Phật học phổ thông (TL)

Phật học phổ thông (TL)

Download ebook Mục lục

Bài I-1 LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI

-HT. Thích Thiện Bình-

 

I- Dẫn nhập:

Các tôn giáo có mặt trên thế giới đều có Giáo chủ. Giáo chủ của đạo Phật là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chúng ta là Phật tử đi theo con đường Ngài đã đi, phải hiểu rõ cuộc đời, sự tu học của Ngài để thực hiện.

II- Bối cảnh Ấn độ trước khi Phật Đản sanh:

Bị đô hộ bởi người A-Ly-A (Aryan) từ Trung Á tràn sang Ba Tư xuống Bắc Ấn Độ (có thuyết từ vùng Coucase) chinh phục và thống trị thổ dân Ấn độ là Bạc-La-Tỳ-Đồ (Dravida).

Dùng luật Mã-Nổ (Manu) để cai trị lãnh thổ Ấn độ phân làm 05 vùng và dân chúng chia làm 04 giai cấp: Giáo sĩ Bà-La-Môn (Bràhaman), Sát-Đế-Lợi (Ksatriya), Phệ-Xá (Vaisya) và Thủ-Đà-La (Sùdra).

Sự độc quyền áp bức của hàng giáo sĩ Bà-La-Môn và độc quyền chính trị của giai cấp Sát-Đế-Lợi. Họ được hưởng quyền thế tập, toàn quyền sanh sát đối với nhân dân, xem lãnh thổ cai trị như tư hữu riêng của họ.

Nhân dân cầu nguyện và ước vọng có được một cuộc sống mới an cư lạc nghiệp.

III- Sự ra đời khác biệt của chúng sanh và chư Phật:

Chúng sanh ra đời là “đầu thai”. Đầu thai là do nghiệp báo thiện hay ác bắt buộc luân hồi để chịu quả báo lành hay dữ.

Chư Phật Đản sanh (sự ra đời vui vẻ, hân hoan, sáng rạng cho cõi đời), Thị hiện (hiện rõ nguyên hình mọi người có thể thấy được), Giáng sinh (từ chỗ cao xuống chỗ thấp sinh ra). Giáng sinh hay Thị hiện là vì lòng từ và lợi ích của chúng sanh nên tự nguyện ứng thân xuất hiện cứu độ chúng sanh tự tại vô ngại không bị nghiệp nhân câu thúc.

IV- Ngày và nơi Giáng sinh của Đức Phật:

Ngài sinh vào ngày 15-04 năm 623 TCN tại vườn Lâm-Tỳ-Ni (Lumbini) gần thành Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilavsu) vùng biên giới giữa Népal và Ấn Độ.

V- Thân thế và tên họ của Ngài:

Ngài thuộc dòng dõi Thích Ca (Sakya). Thân phụ là quốc vương Tịnh Phạn (Suddhodana), mẹ là hoàng hậu Ma Da (Màya). Quốc vương trị vì một vương quốc ở ven sườn Hy-Mã-Lạp-Sơn (Hymalaya) phía Đông Bắc Ấn độ. Tên ngài là Sĩ-Đạt-Ta (Tất-Đạt-Đa). Họ là Gotama (Cồ Đàm) thuộc bộ lạc Sakya (Thích Ca).

VI- Đời sống của Thái tử trước khi xuất gia:

Đời sống và giáo dục của Thái tử:

Thái tử được dạy dỗ và nuôi nấng một cách toàn diện về cả hai lãnh vực văn chương và võ thuật. Từ 7 đến 12 tuổi học thông cả 5 môn: Thanh minh (ngôn ngữ văn học); Công xảo minh (công kỹ nghệ học); Y phương minh (y học); Nhân minh (lý luận học); Nội minh (đạo học) và 04 Thánh điển Vệ-Đà (Veda): Câu-Ly-Phệ-Đà (Rigveda); Tha-Mã-Phệ-Đà (Sama-veda); Dạ-Nhu-Phệ-Đà (Yadurveda); A-Thánh-Bà-Phệ-Đà (Atharvaveda), làm cho hai vị danh sư nổi tiếng: Sằn-Đề-Đề-Bà (Ksomtídiva) và Tỳ-Sa-Mật-Đa-Ta (Visvàmiatra) phải thán phục.

Tiếp xúc nỗi đau nhân thế:

Khi Ngài ra ngoài 04 cửa thành, tiếp xúc: - Một cụ già chân mỏi, gối chùn - Một người bệnh hoạn quằn quại - Một thây ma hôi thối – Một đạo sĩ ly dục nghiêm trang. Nhận chân các cảnh trên Thái tử quyết tìm con đường dẫn tới Giác Ngộ, khắc phục mọi khổ đau của cuộc đời và hướng đến an lạc.

Bài I-2 LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI (Tiếp theo)

 

VII- Xuất gia và học đạo:

Qua những cảnh bất công và đau khổ Thái tử đã mục kích, lòng thương chúng sanh đang chìm đắm trong bể khổ thôi thúc Thái tử đi tìm con đường giải thoát. Đêm mồng 8 tháng 2, sau bữa tiệc Thái tử đến phòng thăm Da-Du-Đà-La (Yasodharà) và La-Hầu-La (Rahula), thấy vợ con đang yên giấc, người nhìn lần cuối từ biệt. Thái tử gọi nô bộc Xa-Nặc (Channa) dắt tuấn mã Kiền Trắc (Kanthaka) vượt thành ra đi. Năm ấy Thái tử vừa tròn 19 tuổi.

- Trao y phục và trang sức lại gia đình:

Đến bờ sông A-Nô-Ma (Anomà), Thái tử giao ngựa Kiền trắc cho Xa Nặc, cạo bỏ râu tóc, trao y phục và đồ trang sức nhờ Xa-Nặc trở về cung tạ lỗi với Phụ hoàng. Người xin thực hiện sự xuất gia học đạo.

- Học đạo với A-La-Ra Ka-La-Ma (A-La-Lam):

Gặp đạo sĩ A-La-Lam, Thái tử rất hoan hỷ vì đây là một vị Bà-La-Môn học rộng hiểu sâu, tận tình giải bày nhưng đích của ông chỉ đến cấp Thiền vô sở hữu xứ, còn trong tam giới, chưa thật giải thoát.

- Học đạo với Uất-Đầu-Lam-Phat (Uddaka Ràmputtà) :

Thái tử tìm đến vị đạo sĩ lừng danh là Uất-Đầu-Lam-Phất, ông này tuy có kiến thức sâu rộng hơn nhưng hướng tu không khác nhau, chỉ chứng được cấp Phi tưởng xứ thuộc Vô sắc giới.

- Tu khổ hạnh 6 năm:

Sau khi từ giã vị đạo sĩ, Thái tử đi vào rừng khổ hạnh ở thôn Ưu-Lâu-Tần-Loa (Uravelà), nước Ma-Kiệt-Đà (Magadha) cùng 5 người bạn: Kiều-Trần-Như, Bạt -Đề, Đề-Bà, Ma-Ha-Nam, Ác-Bệ cùng tu khổ hạnh trải qua thời gian 6 năm. Thái tử nhận thức: Chân lý tối hậu giải thoát an lạc không phải qua môn hành xác, không thể dựa vào một tha lực nào khác mà được thể hiện chính trong nội tâm của mỗi người.

- Tự chọn hướng tu:

Thái tử nhận thức rằng muốn tìm con đường giác ngộ, không thể với một tâm hồn bì quyện, một thân xác tiều tụy mà phải với một tâm hồn minh mẫn trong một thân thể khỏe mạnh. Thái tử đã nhận bát sữa cúng dường của thôn nữ Su-Dà-Đa (Sujàta), xuống tắm tại dòng sông Ni-Liên-Thiền (Neranjrà), rồi đến ngồi dưới cây Tất-Bát-La (Pipala) chánh niệm tỉnh giác.

VIII- Thành đạo:

Sau 49 ngày tịnh tâm, Thái tử đã thắng được cả giặc ở nội tâm lẫn ngoại cảnh, tâm trí được khai thông, Ngài hốt nhiên đại ngộ.

Trong đêm thứ 49, vào lúc canh hai, Ngài chứng quả “Túc Mệnh Minh, thấy rõ được tất cả khoảng thời gian quá khứ của mình trong tam giới.

Nửa đêm chứng quả Thiên Nhãn Minh”, thấy được tất cả bản thể của vũ trụ và nguyên nhân cấu tạo của nó.

Đến canh tư, Ngài chứng quả Lậu Tận Minh”, biết rõ nguồn gốc của khổ đau và phương pháp dứt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Ngài đã đạt được đạo “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”, cũng gọi là Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngày Thành đạo: mồng 8 tháng 12 âm lịch.

Bài I-3 LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI (Tiếp theo)

 

IX- Đức Phật giáo hóa (chuyển pháp luân):

Sau những suy tư, Ngài quyết định truyền bá giáo lý cứu khổ cho thế gian.

Đức Phật nghĩ đến hai vị đạo sĩ đã tận tình hướng dẫn sự tu chứng của mình là Alara Kalama và Uddaka Ràmputtà, nhưng với thiên nhãn Ngài thấy hai vị ấy đã qua đời.

Đức Phật đến vườn Nai (Lộc Uyển) gần thành Bénares (Ba-La-Nại) hóa độ cho năm người trước đây đồng tu tại khổ hạnh lâm: Kiều-Trần-Như, Bạt-Đề, Đề-Bà, Ma-Ha-Nam,Ác-Bệ.

Bài thuyết pháp đầu tiên là Tứ Đế, Đức Phật khuyên các vị tu sĩ trong khi tu hành không nên mắc vào hai cực đoan:

- Không nên đam mê vào thú vui nhục dục của thế gian. Vì đó là cái tầm thường, nhất thời, ngăn cản mọi sự tiến bộ tâm linh.

- Không nên khổ hạnh ép xác, vì nó làm mệt mỏi tâm thần, mê mờ trí tuệ, tổn hại bản thân.

Đức Phật dạy nên đi theo con đường trung đạo, dẫn đến cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt, giải thoát.

  1. Bốn chân lý cao cả (Tứ Đế):
  2. Chân lý về sự khổ (Khổ Đế): Mọi người sanh ra không ai thoát khỏi khổ đau: Sanh, già, bệnh, chết, các tai ương hỏa, thủy, phong oán cừu gặp nhau…
  3. Chân lý về nguyên nhân của khổ (Tập Đế): Tất cả nguyên nhân bắt nguồn từ tham, sân, si tích luỹ qua nhiều đời, nhiều kiếp mà thành.
  4. Chân lý về sự diệt khổ (Diệt đế): Muốn được cảnh giới tịch diệt phải tu đạo giải trừ tham, sân, si.
  5. Chân lý về con đường diệt khổ (Đạo đế): Đi theo con đường Bát chánh, tu tập Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần.v.v...

Đức Phật dạy: nếu thấu hiểu Bốn Thánh Đế một cách rốt ráo mới giải thoát.

  1. Tám con đường chánh:
  2. Chánh kiến: Thấy biết chân chánh, chính xác.
  3. Chánh tư duy: Suy nghĩ chân chánh, tư duy chân chánh.
  4. Chánh ngữ: Nói năng chân chánh, không nói lời độc ác, chia rẽ vô nghĩa.
  5. Chánh nghiệp: Việc làm phải chánh đáng, không làm những việc hại người, hại mình.
  6. Chánh mạng: Sinh sống với những nghề chơn chánh, không làm những nghề bất lương, lừa đảo…
  7. Chánh tinh tấn: Siêng năng chân chánh, diệt bỏ những điều bất thiện, làm những điều lành.
  8. Chánh niệm: Nhớ nghĩ chân chánh, không nghĩ điều tà vạy, mê lầm.
  9. Chánh định: Tập trung tư tưởng chân chánh, không để tư tưởng tán loạn, chạy theo dục vọng.

X- Hóa độ vị xuất gia đầu tiên Da-Xá (Yasas):

Da-Xá là con trai của một triệu phú gần thành Ba-La-Nại, chán cuộc đời đầy xa hoa, phú quý tầm thường ở đời. Da-Xá tìm đến Đức Phật nghe thuyết Bát chánh đạo, Tứ đế… thấu đạt đạo lý liền xin Phật xuất gia. Đây là đệ tử xuất gia đầu tiên.

XI- Hóa độ thiện nam, tín nữ đầu tiên:

Câu-Lê-Da - thân phụ của Da-Xá đi tìm con, khi đến vườn Nai nghe pháp, nghe đức Phật dạy về công đức trì giới, bố thí liền phát tâm quy y làm đệ tử tại gia. Hôm sau, Câu-Lê-Da thỉnh Phật và 6 vị đệ tử về nhà cúng dường, vợ Câu-Lê-Da thấy Phật tướng hảo trang nghiêm, noi gương chồng xin Phật quy y. Đây là vị đệ tử nữ đầu tiên. Lúc bấy giờ, bạn bè, nam nữ gồm 50 vị xin quy y Phật.

Bài I-4 LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI (Tiếp theo)

 

XII- Hóa độ ba anh em ông Ca-Diếp:

Trong khu vực Ưu-Lâu-Tần-Loa (Uruvela) nơi Đức Phật giáo hoá, có ba anh em ông Ca-Diếp: Ưu-Lâu-Tần-Loa Ca-Diếp (Uruvels Kassapa), Na-Đề Ca-Diếp (Nadi Kassapa) và Dà-Da Ca-Diếp (Gaya Kassapa) theo đạo Bái Hỏa (thờ thần lửa) có hàng ngàn đệ tử. Phật quyết đưa họ về nẻo chánh nên lập tâm nhiếp phục. Nhận thức được chánh lý ba anh em và các đệ tử đều quy y Phật.

XIII- Thâu nhận Xá-Lợi-Phất (Sariputà) và Mục-Kiền-Liên (Mogallàna):

Sariputà là một chàng trai thông minh thuộc gia đình quyền quý ở làng Upatissa kết bạn thân với Mogallàna ở làng Kolita. Hai người thường luận bàn cuộc sống và đồng nhận thức thú vui vật chất chỉ là tạm bợ, vô vị. Hai vị quyết xa gia đình tìm đạo lý, sau khi tiếp xúc với các vị danh sư nhưng không thỏa mãn, nên chia tay và hẹn nếu ai tìm được con đường đạo sẽ báo cho nhau. Sariputà được Sa môn Ác-Bệ (Assaji) hướng dẫn tóm tắt giáo lý qua bài kệ đã học từ Đức Thế Tôn: “Các pháp do nhân duyên sanh, duyên ấy Như lai đã chỉ rõ và phương pháp chấm dứt”. Là người thông tuệ nên Ngài đã thấu triệt chân lý, theo lời giao hẹn để cùng Mogallàna đến xin làm đệ tử Phật. Hai vị đều chứng quả A-La-Hán và trở thành thượng thủ trong Tăng đoàn.

XIV- Quy y cho vua Tần-Bà Sa-La:

Vua Tần-Bà Sa-La nước Ma-Kiệt-Đà trước đây đã tha thiết yêu cầu Thái tử Tất-Đạt-Đa ở lại cùng nhau trị dân, nhưng Thái tử không nhận, chỉ tìm đạo giải thoát là mục đích chính. Vì vậy, Vua Tần-Bà Sa-La nói: Nếu tìm được đạo giải thoát nhớ đến hóa độ cho nhà vua. Do đó đức Phật trở lại Ma-Kiệt-Đà để hoá độ cho nhà vua.

XV- Quy y cho vua Ba-Tư-Nặc:

Vua Ba-Tư-Nặc nước Xá-Vệ nghe nhân dân bàn tán nên đã cùng bá quan đến Kỳ-Viên yết kiến Phật. Ông là người cống cao ngã mạn nên khi gặp Phật đã tỏ ý khinh thị. Những người tu hành xưa nay phải khổ hạnh trong rừng sâu, tóc bạc, răng rụng, nhiều người chưa chứng được quả, Ngài đã chứng rồi sao?

- Thưa Đại vương! Nhiều người xưa nay với thói quen hay khinh thị, miệt thị tuổi trẻ. Đại vương nên biết thế gian có 04 điều không thể khinh thị: Vương tử hài nhi - Rồng con mới đẻ - Tàn lửa cỏn con - Tu sĩ thiếu niên.

Vua Ba-Tư-Nặc nghe Phật giảng dạy, thấu đạt đạo lý, xin phát nguyện quy y, sau trở thành một trong các đệ tử hộ pháp đắc lực.

XVI- Phật giáo hóa vua Tịnh-Phạn và các Vương tử:

Vua Tịnh-Phạn thất vọng trước sự trở về của Thái tử Tất-Đạt-Đa với bình bát và đoàn tùy tùng xin ăn khắp xóm, cả những nhà ty tiện Thủ-Đà-La. Tịnh-Phạn vương đến bảo: “Con mau lên xe nhập cung”.

Đức Phật từ chối: “Bần đạo không còn là Thái tử Tất-Đạt-Đa. Xin ngài để bần đạo theo nề nếp tổ truyền, thừa kế pháp tông của chư Phật”.

Vua Tịnh Phạn: “Tổ truyền của người là làm vua trong cung cấm. Tổ tiên của người đâu có đi lang thang khất thực đầu đường cuối ngõ như vậy”.

Sau những sự giảng dạy của Đức Phật, Tịnh-Phạn vương thấu đạt tình lý nên dắt tay nhau cùng các Vương tử về vương cung. Đức Phật giảng dạy cho mọi người nghe lý do Ngài xuất gia, cùng việc làm của Ngài và chúng Tăng.

Tịnh-Phạn vương, vương tộc và bá quan sau khi lãnh hội đều hoan hỷ, tán thán và phát nguyện xin quy y.

XVII- Các Tịnh xá đầu tiên:

Cảm mến đức độ của Phật và chư Tăng, để tránh bớt mưa nắng, Vua Tần-Bà Sa-La cho xây Tịnh xá trong vườn Trúc-Ca-Đà cạnh thủ đô Vương-Xá lấy tên là “Trúc Lâm Tịnh Xá” thỉnh Phật và chúng Tăng về thường trú tại đó.

Trưởng giả Cấp-Cô-Độc được sự hoan hỷ phát tâm của Thái tử Kỳ-Đà nên xây dựng một Tịnh xá tại nước Kiều-Tất-La, thủ đô Xá-Vệ trong vườn rộng rãi, phong cảnh kỳ thú của Thái tử Kỳ-Đà nên gọi là Tịnh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên, gọi tắt là Tịnh xá Kỳ viên.

Từ nay, nhân dân và ngoại đạo thường đến hai tịnh xá này học, chất vấn nên trở thành trung tâm truyền bá của Phật Giáo lúc bấy giờ.

XVIII- Vị Tỳ kheo ni đầu tiên:

Một hôm, bà Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề dẫn 500 phụ nữ trong dòng họ đến rừng Ni-Câu-Đà, ngoài thành Ca-Tỳ-La cúng dường Phật và chúng Tăng. Phật tán thán sự bố thí của bà và các vị thí chủ. Nhân dịp này bà Ma-Ha xin phép được cùng 500 phụ nữ xuất gia thọ Cụ túc giới như phái nam. Ba lần cầu thỉnh, ba lần bị cự tuyệt. Với sự thỉnh cầu của Ngài A-Nan, về sau Đức Phật chế thêm một số giới luật cho phái nữ thọ trì Bát Kỉnh Pháp, chấp thuận cho bà Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề và các phụ nữ được xuất gia. Bà Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề trở thành vị Tỳ kheo ni đầu tiên trong hàng đệ tử xuất gia của Phật.

XIX- Đệ tử và lời giáo huấn cuối cùng:

Trên đường tiến về hướng Bắc, đến rừng Sa La Song Thọ ở thành Câu-Thi-La, đức Phật và A-Nan dừng chân lại nhà ông Thuần-Đà-Ma-Da (Cunda) thọ bát cháo nóng do Chiên-Đà-Nhỉ cúng dường (đệ tử của Thuần-Đà-Ma-Da). Sau đó Ngài tiếp tục hành hoá đến rừng Sa La Song Thọ.

Nghe tin Phật sắp nhập Niết bàn, vị Bà-La-Môn trên 100 tuổi đến xin Phật quy y. Phật chấp nhận và giảng Bát Chánh Đạo cùng Tam Pháp Ấn. Tu-Bạt-Đà-La liễu ngộ liền chứng đạo quả. Đây là vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật.

Trước khi thị hiện Niết bàn Đức Phật dạy: Các vị có gì chưa thấu đạt ta sẽ hướng dẫn không nên bi ai quyến luyến, hữu tình hữu tội là lẽ đương nhiên.

A-Nan bạch Phật: Sau khi Phật nhập Niết bàn chúng đệ tử sẽ nương tựa vào đâu? Đức Phật dạy rằng: “Pháp là vị Thầy của các ngươi. Hãy nên nương tựa vào Pháp”.

Bài I-5 Ý NGHĨA GIỚI LUẬT

 

Giới là một trong ba môn học: Giới, Định, Tuệ. Ba môn học này còn gọi là Tam vô lậu học. Ba môn học này có công năng đoạn trừ lậu hoặc, vượt khỏi sự trói buộc của ba cõi.

I- Ý nghĩa giới luật:

Thường chúng ta hiểu Giới là Luật, Luật là Giới. Nhưng Giới là Luật, Luật là Giới sao không gọi là Giới tạng mà chỉ gọi Luật tạng? Bởi Giới chưa hẳn có Luật mà Luật thì phải có Giới. Giới Luật y như một thang thuốc, Giới như vị thuốc còn Luật như thang thuốc. Có thang thuốc 5 vị, có thang thuốc 10 vị… Vậy theo ý nghĩa Giới Luật là gì?

- Chữ Luật có 4 tên gọi:

  1. 1. Tỳ-Ni hay Tỳ-Nại-Da, phiên âm từ chữ Vinaya dịch là Luật hay Điều phục. Điều phục những sai trái nơi thân, miệng, ý. Cũng có nghĩa là diệt, diệt trừ phiền não.
  2. Mộc-Xoa hay Ba-La-Đề-Mộc-Xoa, tiếng Phạn là Pràtimoksa dịch là Biệt giải thoát.
  3. Thi-La (Sila) dịch là Giới.
  4. Ưu-Ba-La-Xoa (Uparakasa) dịch là Luật.

- Trong Luật tạng cũng có định nghĩa:

Giới: Là phòng phi chỉ ác (ngừa điều quấy, dứt điều ác).

Luật: Xử, đoán, khinh, trọng, khai, giá, trì, phạm.

Nói cách khác, Giới là những điều ngăn ngừa những hành động sai trái, dứt trừ mọi xấu ác. Luật là những pháp luật nguyên tắc mà chúng ta noi theo để chỉnh đốn các hành vi, lời nói cho đúng với khuôn phép, phân xử tội nào nặng, tội nào nhẹ, thế nào là phạm, thế nào là không phạm.

Chữ Giới còn có nghĩa là Biệt giải thoát hay Xứ xứ giải thoát (giải thoát riêng từng phần), tức là giữ giới nào giải thoát giới ấy. Nó còn có nghĩa là trói buộc các hành động của thân khẩu không cho rơi vào đường ác.

II- Thời gian và lý do Phật chế giới:

Theo Luật tạng, đến năm thứ 13 sau ngày thành đạo, giới luật mới được Đức Phật chế định.

Vì sao giới luật không được chế định ngay từ khi Phật thiết lập Tăng đoàn?

Theo truyền thống chư Phật, các Đức Thế Tôn chỉ thiết lập các giới điều khi nào thấy cần thiết, tức khi có hiện tượng vi phạm gây nên ảnh hưởng không tốt cho sinh hoạt của Tăng đoàn thì Phật mới kiết giới, chế định một giới điều để ngăn ngừa hiện tượng xấu ấy không còn xảy ra về sau.

Cũng vậy, trong những năm đầu chư Tỳ kheo sinh hoạt thanh tịnh trong khuôn khổ của chánh pháp, nên Phật không đề cập đến giới bổn mà chỉ dạy dưới hình thức đơn giản và tổng quát nhằm mục đích hộ trì các căn như về chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng… Mãi đến năm 13, sau khi Phật thành đạo, Tăng đoàn lúc bấy giờ đông đảo, khó tránh khỏi sự sinh hoạt vượt ra ngoài đời sống phạm hạnh, do đó Phật mới chế định giới điều.

III- Mục đích Phật chế giới:

Phật nói ra điều gì cũng nhằm vào sự an lạc, giải thoát cho hàng đệ tử, không bao giờ Phật nói điều gì không có ích, dù đó là một sự thật. Do vậy, giới luật Phật chế định cũng nhằm vào 10 lợi ích sau đây:

  1. Nhiếp thủ ư tăng: Ai thọ trì giới pháp của Phật thì người đó gọi là Tăng.
  2. Linh tăng hoan hỷ: Nhờ có giới pháp mà chư Tăng tu hành nghiêm túc, sống đời phạm hạnh, tránh mọi tội lỗi, nhờ đó khiến chư Tăng hoan hỷ.
  3. Linh tăng an ổn: Nhờ có giới pháp mà Tăng được an ổn. Trong Tăng đoàn, ai ai cũng giữ giới thanh tịnh, an lạc thì thành một đoàn thể thanh tịnh, an lạc.
  4. Linh vị tín giả tín: Khiến người chưa có lòng tin phát khởi lòng tin. Tăng già là hình ảnh của Đức Phật tại thế gian. Tăng có trang nghiêm thanh tịnh thì mới thành Tăng Bảo, mà Tăng trở thành Tăng Bảo thì bấy giờ Tăng mới là chỗ quy ngưỡng của tín đồ, làm phát lòng tin cho tín đồ.
  5. Dĩ tín giả linh tăng trưởng: Khiến cho người có lòng tin càng tin hơn. Một vị Tăng có đầy đủ phạm hạnh sẽ làm phát khởi lòng tin, mà đã tin rồi thì lòng tin càng kiên cố hơn.
  6. Nan điều giả linh điều: Người khó điều phục được điều phục. Giới luật là cây thước để đo hành động, lời nói của mọi người, nhờ giới luật mà trị phạt những hạng khó điều phục, mặc tẩn những kẻ ương ngạnh, ngoan cố.
  7. Linh tàm quý giả đắc an lạc: Khiến người có tàm quý được an vui. Người trì giới dù phạm một loại nhỏ cũng sanh lòng sợ hãi, đó là người biết tàm quý. Người có tàm quý là người được an lạc và cũng là niềm an lạc cho cả chúng.
  8. Đoạn hiện tại hữu lậu: Nhờ giới mà đoạn trừ được hữu lậu ở hiện tại.
  9. Đoạn vị lai hữu lậu: Giữ giới trừ được hữu lậu hôm nay mà cũng trừ được phiền não cho ngày mai bởi phiền não ngày nay là mầm móng cho ngày sau.
  10. Linh chánh pháp cữu trụ: Khiến cho chánh pháp tồn tại lâu dài ở thế gian.

Nếu không có giới luật thì Tăng già không thành Tăng già, cư sĩ không thành cư sĩ, mà đã như thế thì không có người truyền trì, mạng mạch đạo pháp làm sao tồn tại ở thế gian, vì “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp”.

  1. Nội dung các loại giới:

Có nhiều hình thức phân loại giới, ở đây chia làm 2 loại: Biệt Giới Thông giới.

Biệt giới là giới của hàng xuất gia, giới của hàng Thanh Văn. Tỳ kheo 250 giới, Tỳ kheo ni 350 giới, Sa di 10 giới, Sa di ni 10 giới, Thức xoa 6 giới, Cư sĩ 5 giới.

Thông giới tức là Bồ Tát giới. Ai thọ cũng được: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức xoa, Cư sĩ, Trời, Rồng…đều được thọ. Miễn là người thọ giới hiểu và nghe được vị thầy truyền giới, không kể kẻ tật nguyền, thân căn không đủ cũng được thọ gọi là Thông giới. Giới này từ khi thọ cho đến khi thành Phật không mất, miễn đừng làm mất tâm Bồ đề. Còn Biệt giới chỉ tận hình thọ, khi chết hoặc thay đổi giới tánh thì mất giới.

V- Tính chất và nền tảng:

Cứ theo từng giới cấm một, cũng như toàn thể giới bổn đặc biệt là 10 giới chung căn bản cho người tại gia và xuất gia liên hệ đến thân, khẩu, ý. Chúng ta có thể tìm ra tính chất và nền tảng của giới.

Ở đây đơn cử giới sát, căn bản của giới này là không giết người, thứ đến là không giết hại các loài sinh vật khác. Khi giữ Giới này thì ngăn ngừa được sân tâm, nuôi dưỡng từ tâm, khiến cho tâm được an tịnh, an lạc ngay trong hiện tại; từ đây người giữ giới không tạo các nghiệp ác để tránh thọ quả báo khổ trong tương lai. Về phần chúng sanh khác khi mình giữ giới không sát sanh thì đời sống của chúng được bảo đảm an toàn …Kết quả việc giữ giới, tính chất của nó đem lại an lạc cho mình và cho người, điều hòa được tập thể, tạo được lòng tin cho kẻ khác, đem lại an lạc và giải thoát cho tự thân người giữ Giới, ấy là trí tuệ, đem lại an lạc cho tha nhân ấy là từ bi. Trí tuệ và từ bi là nền tảng mà trên đó giới được kiết tập.

Hướng đi của Giới là đem lại lợi ích an lạc cho mình và cho người. Giới là bảo vệ, giới giúp người tu hành thân tâm an lạc trong từng bước đi. Giới đúng nghĩa của nó không có ý nghĩa nào trói buộc cả. Ngoài một số hành động nếu làm hẳn nhiên phá đổ hạnh thanh tịnh nên tuyệt đối bị cấm. Ngoài ra các sinh hoạt khác của người tu tập giải thoát đều được tùy duyên khai mở.

Như vậy giới luật trong Phật pháp không mang tính cố chấp mà ý nghĩa tự nguyện, thiết thực đem lại lợi lạc cho mình và cho người nhằm nuôi dưỡng tín tâm cho mình và cho người.

(Tài liệu học tập cho lớp Phật pháp cư sĩ áo lam TP. Nha trang soạn theo “Cương Yếu Giới Luật” của HT. Thích Thiện Siêu)

Bài I-6 NGŨ GIỚI

-Thích Huệ Giáo-

Để trở thành một người Phật tử, việc phát nguyện Quy Y Tam Bảo và giữ gìn Ngũ Giới là việc làm đầu tiên. Do đó, chúng ta cần phải học để hiểu, để thực hành hầu mang lại nhiều lợi lạc cho chính chúng ta, gia đình và khả dĩ kiến tạo một xã hội tốt đẹp.

I- Ngũ giới

Ngũ Giới là năm điều răn cấm mà Đức Phật đã chế ra dành cho Phật tử tại gia, là nền tảng để bước lên những giới pháp rộng lớn hơn. Ý nghĩa của năm giới, Đức Phật đề ra mục đích giúp cho người con Phật ngăn ngừa những ý tưởng xấu ác, những hành động bất chánh và những lời nói thiếu cẩn trọng hại mình hại người.

Giới nhà Phật mục đích khiến mỗi người tự hoàn thiện lấy mình và hướng tới một con người toàn diện, chân - thiện - mỹ. Giới nhà Phật không phải là sự bắt buộc, áp đặt vào một ai mà chính là sự tự nguyện của mỗi người. Đức Phật không phải là một vị thần linh tối cao, cũng chẳng phải là vị quan tòa cầm cân nảy mực mang tích chất thưởng phạt. Đức Phật chỉ là một vị Thầy dẫn đườngcho chúng ta thấy đâu là con đường trong sáng, cao thượng cần phải đi và đâu là con đường tối tăm cần phải tránh.

Năm giới chính là thành trì để ngăn chặn ba nghiệp thân, miệng, ý của chúng ta. Sống và thực hành giữ gìn năm giới này chúng ta không rơi xuống vực sâu của tội lỗi, nghiệp chướng. Do đó, giới mang một tinh thần đặc biệt; người mà giữ được giới nào thì có an lạc và giải thoát ở giới đó. Càng khép mình trong nhiều giới thì chúng ta càng không gây những nghiệp nhân cũng như nhận lấy những nghiệp quả, có một đời sống thật trong sáng, không sợ hãi. Năm điều ấy là:

  1. Không được giết hại.
  2. Không được trộm cắp.
  3. Không được tà dâm.
  4. Không được nói dối.
  5. Không được uống rượu.

II- Năm giới:

  1. Không được giết hại: Phật khuyên chúng ta không được giết hại sinh mạng từ loài nhỏ cho đến loài lớn, từ loài người đến loài vật. Vì rằng, chúng sanh ai cũng tham sống sợ chết. Sinh mạng có giá trị cao quý, phải được tôn trọng. Giết loài vật để phục vụ cho loài người là điều không thích hợp.

Đạo Phật cấm giết hại với nhiều lý do sau:

  1. Tôn trọng sự sống, sự cân bằng của loài khác: Sinh mạng là báu vật tuyệt đối mà tất cả chúng ta ai cũng muốn gìn giữ. Quý trọng sinh mạng mình lại muốn chà đạp lên sinh mạng người khác là điều vô lý. Đức Phật dạy: “…ai cũng sợ chết. Vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết”.
  2. Nuôi dưỡng lòng từ: Lòng từ bi của Đức Phật xem tất cả mọi loài như con, ai cũng có nỗi khổ và có quyền hạnh phúc. Học đức tánh từ bi của Ngài, là người Phật tử chúng ta không nên giết hại sinh vật bất cứ trong trường hợp nào. Vì lòng từ bi chúng ta không nỡ thấy con vật đau đớn, nghe tiếng kêu la khổ sở. Do đó, chúng ta không nỡ ăn thịt, không nỡ giết hại.
  3. Tránh nhân quả báo ứng: Để tránh nhân sát hại cũng như nhận lãnh quả báo giết hại. Chúng ta thực hiện không giết hại sẽ có lợi ích sau:

* Phương diện cá nhân: Không sát hại, không mang tâm tàn sát lẫn nhau thì chúng ta có được tâm thái không sợ sệt, hối hận, ngủ được yên giấc, nhẹ nhàng.

* Phương diện xã hội: Người người không giết hại nhau, nhà nhà không giết hại nhau, xã hội không có chiến tranh, thế giới hoà bình, an lạc.

  1. Không được trộm cắp: Trộm cắp là lấy những vật thuộc sở hữu người khác không được phép, không ưng thuận của người có vật đó, hoặc cưỡng ép, bức bách hay lừa đảo họ để lấy.

Vì những lý do sau Đức Phật cấm đệ tử của Ngài không được trộm cắp:

  1. Tôn trọng sự công bằng - quyền sở hữu: Chúng ta không muốn ai lấy những gì thuộc về mình. Do đó, mang tâm lấy của người khác là một điều nghịch lý. Một xã hội văn minh, con người có tri thức thì không thể tồn tại những nghịch lý này. Xã hội thiếu công bằng, tôn trọng thì dễ dàng dẫn tới một xã hội luôn hiện hữu chiến tranh và cấu xé lẫn nhau.
  2. Vì lòng từ bi: Chúng ta sẽ đau khổ khi mất mát tiền bạc, của cải, vậy người khác cũng thế. Vì lòng thương yêu chúng ta không làm việc này.
  3. Tránh nghiệp quả: Lấy của người khác là một hành động xấu - lòng tham ít được con người chấp nhận - lấy những vật ít giá trị thì trở thành bất tín, vật lớn thì bị tù đày. Người giữ được giới này thì dĩ nhiên không rơi vào những trường hợp trên và không bị khinh thường, tương lai không bị sụp đổ bởi tiếng xấu.
  4. Xây dựng xã hội thanh bình: Nếu con người sống trong xã hội ý thức và giữ gìn giới này chắc chắn có một xã hội mà ở đó con người không lo âu, phập phòng trong đời sống bởi sự mất mát, không có kẻ nhìn ngó đến tài sản của mình.
  5. Không được tà dâm: Tà dâm là muốn nói sự dâm dục không đoan chính. Khởi tâm dâm dục với vợ (hoặc chồng) người, lén lút lang chạ với người khác gọi là tà.

Phật cấm hàng cư sĩ tại gia không được tà dâm với mục đích để tôn trọng hạnh phúc của mọi người, bảo vệ hạnh phúc gia đình mình và gia đình người khác. Tránh oán thù và gieo quả báo xấu xa, đen tối.

  1. Phương diện cá nhân: Lợi ích của việc giữ giới thứ ba được diễn tả trong kinh Thập Thiện như sau:

- Sáu căn được vẹn toàn.

- Trọn đời được kính trọng.

- Không có phiền lụy quấy nhiễu.

- Gia đình hạnh phúc, không ai xâm phạm.

  1. Phương diện xã hội: Lợi ích không tà dâm được biểu hiện rõ rệt trong một xã hội không có thù hằn giữa vợ chồng này với vợ chồng khác, trẻ em không bị bỏ rơi bởi cha mẹ chúng tham dâm và xã hội sẽ cường thịnh.
  2. Không được nói dối: Nói sai sự thật, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác.
  3. Nói sai sự thật: Nói lời không thật, nói ngược vấn đề, có nói không, không nói có, trái nói phải, phải nói trái. Tóm lại, ý nghĩa và lời nói không đi đôi với nhau.
  4. Nói thêu dệt: Nói cho người nghe xiêu lòng, khó xử, nói cho người nghe mát dạ.v.v… tất cả đều là thêu dệt.
  5. Nói lưỡi hai chiều: Đến bên này thì hùa theo nói xấu bên kia, qua bên kia thì ngược lại, tạo thêm sự oán thù, hiểu nhầm giữa hai bên, ngăn cách sự hòa hợp.
  6. Nói lời hung ác: Là lời nói cộc cằn, thô tục, chửi rủa làm cho người nghe đau khổ, buồn rầu, chán nản, sợ hãi…

 

Phật cấm nói dối với những lý do sau đây:

  1. Tôn trọng sự thật: Người Phật tử phải tôn trọng sự thật, nói sai sự thật sẽ bị trở ngại đường đạo - con đường đi tìm xứ Phật.
  2. Vì lòng từ bi: Nói để dẫn người khác đến đau khổ oán thù với nhau, dẫn đến người khác vì lời nói của mình lắm lúc phải bức tử. Đó là thiếu tình thương, lòng từ bi. Là Phật tử phải nuôi dưỡng lòng từ.
  3. Xây dựng sự trung tín: Từ cá nhân gia đình đến xã hội không ai tin mình, không ai tin ai thì sẽ không thành tựu được công việc, từ việc lớn đến việc nhỏ.
  4. Tránh nghiệp báo khổ đau: Con người sở dĩ hại mình từ miệng là do trong lời nói chứa đầy lưỡi dao. Là Phật tử, không nên sống như thế, chỉ tạo nghiệp báo.

Lợi ích không nói dối từ cá nhân đến xã hội:

Cá nhân được tôn trọng không gây oán thù, được tin cậy trong giao dịch, xã hội gắn bó, yêu thương và thông cảm.

  1. Không được uống rượu: Nghĩa là không được uống những chất kích thích, làm say người. Không uống, không ép người uống, không khuyến khích người khác uống say để làm não loạn tâm trí của họ. Uống để chữa bệnh thì có thể được. Đức Phật cấm hàng Phật tử không được uống rượu vì những lý do sau:
  2. Nuôi dưỡng hạt giống trí tuệ: Có rất nhiều người vì uống rượu tự biến mình thành kẻ sống như đã chết. Chết mất sự hiểu biết, cuồng loạn tâm trí, lay lất không định hướng. Nhiều lúc thuốc độc vẫn không nguy hiểm bằng rượu. Vì thuốc độc chỉ hại chết một đời người, nhưng rượu làm tiêu tan hạt giống trí tuệ, phải chết đi sống lại nhiều lần.
  3. Ngăn ngừa những nguyên nhân tội lỗi: Uống rượu không chỉ phạm vào giới uống rượu mà còn có thể phạm vào nhiều giới khác nữa bởi lẽ không làm chủ được thân và tâm.

Lợi ích không uống rượu:

  1. Về cá nhân: Vun trồng được hạt giống trí tuệ, giữ gìn sức khoẻ, tránh bệnh tật, tâm trí được tỉnh táo.
  2. Phương diện quần thể: Gia đình yên vui, con cái ít bệnh tật, xã hội an hoà.

III- Kết luận:

Giới trong nhà Phật chính là để: “Phòng phi chỉ ác” nghĩa là ngăn ngừa những hành động phi pháp, ngăn chặn những hành động độc ác. Chính đó là căn bản của giải thoát.

Giới là một trong ba môn học: Giới - Định - Tuệ, con đường dẫn tới Niết bàn an lạc.

Giới là giềng mối để thiết lập con người, gia đình và xã hội toàn thiện.

Bài I-7 BÁT QUAN TRAI GIỚI

-HT. Thích Huệ Quang-

 

Lời nói đầu:

Đức Phật dạy: “Sau khi Ta nhập diệt, các đệ tử nên tôn trọng Ba-La-Đề-Mộc-Xoa. Như tối gặp sáng, như nghèo gặp của báu, phải biết đó là bậc Thầy. Nếu Như Lai ở đời thì cũng không khác vậy”.

Nay chúng ta phát tâm tu học Phật, mong cầu giải thoát và chứng Thánh quả, song không chỉ mong cầu là được mà cần phải thực hành thực tiễn. Thực hành không ngoài hai phương diện: “Hành thiện và đoạn ác”. Nếu ác pháp không đoạn thì thiện pháp khó sanh. Do đó, đức Như Lai chế ra giới, làm cửa ngõ để vào đạo tu học, nền tảng cho các hạnh lành, mà cũng là bức thành che chắn khỏi bị thiên ma phá hoại.

Đối với Phật tử tại gia, ngoài 5 giới căn bản, còn có Tam tịnh giới, Bát quan trai giới.

  1. Bát quan trai giới: Là nhân xuất gia, gieo duyên với Tam bảo.
  2. Bát quan trai giới: Là nhân Phật quả, nên duyên với Phật bảo.
  3. Bát quan trai giới: Là nhân pháp xuất thế, nên duyên với Pháp bảo.
  4. Bát quan trai giới: Là nhân cho pháp xuất gia, nên duyên với Tăng bảo.

Đây là một chân thật pháp môn tu để đạt đến Thánh quả.

Đức Phật vì hàng tại gia học Phật ở tại nhà tuy vẫn tu học được, song vì quyến thuộc bao quanh, ân ái ràng buộc trở ngại cho việc tu trì (đây chưa nói ngũ dục hoan lạc) cho nên ngài chế Bát Quan Trai giới để cho người tại gia tu tập trong một ngày một đêm. Thực hành hạnh xuất gia để gây nhơn xuất thế vậy.

Tại sao pháp Phật coi trọng công đức xuất gia quan trọng như vậy? Bất luận Thánh quả của hàng Đại hay Tiểu thừa cũng đều do xuất gia mới hoàn thành. Ba đời chư Phật không có vị nào không xuất gia mà không thành Phật cả. Vậy chúng ta học Phật, mong mỏi tương lai thành Phật, nếu không phát tâm xuất gia làm sao thành tựu được mục đích.

Thí dụ như: Sẽ chứng được quả A La Hán mà không xả nổi mái tóc để xuất gia thì chỉ dừng ở Tam quả. Vậy phải biết xuất gia mới đạt được quả vị cao nhất của cả Đại và Tiểu thừa.

Chú thích danh nghĩa:

Bát quan trai giới

Bát : Là chỉ số, là 8.

Quan : Là cửa, là đóng kín.

Trai : Là thanh tịnh, trinh khiết.

Giới : Răn ngừa.

Bát quan trai giới là tám cửa để ngăn ngừa sự sai quấy, để thân tâm được thanh tịnh. Phật chế Bát Quan Trai Giới cho người Phật tử tại gia thọ trì tu tập, huân chủng công đức, tăng trưởng nhơn xuất gia, còn gọi là Trưởng dưỡng luật nghi, hay Cận trụ luật nghi.

  1. Trưởng dưỡng luật nghi:

Do thường tu Bát quan trai giới, tức là tu niệm theo hạnh xuất gia. Sống theo hạnh xuất gia lâu ngày, cảm nhận đời sống xuất gia, trưởng dưỡng căn lành, nên gọi là trưởng dưỡng luật nghi.

  1. Cận trụ luật nghi:

Là thân cận an trụ nơi đạo tràng Tam Bảo làm quy tắc xuất gia. Tuy hiện chưa xuất gia nhưng tu Bát Quan Trai Giới là chủng thắng nhơn cho việc xuất gia, tuy thọ một ngày đêm, nhưng nhiều lần tựa hồ như gần gũi hàng xuất gia, làm phương tiện xuất gia trọn đời.

Chế lập danh tự:

Tám giới còn gọi là Bát phần giới, hay Bát chi giới. Bát quan trai giới gồm:

  1. Không được sát sanh.
  2. Không được tham lam trộm cắp.
  3. Không được dâm dục.
  4. Không được nói dối.
  5. Không được uống, bán rượu.
  6. Không được trang sức, thoa dầu thơm, ướp phấn sáp vào mình.
  7. Không được nằm ngồi giường cao, chiếu tốt, ca, hát, xem, nghe.
  8. Không được ăn phi thời.

Công đức thọ Bát Quan Trai Giới thuộc vô lậu, là Đại thừa nên công đức hữu lậu thế gian không thể so được.

Hữu lậu (5 giới cúng dường, bố thí… phước báo nhơn thiên, Đức Phật nói với Đế Thích).

Công đức của người thọ trì Bát Quan Trai Giới đủ chứng được quả Bồ Đề xuất thế của Tam Thừa Thánh quả, như bậc A-La-Hán xả gánh nặng sanh tử; bậc Bồ Tát thế gian (Thế gian Bồ Tát giới giả thị) như vậy công đức thù thắng của Bát Quan Trai Giới thực sự không thể nghĩ bàn.

Tuy nhiên, người thọ Bát Quan Trai Giới phải tinh niệm tương tục trong thời gian thọ trì. Tất nhiên giới đức trang nghiêm nhờ đó đạt được đại quả.

Kinh Đại Bửu Tích (phẩm Vô Lượng Thọ, trang 42, quyển 1 bìa mỏng), Đức Phật nói: “Này A Nan, chúng sanh ở mười phương, người và chư Thiên nguyện cầu về nước an lạc của Đức Vô Lượng Thọ thời có ba hạng:

  1. Hạng người bỏ nhà lìa ái dục làm Sa môn, phát tâm Bồ Đề tu tập các công đức và chuyên niệm danh hiệu của Đức Vô Lượng Thọ.
  2. Hạng người chí tâm nguyện cầu về nước ấy dù chưa thể xuất gia làm Sa môn. Nhưng phát tâm Bồ Đề tu Bát Quan Trai Giới và chuyên niệm danh hiệu của Đức Vô Lượng Thọ.
  3. Hạng người chí tâm nguyện cầu về nước ấy, một lòng tin Đức Phật chẳng nghi, chẳng trái, phát tâm công đức chú tâm xưng niệm danh hiệu của Đức Vô lượng Thọ”.

Bài I-8 QUY Y TAM BẢO

-Thích Thiện Vinh-

 

Mở đề

Nhân loại chúng ta là những kẻ lữ hành, đã rời quê hương quá xa, quá lâu rồi, nay muốn trở về quê nhà mình, nhưng quên mất lối về. Vậy cần phải nhờ người chỉ lối đưa đường. Đức Phật và chư Thánh Hiền mới đủ sáng suốt để dẫn dắt chúng ta về nhà đúng đích. Vậy, chúng ta hãy về nương nơi Đức Phật, chánh pháp và chư Thánh Hiền Tăng, để thoát khỏi mọi thứ khổ đau, được an vui nhẹ nhàng thanh thoát trên đường về quê cha đất tổ của mình, nơi đây hết sạch sanh tử luân hồi và mọi thứ khổ đau. Sự trở về ấy gọi là Quy y.

  1. Định danh:
  2. Quy y là gì?

Quy : Là trở về.

Y : Là nương tựa.

Quy y là trở về nương tựa nơi mà mình vì si mê lầm lạc, phóng đảng, lìa bỏ ra đi, như đứa con trẻ khờ dại đã rời cha mẹ để đi hoang phá. Bây giờ hết sự dại khờ - do kinh nghiệm khổ đau - quay trở về nương tựa lại dưới bóng hạnh phúc và tình thương yêu của cha mẹ.

Xét cho cùng thì chữ “nương tựa” có hai ý nghĩa:

- Một là nương tựa tạm thời. Như nương tựa tổ ấm bà con, quyến thuộc bạn bè xã hội... luôn luôn bị vô thường, biến dịch chi phối toàn bộ nên không thể nương tựa lâu dài được.

- Hai là nương tựa vĩnh cữu. Đó là nương tựa Tam Bảo, nương tựa tự tánh Tam Bảo, nơi nương tựa tuyệt vời, cùng tột nhất của tất cả chúng sanh.

Chữ Quy Y nguyên dịch nghĩa chữ Nam mô của tiếng Phạn, Quy y cũng có nghĩa là kính vâng hay phục tùng.

  1. Tam bảo nghĩa là gì?

- Tam bảo là ba ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo Tăng bảo.

Ở thế gian vàng bạc, ngọc ngà và danh vọng là quý báu. Nhưng sự thật vàng bạc, danh vọng đâu có thể cứu được con người khỏi khổ sanh, già, bệnh, chết, mà lắm khi lại còn làm cho con người thêm khổ nữa! Còn Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo thì có đủ năng lực dắt dẫn con người ra khỏi những cái khổ nói trên. Bởi thế, người đời mới tôn sùng Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi báu (Tam Bảo).

  1. Phật: Chữ Phật do chữ Phạn Buddha phiên âm ra. Người Tàu dịch là “Giác giả”, người Pháp dịch là L’illuminé. Ba chữ ấy đều dùng một nghĩa: Bậc đã giác ngộ, sáng suốt hoàn toàn về ba phương diện: Tự giác, Giác tha, Giác hạnh viên mãn.

- Tự giác: Tự mình tu chứng, tỏ ngộ chánh pháp, đạt đến quả vị tối thượng thành Phật.

- Giác tha: Là đem cái thực nghiệm tu chứng, tỏ ngộ chánh Pháp của mình mà giảng giải dìu dắt, hướng dẫn chúng sanh cùng tu chứng giác ngộ như mình nên gọi là giác tha.

- Giác hạnh viên mãn: Là hoàn thành hạnh tự giác, giác tha đầy đủ trọn vẹn, nên gọi là giác hạnh viên mãn.

  1. Pháp: Pháp là từ chữ Phạn Dharma mà dịch nghĩa ra. Pháp là phương pháp tu hành mà Phật đã phát huy ra, để diệt trừ mọi mê muội khổ đau và chứng được quả Phật. Ba tạng Kinh điển gọi chung là Pháp.
  2. Tăng: Tăng hay Tăng già là do chữ Phạn Sangha mà phiên âm ra. Tàu dịch là Hòa hợp chúng, nghĩa là một đoàn thể tu hành từ 4 người trở lên, cùng nhau sống chung một chỗ, đồng giữ giới luật của Phật, cùng chia sớt cho nhau một cách hòa thuận những gì đã thâu nhận được từ vật chất cho đến tinh thần.
  3. Quy y Tam Bảo là thế nào?

Quy y Tam Bảo là trở về nương tựa ba ngôi báu: Phật, Pháp, Tăng.

- Tại sao phải quy y Phật?

Vì Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, từ bi vô lượng, phước huệ vô biên, đức hạnh viên mãn. Vì Phật là người dẫn đường vĩ đại nhất, đã có kinh nghiệm bản thân, thoát ra ngoài vòng sinh tử để chứng đạo.

- Tại sao phải quy y Pháp?

Vì chỉ có pháp của Phật mới đầy đủ công năng để đưa chúng ta ra khỏi bể khổ, đến bờ giải thoát.

- Tại sao phải quy y Tăng?

Vì Tăng là những người đã hi sinh gia đình, tiền của, danh vọng... để tình nguyện thay Phật dẫn dắt chúng sanh trên đường đạo.

II. Ba bậc Tam Bảo

Tam Bảo có ba bậc:

- Đồng thể Tam Bảo.

- Xuất thế gian Tam Bảo.

- Thế gian trú trì Tam Bảo.

  1. Đồng thể Tam Bảo:
  2. Đồng thể Phật bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh sáng suốt.
  3. Đồng thể Pháp bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một Pháp tánh từ bi bình đẳng.
  4. Đồng thể Tăng bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể thanh tịnh, sự lý hòa hợp.
  5. Xuất thế gian Tam Bảo:
  6. Xuất thế gian Phật bảo, là chỉ cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật A Di Đà, và tất cả các Đức Phật trong mười phương, ba đời đã tự giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của thế gian.
  7. Xuất thế gian Pháp bảo, là chỉ cho chánh Pháp của Phật có công năng làm cho chúng sanh thoát khỏi sự ràng buộc của thời gian như: Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Lục độ...
  8. Xuất thế gian Tăng bảo, là chỉ cho các vị Thánh tăng đã ra khỏi sự ràng buộc của thế gian như: Đức Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Ca Diếp, A Nan...
  9. Thế gian trú trì Tam Bảo:
  10. Thế gian trú trì Phật bảo, là chỉ cho xá lợi của Phật, các tượng bằng kim khí, gỗ, đất, xi măng, thêu, vẽ, in trên vải, trên giấy hiện đang tôn thờ.
  11. Thế gian trú trì Pháp bảo, là chỉ cho ba tạng Kinh điển: Kinh, Luật, Luận viết, in trên giấy, vải hiện đang đọc tụng.
  12. Thế gian trú trì Tăng bảo, là chỉ các vị tỳ kheo, tu hành chân chánh, đạo đức trong sạch, giữ giới luật nghiêm tinh, tôn thờ lý tưởng giải thoát.

III. Sự Quy Y Tam Bảo:

Khi hiểu Quy y Tam bảo rồi, ta phải thực hành sự quy y.

  1. Sự quy y Phật: Hằng ngày, chúng ta phải nhớ tưởng tới Phật, chiêm ngưỡng, hết lòng lễ bái, cung kính, nguyện trọn đời theo chân Phật. Đó là quy y Phật.
  2. Sự quy y Pháp: Là thường đọc tụng Kinh, Luật, Luận, nghe giảng, tìm học hiểu giáo lý Phật Đà, niệm Phật, bỏ ác làm lành, giữ tâm ý trong sạch.
  3. Sự quy y Tăng: Trọng Phật, kính Tăng là sự kính tín của hàng Phật tử. Chúng ta gần gũi chư Tăng để học hỏi Phật Pháp, tu hành, tâm phải thành kính tôn trọng chư Tăng. Vì Tăng là vị đại diện của Phật, để dẫn dắt chúng ta trên đường diệt khổ được vui.
  4. Lý Quy Y Tam Bảo:

Lý quy y Tam bảo: Nghĩa là nương tựa ba ngôi báu trong tâm chúng ta. Nếu chúng ta chỉ có sự quy y Tam Bảo thì chưa đúng ý nghĩa quy y. Thật thế, bên trong tâm chúng ta cũng có đủ Tam bảo. Chúng ta cần thực hành lý quy y Tam bảo, hay ba tự quy: Tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng.

  1. Tự quy y Phật: Là trở về nương tựa Phật tánh ở nơi chính mình. Phật dạy: “Chúng sanh là Phật sẽ thành”, nên gọi là Tự quy y Phật.
  2. Tự quy y Pháp: Là trở về nương tựa pháp tánh ở nơi mình. Trong tâm ta có đủ pháp từ bi, bình đẳng, nhẫn nhục, tinh tấn... chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy và làm theo đúng, gọi là Tự quy y Pháp.
  3. Tự quy y Tăng: Là trở về nương tựa ông thầy trong tâm mình, tức là đức tánh thanh tịnh, hòa hợp ở nơi mình. Như Tăng già là hiện thân của hòa hợp, thanh tịnh nên gọi là Tự quy y Tăng.

Như thế, chúng ta về nương tựa tánh Phật của mình; về nương tựa pháp từ bi, hỷ xả, bình đẳng ở nơi mình; về nương tựa Tăng là sự hòa hợp thanh tịnh ở nơi mình. Như vậy, gọi là Lý quy y Tam Bảo.

  1. Nghi Thức Quy Y:

Sau khi chúng ta đã hiểu rõ Sự Lý quy y rồi, chúng ta cũng cần biết qua Nghi thức quy y.

  1. Trước tiên phải gội rữa thân tâm cho trong sạch:

Quy y là buổi lễ quan trọng nhất trên đường tu tập của chúng ta. Nó là cuộc khởi hành để đi đến giải thoát. Vì thế, chúng ta không thể xem thường, cử hành một cách bừa bãi được.

Khi muốn quy y, chúng ta phải y phục chỉnh tề, sắm khay lễ, thỉnh chư Tăng đến giới trường, đảnh lễ và cầu xin chư Tăng rũ lòng từ bi truyền trao giới cho mình.

Trước ngày hành lễ, thân tâm chúng ta phải được gội rữa trong sạch, tâm ta phải sám hối cho ba nghiệp thanh tịnh, ta mới đón nhận pháp thanh tịnh cao quý của Tam Bảo.

  1. Phát nguyện:

Đến giờ quy y, chúng ta quỳ xuống, theo lời hướng dẫn của chư Tăng chí thành phát nguyện:

- Đệ tử xin suốt đời quy y Phật.

- Đệ tử xin suốt đời quy y Pháp.

- Đệ tử xin suốt đời quy y Tăng.

Đã phát nguyện quy y, ta biết chắc sẽ không bị đọa vào ba đường ác.

- Đệ tử quy y Phật rồi, khỏi đọa địa ngục.

- Đệ tử quy y Pháp rồi, khỏi đọa ngạ quỷ.

- Đệ tử quy y Tăng rồi, khỏi đọa súc sanh.

Thế là trọn vẹn Tam quy Tam kiết.

Để bảo tồn lý tưởng cao cả của mình và giữ vững đức tin trên đường đạo, người quy y tự nguyện một cách mạnh mẽ và thành khẩn.

- Đệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y trời thần quỷ vật.

- Đệ tử quy y Pháp, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo tà giáo.

- Đệ tử quy y Tăng, nguyện trọn đời không quy y bè đảng xấu ác.

Lễ quy y đến đây đã hoàn tất.

  1. Lợi ích của sự quy y Tam Bảo:

Quy y Tam Bảo có những lợi ích như sau:

- Quy y rồi không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

- Được nơi nương tựa vững chắc nhất cho đời mình.

- Ít lo âu sợ sệt.

- Giảm bớt sự hận thù.

- Giảm bớt tham sân si.

- Trí huệ được tăng trưởng.

- Phước đức càng ngày càng tăng.

- Xa lìa bạn ác, gần gũi bạn lành.

- Được gần các bậc thiện hữu tri thức.

- Thêm lòng từ bi bình đẳng...

Bài I-9 LUÂN HỒI

-Thích Trí Viên-

  1. Mở đề:

Có một số người quan niệm rằng, con người sau khi chết là hết. Một số người lại cho rằng, sau khi con người chết, linh hồn vẫn tồn tại. Giáo lý nhà Phật không chấp nhận các quan điểm trên, mà tùy theo sự tạo nghiệp của chúng ta mà có luân hồi.

Vậy, Phật tử chúng ta tìm hiểu việc này qua lời thuyết minh của Đức Phật Thích Ca sau đây.

  1. Chánh đề:
  2. Định nghĩa:

Luân : Bánh xe xoay tròn.

Hồi : Quay lại, quay về.

Luân hồi là xoay tròn qua lại. Từ nghĩa này, đạo Phật thuyết minh: Chúng sanh trong Tam giới luân chuyển, xoay vòng qua lại mãi trong 6 đường, qua bốn dạng hình: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh. Tùy theo nghiệp đã gây tạo rồi chính chúng sanh ấy thọ nhận. Giống như bánh xe được gắn vào trục xe, phải chịu sức quay của trục xe giống như nghiệp của chúng sanh. Nếu chúng sanh nào gặp được môi trường sống tốt, nghĩa là gặp minh sư, bạn tốt hướng dẫn tu học làm lành, tỉnh ngộ thoát vòng lẫn quẫn sanh tử để đạt đạo, từ quả vị A-La-Hán trở lên thì không còn luân hồi nữa.

  1. Luân hồi của vật:

Con người luân hồi theo nghiệp thì vật chất luân hồi theo môi trường thời gian và tính chất của nó. Ví dụ: Con người chết một thời gian, thịt xương tan rã, tạo thành đất nuôi hoa quả. Hoa quả được con người ăn, lại nuôi con người, đắp đổi xoay vần qua lại là vậy.

Con người sống bằng nghiệp sát sanh, trộm cắp, sau khi chết, thần thức chịu thọ nghiệp ác (nhân quả). Ngược lại, người nào không gây ác nghiệp, mà tạo nghiệp lành thì sau khi chết, sanh đến cõi lành, gặp mọi sự tốt đẹp trong cuộc sống. Cho nên trong kinh Địa Tạng đã nói: “Con người ấy là một Đức Phật tương lai, cũng con người ấy lại là tội nhân nơi địa ngục”, luân hồi theo luật Nhân Quả là vậy.

Do vậy, Phật tử chúng ta không nên nhầm lẫn hiểu rằng, thần linh nào đó có quyền quyết định cuộc sống của mỗi chúng ta. Mà ngược lại, chính mình có đủ bản năng thành Phật, nếu chúng ta biết tu đúng chánh Pháp.

Vì thế, muốn không có sanh tử luân hồi thì tu hành dứt nghiệp, sẽ không luân hồi trong Tam giới.

“Ác nghiệp do mình tạo, tự mình sinh ra. Ác nghiệp làm hại kẻ ngu dễ dàng”. (PC.161).

Nếp sống lý tưởng của người con Phật là:

“Không làm các điều ác

Hãy làm các hạnh lành

Giữ tâm ý trong sạch,

Là lời Chư Phật dạy”.

PC.183

  1. Kết luận:

Qua trình bày trên, Phật tử chúng ta nên tự mình suy tư, tự mình tiến tu để phá bỏ thường kiến và đoạn kiến (con người sau khi chết còn mãi, hay chết là hết) để hiểu rằng chúng sanh tùy theo nghiệp tạo mà chịu luân hồi. Tinh thần tự chủ là nền tảng được Đạo Phật đề cao.

Dẫu nơi bãi chiến trường,

Thắng hàng ngàn quân địch,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng.

PC.103

Bài I-10 BỔN PHẬN NGƯỜI PHẬT TỬ TẠI GIA

-Thích Giác Không-

  1. Mở đề:

Đã sinh ra trong đời, ai cũng mang theo một “số phận” mà nhà Phật gọi là “nghiệp quả”. Từ cội nguồn căn bản này mà có người làm giáo viên, có người làm nghề buôn bán.v.v... Như vậy, với thân phận này mỗi người hãy tự chu toàn bổn phận để đảm bảo tính chất hài hòa giữa mình và người trong những mối quan hệ xung quanh cuộc sống. Đó cũng chính là ước mơ muôn thuở mà con người đang mong mỏi tìm cầu. Cho nên đối với Phật tử tại gia thì việc chu toàn đó như thế nào? Sau đây chúng ta tìm hiểu vấn đề này.

  1. Chánh đề:

Đức Phật là bậc đã giác ngộ hoàn toàn nên Ngài không còn gây nhân đau khổ. Trái lại, chúng ta là hàng phàm phu đang ước muốn trở thành Phật tử tại gia, tất nhiên chúng ta phải nghe lời Phật dạy để biết những điều gì người Phật tử tại gia nên làm.

  1. Đối với tự thân:

Chúng ta biết rằng thân và tâm luôn có một tương quan chặt chẽ, hễ thân đau thì ảnh hưởng đến tâm và ngược lại. Do vậy, là Phật tử chúng ta phải thận trọng khéo léo trong việc ăn uống, ngủ nghỉ, làm lụng cũng như tiếp xúc, hấp thụ những gì có giá trị để xây dựng và bảo vệ nếp sống đạo đức hướng thượng và tinh thần tỉnh giác.

  1. Đối với gia đình quyến thuộc:

Là người đệ tử của Đức Phật, chúng ta phải lấy hiếu hạnh làm đầu, vì “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”.

Đối với cha mẹ phải hết lòng hiếu kính, lo lắng miếng ăn, giấc ngủ, gánh vác đỡ đần công việc nặng nhọc, chăm sóc thuốc thang lúc đau yếu và luôn nghĩ nhớ công ơn sanh dưỡng để lo việc đáp đền.

Đối với con cái thì phải dạy dỗ điều hay lẽ phải, tránh xa tội lỗi hung ác, gần gũi người hiền trí, siêng năng học hành. Khi con cái khôn lớn trưởng thành, chúng ta phải lo định liệu cưới gả hợp thời đúng lúc, cũng phải nghe ý kiến tham gia của con cái với sinh hoạt gia đình.

Trong quan hệ vợ chồng nên thương yêu, chung thủy, lo lắng giúp đỡ nhau trong sự hiểu biết. Phải nên ngồi lại với nhau để cùng nhau xây dựng, tháo gỡ những khúc mắc, bất đồng hay lỗi lầm thiếu sót. Chúng ta phải ý thức được rằng sự hòa ấm của gia đình là lễ phẩm cao quý nhất mà chúng ta dâng lên cha mẹ tổ tiên, đó cũng chính là nhựa sống mà những bậc cha mẹ truyền lại vì vinh quang và hạnh phúc hiện tại và ngày mai của thế hệ con cháu.

Đối với bà con thân thích, phải nêu yêu thương đùm bọc trong tình nghĩa máu mủ và biết chia sẻ niềm vui nỗi buồn. Cũng phải tha thứ cho nhau về những sơ ý lỗi lầm và giữ gìn kín đáo những chuyện riêng tư không nên cho người khác biết. Lại phải thường xuyên thăm viếng, động viên, con cháu nhắc nhở nhau trong tình huyết thống.

  1. Đối với người ngoài gia đình:

Bước ra khỏi cửa ngõ gia đình, chúng ta thấy mối tương quan trở nên đa diện, chằng chịt từ gần đến xa, từ thân thích đến chưa quen biết... Ở đây chúng ta chỉ bàn tới phạm vi giới hạn. Trước hết là đối với Thầy, Tổ chúng ta phải kính trọng vâng lời và giữ lễ nghĩa. Bởi lẽ người xưa có dạy: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Đối với học trò chúng ta phải thể hiện phong độ người thầy, luôn cởi mở bao dung và hết lòng dạy dỗ, phải có tâm niệm mong muốn học trò tiếp thu và tiến bộ hơn mình.

Đối với chư Tăng phải hết lòng thành kính và khéo léo trong việc hộ trì. Có một điều trọng yếu mà chúng ta không thể bỏ quên, đó là phải để tâm học giáo lý Phật Đà, phải thỉnh cầu chư Tăng giảng cho những chỗ cần yếu mà chúng ta chưa hiểu, chưa biết. Từ đó mình có thể thực hiện đời sống của người Phật tử tại gia hộ trì Tam Bảo, hoàn thành trách nhiệm thiêng liêng mà Đức Phật đã giao phó cho hàng Phật tử chúng ta.

Đối với cơ quan, cơ sở và những người hữu trách: là Phật tử chúng ta không thể tách rời môi trường xã hội, và cũng không thể chìm đắm trong dòng chảy lãng quên của nó, bởi đời không tốt thì đạo cũng khó mà thành công. Đối với đạo không tròn bổn phận thì đời cũng khó thăng hoa. Bổn phận đối với đạo được chu toàn, chúng ta thực hiện tốt mọi quy ước, nề nếp cũng như giờ giấc một cách sáng suốt, sắp xếp công việc đúng người, đúng chỗ, thưởng phạt công minh.

  1. Kết luận:

Với một truyền thống giàu lễ nghĩa của người Việt Nam, thì những điều đã trình bày trên không có gì là kiểu cách, khó khăn lắm, mà dường như chúng ta đã biết rất rõ. Nhưng điều quan trọng không chỉ dừng lại ở chỗ hiểu biết mà chính là thực hành, thực hành một cách kiên nhẫn liên tục. Nếu không liên tục thì khó mà đạt được thành công.

Hơn nữa, chúng ta là Phật tử, bổn phận chúng ta là tìm cầu sự giác ngộ. Vì vậy, chúng ta thực hiện những bổn phận này trong sự tỉnh giác nhẹ nhàng, chắc chắn. Đó chính là thành quả mà chúng ta gặt hái được trên hành trình giải thoát.

Bài I-11 VÔ THƯỜNG

-Thích Thông Huệ-

Khi nói đến vô thường, liền hiểu ngay đó là luật tuần hoàn của vũ trụ. Nơi nào có sự vận hành, chuyển biến, đổi dời, nơi đó có vô thường. Vì vậy, vô thường là một định luật phổ biến, bao gồm cả vũ trụ và nhân sinh.

Vì mang tính phổ biến nên vô thường là một cuộc Đại hóa - sự biến hóa cùng khắp, bất cứ ở đâu và lúc nào. Dù Đức Phật có xuất hiện hay không, thì ngọn lửa vô thường vẫn cứ điềm nhiên ầm ỉ thiêu đốt cả thế gian, không một phút tạm ngừng. Vì thế, đứng về mặt tục đế hữu hình hữu hoại thì hẳn nhiên vô thường là chân lý bất di bất dịch.

Thân, Tâm và cảnh giới là một dòng chảy (Quá, Hiện, Vị lai). Chánh báo và Y báo của một chúng sanh tạo thành dòng sông sinh mệnh. Lực đẩy tạo thành dòng sông sinh mệnh ấy chính là sự khát ái vào những sở thuộc như: Sự nghiệp, tài sản, danh vọng nhằm củng cố cái tôi (giả ngã) trong vòng luân hồi vô tận. Khi nào cái tôi còn bén rễ, khi nào ý thức chấp ngã còn xen vào cuộc sống thì khi ấy vòng luân hồi vẫn còn xoay chuyển mãi.

Vô thường có ba:

- Nhất kỳ vô thường.

- Tương tục vô thường.

- Sát na sinh diệt vô thường.

Nhất kỳ là thô tướng nhất của vô thường, chỉ cho sự kết thúc của một tiến trình như sự chết của một người, nhưng chết không có nghĩa là mất hẳn mà chỉ là tạm vắng ở nơi này, để chuẩn bị biểu hiện thành sự sống ở nơi khác.

Tương tục là sự sinh diệt, băng hoại thường xuyên trong lòng sự vật, là sự chuyển biến không ngừng, nên sự tương tục ấy là tế tướng của vô thường.

Sát na sinh diệt là sự vô thường ma mãnh nhất, nhỏ nhiệm nhất. Sát na là thuật ngữ nhà Phật sử dụng, chỉ cho đơn vị ngắn nhất của thời gian. Một niệm thoáng qua trong tâm thức có đến 90 sát na. Mỗi sát na chỉ có Phật trí mới thấy được.

Ba phạm trù thuộc ba phân loại vô thường ở trên không chỉ có trong các hiện tượng vật lý, mà thâu gồm luôn trong các hiện tượng sinh lý và tâm lý nữa.

Kinh Pháp Hoa, phẩm Thí Dụ, Đức Phật dạy:

“Chúng sanh bị chìm đắm trong vô số nạn khổ, thế mà không biết, lại hoan hỷ vui chơi, chẳng kinh chẳng sợ, chẳng hề biết chán, chẳng chịu tầm cầu giải thoát. Ở trong nhà lửa tam giới cứ dong ruỗi đông tây, tuy gặp đại khổ mà chẳng biết đó là nguy khốn!”.

Phật nói vô thường (nhà lửa) nhằm phá cái chấp thường của phàm phu. Vì mê mờ điên đảo, vọng nhận các pháp là thực hữu, bèn đem cái tâm vô thường, dùng cái thân vô thường, nắm bắt các pháp vô thường, cho đến mãn kiếp không bao giờ được thõa mãn tâm vọng cầu. Người lớn hay sống về quá khứ, tuổi trẻ hay mơ mộng về tương lai, người tỉnh thức biết khéo sống nơi giây phút hiện tại. Mảnh đất lập thân của người phàm là quá khứ và vị lai. Nơi an thân và lập mệnh của người tỉnh thức là hiện tại. Những kỷ niệm vui buồn quá khứ chỉ còn là những viễn ảnh mờ xa rơi rớt, là những bóng ma của hư tưởng. Một cuộc vui nào rồi cũng phải qua đi, một nỗi buồn nào cũng nhạt phai theo năm tháng.

Cổ Đức có dạy:

“Thời gian tợ tên bắn, ngày tháng như thoi đưa, vô thường mau chóng, gắng gỗ chớ dần dà! Ngày tháng cứ thản nhiên trôi qua, mạng sống cũng theo đó dần dần đoạn giảm, như cá thiếu nước, nào có vui gì...”

(Quang âm tợ tiễn, nhật nguyệt như toa, vô thường tấn tốc, thiết mạt ta đà. Thị nhựt dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc...).

Trong 1 giây có đến 125 triệu tế bào chết đi, nhường chỗ cho 125 triệu tế bào khác sinh ra, trong ấy thật không thể tìm thấy cái tôi.

Đây là lời Phật dạy về nghĩa vô thường của 5 uẩn:

“Này các Tỳ Kheo, sắc là vô thường trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỳ Kheo, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, đối với sắc quá khứ không tiếc nuối, đối với sắc vị lai không hoan hỉ, đối với sắc hiện tại hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt”.

“Thọ là vô thường... tưởng là vô thường... hành là vô thường... thức là vô thường...”

(Tương Ưng 3 - Ba thời vô thường. tr. 23)

Và đây là phân đoạn thứ hai, Phật dạy về nghĩa vô thường của năm uẩn.

“Sắc, này các Tỳ Kheo, là vô thường. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho sắc sinh khởi, cái ấy cũng vô thường. Sắc đã được cái vô thường làm cho sinh khởi, thì từ đâu có thể thường được”.

“Thọ là vô thường… tưởng là vô thường… hành là vô thường… thức là vô thường…”

(Tương Ưng 3 - Cái gì vô thường. tr. 26)

Theo đây, luật vô thường bình đẳng đối với tất cả chúng sanh (5 uẩn), dù là kẻ sang người hèn, kẻ ngu người trí. Quỷ vô thường tuy không thấy hình dạng, nhưng có khả năng làm mạng căn con người chết dần, chết mòn. Sự nhận diện thường trực nơi tất cả mọi thay đổi chuyển dời của cuộc sống không phải để đi đến sự bi quan, chán đời, mà là sự nhận diện cần thiết nhằm thực hiện sự chuyển hóa nơi tâm thức, vốn là sự mê lầm cổ hủ đang đè nặng lên thân phận kiếp người. Bình tâm mà nhận xét, thú vui thế gian tuy là tạm bợ, mong manh nhưng vẫn có hấp lực phi thường; hấp lực đó cũng chính là ma lực vô hình dẫn dắt chúng sanh trôi lăn theo sáu nẻo. Chúng sanh chịu khổ sanh tử không khác nào con tằm mùa xuân kéo tơ làm kén tự trói buộc mình; cũng như con thiêu thân tự lao vào đèn chịu cái họa chết thiêu. Nếu như không đủ phước duyên gặp minh sư dẫn dắt thì làm sao tỏ ngộ được chánh pháp?!

Cổ đức dạy:

“Tuy sống một trăm năm như trong khoảng sát na, như lượn sóng rút về biển Đông, như ánh sáng còn sót lại của buổi chiều tà, như đánh đá nhá lửa, như bóng câu thoáng qua khe cửa, như ngọn đèn trước gió, như giọt sương sớm mai trên đầu ngọn cỏ, nếu không gặp được chánh pháp ắt phải chịu vĩnh viễn kiếp trầm luân!”.

(Tuy niên bách tuế du nhược sát na, như đông thệ chi trường ba, tợ tây thùy chi tàn chiếu, kích thạch chi tinh hỏa, sậu khích chi tấn câu, phong lý chi vi đăng, thảo đầu chi triêu lộ. Nhược bất ngộ ư chánh pháp, tất vĩnh đọa ư du đồ hỉ!).

Một tâm thức mê mờ quay cuồng trong cảnh sống say chết mộng thêu dệt nên hoàn cảnh sống, trong đó mình là tác giả. Thế nên Kinh Hoa Nghiêm cho rằng tâm chính là một đại danh họa, họa ra thân năm uẩn và thế giới y báo:

“Tâm như người thợ vẽ

Vẽ mỗi mỗi ngũ uẩn

Trong tất cả thế giới

Đều do tâm tạo tác”

 

(Tâm như công họa sư

Họa chủng chủng ngũ uẩn

Nhất thiết thế giới trung

Giai do duy tâm tạo).

Vô thường thuộc yếu tố thời gian, là một diễn trình đi từ nhân đến quả, diễn trình đó nơi chúng sanh hữu tình thì biểu hiện thành sinh, già, bệnh, chết; nơi các pháp thì có sinh, trụ, dị, diệt; nơi thế giới thì có thành, trụ, hoại, không. Sự thay đổi của bốn mùa, sự di chuyển của các hành tinh vệ tinh cũng không ra ngoài quy luật của diễn trình đó. Thế giới vĩ mô, thế giới vi mô, thế giới trung bình cũng cùng một loại. Hễ có thành ắt có hoại, có hợp ắt có tan. Người quán thông lý vô thường thì liền dừng, ấy là người tỉnh, người giác. Cái thực vĩnh cữu vốn vô hình, vô tướng; còn cái hữu hình, hữu tướng chỉ là giả tạm. Nhưng sự sống vĩnh hằng cũng không thể tìm ngoài cái vô thường ảo mộng. Hãy bình thường trong mọi hoạt dụng của cuộc sống và tìm giải thoát ngay trong cảnh bình thường đó.

Xin thay lời kết bằng một đoạn thơ của Thiền sư Minh Chanh Thanh Đàm, thuộc đời thứ 42, Tông Tào Động, khoảng đầu thế kỷ 19:

“Công danh cái thế màn sương sớm

Phú quý kinh nhân giấc mộng dài.

Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật

Công phu luống uổng một đời ai”.

Bài I-12 TỨ ÂN

-Thích Thiện Tấn-

Hằng năm đến ngày rằm tháng Bảy, trong Phật Giáo đều có tổ chức lễ Vu Lan để người Phật tử báo hiếu Tứ ân. Hạnh hiếu là hạnh đứng đầu trong các hạnh, là căn bản đạo đức: “Bách hạnh, hiếu vi tiên”. Trong các Kinh thường đề cập về vấn đề Tứ ân như: “Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” hoặc “Tứ ân tam hữu tận triêm ân”. Làm người đã thọ ân thì phải tri ân và báo ân là thể hiện đạo lý “Uống nước phải nhớ đến nguồn”. Muốn báo ân một cách đúng pháp thì phải hiểu rõ Tứ ân là gì.

Tứ ân là bốn ơn, còn gọi là Tứ trọng ân, tức là bốn ơn nặng gồm có:

- Phụ mẫu ân, tức là ơn cha mẹ.

- Chúng sanh ân tức ơn chúng sanh.

- Quốc vương ân tức là ơn tổ quốc.

- Tam Bảo ân tức ơn Phật, Pháp, Tăng.

Mọi người khi mới sinh ra cho đến khi nhắm mắt, không ai là không nhờ sự nuôi lớn xác thân và trưởng dưỡng tinh thần nhờ vào bốn đối tượng ấy. Người thế gian không quy y Tam Bảo thì họ có ân thầy dạy dỗ. Thầy ở đây là thầy dạy chữ hoặc nghề nghiệp. Như vậy mọi người đều mang nặng Tứ ân cần phải đáp đền.

  1. Phụ mẫu ân:

Cha mẹ là người có công lao to lớn trong việc mang nặng đẻ đau, nuôi lớn và lo cho tương lai sự nghiệp của con. Ca dao có câu:

“Nuôi con chẳng quản chi thân

Chỗ ướt mẹ nằm chỗ ráo con lăn

Con ho lòng mẹ tan tành

Con sốt lòng mẹ như bầu nước sôi...

Những khi trái gió trở trời

Con đau lòng mẹ đứng ngồi không yên...”

Kinh Thi dùng “Chín chữ cù lao” để chỉ cho công sinh thành của cha mẹ. Đó là: sanh, cúc, phủ, dục, súc, trưởng, cố, phục, phúc. Nghĩa là: sanh nở, nâng đỡ, vỗ về, dạy dỗ, cho bú, nuôi lớn, trông nom, nuông chìu và che chở.

Trong Kinh Tâm Địa Quán Đức Phật dạy rằng:

“ Quả đất ở đời gọi là nặng

Mẹ hiền ân nặng quá hơn nhiều

Tu Di người đời gọi là cao

Mẹ hiền ân cao quá hơn nhiều

Gió lốc ở đời gọi là mau

Nhất niệm mẹ hiền mau hơn nhiều”.

Đức Phật dạy người con phải xem cha mẹ như trời, Phật và phải cung kính, cúng dường hầu hạ. Để nói lên công lao khó nhọc của người mẹ, ca dao có câu:

“Đố ai đếm được lá rừng

Đố ai đếm được mấy từng trời cao

Đố ai đếm được vì sao

Đố ai đếm được công lao mẫu từ”.

Cha mẹ suốt đời khó nhọc chỉ vì con, con khổ thì cha mẹ lo, con sướng thì cha mẹ mừng. Nhưng đến khi khôn lớn thì không còn tưởng nhớ đến cha mẹ nữa mà còn làm cho cha mẹ buồn phiền. Vì vậy, nên trong Kinh Nhẫn Nhục đã dạy: Cùng tột điều thiện không có gì bằng hiếu, cùng tột điều ác không có gì bằng bất hiếu.

Đã biết công ơn cha mẹ sâu nặng như thế nào, nên bổn phận làm con là phải biết hết lòng báo hiếu. Trong Kinh Thi Ca La Việt, Phật kể sáu bổn phận của người làm con đối với cha mẹ:

- Cung kính vâng lời cha mẹ.

- Phụng dưỡng khi cha mẹ già yếu.

- Giữ gìn thanh danh và truyền thống gia đình.

- Bảo quản tài sản do cha mẹ để lại.

- Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời.

- Hướng dẫn cha mẹ đi theo con đường giải thoát.

Người con Phật còn phải giữ giới, đọc tụng kinh sám, cúng dường bố thí để hồi hướng công đức cho cha mẹ. Người con phải noi gương hiếu hạnh của Đức Phật Thích Ca, Bồ Tát Địa Tạng, Tôn giả Mục Kiền Liên... các sự tích hiếu hạnh rất nhiều mà Kinh sách có đề cập như: Voi trắng con nuôi cha mẹ. Chim oanh vũ lấy lúa nuôi cha mẹ mù...

Chữ hiếu được phân tích theo nhiều phương diện như: Hiếu kính, hiếu dưỡng, hiếu thuận, hiếu thiện.

Hiếu kính là hết lòng cung kính, xem “Cha mẹ tại tiền như Phật tại thế”. Ca dao đã nói về hiếu kính như sau:

“Khôn ngoan nhờ ấm cha ông

Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ

Làm con chớ có hững hờ

Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm”.

Hiếu dưỡng là nuôi dưỡng cha mẹ về cơm ăn áo mặc, đừng để cho thiếu thốn.

“Đói lòng ăn đọt chà là

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”.

Hiếu thuận là không ngăn cản việc làm đúng đắn của cha mẹ.

Hiếu thiện là hướng dẫn cha mẹ tu tập theo Phật pháp để hiện đời an vui, vị lai sanh về cõi Phật.

Đền ơn cha mẹ chi bằng của cải vật chất sung túc, nhưng cũng chưa thể gọi đó là báo ân cha mẹ, nếu như tâm cha mẹ còn mê. Cái chính của hiếu vẫn là hiếu thiện. Nếu hiếu kính, hiếu dưỡng, hiếu thuận đầy đủ mà không khuyên cha mẹ bỏ việc ác vẫn là bất hiếu. Chúng ta phải hướng dẫn đời sống tinh thần cho cha mẹ như:

- Nếu cha mẹ không có niềm tin Tam Bảo thì khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam Bảo.

- Nếu cha mẹ xan tham thì khuyên cha mẹ phát tâm bố thí.

- Nếu cha mẹ làm ác thì khuyên cha mẹ hướng về điều thiện.

- Nếu cha mẹ theo tà kiến thì khuyên cha mẹ theo chánh kiến.

Như thế đủ đền ơn cha mẹ (Kinh Tăng Chi). Ngoài việc báo hiếu với cha mẹ, người con phải có hiếu với ông bà tổ tiên, vì có ông bà mới có cha mẹ.

  1. Chúng sanh ân:

Ngoài quan hệ giữa cha mẹ thầy trò, chúng ta còn có những sự tương quan mật thiết với nhau trong cộng đồng xã hội. Nếu tách rời ra thì mỗi người không thể nào sống được thuận tiện. Có cơm ăn là nhờ nông phu cày ruộng, gieo gặt. Có áo mặc là nhờ người trồng bông, thợ dệt, thợ may. Cho nên có câu:

“Thân phi nhứt lũ thường tư chức nữ chi lao,

Nhật thực tam xan mỗi niệm nông phu chi khổ”.

Có nhà cửa là nhờ thợ mộc, thợ hồ xây dựng. Khi đau ốm thì nhờ thầy thuốc. Nhà bác học Pasteur đã tìm ra vi trùng chó dại và nghiên cứu thuốc chữa khỏi. Bác sĩ Yersin đã tìm ra vi trùng bệnh dịch hạch. Hải Thượng Lãn Ông suýt chết vì nếm vị thuốc mới tìm được để trị cho bệnh nhân. Người tu sĩ được an tâm tu hành là nhờ ơn đàn na cúng dường. Nhân loại được sinh tồn là nhờ có sự tương trợ lẫn nhau nên có ân nghĩa với nhau.

Vì đã thọ ơn chúng sanh nên chúng ta phải đền ơn bằng cách hòa mình vào cuộc sống xã hội, chung sức xây dựng các công việc hữu ích như làm cầu, làm thủy điện, bảo vệ môi trường sống. Làm các việc từ thiện như cứu giúp người tàn tật, cứu trợ thiên tai bảo lụt, xây dựng nhà tình nghĩa, không sát hại sinh vật, tùy theo khả năng của mình. Đức Phật đã có lần xâu kim cho một bà lão, hoặc tắm cho một vị sa môn bị bệnh. Làm lợi ích cho xã hội đúng theo tinh thần Phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật.

Đức Phật thấy rõ chúng sanh đang sống hiện tại đã từng là anh em cha mẹ của chúng ta trong nhiều kiếp nhân quả luân hồi. Cho nên báo ân chúng sanh là báo ân đa sanh phụ mẫu và quyến thuộc quá khứ của chúng ta.

  1. Quốc Vương ân:

Ngày xưa trong thời quân chủ thì gọi là Quốc vương ân, bây giờ thời đại dân chủ thì gọi là Tổ quốc ân. Tổ quốc ân là lãnh đạo các cấp chính quyền, là người chống ngoại xâm, đem lại độc lập cho đất nước, giữ gìn an ninh trật tự cho nhân dân. Trong đó có những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh xương máu để bảo vệ tổ quốc thanh bình. Chính quyền điều hành guồng máy Nhà nước, chăm lo đời sống nhân dân.

Nhờ có Nhà nước chúng ta mới được an cư lạc nghiệp. Cho nên làm người chúng ta phải có nhiệm vụ đối với quốc gia dân tộc, phát huy truyền thống yêu quê hương tổ quốc, đem sức lực và trí tuệ giữ gìn sự nghiệp của các bậc tiền nhân để lại.

  1. Tam Bảo ân:

Tam Bảo ân là ơn chư Phật, giáo Pháp và chư Tăng.

Đức Phật có phước đức trí tuệ rất cao sâu, không thể nghĩ bàn. Ngài là đấng Pháp vương nói ra vô lượng pháp môn để cho chúng sanh y theo tu hành mà được giải thoát. Đức Phật là bậc Y vương đem pháp dược chữa lành tâm bệnh cho chúng sanh. Ngài là ruộng phước tối thắng trong thế gian và xuất thế gian, cho nên chúng sanh chịu trọng ân của Ngài.

Pháp bảo là giáo pháp để cho chúng sanh làm phương pháp tu tập đoạn trừ vô minh phiền não. Nương theo Kinh-Luật-Luận hành trì Giới-Định-Tuệ sẽ viễn ly sanh tử, đạt đến Niết bàn. Pháp bảo là thuốc hay có thể chữa lành tâm bệnh của chúng sanh, vì Pháp có công năng giải thoát cho nên chúng sanh phải tri ân Pháp.

Tăng bảo là đoàn thể của những vị xuất gia, gồm có Bồ Tát Tăng, Thinh Văn Tăng, và phàm phu Tăng. Tăng già tượng trưng cho sự hòa hợp. Chư Tăng đem giáo pháp của chư Phật truyền cho đại chúng, làm lợi ích cho loài hữu tình. Nhờ chư Tăng mà chúng sanh biết được Phật pháp để tu hành, cho nên ơn chư Tăng rất lớn.

Muốn báo ân Tam Bảo thì phải học đúng, hiểu đúng và làm đúng những lời dạy của Đức Phật. Truyền bá chánh pháp hoặc ấn tống kinh sách để dìu dắt kẻ hậu học. Cúng dường Tam Bảo để chư Tăng có điều kiện học tập và hành đạo, nghe lời dạy bảo của chư Tăng.

Nói tóm lại, Tứ ân là ân cha mẹ, ân chúng sanh, ân tổ quốc, và ân Tam Bảo hoặc ân thầy dạy. Cha mẹ có công nuôi lớn thân này, chúng sanh có công ơn cung cấp mọi tiện nghi cần thiết, tổ quốc bảo vệ cuộc sống an lành, quyền lợi được bảo đảm. Tam Bảo giáo huấn cho chúng sanh tu tập từ bi hỷ xả, vô ngã vị tha, làm lợi mình lợi người, được an lạc trong hiện tại và vị lai. Muốn thực hiện báo đáp Tứ ân một cách chơn chánh thì tất cả mọi người chúng ta phải vun bồi đạo đức cho chính mình, giáo dục đàn con cháu noi theo gương hiếu hạnh của cha mẹ. Việc báo hiếu, báo ân không phải chỉ là việc làm của người Phật tử mà là của toàn xã hội vì tất cả mọi người đều chịu bốn ân ấy. Báo hiếu Tứ ân là đạo đức của con người trong mọi thời đại. Nếu thực hiện được những việc làm như trên thì đúng thật người con chí hiếu, người con đại hiếu đã góp phần làm cho gia đình và xã hội an vui.

Bài I-13 THỜ PHẬT - LẠY PHẬT - CÚNG PHẬT

-Thích Trí Viên-

 

  1. Mở đề:

Chúng ta là người con Phật, muốn thiết lập một cuộc sống thực tế hạnh phúc an vui ngay nơi đời này mà chưa thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật là chưa tròn bổn phận. Hình ảnh và đức tính của chư Phật là biểu tượng tinh thần trong sáng, tình thương bao dung trang trải đến mọi loài, thể hiện năng lực đoạn tận mọi khổ đau và phiền não, mang lại cuộc sống an lạc cho chúng sanh. Đức Phật có thể ẩn hiện sinh động nhiều cách suy nghĩ, được tôn vinh qua nhiều nghi thức hay cầu đảo... Nhưng, người con Phật chơn chánh không nên đánh giá tầm thường hay hiểu mù mờ về Đấng Giác Ngộ như vậy.

Với thế gian, không thờ Cha Mẹ, lạy cúng khi Cha Mẹ qua đời là người con chưa trọn chữ hiếu. Với Phật tử, không thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật là chưa trọn vẹn lẽ Đạo. Ngoại trừ những ai không có điều kiện hay hoàn cảnh không thích hợp, như vợ hoặc chồng không tôn thờ một lý tưởng.

Kiếp này, người Phật tử chúng ta có phúc duyên nhiều đời nên gặp được Phật-Pháp-Tăng (thế gian trụ trì Tam Bảo). Tuy là trong thời kỳ mạt pháp, vẫn còn có nơi để chúng ta nương tựa, tu học, chuyển đổi nếp sống xô bồ thành nếp sống thanh cao, vẫn là trợ duyên rất lớn cho chúng ta. Do đó, thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật là những bước đầu trợ duyên cho chúng ta tìm cầu giải thoát.

Vậy, thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật như thế nào đúng với tinh thần chánh Pháp?

  1. Thờ Phật:

Là tôn thờ lý tưởng giác ngộ của Đức Phật. Ngài giác ngộ về sanh, lão, bệnh, tử của chúng sanh, giác ngộ về duyên sanh vô ngã của các Pháp. Cho nên Phật tử chúng ta quy kính tôn thờ Ngài. chúng ta nên biết rằng, Đức Phật vì đại sự nhân duyên, xuất hiện cõi Ta bà này không ngoài sự độ sanh, chứ không phải Ngài tu hành thành Phật để bảo chúng ta phải thờ Ngài hay tôn kính Ngài! Nếu ai đó hiểu như vậy thật là sai lầm. Nói gọn lại, Đức Phật là một chúng sanh đã giác ngộ, nên những hiện tượng đau khổ, vô thường, bất an triền miên của chúng sanh, Ngài nhìn rõ, thấy rõ và nói lại thật rõ cho chúng sanh biết để ý thức và quyết định kiếp sống của chính mình. Vì vậy Phật tử thờ Phật là thể hiện lòng thành kính ngưỡng mộ và thờ Ngài như người cha lành, như người thầy đáng quý trọng.

  1. Nơi thờ Phật:

Tôn trí hình tượng Phật nơi tôn nghiêm nhất trong nhà. Chúng ta thờ một đức Phật là biểu tượng mười phương chư Phật, hay ba hình tượng là đủ, không nên thờ nhiều hình tượng, rồi không đủ thì giờ hay thờ ơ việc lau dọn, để bám bụi nhiều, có tội.

  1. Hình thức thờ:

Tùy theo hoàn cảnh mỗi gia đình, một cái bàn (có thể gắn vào vách như cái trang...) bộ chân đèn, một lư hương, hai chén nước trong, một bình cắm hoa, một cỗ bồng để dâng trái cây, một cây đèn dầu nhỏ (đèn hột vịt). Một tượng Phật tôn trí chính giữa (nếu thờ 3 Đức Phật thì tôn trí ngang nhau). Như vậy là đủ.

  1. Nghi lễ an vị Phật:

Chọn ngày thích hợp, thỉnh Tăng Ni về làm lễ an vị đơn giản. Nếu nơi nào không có Tăng Ni thì mời quý Phật tử lớn tuổi, có đạo hạnh thực hiện nghi lễ an vị. Có một điều nên quan tâm là: mọi người trong gia đình phải chí thành khi hành lễ an vị.

  1. Sau khi thỉnh Phật về thờ ở nhà, người Phật tử nên làm những gì?

* Mỗi ngày lau dọn bàn thờ Phật sạch sẽ, dâng hương hoa cúng dường.

* Sắp xếp thời giờ thích hợp, mỗi ngày tụng một thời kinh, nếu không tụng kinh được thì dâng hương niệm Phật cũng tốt. Động viên mọi người trong gia đình cùng tụng kinh hay lễ bái. Thể hiện được điều này thì gia đình hạnh phúc, an vui trong hào quang của Phật.

* Không để vật dụng lung tung trên bàn thờ Phật, tượng Phật thờ lâu năm bị hư, rách thì thay tượng mới, tượng cũ đem về chùa nhập tháp.

  1. Mục đích thờ Phật:

Là để mọi người trong nhà chiêm ngưỡng hạnh nguyện và lòng từ bi của Đức Phật. Thờ Phật là tạo phước duyên làm Phật. Thờ Phật là để noi gương cao thượng của Đức Phật, sửa đổi những thói hư tật xấu của chúng ta. Phật tử không nên quan niệm sai lệch, xem Phật như một vị thần hộ mệnh để chúng ta mua may bán đắt.

  1. Lạy Phật:

Lạy Phật để tỏ lòng cung kính như lúc Phật còn tại thế. Lạy Phật: “Chúng con nguyện sống đời rộng rãi” (Nghi thức tụng niệm).

Khi Đức Phật còn tại thế, vua quan, thứ dân mỗi lần đến thăm Đức Phật thì đảnh lễ, ôm chân Phật, tỏ lòng quý kính, sau mới thưa thỉnh việc gì cần, hay nghe Đức Phật giảng pháp. Do đó, lạy Phật có nghĩa là xin Ngài chỉ dạy mọi điều cao quý để chúng ta có cuộc sống thanh bình, không thù oán, căm hờn với nhau, mà ngược lại được an vui giải thoát, gắn chặt tình thương. Nhưng phải lạy thế nào cho đúng phép?

* Trước khi lạy Phật phải dọn mình sạch sẽ, y phục phải trang nghiêm.

* Mỗi khi lạy, nên lạy ba lạy, hoặc nhiều càng tốt, tùy theo sức khỏe và thời gian.

* Lạy xuống nên ngữa hai bàn tay, đưa trán đụng hai bàn tay, lạy phải nghiêm chỉnh, thân ngay thẳng, tác phong phải nghiêm.

* Thân lạy, tâm hướng về tướng hảo, lòng từ của Đức Phật.

  1. Mục đích lạy Phật:

* Dẹp tâm ngã mạn.

* Tạo phước, gây duyên, để đời đời được gặp Phật, tu theo hạnh nguyện của Ngài để tương lai được chứng quả như Ngài.

* Không phải cầu danh lợi mà vì tỏ lòng tôn kính.

* Cao hơn nữa, lạy Phật cũng chính là lạy ngay nơi Phật tính của mình (Chánh quán lễ). Bởi vì trong khi niệm Phật, chúng ta đã thể nhập vào Pháp giới chư Phật, không tự, không tha, không năng, không sở thì sự lễ bái hay niệm Phật mới hoàn hảo. Ngài Văn Thù đã dạy: “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch”. Nghĩa là người lạy và đấng mình đang lạy thể tánh nhất như, vắng lặng.

  1. Cúng Phật:

Chư Phật và chư Bồ Tát là bậc Ứng cúng, nên ai phát tâm cúng dường chư Phật là được phước báo tốt lành, gây nhơn làm Phật. Vì vậy, người con Phật thể hiện tinh thần cúng dường chư Phật là một việc rất cần thiết.

Như vậy, cúng Phật như thế nào cho đúng chánh Pháp?

Vật dụng cúng Phật: Hương, hoa, đèn, trà, quả, nhạc (theo nghi chẩn tế của chư Tổ đã dạy). Cao hơn nữa, Kinh đã dạy: “Hương giới, hương định, hương huệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến” đó là những món cúng dường có ý nghĩa mà người Phật tử dâng trọn lên chư Phật, chư vị Bồ Tát. Thể hiện được tâm nguyện cúng dường đã nêu trên là đủ ý nghĩa. Chúng ta không nên dâng cúng rườm rà, bày biện quá nhiều mất vẻ trang nghiêm.

Cúng Phật là cúng tấm lòng của chúng ta thể hiện qua nén hương thơm, cành hoa tươi đẹp là đủ rồi, không nên chạy theo những nghi lễ rườm rà biến Đức Phật làm biểu tượng mê hoặc lòng người. Nếu người con Phật làm không nhận định và thực hiện những chỉ dẫn trên, thì chúng ta đã vô tình khẳng định sự sai lầm của chính mình về Đức Phật. Đạo Phật tích cực bác bỏ mọi sự mê hoặc qua nhiều hình thức và xem đó là một định chế của vô minh. Phật tử chúng ta không nên để vướng vào những sai lầm đáng tiếc như vậy.

Tóm lại, người Phật tử chơn chánh không chỉ có đức tin đối với Tam Bảo mà còn phải suy nghĩ, nhận định đúng để có sự hiểu biết trong sáng đối với mọi sinh hoạt của đạo Phật, thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật vậy.

Bài I-14 TAM PHÁP ẤN

-Thích Trí Viên-

Tam Pháp Ấn là 3 pháp yếu quan trọng trong hệ thống giáo lý Phật Đà, do Đức Thích Ca Mâu Ni triển khai, được ấn chứng kinh tạng, như Tạp A Hàm, kinh số 262: Nhứt thiết hành vô thường, nhứt thiết pháp vô ngã, Niết bàn tịch diệt.

  1. Pháp ấn thứ 1: Nhứt thiết hành vô thường.

Tất cả các hành đều vô thường. Chữ Hành ở đây có nghĩa là những hiện tượng sinh diệt không ngừng. Những hiện tượng này có hiện tượng bằng sắc, có hiện tượng bằng tâm. Nhưng dù sắc hay tâm, cũng đều do nhân duyên tập hợp sinh diệt mà thành, nên gọi là những hành (chư hành). Vậy, Chư hành vô thường: Tất cả mọi hiện tượng đều vô thường. Ông Heraclit, một triết gia Tây phương đã nói: “Người ta không bao giờ tắm hai lần trong một dòng sông”. Ông đề cập sự vận chuyển vô thường của mọi sự vật như sự vận chuyển của dòng sông. Phương Đông, một triết gia, đức Khổng Tử cũng nói: “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ”: Chảy mãi thế này, ngày đêm không thôi.

Vô thường không phải là một khái niệm, nó là lẽ thật chất mà trí năng con người còn giới hạn, chưa phải là tuệ giác, nên chưa chứng đạt lẽ thật của vô thường. Cứ than phiền vô thường nhưng vẫn sống với vô thường, nên chúng ta bị vô thường chi phối, làm rối loạn đảo điên. Một người cha than với đứa con: Cuộc đời sao vô thường thế? Đứa con trả lời tại sao cha cứ than phiền vô thường hoài? Qua đối đáp trên, chúng ta đã ý thức rằng: Vô thường là tính cách thiết yếu của mọi sự sống. Nếu không có vô thường thì không có sống, không có hy vọng, không có niềm tin. Nhờ vô thường, mọi sự vật có tiến bộ. Ví dụ: Không có vô thường thì cây cối không lớn và cho hoa trái. Ngài Long Thọ cũng dạy: “Nhờ vô thường, vô ngã mà tất cả được thành tựu”.

  1. Pháp ấn thứ 2: Chư pháp vô ngã

Tất cả các pháp đều vô ngã. Vô ngã là không có một vật nào tự nó độc lập mà tạo thành. Cái này nương cái kia và ngược lại để thành. Cây lúa không tự nó tạo thành cây lúa mà phải nương vào đất, nước, gió, lửa mà có. Xét cho cùng, vô ngã là vô thường. Vô thường là xét về thời gian, vô ngã là xét về không gian.

Chúng ta vẫn biết, nói về vô ngã như là không thực tế. Nhưng là đạo lý giải thoát. Khi tha nhân xúc phạm đến cái ngã thì chúng ta bằng mọi cách bảo vệ, nên bị ngã dẫn dắt chúng ta vào thế giới đảo điên, buồn phiền, đau khổ.

  1. Pháp ấn thứ 3: Niết bàn tịch diệt

Sự chấm dứt, sự yên lặng. Chấm dứt cái gì và yên lặng thế nào?

Chấm dứt mọi khái niệm về vô thường, vô ngã và cả Thường, Ngã cũng phải chấm dứt luôn thì im lặng hoàn toàn. Không phải ý niệm về Vô thường ta phải vượt qua mà ý niệm về Thường cũng phải vượt qua. Ý niệm về Vô ngã, và Ngã đều vượt qua thì được tịch tĩnh. Nếu chúng ta không kẹt vào ý niệm thường hay vô thường thì chúng ta trực nhận Niết bàn - Tịch tĩnh. Như chúng ta đã ăn sầu riêng, không có ý niệm này nọ về sầu riêng nữa. Người chưa ăn sầu riêng họ đang kẹt khái niệm về sầu riêng. Chỉ khi nào họ được ăn sầu riêng thì họ giải thoát những ý niệm về sầu riêng. Như vậy, khi nào chúng ta chưa chứng được vô thường, vô ngã; vẫn còn nghe, còn học vô thường, vô ngã thì chúng ta chưa tiếp xúc được Niết bàn.

Chúng ta cũng biết rằng, tất cả những khổ đau phiền toái đều phát sinh từ cái nhìn của chúng ta. Từ những suy nghĩ, giận hờn, ganh ghét, tuyệt vọng... tất cả những nỗi niềm đau đớn ấy phát xuất từ cách chúng ta nhìn đời. Ví dụ: Tôi có ý niệm về hạnh phúc. Chừng nào tôi chưa nắm trọn vẹn trong tay thì chừng đó tôi chưa có hạnh phúc. Cũng từ cách nhìn cuộc đời về hạnh phúc, không được nên đau buồn. Khi chúng ta bị kẹt vào ý niệm hạnh phúc rồi là tự chúng ta khóa chặt cửa hạnh phúc. Vậy, ý niệm của chúng ta là lao ngục cho chính chúng ta. Niết bàn là gì? Niết bàn là phá tung những lao ngục ấy. Khi đã phá tung những ý niệm đó, vô thường, vô ngã, hạnh phúc thì chúng ta có cơ hội đi ngay vào thế giới của sự vắng lặng, của Niết bàn. Niết bàn không phải là khái niệm mà cái chúng ta đang có, nhưng chúng ta không chịu sống, không chịu trở về.

Tam Pháp Ấn là những pháp rất cần mà chúng ta tiếp nhận từ Đức Phật, để vượt mọi khái niệm, trở về với sự yên lặng chính chúng ta vậy.

Giá trị ấy được giải bày trong phạm vi bài này.

(Tài liệu tham cứu, Kiều và văn nghệ đứt ruột, TNH.)

Bài I-15 CHÁNH BÁO - Y BÁO

-Thích Trí Viên-

  1. Mở đề:

Sự phát triển khoa học, kinh tế, giáo dục và nhiều nhu cầu thực tế khác cho cuộc sống nhân loại đang đà tăng tốc, khẳng định sự tiến bộ của loài người thật đáng quý trọng. Tuy nhiên, nếu bị cuốn hút theo nhịp đà này mà bỏ quên hay không quan tâm xây dựng mô hình đạo đức được tôi luyện thì liệu có bảo đảm hạnh phúc cho con người hay không?

Quan niệm thông thường của con người có được cho mọi người phải hội đủ hai yếu tố: Tinh thần lành mạnh, của cải vật chất dồi dào. Cả hai yếu tố ấy nhà Phật gọi là Chánh báo và Y báo. Vậy, Chánh báo và Y báo nghĩa như thế nào?

  1. Nhập đề:
  2. Định nghĩa:
  3. Chánh báo là quả báo chánh, cũng gọi là chánh quả, là ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) năm món tích tụ lại.
  4. Y báo là quả báo phụ thuộc vào Chánh báo, như nhà cửa, ruộng vườn, tiền tài, danh vọng liên hệ cuộc sống mọi vật.

Qua định nghĩa trên, chúng ta biết rằng, mọi sự tốt đẹp hay xấu xa do Chánh báo quyết định hậu quả. Như vậy, không ai trong chúng ta không mong muốn mọi cái đẹp điều hay đến với chúng ta và thành công như ý nguyện. Muốn đạt mục đích ấy, người con Phật nào sửa đổi mỗi hành vi, lời nói, xây dựng Chánh báo cao đẹp thì Y báo sẽ tốt. Chánh báo tốt đẹp, hạnh phúc đối với Phật tử tại gia nói riêng không gì bằng vâng thọ tam quy, giữ gìn ngũ giới, từ đó tiến mãi hướng giải thoát.

Chánh báo là nền tảng cho mọi thành tựu của con người. Do đó, Đức Phật dạy: “Phàm làm điều gì phải nghĩ đến hậu quả của nó”. Quả báo chính là bà Thanh Đề tham lam ích kỷ, ngay nơi cảnh đọa đày đau khổ vẫn ôm tâm bỏn xẻn nên (Y báo) bát cơm do người con Đại hiếu Mục Kiền Liên dâng cúng cũng hóa thành lửa, không dùng được. Nếu ngay lúc ấy tâm bà (Chánh báo) Thanh Đề khởi niệm rộng rãi thì Y báo đáp ứng khỏi bị đói khát. Vì vậy, Chánh báo tức tâm biết tu thì mọi điều tốt đẹp sẽ đến. Cần nên hiểu chữ tu là sửa đổi, chỉnh đốn, mài dũa.

Ví dụ: Tôi tu cái mặt, tức là tôi rửa cái mặt... chứ không chỉ vào chùa cạo tóc, “Hạ thủ công phu” mới gọi là tu thì quá hạn hẹp. Tu là hoán đổi tánh hư tật xấu trở thành người tốt đẹp. Người thế gian hiểu nhầm đã đành, mà người Phật tử thọ Tam quy, Ngũ giới hiểu lệch lạc mới quá khổ! Nhà Phật dạy: “Tu cái tâm, dưỡng cái tánh. Tâm không tu thì cạo tóc ở trong chùa chẳng khác nào mấy anh cầu thủ vẫn cạo tóc kia mà! Thậm tệ hơn, người đời thường nói: Để khi già mới tu! Do đó, xây dựng Chánh báo là điều quan trọng, tức là tu tâm. Xây dựng Chánh báo là tâm phát nguyện giữ giới, không sát sanh hại vật, không trộm cắp tà vạy, không điêu ngoa xảo quyệt, không đâm thọc lừa đảo, không say sưa be bét mà phát nguyện phóng sanh bố thí, mở rộng lòng từ, không thủ đoạn lấn áp, chèn ép cuộc sống, không hách dịch khinh người, quý mến lẫn nhau, hiếu kính cha mẹ, ông bà, tôn trọng mọi sự sống, quan tâm giúp đỡ sự nghiệp giáo dục để đào tạo mẫu người tốt cho xã hội, ích nước lợi dân thì ai không quý mến, kính trọng đối với ta. Do Chánh báo, tức là bản thân và tâm niệm ta tốt nên mọi người trong gia đình làng xóm xã hội đều kính yêu ta, tức kết quả tùy theo đó mà mang lại tiếng lành danh thơm, nghĩa là y báo nhịp nhàng theo chánh báo, giống như người xưa thường nói: “Hình ngay bóng thẳng”.

  1. Con người và hoàn cảnh:

Nếu Chánh báo tức con người có tài đức, dù ở lãnh vực nào, hoàn cảnh nào vẫn tạo nên mọi ích lợi chung mới đáng trọng. Chánh báo tốt nghĩa là người đó luôn luôn có tâm niệm đẹp, tài đức song toàn, bao giờ họ cũng nghĩ đến lợi ích cho số đông, không ích kỷ nhỏ mọn, cuộc sống nhẹ nhàng. Vì thế, người Phật tử chúng ta nên xây dựng Chánh báo bằng nhiều phương thức Chân, Thiện, Mỹ thì Y báo phụ thuộc theo đó mà hỗ trợ cho chúng ta mọi ý nguyện tìm cầu giải thoát.

  1. Kết luận:

Những giải trình nêu trên cho chúng ta nhận định rõ ràng, nên cải hóa, bồi dưỡng Chánh báo thật tốt để thân không làm ác, miệng không nói những lời ác độc, ý không nghĩ xấu, ba nghiệp tu thiện sẽ bước đến bờ giải thoát.

Hãy làm theo chánh pháp,

Việc ác tránh không làm.

Người thật hành đúng chánh pháp,

Đời này vui đời sau cũng vui.

(Kinh Pháp Cú: -169)

Bài I-16 TỤNG KINH - TRÌ CHÚ - NIỆM PHẬT

(Tiếp theo)

-HT.Thích Huệ Quang-

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp

Bá thiên vạn kiếp nan tạo ngộ

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì

Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa. (Giải)

 

Mở đề:

Người Phật tử đã phát tâm tu theo pháp Phật, nếu chỉ Thờ - Lạy - Cúng thì chưa thể gọi là thuần thành. Bởi vì ba món trên là hình thức, thuộc về Sự; còn Tụng Kinh - Trì Chú - Niệm Phật thuộc về . Sự - Lý viên dung công đức mới thành tựu.

Hơn nữa, từ vô thỉ cái vọng hoặc đã thành chủng tử ẩn núp trong tàng thức dễ phát hiện hằng giờ, dễ gây ra những loạn tưởng vọng niệm. Nay nhờ tiếng Kinh (lời Phật dạy), nương đó để tâm hồn ta được yên lặng sáng suốt, ý ta trở về với chánh niệm, tỏ ngộ lý lẽ huyền diệu của chư Phật. Do đó tụng Kinh, niệm Phật là ta thâu tâm vào một cảnh (cảnh Phật thanh tịnh), nhiếp ý vào tiếng Kinh. Tâm cảnh nhứt như trở thành Phật đạo.

Bởi vì cùng với thờ lạy và cúng Phật, chúng ta cần phải Tụng Kinh - Trì Chú - Niệm Phật là căn bản của người Phật tử vậy.

Định nghĩa Tụng Kinh:

  1. Tụng: Là đọc thành tiếng với tấm lòng thành kính, giọng điệu thiền âm đọc theo tiếng chuông, tiếng mõ.
  2. Kinh: Là lời dạy của Phật, được ghi chép thành bộ gọi là Kinh, bao gồm các phương pháp tu hành, còn gọi là Pháp Bảo. Kinh là một trong 3 tạng pháp do Đức Phật nói trong 49 năm, chia ra từng thời giảng và nhiều bộ mà chỉ dạy hợp với chơn lý, tùy theo căn cơ của chúng sanh. Mỗi bộ Kinh có một ý nghĩa, chỉ dạy từng phương thức tu tập. Đơn cử như Kinh A-Di-Đà.

Đức Bổn Sư chỉ bày Y báo - Chánh báo của Đức Phật A-Di-Đà đầy đủ công đức thanh tịnh, trang nghiêm nơi cảnh Tịnh độ an lạc, khuyến chúng sanh phát chánh tín, phát thiện hạnh, phát nguyện chí thành trì niệm danh hiệu Đức Phật A-Di-Đà, sẽ được nhờ Chư Phật sáu phương hộ niệm. Chư Thiên, thiện nhơn hộ trì, tức sẽ được vãng sanh lên bực Bất thối.

Kinh Địa Tạng, nơi cung Trời Đao Lợi vì Phật mẫu mà Bổn Sư nói rõ các hạnh nghiệp của chúng sanh, tùy theo đó mà thọ quả.

Kinh Vu Lan, Phật dạy phương pháp báo hiếu.

Do đó, tụng Kinh phải tịnh tâm từng câu Kinh để hiểu ý nghĩa lời dạy của Phật (đọc Kinh giả minh Phật chi lý), thân phải trang nghiêm cung kính, miệng đọc tụng suốt thấu câu Kinh, ý liên tưởng xét từng chữ tụng. Ba nghiệp cũng kết hợp trong câu Kinh công đức được vô lượng.

Cách thức nơi tụng Kinh: Nơi chỗ tụng Kinh phải chỉnh đốn trang nghiêm. Thân phải chỉnh tề ngay thẳng dáng vẻ cung kính, miệng đọc từng câu, từng chữ rõ ràng tránh nhầm lẫn sai sót, tiếng dịu dàng vừa phải. Ý luôn theo dõi câu Kinh, xét nghĩ ý nghĩa, chớ để tâm leo qua cảnh khác, và theo đó mà tu hành.

Lợi ích: Trong một thời tụng Kinh mà ba nghiệp được thanh tịnh, giới định được viên mãn, trí huệ được phát triển. Công đức vô lượng đem lại lợi ích cho mình, cho gia đình và cùng các người chung quanh. Hơn nữa, Pháp âm của Chư Phật lại được rộng truyền.

Định nghĩa Trì Chú:

  1. Trì : Nắm giữ, bền chắc
  2. Chú : Chú nguyện, chú tâm. Chú: Đọc đủ là thần chú. Thần: Uy linh bất trắc. Chú: Tùy tâm sở nguyện (giải).

Y nơi Kinh lập danh, đó là nghĩa hiển.

Y nơi Chú lập danh, đó là nghĩa mật, vì mật nên không thể giải mà chỉ đọc theo Phạm âm.

Tụng Kinh và Trì Chú có gì khác nhau không?

+ Có khác nhau về thể cách: Kinh tụng chậm mau theo âm điệu và theo sở nguyện nhiều ít. Chú trì chú nguyện bền chắc, lời đọc có phần mau hơn và đọc nhiều lần.

+ Không khác về tâm nguyện: Tương ứng theo sự mong cầu tiêu ba nghiệp, phát trí huệ nên khi trì niệm, ý chăm chú liên tưởng đến sự cầu nguyện không nên lửng lờ. Ba nghiệp tương ứng đầy đủ như thế, sự cầu nguyện sở thành, công đức vô lượng.

Lợi ích của sự trì chú:

Chú có công năng vô lượng. Nếu người thành tâm trì chú thì được nhiều hiệu lực phi thường không thể tưởng tượng được. Kinh nói: Nguyện các đức Như Lai ở mười phương nhân nơi chú tâm đây mà đắc đạo quả Phật (NKHG)

Xin trích dẫn sự lợi ích nơi Chú Đại Bi.

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát nói rằng: Trước vô lượng kiếp có Đức Phật ra đời hiệu là Thiên Quang Vương Như Lai, Ngài thuyết Thần Chú Đại Bi Tâm Đà La Ni. Hồi đó tôi mới chứng được sơ địa, chỉ nghe một lần tôi liền được siêu chứng thập địa. Tức thời tôi phát nguyện: Qua đời sau, nếu tôi có làm lợi ích cho chúng sanh thì giờ đây cho tôi được nảy sanh ngàn tay ngàn mắt, tức thời tôi được như ý; và tôi còn nguyện: Nếu người nào tụng được trăm biến Đại Bi Thần Chú đây, thì có thể trừ dứt 5 ngàn ức kiếp sanh tử trọng tội, thân tâm được an ổn. Đến lúc mạng chung được Chư Phật Bồ Tát nắm tay dẫn dắt về cõi Cực Lạc. (NKHG trang 75)

Bài I-17 TỤNG KINH - TRÌ CHÚ - NIỆM PHẬT (Tiếp theo)

-HT.Thích Huệ Quang-

Mở đề:

Niệm Phật là tâm tưởng ghi nhớ danh hiệu của Đức Phật. Cảm nhận hạnh nguyện độ sanh của Đức Phật đó. Bởi vì chúng sanh (nói chung) sống trong kiếp luân hồi, vì vô minh nên tham ái ràng buộc, mờ đục chân tâm, vọng tưởng phát khởi, chẳng khác trong nước có bùn nhơ. Nay muốn được trong cần có chút phèn, chất nhơ sẽ lắng, nước lại được trong. Vậy, câu niệm Phật có công năng phá trừ vọng niệm, hóa giải phiền não, khiến cho người niệm Phật tâm sanh chánh niệm, giải trừ phiền não, trí tuệ phát khởi.

Hơn nữa, câu niệm Phật công đức rất to lớn, gồm thâu cả 3 tạng giáo điển, các thần chú, cùng các pháp viên đốn như tham thiền, quán tưởng. (PHPT tr. 148) NKHG332.

Cuộc đời muôn đắng ngàn cay

Một câu niệm Phật tan ngay tức thì

Niệm Phật dứt bỏ oán thù

Lòng không hung dữ ngục tù đâu vương

Niệm Phật mở rộng lòng thương

Oán thương bình đẳng tai ương nào vào.

Vậy niệm danh hiệu của Đức Phật nào?

Đức Phật nào cũng có đủ 10 danh hiệu (1), một tâm toàn giác, từ bi phước trí vô biên. Niệm danh hiệu của Đức Phật nào cũng đều có cảm ứng công đức như vậy.

Tuy nhiên, để thích hợp với mọi hoàn cảnh, căn cơ tâm nguyện, cũng là một pháp môn tu, thường gắn bó với niệm Phật nên đa số Phật tử trì tụng danh hiệu của Đức Phật A-Di-Đà còn gọi là tu pháp môn Tịnh độ. Do lời dạy của Đức Phật Thích Ca rằng: Đến thời mạt pháp cách Phật rất xa, chỉ còn lưu truyền Kinh A Di Đà và câu lục tự Di Đà đủ năng lực để đưa chúng sanh về cõi Cực lạc.

Vậy phải niệm Phật bằng cách nào?

Có nhiều cách như: Trì danh Niệm Phật, Tham cứu niệm Phật, Quán tưởng niệm Phật, Thật tướng niệm Phật.

  1. Trì danh Niệm Phật: Là giữ một lòng nhớ danh hiệu Phật. Tâm quán tưởng 6 chữ Nam mô A-Di-Đà Phật. Tâm tưởng, miệng niệm, ý nghĩ quen dần kết thành ghi nhớ.
  2. Tham cứu niệm Phật: Pháp niệm này cũng giống như trên, nhưng thêm vào vừa niệm vừa suy xét thân phận nơi mình và công đức độ sanh cũng như cảnh giới của Đức Phật.
  3. Quán tưởng niệm Phật: Pháp niệm này vừa niệm vừa hình dung Đức Phật. Ý tưởng chư Phật thấy ta và ta thấy Phật (Pháp này dễ đi đến chỗ nhứt tâm).
  4. Thật tướng niệm Phật: Pháp niệm với chân tâm, không biến dịch với thanh tịnh Như Lai (PHPT- tr 336-q1)

Lại còn có 4 cách sau đây:

  1. Niệm ra tiếng: Đối trị tán loạn hôn trầm.
  2. Niệm mặc nhiên: Niệm lâm râm, niệm không ra tiếng, nhưng tinh thần đặt hết vào câu niệm Phật.
  3. Niệm lễ bái: Miệng niệm, thân lạy; miệng niệm câu Phật hiệu, thân lạy 1 lạy. Ý nghĩ đến Phật, thân, khẩu, ý tập trung vào câu hiệu Phật, không còn chỗ hở để trần sự xen vào.
  4. Niệm không niệm vẫn là niệm: Mặc dù có niệm thành lời hay không, nhưng tâm vẫn nhớ câu niệm, coi như câu niệm Phật nằm trong tâm. Sở dĩ miệng niệm là cốt nhắc cho tâm nhớ.

Như thế, cứu cánh của pháp môn niệm Phật thành đạt. Song muốn có kết quả mỹ mãn, điều kiện phải có 3 món tư lương là Tín, Nguyện, Hạnh là căn bản của tu pháp môn Tịnh độ.

- Tín: Là tin lời dạy của Đức Thế Tôn từ bi chân thật dạy tu pháp môn này. Tin thế giới ta đang sống nầy đầy phiền não ô trược. Cõi Tịnh độ trang nghiêm thanh tịnh do nguyện lực của Đức Phật A-Di-Đà là thật có và 48 lời thệ nguyện của Đức Phật A-Di-Đà là chơn thật. Tín chánh niệm của ta cùng tâm niệm của Đức Phật A-Di-Đà chắc chắn cảm ứng với nhau, thế nào cũng được tiếp dẫn vãng sanh.

- Nguyện: Thực hiện các điều lành, luôn giữ câu niệm Phật. Lìa 3 nghiệp, vượt bến mê, sớm giác ngộ là một lòng cầu về Tịnh độ. Hơn nữa, lập chí với sự thiết tha, lập nguyện với tấm lòng bền vững; dù đạo hay đời muốn thành tựu chí hướng phải kiên định.

- Hạnh: Thực hiện theo chí nguyện, bền giữ câu niệm A-Di-Đà, niệm mãi đến lúc nào được nhất tâm bất loạn.

Lợi ích câu niệm Phật của pháp môn Tịnh độ:

Đạo Phật có muôn ngàn pháp môn, nhưng pháp môn niệm Phật dễ tu, mau chứng hơn cả (PHPT tr.368 q1), với lời thệ nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của Đức Phật A-Di-Đà là: Thề quyết không giữ ngôi chánh giác, nếu khi tôi thành Phật có chúng sanh trong 10 phương một lòng tin tưởng Tôi, hằng ngày niệm danh hiệu Tôi để cầu vãng sanh cực lạc mà đến khi lâm chung chẳng được như nguyện.

- Niệm Phật trừ được niệm của chúng sanh.

- Niệm Phật trừ được tâm buồn phiền.

- Niệm Phật để hóa giải các oán khiên.

- Niệm Phật mừng vui cùng đạo hữu.

Tóm lại, kết quả Pháp môn niệm Phật là viên đốn, lại thích hợp với mọi hoàn cảnh căn cơ trình độ của quần chúng, người trí thức, bác nông phu, người thợ thuyền, kẻ buôn bán ở đâu cũng đều niệm Phật được cả. Tuy dễ tu mà kết quả chắc thật viên mãn được vãng sanh Cực lạc quốc.

Chúng ta trót sinh ra trong cõi Ta bà này, ai cũng biết có thân là khổ, dù được vui chỉ chốc lát chỉ là tạm bợ, mà khổ lại theo đuổi triền miên. Vậy chúng ta chuyên cần niệm Phật để sớm được giải thoát.

Mạc đãi lão lai phương niệm Phật

Cô phần đa thị thiếu niên nhơn.

Bài I-18 TỤNG KINH - TRÌ CHÚ - NIỆM PHẬT (Tiếp theo)

-HT.Thích Huệ Quang-

Mở đề:

Như đã nói ở bài trước. Nay muốn được rõ nghĩa câu Kinh, mà Đức Phật đã nói để dạy chúng ta tu hành. Sau đây, tôi trích một câu Kinh mà chúng ta thường đọc tụng để rõ ý nghĩa (tụng Kinh Giả Phật Chi Lý).

Đề Kinh - Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não.

Tam chướng: Nghiệp báo chướng, Sở tri chướng, Phiền não chướng.

Phiền não: mệt nhọc, âu lo, buồn phiền, mê dối (hoặc), phiền não làm rối loạn thân tâm, chẳng đặng giác ngộ làm trở ngại Đạo quả Niết bàn.

Phiền não - chủ yếu nơi nội tâm chờ ra mặt.

Phiền não được chia làm hai loại:

Loại 1: Căn bản phiền não.

Loại 2: Tùy phiền não.

  1. Căn bản có 6 giống:
  2. Tham: Ham muốn - Dục - Ái.
  3. Sân : Trái sự ham muốn giữa ta và người sinh ra hờn giận.
  4. Si: U tối không rõ thị phi. Không tin nhân quả,sanh khởi các giống tà kiến, tà hạnh.
  5. Mạn: Tự ngã - Khinh thường.
  6. Nghi: Hoài nghi - Thiếu tin tưởng.
  7. Ác kiến: Mất chánh kiến, thấy biết sai lầm với 5 giống trên, sanh tập quán nhiễm sân, mê hoặc tối tăm. Đây là 5 độn sử thuộc tư hoặc, nay học để hiểu rõ, thời gian ngắn, sức tu hành giảm dần đến chỗ đoạn trừ.

Ác kiến có 5 giống - Tư tưởng đen tối, thấy biết sai lầm. Giống phiền não này ngăn cản sự thấy biết chính xác chân lý để lãnh ngộ (còn gọi Kiến hoặc hay Lợi sử).

Cần tu học với thời gian đoạn trừ, cho thấy biết được chân chánh lợi ích việc tu chứng.

  1. Tùy phiền não có ba loại:
  2. Tiểu tùy phiền não có 10 giống:
  3. Phẫn : Hung bạo - Nộ khí.
  4. Hận : Tích kiết sự thù oán.
  5. Phú : Lật lạc - Tráo trở - Che dấu.
  6. Não : Áo não - Phiền muộn
  7. Tật : Đố kỵ - Ganh ghét.
  8. Xan : Keo cú gạt gẫm.
  9. Cuống : Dối trá khinh mạng.
  10. Siểm: Ninh hót, bợ đỡ.
  11. Hại : Hành động hung ác, do sân hận phát sinh tàn nhẫn.
  12. Kiêu: Tự đắc, tự cao.
  13. Trung tùy phiền não có 8 giống:
  14. Vô tàm: Đối nội tâm, không biết hổ thẹn.
  15. Vô quý: Đối ngoại cảnh không biết lo sợ để sửa chữa
  16. Đại tùy phiền não có 8 giống:
  17. Hôn trầm : Tâm gật gù u tối.
  18. Trạo hối : Tâm xáo trộn không yên (bất định).
  19. Bất tín : Tâm thiếu tin tưởng nhân quả...
  20. Giải đãi : Chần chờ không siêng năng.
  21. Phóng dật : Phóng túng, không biết tự kiềm chế.
  22. Thất niệm : Tâm mất chánh niệm.
  23. Tán loạn : Tâm không chuyên nhất.
  24. Bất chánh tri : Mất chính xác sự thấy biết.

Trên đây do 6 giống phiền não, trước sanh khởi 3 loại sau (tiểu, trung, đại) còn gọi là Chi mạt phiền não, làm trở ngại cho việc tu hành, ngăn che trí tuệ, thối thất tâm Bồ Đề. Nay chúng ta biết phiền não nó là gì, để cố gắng đoạn trừ bằng trí tuệ, để thăng hoa việc tu hành, tiến lên bờ giác.

Bài đọc thêm I-1 MẪU NGƯỜI SIÊU VIỆT

Thích Trí Viên-

Nam Mô Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật

 

Kính thưa quý Phật tử!

Hôm nay mùa sen đã nở, Phật đản lại về. Người con Phật khắp năm châu bốn biển thiết lễ kỷ niệm một mẫu người siêu việt trong tập thể loài người. Người siêu việt ấy chính là Thái tử Tất-Đạt-Đa, con Vua Tịnh-Phạn và Hoàng hậu Ma-Da ở phía Bắc Ấn Độ.

Theo tục lệ Ấn Độ, người con gái sinh con đầu lòng phải về nơi quê cha đất mẹ để sinh con. Hoàng hậu Ma-Da cũng không ngoài tục lệ ấy.

Xa giá và đoàn nữ tùy tùng đưa Hoàng hậu Ma-Da lên đường về quê mẹ. Mấy chốc, đoàn người ra khỏi cấm thành, ngang qua khu vườn có hoa thơm cỏ lạ, Hoàng hậu ra lệnh ngừng xe, vừa bước xuống xe một đóa hoa vô ưu hé nở. Hoàng hậu đưa tay lên hái thì hạ sinh Thái tử. Nhà Vua nghe tin này rất mừng. Vua Tịnh-Phạn sắc lệnh đoàn người đến rước Hoàng hậu Ma-Da và Thái tử. Về đến cung triều, nhà vua sắc lệnh mở yến tiệc, mở kho lương thực bố thí mọi người nghèo khó. Thái tử được đặt tên là Tất-Đạt-Đa (Nhứt thiết nghĩa thành).

Một Thái tử đầu lòng nên được chăm sóc đặc biệt, quan tâm nuôi dưỡng không kể cả thời tiết. Ngày tháng trôi nhanh Thái tử lớn lên, suy tư càng lớn. Một ngày nọ, ý chí vượt thành xuất gia lại đến, sau những lần ra 4 cửa thành cùng vua cha ngoạn cảnh.

Thái tử Tất-Đạt-Đa là một con người như bao con người có mặt nơi thế gian này, nghĩa là cũng sinh từ bụng mẹ, bằng xương, bằng thịt. Nhưng khác với con người là Thái tử sớm ý thức được cuộc đời là vô thường, là đau khổ, là ích kỷ, là tham lam, là thù hận, cho nên Thái tử bằng mọi cách tránh nó đi, tìm cho mình lối sống thanh cao, giàu lòng nhân ái, rồi đem cái thanh cao, nhân ái ấy chỉ dạy cho mọi người.

Khi ý thức điều ấy một cách rõ ràng, giữa đêm, Thái tử Tất-Đạt-Đa đã vượt thành xuất gia, bỏ lại cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, một mình một bóng vào rừng tu học. Giờ đây:

“Chiếc thân vui bạn với yên hà,

Theo tiếng gọi lòng từ thôi thúc

Rừng khổ hạnh lần dò bước tới...

Kham chịu cảnh màn trời chiếu đất,

Không ngại ngùng thú dữ ma thiêng.”

Vào rừng học đạo, không có nghĩa là chấp nhận mọi cách tu của các giáo phái (tu khổ hạnh, làm nhục thân xác...). Lúc đầu Ngài cũng thực tập như mọi người, nhưng rồi không một phương pháp tu hành nào được kết quả giải thoát mà chỉ là hành hạ xác thân, phơi bày si mê, cuồng loạn. Thái tử Tất-Đạt-Đa tự chọn cho mình một phương pháp tu hành khác.

Như vậy, qua 6 năm trường, phí mất bao nhiêu thời gian và sức lực, cuối cùng còn lại một thân hình da bọc xương, thể xác ngày càng yếu đuối. Một ngày nọ, Thái tử xuống sông Ni-Liên-Thuyền, tắm rửa tự thân sạch sẽ, vừa lên bờ sông, có hai thí chủ cúng một bát sữa cừu tươi, Ngài hoan hỉ nhận lấy. Sau khi uống sữa, tinh thần của Thái tử tỉnh lại, thân thể khỏe dần. Thái tử Tất-Đạt-Đa bước vào rừng sâu, đi mãi đi mãi, cuối cùng gặp một gốc cây to lớn, cành lá tỏa mát. Thái tử chọn nơi đây là nơi dừng chân cuối cùng. Thái tử sửa soạn chỗ ngồi và thệ nguyện rằng: “Dù thịt Ta có rửa, xương Ta có mục, máu Ta có khô, nếu Ta chưa tìm ra chân lý thì Ta không rời khỏi gốc cây này”. Thái tử bắt đầu áp dụng phương pháp tu.

Thiền tọa, quán tưởng là duy nhất. Thái tử tọa thiền để quán tưởng: Vì sao chúng sanh phải sanh, già, chết và khổ. Khổ khi sanh, khổ khi sống, khổ khi bệnh tật, khi chết và luân hồi trong biển khổ ấy mãi mãi. Gần trọn 49 ngày đêm, Thái tử thiền tọa quán tưởng liên tục. Bằng sự quán tưởng không ngừng nghỉ, tận cùng của sự quán tưởng. Ngài đã khám phá được do 12 chuỗi duyên sinh trói buộc liên tục, chính là nguồn gốc của mọi sự thống khổ và đau thương mà chúng sanh phải chịu một quy luật liên tục chi phối trong nhiều kiếp sống. Nhờ sự chứng đạt này, Ngài có một năng lực phi thường, trí tuệ siêu việt, để cuối cùng trở thành một vị Đại Giác Ngộ có một không hai trên thế gian này.

Không một sự thành công nào mà không trải qua gian nan thử thách. Cho nên, Thái tử Tất-Đạt-Đa cũng phải đối diện mọi chướng ngại ấy, nhất là đêm cuối cùng trước giờ quyết định thành Phật. Quyết liệt nội chướng, thân Ngài ngứa rát khó chịu, bên ngoài xuất hiện những đạo binh ghê tởm, mặt dữ hung tợn, chúng ra lệnh Ngài phải đứng dậy. Nhưng Ngài kiên định không nhúc nhích, chúng ma dùng tên bắn xối xả. Không được cách này, chúng dùng mỹ nhân kế khuyến dụ, cuối cùng bị Ngài quát rằng: “Túi đựng đồ hôi thúi, các người mang đi nơi khác, Ta không cần những thứ nhơ ấy”.

Như vậy, cả nội ma, ngoại chướng không làm Ngài lay chuyển. Ngài dứt sạch dục lậu phiền não, nên canh hai, Ngài chứng được Túc Mạng Minh, nghĩa là Ngài đã nhận thấy toàn bộ những quá khứ kiếp đã là gì, sống thế nào. Canh ba Ngài chứng Thiên Nhãn Minh, nghĩa là Ngài đã thấy tất cả mọi sự thật giả dối của sự vật. Canh tư, Ngài chứng Lậu Tận Minh, tận diệt mọi Hoặc - Nghiệp, thấy rõ Pháp Tứ Đế, đoạn tận mọi mê lầm. Khi sao Mai vừa mọc, Ngài hốt nhiên Đại Ngộ, nghĩa là Ngài đã thành Phật và tuyên bố với muôn loài rằng: “Ta lang thang trong vòng luân hồi sanh tử qua bao nhiều kiếp sống, tìm mãi mà chưa gặp kẻ làm nhà, hôm nay Ta đã biết rõ chân tướng kẻ làm nhà”. Ngài tuyên bố: “Hởi kẻ làm nhà! Nay Ta đã gặp nhà ngươi rồi, ngươi không còn tham vọng xây cất nhà theo ý ham muốn mẫu mã của nhàngươi. Tất cả rui mè, kèo cột của nhà ngươi đều bị tàn lụi hết rồi”.

Bộ mặt thật, tạm bợ của đảo điên, vô thường được phơi bày qua trí tuệ bừng sáng của Bậc Đại Giác, làm rung chuyển cả sơn hà vũ trụ, chim muông ca hát, hoa lá xanh tươi, nhạc trời nổi dậy, chư thiên vui mừng chấp tay kính lễ đấng Đại giác của muôn loài. Chính giờ phút này, ánh hào quang tỏa chiếu khắp vũ trụ, sơn hà. Bấy giờ Ngài vừa tròn 30 tuổi.

* Bước đường giáo hóa:

Sau khi chứng quả Đại Giác, Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni còn do dự, phân vân việc chỉ dạy chúng sanh những sự thật mà Ngài chứng ngộ. Nhưng nhìn lại, căn cơ chúng sanh mỗi người mỗi khác, căn trí chậm chạp. Họ sống như những nụ sen trong đầm nước, có cái vừa mới ló lên mặt nước nhưng chưa nở, có cái ló lên đã nở, có cái còn ngâm trong nước. Đức Phật chưa quyết định rời tòa Đạo Tràng thì vua Trời Phạm Thiên biết được ý nghĩ của Phật, liền hiện xuống cầu Phật đem giáo pháp của Ngài chứng ngộ chỉ dạy cho chúng sanh, để tỏ ngộ đâu là vô thường, đâu là vô ngã, đâu là đau khổ, đâu là Niết bàn an vui, giải thoát tự tại. Qua lời cầu thỉnh chân thành của Trời Phạm Thiên, Giáo Pháp của Ngài được ban như một trận mưa, cây lớn thì hứng nhiều nước, cây nhỏ thì tiếp nhận ít. Chúng sanh cũng thế, căn trí lanh lẹ thì tiếp thu nhanh nhẹn, căn trí chậm chạp thì tiếp nhận ảo mờ.

Những người được giáo hóa đầu tiên là năm anh em Kiều Trần Như. Đây là những bạn đồng tu ban đầu với Ngài, nhưng phương pháp tu hành không phù hợp với con đường Giác Ngộ, nên Đức Phật đã bỏ nhóm năm anh em Kiều Trần Như, một mình một bóng, tự chọn cho mình phương pháp tu hành khác. Do đó, Ngài đạt kết quả mà hôm nay nhân loại vẫn còn ca tụng. Bài pháp đầu tiên, Đức Phật dạy cho năm anh em Kiều Trần Như là Tứ Diệu Đế, tại Lộc Uyển. Đây cũng là bài giảng đầu tiên trên bước đường hoằng hóa độ sanh của Đức Phật. Và cứ như thế, hàng ngàn lớp học hình thành, từ vua chúa đến thứ dân, không phân biệt kẻ sang người hèn, hễ ai có duyên đều được Phật hóa độ không phân biệt giai cấp, lớn nhỏ, màu da.

Sau khi giáo hóa năm anh em Kiều Trần Như, năm người trở thành những vị xuất gia đầu tiên và Tam Bảo được hình thành tại ngôi vườn này. Như vậy, chúng ta biết rằng, trong thời Đức Phật còn tại thế là thời kỳ chánh pháp, mà thời đại chúng ta đang sống là thời kỳ mạt pháp, sự tu hành và chứng ngộ rất khó đạt.

Lòng kiên định và tính nhẫn nại của Phật Giáo, mà hình ảnh linh động nhất, trọn vẹn nhất, kính ngưỡng nhất là dung mạo Đức Phật. Ngài từ một con người, thật là người, làm điểm tựa, tự mình đi tìm đạo, tự mình tu khổ hạnh, tự mình chịu nhẫn nhục cho đến khi chứng quả, không nhờ một thần lực nào, không nương cậy quyền thế nào mà chỉ nương nơi chính mình để đạt phạm hạnh tối thượng Giác ngộ.

Kính thưa quý vị Phật tử!

Chúng ta là những Phật tử bất hạnh, không sanh cùng thời có Phật, lại trót kiếp vị lai mạt pháp. Sống trong tham lam và giành giật, là vì chúng ta đã đồng lõa với Si-Mê mà tạo nghiệp. Đã tạo nghiệp thì lời Đức Phật dạy: “Con người, tự chủ động hành vi của mình, và chịu trách nhiệm đối với cuộc sống hiện tại và tương lai của mình, không quy trách nhiệm cho thần thánh hay bất cứ thế lực siêu nhân nào. Chỉ có con người với con người mới chịu trách nhiệm về cuộc sống hạnh phúc hay đau khổ của bản thân chính mình”.

Tự mình điều ác làm

Tự mình làm nhiễm ô

Tự mình ác không làm

Tự mình làm thanh tịnh

Tịnh không tịnh tự mình

Không ai thanh tịnh ai!

(Kinh Pháp Cú: 155)

Như vậy, chỉ có hành động nghiệp là quan trọng, chi phối toàn bộ cuộc sống của con người. Trong thời mạt pháp, chúng ta biết nghe, biết suy nghĩ, biết quay về tự thân, nghĩa là chúng ta biết vâng theo những di huấn của Đức Phật để lại. Tuy chúng ta đang lặn hụp trong biển tình mạt pháp mà ý thức được không xuôi dòng biển tình tham lam và ích kỷ thì chính chúng ta có thiện duyên với Phật Pháp. Chúng ta nên cố gắng gây thêm những thắng duyên để ngày càng phát triển. Nếu quá khứ ảnh hưởng điều thiện, thì hiện tại và tương lai quyết định hạnh phúc cho chính mình.

Khả năng chuyển ác thành thiện là sự mong cầu của Đức Phật đối với con người, đối với xã hội. Được như vậy, chính mình là Phật, là một người không chỉ vì mình mà vì đồng loại, chúng sanh, vì một xã hội tốt đẹp, mọi người sống thật sự an vui, tôn trọng lẫn nhau, cuộc sống trong lành, nhà nhà an vui, hoa lá xanh màu, môi trường được trong sạch, mọi sự được bảo vệ.

Trong giờ phút thiêng liêng này, Phật tử chúng ta nguyện cầu chư Phật gia hộ muôn loài chúng sanh được tắm gội trong tình thương và lẽ phải, biết quay về con đường Giác Ngộ như sự tỏa chiếu hào quang ngày Đản sanh Đức Từ Phụ Thích-Ca-Mâu-Ni, mà hôm nay chúng ta thiết lễ kỷ niệm.

NAM MÔ LÂM TỲ NI VIÊN, VÔ ƯU THỌ HẠ,

THỊ HIỆN ĐẢN SANH,

BỔN SƯ THÍCH-CA-MÂU-NI PHẬT

Bài đọc thêm I-2 THÔNG ĐIỆP SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT

-Thích Thông Huệ-

 

Vào ngày trăng tròn cách đây trên 25 thế kỷ, có một bậc vĩ nhân xuất hiện ở đời. Ngài sinh vào cung Vua Tịnh Phạn năm 563 trước Tây lịch. Đó là Thái tử Sĩ Đạt Ta, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Cuộc đời của Ngài từ lúc đản sinh cho đến khi nhập diệt là một cuộc đời hết sức đẹp đẽ và có ý nghĩa. Ngài đã đi vào quá khứ, nhưng uy đức và trí tuệ của Ngài vẫn còn sống mãi với con người và cuộc đời. Hôm nay, nhân ngày Phật đản sinh, chúng ta cần ôn lại một đôi điều trong các Kinh điển Phật giáo để hiểu được ý nghĩa sự ra đời của Đức Từ phụ. Từ đó chúng ta nguyện noi gương Ngài, luôn tinh tấn trên bước đường tự lợi, lợi tha. Chúng ta đều biết, Hoàng Hậu Ma Gia hạ sinh Ngài tại vườn Lâm Tỳ Ni, trên đường về quê ngoại. Khi mới sinh ra, Ngài đi được bảy bước, mỗi bước có hoa sen nâng chân, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, Ngài đọc bài kệ như sau:

Thiên thượng Thiên hạ

Duy ngã độc tôn

Nhất thiết thế gian

Sinh lão bệnh tử

Tạm dịch:

Trên trời và dưới trời

Chỉ có Ta trên hết

Tất cả trong thế gian

Đều Sinh lão bệnh tử

Những hình ảnh trên đây mang nhiều ý nghĩa rất sâu mầu. Vì sao Thái tử Sĩ Đạt Ta đi bảy bước mà không nhiều hơn hoặc ít hơn? Con số bảy nói lên điều gì? Về mặt thời gian, người ta thường cho là có ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Về không gian thì có bốn phương chính: Đông, Tây, Nam, Bắc. Nhưng quan niệm về thời gian và không gian, thật ra chỉ là con đẻ của vọng tưởng, không phải là lẽ thực. Cho nên, hình ảnh Thái tử đi bảy bước tượng trưng Ngài đã siêu vượt được thời gian và không gian, không còn bị ràng buộc trong những quy ước tương đối của con người.

Về hoa sen, tất cả một Phật tử đều biết một đặc điểm rất tuyệt vời của nó, là mọc từ bùn nhơ mà vươn lên rồi toả hương thơm ngát. Hoa sen ở trong bùn mà không bị lấm bùn, không bị bùn làm ô nhiêm. Thái tử cũng như thế, sinh vào chốn trần lao để làm lợi ích cho chúng sinh nhưng không bị vướng mắc, nhiễm nhơ bởi bùn lầy ngũ dục.

Bài kệ bốn câu Ngài đọc đã làm một số người hiểu lầm. Đạo Phật là đạo Vô ngã, vì sao vị Giáo chủ lại đề cao cái “Ta” của mình quá đáng như thế? Nếu đọc kỹ hai câu sau, chúng ta mới thấy cái nghĩa lý uyên áo trong đó. Tất cả chúng sinh, không ai thoát được bốn điều khổ não là Sanh, Già, Bệnh, Chết, dù ở cõi Chư Thiên (trên trời) hay cõi người (dưới trời). Chỉ riêng “Ta” là trên hết vì “Ta” đã thoát được sự ràng buộc này. Thử hỏi, tất cả những hình tướng của thế gian, có cái gì không chịu sự chi phối của lý vô thường? Có sanh thì có diệt, có hình tướng thì phải có hũy hoại, dù là thân hình có 32 tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Thái tử. Vì thế, cái “Ta” ở đây dứt khoát không phải là cái ngã hữu tình hữu hoại của Ngài, mà chính là cái “Chơn Ngã”. Đó là Chơn-tâm, Phật tánh, là Bản-tâm-thanh-tịnh, là Phật-tri-kiến, là Tâm Viên-giác, là Bản-lai-diện-mục… Nó có vô số tên vì bản chất nó không có tên. Nó không có hình tướng nên không thể bị hũy diệt. Nó trùm khắp vạn hữu nên siêu việt cả không gian và thời gian. Tất cả mọi hàm linh đều có cái Ngã này, không ai hơn không ai kém. Phật đã nhận ra và sống viên mãn với nó nên Ngài thành Phật, còn chúng ta vì quên nó nên cứ mãi trôi lăn trong vòng luân hồi.

Hiểu được những điều này, chúng ta thấy mình được đôi phần an ủi. Nếu chúng ta ngồi trong tư thế thiền tọa, tâm an định không bị vọng tưởng lôi dẫn, thì rõ ràng ngay lúc ấy chúng ta cũng đang ngồi trên tòa sen. Nếu chúng ta đi từng bước thiền hành, tâm an trú trong giờ phút hiện tại mà không duyên theo các pháp, thì mọi bước đi của chúng ta cũng có hoa sen nâng chân. Và nếu chúng ta luôn luôn tinh tấn, gội rữa dần từng lớp bụi ngũ dục, ở ngay trong cuộc đời mà không mà không bị nhiễm ô theo trần cảnh, thì một lúc nào đó, ánh trực giác đột nhiên bừng lên, bóng tối vô minh từ bao đời kiếp sẽ bị xua tan không còn dấu tích.

Trong Kinh A Hàm có câu: Một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường đã xuất hiện trên thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho Chư Thiên và loài người. Vì sao đức Phật được gọi là một “chúng sinh”. Ở đây chúng ta phải hiểu chữ “Chúng sinh” theo nghĩa, các hình tướng do nhiều pháp hợp lại mà thành. Như vậy, thân tướng của đức Phật, dù đủ vẻ đẹp và tướng tốt, cũng là do tứ đại giả hợp mà thành, cũng bất tịnh và vô thường như mọi người. Do đó Ngài cũng là con người, là chúng sinh, nhưng khác chúng ta ở chỗ, Ngài là một con người phi thường, một chúng sinh duy nhất. Bởi vì, Ngài là một chúng sinh không còn tham - sân - si, không còn lậu hoặc phiền não. Bởi vì, Ngài là một con người tuy sinh ra nơi chốn trần lao, nhưng tự tại với mọi cám dỗ của ngũ dục lục trần. Sự xuất hiện của Đức Phật mục đích cao cả, là vì lợi ích và hạnh phúc của Chư Thiên và loài người. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng chói về sự quên mình để đem lại an lạc và chỉ bày chân lý tối thượng cho chúng sinh.

Kinh Pháp Cú 193, Phật dạy: “Khó gặp được Như Lai, không phải đâu cũng có, chỗ nào Phật đản sinh, nơi đó tất an lạc”. Nếu cho rằng Như Lai là Đức Phật có 32 tướng tốt, gọi là Như Lai xuất thế, thì quả thật rất khó gặp. Đức Phật Thích Ca ở Ấn Độ đã nhập diệt trên 2.500 năm, đến nay chúng ta vẫn chưa thấy có một vị Phật nào khác ra đời. Nhưng nếu hiểu theo tinh thần Kinh Kim Cang, Như Lai tức không từ đâu đến cũng không đi về đâu, nghĩa là phi sắc phi tướng, vô hình vô vật, thì khi chúng ta tọa thiền, tâm lặng lẽ mà hằng tri, thì khi ấy Như Lai đã hiện tiền. Một niệm tỉnh giác thì Đức Phật ra đời, vì Phật là Giác. Một niệm điên đảo chạy theo trần cảnh thì Đức Phật nhập diệt. Khi Như Lai tự tâm đản sanh, nghĩa là lúc tâm an định sáng suốt thì rõ ràng nơi ấy tức khắc được an lạc.

Trong Kinh Pháp Cú 182: “Được sinh ra làm người đã là khó. Được sống còn lại khó hơn. Được nghe chánh pháp là khó. Được gặp Đức Phật ra đời là rất khó”. Quả thật, được làm thân người là khó, vì ngoài thế giới loài người ngoài bốn châu nhân gian, còn có các cõi khác như địa ngục, ngạ quỷ… Nhưng cái khó ở đây là khó phát tâm tu hành, vì thường thì những nơi quá sung sướng (như cõi trời) hoặc quá khổ sở (như địa ngục), chúng sinh ít có điều kiện được nhắc nhở để tiến tu. Còn cõi người thì không quá sung sướng mà cũng không quá khổ cực, nhiều khi gặp những thăng trầm trong cuộc sống hay đau khổ mất mát, đó là những cơ hội để con người thấy rõ lý vô thường hay lý nhân quả, từ đó nguyện theo con đường Phật dạy.

Trong bốn cái khó ở trên, được gặp Phật ra đời là khó nhất. Trong một thế giới, không bao giờ có hai vị Phật xuất hiện đồng thời. Chỉ khi nào giáo pháp của vị Phật trước hết lưu truyền, thì vị Phật sau mới ra đời. Hiện nay, dù đang trong thời mạt pháp, chúng ta không tận mắt thấy được Ứng hóa thân của Phật, nhưng chúng ta vẫn còn nghe chánh pháp, vẫn còn chiêm ngưỡng được dung nhan của Ngài qua hình tượng. Cho nên, nếu có ai tự xưng là Phật, giảng pháp cho người khác, hoặc phao tin sắp có Hội Long Hoa, Phật Di Lặc ra đời…, thì đó chỉ là những lời dối trá, mê hoặc người đời, nhằm phục vụ cho một ý đồ đen tối nào đó.

Sự thị hiện của Ứng hóa thân Phật trên cõi đời là một sự kiện hiếm gặp, là điều vị tằng hữu (chưa từng có). Nhưng chúng ta có khi nào tự hỏi, Ngài xuất hiện trên đời để làm gì? Trong Kinh Pháp Hoa, Phật dạy: “Chư Phật xuất hiện ở đời chỉ vì một đại sự nhân duyên: Khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”. Bản hoài của Chư Phật mười phương là muốn chỉ cho chúng sinh thấy, ai cũng có tri - kiến - Phật, tức Phật tánh như nhau, bình đẳng không khác. Từ đó sẽ nhận ra và hằng sống được với Phật tánh của chính mình một cách viên mãn.

Kinh Phạm Võng, Trường Bộ tập I, Phật dạy rằng: Này các Tỳ kheo! Thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của Như Lai còn tồn tại, thì Chư Thiên và loài người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thì Chư Thiên và loài người không thể thấy được”. Khi Đức Phật còn tại thế, thân 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Ngài là một điều kiện tốt để dễ gần và dễ giáo hóa những chúng sinh căn cơ thấp kém. Vì chìu uốn theo tánh dục của chúng sinh nên Ngài phải thị hiện sắc thân như thế. Nhưng dù thân ấy có tồn tại, mà cái nghiệp lực thúc đẩy thọ lãnh thân sau đã không còn. Chính lòng ái dục đã tạo dòng nghiệp lực khiến đưa đến một đời sống khác, với chánh báo và y báo tương ứng. Ứng hóa thân của Phật, vì có hình tướng nên Chư Thiên và loài người có thể thấy được. Khi thân ấy đã hoại, Đức Phật trở về với pháp thân vô tướng nên không ai có thể thấy được Ngài. Tất cả chúng ta đều có pháp thân vô tướng như thế. Vấn đề ở chỗ chúng ta có nhận ra không, và tu hành cách nào để sống được với nó, miên mật từng phút giây.

Chúng ta đã xét qua một số ý nghĩa về sự đản sinh của Đức Phật, để thấy rõ rằng, sự xuất hiện của Đức Thế Tôn, vị Giáo chủ của chúng ta, là một việc hy hữu ở đời. Cứ mỗi lần mùa Khánh Đản đến, người Phật tử về chùa, nghe quý Thầy nhắc lại về cuộc đời và những đức tính cao đẹp của Ngài, chúng ta mới biết rằng, Ngài cũng đã trải qua vô lượng kiếp tu hành, cuối cùng mới thị hiện là Thái tử Sĩ Đạt Đa ở Ấn Độ, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Ngài là một bậc vĩ nhân, đã để lại một hình ảnh không bao giờ phai mờ trong lòng những người con Phật khắp năm châu bốn biển. Vì cuộc đời Ngài quá vĩ đại và đẹp đẽ, nên từ xưa đến nay, biết bao người đã dùng mọi hình thức văn hóa để ca tụng cái toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ của Ngài. Biết bao người đã nguyện theo gương Ngài, quên mình để phụng sự chúng sinh, hy sinh hạnh phúc riêng tư để lo cho hạnh phúc của nhiều người. Những sứ giả của Như Lai đã mang thông điệp của Đức Phật đi vào cuộc đời, làm cho con người hiểu được bản chất của kiếp sống là vô thường, là đau khổ, từ đó thúc dục con người sớm theo lời dạy của Ngài tu hành để được giác ngộ và giải thoát.

Hôm nay, một lần nữa kỷ niệm ngày Phật đản, chúng ta đem hết tâm thành quy ngưỡng và đảnh lễ Ngài. Chúng ta thấy mình rất có phước duyên nên mới được làm người, được thấm nhuần dòng sữa pháp, được Chư Tăng Ni hướng dẫn tu hành, được làm bạn đạo cùng những người hiền thiện. Chúng ta nguyện nhớ mãi hình ảnh Ngài bước trên hoa sen khi mới ra đời, để bắt chước Ngài cũng bước từng bước an lạc, thảnh thơi trên những bất ổn của cuộc sống. Thân ngũ uẩn của chúng ta tuy ở trong trần thế, nhưng phải biết vươn lên, không để bùn nhơ của ngũ dục làm ô nhiễm. Từ đó, chúng ta sẽ góp phần thổi một luồng sinh khí mới vào cuộc đời, khiến mọi người cũng được an lạc và hạnh phúc. Đây là cách duy nhất để đền đáp ơn khó đền của Đức Bổn Sư vô cùng quý kính của chúng ta.

Bài đọc thêm I-3 CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT

-Thích Huệ Giáo-

 

Đức Phật thường được ca tụng như một bậc vĩ nhân. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, bởi vì vĩ nhân thường được hiểu như những bậc kỳ tài xuất chúng trong một lĩnh vực nào đó, hoặc có thể là nhiều lĩnh vực, mang lại lợi lạc cho con người, trong một mức độ nào đó. Có thể là một vĩ nhân ở phương Đông nhưng chưa hẳn là kỳ tài ở phương Tây. Nhưng Đức Phật Thích Ca hoàn toàn khác, trước hết Ngài đã làm lợi lạc không những cho cả loài người ở cả Đông lẫn Tây, cả Âu sang Á, mà còn làm lợi ích cho cả những loài không phải là loài người: Thiên nhơn chi đạo sư (Thầy của trời người). Như thế, là những người con Phật, những người Phật tử chúng ta không những chỉ biết được về cuộc đời của Ngài và hơn thế nữa chúng ta cần phải biết rõ, để xưng tụng và để học hỏi, trong muôn vàn tấm gương cao quý ấy.

Thông thường khi tìm hiểu về một con người nào đó, hay để ca tụng chúng ta cần hiểu rõ lai lịch và hoàn cảnh xã hội con người ấy đang ở. Thiết nghĩ, chúng ta cũng phải tìm hiểu hoàn cảnh trong thời điểm Đức Phật ra đời. Xã hội đó là Ấn Độ, chiếc nôi của nền văn minh phương Đông.

I- Xã hội Ấn Độ trước và trong thời kỳ Đức Phật ra đời:

Nói đến Ấn Độ cổ đại, chúng ta quan tâm đến nền văn minh sớm nhất của nhân loại, nói đến những trường phái triết học, đề cập đến lĩnh vực tôn giáo, tất cả chúng như một vườn hoa, có đầy đủ hương sắc tranh nhau nở rộ.

Bên cạnh, là những đô thị khai quang thật sớm, những chính thể nhà nước sớm nhất, những phép tắc để trị dân, khuôn phép sống cho con người, những lời thơ, tiếng hát đã trở thành bất hủ, tất cả những cái này là nền móng cho nhân loại phát triển về sau.

  1. Tư tưởng Triết học và Tôn giáo trước khi Đức Thế Tôn xuất thế:

Vào khoảng 3.000 năm trước công nguyên, giống người du mục Aryan cư trú tại miền Trung ương Á-Tế-Á, họ đã vượt qua dãy núi Hindukusk di chuyển xuống vùng Đông Nam Á-Tế-Á, và một phần khác thì tràn xuống Đông Nam thuộc Ba Tư (Iran), một phần khác thì tràn xuống Đông Nam, xâm nhập vào phía Tây Bắc nước Ấn Độ, đánh đuổi người bản xứ, chiếm lĩnh vùng Panjab (Ngũ hà địa phương) thuộc lưu vực sông Indus, và cuối cùng sự lan truyền rộng lớn của giống người này được gọi là dân tộc Aryan Ấn Độ.

Dân tộc này chiếm cứ và cư trú vùng Panjab, họ trở nên phồn thịnh mỗi ngày, không những về mặt kinh tế, lẫn cả về mặt tư tưởng họ cũng phát triển. Bộ sách đầu tiên do dân tộc này chế tác là Kinh điển Rg-Veda (Lê Câu Phệ Đà) 40 quyển, là nguồn tư tưởng văn hóa đầu tiên trong thời kỳ thứ nhất của Bà-La-Môn giáo, từ khoảng năm 1500-1000 trước công nguyên.

Nôi dung kinh điển Rg-Veda ban đầu đơn thuần chỉ là những bài thi ca có tính cách thần thoại, trong đó bao hàm nhiều tư tưởng nói về vũ trụ và nhân sinh quan. Và về sau, chính tư tưởng nói về vũ trụ và nhân sinh quan này đã làm nền tảng để khai triển cho những trào lưu tư tưởng hậu lai.

Hệ tư tưởng ở thời kỳ thứ hai của Bà-La-Môn giáo là thời đại Brahmana (Phạm Thư), trong khoảng 1000-800 năm trước công nguyên. Trong thời kỳ này, Aryan tiến dần về phía Đông, chiếm cứ khu đất đồng bằng phì nhiêu trên bờ sông Hằng Hà (Ganga), lấy nghề canh nông làm mục tiêu, đặt các chức vua quan, bắt những người khác giống làm nô lệ, chia xã hội thành bốn giai cấp khác nhau: Giai cấp Bà-La-Môn (Brahmanah) chủ trương việc nghi lễ tôn giáo; Giai cấp Sát-Đế-Lợi (Ksatriya) là giai cấp vua quan nắm quyền cai trị; Giai cấp Tỳ-Xá (Vaisya) là giai cấp bình dân, nông, công, thương; Giai cấp Thù-Đà-La (Sudra) là giai cấp tiện dân, đời đời làm nô lệ.

Nội dung của sách Brahmana hoàn toàn như một pho sách có tính cách thần học. Trong đó bản ngã làm trung tâm. Brahman và Atman tên tuy khác nhưng có cùng một bản thể. Brahman thuộc phương diện vũ trụ và Atman thuộc phương diện tâm lý chi phối toàn bộ tư tưởng của con người lúc bấy giờ. Atman khi lìa thể xác thì linh hồn quy thuộc về Brahman.

Nội dung tư tưởng thứ ba của Bà-La-Môn giáo là triết học Upanishad (Áo Nghĩa Thư), được hình thành khoảng thời gian 800-600 trước công nguyên, nội dung tư tưởng triết học này chủ trương thuyết Phạm ngã đồng nhất, và Lý tưởng giải thoát. Tư tưởng này trải dài qua 3 giai đoạn: Giai đoạn một là đi tìm con đường giải thoát, nhưng giải thoát phải đi tìm tự nơi chính bản thân mình, không phải tìm ở bên ngoài, do đó nhân của giải thoát là tự giác, nhân của luân hồi là bất giác. Giai đoạn thứ hai là muốn thoát khỏi luân hồi phải an trụ vào bản tính, và bồi dưỡng trí tuệ. Giai đoạn thứ ba là noi theo phương pháp tu trì, để mong đạt đến trực quán trí, tức là qua phép tu Yoga.

  1. Tư tưởng Triết học và Tôn giáo ở thời kỳ Đức Thế Tôn xuất thế:

Tư tưởng trong ba thời kỳ: Rg Veda, Brahman và Upanishad đều là những tư tưởng căn bản của Bà-La-Môn giáo. Bắt đầu từ năm 600 B.C trở về sau, tư tưởng Ấn Độ không ngừng ở đấy và tiếp tục phát triển những tư tưởng mới lần lượt ra đời. Như Kỳ-Na Giáo, Phật Giáo, Lục sư ngoại đạo Sáu phái triết học. Ở đây chúng ta không học về triết học và tôn giáo Ấn Độ, những vấn đề ấy không phải là lịch sử Phật Giáo Ấn Độ. Do đó, chúng ta chỉ tìm hiểu sơ lược tên xưng, nội dung của chúng sẽ nằm vào thời học khác:

Kỳ-Na Giáo (Jaina): Giáo tổ tên là Vardhamana (Đại Hùng). Giáo phái này chủ trương về Vật hoạt luận. Tư tưởng triết học căn bản của giáo phái này là Thực thể (Dravaya). Thực thể chia làm hai trạng thái là sinh mệnh yếu tố và sinh mệnh phi yếu tố. Sinh mệnh yếu tố thì gồm đủ cả hai phần lý trí và tình cảm. Phi sinh mệnh yếu tố được chia làm năm yếu tố: Không (Akasa), Pháp (Dharma), Phi pháp (Adharma), Vật chất (Pudgala) và Thời gian (Kala). Vì mong giải thoát luân hồi nên giáo phái này chủ trương tu khổ hạnh làm mục đích tối cao.

Lục sư ngoại đạo phái (Sat-Tirthakarah): Trong sáu phái ngoại đạo mỗi phái đều chủ trương khác nhau. Tên của những phái như sau:

- Phái Purana Kassapa (Phú-Nan-Dà Ca-Diếp).

- Phái Makkhali Gosala (Mạt-Già-Lê-Câu Xá-Lợi)

- Phái Ajitakesa Kambali (A-Di-Da-Thúy Xá Khâm-Bà-La).

- Phái Pakudha Katyayana (Bà-Phù-Đà Ca-Chiên-Diên)

- Phái Sanjaya Belatthiputta (Tán-Nha-Gia Tỳ-La-Lê-Tử).

- Phái Nigantha Nataputta (Ni-Kiền-Đà Nhã-Đề-Tử.

Sáu phái triết học: Sáu phái triết học có ảnh hưởng hệ tư tưởng Bà-La-Môn hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, tên của chúng như:

  1. Phái Nyaya (Chính lý phái: Thủy tổ là Akasapada (Túc Mục)
  2. Phái Vaisesika (Thắng luận pháp).
  3. Phái Samkhya (Số luận pháp).
  4. Phái Yoga (Du Già pháp).
  5. Phái Mimamsa (Nhĩ-Man-Tát phái).
  6. Phái Vedanta (Phệ-Đà-Đa phái).
  7. Trạng thái chính trị và xã hội trong thời Đức Thế Tôn:

Trước khi Đức Thế Tôn xuất thế, bộ máy chính quyền được tổ chức theo chính thể cộng hòa, nhưng đến thời kỳ Đức Thế Tôn, chế độ đó tan rã và được thay thế bằng chính thể quân chủ chuyên chế. Cũng trong thời kỳ này, dân tộc Ấn Độ rất tôn trọng nghi thức tế tự, kinh thần. Mặt khác, theo sự tiến triển của xã hội, liền phát sinh ra bốn chức nghiệp: Sĩ, Nông, Công và Thương, dần dà nghề nghiệp này đã hình thành sự phân chia những giai cấp rõ rệt và lớn mạnh, đứng đầu là giới Tăng lữ Bà-La-Môn. Những giai cấp này được tồn tại bởi hình thức thế tập, cha truyền con nối, nên giai cấp nô lệ cứ đời đời làm nô lệ, tạo thành một tổ chức xã hội bất công (con quan rồi lại làm quan, con sải ở chùa lại quét lá đa). Để duy trì sức mạnh bền vững của mình, nương vào tư tưởng của bốn giai cấp ấy, Bà-La-Môn giáo cũng hình thành bốn thời kỳ tu hành của mình:

  1. Phạm trì kỳ: Thời kỳ sinh hoạt của tuổi thiếu niên. Ở tuổi này phải học tập kinh Vệ-Đà. Tới khi học nghiệp thành tựu thì trở về nhà.
  2. Gia cư kỳ: Thời kỳ sinh hoạt gia đình tuổi tráng niên, lập gia đình, xây dựng người thừa kế.
  3. Lâm cư kỳ: Kỳ sinh hoạt xuất gia cho những người làm xong nghĩa vụ gia đình, vào rừng để tu tập thiền định.
  4. Du hành kỳ: Thời kỳ du hành của thời đại lão niên, thời kỳ này mong cầu cho sự tu hành được thành tựu.

Do vậy, chúng ta thấy rằng đây chẳng phải là một xã hội lý tưởng, mặc dầu sức mạnh của giai cấp cầm quyền có thống lĩnh đến đâu chăng nữa. Xã hội này sẽ không có an lành và hạnh phúc cho quần chúng nhân dân. Sự khinh bỉ và phân biệt, sự nghèo đói và lầm than trong tư tưởng, tất cả đều là những nỗi khổ mà bất cứ con người nào ở mọi thời đại đều muốn thoát khỏi. Từ đó, ước vọng có một nhà lãnh đạo tinh thần tài ba xuất hiện, để cứu giúp cho con người ra khỏi đen tối, đó là diều tất yếu.

II- Cuộc đời Thái tử Tất-Đạt-Đa:

Sự ra đời của Đức Phật đã đáp ứng được nguyện vọng khao khát của dân tộc Ấn Độ lúc bấy giờ. Sự xuất hiện của Ngài là vầng trăng soi rọi khắp hang cùng ngỏ hẽm bóng đêm, như ánh mặt trời xuất hiện xua đuổi bóng đêm giai cấp xiềng xích nhân thế.

  1. Thời niên thiếu:

Thái tử Tất-Đạt-Đa đản sinh ngày rằm tháng tư âm lịch (tính theo lịch Tàu) biểu hiện cho một sức sống vươn mầm. Ngài đã đem lại hạnh phúc đầu tiên cho dòng họ Thích-Ca. Vua Tịnh-Phạn và Hoàng hậu Ma-Da có niềm hạnh phúc nho nhỏ là có người con nối dõi theo ước muốn của hai người và làm cho khung trời của xứ Ca-Tỳ-La-Vệ rung động. Lễ đặt tên cho Thái tử, với hai dòng nước mắt vừa tủi phận và chan hòa hạnh phúc của tiên nhơn A-Tư-Đà, sự thông minh tột bực, nhanh nhẹn trong tiếp thu mọi kiến thức xã hội được trao truyền từ những bậc thầy tài ba, buổi lễ tịch điền ngồi yên lặng tĩnh tọa bên những đống lúa mạ non xanh rờn, những kỳ tỉ thí so tài vượt lên tất cả mọi thí sinh tham dự. Những điều kỳ diệu ấy, đã làm cho cả thần dân kính phục, hoàng gia sanh lo lắng bởi những điều tiên đoán đầy linh nghiệm mỗi ngày được hiển lộ từ nơi Thái tử.

Mặc dầu là một Thái tử thông minh xuất chúng, có một đời sống sung mãn vật chất, quyền uy, bên cạnh tình yêu thương phụ mẫu rộng lớn, âu yếm của người vợ sắc đẹp nghiêng trời Gia-Du-Đà-La, với sự chăm sóc chu toàn ngày đêm của hằng trăm cung tần mỹ nữ, trên tất cả thú vui của cuộc đời, với tiếng khóc của con thơ La-Hầu-La. Thế mà Thái tử Tất-Đạt-Đa vẫn canh cánh trong lòng một nỗi buồn man mác muôn thuở, tựa như chẳng ai hiểu nỗi tâm trạng của Ngài. Nỗi buồn của một xã hội đầy đói khát, bất công ư? Nỗi buồn vì sự mong muốn của Ngài không được toại nguyện ư? Chẳng phải!

Nỗi buồn ấy, chính là nỗi đau khổ triền miên của kiếp người, dưới con mắt của bậc đại trí, một lớp vỏ bọc vật chất, thú vui tạm bợ, không phải là niềm hạnh phúc chân chánh của kiếp người, những thứ ấy đã và đang được xây dựng bởi ước muốn và dục vọng, bao bọc bởi bản ngã, tô điểm trên nền tảng tà kiến, của trăm thứ tư tưởng trong xã hội hiện tại. Một xã hội mà trong đó giá trị con người bị đánh mất (sự phân chia giai cấp tàn khốc) để rồi con người sẽ nhận lãnh cái khổ lớn lao từ Sanh ra cho đến khi Già, Bệnh rồi Chết. Thái tử đã thấy rằng, trong mỗi con người không có cao thấp, sang hèn trong khi máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn, con người không phải từ nơi giai cấp sanh ra, và được ân sủng bởi một đấng tối cao nào cả. Hạnh phúc và đau khổ từ nơi mỗi tự thân con người, mỗi con người cần phải có và hiểu được đâu là hạnh phúc chân chánh và đâu là sự tạm bợ của nó; và tất cả những suy nghĩ này, đã khiến Thái tử vất bỏ tất cả những thứ mong manh đang có được, như bỏ chiếc dép ra khỏi chân một cách nhẹ nhàng, đi tìm con đường thoát khỏi nỗi khổ sinh tử cho chúng sanh.

  1. Thái tử xuất gia:

Vào ngày mùng tám tháng hai âm lịch, khi bốn bề đều vùi trong giấc ngủ. Cái nhìn cuối cùng đến vợ đẹp con ngoan chính là sự chia tay mãi mãi với niềm hạnh phúc giả tạo, hoan lạc của trần thế. Thái tử Tất-Đạt-Đa cùng người hầu cận của mình lặng lẽ vượt thành, bỏ lại sau lưng tất cả ngai vàng điện ngọc, để trở thành kẻ không nhà lang thang mãi trong rừng sâu, xuất gia thành Sa môn khổ hạnh.

Với những tháng ngày đau thương nhất của hoàng tộc, cũng chính là những ngày tháng sa môn Tất-Đạt-Đa trải qua nhiều phen thử thách, với sự hoang vu của núi rừng, với những lời chỉ dạy của các bậc thầy được xem là nổi tiếng đắc đạo lúc bấy giờ. Lại một lần nữa, Tất-Đạt-Đa, kẻ không nhà, bỏ lại sau lưng tất cả những kinh nghiệm đã học được từ những vị ấy với lòng tri ân vô hạn, để một mình tìm cho mình một lối thoát. Những gì Ngài đã học được từ sách vở, thầy giáo, những kinh nghiệm tu chứng nhiều năm trong rừng thẳm của các Đạo sư, Tất-Đạt-Đa đều đem ra thử nghiệm, với sáu năm khổ hạnh, có những lúc bụng chỉ có một hạt mè, một hột gạo, hoặc chỉ có một hớp nước, đã có lúc Ngài kiệt sức, ngã quỵ, thân thể chỉ còn da bọc xương; để rồi nhà khổ hạnh Tất-Đạt-Đa bừng tỉnh rằng đấy chỉ là cực đoan, giết hại thân thể, hình phạt tinh thần, không có lợi ích.

Bát sữa của cô lâm nữ Tu-Xà-Đề dâng cúng cho Ngài chính là quyết định nhận lãnh từ sự nhận thức cao cả. Không thể tu hành trong một thân thể yếu đuối, ép xác, và sẽ không có tinh thần minh mẫn trong tấm thân bạc nhược. Cũng thế, với một đời sống sung mãn cũng không thể là con đường tốt cho ý chí vươn lên. Con đường Trung đạo của khổ hạnh, Cồ Đàm mở ra và lời đại nguyện dõng mãnh: “Dầu xương tan thịt nát, nếu Ta chưa tìm ra con đường cứu giúp chúng sanh ra khỏi bể khổ sanh tử thì Ta không rời chỗ này” bên bờ sông Ni-Liên-Thuyền. Suốt 49 ngày nhập định tham thiền, một đêm trăng khuyết, ánh trăng vừa ló dạng Thái tử Tất-Đạt-Đa đã trở thành Đấng Thế Tôn Vô Thượng.

  1. Thái Tử Thành đạo:

Trong bóng đêm tịch mịch, ngày mùng 8 tháng 12 ÂL, vào canh 2 Đức Thế Tôn đã chứng quả Túc mạng minh, hiểu rõ được nhiều kiếp trước của mình. Sang canh 3 Ngài chứng được Thiên nhãn minh, nhận thức rõ bản thể vũ trụ và nguyên nhân hình thành. Sang canh tư, Ngài chứng Lậu tận minh, biết rõ nguồn gốc của khổ đau và phương pháp dứt trừ khổ đau. Sự bừng ngộ của Ngài là vầng trăng bất diệt đi ngang qua dòng sinh diệt. Trí tuệ của sự giác ngộ là kết tinh của vô lượng kiếp trầm mình trong thế giới sinh diệt nhưng chưa hề biến diệt. Sự giác ngộ của Ngài đánh dấu cho một thế giới khác, những thế giới đã đổ nát bây giờ được vực dậy và tăng thêm sức sống. Sự thành đạo của Ngài không những đã làm chấn động tâm thức của loài người mà hàng chư thiên ở nhiều cảnh giới khác đều chấn động. Thái tử Tất-Đạt-Đa đã trở thành bậc Ứng Cúng - Chánh Biến Tri - Minh Hạnh Túc -Thiện Thệ - Thế Gian Giải - Vô Thượng Sĩ - Điều Ngự Trượng Phu - Thiên Nhơn Sư - Phật - Thế Tôn.

III- Thời kỳ Đức Phật truyền đạo:

Đức Phật đã nhiều lần dự định nhập Niết bàn, qua nhiều lần thưa thỉnh của Đế-Thích, Ngài quyết định rống pháp âm vi diệu, tựa như tiếng rống của loài chúa sơn lâm là khiếp sợ cả vùng núi thăm thẳm, cũng thế, lời pháp trong sáng thiêu đốt cả núi rừng vô minh.

  1. Đức Phật truyền đạo:

Dưới cội Bồ Đề, bên dòng sông Ni Liên Thuyền, Đức Phật không vội vã rao giảng chánh pháp cao minh - khó hiểu, Ngài dùng tuệ nhãn xem xét căn cơ của chúng sanh và quyết định đứng dậy khi biết rằng: “Căn cơ của chúng sanh tựa như những bông sen tươi đẹp, có những bông đã vượt lên mặt nước,có những bông hoa còn nằm ngang lưng chừng mặt nước, có những bông hoa còn nằm sâu dưới lòng nước”. Từ đó, bằng vô lượng phương tiện Ngài đã mở bày hóa độ chúng sanh khắp cả cõi Ấn Độ. Đầu tiên là 5 người bạn đồng tu với bài pháp Tứ ĐếVô Ngã Tướng. Tam Bảo (ba ngôi quý báu để loài người nương tựa) bắt đầu từ đây. Những kẻ ngoại đạo cứng đầu, những vị quân vương đều được Ngài khai thị và quy đầu làm đệ tử xuất gia, tại gia cho đến những kẻ bần cùng hốt phân, nghèo nàn, dâm nữ, tướng cướp và ác độc tất cả đều bình đẳng trong lời dạy của Ngài và hơn thế nữa có mặt trong hàng ngũ của Tăng đoàn, một trong ba ngôi báu, không một mảy may tự ti.

  1. Đức Phật nhập Niết bàn:

Lời dạy cuối cùng khi công viên quả mãn, những gì cần làm Đức Phật đã làm, việc gì đã xong thì cũng đã hoàn tất: “Các con hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, hãy là hòn đảo của chính mình làm nơi nương tựa... Ta chỉ là bậc Thầy dẫn đường... Giáo pháp còn thì Ta còn...” Tất cả những lời dạy ấy là những lời dạy cuối cùng của một bậc Đạo Sư, không phải là một Thượng đế tối cao và cũng không phải là một bậc đầy quyền năng bởi những lời dạy hàm chứa tính tự giác và giác tha của mỗi con người. Tại xứ Câu-Thi-La bên rừng cây Sa-La Đức Phật đã an nhiên nhập diệt, để lại một khung trời tím ngắt làm nát lòng người con Phật nhiều nơi trên xứ Ấn và những vùng lân cận, nơi có dấu chân Ngài đi qua.

IV- Sự thị hiện của Đức Phật:

Sự thị hiện của Đức Phật, đầu tiên chúng ta muốn nói đến là lòng từ bi của Ngài vì thương tưởng đến chúng sanh trầm luân trong sinh tử, khổ não trong cuộc sống lầm than. Trong kinh Pháp Hoa nói rằng: Đức Phật ra đời vì một nhân duyên lớn: Khai thị chúng sanh nghộ nhập Phật Tri Kiến.

Trên phương diện lịch sử, Đức Phật là một con người có thật, một con người lịch sử, không phải là một vị Thần hay một vị Thượng đế giáng trần như nhiều tôn giáo khác đã tô vẽ cho vị giáo chủ của họ. Đức Phật thị hiện có ý nghĩa khác hẳn với sự giáng thế của nhiều vị giáo chủ khác, không phải từ quyền uy hoặc trong trạng thái tuyệt đối của một đấng tối cao, mà là một vị Thầy giản dị mang ánh sáng Giác Ngộ đến với loài người.

Sự thị hiện của Đức Phật đánh đổ toàn bộ khối suy tư hữu ngã, hữu thần như Ngài đã tuyên bố khi Đản sinh tại vườn Lâm-Tỳ-Ni: Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn. Ngã chính là chỉ cho chơn ngã, chân tâm của mỗi con người chứ không phải là bản ngã hay tiểu ngã của riêng Ngài và cho rằng Ngài là trên tất cả. Chính ngay những giây phút đầu tiên từ khi Đản sinh Thái tử Tất-Đạt-Đa đã làm một cuộc cách mạng vĩ đại, cuộc cách mạng ấy là mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử tôn giáo mà trước đây đã đè nặng lên ý thức của con người.

V- Tính chất cách mạng trong cuộc đời Đức Phật:

Cách mạng đúng nghĩa là sự đổi mới từ trạng thái này sang trạng thái khác của một hiện tượng, chứ không phải là sự phá vỡ hoặc đập đổ những cái cũ để thay thế vào đó những điều mới, cho dù điều đó đúng hay sai, có thực tế áp dụng hay không vào đời sống hoặc có mang lại ích lợi thiết thực.

Xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ trở nên tàn khốc trong tâm thức của con người, bởi sự đè nặng lên chúng là những giai cấp thống trị, sự kỳ thị giữa con người và con người, giá trị làm người bị chà đạp, con người không có tự do và có quyền được lựa chọn cho mình một cách sống phù hợp.

Bên cạnh đó, tư tưởng gìn giữ độc lập quyền thần linh bao phủ một hào quang vừa xa vời với con người thực tế, và quyền lực giai cấp để bảo vệ địa vị của một tầng lớp thống trị, tất cả mọi thứ đó trở nên gay gắt và tạo ra nhiều khổ não trong đời sống con người lúc bấy giờ. Hệ quả tất yếu đã sản sinh nhiều tư tưởng và hình thức tế lễ của tôn giáo cũng chính là sự thể hiện khao khát ước vọng của con người đến một điều gì đó tốt đẹp hơn hoàn cảnh hiện tại.

Đức Phật đã đáp ứng đầy đủ nguyện vọng ấy, Ngài đã đánh đổ toàn bộ sự bất công đã mang lại sự khổ đau tàn khốc cho con người và xã hội được vun bồi tô vẽ qua nhiều thế kỷ. Quyền uy nắm giữ độc lập tôn giáo và xã hội là một minh chứng, Thánh điển Vệ-Đà là tư tưởng tiêu biểu tại thời điểm ấy. Sự cách mạng của Đức Phật thể hiện trên câu nói thật ngắn gọn mà đầy trí tuệ và bình đẳng: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành, đây là sự xác nhận quyền làm Phật của con người, mỗi người đều có khả năng, sức mạnh tinh thần như nhau và được quyền nhận hay không nhận những gì thuộc về con người. Tư tưởng cách mạng này đánh đổ toàn bộ cả hai lĩnh vực xã hội và tôn giáo không những chỉ trong thời điểm ấy mà cho đến hôm nay vẫn luôn luôn giá trị và được áp dụng thường xuyên đến nhân loại.

 

IV- Ý nghĩa cao cả về cuộc đời Đức Phật

Từ bi là ý niệm khởi đầu từ khi còn là Thái tử Tất-Đạt-Đa cho đến khi thành ngôi Chánh giác và cho đến trọn vẹn 49 năm hoằng hóa độ sinh, lòng từ bi của Ngài như là suối nguồn là động cơ manh nhất, khiến Đức Phật không bao giờ thấy mệt mỏi. Tình thương vô biên ấy vượt qua biên giới phàm tình, tục đế; tình thương không dựa trên hữu ngã, không hạn hẹp và ích kỷ. Tình thương vô biên này đã nói lên ý nghĩa cao cả nhất cuộc đời của Ngài và nói lên giá trị những lời dạy của Ngài xuyên suốt thời gian và không gian; trong lịch sử tôn giáo chúng ta khó tìm thấy nơi vị giáo chủ nào sánh kịp.

Trí tuệ là con đường để đạt đến của Thái tử Tất-Đạt-Đa, vì chỉ có trí tuệ thật sự thì con người mới có khả năng vượt lên trên nỗi thống khổ đang vây kín con người, có trí tuệ con người mới tìm được nguồn hạnh phúc thật sự mà con người mong muốn, khao khát và vượt qua mọi sợ hãi từ tư duy hữu ngã. Sự hiểu biết trọn vẹn này đã mở ra nhiều phương trời ý thức mới trong lịch sử triết học và tôn giáo của nhân loại và ngoài phạm vi của loài người. Có trí tuệ chân chánh này con người mới không còn luẩn quẩn trong rừng rậm phân biệt ý thức và tự khẳng định mình hơn giữa cuộc đời này: Thấy tất cả các pháp như chiêm bao, ảo thuật, bóng nước, ảo tưởng, sương mai và điện chớp.

Nếu không có Từ Bi và Trí Huệ thì ý nghĩa cuộc đời Đức Phật vẫn tầm thường như bao mảnh đời khác, và con đường giải thoát, giác ngộ cũng không thể thực hiện được. Có Từ Bi và Trí Huệ cuộc đời Đức Phật quá cao cả và cao cả hơn nữa là lịch sử loài người vẫn chưa tìm ra con người thứ hai.

VII- Ý nghĩa các sự kiện đặc biệt:

Mỗi sự kiện đi qua cuộc đời Đức Phật đều mang một tầm vóc quan trọng, nếu chúng ta càng hiểu rõ thì dễ dàng hiểu được những lời dạy của Ngài và sự ghi nhớ về Ngài của chúng ta được trọn vẹn. Do đó, tìm hiểu những ý nghĩa cao cả thật cần thiết, trong đó bao gồm những mốc đoạn.

  1. Đản sinh: So sánh nhiều hiện tượng trong thế giới bình thường này, có nhiều hiện tượng lạ cho thấy Đức Phật không phải là con người thường như bao con người khác được bao bọc với dáng, thân hình một con người bằng da bằng thịt. Theo đạo Phật, thì con người sinh ra bắt nguồn từ nghiệp thức đã chuyển - dẫn nhiều đời của người ấy. Nhưng Đức Phật lại khác, một con người bằng thân tạo thành từ tứ đại nhưng tâm thức là một sự kết tinh của phước đức và trí huệ chứ không phải là nghiệp thức, không phải từ dục vọng hay từ ái dục thôi thúc. Điều này được chứng minh qua nhiều trong kinh điển cũng như trong Jatakas (Truyện tiền thân của Đức Phật). Ngài là một vị Bồ Tát đản sinh, đã viên mãn cả trí tuệ và phước đức.
  2. Xuất gia: Đây không phải là ý tưởng hay chí nguyện được xuất phát sau khi Ngài đản sinh mà chính là sự xuất hiện bởi hạnh nguyện độ sanh từ nhiều đời mà Ngài đã làm. Đặc tướng ấy đã thể hiện trên dung nhan của Ngài mà kẻ phàm phu như tiên nhơn A-Tư-Đà cũng có thể thấy được. Sự xuất gia của Ngài trong một hoàn cảnh cũng không mấy đặc biệt, vì xuất gia là con đường phải đi nằm trong văn hóa và truyền thống từ trước của văn minh Bà-La-Môn giáo. Tuy nhiên, đặc biệt Ngài đã tìm ra ánh sáng mà trước và sau đến hôm nay vẫn chưa có vị thứ hai kế tiếp, nghĩa là người đã hoàn thiện được mục đích và lý tưởng của mình.
  3. Thành đạo: Con đường trung đạo là con đường giải thoát mà chỉ có Đức Phật mới tìm ra, sự chứng ngộ được nằm trong những lời dạy và những kiến thức đã có sẵn trong ý thức hệ lúc bấy giờ, chứ không ở đâu xa, và cũng không có nhiều điều mới lạ. Có khác chăng là nó thoát khỏi suy tư hữu ngã và đi thẳng vào vô ngã của vạn pháp, một cánh cửa không vướng kẹt.
  4. Hóa độ: Một tấm gương của một vị Thầy vĩ đại, chỉ có con người có giàu lòng từ bi và chí nguyện mới có thể ròng rã trong 49 năm hay cả cuộc đời của mình cống hiến cho chúng sanh như chưa bao giờ ngừng nghỉ mỏi mệt và khởi tâm niệm chán nản, với nhiều chủng tính người khác nhau.
  5. Niết bàn: Công đã mãn, việc đã thành, những gì cần làm Ngài đã làm xong, không một mảy may khởi niệm, như bàn tay không còn nắm bắt một vật gì, sự an tịnh của Ngài hiện thân thật người, đến như một con người và ra đi như một con người, không đau khổ hay hạnh phúc khi đến và không khởi niệm đau khổ hạnh phúc khi đi: Như Lai nghĩa là không từ đâu mà đến, và không đi về đâu.

Nếu hiểu rõ được sâu sắc về cuộc đời của Đức Phật thì sự tôn vinh và ca ngợi Ngài sẽ mang lại nhiều lợi lạc giá trị. Càng hiểu rõ để thực hành và ghi nhớ thì ý nghĩa của cuộc đời và con người của chúng ta đang sống cũng trở nên ý nghĩa và sẽ không bao giờ là kẻ hủy báng người mình tôn kính (Tin Ta mà không hiểu Ta là hủy bán Ta).

Như thế chúng ta cũng biết được rằng, Đức Phật xuất hiện vì con người và lợi ích cho con người bằng xương bằng thịt, Ngài không phải là một thượng đế giáng trần, càng không phải là một thần linh đầy biến hóa mà là một vị Thầy. Vị Thầy đầy đủ Từ Bi và Trí Tuệ, đủ cả mọi công hạnh, làm khuôn phép cho xã hội đi theo một trật tự, trong đó an lạc và giải thoát được đề cao.

 

Tài liệu tham khảo:

- Doãn Chính - Lương Minh Cừ, Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại. NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội 1991

- Thích Thanh Kiểm, Lịch sử Phật Giáo Ấn Độ. Thành hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. PL: 2533 - 1989.

- Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông, quyển 1. Thành hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. 1989.

- Cao Hữu Đính, Phật và Thánh chúng. Viện cao đẳng Phật học Trung phần xuất bản. Nha Trang. 1973

- Gia đình Phật tử Việt Nam, Tài liệu tu học học Bậc Kiên. Ban Hướng dẫn Trung Ương GĐPTVN.PL : 2545 - 2001

- Ludwig Theodore, Ban phiên dịch, Những con đường tâm linh phương Đông, 2 quyển. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 2000.

 

Bài II-1 LỊCH SỬ 33 VỊ TỔ THIỀN TÔNG

hay

“CHƯ TỔ THIỀN ẤN HOA”

-Thích Giác Nghiêm-

Sau khi đức Phật Niết bàn, vị Tổ đầu tiên thay Phật dẫn dắt Giáo hội là Ngài Đại Ca Diếp đến Tổ Huệ Năng là 33 vị.

Ấn Độ có 28 vị và Trung Quốc có 6 vị, Tổ Bồ Đề Đạt Ma vừa là Tổ thứ 28 của thiền Ấn Độ, vừa là Sơ Tổ Thiền Trung Hoa.

Yếu chỉ của Thiền là lấy tâm truyền tâm: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”.

Bởi vậy cho nên quý Thiền sư khi hành đạo và ra đi không lưu lại dấu vết gì. Đó cũng là quan niệm phổ biến của người Đông phương. Với lại nhất là người tu xem phẩm giá đạo đức là quan trọng, còn cá nhân là vô nghĩa. Do vậy, sách vở ghi chép về cuộc đời và đạo nghiệp của các Thiền sư thiếu nhiều chi tiết, năm tháng và nhiều sự kiện cũng không thống nhất. Các sử truyện lại chứa đầy màu sắc huyền bí.

Song, cây có cội, nước có nguồn, chúng ta là kẻ hậu học không có quyền quên lãng những vị Tổ của chúng ta. Do đó, chúng ta hôm nay bắt đầu học đến 33 vị Tổ Thiền Tông.

Bài II-2 TỔ MA HA CA-DIẾP

(MAHAKASYAKA)

hay là (MAHÀ KASAPA)

(Đồng thời với đức Phật)

-Thích Giác Nghiêm-

 

Đức Phật lúc còn tại thế, trong 45 năm thuyết giáo, với hơn 300 hội, Phật giảng rất nhiều Pháp môn tu. Với tất cả pháp hành trì, hạnh nào cũng đáng nể, quý trọng. Trong số 1250 đệ tử chứng Thánh quả, Ngài Ma-Ha-Ca-Diếp không những dốc lòng giữ gìn phẩm hạnh, mà còn hành hạnh đầu đà(tức là hành khổ hạnh).

Sau được Đức Phật phó chúc, kế thừa lãnh đạo Giáo đoàn, trở thành vị Tổ đầu tiên của Thiền tông, hay còn gọi là vị Tăng thống đầu tiên của Phật giáo.

I- Quê quán, dòng họ:

Ngài dòng Ba-la-môn ở Ấn Độ, vương quốc Ma-Kiệt-Đà (Magadha) thôn Sa-La-Đà, nhà rất giàu có, ở tại thị trấn Giao Lưu (Mahatitha). Con của đại bá hộ Kapila và thân mẫu là Sumanadévi .

Sinh ra, ngài được đặt tên là Piphali (Thường Tịnh), có đầy đủ phước tướng, cơ thể sáng chói màu vàng, vì vậy mới gọi là Maha Kasapa (là ẩm quang tức là uống ánh sáng). Lên 8 tuổi, rước thầy về nhà dạy các môn: Văn học, toán, thi hoạ, âm nhạc, thiên văn, tướng số v.v… các đạo sĩ Ba-la-môn còn dạy phép tế đàn bốn mùa, Thánh điển Phệ-Đà, Nhân Minh Học vv… tỏ ra rất thông minh, với các môn học Đại Ca-Diếp thấu hiểu rất nhanh. Ngay còn nhỏ đã biểu lộ ý muốn sống một đời thanh tịnh xuất gia.

II- Những tiền kiếp của Kasapa (Ca-Diếp) và của Bhadda kapilani (Mỹ Hạnh):

Nhiều kiếp trong quá khứ, Ngài Ca-Diếp và Mỹ Hạnh đã từng sống với nhau, nhiều kiếp làm anh em, làm vợ chồng, làm đạo hữu, làm huynh đệ cùng tu với nhau.

III- Ngài Ca-Diếp gặp Phật:

Năm 30 tuổi, Ngài Ca-Diếp xuất gia và vào rừng tìm đạo; chính cũng ngày đó đức Phật thành đạo dưới cây Bồ Đề nhưng ngài Ca-Diếp chưa biết. Hai năm sau mới gặp Đức Phật.

Tôn giả Ca-Diếp phát nguyện thọ hạnh đầu đà (Dhutanga) tức là tu khổ hạnh, gồm 10 điều:

1 - Nhặt vải quấn tử thi, hay vải bỏ đi khâu lại làm y, gọi là y phấn tảo (Pamsuku).

2 - Chỉ có tam y và nhất bát (tức là không có y dự trữ, tam y = y Tăng-già-lê, y Uất-đà-la-tăng và y An-đà-hội) (Tecivarika).

3 - Phải đi khất thực mỗi buổi sáng và phải ăn trước 12 giờ trưa (Pindapatika).

4 - Mỗi ngày ăn một bữa, ngồi bán già hay kiết già mà ăn, đã đứng dậy thì không ngồi xuống ăn nữa (Ekasanika).

5 - Đi khất thực phải bình đẳng, không chọn nhà giàu, nghèo, nhà quen (Sabbadàna carika).

6 - Ở trong rừng hoặc nơi hoang vắng, không ở trong xóm (Arànnìka).

7 - Ở dưới gốc cây không dựng trại, cất cốc (Rukkhamùlika).

8 - Nếu không có rừng núi, chẳng có bóng cây, thì phải kiên nhẫn ở chỗ trống, không được tìm kiếm cho ra hang hay động (Abbhekalika).

9 - Chỉ nhận thức ăn vào bình bát, vừa đủ và vừa ăn trong bình bát (Pattapindika, Khalupaccha Bhattika).

10 - Thường xuyên dùng nghĩa địa làm nơi hành đạo (Sosanika).

Tôn giả Ca-Diếp có dũng khí thực hiện tu hạnh đầu đà, để phát triển tính tri túc, hạnh xả bỏ, rèn luyện nghị lực giải thoát, Ngài hiểu sâu giáo pháp, tinh tấn hành trì không bao giờ lơi lỏng và chỉ bảy ngày sau liền chứng quả A-La-hán.

IV- Tiếp độ Mỹ Hạnh (Bhadda Kapilani):

Một thời gian ngắn sau khi Ngài Ca-Diếp xuất gia, bà Badda (Mỹ Hạnh) cũng quyết chí xuất trần. Thời gian này Đức Phật chưa cho phép thành lập hệ thống Ni giới, nên bà ẩn cư trong một tu viện của các nữ đạo sĩ không phải Phật giáo.

Năm năm sau, Giáo hội Tỳ-kheo-ni Phật giáo ra đời, bà mới gia nhập. Tỳ-kheo-ni Mỹ Hạnh đã vượt qua nhiều khó khăn, quyết chí tu hành, trở thành một giảng sư được nhiều người hâm mộ. Và sau đó đắc quả A-La-hán.

V- Đạo nghiệp của Tổ Ma Ha Ca-Diếp.

Tôn giả Ca-Diếp tên thật là Pipphali Kassapa dịch là Thường Tịnh Ca-Diếp, nhưng đệ tử Đức Phật có nhiều vị mang tên Ca-Diếp cho nên người trong thời đó để tỏ lòng tôn trọng Ngài và dễ phân biệt, họ đã tự động gọi Ngài là Thường Tịnh Đại Ca-Diếp hay gọi tắt là Đại Ca-Diếp. Ngài thường thương và độ người nghèo khó.

Đức Phật rất quý trọng tôn giả Ca-Diếp, đến lúc tuổi già, râu tóc bạc phơ, thân thể thì gầy, vẫn không giờ phút chểnh mảng hạnh đầu đà, mặc y rách vá chằng chịt, ở trong rừng, giữ phạm hạnh cao thượng.

Nhưng thành công độc đáo nhất của Tôn giả Đại Ca-Diếp đã được chính đức Phật nhiều lần khen ngợi và xác nhận là Tương đương với Ngài: “Ca-Diếp có khả năng điều khiển thiền lực một cách tức khắc và như ý muốn” đây quả là một công phu tuyệt đỉnh, xứng đáng được xem ngang hàng với thiền lực của một vị Phật.

 

VI- Đối xử với Thiên chúng:

Nhiều vị Thiên chúng muốn tiếp xúc và cúng dường nhưng Tôn giả rất nghiêm khắc chỉ dành ưu tiên cho người nghèo khó.

 

VII- Nhân duyên với đệ tử và đồng đạo:

Thường dạy các Tỳ kheo một cách đúng đắn để họ tu.

VIII- Vai trò kế thừa của Maha Kassapa:

Đức Phật đã giao phó cho Tôn giả Đại Ca-Diếp sau này điều hành Giáo hội và dặn thêm: “Nay ta giao phó cho ngươi, ngươi khéo giữ gìn chánh pháp, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau này truyền lại cho Anan”.

Sau khi làm lễ Trà-tỳ và chia Xá-lợi Phật cho các nước về thờ. Trưởng lão Đại Ca-Diếp suy nghĩ: “Di sản hài cốt của Đức Bổn Sư được lưu truyền như thế này, thì di sản tinh thần là Phật ngôn phải được bảo tồn ra làm sao?”. Ngài liền tuyên bố trước đại chúng:

-“Xá lợi của Phật chia cho các quốc vương, thỉnh về xây tháp tôn thờ, cầu được phước báo nhân thiên. Còn hàng Tỳ kheo lo việc kiết tập Kinh điển để cho hậu thế làm đuốc soi đường”. Ngài bèn nói kệ:

“Đệ tử Như Lai

Chớ vội Niết bàn

Người được thần thông

Nên đến kiết tập”.

Tập trung được tất cả 500 vị A-La-hán, chọn động Tát-Bát-La ở núi Kỳ-Xa- Quật làm nơi kiết tập.

- Ngài Anan đọc Kinh tạng (Sutta Pitaka).

- Ngài Ưu-Ba-Ly đọc Luật tạng (Vinaya Pitaka).

- Vua A-Xà-Thế lo việc ủng hộ mọi mặt suốt 3 tháng.

Cuộc kiết tập thành tựu viên mãn.

Một thời gian sau, Tổ Đại Ca-Diếp quyết định Niết bàn, lúc đó ngài 120 tuổi.

IX- Kết luận:

Qua cuộc đời ngài, chúng ta thấy ngài luôn luôn hướng tâm đến phẩm hạnh đạo đức, thực hành hạnh đầu đà cho đến cuối đời, thiểu dục, tri túc. Cuộc sống nội tâm quá thuần thục, từ cử chỉ hành vi, lời ăn, tiếng nói luôn luôn được thúc liễm, không cho chệch lề lối. Ngài đã chọn và sống trọn vẹn chí nguyện ấy, giữ trọn ý chí và Ngài đã tự chiến thắng mình.

Ngài là tấm gương sáng cho Giáo hội noi theo, phẩm hạnh đạo đức của Ngài là hương vị tuyệt vời, ảnh hưởng rất lớn cho đương thời và mai sau.

Ngày nay, để duy trì Đạo pháp và làm lợi lạc cho mọi người, chúng ta hãy noi gương đức Tổ Đại Ca-Diếp để nâng cao phẩm hạnh đạo đức, dầu chúng ta ở trong vị thế nào.

Bài II-3 TỔ ANANDA

( Một kho tàng Pháp Bảo)

-Thích Giác Nghiêm-

 

Tôn giả Anan là một vị đại đệ tử được nhắc đến nhiều nhất trong Kinh tạng Phật giáo.

Trong hàng Thánh chúng hay mười đại đệ tử của Đức Phật, về tuổi tác Ananda là trẻ nhất, thường gọi tắt là Anan. Tổ luôn luôn thân cận bên Phật. Vị Thánh tăng mà cái tên đã chiếm toàn vẹn sắc thái phổ thông trong Kinh điển đạo Phật, cho nên nói đến ngài Anan là nói về một Thánh tăng, là một kho tàng Phật pháp. Ngài không những là một đại Hộ pháp, mà còn có công lưu truyền giáo lý của Đấng toàn giác cho đời sau, ngài là một vị A-la-hán. Ngài được sự ngưỡng mộ của mọi người ngay trong thời Đức Phật còn tại thế.

 

I- Quê quán và dòng họ:

Ngài là con thứ của Bạch-Phạn-vương, con chú của Ngài Tất-Đạt-Đa (tức là Phật Thích-Ca), dòng Sát-Đế-Lợi (dòng Hiệp sĩ) nước Ca-Tỳ-La-Vệ.

Sinh sau Đức Phật 36 năm, ngay trong đêm thành đạo, cho nên Trung Quốc dịch là Khánh Hỉ, Ngài có nhiều tướng tốt, ngay lúc nhỏ đã khôi ngô tuấn tú, thông minh, hoà nhã và vui vẻ với mọi người.

 

II- Đạo nghiệp của tổ Anan:

  1. Làm thị giả Phật:

Sau dịp Đức Phật thăm thành Ca-Tỳ-La-Vệ lần đầu tiên, mặc dầu tuổi còn trẻ, Anan vẫn tình nguyện xuất gia theo Phật trong nhóm bảy vương tử của hoàng cung, trong đó có: Đề-Bà-Đạt-Đa, A-Na-Luật, La-Hầu-La .vv…

Dầu tuổi nhỏ nhưng luôn siêng năng dự các buổi thuyết pháp của Phật, với tính thông minh sẵn có, ngài Anan nhớ hết những lời Đức Phật đã nói. Càng lớn lên, ngài càng trở nên thông minh và khôi ngô.

Hai mươi năm sau ngày xuất gia, Anan được đề cử làm thị giả cho Phật, ngài Anan chấp thuận và đưa ra 5 điều kiện:

1- Không mặc áo của Phật cho dù cũ hay mới.

2- Nếu không được thí chủ mời, không theo Phật đến nhà Phật tử thọ sự cúng dường khi Phật được thỉnh mời.

3- Được ra ngoài hay đi chỗ khác, khi Phật tiếp tín chúng đến hỏi đạo, nếu sự hiện diện của thị giả không cần thiết.

4- Không ăn thức ăn thừa của Phật.

5- Được tuỳ tiện sắp xếp hoặc cho hay không cho, mỗi khi khách đến gặp Phật.

Năm điều trên được Đức Phật chấp thuận và khen ngợi. Ngoài ra, Anan còn yêu cầu một điểm nữa, là nếu Đức Phật thuyết pháp ở đâu không có ngài tham dự, thì xin Đức Phật thuyết lại bài pháp ấy cho ông nghe.

  1. Tôn giả Anan hành đạo:

Tôn giả là một đại đệ tử rất quan trọng mặc dầu còn trẻ, được Đức Phật chỉ định làm thị giả, đồng thời còn đại diện Như Lai để ban bố giáo lệnh và thuyết pháp.

Ngài Anan đã làm tròn phận sự một cách xứng đáng, mặc dầu bận rộn nhiều công việc nhưng luôn luôn tinh tấn, nhẫn nại và bền bỉ trui rèn nội tâm.

Không những Tôn giả nhớ rõ những bài pháp Đức Phật thuyết để có thể thuyết lại không sai, không thiếu, mà còn nhớ kỹ những mẫu chuyện, những lời pháp cùng những đề tài được nói nhiều nơi khác nhau của Đức Phật. Khi thuyết pháp, ngài dùng những tài liệu rải rác đó, gom lại phù hợp đề tài để trình bày cho hội chúng nghe một cách đầy đủ súc tích, phong phú và sâu sắc.

Lại thêm, ăn nói hòa dịu, từ tốn, vui vẻ, sẵn sàng giúp đỡ mọi người, nên tôn giả Anan được Tăng - Ni và Phật tử quý mến, ngay Đức Phật từng khen ông trước mọi người như sau:

“Khi các hàng Phật tử ghé thăm, họ chỉ cần thấy dung mạo của Anan là đủ rồi, nếu Anan có thời gian thuyết pháp thì càng hay, còn giả sử Anan bận rộn, không chào hỏi họ một tiếng, họ cũng hoàn toàn hoan hỷ, không bao giờ phiền trách. Ấy chính là cái phúc hạnh của một bậc sắp bước vào ngưỡng cửa giải thoát”.

Có một cư sĩ ngoại đạo nghe ngài Anan thuyết pháp, rồi quy y Tam Bảo, vị ấy hiểu rõ chân lý đã mừng rỡ khen ngợi:

“Thật là Thánh đạo! Thật là chân nhân! Sa môn Anan đã không đề cao pháp học của mình, cũng không xuyên tạc giáo lý của người khác. Ông chỉ biết ngay thẳng diễn tả những điều chân thật, mà ý nghĩa nào dầu có tiềm ẩn sâu xa nhất ông cũng không bỏ qua”.

Hàng vua chúa cũng quý trọng ngài.

Mặc dầu được nhiều người khen ngợi, có thiện cảm, nhiều đặc quyền; hàng ngày tiếp xúc với đủ hạng người nhưng Tôn giả Anan không gặp sự ganh tỵ, phàn nàn, đố kỵ, không ai bất mãn và ganh ghét cả. Sở dĩ ngài được đề cao vì ngài biết khiêm hạ, dâng trọn cuộc đời cho đạo pháp, không có tánh kiêu căng, tự cao, ngã mạn.

Tôn giả Anan ngoài việc hầu hạ Phật một cách chu đáo chuyên cần, còn là người phụ tá của vị Giáo chủ, người tổ chức khéo léo, trông nom công việc của chư Tăng, giúp đỡ mọi người và nổi bật nhất là đóng vai trò hộ tá xuất sắc của Đức Phật, cả về mặt ngoại giao, có khi giải quyết những vấn đề phức tạp, tế nhị giữa con người với con người, Tăng-già với xã hội và với tôn giáo khác.

Trong suốt 25 năm gần gũi với Đức Phật, tôn giả Anan chỉ đắc Tu-Đà-Hoàn, nhưng Đức Phật xem Anan rất hoàn hảo, Ngài nói:

“Nầy Anan! Nếu ví Như Lai là người thợ gốm và ông là tác phẩm, thì người thợ gốm ấy, đang hoàn toàn thoả mãn vì đã đem hết khả năng của mình để nắn một tác phẩm vừa ý nhất.”

  1. Anan là kho tàng Pháp bảo:

Biệt tài nổi bật của ngài Anan là đa văn đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật, có khả năng nhớ nhiều, nhớ dai, không thiếu sót nên toàn thể Phật tử thời bấy giờ tặng ngài danh hiệu là “Một tông đồ xuất chúng” mặc dù chưa đắc quả A-la-hán. Ngài đã nghe lời Phật dạy nhiều hơn ai hết, rồi nhớ hết và hiểu ý nghĩa một cách súc tích nhất, cho nên có thể phối hợp với các Phật ngôn dạy trước với các Phật ngôn dạy sau để trình bày một cách sâu sắc.

  1. Anan đối với nữ giới:

Ananda dần dần lớn lên trong Tăng đoàn, với thiên tánh ôn hoà, thuần hậu, cởi mở, vui vẻ, ưu ái với mọi người, lại thêm dung mạo khôi ngô nên được phái nữ bên trong và ngoài Tăng đoàn ngưỡng mộ.

Nhờ tôn giả Anan khẩn cầu tha thiết nên Đức Phật đã cho phép nữ giới xuất gia.

Có lần Tôn giả gặp nạn Ma-Đăng-Già.

  1. Những mẫu đàm luận của Anan với Đức Phật:

Những mẫu đàm thoại giữa ngài Anan với Đức Phật tìm thấy trong Kinh điển rất nhiều và đa dạng. Từ những thắc mắc hay tò mò của ngài Anan, hoặc những buổi thuyết pháp Anan không dự, đều được Đức Phật trao đổi với Ngài Anan.

  1. Tiền kiếp của Ngài Anan:

(Kể một ít giai thoại về kiếp sống quá khứ của Ngài Ananda).

 

III- Anan lúc Phật sắp Niết bàn:

Những lời giáo huấn của Đức Phật thời gian cuối. Tôn giả Ananda đã sơ xuất không “thỉnh Phật khoan nhập Niết bàn” và sau đó Đức Phật hứa khả với Ma vương, Ngài sẽ nhập Niết bàn trong vòng 3 tháng tới - Đức Phật chọn địa điểm dưới gốc Sa-La Song Thọ, gần thành Kusinàrà xứ Mallas.

 

IV- Anan sau khi Đức Phật viên tịch

Tham dự kiết tập Kinh điển, tôn giả Anan tụng lại tất cả các bài Kinh Đức Phật đã thuyết.

Tổ Đại Ca-Diếp (Tổ thứ nhất) trước khi nhập Niết bàn vào núi Kê-Túc để nhập định trong núi đá. Ngài đã đến gặp Tôn giả Anan để phó chúc truyền lại ngài Anan làm vị Tổ thứ hai nối tiếp sứ mạng kế thừa, Tổ Ca Diếp nói: “Khi Như lai sắp Niết bàn có dặn tôi sau này đem chánh pháp nhãn tạng giao phó cho ông. Nay tôi cơ duyên đã mãn, đã đến lúc tôi giao phó cho ông. Ông khéo giữ gìn chớ để đoạn dứt”.

Từ ngày đó, Tôn giả Anan trở thành vị Tổ thứ 2 của Thiền tông Ấn Hoa.

 

V- Tổ Anan Niết bàn:

Sau khi thọ nhận sự truyền thừa Tổ vị thứ 2, Tổ Ananda tiếp tục lãnh đạo giáo đoàn và tích cực tuyên dương chánh pháp.

Môn đệ của Tổ Anan có hai vị xuất sắc đó là: Thương-Na-Hòa-Tu và Mạc Điền Địa (Mạc-Điền-Đề-Ca). Tổ Anan quyết định sẽ chọn Thương-Na-Hòa-Tu làm người kế Tổ vị.

Đến khoảng 120, tuổi Tổ Anan quyết định nhập Niết bàn, thời gian này hai nước Ma-Kiệt-Đà và Tỳ-Xá-Ly bất hòa, đối đầu đang giao chiến với nhau nên để tránh sự tranh chấp gây oán thù, ngài quyết định Niết bàn giữa con sông Hằng là biên giới của hai nước. Nghe tin Tổ Anan sắp Niết bàn ở giữa sông, vua và nhân dân hai nước đến đảnh lễ và bắt loa xin ngài chớ vội Niết bàn và xin hãy vào bờ.

Ở giữa dòng sông, thấy hai vua và nhân dân đều đến thỉnh mời, Tổ Anan nói lớn:

“Vì hai nước bất hoà, hai bên còn oán hận nhau do đó ta xét thấy giữa sông nhập diệt là giải pháp công bằng nhất. Ta cầu mong hai nước chấm dứt chinh chiến, lập lại hoà bình thân hữu” rồi nói bài kệ:

Hai vua khéo giao hòa.

Tôi Niết bàn an tịnh

Chớ nhớ thương buồn khổ

Vì không còn các nghiệp”.

Nhờ vậy mà hai vua lấy lại hoà khí, hợp nhau làm lễ hoả táng nhục thân Tổ và phân chia xá lợi, xây tháp tôn thờ.

Nhờ cách nhập diệt và lời kêu gọi ấy của Tổ, mà hai nước hòa giải được hận thù, chấm dứt chinh chiến, sống trong hòa bình và hợp tác.

 

  1. Kết luận:

Trong hàng đệ tử Phật, có nhiều đại đệ tử rất đáng cho hậu thế tôn sùng và noi theo. Một trong những vị đó là Thánh tăng Anan. Người con Phật mỗi lần tụng đọc Kinh đều có đọc đến tên Ngài Anan.

Ngài Anan không những là một đại Hộ pháp, mà còn có công lưu truyền giáo lý của đấng Toàn giác cho đời sau. Chúng ta cần noi gương Tổ Anan trong vấn đề tuyên dương chánh pháp để tự lợi và giúp ích cho mọi người. Lấy chánh pháp trang nghiêm bản thân, trang nghiêm giáo hội, cũng chính là để góp phần trang nghiêm, xây dựng xã hội an bình và hạnh phúc.

Bài II-4 BỒ TÁT MÃ MINH

(ASVAGHOSHA)

(Cuối thế kỷ thứ năm, sau Phật nhập Niết bàn)

-Thích Giác Nghiêm-

Giáo pháp của Đức Phật chỉ có một vị giải thoát, mục đích duy nhất là đưa chúng sanh đến giác ngộ và giải thoát. Nước trong biển cả chỉ có một vị mặn, nhưng tùy theo biển rộng, biển hẹp, biển sâu, biển nông mà hình thể của nước có khác nhau.

Bởi vậy, giáo pháp của Đức Phật tùy căn cơ, trình độ, hoàn cảnh của chúng sanh mà có nhiều pháp môn. Đến thế kỷ thứ 5 sau Phật Niết bàn, nhờ Tổ thứ 12 là Bồ Tát Mã Minh khởi sự xương minh, Phật giáo phát triển cao xa và lan truyền rộng lớn. Bồ Tát Mã Minh là một Pháp sư trí tuệ hơn người, có tài hùng biện.

I- Quê quán, dòng họ và tên hiệu:

Bồ Tát Mã Minh người xứ Ba-La-Nại (Bénares) phía Tây Thiên-Trúc, không rõ tên họ, thuộc dòng Bà-la-môn. Bồ Tát học rộng, tài cao, có biệt tài hùng biện, có nhiều công đức thù thắng, nên có tên là Công Thắng. Ngài có danh hiệu Mã Minh vì lý do sau đây:

  1. Khi Bồ Tát vừa chào đời, các con ngựa trong xứ đều hí vang lên.
  2. Ngoài tài hùng biện, còn giỏi đánh đàn. Khi Bồ Tát gẫy đàn, tất cả ngựa chung quanh vùng đều hí vang lên.
  3. Khi Bồ Tát thuyết pháp, ngựa trong các chuồng đều lặng lẽ lắng nghe không chịu ăn uống, khi Bồ Tát xuống đàn, chấm dứt buổi thuyết pháp, các con ngựa đều hí vang, rồi ăn trở lại. Bởi vậy có danh hiệu là Mã Minh (ngựa hí).

 

II- Đạo nghiệp của Bồ Tát:

  1. Mã Minh xuất gia:

Ngài Mã Minh lúc đầu tin theo ngoại đạo, thời trai trẻ là một học giả Bà-la-môn giáo, trí tuệ hưon người, có biệt tài hùng biện, không có đối thủ nào tranh luận nổi. Vì vậy, Mã Minh kiêu căng, thường tìm người tài giỏi để tranh luận. Mã Minh tìm đến Tổ Phú-Na-Dạ-Xa đang thuyết pháp để tranh luận. Với tánh kiêu ngạo sẵn có, nhưng thua tài Tổ Phú-Na-Dạ-Xa. Vì Tổ đối xử tốt, cảm hóa Mã Minh, nên Bồ Tát quy phục Tổ, và xin được xuất gia, làm đệ tử thọ trì giới pháp.

  1. Giúp cảm hóa ngài Mã Minh:

Ngài Mã Minh xin thế phát làm đồ đệ, nhưng mỗi lần nghĩ đến thất bại của mình, ông vẫn còn thấy xấu hỗ, luôn tìm cách tự tử. Ngài Phú-Na-Dạ-Xa biết rõ điều đó, nên hết lòng dùng phương tiện cảm hóa, dần dần ngài Mã Minh thấy mình thua kém Tổ về nhiều mặt, nên không còn thấy bị hạ nhục, bỏ tánh kiêu ngạo, mà say sưa học tập, nghiên cứu Phật pháp, để hiểu sâu hơn. Nhờ vậy mà bổ sung thêm sự hiểu biết, trở thành một biện sĩ lỗi lạc, thắp sáng ngọn đuốc đại thừa Phật giáo. Thanh danh của Ngài không những vang dội khắp Ấn Độ mà còn ra cả nước ngoài.

  1. Cái giá của Ngài Mã Minh:

Vua Kaniska nước Nguyệt-Chi (Tukhàra) - một nước thế lực mạnh đã thâu tóm các nước phía Bắc Ấn Độ và cả vùng Trung Á, Tế Á lập thành một đại đế quốc. Lại tiếp tục mở rộng lãnh thổ đánh xuống Trung Ấn Độ, đánh xứ Ma-Kiệt-Đà, mang về chiến lợi phẩm gồm: Cái bát của Phật, nhà sư Mã Minh và 100 triệu đồng tiền vàng.

  1. Hoằng pháp ở nước Tukhàra:

Vua Kaniska tổ chức thuyết pháp để cho quần thần và dân chúng trong nước Nguyệt-Chi nghe, để cho mọi người được lợi lạc và thấy rằng: Chiến lợi phẩm nhà sư Mã Minh quý giá và xứng đáng hơn 100 triệu đồng vàng.

  1. Tuyền tâm ấn - Thắp sáng giáo pháp vị tha rộng lớn:

Tổ Phú-Na-Dạ-Xa thấy ngài Mã Minh có thể đưa hệ phái Bắc truyền lên đỉnh cao thời đại, nên ngài đem Chánh Pháp Nhãn Tạng của Như Lai truyền trao cho ngài Mã Minh, là con người phi thường, thừa sức bẻ gãy hàng ngoại đạo, phục hồi uy thế Phật giáo. Ngài trước tác hơn 100 bộ Kinh - Luận, nổi tiếng nhất là bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận. Mục đích làm sáng tỏ, chỉ rõ gốc mê ngộ, rút ngọn nghĩa lý sâu rộng của Phật đã nói, giúp người phát khởi lòng tin vào Đại thừa.

  1. Hóa độ Tôn giả Ca-Tỳ-Ma-La:

Ca-Tỳ-Ma-La tu pháp ngoại đạo, có thần lực biến hóa, uy thế mạnh, được Tổ Mã Minh hóa độ, cùng ba ngàn đồ đệ cầu xin được xuất gia. Chấp nhận lời thỉnh cầu, Bồ Tát triệu tập 500 vị Thánh tăng cử hành lễ truyền trao giới Cụ túc. Trong buổi lễ Bồ Tát khai đạo rằng;

Nầy các giới tử! Các ngươi hãy dõng mãnh khởi tâm hướng đến Bồ Đề, người có tâm Bồ Đề rộng lớn sẽ chứng thành đạo quả giác ngộ và giải thoát

Quả nhiên, Ca-Tỳ-Ma-La được giới thể đầy đủ, từ thân phát ra ánh sáng và có mùi hương lạ tỏa khắp đạo tràng.

III- Truyền tâm ấn cho Ca-Tỳ-Ma-La và Niết bàn:

Một hôm, thấy cơ duyên hóa độ đã mãn, cơ thể cũng đã già yếu, Bồ Tát Mã Minh gọi Ca-Tỳ-Ma-La đến và di chúc:

Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta phó chúc cho ngươi. Ngươi hãy tích cực truyền bá, chớ để hoại diệt. Nghe ta nói kệ”:

“Ẩn hiển đều pháp gốc

Sáng tối nguyên không hai

Nay truyền pháp liễu ngộ

Không lấy cũng chẳng bỏ”.

Truyền tâm ấn xong, Ngài vào chánh định an nhiên thị tịch. Ca-Tỳ-Ma-La và đồ chúng đem chân thể của Bồ Tát để vào khám phụng thờ.

IV- Nhận thức và kết luận:

Bồ Tát Mã Minh người nước Ba-La-Nại (Bénares), nằm giữa lưu vực sông Hằng và nhánh sông Sona bao quanh. Khi tổ Phú-Na-Dạ-Xa đến Ba-La-Nại thiết lập đạo tràng, Đại sĩ Mã Minh đến phó hội, Tổ biết là người phi thường. Theo lời Phật huyền ký, kinh Mahamada đã ghi: “Sau khi Phật diệt độ khoảng 600 năm, các ngoại đạo tà thuyết thịnh hành hủy diệt Phật pháp. Lúc bấy giờ có Bồ Tát ra đời tên là Mã Minh, nói pháp rất hay, phá trừ tà thuyết, hàng phục ngoại đạo”. Quả thật, sau Phật Niết bàn, Bà-la-môn giáo sống dậy, hạ uy thế Phật giáo. Tổ biết Ngài Mã Minh thừa sức bẻ gãy hàng ngoại đạo, Tổ đem pháp tạng phó chúc lại, với bài kệ, đại ý nói: “Trong ngộ có mê, trong mê có ngộ, cũng như trong tối có sáng, trong sáng có tối, cả hai không rời nhau. Khi tối hết thì sáng cũng không còn. Liễu ngộ được Pháp mê ngộ, ẩn hiện thì chẳng còn một mà cũng chẳng có hai”.

Nhìn chung Bồ Tát Mã Minh thuộc dòng Bà-la-môn, là một học giả trí tuệ hơn người, vốn có tài hùng biện, học hỏi liễu ngộ thêm Phật pháp nên dễ dàng đả phá, loại trừ được tà thuyết ngoại đạo, khởi đầu xiển dương giáo thuyết vị tha rộng lớn của Đại thừa Phật giáo.

Bài II-5 BỒ TÁT LONG THỌ

(NÀGÀRJUNA)

(Giữa thế kỷ thứ sáu, sau Phật nhập Niết bàn)

-Thích Giác Nghiêm-

Việc thắp sáng đèn trí tuệ của Phật giáo Bắc truyền cũng như chấn hưng lại chánh pháp sau một thời gian dài bị tà thuyết ngoại đạo thạnh hành, cố ý hủy diệt chánh pháp, Bồ Tát Mã Minh được xem là người phát động phong trào đứng ra mở rộng tư tưởng Đại thừa, mặt trời trí tuệ ló dạng.

Về sau Ngài Long Thọ (Nàgàrjuna) làm phong trào lớn mạnh, mặt trời trí tuệ lên đỉnh cao, có công nghiên cứu tổ chức về giáo học Đại thừa Phật giáo, nhờ vậy mà ánh sáng Phật giáo tỏa chiếu rực rỡ, thắp sáng đèn trí tuệ cho mọi người.

Cho nên, sử Phật giáo bên Ấn Độ có chép: “Vào cuối thời Chánh pháp có Bồ Tát Mã Minh, đầu thời Tượng pháp có Bồ Tát Long Thọ, là những bậc Luận chủ tuyệt luân trong môn đạo học. Hai Bồ Tát phá hết tà kiến, hư ngôn, dùng Phật giáo như đường thẳng, chẳng còn bị các tà luận làm trở ngại”.

I- Quê quán, dòng họ, tên hiệu và con người của Bồ Tát Long Thọ:

Ngài nguyên tên là Siddhipâda, hiệu là Long Thọ (Nàgàrjuna), còn có tên là Long Thắng. Ngài ở nước Tỳ-Đạt-Bà (Vidharbha), ở Nam Ấn Độ, thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Ra đời vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6 sau Phật Niết bàn, tức là vào khoảng thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ hai Tây lịch.

Sở dĩ có tên hiệu Long Thọ, vì bà mẹ Ngài sanh nơi cội cây A-Chu-Đà-Na (Arjuna), lại khi lớn làm lãnh tụ một nhóm nhân tài tu luyện ở dưới tàng cây cổ thụ to lớn, nên có tên là Long Thọ. Lại có truyền thuyết nói nhờ Long vương ở dưới Long cung cho ngài Kinh. Long là rồng tên chữ là Naga, Thọ là cây A-Chu-Đà-Na (Arjuna) nên tên Ngài chữ Phạn là Nàgàrjuna, dịch là Long Thọ.

II- Đạo nghiệp của Bồ Tát Long Thọ:

  1. Xuất gia tu học:

Cậu bé Siddhipâda may mắn được vào trong tu viện Nalanda, 8 tuổi được tập sự Sa di, siêng năng học tập, tinh tấn tu hành, trở nên xuất sắc các môn học. Năm 20 tuổi, ngài đi chu du khắp nơi, tiếp xúc nhiều đạo sĩ, học thuật gia, tìm hiểu học hỏi thêm và không có môn nào không xuất sắc, như: Thiên văn, địa lý, khám và chữa bệnh, pha chế thuốc bệnh, thuốc trường sanh, bói toán, sấm ký, mật tông, chế biến luyện kim. Ngài cũng là một nhà quản lý và luận sư, là một bậc hoàn hảo siêu xuất.

  1. Được truyền tâm ấn:

Ngài Long Thọ cùng một số đồ đệ vào hang núi dưới tàng cây cổ thụ để tu luyện. Tổ thứ 13 của Thiền tông là Ca-Tỳ-Ma-La cũng vào hang núi, gặp nhau, qua tiếp xúc thấy Ngài Ca-Tỳ-Ma-La xứng đáng là bậc thầy của mình, ngài Long Thọ cùng đồ chúng xin xuất gia,sau thọ Cụ túc giới.

Một hôm, thấy cơ duyên đã mãn, cơ thể đã già yếu, Tổ Ca-Tỳ-Ma-La gọi ngài Long Thọ đến, truyền trao tâm ấn và phó chúc cho ngài làm vị Tổ thứ 14 của Thiền Tông Ấn Hoa.

  1. Tổ Long Thọ hoằng hóa Nam Ấn Độ:

Chúng ta biết ngài Long Thọ xuất thân từ một gia đình danh gia thế phiệt, dòng dõi Bà-la-môn ở miền Nam Ấn Độ. Trong thời gian này tại quê hương ngài trị vì là một quốc vương hùng mạnh, quyền uy lớn nhưng theo tà giáo. Không tin và ra sức phá hoại Phật giáo, làm cho cả một vùng rộng lớn không có một ngôi chùa, không có một nhà sư nào ở được. Ngài Long Thọ có tâm nguyện và quyết tâm dùng phương tiện để giáo hóa nhà vua. Nhờ chịu khó, chịu khổ và phương tiện thiện xảo đã cảm hóa được quốc vương kính tin Phật giáo và dân chúng lần lần quy y Tam Bảo, làm đồ đệ của ngài. Và riêng ngài rất được mọi người sùng kính.

  1. Ngài Long Thọ độ Ca-Na-Đề-Bà (Kanaseva):

Đến một vùng người dân theo ngoại đạo từ lâu, chưa hiểu Phật giáo, chỉ tin theo phước nghiệp, chưa hiểu về Phật tánh, Ngài Long Thọ giảng pháp và dùng phương tiện cho họ hiểu và độ cho họ. Nhờ đó mọi người cảm ngộ, một số xin xuất gia, trong đó có con một ông trưởng giả giàu có tên là Ca-Na-Đề-Bà (Kanaseva). Ca-Na-Đề-Bà từ nhỏ đã tỏ ra thông minh, có tài biện luận, lại hay đùa bởn, thích làm phước thiện, nên có tên là Tác Thiện.

  1. Xiển dương Phật giáo Bắc truyền:

Bồ Tát Long Thọ lúc thiếu thời đã tinh thông các kinh điển Véda của Bà-la-môn giáo và các học thuật. Nhưng đều chưa thỏa mãn, nên quyết tâm xuất gia tìm đạo cao siêu mầu nhiệm của Phật giáo. Lúc đầu ngài học giáo lý Tiểu thừa, về sau nghiên cứu giáo lý Đại thừa làm cho ngài thích thú và say mê. Ngài tổ chức lại hệ thống giáo học rõ ràng của Đại thừa, ngài trước tác các luận điểm cho sâu sắc, sắc bén hơn, để làm sáng tỏ các vấn đề khúc ch