, vẫn còn giữ nguyên giá trị. Và khoa học càng tiến bộ, càng minh chứng rằng sự thấy biết của Ngài quả là minh triết, độc nhất vô nhị. Cho đến ngày nay, khi khoa học đã đoạt quyền tạo hóa bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm và sinh sản vô tính, vẫn không thoát khỏi Lý duyên sinh của Đạo Phật. Điều đó chứng tỏ rằng, dù tri thức thế gian đã lên đến đỉnh cao, vẫn chỉ mới đi được một bước đầu tiên trên lộ trình tâm linh trong nhà Phật.

8- Điều ngự trượng phu:

“Điều ngự” có nghĩa là điều phục ngự chế. “Trượng phu”, về hình tướng thì chỉ phái nam, về nội dung là nói chung những người có tâm hồn quảng đại và có ý chí xuất trần. Danh hiệu này dùng tôn xưng Bậc trượng phu có khả năng điều phục ngự, chế phiền não vô minh cho tất cả chúng sanh.

Chúng ta tôn vinh Đức Phật là Bậc trượng phu, vì Ngài có đủ ba đức tính Đại trí - Đại bi - Đại hùng, kết thành nhân cách vĩ đại của một vị Phật. Đại trí là trí tuệ vô sư siêu tuyệt thế gian (Bát Nhã); Đại bi là lòng thương chúng sanh vô hạn, ra vào sáu nẻo không biết mệt mỏi để cứu độ muôn loài; Đại hùng là sức mạnh tinh thần vô biên, chiến thắng hết thảy nội ma và ngoại ma, trong đó những ma chướng bên trong là hung hãn và khó trị nhất.

Bài sám Quy mạng có bốn câu đề cập đến danh hiệu này:

Quy mạng thập phương Điều ngự sư

Diễn dương thanh tịnh vi diệu pháp

Tam thừa Tứ quả giải thoát Tăng

Nguyện tứ từ bi ai nhiếp thọ.

Tạm dịch:

Quy y Điều ngự khắp mười phương

Diễn bày pháp vi diệu thanh tịnh

Chúng sanh chứng Tam thừa Tứ quả

Nguyện các Ngài từ bi thương xót.

“Tam thừa” là Thanh văn - Duyên giác và Bồ-tát thừa. “Tứ quả” là bốn quả vị của Thanh văn, gồm Tu-đà-hoàn (Sơ quả), Tư-đà-hàm (Nhị quả), A-na-hàm (Tam quả), và A-la-hán (Tứ quả), nhờ tu pháp Tứ Diệu Đế mà chứng ngộ. Chúng sanh nhờ Đấng Điều ngự khắp mười phương hoằng truyền chánh pháp, một lòng quay về nơi nương tựa các Ngài tu tập, chứng các quả Thánh, giải thoát phiền não và ra khỏi nhà Tam giới.

9- Thiên nhơn sư:

Đức Phật là bậc Thầy vĩ đại của Trời và Người. Trong kinh có kể, Ngài thường hóa thân lên các cõi trời thuyết giáo cho chư Thiên. Trong pháp hội của Ngài ở thế gian, giữa chúng Tỳ kheo và cư sĩ, thường có chư Thiên hiện diện để bảo hộ Ngài và cùng nghe pháp.

Đối với loài người, Đức Phật dạy rất đầy đủ về kiến thức thế gian và xuất thế. Không những Ngài chỉ bảo kỹ càng về cách đối nhân xử thế, cách sinh sống làm ăn, Ngài còn dạy cho người tu về công phu hành trì để được giác ngộ và giải thoát sinh tử. Giáo lý của Đức Phật ghi lại trong tạng Kinh là một gia tài đồ sộ truyền thừa biết bao đời, đến nay vẫn còn phù hợp với thời đại. Ngài quả thật là một bậc Thầy chuẩn mực và sinh động. Chuẩn mực vì lời dạy của Ngài phù hợp với chân lý tuyệt đối - tức khế lý; sinh động vì khế cơ, khế thời, tùy đương cơ tùy thời đại mà sáng tạo nhiều phương tiện thích hợp. Phật Giáo Đại thừa theo tinh thần nhập thế, đưa tư tưởng Đạo Phật hòa quyện vào nhân gian; người tu làm tròn bổn phận với đời mà vẫn vui với đạo. Từ đó, tất cả mọi người, dù thuộc dân tộc nào, sống ở thời đại nào, cũng đều hưởng lợi lạc, khi thâm hiểu giáo lý Phật-Đà và tu hành theo chánh pháp.

Thiên nhơn chi Đạo sư

Tứ sanh chi Từ phụ

Ư nhứt niệm quy y

Năng diệt tam kỳ nghiệp

Xưng dương cập tán thán

Ức kiếp mạc năng tận.

Đức Phật là Bậc Thầy của Trời Người, là Đấng Cha lành của bốn loài noãn - thai - thấp - hóa sanh. Chỉ có một niệm quy y, chúng sanh đã có thể diệt được nghiệp chướng của ba a tăng kỳ kiếp. Chúng ta nương theo Ngài tu hành, tinh tấn không lười mỏi, nhất định sẽ thành tựu đạo quả không nghi. Đức Phật là vị cứu tinh vĩ đại của chúng sanh, vì nhờ Ngài mà chúng sanh có thể thoát được nỗi khổ lớn nhất - nỗi khổ trầm luân trong ba cõi sáu đường. Do đó, chúng ta ca tụng xưng tán Ngài bằng bao nhiêu lời, trong bao nhiêu kiếp, cũng không cùng tận.

10- Phật Thế Tôn:

Phật: Nguyên ngữ tiếng Phạn là Buddha; Trung Hoa phiên âm là Phật Đà, dịch nghĩa là Giác giả tức Bậc Giác ngộ. Việt Nam ta theo đơn âm, gọi tắt là Bụt (từ chữ Buddha) hoặc Phật (từ Phật Đà).

Thế Tôn: Bậc tôn quý của thế gian. Đức Phật đáng được người đời tôn kính bậc nhất, vì Ngài không còn vô minh phiền não, có trí tuệ siêu phàm và lòng từ bi vô hạn, là người dẫn đường cho tất cả chúng sanh đến bờ an vui giải thoát.

Danh hiệu này chỉ dành tôn xưng chư Phật. Bởi vì, nói về đoạn ly phiền não, giải thoát sanh tử (Đoạn đức), thì các vị A-la-hán cũng tương đương với chư Phật. Nhưng về Trí đức, tức chỗ giác ngộ tột cùng, và Hạnh đức là công hạnh giáo hóa chúng sanh trong vô lượng kiếp, thì không ai có thể ngang hàng với Phật. Vì thế, chúng ta còn tôn xưng Ngài là Bậc Toàn giác, Viên mãn giác, Diệu giác, Cứu cánh giác, vì Ngài đã giác ngộ đến chỗ toàn triệt, viên mãn, vi diệu tột cùng. Chúng ta cũng nên biết rằng, tuy Đức Phật Thích Ca lịch sử đã nhập diệt hơn 2.500 năm, nhưng đến hôm nay, Ngài vẫn thị hiện ở các cõi để tiếp tục độ sanh. Và các vị Bồ-tát hóa thân, vẫn lăn lộn vào sáu nẻo luân hồi, tùy duyên hành hạnh lợi tha, tuyên dương chánh pháp. Có điều, các Ngài không bao giờ để lộ cho ai biết mình là Phật, là Bồ-tát.

Học hiểu về ý nghĩa của Thập hiệu Như Lai, chúng ta càng hết lòng quý kính ngưỡng mộ đối với chư Phật, đặc biệt đối với Đức Bổn Sư của chúng ta. Bởi vì, càng hiễu rõ về mười danh hiệu, chúng ta càng thấy Ngài thật vĩ đại, thật đáng tôn thờ và đáng là người dẫn đường cho tất cả chúng sanh. Hết lòng quy ngưỡng Đức Phật, chúng ta cũng sẽ hết lòng quy ngưỡng chánh pháp do Ngài thuyết ra, như chiếc phao cứu hộ những kẻ sắp chết chìm giữa biển cả vô minh; hết lòng quy ngưỡng chư Tăng, những sứ giả Như Lai nối truyền mạng mạch Phật pháp. Từ đó, chúng ta nguyện phát tâm Bồ đề, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh; nguyện dâng hiến toàn bộ tâm ý mình cho sự nghiệp của Đức Phật - sự nghiệp giáo hóa chúng sanh, hoằng truyền chánh pháp.

Bài VI-10 KHÁI THUẬT VỀ KINH BÁCH DỤ

-Thích Nữ Diệu Vân-

 

Dẫn nhập đề kinh:

Kinh “Bách Dụ” gồm 98 bài thí dụ (nói cho tròn là 100) do Ngài Pháp sư Tăng Già Tư Na sao lục trong kinh tạng.

Một đời thuyết pháp độ sanh, Đức Phật tùy theo căn cơ chúng sanh sai khác, Ngài dạy vô lượng pháp môn không đồng, khi thấp khi cao, từ dễ cho đến khó, từ gần tỷ dụ xa, chung quy chỉ hướng về mục đích duy nhất là làm cho chúng sanh “Nhập Phật tri kiến”, tự mình giác ngộ bản tánh sáng suốt của chính minh.

Kinh “Bách Dụ”, Phật dạy những câu chuyện ngộ nghĩnh, khôi hài, bi thảm, cạn thấp cao sâu, ngu si mê mờ để ví dụ cụ thể về sự vô minh mê lầm của chúng sanh trong sinh hoạt hằng ngày.

Nếu chúng ta từ bỏ vô minh mê lầm, trừ bỏ 3 độc tham sân si thì tất cả ở đâu cũng là an vui tự tại. Niết bàn cũng là đây, ngay trong hiện tại.

 

 

 

 

NỘI DUNG:

 

DỤ THỨ NHẤT: NGƯỜI NGU ĂN MUỐI

I- Dẫn nhập đề kinh

Thuở xưa có một người ngu đến nhà bạn thăm chơi, lâu ngày gặp nhau chủ nhà mời ở lại dùng bữa cơm đạm bạc, khi ngồi vào bàn ăn, anh ta chê canh lạt không ngon. Chủ nhà bèn cho vào chút muối, chàng ta ăn cảm thấy ngon miệng. Chàng tự nghĩ: “Canh ngon là nhờ thêm muối nêm vào, dùng ít thấy ngon, huống hồ dùng nhiều chắc phải ngon đặc biệt”. Thế là chàng ta xin chủ nhà một chén muối bỏ vào miệng nuốt hết, chất muối mặn kinh khủng nên anh ta cảm thấy thân thể gần như sắp chết, bèn vội vàng móc họng cho muối tuôn ra, nhưng ăn vào thì dễ, moi ra thì khó, đành chịu trong khổ đau.

II- Nội dung kinh:

Đại ý của dụ này cho ta thấy “Người ngu si vô trí không có sáng suốt, không biết tri túc, không biết vừa đủ...”, nên bị tham dục trói buộc chìm đắm trong khổ đau. Nếu người có nhân cách biết tri túc thì chỉ cần ăn để sống không phải sống để mà ăn.

“Cơm rau đỡ dạ đói

Nhà cỏ che gió sương

Người đời nếu biết đủ

Phiền não chẳng còn vương”.

Người đời tham dục nhiều nên khổ cũng nhiều. Dục là ham muốn, thế gian có 5 thứ dục: Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy; hay Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, nghĩa là ham muốn tiền tài, đam mê sắc đẹp, thích ăn ngon, ưa địa vị danh lợi, ham ngủ nhiều...

Tô Đông Pha nói:

“Lòng dục con người không cùng tận, song vật chất để thỏa mãn lòng dục lại có hạn”.

Lòng tham dục thật đáng sợ, người tán thân mất mạng trong đời là do tham dục. Con thiêu thân lao vào lửa, con cá mắc phải lưỡi câu, người ngu si vô trí ham dục muốn dục lạc chẳng khác gì con thiêu thân.

“Dục ái sanh ưu sầu

Dục ái sanh sợ hãi

Ai thoát khỏi dục ái

Không sầu không sợ hãi”.

Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác, Phật dạy:

“Đa dục vi khổ

Sanh tử bì lao

Tùng thâm dục khởi

Thiểu dục vô vi

Thân tâm tự tại”.

Dịch nghĩa:

“Tham muốn nhiều là khổ

Bao sanh tử nhọc nhằn

Đều từ tham dục ra

Nếu ít tham muốn đạt đến vô vi

Thì thân tâm tự tại an vui.

*****

“Tâm vô yểm túc

Duy đắc đa cầu

Tăng trưởng tội ác

Bồ Tát bất nhĩ

Thường niệm tri túc

An bần thủ đạo

Duy huệ thị nghiệp”.

Dịch nghĩa:

Tâm không biết vừa đủ

Chỉ tham cầu cho nhiều

Sẽ tăng thêm tội ác

Bồ Tát không như vậy

Thường nhớ nghĩ vừa đủ

Vui cảnh nghèo giữ đạo

Trí huệ là sự nghiệp.

* Đạo Phật là đạo từ bi và trí tuệ “Trí tuệ siêu việt - Trí tuệ Bát nhã”.

III- Kết luận:

Người đời thường lấy công danh địa vị như sĩ nông công thương làm sự nghiệp. Người đệ tử Phật lấy trí tuệ làm sự nghiệp.

Hiểu biết chân chánh, nhận định rõ tất cả các pháp là “Vô thường, Khổ, Không, Vô Ngã”. Biết được vậy ta mới xa lìa vọng tưởng điên đảo khổ đau, thoát ly luân hồi sanh tử. tuy nhiên, muốn xa lìa khổ đau không phải hiểu suông mà cần phải thực hành Giới - Định - Tuệ và đức tính Kham Nhẫn. Đây là điều kiện không thể thiếu đối với người Phật tử. Người học Phật quán chiếu sức Kham Nhẫn của mình được bao nhiêu, còn yếu kém ở phương diện nào, cố gắng tạo điều kiện tài bồi phát triển. Khi đã làm chủ được chính mình thì tâm hồn thanh thản an vui... đối với nội tâm ngoại cảnh an nhiên tự tại không bị ràng buộc.

Đức Phật dạy rằng:

“Thắng vạn quân thù

Không bằng chiến thắng chính mình”.

Jouffory nói:

Kẻ nhẫn nại quý hơn người dũng sĩ

Kẻ làm chủ được mình quý hơn kẻ thâu thành cướp lũy”.

Có kham nhẫn được những sự kiện nghịch thuận trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, ta mới xa lìa vọng tưởng điên đảo khổ đau. Khi tâm hồn an vui tự tại, ta sẽ không còn bị ba độc “Tham, Sân, Si” nhiễu loạn.

Đức Phật dạy: “Ở đâu có tham ở đấy có sân và si”.

Tham, sân, si là những ảo ảnh biến hiện, không lường, đổi thay không dứt, chúng là trùng trùng duyên khởi, là khổ đau chồng chất khổ đau.

Đức Phật dạy: “Người nặng nghiệp ái dục như cầm đuốc đi ngược chiều gió chắc bị cháy tay”.

Người biết tu phải phá trừ ngu si mê hoặc. Vì mê là mảnh đất tốt cho ái dục phát sanh đưa người vào con đường luân hồi sanh tử. Nếu mê được đoạn thì tham dục không còn. Người hết tham dục thì được an vui, không những đời này mà mãi mãi về sau, không những cho bản thân mình mà lợi ích cho mọi người xung quanh.

Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy:

“Đã từng ham muốn phải long đong

Ném quách mà ra khỏi bụi hồng.

Buông thỏng bờ kia lên Phật Tổ

Một lần phủi giũ một lần xong”.

Nhà thơ Nguyễn Công Trứ nói:

“Chen chúc lợi danh đà chán ngắt,

Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao.

Đám phồn hoa trót bước chân vào,

Sực nghĩ lại giựt mình bao kể xiết”.

Nhân học Dụ này có một câu chuyện, nội dung: Người không có trí tuệ và đức kham nhẫn nên bị “Lòng sân giận xảy ra” hậu quả đưa đến khổ đau triền miên bất tận.

+ Một gia đình nọ gồm 3 nhân vật:

Một ông cụ, một cậu con trai và một cháu nội.

Một hôm ông cụ lấy hai cái tô (chén, bát), hai đồng bạc (tiền) bảo cháu nội mua 1 đồng tương, 1 đồng chao (ngày ông cụ ăn chay). Thằng bé cầm tiền chạy đi một lúc quay về thưa: “Ông ơi, đồng nào mua tương, đồng nào mua chao”. Ông cụ la lên: “Phật ơi, đồng nào mua chẳng được, khổ ơi là khổ”. Chú bé đi một vòng nữa lại quay về thưa: “Ông ơi, tô nào mua chao, tô nào mua tương?”. Thấy cháu quá ngu, ông cụ nổi giận tát cho chú một tát tai. Cu cậu đau quá khóc bù lu bù loa, ngay khi ấy anh con trai ông cụ từ ngoài đồng về, thấy con mình khóc, liền nổi khùng nói với cha: “Ông đánh con tôi, tôi đánh lại con ông”. Nói xong sẵn cây roi chăn bò đánh túi bụi vào mình. Ông cụ cũng không vừa, nói lại: “Nếu mầy đánh con ông, ông thắt cổ cha mày”. Dứt lời ông cụ làm cái thòng lọng, đút đầu vào tắt thở chết, kết liễu một đời.

Câu chuyện buồn cười trên do ngu si dẫn đến hậu quả như vậy. Trong thế gian này sự việc xảy ra như trên không phải là hiếm.

Đức Phật dạy:

“Người ngu làm điều ác.

Không ý thức việc làm

Do tự nghiệp người ngu

Bị nung nấu như lửa”

Pháp Cú 136

Bài VI-11 NGŨ UẨN

-Thích Tâm Tôn-

 

  1. Dẫn nhập:

Hình như nhân loại chưa bao giờ xây dựng được cho mình một cuộc sống thực sự đúng với ý nghĩa toàn vẹn cả về khía cạnh vật chất lẫn tinh thần. Để thỏa mong những nhu cầu vật chất, con người phải bôn ba tìm cầu những thứ bên ngoài để rồi lãng quên những giá trị trân quý tinh thần. Trong khi đó, những ai mang nặng hoài bão hướng đến đời sống tinh thần thì thường rơi vào sự tuyệt vọng, vì không đủ sức chống chọi với bao sức ép của cảnh lợi danh, để rồi đành uất hận tình đời, chấp nhận ôm chân cầu chịu chết chìm như chàng Trương Chi tội nghiệp. Tất cả đều là cực đoan nếu còn sống trong cảnh đan xen của bao thứ: thật - giả, chánh - tà, chơn - ngụy... dưới hình thức con người hiện hữu. Ý nghĩa của sự hiện hữu này là gì? Đối với những nhà tư tưởng, đó vẫn còn là một nỗi niềm trăn trở để rồi lại than thở với đời như Lão Tử: “Ngô hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân; Ngô nhược vô thân, hà hữu đại hoạn!”. Ta sở dĩ còn khổ là vì ta còn mang hình hài, chứ nếu ta không có thân này thì làm gì có khổ.

Phật Giáo luôn lấy cơ sở nhân sinh để làm đối tượng khảo sát. Vì chỉ có nhân sinh mới bao hàm đủ ý nghĩa những giá trị vật chất (thể xác) cũng như tinh thần để thuận dòng giải thoát. Con người chưa tháo gỡ được tổ kén của những quan kiến hẹp hòi nên chưa thể phát huy được những giá trị ấy để tung bay tự tại trong phương trời nhàn hạ. Chúng sanh là những sinh vật do tham ái tập khởi. Họ chỉ biết mãi mê tìm kiếm những nhu cầu xúc cảm giả tạm nhằm đáp ứng thỏa mãn cho sự ham muốn mà họ cho là “của ta”, “là ta”“là tự ngã của ta” mang sắc màu vị kỷ, tư lợi và cá nhân. Để rồi, chúng sanh cứ bị cơn lốc tham ái cuốn vào quỹ đạo sanh tử luân hồi bất tận. Quả thật là vô minh. Đức Phật vượt qua cả núi đồi vọng kiến, bằng chánh tri kiến Ngài quán xuyến tường tận thực trạng của sự hiện hữu này, rồi tuyên thuyết cho đời và vạch ra phương hướng để chấm dứt cuộc hành trình lang thang tìm cầu những thứ hư vọng miên man của kiếp con người.

 

“Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng chẳng gặp,

Người xây dựng nhà này

Khổ thay, phải tái sanh.

Ôi! người làm nhà kia

Nay ta đã thấy ngươi!

Người không làm nhà nữa,

Đòn tay ngươi bị gãy,

Kèo cột ngươi bị tan,

Tâm ta đạt tịch diệt,

Tham ái thảy tiêu vong”.

(Pháp Cú 153-154)

Đức Phật đã để lại cho đời một hệ thống giáo lý mang những giá trị quán sát và phân tích về nhân sinh có tính khoa học cao. Đó chính là cái nhìn đầy xác thực về thực tại con người. Một trong những hệ tư tưởng xác thực ấy là giáo lý “Ngũ Uẩn” được Đức Phật trình bày rất sớm và được đề cập rất nhiều lần trong suốt cuộc đời hoằng hóa của Ngài. Sau đây chúng ta sẽ cùng nhau đi vào tìm hiểu hệ thống giáo lý ấy.

II- Nội dung:

1- Giới thiệu bài Kinh “Vô Ngã Tướng”.

Ở tại vườn Lộc Uyển, nơi chư tiên đọa xứ, ngay sau thời pháp đầu tiên giảng dạy “Tứ Thánh Đế”, từ ngày thứ hai cho đến ngày thứ năm Đức Phật tiếp tục tuyên thuyết giáo lý Ngũ uẩn cho năm vị trong nhóm Kiều Trần Như.

Và bài Kinh Vô Ngã Tướng được trình bày tóm tắt trong Kinh Tăng Chi Bộ như vầy:

Một thời Đức Thế Tôn ngự tại vườn Lộc Uyển, nơi chư tiên đọa xứ, Ngài dạy nhóm năm vị Tỳ Kheo như sau:

“Này Chư vị hiền giả, sắc (thể chất, xác thân) này là vô ngã (không có thực thể, linh hồn). Này hỡi Chư hiền, nếu trong sắc có ngã thì như vậy sắc sẽ không phải chịu đau khổ và ta có thể bảo: “Sắc này phải như vầy hay như kia”. Nhưng do vì sắc không có ngã nên sắc này còn phải chịu khổ đau và ta không thể bảo rằng: Sắc này phải như vầy hay như kia.

- Cũng vậy, Thọ - Tưởng - Hành và Thức đều vô ngã.

- Vậy chư hiền nghĩ thế nào, thân xác này là thường hay vô thường?

- Bạch Đức Thế Tôn, là vô thường.

- Cái gì vô thường thì khổ não hay hạnh phúc?

- Bạch Đức Thế Tôn, là khổ não.

- Vậy có hợp lý chăng nếu nghĩ đến cái chịu vô thường, khổ não và tạm bợ với ý tưởng: Cái này thuộc của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi?

- Bạch Đức Thế Tôn, hoàn toàn không hợp lý.

- Cũng vậy này hỡi Chư hiền! Thọ - Tưởng - Hành - Thức cũng đều là vô thường và khổ não. Vậy có hợp lý chăng nếu nghĩ đến những cái chịu vô thường, khổ não và tạm bợ với ý tưởng: Cái này thuộc của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi?

- Bạch Đức Thế Tôn, hoàn toàn không hợp lý.

- Như vậy, này hỡi Chư hiền! Tất cả các sắc dầu ở quá khứ, hiện tại hay tương lai; ở bên trong hay bên ngoài, thô kệch hay vi tế, thấp hèn hay cao thượng, xa hay gần, đều phải được nhận thức với tri kiến chơn chánh theo thực tướng của nó. Cái này không phải thuộc của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi.

- Cũng vậy, tất cả các Thọ - Tưởng - Hành - Thức dầu ở quá khứ, hiện tại hay vị lai; ở bên trong hay bên ngoài, thô kệch hay vi tế, thấp hèn hay cao thượng, xa hay gần, đều phải được nhận thức với tri kiến chơn chánh theo thực tướng của nó. Cái này không phải thuộc của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi.

Bậc Thánh đệ tử đã thông suốt pháp học thấy vậy thì nhàm chán Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức, dứt bỏ không luyến ái những gì không đáng ưa thích, và do sự dứt bỏ ấy mà được giải thoát. Rồi tri kiến trở nên sáng tỏ - Ta đã được giải thoát. Vị ấy thấu hiểu rằng dòng sanh tử đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã được thành tựu, những điều cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa”.

Đức Thế Tôn đã giảng giải như vậy, các vị Hiền giả lấy làm hoan hỉ, tán dương lời dạy của Ngài.

Khi Đức Phật thuyết xong thời pháp, tâm của năm vị Hiền giả đều trở nên hoàn toàn trong sạch, không còn chút nhiễm ô.

2- Thế nào là Năm Uẩn?

“Uẩn” hay “Ấm” dịch từ tiếng Phạn Skandha, có nghĩa là tích tập, chứa nhóm, gom góp; cũng có nghĩa là uẩn khúc, che đậy, sâu xa, cất giấu.

“Ngũ uẩn” hay “Ngũ ấm” chính là chỉ cho năm thứ: Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn tích tập nên một con người gồm có đủ hai phần Sắc - Danh, hay vật chất và tinh thần. Năm thứ này là giềng mối che lấp chân tính sáng suốt, ràng buộc chúng sanh lưu chuyển trong luân hồi. Ở đây, Sắc là chỉ cho phần vật chất (thể xác) còn Thọ - Tưởng - Hành - Thức là chỉ cho phần tinh thần (tâm lý).

  1. Sắc: Có nghĩa là biến ngại, chỉ cho mọi thứ vật chất hữu hình. Đây là nói tất cả vật thể hữu hình đều biến đổi vô thường và có sự chướng ngại. Tất cả vạn vật, cái này với cái kia nếu tính chất hợp nhau thì có chiều hướng kết hợp, còn như tính chất trái nghịch nhau thì sẽ có chiều hướng tan rã. Kết hợp là tạo thành, tan rã là hoại diệt.

Guồng máy lục căn (sắc) của con người vận động tự nhiên gần như máy móc, không cần phải có một tác nhơn nào tương tự như một linh hồn điều khiển. Mỗi căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) đều có những đối tượng và những chức năng họat động riêng biệt. Mỗi đối tượng của lục căn (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tác động với mỗi căn tương ứng sẽ phát sanh ra một loại thức. Như sắc chạm với nhãn làm phát sanh nhãn thức, thinh chạm với nhĩ làm phát sinh ra nhĩ thức.v.v... Và như vậy ba yếu tố “Căn”, “Trần”, “Thức” có một mối tương tác liên quan mật thiết với nhau.

Người ta thường có cảm giác rằng không cần phải hiểu thân sắc uẩn này làm gì, chỉ cầu sao các cơ quan của căn thân này họat động tốt là được. Chính vì vậy mà những nhu cầu tham ái thôi thúc con người dựa vào những họat động của căn thân mà tìm kiếm khoái lạc để phục vụ cho cái mà họ gọi là “ngã” này.

Đức Phật quan sát thấy được sự thật của những động cơ tham ái và muốn loại bỏ sự rằng buộc của nó, cho nên Ngài đã đi vào phân tích sự thật của sắc uẩn này.

Theo quan điểm Phật Giáo, sắc uẩn là cơ thể vật lý của con người. Đó là tập hợp gồm bốn yếu tố hay bốn đại: Đất, Nước, Gió, Lửa. Sắc này lại do thức ăn nuôi dưỡng. Khi sắc này còn tiếp nhận thức ăn và các chất dinh dưỡng thì nó sẽ tồn tại, còn như nó không tiếp nhận thức ăn và các chất dinh dưỡng thì sẽ không còn tồn tại tức là sẽ hoại diệt. Nhưng thực phẩm cũng không phải là một thực thể, nó do các duyên mà sinh, nó duyên vào các điều kiện khác như trái đất, mặt trời, nước, lửa v.v... mà thành. Có nghĩa là nó cũng do nhiều điều kiện tồn tại trong thế giới vật lý này mà sinh. Điều đó nói lên rằng, sự hiện hữu của sắc thân chính là sự hiện hữu của toàn thể thế giới này. Đức Phật tuyên bố: “Chính trong cái xác thân này ta tuyên bố thế giới, sự sanh khởi thế giới, sự đoạn diệt thế giới và con đường đưa đến đoạn diệt thế giới”. Như vậy, sắc thân này không hề có một thực thể nhất định, thường hằng và bất biến. Ta không thể nào tìm kiếm hay vun vén một yếu tố nào nơi sắc thân này để rồi gọi nó là “của ta”, “là ta” “là tự ngã của ta” vĩnh hằng. Tất cả đều là hiện hữu luôn ẩn tiềm tính chất “hòa hợp giả”“tương tục giả”, tức là vừa mang tính chất tập khởi hay sanh thành, lại cũng vừa mang tính chất biến hoại hay tan rã. Nếu quán sát thân căn này tường tận như vậy thì ta sẽ nhận thấy chúng chỉ là một tập hợp rỗng không. Do cái nhìn trí tuệ ấy, con người đi đến nhàm chán sắc thân, do nhàm chán mà không còn chấp thủ thân sắc. Đây là con đường dẫn dắt đến sự đoạn diệt tham ái để được giải thoát.

  1. Thọ: Có nghĩa là lãnh nạp, lãnh thọ, cảm giác. Khi có sự tác động của các căn thân với các pháp trần (cảnh) thì sẽ nảy sinh những cảm thọ. Nếu cảm thọ ẩn tiềm những cảm giác khổ đau thì gọi là “khổ thọ”, cảm giác vui sướng hân hoan thì gọi là “lạc thọ”, còn cảm giác không đau khổ và cũng không vui sưóng thì gọi là “bất khổ bất lạc thọ”. Chính “thọ” cảm giác một đối tượng khi đối tượng ấy xúc chạm với giác quan. Chính “thọ” thâu nhận quả lành hay quả dữ của hành động trong hiện tại hay quá khứ. Ngoài “thọ” không còn có một linh hồn hay một bản ngã hưởng quả lành hay chịu quả dữ.

Chính “vị ngọt” của cảm thọ làm cho dục vọng khởi lên trong tâm con người, và khiến cho con người rong ruỗi theo các lạc thú ở đời. Không có cảm thọ, dục vọng không có cơ sở để tồn tại và sẽ đoạn diệt. Nếu dục vọng chấm dứt thì mọi sự chấp thủ luyến ái đều chấm dứt, và khổ đau sẽ không còn hiện diện. Sự thôi thúc của cảm thọ là do vô minh hay do tư duy hữu ngã. Nếu lãnh hội được khởi nguồn cảm thọ do vô minh đó, thì người ta sẽ đi tìm kiếm nguồn trí tuệ giải thoát chứ không tìm kiếm “vị ngọt” của cảm thọ. Nếu chạy theo “vị ngọt” của cảm thọ thì sẽ bị đắm chìm vào cảm thọ, như kẻ khát nước mà chỉ tìm những thứ có vị ngọt để ăn. Với trí tuệ, người ấy sẽ tìm thấy được nguồn hạnh phúc, sống mà không phải lo âu tìm cầu những thứ gì vô nghĩa. Đây là hướng vận hành của nguồn tâm thức đưa đến sự đoạn diệt những thứ cảm thọ mang tính cảm xúc nhất thời hư vọng.

  1. Tưởng: Tưởng có nghĩa là nắm bắt hình tượng, hay chỉ tác dụng tưởng tượng sự vật của tâm đối với cảnh; phan duyên ngoại cảnh, nhớ việc đã qua, mơ tưởng tương lai cũng đều gọi là tưởng. Tưởng, nếu nói cho đủ là tâm tưởng, tơ tưởng, tưởng tượng.

Tưởng là một chữ khó định nghĩa, vì nó có cái nghĩa vừa rộng rãi muôn màu, vừa thay đổi mông lung. Tưởng để chỉ bất kỳ thứ gì thoáng qua trong đầu óc. Như vậy, phàm tưởng một điều gì tức là để tâm đến điều ấy, dù là để tâm một cách sơ sài hay sâu rộng tùy theo. Tưởng cũng dùng để chỉ những ý nghĩ ở ngoài sự nhận thức của giác quan. Ta tưởng những vật gì ta không thấy, nghe, hay sờ mó được. Phần lớn con người sống trong tưởng, và còn tưởng thì người ta biết mình còn hiện hữu: “ Tôi tư tưởng tức là tôi hiện hữu” - Socrate Gandhi cũng nói: “Con người là sản phẩm của tư tưởng mình, họ nghĩ như thế nào thì họ sẽ trở nên như vậy”.

Có khi cái Tưởng đó biến người ta sống với những cái không thật, như ban đêm thấy tàu lá chuối đung đưa thì nghĩ là ma và thêu dệt nên những chuyện kỳ bí. Có khi tưởng nhầm sợi dây nằm giữa đường là con rắn mà sanh kinh hoảng. Có khi người ta mượn cái tưởng để bào chữa cho những nhận định sai lầm của mình, như: Tôi tưởng anh không có ở nhà nên tôi không đến, tôi tưởng anh ăn rồi nên tôi ăn hết., tôi tưởng anh làm rồi nên tôi không làm... Và có khi cái tưởng đó dẫn người ta vào cả trong mộng mị, như: Tôi thèm sầu riêng nên tôi nằm mơ tưởng thấy mình đang ăn sầu riêng, tôi ham thích nhà lầu nên tôi ngủ mơ tưởng mình sống trong cảnh nhà lầu nguy nga v.v...

Nói chung Tưởng là chỉ cho những ý nghĩ mông lung, những ảo giác hư vọng xuất hiện trong tâm trí của con người. Đức Phật ví cuộc sống này là một giấc mộng lớn. Những kẻ trong mộng thì họ cứ ngỡ đó là thật mà cứ bám víu sống theo mộng. Đức Phật là người thức tỉnh, Ngài nhận thấy giấc mộng đó là không thật. Ngài đã tìm mọi cách để đánh thức những kẻ mộng mị kia, có những người cơn mộng chưa sâu thì liền được thức tỉnh, nhưng cũng có những kẻ chìm đắm sâu trong mộng mị chưa thể thức tỉnh liền được.

Tưởng là một phần của đời sống tinh thần chúng sanh, nó không thể sanh khởi nếu không có sự tác động của các uẩn kia. Tức là Tưởng cũng họat động vin vào sự tác động của Căn - Trần - Thức. Nói một cách khác, Tưởng vẫn là do các duyên làm nên, chứ không có tưởng uẩn được hiểu như một thực thể hiện hữu. Hiểu được vậy, con người có thể không còn chấp thủ các uẩn. Do không chấp thủ, nghĩa làdo sự đoạn diệt của chấp thủ, sự vận hành của Tưởng uẩn đoạn diệt và đoạn diệt phiền não.

Để loại trừ được vọng tưởng tạp niệm thì cần phải có Chánh tư duy để quán sát mọi pháp, cần phải nỗ lực an trú trong chánh niệm để giác tỉnh sự vận hành của các pháp, nhờ thế sống không lung lạc lao xao với pháp trần biến động, mà sống an trú trong thực tại giải thoát.

“Con người mộng tưởng triền miên

Hoang mơ lung lạc bến miền đảo điên.

Cuộc đời rối rắm truân chuyên

Tinh tu chánh niệm thức nguyên tánh màu,

Rạng ngời ánh đạo thâm sâu,

Trong mơ hiển hiện ngọc châu chói lòa.

Sau khi tỉnh giấc mơ hoa,

Nhận ra bản chất nhạt nhòa chốn hương,

Sẵn sàng cất bước siêu phương,

Mở đường giải thoát cảnh trường khổ đau.

- Bài kinh Giác Ngộ-

  1. Hành: Có nghĩa là hành động, tạo tác. Do nắm bắt hình tướng mà có hành động tạo tác, có khi làm thiện, có khi làm ác. Đây là sức mạnh của Hành.

Hành cũng gọi là hành nghiệp, là lưu chuyển. Nói đúng hơn là nghiệp lực, tập quán, hay năng lực tiềm ẩn. Nó là đầu mối, là sức mạnh của ý chí mù quáng, để thúc đẩy nối tiếp những kiếp sống của đời người từ quá khứ sang hiện tại và tới tương lai.

Hành có rất nhiều nghĩa, Ở đây Hành là chỉ cho những tác ý thiện, bất thiện và vô ký (không thiện không ác) để rồi tạo nghiệp. Chính nghiệp này sẽ đưa đi tái sanh.

Tất cả những tư tưởng, lời nói và việc làm thiện hay bất thiện đều nằm trong Hành. Những hành động tốt hay xấu trực tiếp phát nguồn từ vô minh hay bị vô minh gián tiếp làm động cơ thúc đẩy để rồi phải tạo nghiệp.

Ngược lại, những hành động (thân, khẩu, ý) hoàn toàn trong sạch (không nhuốm màu tham -sân -si) thì nhất định thoát ra khỏi vòng phiền não của đời sống. Và hành đây biến thành hạnh. Những việc làm của chư Phật và Bồ Tát không thể gọi là hành, vì các Ngài đã hoàn toàn tận diệt vô minh. Các Ngài luôn lấy công hạnh và nguyện lực để làm lý tưởng sống. Lý tưởng sống ấy không phải đưa đến lưu chuyển luân hồi.

Theo quan điểm Phật Giáo, Hành uẩn chính là một sự tập hợp của các họat động tâm (ý hành), của lời (khẩu hành) và thân (thân hành). Đó là chuỗi hoạt động mang tính quan hệ chặt chẽ của hai phần thể xác và tinh thần. Khi ta thấy thế nào, thì ta sẽ cảm thọ như thế đó, khi ta cảm thọ như thế nào thì ta có tư tưởng hay ý nghĩ như thế đó, khi ta có ý nghĩ như thế nào thì ta sẽ có ước muốn như thế đó, khi ước muốn như thế nào thì ta sẽ hành động như thế đó. Như vậy, Hành được xem như là ý chí sống của con người. Và Hành uẩn đó được tạo thành là do chính những tư duy và ham muốn của con người về Sắc - Thanh - Hương - Vị - Xúc và pháp. Nếu xúc không có mặt thì cảm thọ sẽ không hiện hữu và ham muốn về các hiện hữu cũng sẽ không có mặt, và như thế thì tư duy về hiện hữu cũng không phát sanh. Điều này có nghĩa Hành uẩn là một thực thể trống rỗng.

Tất cả các họat động tâm lý của con người như là các ước muốn, ước nguyện, tư tưởng thiện và bất thiện: ghét, thương, ganh tỵ, tự hãnh, các phản ứng của tâm thức đối với đời sống đều thuộc Hành uẩn. Các họat động tâm lý ấy tạo ra ý nghĩa cuộc sống, không có chúng thì đời sống trở thành vô nghĩa. Tuy nhiên, sự vận hành của chúng chỉ là sự vận hành của ảo giác về tự ngã, chứ không phải là những giá trị mang ý nghĩa chân thật của đời sống con người.

Người tu tập cần phải đặt sự vận hành của Hành uẩn dưới sự kiểm soát của tư duy và trí tuệ chân chánh, chứ không phải là sự kiểm soát chi phối của vô minh. Có như vậy thì chắc chắn những hành động của ta mới hướng đến sự hạnh phúc giải thoát.

  1. Thức: Có nghĩa là nhận thức phân biệt rõ ràng, tức là chỉ bản thể hiểu biết phân biệt sự vật của tâm đối với cảnh. Như mắt có thể phân biệt rõ các màu xanh - vàng - đỏ - trắng; tai có thể phân biệt các âm thanh hay - dỡ, mũi có thể phân biệt các mùi thơm - hôi; lưỡi có thể phân biệt các vị chua - ngọt - cay - đắng;, thân có thể phân biệt rõ các thứ cảm giác nóng - lạnh - cứng - mềm.

Thức được xem là nguyên nhân, là căn bản, là duyên của sắc. Nó không phải là một thực thể. Nó gồm có 6 nhóm: Nhãn thức có mặt khi có sự tiếp xúc giữa mắt và sắc, Nhĩ thức có mặt khi có sự tiếp xúc của tai và thinh, Tỷ thức có mặt khi có sự tiếp xúc của mũi và hương, Thiệt thức có mặt khi có sự tiếp xúc của lưỡi và vị, Thân thức có mặt khi có sự tiếp xúc của thân và xúc, Ý thức có mặt khi có sự tiếp xúc giữa ý và các pháp. Nếu Xúc không có mặt, thì Thức sẽ không hiện hữu và không có sự vận hành. Như thế, Thức chỉ là sự hiện hữu của một nhóm các duyên, hẵn không phải là “tôi”, “của tôi” “tự ngã của tôi”.

Thức ở đây không phải là trí. Chúng ta đạt được thức sau khi nghe, đọc và quán sát các sự vật và hiện tượng, để rồi ta có những phân biệt rất hạn chế. Còn trí tuệ chỉ xuất hiện khi trong tâm không còn những hệ phược, chướng ngại và cấu uế. Cho nên thế gian này có nhiều người học hành (tức là có tri thức), nhưng thật đáng buồn vì họ thường thiếu cái trí tuệ chân chánh. Họ rất thông minh nhưng trong cách cư xử của họ còn vấp phải những sai lầm. Họ cũng nóng tính, ích kỷ, mềm lòng, hiềm khích, tham lam và thất thường.

Như vậy, suối nguồn tri thức - điều chúng ta biết - mang ý nghĩa hạn hẹp, trừ khi nó được vận dụng một cách có trí tuệ để hướng đến lý tưởng phục vụ chứ không hướng đến hủy diệt và tàn phá.

Tóm lại, Sắc thân do nghiệp báo hình thành của chúng ta sinh rồi lại tử, tử rồi lại sinh này, chính là cái Ngã ngũ uẩn còn gọi là Ngũ ấm. Ấm có nghĩa là ngăn che, ý nói năm ấm: Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức ngăn che Phật tánh chân như và bản lai diện mục của chúng ta, chúng sanh sở dĩ trầm luân trong biển khổ là do mê lầm chấp trước, cho rằng cái ngã ngũ uẩn này là thật có.

Cái ngã năm uẩn xét kỹ chẳng qua chỉ là do nhân duyên tạm thời hòa hợp, không thể trường tồn,không có tự thể cho nên nói vô ngã.

Thân tứ đại sanh thành tử hoại,

Già bệnh đeo khổ ải, giả không.

Hòa hợp năm ấm lửa vòng,

Chỉ là ảo ảnh, ngã không thể tìm.”

-Kinh Bát Đại Nhân Giác-

3- Con người sống với mộng tưởng về “Ngã”

Nhìn chung, tất cả thế giới hiện tượng đều do nhân duyên hòa hợp với nhau mà hình thành, không có bản thể riêng biệt trong một quá trình sanh - diệt hai chiều. Nghĩa là tất cả vạn vật đều nằm trong quy luật: Vô thường, Khổ, Không và Vô ngã.

Nói riêng, con người cũng do nhân duyên mà thành trong một hợp thể năm uẩn, gồm vật chất và tinh thần. Lý do con người phải lăn lộn trong tiến trình sinh hóa bất tận là vì con người mê lầm, tạo nghiệp bất chính, kết quả phải chịu khổ đau triền miên.

Trong cuộc sống chúng ta cứ mãi đinh ninh rằng thân ngũ uẩn này là “ta” và “của ta”. Thân vật lý này là “ta” và “của ta”. Hiểu biết, tri thức này là “ta” và “của ta”. Tình cảm yêu thương này là “ta” và “của ta”. Ý chí và tài năng này là “ta” và “của ta”. Sự nghiệp này là “ta” và “của ta”. Dù sống bất cứ ở đâu và sống với bất cứ ai, con người cũng không thể nào sống thiếu cái “ta”. Họ gắn bó với cái “ta”. Yêu mến cái “ta” tức là yêu mến thân thể, tri thức, ý chí, tình cảm, tư tưởng của cái “ta” dó, để rồi họ nắm giữ và tô điểm chúng, mong tìm kiếm hạnh phúc qua chúng. Sống hình như chỉ là công việc nắm giữ, làm đẹp và ước mơ cái “ta” sẽ trở nên đẹp hơn. Chính trong lối sống với quan niệm ấy, con người phải đối đầu với bao nhiêu trở lực.

Về cơ bản, chúng sanh sống trong sự chấp ngã, còn chấp ngã là còn tạo nghiệp, còn tạo nghiệp là còn sanh tử luân hồi. Với giáo lý Ngũ Uẩn, chỉ rõ rằng chẳng có gì là cái ngã riêng biệt thực hữu hết. Chẳng qua đó chỉ là sự giả hợp của các yếu tố danh sắc (Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức) mà hình thành nên một con người. Để rồi con người đó có tên gọi là Cam hay Mít... và ôm cái tên gọi ấy để mà sống. Anh chàng sinh ra xưa nay có tên là Mít, mà nay ai đó gọi là Cam thì chẳng thèm để ý làm gì vì tên Cam đó không có dính dáng gì với ta cả. Lâu nay nghe mọi người gọi anh Mít và ông Mít mà nay nghe có ai gọi là thằng Mít, tên Mít thì thấy chói tai, khó chịu và bực tức trong lòng rồi. Lâu nay nghe mọi người cho anh Mít là một người “đẹp người đẹp nết” mà nay có ai bảo thằng Mít là một đứa xấu xí và dỡ hơi thì quả là một điều xúc phạm không gì hơn. Đó là mới nói chỉ động tới cái danh thôi chứ chưa nói gì động đến thân xác này. Đó là mới nói tới khía cạnh chấp danh, tức là chấp vào cái danh từ mông lung, cái danh từ phụ họa bên ngoài làm ngã.

Sự thật trước mắt ta luôn biến chuyển trong từng sát na, bây giờ ta đang trẻ nhưng trong cái trẻ đó nó đang có sự biến dịch dần đến cái già.

“Nguy hiểm của sắc pháp

Là lúc đã tới thời

Cô gái thành bà ngoại

Còn đâu nhan sắc tươi.

Lưng còng, tóc bạc trắng

Làn da khô nhăn nheo

Già bệnh nằm một chỗ

Còn đâu vẻ mỹ miều”.

(Đại Kinh Khổ Uẩn - Trung Bộ - Trí Hải)

Thế mà ta cứ cho là mình trẻ đẹp và ôm lấy cái ảo tưởng cho rằng ta vẫn còn trẻ vẫn còn khỏe. Ôm lấy ảo tưởng đó mà không nhận thấy được hoặc không dám nhận thấy “Ta hôm nay đã không còn là ta hôm qua”. Rõ ràng chúng sanh luôn sống trong chấp ngã, vì chấp ngã nên bám víu vào hành tướng và danh xưng để mà sống.

Sở dĩ ta không tu hành để đạt được sự giải thoát là vì cái “ta”. Cái “ta” cứ ngăn chặn làm cho trễ nải, biếng nhác, sa ngã. Muốn tinh tấn tu hành nhưng cái ngã nó lại cứ xen vào và bảo: để ta ăn cái đã, để ta ngủ cái đã, để ta chơi cái đã v.v... Cái ngã mà càng lớn thì càng dễ động chạm đến cái ngã của người khác. Sống trong một ngôi nhà, ăn cùng một mâm, ngủ cùng chiếu, nếu biết xem người kia là một phần tất yếu của cuộc sống mình thì như vậy chuyện gì cũng suông sẻ “đồng vợ, đồng chồng tát biển đông cũng cạn”. Còn ngược lại, ai cũng vun xén xây dựng cho mình một cái “ta” riêng tư thì sẽ “động vợ, động chồng chén bát đổ ngổn ngang”. Như vậy thì rồi cái nhà đó chỉ còn dành cho một người, đến khi còn một người mà vẫn còn thấy chật chội.

Là người Phật tử, chúng ta phải biết nhận ra cái thực trạng nguy hiểm do cái ngã gây ra ấy. Để từ đó chúng ta hướng đến loại bỏ dần những tâm tư ích kỷ, vị ngã riêng tư. Để xây dựng cho mình những phẩm chất biết tự giác, tự hành, và tự nhận với trách nhiệm bản thân gia đình và xã hội mà không hề có sự nghi ngờ và đố kỵ.

“Bậc hữu học đoạn nghi

Thấy như thật mọi sắc

Và thọ, tưởng, hành, thức

Không “tôi”, không “của tôi”

Không tự ngã của tôi

Thành tựu được vô úy”.

(Đại Kinh Khổ Uẩn - Trung Bộ - Trí Hải)

4- Con người Ngũ Uẩn biết sống hạnh phúc với chính mình.

Theo nhân bản Phật Giáo, con người là trung tâm điểm của vũ trụ. Vì thế, từ thân phận chúng sanh trở thành quả vị Phật, con người cần phải được cải hóa và tu dưỡng bản thân dựa trên giáo lý nhân thừa của Phật Giáo.

Ở mặt tương đối của hiện tượng giới, con người được hiểu như là tổng hợp của năm uẩn. Thiếu một trong năm uẩn thì không thể cho là một con người. Sắc uẩn thuộc về phần vật lý, Thọ - Tưởng - Hành - Thức thuộc về phần tâm lý. Theo giáo lý này, vật lý và tâm lý không thể tách rời nhau mà có được.

Đã là một con người thì gồm có cơ thể vật lý, tri thức, tình cảm, tình yêu, ý chí và trực giác. Không thể chấp nhận một con người chỉ có mặt tư duy, khối óc; cũng không thể chấp nhận một con người chỉ có mặt tình cảm, trái tim. Con người hiện hữu luôn tồn tại cùng với các hiện tượng của tâm lý, vật lý, tri thức... tức là con người có cả tinh thần và thể xác.

Tuy nhiên tinh thần con người bị dục vọng làm mờ ám, khiến cho mất cả sự tự do họat động. Tinh thần bị mờ ám thì tư tưởng phải sai ngoa, thiên lệch. Tinh thần chưa tự do, thì con người phải chịu tôi tớ cho một khuôn mẫu nhất định, để rồi xiềng trói nó, ràng buộc nó.

Tinh thần tư tưởng con người sở dĩ không được tự do là vì ba nguyên nhân sau:

+ Bị nô lệ lấy những cảm giác ngoại giới, nó lôi cuốn tinh thần ta như chiếc ghe không lái, trôi giạt tha hồ theo luồng sóng.

+ Bị nô lệ lấy dục vọng bên trong, làm cho tinh thần ta mờ ám bỗn độn. Hành động ta vô tâm như bộ máy.

+ Bị nô lệ lấy cái bã của danh từ.

Một thân thể không đau, một tinh thần không loạn, đó là thứ hạnh phúc mà con người luôn mơ ước. Sự thật dĩ nhiên là như vậy. Thiếu một trong hai điều kiện trên thì không thể bàn đến hạnh phúc được.

Thường tình con người cũng vẫn sống có tinh thần đó chứ. Hằng ngày họ cũng tìm đủ mọi cái để phục vụ tinh thần, nhưng đó là tinh thần khát khao: Tài - Sắc - Danh - Thực - Thùy. Họ cũng biết muốn làm cho đầu óc nhẹ nhàng nên xem ca hát, phim ảnh, sách báo, các thú vui, các trò tiêu khiển, nhưng đó là tinh thần của sự thác loạn thôi thúc. Đó là những nhu cầu tinh thần chưa thật sự chân chánh, mà chỉ phù hợp trong tương đối.

Một con người chưa có quyết tâm đoạn diệt tham ái và chấp thủ thì việc tạo điều kiện phát triển và điều hòa năm uẩn là điều cần thiết để đem lại hạnh phúc tương đối trong hiện tại. Nếu cơ thể vật lý bị bệnh hoạn thì con người toàn thể sẽ bị bệnh hoạn. Nếu tình cảm mà thất vọng, chán nãn thì sự duy trì và phát triển con người toàn diện cũng sẽ bị chịu ảnh hưởng xấu. Như vậy cho thấy, các hiện tượng tâm lý, sinh lý, vật lý có ảnh hưởng tương quan mật thiết với nhau.

Người tu tập giải thoát có điểm duy nhất khác với người bình thường là hướng sự phát triển tâm lý về mặt giải thoát vô tham, vô sân, vô si. Chúng ta không làm chủ được con người ngũ uẩn, thì chúng ta cũng có thể nhờ trí tuệ mà làm chủ việc đón nhận khổ đau hay hạnh phúc. Chẳng hạn, được sinh ra với cái mũi tẹt, răng hô, mắt lớn v.v... khổ đau của chúng ta không phải vì cái mũi tẹt, răng hô, mắt lớn ấy xấu, mà thực sự vì lòng khát ái và chấp thủ do muốn có một cái mũi cao đẹp, một hàm răng trắng đều, một đôi mắt dịu huyền. Đó là sự chấp đắm vào sắc tướng.

Hoặc giả, lời mắng nhiếc của người khác không phải là cái làm cho ta khó chịu, mà cái khó chịu là do chúng ta ưa thích nghe những âm thanh hay, những lời lẽ ngọt ngào, và chấp trước vào âm thanh đó.

Con đường đi ra khỏi phiền não, khổ đau để đạt đến hạnh phúc chính là do thân ngũ uẩn này đem lại chứ không ở đâu khác.

“Gốc rễ của đau khổ

Là hỷ tham các pháp

Vật chất và tinh thần

Pháp phàm và pháp thánh.

Bốn đại và ba cõi

Cùng “Niết bàn hiện tại”.

Sở dĩ có hỷ tham

Vì tưởng tri bốn đại

Cùng tất cả pháp khác

Là “tôi” và “của tôi”

Nhờ liễu tri các pháp

Không “tôi” và “của tôi”

Như Lai không dục hỷ

Bất cứ một pháp nào”.

(Kinh Pháp Môn Căn Bản - Trung Bộ - Trí Hải)

Việc chế ngự khát ái là điều mà chúng ta có thể chủ động, có thể thực hành được với chính trí tuệ của mình.

Nếu sự thực khổ đau và hạnh phúc chính là khát ái hay là sự loại trừ khát ái, thì quả thật giáo lý Ngũ Uẩn đã mở ra cho con người một phương trời tự do, giải thoát trước mặt. Đây mới thật là giáo lý rất thiết thực hiện tại, đúng nghĩa nhân bản đích thực.

5- Tu tập giải thoát với Năm Uẩn.

Mọi việc xảy ra chung quanh ta hằng ngày hết sức phức tạp. Nó dồn dập như sóng bể, liên tục lớp sau theo lớp trước, khiến cho tinh thần ta tản mát đảo điên không khác nào con thuyền trôi chơi vơi trên mặt bể. Bao nhiêu thứ hỗn tạp cứ bấu xé đầu óc làm cho tinh thần như chiếc lá khô quay cuồng theo cơn gió lốc. Tinh thần không tập trung được, cho nên không nhận thức được một cái gì cho rõ ràng hay suy nghĩ cho chính chắn được.

Sống mà tự mình không có một phương pháp nào nhất định, thì sự nhận thức của mình về mọi vật chung quanh chỉ như cái bóng phớt ngang tường, không lưu lại được một chút gì sáng sủa. Hơn nữa, phần đông con người chỉ biết chiều theo dục vọng để suy nghĩ, chớ không chịu gắng công tìm hiểu sự vật theo cái thực diện của nó. Một mặt thì bị trôi giạt theo làn sóng cảm giác bên ngoài, một mặt bị sự nung nấu của tình dục bên trong, thảo nào tinh thần ta không như chiếc thuyền bị thả trôi theo dòng nước.

Ở đây, cần lấy lại chút bình tâm và thanh thản để xác định lại hướng sống cho cuộc đời. Chúng ta phải nhận thức rõ ràng, chỉ có tư duy lệch lạc của ngã tính mới đưa tất cả vào chỗ vô vọng. Cần gấp loại bỏ tư duy vọng tưởng ấy để đi vào cuộc sống thực tại, và hãy một lần xóa đi ý niệm “tôi là” trong vòng tham ái, thì chúng ta sẽ nhận ra ngay chúng ta không đi vào chỗ rỗng không, mà là đi vào cảm nhận hạnh phúc.

Con đường tu tập giải thoát luôn lấy Bát Thánh Đạo làm cơ sở. Nhờ “Chánh kiến” mà thường xuyên thấy rõ Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức là vô thường. Vì năm uẩn vô thường nên chúng dẫn đến khổ đau. Năm uẩn là vô thường, khổ đau nên phải nhìn nhận nó không phải là mình, không phải là của mình, không phải là tự ngã của mình.

Đồng thời cũng nhờ vào “Chánh tư duy”, “Chánh niệm” và “Chánh định” mà luôn suy tư nhớ nghĩ và giác tỉnh năm uẩn là vô thường, khổ đau và vô ngã.

Nhờ nhận thấy rõ năm uẩn là vô thường, khổ đau và vô ngã mà sanh lòng nhàm chán, ly tham. Do ly tham mà được giải thoát.

“Năm uẩn là gánh nặng

Kẻ gánh nặng là người,

Cầm lấy gánh nặng lên

Chính là khổ ở đời,

Còn đặt gánh nặng xuống

Tức là lạc ở đời.

Đặt gánh nặng xuống rồi

Không mang lên gánh khác.

Nếu nhổ khát ái lên

Tận cùng đến gốc rễ

Không còn đói và khát

Đã gii thoát tịnh lạc

- Tương Ưng Bộ Kinh III-

 

III- Kết luận:

Con người xuất hiện trên thế gian này luôn nung nấu trong tâm tưởng mình những hoài nghi khủng hoảng. Cứ tư duy lan man theo tư tình vọng tưởng thì hoài nghi khủng hoảng không biết đến bao giờ mới được xua tan. Những hoài nghi ấy có khi nằm bên ngoài các hiện tượng giới, các hiện tượng tâm linh siêu hình; nhưng có khi ló dạng nơi chính những vấn đề cuộc sống ở chính tự thân con người. Những trăn trở ấy như đã thành bản chất khắc sâu nơi tâm khảm. Nó đã không lợi ích gì cho tiến trình hoàn thiện tâm linh, mà chỉ làm trở ngại thêm cho bước đường vượt qua bờ giải thoát.

Nếu nói trong thế gian này có một thứ tồn tại thì phải nói đó là ái dục của con người. Đức Phật ví chúng sanh trong cuộc hành trình ở thế gian này như những người khát nước đi giữa biển khơi. Bị cơn khát hoành hành, không kiềm chế được, họ phải buộc lòng uống nước mặn. Càng uống họ lại càng khát, và càng khát thì họ lại càng muốn uống. Cứ như vậy, chúng sanh sớm trở nên kiệt quệ mỏi mòn. Khát vọng con người bao giờ cũng muốn hướng tới chinh phục tất cả mà họ không hề biết những gì họ muốn nắm bắt, chinh phục đó chỉ là “lông rùa, sừng thỏ” mà thôi. Đức Phật đã tuệ tri toàn triệt, Ngài nhận thấy tất cả pháp đều là duyên sinh vô ngã. Vì duyên sinh vô ngã nên nó là rỗng tuếch. Cái này sanh nên cái kia sanh, cái này diệt nên cái kia diệt. Và sanh diệt cũng chỉ là khái niệm về sự chuyển hóa trạng thái của các pháp mà thôi. Nếu thấy được như vậy thì cũng không mong cầu những gì mình đã có, đang có và sẽ có; và cũng không lấy làm nuối tiếc với những gì mất mát hay tan hoại như sự diễn tiến của các pháp. Sống có nghĩa là sống với hiện tại, và chỉ có hiện tại mới là sống. Đó là tinh thần sống thiết thực nhất. Khổ não, than thở, tiếc nuối quá khứ hay mơ tưởng tương lai chẳng những rơi vào chỗ phi thực mà còn vướng mắc vào sự rối loạn tâm tư để rồi đánh mất đi cuộc sống hiện tại.

Nếu không biết chấp nhận hiện tại để vận dụng hiệu quả khả năng và trí tuệ của mình đi đến an lạc, hạnh phúc và giải thoát thì dung sắc mình sẽ sớm bị khô héo như lau xanh lìa cành. Để rồi hạnh phúc và đời mình cũng khô héo như thế.

“Không than việc đã qua

Không mong việc sắp tới,

Sống ngay với hiện tại,

Do vậy, sắc thù diệu.

Do mong việc sắp tới,

Do than việc đã qua,

Nên kẻ ngu héo mòn,

Như lau xanh lìa cành”.

-Kinh Trung Bộ-

1 Kinh Di Giáo – HT Trí Quang dịch.

(1) Chuỗi Duyên sinh: Hoặc gọi là Giáo lý Thập nhị nhân duyên (Duyên khởi) nói chung. Lý giải một cách dễ hiểu hơn, cùng một vấn đề tương tự với Diệu đế thứ hai và thứ ba của Tứ diệu đế

(2) Trong kinh Chánh tri kiến (Trung bộ kinh, Fol.Khù of Turnour’s MS.) giải thích rằng, vô minh là: “không hiểu về Khổ, không hiểu về Nguyên nhân của khổ, không hiểu về sự Đoạn diệt của khổ, không hiểu về Con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ, gọi là Vô minh”. Sự giống nhau được lập lại trong lời diễn giải của giáo lý Duyên khởi được đưa ra trong phần Vibbanga (Abhidhamma- Pitaka, Patikkasamuppàda-Vibhanga, Fol.Ki of the Phayre MS). Vì vậy, chúng ta nên chấp nhận như là một lời diễn đạt chuẩn xác này để mặc cho những câu hỏi khác đặt ra. Vô minh là những gì chúng ta chưa đạt được niềm tin của Giáo pháp. Hiển nhiên là như vậy, tuy nhiên, lời diễn giải biết như mọi nguồn gốc tội lỗi và khổ đau, và con người là chủ thể mê muội trước Bốn chân lý này. Nhưng con người chủ thể mê muội ấy là ai ? Mọi tính cách đó (như Vinnàna &C) tạo thành Hữu tình chúng sanh và có thể làm cho họ sáng suốt hoặc tối tăm, điều đó được hiểu là Vô minh, là nguyên nhân đầu tiên sản sinh ra tất cả. Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng: chúng ta không thể tồn tại trước khi vô minh xuất hiện, hoặc là chúng ta có thể hiểu Vô minh là cái mà kiếp sống Hữu tình mắc phải trước kia, mà đó là những nguyên nhân mà “Vô minh” và “Thức” tạo thành một mối liên kết giữa những kiếp sống khác nhau, để rồi chi phối và dẫn đến sự thác sinh cho một kiếp sống mới

(3) Trường hợp cho rằng có 3 hành, hoặc 3 phó sản: Thân hành (Kàyasamkhàra) Khẩu hành (Vakìsankhàra) và Ý hành (Cittasamkhàra); hoặc gọi là phó sản của Thân – Khẩu - Ý (Theo Thắng pháp tập yếu luận)

- Thân hành gồm: sự hô hấp, sự kết thúc (Assàsapassàsà)

- Khẩu hành: sự tập trung, sự thẩm sát (Vitakkavikàra)

- Ý hành: ở trong những ý tưởng, tham dục, và những thuộc tính tư tưởng, ngoại trừ sự chú tâm và thẩm sát (Sannàka vedannà ka thapetvà vitakkavikàre sabbe pikittasampayuttakà dhammà). The vibbanga (Abhidhammà- Pitaka, Patikkasamuppà davibhanga 1.1). Khi thảo luận về các hành, có 6 phạm trù thay vì 3: “Những loại hành nào được sản sinh từ vô minh? Hành (phó sản) đưa đến chính trực, hành đưa đến tội lỗi, hành đưa đến bất động, những phó sản của Thân- khẩu- y.” Pàli: “Tattha katame aviggà pakkayà samkàrà? Punnàbhisamkhàro apunnàbhsam khàro ànangàbhisamkhàro kàyasamkhàro vakisamkhàro kittasamkhàro”.

(4) Tức là: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ( khả năng xúc chạm) và ý.

(1) Thập tín:

Mười đức tính tu hành của Bồ tát; trong 52 địa vị tu hành của Bồ tát, Thập tín đứng đầu; vả lại, muốn vào giáo pháp của Phật, trước hết phải có lòng tin. Thập tín được xem là những đức tính căn bản của Bồ tát sơ cơ.

  1. Tín tâm: Tin chánh pháp một cách vững vàng.
  2. Niệm tâm: Luôn luôn nhớ tưởng tới Phật và các Pháp môn tu.
  3. Tinh tấn tâm: Tin vững chắc vào tài sức mình có đủ khả năng và nghị lực tự độ, độ tha, tự giác, giác tha.
  4. Tuệ tâm: Tin một cách thông minh, sáng suốt ở Chánh pháp của Phật, không tin mù quáng, mê tín dị đoan, không tin giáo điều một cách tuyệt đối (Giới cấm thủ), nếu không được trí tuệ sáng soi.
  5. Tịnh tâm: Tâm trụ ở nơi kiên cố vững vàng.
  6. Bất thoái tâm: Tâm không còn bị dao động nữa; trong khi độ người không còn bị người hay hoàn cảnh níu kéo sang đường khác, khiến bị lầm đường lạc nẻo.
  7. Hộ pháp tâm: Trong khi hộ trì Chánh pháp không để cho Tà đạo hay Ngoại đạo lay chuyển.
  8. Nguyện tâm: Không nguyện suông trên danh tự, lời nói; không bắt chước người phát nguyện thế nào thì mình cũng phát nguyện thế ấy, mà phải phát nguyện tự đáy lòng, thiết tha, thầm kín và sâu rộng. Nguyện xong, phải thực hành đúng theo lời nguyện.
  9. Giới tâm: Tâm kiên cố, vững bền, chỉ biết có độ sinh và thành Phật, không bị bất cứ sự vật gì lay chuyển nổi, không thoái hoá.
  10. Hồi hướng tâm: Các công đức trong khi tu tập được đều ban phát cho tất cả chúng sanh, không giữ lại phần riêng nào cho mình.

Từ Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng là của bậc Tam hiền; Thập địa là của bậc Thập thánh, rồi mới tới quả vị Phật (Chánh đẳng giác).

(2) Thập trụ:

  1. Phát tâm trụ: Khi đầy đủ Thập tín rồi, dùng tâm Chơn như phát ra Mười phương tiện để tu.
  2. Trì địa trụ: Khi tâm đã trong sáng như ngọc lưu ly, lấy Diệu tâm làm nơi trụ.
  3. Tu hành trụ: Cảnh sở quán và Tâm năng quán thông suốt không ngăn ngại trong lộ trình tu tập của Hành giả.
  4. Sinh quí trụ: Hấp thụ chủng tử Phật, hạt giống Như lai một cách tự nhiên.
  5. Phương tiện cụ túc trụ: Khi đã nhập vào dòng Thánh, vào Thánh thai của Đạo rồi thì thành Phật thân, Pháp thân, Ứng hóa thân. Phật có những thứ gì, thì mình có đủ những thứ ấy, nên gọi là phương tiện cụ túc.
  6. Chính tâm trụ: Có đủ Dạng mạo và Tâm tướng của Chư Phật vì Tánh của ta là Phật tánh.
  7. Bất thoái trụ: Thân tâm hợp nhất, Tuệ tâm ngày càng lớn mạnh, không thoái chuyển nữa.
  8. Đồng thân trụ: Linh tướng của Mười phương đều đầy đủ (Phật thân, Pháp thân, Ứng thân, Hóa thân, Nguyện thân, Trí thân, Bồ đề thân, Trang nghiêm thân, Uy thế thân, Ý sinh thân).
  9. Pháp vương thân: Thân Phật tử đã thành và ra đã khỏi Như lai tạng (A- lại- da).
  10. Quán đảnh trụ: Nghi biểu đã thành người, như Đông cung thái tử đã trưởng thành, được vua cha truyền ngôi, lễ quán đảnh lên ngôi nhiếp chính, chính thức chăm lo việc nước việc dân; cũng vậy, tới đây Bồ tát đã đầy đủ năng lực đảm nhận nhiệm vụ đại Phật tuyên dương chánh pháp, giáo hóa chúng sinh.

Vì đối với việc tu Lục độ chưa rốt ráo, Bồ tát phải an trụ tâm, nên gọi đó là an trụ.

(3) Thập hạnh: Sau khi hội đủ Mười tín tâm, lại phải cố công tu hành, dùng chơn tâm của mình phát ra mười phương tiện để tu. Đó gọi là phát tâm trụ:

  1. Hoan hỉ hạnh: Bồ tát nay đã thành Phật thì có đủ trí tuệ của Như lai, và tùy thuận chúng sanh mà ban bố Đức mầu, làm cho mình và chúnh sanh đều lợi lạc.
  2. Nhiêu ích hạnh: Bồ tát lấy trí Bát nhã soi sáng cho mọi hành động nên khôn khéo trong mọi trường hợp, cốt sao đem được lợi ích cho nhân loại mà không phạm vào chánh nghĩa, chánh pháp. Độ mà không thấy mình độ; người độ và pháp môn dùng để độ, chỉ tuân theo tự tánh từ bi mà hành động.
  3. Vô sân hận hạnh hay vô nhuế hạnh: Chỉ có tự giác lại giác tha, Bồ tát không lưu tâm đến lời khen chê, phỉnh nịnh hay quở trách của mọi người, bỏ ngoài tai những lời hủy báng trái ý nghịch lòng, nên tâm không khởi niệm sân hận.
  4. Vô tận hạnh: Tinh tấn, tự nguyện dấn thân vào nơi uế độ vô số kiếp để cứu độ muôn loài khổ đau. Trong một niệm, một pháp mà bao gồm tất cả mọi không gian và thời gian, lấy tâm bình đẳng trước sau như một, làm việc thiện trong suốt Ba đời, Mười phương, coi chúng sinh như mình không khác.
  5. Ly si loạn hạnh: Tinh tấn tu hành thọ trì muôn pháp mà không bỏ sót, không chút sai lầm.
  6. Thiện hiện hạnh: Trong chỗ “Đồng” thấy những điểm “Dị” (Trong cái chung lại thấy cái riêng), trong mỗi điểm Dị lại thấy tướng Đồng. Hiểu tận cùng các lý “Đồng nhất thể”, “Một là tất cả, Tất cả là một”, mình là chúng sinh, chúng sinh là mình không khác nhau. Mình khổ đau là chúng sinh khổ đau, chúng sanh khổ đau là mình khổ đau, và chúng sinh còn đau buồn thì Bồ tát không thể hưởng cảnh an vui Niết bàn được.
  7. Vô trước hạnh: Trong mỗi vi trần thấy rõ mười phương thế giới; mười phương thế giới hiện thấy rõ trong một vi trần. Ở chỗ cực vi thấy rõ Pháp thân. Ở chỗ Vô hình tướng thấy rõ muôn vạn Hình tướng. Vật Cực vi với vật Cực đại cùng chung một thể tướng. Vi trần với Tam thiên đại thiên thế giới cùng chung một căn nguyên là điện tử và bình đẳng trên một bản thể Nhất như. Bồ tát biết rõ chân lý Sắc, Không của trời đất và thực tướng của muôn loài như nhau.
  8. Tôn trọng hạnh: Lấy trí tuệ Bát nhã soi xét thấy rõ bản thể của mọi pháp là “Không”, các pháp đều Vô tướng và biến hiện như mộng ảo, như sương mai. Bồ tát tôn trọng lý “Chân không” mà đúng theo lẽ Đạo.
  9. Thiện pháp hạnh: Hiểu rõ lý Trung đạo, Bồ tát lấy Tri, Hành và Đức viên dung làm khuôn phép mẫu mực cho thế gian noi theo.
  10. Chân thật hạnh: Vì mười địa này chú trọng vào pháp Lục độ hơn các hạnh tu khác nên gọi là hạnh.

(4) Thập hồi hướng:

  1. Cứu nhất thiết chúng sinh tướng hồi hướng: Khi Bồ tát đã đạt đến ngôi Hiền thánh, có đầy đủ Lục thông, nên thực hành Phật sự một cách thuần chân, không còn vướng mắc một chút gì hư ngụy. Bởi vậy, Bồ tát có thể độ tận chúng sinh mà không sợ mình bị ô nhiễm. Làm việc thiện xong lại hồi hướng công đức cho tất cả, xả hết mọi điều, thoát ly tướng thế gian; tức cứu giúp chúng sinh theo pháp “Tam luân không tịch”.
  2. Bất hoại hồi hướng: Bồ tát bỏ cái tướng thế gian đáng bỏ, xa lìa cái đáng xa lìa là tướng chúng sinh.
  3. Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng: Sự cứu giúp chúng sinh và sự giác ngộ của Bồ tát ngang hàng với Phật, và tánh giác ngộ đó thành tựu một cách tự nhiên, bình đẳng vô phân biệt.
  4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng: Bản tánh chơn thật phát hiện, địa vị của Bồ tát ngang với địa vị Phật, nên Bồ tát cứu vớt chúng sinh tận tình chu đáo.
  5. Vô tận công đức tạng hồi hướng: Thế giới bản thể và thế giới hiện tượng là một, không chướng ngại. Lý sự viên dung.

6.Tùy thuận nhất thiết cố, bình đẳng thiện căn hồi hướng: Trong Phật đạo, Bồ tát giữ tâm bình đẳng thanh tịnh, phát huy trí Bát nhã và nương vào đó mà tiến tu đến cõi Niết bàn.

  1. Tùy thuận đẳng quán, nhất thiết chúng sinh hồi hướng: Thiện căn thanh tịnh đã có, tính viên mãn đã thành tựu nên Bồ tát tế độ mười phương chúng sinh, không bỏ sót một loài nào (Bồ tát đem tâm bình đẳng tùy thuận tế độ hết thảy chúng sinh trong pháp giới).
  2. Chân như tướng hồi hướng: Bồ tát xa lìa mọi tướng hư vọng. Đối với các pháp thế gian, biết rõ thực tướng đều huyễn ảo, nên y theo Pháp tánh mà tu hành, vì biết rõ các pháp chỉ là phương tiện, và theo kết quả đạt được chỉ là mộng huyễn nên cần phải xa lìa. Bồ tát thành tựu công đức cao dầy để hồi hướng về tự tánh Chân không Bát nhã.
  3. Vô phược giải thoát hồi hướng: Khi đạt được Chân như cứu cánh, thì mười phương pháp tánh không có chỗ ngăn ngại nhau, tức là không chấp trước, không bị ràng buộc, một lòng xu hướng về giải thoát.
  4. Pháp giới vô lượng hồi hướng: Tâm đã hoàn toàn thanh tịnh, Pháp giới không còn bị hạn lượng, Bồ tát vượt lên trên không gian lẫn thời gian, không gì có thể ngăn cản được cánh chim bằng rộng mở nữa. Bồ tát đem Tứ vô lượng tâm làm mọi công đức hồi hướng cho chúng sinh khắp pháp giới.

(5) Thập địa (Thập thánh):

Trải qua 40 bậc thang giác ngộ (Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng), tâm của hành giả được tôi luyện thêm Tứ gia hạnh vị (Noãn vị: hơi nóng, khi đối diện thực tại, phải cọ xát thực tế để vượt khó. Đảnh vị: vượt lên trên Ngã chấp và Pháp chấp, bước lên đỉnh cao giác ngộ. Nhẫn vị: khi không còn mê chấp Ngã và Pháp, có sức chịu đựng để khan nhẫn vượt qua mọi thử thách, khó khăn. Thế đệ nhất: Vượt lên trên Trung đạo, giữa mê và ngộ không còn tên gọi nữa, điểm đích của sự giác ngộ), ung dung bước lên cảnh địa của chư Phật.

  1. Sơ địa (Hoan hỉ địa): Bồ tát phát quảng đại tâm, dũng mãnh, bất thối chuyển, không ngừng hướng tới mục tiêu Nhất thiết chủng trí. Bởi vậy, Bồ tát không ngại khó nhọc tầm sư học đạo khắp nơi, nhằm phát triển kiến thức, tư duy sâu và rộng để hiểu được sự ẩn sâu của các pháp. Đến đây, Bồ tát hiểu được hai lý Ngã không và Pháp không nên lòng rất vui mừng, phấn khởi vì đã hiểu được cả Tánh lẫn Tướng của mọi sự vật, đạt được trạng thái thông đạt của Kiến đạo, tức là thấy được bằng trí tuệ, không còn phân biệt nội tâm với ngoại cảnh nữa.
  2. Đệ nhị địa (Ly cấu địa hay Ly khổ địa): Bồ tát cố gắng hành thiện, lánh ác, ly hận, diệt thù,... biết tàm quí, tri túc, kềm chế lục dục, thất tình, không còn sát, đạo, dâm, vọng nữa, mà thực thi mười điều thiện để thoát ly sanh tử, và dùng trí tuệ tịnh tu các pháp Ba-la-mật để vượt qua mọi cương tỏa của Tam giới.

Ở đây, trong Tứ nhiếp pháp, Bồ tát thiên về Ái ngữ, và trong các Độ thì thiên về Trì giới hơn để rũ sạch trần cấu.

  1. Đệ tam địa (Phát quang địa): Tâm đã xa lìa phiền não, hoặc nghiệp về phần thô, và trở nên thanh tịnh nhờ cố gắng tu Thiền, đạt đến chỗ Đại định và Phát tuệ, nên Bồ tát đạt được ngôi vị Phát quang địa. Ở đây, Bồ tát quán sát chân tướng của hữu vi, thấy chúng đều Vô thường, Vô ngã, Bất tịnh, Sinh diệt và Khổ từng sát na. Với Thân và Tâm thanh tịnh, Bồ tát nhìn chúng sinh bị lửa vô thường thiêu đốt, nên động tâm từ bi trắc ẩn, nguyện cứu họ ra khỏi chốn hiểm nguy sanh tử. Với nguyện vọng vị tha tha thiết ấy, Bồ tát ngày đêm nuôi dưỡng tâm từ bi và trí tuệ được viên mãn, hầu có đủ phương tiện cứu độ chúng sanh. Bởi an trụ nơi Phát quang địa, Bồ tát quán tưởng và thiền định, nên đạt được tới bậc Nhị thiền, dứt bỏ được các thọ tưởng, vượt lên các tầng trời Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Trong Tứ nhiếp pháp, ở địa này thường dùng Lợi hành, và trong các Độ thường dùng hạnh Nhẫn nhục Ba-la-mật để cứu vớt chúng sanh.

  1. Đệ tứ địa (Diệm huệ địa): Trụ tâm nơi Bồ đề thanh tịnh, dùng lửa Tam muội (Samadhi) đốt cháy các phiền não, hoặc lậu, Bồ tát như một ngọn đuốc sáng ngời, nên gọi là Diệm huệ địa. Ở đây, Bồ tát dùng pháp quán Tứ niệm xứ quán sát mười phương pháp giới, thấy rõ thực tướng của các pháp, từ nội tâm cho đến ngoại cảnh đều là Không, Vô tướng, Vô tác, và các pháp thảy đều như huyễn, như bọt nước, sương mai.

Hành giả tu tập các pháp Xả ly, được tâm nhuận trạch, nhu nhuyến, tùy thuận chúng sanh mà làm lợi cho họ. Bồ tát tu theo Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, thành tựu đầy đủ Lực Vô uý, nhưng trước sau vẫn không rời tâm xa lìa mọi chấp trước. Với tâm thanh tịnh, thiện căn tăng trưởng, Bồ tát xa lìa cấu trược, dứt các mê lầm, nên vô lượng sở nguyện đều được thành tựu.

Bồ tát vẫn dùng Từ bi tâm, và trong Tứ nhiếp pháp thì thiên về Đồng sự, trong các Độ thì thiên về Tinh tấn để cứu nhân đô thế.

  1. Đệ ngũ địa (Nan thắng địa): Ở ngôi Diệm huệ được công hạnh viên mãn, Bồ tát bước vào đệ Ngũ địa, dùng tâm thanh tịnh, bình đẳng, vô phân biệt mà khéo tu các pháp Bồ đề phần, dùng Khổ đế trong Tứ đế để làm chỗ nương tựa khai thị cho chúng sanh, nên xa lìa sanh tử để nhập vào Thánh đạo giải thoát an lành. Vì lợi ích chúng sinh nên Bồ tát tu học Ngũ minh để làm phương tiện hành đạo, trải qua vô số kiếp, Thiện căn ngày càng tăng trưởng. Trong Mười độ thì địa này Bồ tát thiên về Thiền định để luyện trí tuệ cho được quang minh. Tới được Bát nhã Ba- la- mật, Trí tuệ đã sáng ngời, Bồ tát phá tan được mối tương quan giữa Đồng và Dị, rồi bỏ được sự khác biệt giữa Ngã và Phi ngã, đạt đến giữa mình và chúng sinh không khác, đồng một thể Chân như, và hành giả thấy rõ lý “Vạn vật đồng nhất thể”, trong pháp giới trùng trùng duyên khởi, thấy được những tư tưởng sai biệt, và đạt được tâm bình đẳng giữa mọi sự vật trong vũ trụ. Bồ tát đã làm được những việc khó làm, đã chữa những bệnh khó chữa là tham, sân, si do Ngã ái, Ngã chấp sinh ra; bình được trận giặc nội tâm khó thắng này là thủ được một chiến thắng oai hùng nhất, bởi lẽ, hai thứ Trí tuệ Chân đế và Tục đế, hai luồng tư tưởng phát xuất từ Tuyệt đối và Tương đối, từ Nhất nguyên và Nhị nguyên xung đột lẫn nhau, mà nay hành giả đã khiến được chúng cùng đứng trong hàng ngũ hợp xứng với nhau là một việc làm vạn nan; vì thế, địa này còn có tên gọi là Cực nan thắng địa.
  2. Đệ lục địa (Hiện tiền địa): Tới đây, từ chỗ vô phân biệt, Bồ tát lại quay trở về cái Trí phân biệt soi rõ mọi duyên để đạt tới Bát nhã vô phân biệt, tức là cái Chân như vô vi, khiến nó phải luôn luôn hiện diện sáng ngời và ứng dụng khắp nơi. Bởi vậy, địa này được gọi là Hiện tiền địa.

Ở ngôi vị này, Bồ tát tu tập Thất bồ đề phần, chẳng trụ vào pháp Hữu vi, nên được vô số Tam muội; và trong Mười độ, thiên về Tuệ Ba- la- mật

  1. Đệ thất địa (Viễn hành địa): Dùng Bát-nhã ba-la-mật, Bồ tát từ Hiện tiền địa nhập vào Đệ thất địa. Lúc nào hành giả cũng hướng về Tri kiến của Phật và siêng tu tập các món trợ đạo. Từ địa này trở về trước còn phân biệt hạnh tạp nhiễm và thanh tịnh. Muốn trừ được cái tâm phan duyên và phân biệt phải trải qua một chặng đường khó khăn, tức phải dụng công lấy Nguyện lực, thần thông và Trí tuệ vượt bực để phá tan hẳn các Ngã chấp và được Vô sinh pháp nhẫn.

Khi quan sát thấy chân tướng của mọi sự vật, Bồ tát thấy rõ Thực tướng, Vô tướng hay Tướng chân không của hết thảy sự vật, cho đến mọi hành động của Bồ tát đều không trụ vào một hình tướng nào cả. Đến đây, Hành giả đã vượt qua được cả 2 đường lối tu hành của đạo Thế gian và Xuất thế gian, đạt đến chỗ tận cùng của Chân như và tiến rất xa trên đường đạo, nên gọi là Viễn hành địa.

  1. Đệ bát địa (Bất động địa): Bồ tát lìa mọi sự dụng công, cố ý, làm tất cả mọi việc như không làm (Tu vô tu tu, hành vô hành, chứng vô chứng chứng). Bồ tát trải tâm từ khắp nơi, lấy trí tuệ Bát nhã chiếu soi cùng khắp, khiến cho chúng sinh dập tắt được lửa phiền não, tâm họ trở nên mát mẻ thanh lương.

Ở địa này, Bồ tát thiên về Nguyện Ba-la-mật và được sức thần thông quảng đại, làm mọi Phật sự không nhàm chán. Bồ tát vận dụng tâm vô phân biệt để làm mọi việc mà không hề lay chuyển tâm Chân như bất động của mình. Hành giả hành động một cách không dụng công, thúc đẩy tự nhiên bởi Tâm từ vô lượng, nên cái hành đó không tạo nghiệp. Hành giả thản nhiên trước mọi sự khen chê, cám dỗ của thế gian, nên ngôi này được gọi là Bất động địa.

  1. Đệ cửu địa (Thiện huệ địa hay Tu tập địa): Nhờ có Tứ vô lượng tâm làm động cơ thúc đẩy và Tuệ bát nhã viên mãn soi đường, Bồ tát vận dụng mọi khả năng biện tài Vô ngại để chuyển vận bánh xe Pháp suốt không gian và thời gian vô tận để hóa độ chúng sinh, nên gọi là Thiện huệ địa. Với biện tài vô ngại, Bồ tát biện thuyết lưu loát, không hề chướng ngại. Trí đó gồm có 4 :

- Pháp vô ngại: Mọi pháp đều thông suốt

- Nghĩa vô ngại: Mọi nghĩa đều sáng sủa

- Từ vô ngại: Lời nói diễn đạt tư tưởng dễ hiểu, lưu loát như dòng nước chảy.

- Nhạo thuyết vô ngại: Ưa nói pháp, lại hiểu căn cơ chúng sinh, nên nói gì ai cũng thích nghe, vừa ý.

Công phu tu tập đã xong, công đức được viên mãn, nên bậc này cũng gọi là Tu tập địa.

  1. Đệ thập địa (Pháp vân địa): Bồ tát thuyết pháp độ sinh và rải từ tâm khắp mọi nơi, thấm nhuần vạn vật như mây tỏa bầu trời. Đó là thứ mây công đức mầu nhiệm do đại từ và đại trí kết hợp lại thành, làm cho chúng sinh hoan hỉ trong cảnh giới Niết bàn an vui tịch tĩnh. Nên gọi đây là Pháp vân địa.

Trong ngôi địa thứ mười này còn được gọi là ngôi “Đẳng giác”. Đạt đến ngôi Thập địa còn phải tu tập tới ngôi Kim cang dụ định thì mới chứng được Đại Niết bàn và quả Vô thượng Bồ đề, gọi là hai quả Chuyển y.

* Đại phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh - Tập 4 trang 351 - HT Thích Trí Tịnh dịch