Phật Học Vấn Đáp (TVHS)

Mục lục

  1. Đầu năm bàn luận phật pháp với một người phương tây
  2. Đấng sáng tạo, quyền năng tuyệt đối
  3. Giải đáp những nghi vấn liên quan đến pháp môn tịnh độ
  4. Những điểm khác biệt quan trọng với tôn giáo khác
  5. Quan điểm của phật giáo về tự sát
  6. Phật học vấn đáp duy thức học phần thứ 8
  7. Quán chiếu duyên nghiệp để nhẹ lòng hơn
  8. Phật tử có được buôn bán thực phẩm “mặn”
  9. An lạc tức khắc
  10. Ưu tư về hỏa táng, cách rải tro cốt và thờ cúng
  11. Hỏa táng
  12. Biệt nghiệp và cộng nghiệp
  13. Biệt nghiệp và cộng nghiệp (giáo sư minh chi)
  14. Cõi cực lạc có vĩnh hằng?
  15. Phải chăng cuộc đời đã lập trình sẵn?
  16. Hôn nhân khác tôn giáo
  17. Quan niệm sai lầm về thân trung ấm
  18. Phát huy chánh kiến trước những luận điệu xuyên tạc đạo phật
  19. Bị đổ nghiệp
  20. Có nên cho trẻ nhỏ quy y?
  21. Thiền hay tịnh tốt cho phút lâm chung?
  22. Địa ngục có thật không?
  23. Ý nghĩa sắc tức thị không
  24. Hương linh có bị đoạ địa ngục?
  25. Đức phật a di đà, tây phương tam thánh có tiếp dẫn người tu không?
  26. Người chết bất đắc kỳ tử, thì nghiệp quả sẽ ra sao?
  27. Ý nghĩa của hai chữ lăng nghiêm và nguyên nhân nào phật nói chú lăng nghiêm.
  28. Tụng kinh cầu siêu thì có siêu được không?
  29. Làm gì khi chúng ta gặp thị phi?
  30. Nghịch duyên và tình huống xuất gia
  31. Con cái và cha mẹ ở kiếp này có duyên nợ gì với nhau?
  32. Niệm phật vãng sanh
  33. Lạy phật cách nào đúng
  34. Bảy cách lễ phật
  35. Đưa ông táo về trời
  36. Hiên tượng phật sống, và làm sao để thấy được một vị phật hay bồ tát?
  37. Hồi hướng công đức
  38. Cầu nguyện và hồi hướng có tác dụng không?
  39. Viên tịch và tân viên tịch
  40. Khi chết ngũ uẩn diệt theo như vậy nếu chết mà diệt hết thì thoát khỏi nghiệp chăng?
  41. Sự thật về cúng cô hồn vào mùng 1 & 15 hàng tháng
  42. Sư tu theo truyền thống phật giáo nào?
  43. Xuất gia – nên hay không?
  44. Sau khi chết xác thân chỉ là đất
  45. Ăn chay nhưng phải nấu mặn cho chồng con
  46. Linh hồn người chết đi về đâu?
  47. Ăn chay có thể ăn trứng được không?
  48. Luật nhân quả có bất công hay không?
  49. Chánh mạng của người xuất gia
  50. Bái sám, lễ lạy có diệt được tội không?
  51. Có phải phật giáo cũng tin có quỷ, thần mơ hồ hay không?
  52. Khi thần tượng sụp đổ
  53. Làm thế nào để định tâm không bị ảo giác khi huyệt đạo bị mở do tu theo nhân điện?
  54. Bố thắc mắc mong được giải đáp
  55. Quan điểm của đạo phật về “tháng cô hồn”
  56. Người xuất gia có được tham dự, bàn luận chuyện chính trị không?
  57. Ăn chay trường nhưng nấu đồ mặn có mang tội sát sinh không?
  58. Nhân quả trùng điệp
  59. Ý nghĩa & điều kiện xuất gia
  60. Thế nào là thính pháp như chánh pháp
  61. Giúp người tái duyên có bị đọa địa ngục?
  62. Người đồng tính nam có được thọ đại giới?
  63. Đạo phật và vấn đề nạo phá thai
  64. Thiên tai, động đất, sóng thần có phải do chiêu cảm của việc sát sanh và nạo phá thai?
  65. Cái nhìn phật giáo về sự phá thai và sự tha thứ
  66. Mua dâm có phạm giới tà dâm?
  67. Mười hai bộ kinh
  68. Vấn đề hộ niệm cho người sắp lâm chung
  69. Hộ niệm chỉ là trợ duyên
  70. Thiền và tịnh độ khác nhau?
  71. Ý nghĩa chơn tâm và bản tánh như thế nào?
  72. Tâm ở đâu?
  73. Làm sao để chia sẻ buồn vui với mọi người?
  74. Cầu cúng có được chăng
  75. Sự linh ứng của bồ-tát có mâu thuẫn với luật nhân quả?
  76. Vô niệm vô sanh
  77. Oan hồn có tồn tại ở bệnh viện không? làm thế nào để hóa giải?
  78. Tẩu hỏa nhập ma
  79. Tu tập xả ly phải chăng là vô cảm?
  80. Tâm ở đâu?
  81. Lạy phật cách nào đúng?
  82. Đạo nào cũng là đạo
  83. Trọng giới và “y luật xử trị” có nghĩa là gì?
  84. Đi tu lánh đời hay đương đầu với cuộc sống?
  85. Một sự ngộ nhận về luật nhân quả
  86. Làm thế nào để phân biệt chánh tà giữa rừng pháp môn phật giáo?
  87. Con ăn chay trường nhưng bác sĩ bảo ăn mặn để chữa bệnh, nên làm như thế nào?
  88. Tính không là gì? pháp môn niệm phật và kinh điển đại thừa có phải do đức phật thuyết giảng không?
  89. Hỏi đáp phật pháp: ứng dụng tu tập
  90. Nghiệp câu cá
  91. Cúng chay, đãi mặn
  92. Buddhist hybrid sanskrit
  93. Tri túc và làm giàu có mâu thuẫn không?
  94. Tu tịnh độ không phải chỉ tụng kinh vô lượng thọ
  95. Tội lỗi - hình phạt - sám hối (cư sĩ tuệ đăng)
  96. Làm sao để kiếm tìm vị thầy tâm linh?
  97. Có nên tin vào duyên số?
  98. Địa ngục là gì?
  99. Ma là gì nó ở đâu và làm cách nào để trừ ma
  100. Phật giáo giải thích thế nào về ý thức trong cây, trong đá
  101. Về thần thông, biến hóa trong đạo phật
  102. Tự tử có tội và có phạm giới sát sinh không?
  103. Làm nghề trồng lúa và cây ăn trái sử dụng thuốc giết sâu bọ và diệt cỏ dại có phạm giới sát sanh và gánh chịu quả báo không?
  104. Sau khi chết "nghiệp" đi đâu?
  105. Có nên ca hát không?
  106. Thần thức sẽ trụ nơi nào sau khi chết
  107. Không giải đóan điềm lành điềm dữ
  108. Làm sao biết một vị a la hán?
  109. Phi thân thị chơn thân phi thuyết thị chơn thuyết
  110. Xin hỏi một tăng sĩ ở chùa nuôi chó và cho chó ăn thịt sống có được không?
  111. Quan điểm của phật giáo về nguồn gốc loài người
  112. Cha ăn mặn con khát nước
  113. Đại-thừa và tiểu-thừa phái nào cao siêu hơn ?
  114. Kinh ngụy tạo (apocrypha)
  115. Nguồn gốc và ý nghĩa của lá cờ phật giáo
  116. Nguồn gốc và ý nghĩa của chiếc áo cà sa
  117. Cloning và phật giáo
  118. Sinh sản vô tính và đạo phật
  119. Quan niệm của đức phật với nữ giới như thế nào?
  120. Cầu siêu độ
  121. Vấn đề tự sát
  122. Tìm minh sư học đạo
  123. Vấn đề cầu siêu cúng cơm
  124. Phật giáo có chủ trương hoả táng không?
  125. Đốt vàng mã một hủ tục cần huỷ bỏ
  126. Ý nghĩa ba lạy trong đạo phật
  127. Vấn đề khất thực trong đạo phật
  128. Bói toán tử vi
  129. Địa ngục
  130. Muốn tu tập theo phật giáo, có cần phải bỏ tôn giáo của mình, chuyển qua đạo phật không?
  131. Đức phật có cứu độ chúng sinh không?
  132. Mục đích ăn chay của đạo phật
  133. Ăn chay đúng phương pháp
  134. Thầy chùa, thầy cúng hay đạo sư
  135. Tâm chân như, tâm sinh diệt
  136. Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn
  137. Nghi vấn về nguyên do đức phật niết bàn
  138. Giáo lý tứ y
  139. Thế nào là kinh liễu nghĩa?
  140. Cúng sao giải hạn
  141. Phật giáo có phải là duy vật không?
  142. Thế nào là một phật tử đúng nghĩa phật tử
  143. Vấn đề tái sanh
  144. Y kinh giải nghĩa, tam thế phật oan
  145. Xin cho biết ngồi thiền như thế nào cho đúng cách, đúng phương pháp?
  146. Hôn nhân khác tôn giáo
  147. Công đức và phước đức
  148. Buông xả
  149. Buông xả những quá khứ đau thương và thù hận
  150. Xin cho biết cách xưng hô trong đạo phật
  151. Hiến chương của giáo hội phật giáo việt nam và giáo hội phật giáo việt nam thống nhất
  152. Hiện tượng osho
  153. Tứ cú là gì?
  154. Xuất gia đi tu
  155. Đức phật giảng pháp
  156. Trì chú
  157. Thập nhị bộ kinh
  158. Năm thời thuyết pháp của đức phật.
  159. Người giác ngộ còn bị chi phối bởi luật nhân quả không?
  160. Phật giáo đại thừa là bà la môn giáo?
  161. Đối cảnh vô tâm
  162. Quan điểm của phật giáo về pháp môn niệm phật
  163. Chế ngự năng lượng tình dục
  164. Kiến bất năng cập
  165. Pháp danh bắt đầu bằng họ thích có ở việt nam từ bao giờ
  166. Xin cho biết "thiền duyệt" là gì?
  167. Có hay không "kiếp luân hồi"?
  168. Ba thứ lượng và năm phần luận trong kinh lăng già đức phật
  169. Quan điểm về nghiệp của phật giáo có sự khác biệt như thế nào so với quan điểm số mạng của nho giáo?
  170. Xin cho biết ý nghĩa chữ kinh trong đạo phật
  171. Biên kiến và sở tri chướng. xin giải thích cho tôi biết rõ về hai từ nầy?
  172. Vậy xin hỏi ban biên tập về thiền xuất hồn và phật giáo có loại thiền này không?
  173. Xin hỏi đồng bóng, đồng cốt là gì? có cách nào khuyến hóa những người thân trở về chánh pháp không?
  174. Hình ảnh phật giáo trong truyện tây du kí
  175. Điạ mẫu chơn kinh, táo quân chơn kinh, thiên địa bát dương có phải là kinh phật giáo không?
  176. Quy y qua internet.
  177. Sự khác biệt giữa hai chữ phật và chữ bụt
  178. Xin hỏi ban biên tập thế nào là nguỵ kinh và có phải kinh lăng nghiêm là kinh giả không?
  179. Xin cho biết quan điểm của phật giáo về hình phạt án tử hình
  180. Tăng đoàn là gì và một tập hợp cư sĩ có thể là một tăng đoàn không?
  181. Mục đích và ý nghĩa về lễ trai đàn chẩn tế
  182. Tăng ni trẻ và chuyện học hành
  183. Hướng dẫn và dạy cho con về đạo phật
  184. Vấn đề hôn nhân khác tôn giáo và việc giao lưu giữa phật giáo và cơ đốc giáo
  185. Xin vui lòng giải thích công án nam tuyền chém mèo.
  186. Quan điểm của phật giáo về phá thai
  187. Phật tử và những phương thức làm ăn chân chính
  188. Về giới cấm không được ca hát và xem nghe
  189. Đạo phật với vấn đề an tử
  190. Cúng dường tam bảo
  191. Tăng ni và phật tử tại gia có được kinh doanh làm giầu không?
  192. Về pháp môn quan âm của "vô thượng sư" thanh hải
  193. Trì chú chuẩn đề
  194. Xin cho biết tịnh khẩu có phải là pháp tu trong đạo phật không?
  195. Đại thừa phật giáo chấp không. chân như hay niết bàn chỉ là không không
  196. Ăn chay trường và vấn đề ăn trứng gà
  197. Tượng phật di lặc và tượng ông thần tài
  198. Làm thế nào để chữa khỏi được bệnh căng thẳng tinh thần theo phương cách của nhà phật ?
  199. Đồng tính luyến ái có thể đi vào chùa lễ phật được không?
  200. Nghĩa của sư tử hống là gì? có liên hệ gì đến lời đàm dân gian "hà đông sư tử rống" không?
  201. Xin cho biết lễ điểm đạo là gì?
  202. Bình thường tâm thị đạo
  203. Công án là gì?

ĐẦU NĂM BÀN LUẬN PHẬT PHÁP VỚI MỘT NGƯỜI PHƯƠNG TÂY

Thiền Viện Thường Chiếu | Cư sĩ Chánh Tấn Tuệ lược ghi

HỎI : Tôi là một giáo sư người Đức đã nhiều năm tìm hiểu Phật pháp. Hiện nay tôi đã về hưu và dành nhiều thời gian sống tại Việt Nam để tìm hiểu thêm về Phật pháp. Tôi thường đi chùa, tham gia xây chùa, trợ giúp một số Tăng Ni, làm từ thiện, thực hành các nghi lễ trong Phật giáo, niệm Phật. Khi niệm Phật, nhiều lúc tôi có được sự tập trung cao độ. Mặc dù vậy, tôi vẫn còn một số thắc mắc chưa giải quyết được. Thắc mắc lớn nhất của tôi là vì sao trong Phật giáo xuất hiện hai cách tu học trái ngược nhau mà có giá trị tương đương và cùng dẫn đến một cứu cánh ?

1. Chỉ thực hành một phương pháp nào đó mà không cần học hỏi thêm điều gì nữa. Như chỉ niệm một danh hiệu Phật và chỉ thế mà thôi.

2. Học hỏi Phật pháp với một tri thức rất cao. Như các bài viết và các đối đáp mang tính biện chứng cao trong Thiền tông.

Với người phương tây chúng tôi, chỉ cần học hiểu là đủ, vì sao lại phải thực hành, điều mà trong Phật giáo luôn đòi hỏi phải có ? 

ĐÁP : Câu hỏi trên sẽ dễ dàng được giải quyết, nếu ta nhìn về nó từ một cấp độ căn bản hơn. Đó là sự phân biệt giữa triết học và đạo học.

Phật học là đạo học, không phải là triết học. Đạo học không phải là triết học nhưng chúng có cùng một điểm chung là cả hai đều tìm hiểu về chân lý.

Với Phật giáo, chân lý không nằm trong ngôn từ. Nói cách khác, ngôn từ không thể diễn tả được chân lý. Tuy vậy, chân lý là cái sẵn đủ trong mỗi người. Vì thế chúng ta có thể nhận ra nó bằng sự chứng ngộ, không qua ngôn từ. Muốn chứng ngộ, cần phải tu tập. Tức phải thực hành.

Triết học, quan niệm của đa số người phương tây cho rằng ngôn từ có thể diễn tả được chân lý, nên chỉ cần học hiểu đúng chân lý là đủ.

Ta có thể phân biệt như sau: Triết học là cái học về chân lý thông qua ngôn từ. Đạo học là cái học trực tiếp về chân lý không qua ngôn từ, suy tưởng.

Với Phật giáo, cái học qua ngôn từ suy tưởng chỉ cho những hiểu biết phù hợp với chân lý, chứ không thể nhận ra chân lý y như chính nó. Bởi chân lý không nằm trong ngôn từ suy tưởng. Chính vì thế, sự hiểu biết về chân lý chỉ có tác dụng hướng dẫn chúng ta cách sống phù hợp với chân lý, nhờ đó mà có sự chứng ngộ. Đây là lý do vì sao Phật giáo luôn đòi hỏi phải có sự thực hành. Trên tinh thần ấy, trong Phật giáo xuất hiện hai hình thức tu học chính :

1. Nếu đủ niềm tin, người ta chỉ cần thực hành một phương pháp nào đó được chỉ dạy trong kinh luận một cách đúng đắn, cho đến khi đạt được sự chứng ngộ. Vì chứng ngộ là nhận ra chân lý vốn sẵn nơi chính mình, nên không cần phải học hỏi thêm một điều gì khác. Sau khi chứng ngộ, ta sẽ thực sự nhận ra chân lý.

2. Học hỏi kinh luận một cách đúng đắn và đầy đủ, ta sẽ có sự hiểu biết phù hợp với bản chất chân lý. Do hiểu mà có niềm tin. Do tin mà có sự thực hành theo chỗ hiểu của mình. Do thực hành mà có sự chứng ngộ. Do chứng ngộ mà nhận ra chân lý. Đó mới thật là chân lý.

Đến đây, ta hiểu vì sao với hai phương cách khác nhau, ta lại có cùng một cứu cánh.


HỎI : Có phương cách nào ngoài hai phương cách nói trên ?

ĐÁP : Thông thường người ta sử dụng phương cách thứ ba. Đó là kết quả của việc phối hợp hai phương cách nói trên.


HỎI : Vì sao ?

ĐÁP : Cách thứ nhất đòi hỏi hành giả phải có niềm tin vững chắc. Vì trở ngại lớn nhất trong việc tu học là NGHI. Sau một thời gian thực hành, khi gặp khó khăn, người ta dễ nghi ngờ phương pháp thực hành mà mình đang theo đuổi, không hiểu nó có dẫn đến cứu cánh hay không. Nếu niềm tin không vững, sẽ không phá được cái nghi này, và không thể đạt được mục tiêu đã định.

Với cách thứ hai, đòi hỏi người tu phải có một trình độ tri thức thật đầy đủ mới có thể tiến đến cứu cánh. Nếu tri thức chưa đầy đủ thì sau một thời gian thực hành, ta dễ rơi vào tình trạng mịt mờ, không biết tiến thoái thế nào, không biết tiếp tục đi theo đường hướng nào cho đúng, dễ đi lạc hướng và không đến được cứu cánh.


HỎI : Tôi không hề nghi ngờ Phật pháp. Tôi có niềm tin với Phật pháp.

ĐÁP : Nhưng niềm tin đó chưa đủ để ta buông bỏ tất cả, chỉ sống chết với câu niệm Phật cho đến khi chứng ngộ. Nói chung đa số chúng ta, tuy có được niềm tin và một tri thức tương đối, nhưng chưa đầy đủ. Chính vì vậy, đa số chúng ta phải vừa học, vừa thực hành. Sự kết hợp này giúp ta có được sự chứng ngộ. Nói một cách rõ ràng hơn, song song với việc học hỏi kinh luận chúng ta phải thực hành một phương pháp tu tập nào đó. Việc thực hành sẽ giúp chúng ta có những cảm nghiệm về những điều được nói trong kinh. Sự cảm nghiệm sẽ làm tăng trưởng niềm tin và giúp chúng ta có được cái hiểu đúng đắn và sâu sắc hơn đối với kinh luận. Với cái hiểu này, chúng ta sẽ tinh tấn và thực hành một cách đúng đắn hơn. Nhờ đó có được những chứng thực sâu sắc hơn ... Cứ như thế mà tiến dần đến cứu cánh.


HỎI : Người phương tây chúng tôi đề cao tư duy luận lý, nên không coi trọng trực giác. Trong khi đó, chứng ngộ là kết quả của cái học trực tiếp về chân lý, không qua ngôn từ suy tưởng. Thật khó để chúng tôi tin hiểu chỗ này. 

ĐÁP : Chứng ngộ không phải là trực giác theo cái hiểu của người phương tây. Trực giác, theo người phương tây, là một ý tưởng đột nhiên xuất hiện không thông qua sự suy tưởng. Nó có thể đúng cũng có thể sai, nên không thể tin tưởng, xem đây là cơ sở cho các nhận định đúng. Chứng ngộ không phải là một ý tưởng, nên lại càng không phải là một ý tưởng đi kèm với một giá trị đúng sai tình cờ.


HỎI : Nhưng làm sao biết đâu là sự chứng ngộ đúng đắn? Trên thực tế, có nhiều người tự xem là đã chứng ngộ. Nhưng xét kỹ chỉ là sự tưởng tượng về chân lý. Chỉ là ảo tưởng về sự giác ngộ.

Nếu cho rằng sự giác ngộ ấy là đúng đắn vì đã được một vị thầy ấn chứng, thì làm sao biết được đây là một vị thầy có đầy đủ tư cách để ấn chứng ?

ĐÁP : Thông thường, người ta vẫn cần đến một vị Thầy để ấn chứng. Nhưng chính yếu vẫn là sự tự kiểm nghiệm của chính mình. Nếu thật sự chứng ngộ, ta sẽ thông hiểu một phần kinh luận. Tiếp tục hành trì dần dần ta sẽ thông hiểu tất cả kinh luận. Thấy được cội nguồn của ngôn từ. Thấy được nguồn gốc, vai trò và vị trị của tất cả mọi học thuyết có trên thế gian. Khi đó, nếu cần ta có thể lập ra một lý thuyết dung hội tất cả mọi lý thuyết.

Vì chân lý là chân lý của tất cả, là chân lý của pháp xuất thế, nghĩa là của những điều đề cập trong kinh luận, cũng là chân lý của các pháp thế gian, nghĩa là của mọi sự vật xuất hiện trong thế giới mà ta đang sống v.v... Chân lý không chỉ là chân lý của lãnh vực tu chứng mà còn là chân lý của lãnh vực thường nghiệm.


HỎI : Vì sao trong Phật giáo có quá nhiều nghi lễ ?

ĐÁP : Theo Phật giáo, sự giáo hóa chỉ có tác dụng khi nó vừa phù hợp với chân lý, vừa tùy thuận theo tánh dục của chúng sanh, tạm hiểu là chỗ ưa thích của chúng sanh. Do chỗ ưa thích của chúng sanh có nhiều sai khác nên cần lập ra nhiều hình thức khác nhau để thích ứng. Là một trong những hình thức giáo hóa của Phật giáo, nghi lễ cũng không ra ngoài qui tắc trên. Vì vậy, mà có nhiều nghi lễ khác nhau. Mặt khác, nghi lễ với các hình thức trang nghiêm dễ tạo ra sự thành kính. Với sự thành kính, người ta dễ có sự thành tâm thậm chí là nhất tâm. Đây là điều kiện cần thiết để học đạo.


HỎI : Xin cho một phương cách tu học thật hữu hiệu.

ĐÁP : Hiện tại xin cho biết, ông có thực hành pháp gì không ?


HỎI : Niệm Phật.

ĐÁP : Xin cứ tiếp tục niệm Phật. Song song đó cần tìm hiểu thêm về giáo lý. Là một người phương tây, với sự đề cao tư duy luận lý, ông sẽ không thể hành trì đến cùng một pháp nào đó mà chưa có sự hiểu biết rõ ràng. Việc tìm hiểu về giáo lý, giúp ta có được sự hiểu biết phù hợp với chân lý. Từ đó ta sẽ hiểu tại sao mình lại phải thực hành thế này hay thế kia. Sự thực hành giúp ta có được những cảm nghiệm về các điều đã nói trong kinh luận. Nhờ đó làm tăng trưởng niềm tin nơi ta. Giúp ta vượt qua các nghi ngờ và trở ngại để đạt đến chân lý. 

ĐẤNG SÁNG TẠO, QUYỀN NĂNG TUYỆT ĐỐI

Tôi là một Phật tử, thế nhưng tôi vẫn nghĩ đến một đấng sáng tạo ra tất cả, có quyền năngtuyệt đối, định đoạt mọi sự việc trên đời. Như thế, con người sẽ yên tâm hơn, vì có chỗ nương tựa tối cao, bền vữngtrong đời này và sau khi chết đi. Có thể hiểu đấng ấy là Đức Phật không? Xin giải thích thêm.

Tôn Nữ Hoài Ân – đường Thành Thái, Q.10, TP. Hồ Chí Minh

Suy nghĩ như thế của bạn là không đúng. Đó chỉ là mong ước của bạn cũng như của rất nhiều người khác, nhưng thực sự không thể có một đấng như vậy và Đức Phật cũng không hề tự nhận Ngài là một đấng quyền năng tuyệt đối, sáng tạo và định đoạt tất cả. Qua kinh điển Phật giáo, chúng tôi xin lược dịch vài lập luận sau đây:

1) Mọi sự vật đều không tự có, không do một nguyên nhân độc nhất mà do số nguyên nhân (nhân duyên) để hình thành. Ví dụ: cái chén đang ở trên bàn được tạo nên bởi người thợ, bởi đất sét, lửa nung, nhà buôn, khách hàng, chuyên chở…Tức là do vô số nguyên nhân mà ta không thể kể hết được. Do đó, vũ trụ vạn vật, chúng sinh…đều do vô số nguyên nhân mà có, không thể do một nguyên nhân hay một người tạo ra được.

2) Nếu có một vị tuyệt đối toàn hảo thì vị ấy vốn đầy đủ tất cả, không cần phải làm gì, không cần phải sáng tạo ra thứ gì cả. Ta xây nhà vì ta cần nhà để ở, ta tạo hoa màu để ăn, ta trang hoàng nhà cửa để đáp ứng đòi hỏi thẩm mỹ…Tức là ta có thiếu thốn mới tìm cach sáng tạo chứ đấng tuyệt đôi toàn hảo (nếu có) thì không cần phải như thế.

3) Nếu có một vị toàn hảo, quyền năng tuyệt đối thì tác phẩm sáng tạo của vị ấy phải toàn hảo. Chúng ta thấy đâu đâu cũng là sự bất toàn. Sự bất bình đẳng giữa các thân phận con người (giàu nghèo, sang hèn, khỏe yêu, chết già, chết trẻ…), cái xấu, cái ác, thiên tai, hỏa hoạn , đói nghèo, bệnh hoạn, chiến tranh, bạo lực, suy thoái đạo đức…xảy ra khắp nơi, liên tục. Thế giới này là không hoàn hảo, không phải là tác phẩm của một vị toàn năng, toàn hảo.

4) Nếu có một vị toàn hảo,quyền năng tuyệt đối thì tac phẩm sáng tạo phải được hình thành ngay, hoàn tất, trọn vẹn, tuyệt hảo, tuyệt đối ổn định, không thay đổi…Tự bao giờ, hiện nay và trong tương lai vũ trụ thay đổi không ngừng, nhiều ngôi sao bị tan vỡ, nhiều hành tinh mới được hìnhthành, trái đất luôn biến đổi, tình hình thế giới đổi thay không ngừng…Như vậy, sự sáng tạo được gọi là của đấng toàn năng là chưa xong và không biết đến bao giờ mới xong!

Sự tin vào một đấng tuyệt đối quyền năng, quyết định tất cả mọi sự việc, theo chúng tôi, chỉ là sự mong ươc được nương tựa của những người lo lắng cho số phận mình hiện nay và sau khi chết đi. Phật giáo khẳng định rằng cái chết không phải là chấm dưt sự sống mà chỉ là sự thay đổi hình thái sống. Theo ly tái sinh, ta có vô số đời sống cho đến khi được giải thoát tối hậu, đời ta là do ta quyết định. Đối với người Phật tử, trên bước đường tìm về hạnh phúc tối hậu, nơi nương tựa duy nhất là Đức Phật, Phật pháp và chư Tăng Ni. Nhưng Phật, Pháp Tăng vốn chung một thể, Phật vốn là cai Tâm nguyên thủy của mỗi người, tâm mình vốn là Phật. Tất cả do tâm tạo chứ không do ai khac tạo, tốt, xâu cũng do tâm. Người Phật tử tự tin, hành trì theo lời Phật dạy mà hành thiện, phát triển tâm linh cho đến khi giải thoát tối hậu, không việc gì phải tự đánh mất mình bằng những tưởng tượng vu vơ.

Bàng Ẩn

Giải đáp những nghi vấn liên quan đến pháp môn Tịnh độ

Lý Bỉnh Nam biên soạn | Thích Đức Trí dịch

Tịnh độ là pháp môn thuộc Phật giáo Đại thừa. Đã gọi là pháp môn thì thuộc phương tiện; Phật pháp có bao nhiêu pháp môn thì có bấy nhiêu phương tiện. Chư Phật ra đời cũng tùy theo căn cơ trình độ của chúng sinh mà khai mở nhiều phương tiện sai khác. Phương tiện là nhịp cầu đưa chúng sinh đến cứu cánh giác ngộ, giải thoát sinh tử. Cho nên nhận thức nghĩa lý Phật pháp là điều cần thiết cho việc hoằng pháp trong thời hiện đại; và việc vận dụng pháp môn tu học phù hợp với quan điểm giáo dục Phật giáo là điều người Phật tử mong muốn.

Thời gian qua, tôi có viết một số bài liên quan đến pháp môn Tịnh độ gửi cho báo Giác Ngộ cũng như các trang báo khác. Có hai vấn đề mà tôi quan tâm: một là làm sao giải đáp những thắc mắc trong lòng mọi người về pháp môn này; hai là làm sao thể hiện bản sắc của Tịnh độ thuộc hệ tư tưởng Đại thừa đang tiếp cận trong đời sống hiện đại. Nhân đọc tác phẩm “Giải đáp những nghi vấn liên quan đến pháp môn Tịnh độ” của lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, tôi nhận thấy tác phẩm này trả lời nhiều câu hỏi về pháp môn Tịnh độ có sức thuyết phục và phù hợp với Phật pháp. Do vậy, tôi chọn bản văn do Giáo sư Tăng Kỳ Vân đã biên tập hoàn thiện bằng Hán ngữ hiện đại để dịch sang Việt ngữ.

Tăng Kỳ Vân là nhà nghiên cứu Phật học nghiêm túc, chuyên về hệ văn học Phật giáo Đại thừa. Ông có biên soạn một số tác phẩm về Tịnh độ liên quan đến tư tưởng của Tổ sư Ấn Quang. Tăng Kỳ Vân vốn là giáo sư dạy triết học, văn hóa và Hán ngữ, vì vậy chúng tôi tin rằng ông có thẩm quyền trong việc chuyển ngữ tác phẩm bằng chữ Hán của Lý Bỉnh Nam sang Hán ngữ hiện đại. Khi dịch tác phẩm này, chúng tôi có lược bớt một số câu không cần thiết vì lập lại nội dung.

Thiết nghĩ, Tịnh độ là pháp môn dễ tu mà khó tin, muốn tin được cần hiểu rõ giáo lý mới giải tỏa được nghi vấn. Nội dung những câu giải đáp trong tác phẩm này là tri thức cần thiết cho những người muốn tìm hiểu về pháp môn Niệm Phật. Bên cạnh, cuốn sách còn giới thiệu đến bạn đọc những giá trị của pháp môn này trong đời sống tu tập cầu thoát ly sanh tử luân hồi, cũng như chỉ ra những kinh nghiệm và phương pháp truyền bá giáo lý Tịnh độ đến với mọi người đúng theo tôn chỉ mà Đức Phật đã dạy trong các kinh điển Đại thừa.
Kính bút
Tỳ-kheo Thích Đức Trí

NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT QUAN TRỌNG VỚI TÔN GIÁO KHÁC

Tuệ Uyển chuyển ngữ

1- Không có một đấng Thượng Đế toàn năng trong Đạo Phật. Không có ai đưa ra sự tưởng thưởng hay trừng phạt trong một Ngày Phán Xét giả định.

2- Đạo Phật hoàn toàn không phải là một tôn giáo trong phạm vi của một đức tin và thờ phượng do lòng trung thành một thế lực siêu nhiên.

3- Không có khái niệm cứu rỗi trong Đạo Phật. Một Đức Phật không phải là một đấng cứu rỗi bằng năng lực cứu độ cá nhân của Ngài. Mặc dù người Phật tử quy y với Đức Phật như bậc hướng dẫn vô song, bậc chỉ con đường của tịnh hóa, nhưng người Phật tử không như đầu phục như nô lệ. Người Phật tử không nghĩ rằng người ấy có thể đạt đến sự tịnh hóa chỉ đơn thuần bằng việc quy y với Đức Phật hay chỉ bằng việc có niềm tin trong Ngài. Không phải vì năng lực của Đức Phật mà rửa sạch sự ô nhiễm của kẻ khác.

4- Một Đức Phật không phải là một hiện thân của thần linh/ Thượng đế (như một số tín đồ Ấn Giáo tuyên bố). Mối quan hệ giữa Đức Phật và đệ tử của Ngài và tín đồ là của một vị thầy và học nhân.

5- Sự giải thoát tự ngã là trách nhiệm của tự thân. Đạo Phật không kêu gọi một đức tin mù quáng vô điều kiện đối với tất cả mọi tín đồ Đạo Phật. Nó đặt nặng yếu tố tự chủ, tự giác và phấn đấu cá nhân.

6- Quy y với Ba Ngôi tôn quý là Phật, Pháp và Tăng; không có nghĩa là tự đầu hàng hay hoàn toàn nương tựa vào một sức mạnh ngoại tại hay một phía thứ ba cho việc hổ trợ hay cứu rỗi.

7- Giáo Pháp (giáo lý Đạo Phật) tồn tại bất chấp có một Đức Phật hay không. Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni (Đức Phật lịch sử) khám phá và chia sẻ giáo lý/ lẻ thật phổ quát với tất cả chúng sanh. Ngài không phải là đấng sáng tạo ra những giáo lý như vậy cũng không phải là sứ giả của một Thượng Đế toàn năng trao truyền những giáo lý như vậy cho người khác.

8- Nhấn mạnh một cách đặc biệt trong Đại thừa Phật giáo là tất cả chúng sanh có Phật tánh/ bản thể. Một người có thể thành một Đức Phật (một chúng sanh siêu việt Giác Ngộ) qua một tiến trình  tu tập nếu người ấy thực hành một cách cần mẫn và đạt đến sự tịnh hóa của tâm thức (hoàn toàn không còn vọng tưởng hay phiền não).

9- Trong Đạo Phật, mục tiêu tối hậu của tín đồ/ hành giả là Giác Ngộ và/ hay giải thoát khỏi vòng luân hồi; thay vì đi đến một Thiên đàng ( hay thế giới chư thiên trong phạm trù của vũ trụ quan Phật giáo).

10- Nghiệp và nghiệp lực là viên đá nền tảng của giáo lý nhà Phật. Chúng được giảng nghĩa rất kỷ lưởng trong Đạo Phật. Nghiệp liên quan đến một khái niệm siêu hình quan trọng liên hệ với hành động và những hệ quả của nó. Quy luật về nghiệp này giải thích vấn nạn của những khổ đau, bí ẩn của điều được gọi là số mạng và tiền định của một số tôn giáo, và ở trên tất cả sự bất bình đẳng hiển nhiên của loài người.

11- Tái sanh là một giáo lý chìa khóa khác trong Đạo Phật và nó liên hệ mật thiết với nghiệp. Có một sự khác biệt vi tế giữa tái sanh và đầu thai như được giải thích trong Ấn giáo. Đạo Phật phủ nhận lý thuyết về một sự đầu thai của linh hồn thường còn, cho dù nó được tạo ra bởi thượng đế hay hiện thân từ một bản thể thần linh.

12- Từ ái (sankrit: Maitri, pali: Metta) và Bi mẫn (karuna) đối với tất cả chúng sanh kể cả thú vật. Đạo Phật cấm chỉ triệt để việc giết hại súc sanh để cúng tế dù cứ lý do gì. Việc ăn chay được khuyến khích nhưng không bắt buộc.

13- Tầm quan trọng của việc Không dính mắc – hành xả. Đạo Phật vượt khỏi hành động tốt và biểu hiện tốt. Hành giả không được dính mắc với những hành vi tốt hay ý tưởng làm việc tốt; bằng khác đi chỉ là một hình thức khác của tham chấp.

14- Trong Đạo Phật, có sự quan tâm cho tất cả chúng sanh (đối với con người, như trong những tôn giáo khác). Người Phật tử nhìn nhận sự tồn tại của thú vật và những chúng sanh trong các cõi khác của vòng Luân Hồi.

15- Không có khái niệm thánh chiến trong Đạo Phật. Giết hại là phạm một giới đạo đức then chốt trong Đạo Phật. Phật tử bị cấm chỉ triệt để việc giết hại người khác nhân danh tôn giáo, một lãnh tụ tôn giáo hay viện cớ tôn giáo hay lý do trần tục.

16- Khổ đau là một nền tảng khác của Đạo Phật. Đó là chân lý thứ nhất trong Tứ Diệu Đế. Khổ đau được phân tích và giải thích rất tỉ mỉ trong Đạo Phật.

17- Ý tưởng về nguyên tội hay tội tổ tông không có vị trí trong Đạo Phật. Cũng thế, nguyên tội không nên bị đánh đồng với khổ đau.

18- Giáo lý Đạo Phật nói về sự không có khởi đầu và không kết thúc (vô thỉ và vô chung) đối với sự tồn tại của con người hay sự sống. Hầu như không có sự quan tâm đến nguyên nhân đầu tiên – hay như đầu tiên con người hình thành như thế nào? (Vì chúng ta sẽ đòi hỏi nguyên nhân của nguyên nhân đầu tiên …)

19- Giáo pháp cung ứng một giải thích rất chi tiết về giáo lý vô ngã (sankrit: anatman, Pali: anatta), nghĩa là không có thực thể linh hồn (cho dù trong một kiếp sống hay nhiều kiếp sống).

20- Đức Phật là toàn giác toàn tri nhưng không toàn năng. Ngài có thể thực hiện vô lượng công đức nhưng có 3 việc Ngài không thể làm (không thể dứt hết nghiệp chướng của chúng sanh, không thể dứt hết khổ đau của chúng sanh, không thể độ tận chúng sanh). Cũng thế, một Đức Phật không tự nhận là một đấng tạo ra những sự sống hay vũ trụ.

21- Bát nhã (Prajna [Sankrit], Panna [Pali]) Tuệ trí Siêu việt chiếm vị trí chính yếu trong giáo lý Đạo Phật. Đức Thế Tôn Thích Ca giảng dạy khái niệm Bát nhã trong gần 20 năm cho giáo đoàn. Nó được dạy để cân bằng từ bi và tuệ trí nghĩa là cảm xúc (đức tin) với nhân tố căn bản (chánh kiến/ lẻ thật/ luận lý).

22- Truyền thống và hành thiền trong Đạo Phật tương đối quan trọng và mạnh mẽ. Trong khi tất cả mọi tôn giáo dạy một số hình thức hay sự đa dạng của thiền định / nhất tâm thiền (chỉ), thì chỉ có Đạo Phật nhấn mạnh thiền quán/ thiền phân tích (Tuệ minh sát) như một khí cụ đầy năng lực để giúp hành giả trong việc tìm kiếm giải thoát hay Giác Ngộ.

23- Giáo lý Tánh không hay Sunyata là đặc biệt của Đạo Phật và nhiều khía cạnh của nó được giải thích cặn kẻ trong giáo lý Đạo Phật phát triển. Một cách tóm lược, giáo lý này thừa nhận bản chất siêu việt của Thực tại Cứu kính. Nó tuyên bố thế giới hiện tượng là trống rỗng mọi giới hạn của diễn tả và rằng mọi khái niệm của thế giới nhị nguyên bị xóa tan.

24- Nhân duyên [Paticcasamuppada: Pali] hay Duyên khởi là một giáo lý then chốt khác của Đạo Phật. Giáo lý này giải thích rằng tất cả mọi hiện tượng tâm lý và vật lý cấu thành sự tồn tại cá thể là phụ thuộc lẫn nhau và điều kiện cần thiết hổ tương với nhau; điều này đồng thời diễn tả những gì làm chúng sanh bị vướng mắc vào vòng luân hồi.

26- Khái niệm về địa ngục trong Đạo Phật cũng rất khác biệt với nhưng tôn giáo khác. Nó không là một nơi cho kiếp đọa đày vĩnh viễn như cái nhìn của những tôn giáo thờ ‘đấng tạo hóa toàn năng’. Trong Đạo Phật, nó chỉ là một trong sáu cõi Luân hồi [chỗ tệ hại nhất của ba thế giới khổ đau không ai muốn]. Cũng thế, hầu như có vô số địa ngục trong vũ trụ quan Phật giáo như có vô số cõi Phật.

26- Vũ trụ quan Phật giáo là khác biệt rõ ràng với những tôn giáo khác vốn thường nhìn nhận chỉ có thái dương hệ (Trái Đất) này như trung tâm của Vũ trụ và hành tinh duy nhất có sự sống. Quan điểm của Đạo Phật về một thế giới Phật (cũng được biết như Ba Nghìn Đại

Thiên thế giới) là có hàng tỉ thái dương hệ. Bên cạnh đó, giáo lý Đại thừa Phật giáo giải thích rằng có những hệ thống thế giới hiện tại như Tịnh độ của Đức Phật Di Đà và Đức Phật Dược Sư.

27- Luân  hồi là một khái niệm nền tảng trong Đạo Phật và nó đơn giản là ‘những chu kỳ tồn tại bất tận’ hay những vòng sinh tử không ngừng của sáu cõi luân hồi. Hình thức tái sanh theo chu kỳ chỉ chấm dứt khi một chúng sanh thành tựu Niết bàn, có nghĩa là sự cạn hết nghiệp chướng, dấu vết thói quen, nhiễm ô và vọng tưởng. Tất cả những tôn giáo khác giảng rằng chỉ có một thiên đàng, một trái đất và một địa ngục, nhưng quan điểm này rất giới  hạn so với vòng luân hồi của Đạo Phật nơi mà thiên đàng chỉ một trong sáu cõi luân hồi và  nó có 28 cấp độ/ tầng.

QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ TỰ SÁT

Nhiên Như - Quảng Tánh

HỎI: Vừa rồi tôi có đọc bài “Cảnh giới của những người tự sát”, trích từ quyển Nhân quả giải theo Phật giáo. Trong sách có luận giải: Khi tự sát sẽ phạm vào 3 tội nặng. 1- Bất hiếu với song thân, 2- Tự hủy hoại hình hài, phụ phúc báu hi hữu có được thân người, 3- Ngu si vô trí. Sau khi tự sát, thần thức sẽ bị chìm trong thống khổ triền miên. Tuy nhiên, tôi không rõ nếu như những vị anh hùng tướng lĩnh vì đất nước sẵn sàng tuẫn tiết để giữ chữ trung, các cô gái sẵn sàng tự sát để giữ gìn chữ trinh, các Thánh tử đạo thì có chịu quả báo thống khổ này không? (QUẾ KHANH, nguyenthiquekhanh@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Quế Khanh thân mến!

Thánh tử đạo là những bậc nguyện hy sinh thân mình để bảo vệ đạo pháp và làm lợi lạc cho chúng sinh. Tuẫn tiết cũng là tự sát nhưng để giữ tròn khí tiết, xả bỏ thân mạng vì nghĩa lớn hoàn toàn khác với tự tử vì những lý do hay hoàn cảnh tiêu cực của cá nhân. Phật giáo có quan điểm khác nhau về các phương diện tự hủy thân mạng.

Trước hết, Phật giáo phê phán hành vi tự tử (dù bất cứ lý do gì) vì 3 tội lỗi như đã nêu, đó là bất hiếu, giết người (bản thân mình), sân si. Vì phạm lỗi và tạo ác nghiệp nghiêm trọng nên người tự tử bị quả báo thống khổ lâu dài (thường là địa ngục). 

Kế đến là các tướng sĩ tuẫn tiết để giữ chữ trung. Trung quân ái quốc là một phẩm chất cao quý của tướng sĩ cũng như mọi người dân. Phật giáo tán thán phẩm chất trung quân ái quốc của con người nói chung nhưng vì luôn đề cao trí tuệ nên không chấp nhận “ngu trung”. Thân mạng rất quý giá nên chết vì ngu trung thì thật oan uổng. Nho giáo luận về sự tuẫn tiết là “sinh vi tướng, tử vi thần”, nghĩa là lúc sống làm tướng, vì trung nghĩa mà chết sẽ làm thần. Phật giáo luận về tái sinh của những vị này vi tế hơn, tùy thuộc vào nhiều nhân duyên khác nữa, tựu trung nghiêng về các cảnh giới a-tu-la (thiện) và quỷ thần (thường là trung-thượng đẳng thần).

Riêng vấn đề các cô gái chịu chết để giữ chữ trinh, đây là quan niệm của Nho gia, chữ trinh đáng giá ngàn vàng. Phật giáo có quy định về giữ gìn tiết hạnh (giới Không tà dâm), chung thủy với người bạn đời nhưng không cực đoan về chữ trinh như Nho gia. Do đó, tự sát để giữ chữ trinh, xét về nhiều phương diện (liên hệ đến các tập tục, truyền thống, văn hóa, văn minh trên toàn thế giới), vẫn là cái chết thiếu trí tuệ, sau khi chết đọa vào đường ác (thường làm quỷ thần).

Các bậc Thánh tử đạo thì hoàn toàn khác. Những bậc này đã quán thông vô thường và vô ngã, không còn chấp thủ thân này, phát tâm nguyện Đại hùng - Đại lực - Đại từ bi mà xả bỏ thân mạng vì lợi ích chúng sinh, nên cảnh giới của chư vị là không thể nghĩ bàn.

Chúc bạn tinh tấn!

PHẬT HỌC VẤN ĐÁP DUY THỨC HỌC PHẦN THỨ 8

Lý Bỉnh Nam giải đáp | Thích Đức Trí chuyển ngữ

(Từ Hán ngữ hiện đại sang Việt ngữ)

1-    Hỏi: Tất cả chúng sanh sau khi chết còn có linh hồn không?

Trả lời: Linh hồn trong nhà Phật gọi là thần thức, một hình thái bất giác của tâm thức vốn có trong thể tánh chân như biến hiện ra. Tất cả chúng sanh thức đến gọi là sanh, thức ra đi gọi là tử. Cho nên trong Bát thức tụng có nói: “Khứ hậu lai tiên tác chủ ông”(Ý nói là khi chết thần thức rời khỏi thể xác, thức nhập thai hay tái sanh là bắt đầu kiếp sống mới)

2-    Hỏi: Tất cả chúng sanh sau khi chết thì nghiệp lực đưa thần thức vào trong sáu nẻo luân hồi?

Trả lời: Thần thức luân chuyển trong sáu đường luân hồi tức là do nghiệp lực dẫn dắt. Cho nên nói: “Mọi sự không thể mang theo chỉ có nghiệp lực trói buộc sanh mạng của mình”, hay nói:“Dẫn nghiệp và mãn nghiệp chiêu cảm quả báo của nghiệp lực”[1]

3-    Hỏi: Tôi không tin trên đời này có sự tồn tại loài quỷ thần, như vậy có đúng không?

Trả lời: Thế giới quỷ thần cũng nằm một trong sáu đường luân hồi của chúng sanh, tức do sự chuyển hóa của thần thức, thừa nhận có thần thức mà không thừa nhận có quỷ thần cũng gióng như thừa nhận hợp chất H2O mà không thừa nhận có nước!

4-    Hỏi: Có một số tín đồ tin rằng linh hồn lìa xác có thể đi đầu thai vào loài heo loài chó, như vậy có thuyết đó hay không?

Đáp: Linh hồn lìa xác tức có nghĩa là thần thức tách rời thể xác, biến thành loài heo loài chó tức là cách nói chỉ cho cảnh luân hồi nói chung. Xem kỉ hai câu trước sẽ hiểu rõ nghĩa lý ngày.

5-    Hỏi: Linh hồn bắt đầu là từ đâu đến? Phật giáo nói về luật nhân quả, như vậy nguyên nhân nào mà tạo thành linh hồn, vì sao nhân loại và tất cả động vật đều tăng chứ không giảm.

Trả lời: Vấn đề này không phải người mới học Phật có thể hiểu rõ, Khổng Tử có đến ba ngàn đệ tử đều là bậc hiền triết ngài còn không nói đến vấn đề  này, có thể biết đây là vấn đề khó hiểu. Linh hồn là do mê tánh mà chuyển thành. Trước tiên nói về tánh, tánh là khắp ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai, không đầu không cuối, biến khắp tám phương, vô biên vô tận. Thể tánh vốn không, gặp duyên thì khởi, thông rõ lý này thì nên biết tánh ấy vốn không đến không đi, không tăng và không giảm! nhận thấy số lượng loài động vật tăng giảm mà nói là chỉ nhìn bằng mắt thường, còn nếu như dùng trí quán sát khắp hư không pháp giới thì mới tự mình sẽ hiểu rõ vấn đề này.

6-    Hỏi: Thần thức của chúng sanh được sanh ra như thế nào? Có phải do Thượng Đế tạo hay từ năng lực của một nguồn tinh thần của mẹ sanh ra?

Trả lời: Không có sự bắt đầu và sau cùng của một của tâm thức hay sự vật nói chung, tính chất của các pháp vốn là như vậy, do một niệm bất giác biến thành vô minh, từ giác mà chuyển thành mê, từ trí mà chuyển thành thức, thức này đối với người đời hay gọi là linh quỷ, linh hồn, thần thức. Ở đây lấy việc chiếu phim mà ví dụ, cuộn phim dụ cho tánh, rõ ràng không tướng mạo, tại kính phát xuất ra, vắng lặng chiếu soi mà thôi. Trên cuốn phim đó có đầy đủ các hình tượng như sơn hà địa đại, hình ảnh nam nữ, cảnh ăn uống đều xuất ra từ ống kính, các loại huyễn cảnh làm rối loạn tâm trí con người.

7-    Hỏi: Thần thức và giả thân này có khác nhau về hình dạng hay không?

Trả lời: Thần thức vốn không có hình tướng, do ý tưởng mà chuyển thành có tướng, cái thân như mộng do ý tưởng trong tâm thức chuyển biến thành. Ở đây xin đưa ra một ví dụ để dễ hiểu, như bản chất vàng vốn không có hình tướng nào, nhưng nếu người thợ dùng vàng tạo ra các tướng như cái bình, cái chậu, cái trâm và cái vòng thì tất cả đồ vật đó đều do ý tưởng con người chứ không phải nguyên gốc của vàng là thuộc các tướng trạng ấy.

8-    Hỏi: Thân thể người khi chết thì thần thức từ ví trí nào để xuất ra ngoài?

Trả lời: Một đời tạo nghiệp, hạt giống thuần thục, khi chết sanh vào các cảnh giới sẽ xuất ra từ mỗi bộ phận khác nhau trên thân thể. Người tu chứng thánh quả thần thức xuất ra từ đỉnh đầu, được sanh vào cảnh trời thần thức xuất ra tại trán, sanh vào cõi người thần thức xuất ra tại ngực, sanh vào loài ngạ quỹ thần thức xuất ra tại bụng, sanh vào loài súc sanh thần thức xuất ra tại đầu gối, sanh vào địa ngục thần thức xuất ra từ bàn chân.

9-    Hỏi: Người sau khi chết chưa được vãng sanh Tây Phương và cũng chưa xác định sanh vào trong cảnh giới nào, vậy có phải thần thức của họ đang tồn tại với dạng là trung ấm thân không?

Trả lời: Vãng sanh Tây Phương chẳng những là cần tu tịnh nghiệp mà còn phải là người có Tín, Nguyện và Hạnh, không phải tự do đi đến được. Cảnh giới loài quỷ và cảnh địa ngục là hai chỗ cư trú của chúng sanh đang trong vòng lục đạo. Sanh vào trong đó gọi là sanh, rời khỏi cảnh đó gọi là tử, hai từ sanh và tử không phải chỉ ở tại thế gian này. Khi chúng sanh tại cảnh giới nào đó chết mà chưa sanh vào cảnh giới khác thì tồn tại trong dạng ”Trung Hữu Thân”, thời gian thọ mạng ngắn là trong một tích tắc, dài thì khoảng bốn mươi chín ngày. Tùy theo nghiệp lực mà sanh vào cảnh giới nào đó, người đời cho rằng chết rồi thành quỷ, vào cảnh âm ty là chưa rõ thứ lớp trong sáu nẻo luân hồi.

10-                     Hỏi: A lại da thức có phải là thần thức của chúng ta hay không? Nó tồn tại bất diệt hay không?

Trả lời: Do mê hoặc che lấp thể tánh nên gọi là A Lại Da, ngoại đạo gọi đó là linh hồn và cho đó là bản thể tồn tại không bao giờ mất, đó là từ sai lầm này đi đến sai lầm khác! Nhưng nếu đoạn trừ mê hoặc, hiển bày giác tánh, gọi là chuyển thức thành trí, mê hoặc có thể phá bỏ, vọng thức có thể chuyển, sao mà gọi nó là bất diệt?

11-                     Hỏi: Duy thức tông nói rằng: Tất cả chủng tử đều chứa trong A Lại Da thức, nhưng không biết các chủng tử đó nằm ở đâu trong thức thứ tám?

Trả lời: Nước từ trăm sông đều chứa ở biển, sao lại hỏi nước trong biển ở chổ nào?

12-                    Hỏi: Thức A Lại Da là thức tạp nhiễm cùng với chân như là một hay là khác?

Trả lời: Chân như do có tạp nhiễm mới gọi là thức, như nước do có gió tác động mới tạo thành sóng, nước và sóng là một mà chẳng phải một, nói là hai mà chẳng phải hai.

13-                     Hỏi: Tam giới duy thức, vạn pháp duy tâm, vậy thức và tâm khác nhau ở điểm nào?

Trả lời: Căn cứ từ loại mà giải thích thì tâm và thức đều là tính từ, tâm đứng về phương diện chân tánh bản giác mà nói, còn thức sau khi tâm bị nhiễm vọng mà nói. Nhưng căn cứ câu hỏi trên thì tâm và thức đều là động từ, thức là khả năng phân biệt, tâm là niệm khởi.

14-                     Hỏi: Phật dạy tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, thế nào để phân biệt tâm và thức?

Trả lời: Trong kinh nói đến tâm và thức, có lúc hai tên này chỉ là một trạng thái tinh thần, ví dụ như nói: Tám thức hay có tên khác là tám thức tâm vương. Nhưng có lúc hai tên này có ý nghĩa khác, Thức thứ tám là A Lại Da gọi là tâm, thức thứ bảy gọi là ý, thức thứ sáu gọi là thức. Hôm nay hỏi vấn đề duy tâm và duy thức vẫn là biến hóa tu từ trong hành văn, thực chất tâm thức ở đây chỉ là một.

15-                     Hỏi: Làm sao để phân biệt Mạt na thức và A Lại Da thức?

Trả lời: A lại da lấy Khả năng dung chứa và dị thục[2] làm tác dụng, Mạt na lấy chấp ngã và liên tục suy xét, so lường làm tác dụng, lấy đó để phân biệt.

16-                     Hỏi: Từ ý trong các ý nghĩa của: Ý thức, ý niệm, ý chí, ý tưởng, ý cảnh, ý địa, tâm ý gồm trong tám thức của duy thức luận thuộc loại nào? Trường hợp phát sanh của nó bắt đầu như thế nào?

Trả lời: Thức thứ sáu và thức thứ bảy đều gọi là ý. Thức thứ sáu có khả năng phân biệt liên tục và có gián đoạn, thức thứ bảy luôn luôn chấp ngã lâu dài, tính chất hai thức khác nhau. Trong bảy danh từ hỏi ở trên trừ danh từ thứ nhất, thứ hai và thứ bảy thì cần phải căn cứ vào hoàn cảnh và tính chất để phân định thuộc thức nào. Còn danh từ ý chí, ý cảnh, và ý địa thuộc ”quyết định tư”, ý tưởng không tạo tác thuộc “Thẩm lự tư”, nếu dự định tạo tác thuộc “Động phát tư”. Như vậy bốn loại ý này thuộc ý thức thứ sáu.

17-                     Hỏi: Người sau khi chết, thức thứ bảy và thức thứ tám tiếp tục tồn tại không? Hay là cùng với thức thứ sáu theo thân thể mà diệt mất? Nếu diệt mất thì tất cả đều chấm dứt thì làm sao mà còn có thuyết về luân hồi?

Trả lời: Người chết rồi không bị diệt mất do còn lại thức thứ tám; xả thân này thì thọ nhập vào thân khác là do thức này. Kệ tụng: ”Thọ huân trì chủng căn thân khí, khứ hậu lai tiên tác chủ ông” (Có nghĩa thức này tiếp tục duy trì sinh mạng với hạt gióng nghiệp tồn tại trong một cảnh giới khác, nó rời khỏi thân thể trút hơi thở sau cùng, và đi trước để tái sanh vào đời sống mới)

18-                     Hỏi: Niết bàn, chân như, Phật tánh có phải thuộc một loại thức không? Hay là có một tên gọi đặc thù khác? Có phải là thức thứ chín không?

Trả lời: Chân như có nhiều danh từ để gọi, thật sự đó là phạm trù không thể nghĩ bàn. Thức thứ chín gọi là Am Ma La, cũng là cách gọi khác về ý nghĩa chân như mà thôi.

19-                     Hỏi: Cần nghiên cứu: “Nghiệp cảm duyên khởi, A lại da duyên khởi, Chân như duyên khởi, Pháp giới duyên khởi, Lục đại duyên khởi, Chư pháp duyên khởi” thì phải đọc từ kinh luận nào?

Trả lời: Đọc Hoa Nghiêm Kinh và Thành Thật Luận, Nghiên cứu những kinh luận đó thì đúng, nhưng thực sự chẳng phải tài liệu của người sơ học mà dễ dàng lãnh hội. Hiện nay Có tác phẩm Pháp giới duyên khởi lược thuật của cư sĩ Kim Lăng Cung Vân Bá biên soạn, đó là một tài liệu đơn giản mà dễ hiểu, phải nên đọc trước.

20-                     Hỏi: Số lượng của thần thức vô hạn và thường tăng lên hay giảm xuống, đó là vì lý do nào?

Trả lời: Nay đưa ra một thí dụ, xem nước trong biển lớn, lúc gió lớn thì sóng nước cuồn cuộn, lúc gió nhẹ thì lay động mặt nước mà thôi. Sóng biển tuy có nhiều ít nhưng nước trong biển không có tăng giảm.

21-                     Hỏi: Thức thứ hai năng biến là thức Mạt Na dịch là: ”Ý”, tợ như biểu hiện bên ngoài của thức thứ sáu, không có dịch tên nào khác hay sao? Tam thập tụng cho rằng: Thức này lấy tư lượng làm tánh tướng, vậy sao dịch là tư lượng?

Trả lời: Vấn đề này giải thích tường tận thì rất dài dòng, ở đây chỉ nói ý tổng quát thôi, khi lập tên gọi toàn bộ tám thức thì y cứ vào căn và thức để chỉ rõ nghĩa tương ưng và công năng của nó, tất cả gồm bốn loại. Năm thức đầu căn cứ theo sắc và căn mà lập tên gọi, thức thứ sáu căn cứ vào sự phát khởi của thức thứ bảy mà lập tên gọi, thứ thứ bảy căn cứ sự tương ưng mà lập tên gọi, thức thứ tám căn cứ vào công năng là lập tên gọi. Đầy đủ văn nghĩa của thức thứ bảy như sau: “Cật lợi sắt trá da mạt na”, dịch nghĩa là: “Ý ô nhiễm”, nhiễm ô là chỉ ngã tham, ngã sân, ngã ái và ngã mạn; bốn sự mê hoặc này thường có đầy đủ. Ý chỉ cho tính nắm bắt các duyên và tư lượng lấy thức thứ tám làm tự ngã, trong các luận gọi tên là Mạt na,tức là ý, đều là cách gọi tóm lược, nó không nhầm lẫn với thức thứ sáu. Nếu như dịch nghĩa là tư lượng, thứ thứ sáu đôi khi khởi tác dụng tư lượng. Nếu dùng từ không rõ ràng thì không diễn đạt hết nghĩa thức này.

22-                     Hỏi: Người sau khi chết chỉ còn lại thức thứ tám, có phải còn bảy thức khác do thức thứ tám này sanh ra lại hay không? Vui lòng hướng dẫn cho biết sách luận về duy thức học gồm mấy loại?

Trả lời: Tam Tế lục thô [3] vốn đã thành thục, chẳng qua người sau khi đầu thai mượn cái Thắng nghĩa căn[4] hiển thị tác dụng mà thôi. Nghiên cứu lĩnh vực Duy Thức thì trước hết nên xem tác phẩm Bách Pháp Minh Môn Luận và và tác phẩm Bát Thức Quy Củ.

23-                     Hỏi: A lại da thức còn gọi là tạng thức, tất cả các chủng tử đều được chứa trong đó. Sau khi người chết thức này sẽ chuyển sanh, đủ duyên sinh một đứa trẻ với tính cách tốt hay xấu tương ưng với kiếp trước của nó. Nhưng đôi lúc không chỉ như vậy, đứa bé mới sanh tốt hay xấu phần nhiều giống tính cách của cha mẹ nó, người ta bảo đó là do ảnh hưởng tính di truyền. Như thế thì các chủng tử kiếp trước đã mất hết tác dụng hay sao? Hay là các chủng tử đó chưa chín muồi?

Trả lời: A Lại da thức trải qua nhiều kiếp luân hồi, chứa nhiều vô số chủng tử thiện ác. Các chủng tử thiện ác đó sai khác nhau rất nhiều và không đồng nhất. Trong A lại da thức của cha mẹ hàm chứa các chủng tử. Tuy mang tính di truyền nhưng thần thức thai nhi vẫn mang đầy đủ các chủng tử khác cùng tương ưng với tập khí chủng tử cha mẹ. Cho nên khi gặp chủng tử cha mẹ làm tăng thượng duyên phát khởi hiện hành. Sau khi đứa trẻ ra đời, tính cách mới bắt đầu và tính cách của cha mẹ gióng nhau nên gọi di truyền. Các chủng tử hàm chứa trong thần thức đứa trẻ không giống cha mẹ của nó nhiều và không thọ tính di truyền. Nếu hiền lương thì như Thuấn Vũ, ngược lại thì như Quản Thái, Việc ấy ví dụ như vậy.

24-                     Hỏi: Các Pháp vô ngã, có phải là duy chỉ có A lại da thức là không sanh diệt nên không thể gọi là ngã hay sao?

Trả lời: A lại da là thức tạp nhiễm sinh ra từ vô minh làm sao mà có thể gọi là bất sanh bất diệt? Ngay khi dùng một từ ngã vốn có sự hạn định, không nên từ một phương diện thông thường mà luận bàn. Người đời thường không rõ chân như nên mê chấp có ngã, đó là thật điên đảo; Hàng nhị thừa dính mắc vào tướng không và mê chấp đó là vô ngã, cũng là vọng tưởng điên đảo.

25-                     Hỏi: Trong sách có nói rằng: “Thức A lại da khi vừa hình thành sự sống thì đến trước, khi chết thì xuất ra sau cùng, thức ấy là chủ nhân ông của chúng ta”. Căn cứ qua lời khai thị đăng trong tập san kì thứ hai mươi thì nói rằng, chủ nhân ông này cũng có khả năng thay đổi, không phải tồn tại bất biến, vậy cái gì là cái thể sự thọ báo ứng ba đời? Cái thể này có phải là cái không sanh không diệt không? Nó có thể gọi là chân ngã không?

Trả lời: Bản tính chân như vốn là không sanh diệt có thể gọi là chân ngã. Nhưng do ở trong vô minh nhiễm thành thức, thọ nghiệp báo ba thời.

26-                     Hỏi: Thần thức nhập thai là khi người phụ nữ bắt đầu mang thai hay là lúc sanh sản mới nhập vào?

Trả lời: Cả hai trường hợp có thể xảy ra, nhưng trường hợp nhập thai khi người phụ nữ mang thai là phổ thông nhất. Trường hợp sau xảy ra ngay khi người nữ sanh sản là đối với bậc cao đức đã tự tại không muốn thọ khổ trong thai ngục, nên có một thức thay thế nhập thai, đợi đến thời sanh sản trở lại chuyển đổi.

27-                     Hỏi: Có phải thức A lại da vãng sanh sau khi người chết vài tiếng đồng hồ, có phải khi thân thể lạnh rồi mới thực sự thoát ra hay không? những chúng sanh khác đều như thế hay sao?

Trả lời: Phải xem thời gian xả hơi ấm nhanh hay chậm mà luận, không phải trường hợp chúng sanh nào cũng giống nhau.

28-                     Hỏi: Duy thức học nói hai yếu tố ngã không và pháp không để hiển thị “Thắng nghĩa vô tánh”. Từ bản văn mà luận giải thì chưa rõ hết nghĩa, nhưng theo quan điểm nhà Phật thì tất cả pháp tuy huyễn mà còn pháp tánh, nói vậy thì trước sau như có vẽ mâu thuẩn, làm thế nào để giải thích? Hiểu như thế nào để được trọn vẹn?

Trả lời: Tánh là thật thể, ngã và pháp đều không có thật thể, cho nên nói: “Thắng nghĩa vô tánh”; nói cách khác là pháp tánh chân không gọi là viên thành thật tánh. Tánh này có hai tính chất là bất biến và tùy duyên. Bất biến là bản chất của chân không, tùy duyên tức có nương gá lẫn nhau khởi ra các tướng hư huyễn của pháp hữu vi, cho nên nói: “Tất cả Pháp tuy huyễn nhưng còn có pháp tánh”. Pháp tánh tức là “Chân không pháp tánh” và “Thắng nghĩa vô tánh”, cùng nghĩa mà khác tên.

29-                     Hỏi: Oán là một của mười tập nhân trong kinh Lăng Nghiêm có nói đến(Xem trong quyển tám kinh Lăng Nghiêm), làm chủ yếu của tâm pháp. Ưu là một trong năm món khổ của tâm pháp, Hỉ và Xả thuộc trong mười một tâm thiện. Ưu còn thuộc vào trong phiền não tâm sở. Nhưng thấy Đại Sư Thái Hư giảng về trăm pháp của Duy Thức học thì không xếp hai món tâm Ưu và Oán vào tâm sở pháp. Nếu chiếu theo luận thì tâm sở pháp trong Duy Thức học vẫn còn chưa đầy đủ phải không?

Trả lời: Tâm oán và tâm Ưu thuộc ở tâm sở hữu pháp, trong năm món biến hành có tâm sở Thọ, Thọ này có năm, Ưu thì thuộc yếu tố nhập. Trong tùy phiền não có ba tâm sở: Phẩn, Hận, Não; Oán đã thuộc yếu tố nhập. Tâm không dừng nghỉ trong từng sát na, chỗ nào cũng có, nếu căn cứ vào một quyển sách thì sẽ thấy chướng ngại. Cho nên bản văn trình bày theo phương pháp quy nạp, ngôn từ tuy đơn giản nhưng không thiếu sót ý nghĩa.

30-                     Hỏi: Hàng mở đầu của chương kinh Pháp Bảo Đàn có nói: “Nào ngờ tự tánh vốn thanh tịnh”. Đoạn cuối của chương này lại nói:”Tự tánh năng chứa vạn pháp, gọi là Tạng thức”. Tạng thức chính là A lại da thức, chân vọng hòa hợp, tại sao có hai câu nói về tự tánh không giống nhau? Có phải đoạn trước nói bổn tánh vốn thanh tịnh là thể, sau nói tánh ấy hàm chứa vạn pháp là dụng?

Trả lời: Chân như là thuộc bản giác, vọng do bất giác mà có vô minh, giống như vàng nằm ẩn trong quặng, tuy vàng và cát tuy một chỗ nhưng vàng vẫn là vàng và cát vẫn là cát. Chân vọng hòa hợp cùng bản tánh thanh tịnh chẳng có gì là mâu thuẩn. Công năng chứa đựng(Hàm tạng)là đứng về phương diện dụng mà nói, đúng như điều ông đã nêu trên.

31-                     Hỏi: Quan điểm Thiền tông là chỉ thẳng tâm người, kiến tánh tức thành Phật. Như trên đã nói, theo văn giải nghĩa, kiến tánh tức kiến A lại da của chính mình, kiến A lại da tức thành Phật. Trong Bát Thức Quy Củ nói trước quả vị Bất Động Địa mới xả tạng thức, sau địa vị Kim Cang Đạo mới không còn quả dị thục, như vậy ý nghĩa thế nào? Đệ tử có chỗ nghi vấn, kính mong thầy từ bi chỉ dạy.

Trả lời: Tánh là thuộc về thể, A lại da là thuộc về dụng. Như thau rửa mặt, nói cái thau là thể, khi nói thau rữa mặt là nói cái dụng của cái thau. Khi dùng rửa mặt nên gọi là thau rửa mặt, sau khi đổ nước không rửa mặt nữa cũng gọi nó là thau rữa mặt. Hiểu được lý này tức không còn nghi ngờ về tên gọi của Tánh và A lại da. Cho nên người xưa thường nói “Kiến tánh thành phật”, nếu nói “Kiến A lại da thành Phật” chắc rằng mọi người chưa nghe qua.

32-                     Hỏi: Trong mười hai chi phần nhân duyên, Ý nghĩa Hành trong Vô minh duyên hành của đứng trước chi phần danh sắc, vậy khi chưa có hình sắc làm sao có sự tạo tác của Hành? Xin khai thị điểm này.

Trả lời: Pháp có phân biệt sắc và tâm, Hành có phát khởi sắc tâm, Hành trong Vô Minh Hành là do tâm pháp sanh khởi chẳng phải Hành của bảy món biểu hiện nghiệp của thân và khẩu[5]. Tâm lại phân thành năng và sở. Vậy Hành ở đây lại là thuộc pháp của tâm sở.

33-                     Hỏi: Tám thức, mỗi thức đều có bốn phần, thế nào là Kiến phần, tướng phần, chứng phần và chứng tự chứng phần của thức thứ tám? Cái gì là Kiến phần, tướng phần, chứng phần và chứng tự chứng phần của thức thứ năm, thức thứ sáu và thức thứ bảy?

Trả lời: Câu hỏi này có nhiều vấn đề, tại sao không đề cập bốn phần của thức thứ một cho đến thức thứ bốn; nếu nói bốn phần của bốn thức mà hiểu được rồi thì có thể suy luận mà biết bốn cái sau. Câu hỏi tuy đơn giản, nhưng muốn biết bốn phần của bốn thức sau, xem ra đối với ý nghĩa bốn phần còn chưa hiểu rõ tường tận. Ở đây khó nói hết ý, tám thức này đối với hàng sơ cơ biết về thức thứ sáu, thứ bảy và thứ tám cũng còn mơ hồ, huống gì luận đến bốn phần là không dễ dàng. Tuy nhiên chỉ giải thích từ thức thứ tám trở xuống với ý nghĩa tổng quát thôi. Tướng phần của thức thứ tám là các chủng tử, kiến phần là thức thứ bảy. Thường biết về thức thứ bảy này là kiến phần của thức thứ tám, còn gọi là Tự chứng phần. Do đây khởi lên tác dụng của năng duyên, khảo chứng lại tự chứng của thức thứ bảy là kiến phần của thức thứ tám, xác nhận một cách đúng đắn, đây là Chứng tự chứng phần của thức thứ tám, các thức khác tương tự như vậy.

34-                     Hỏi: Sử dụng phương pháp nào để chuyển tám thức thành bốn trí? xin đưa ra bằng chứng để có thể nhận thức và dễ dàng vận dụng.

Trả lời: Cần tu Bát chánh đạo và sáu ba ba mật có thể chuyển thức thành trí. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng có thể chuyển thành Thành sở tác trí. Chánh tư duy, chánh tin tấn có thể chuyển thành Diệu Quán Sát Trí. Chánh Kiến, Chánh Niệm có thể chuyển thành Bình đẳng tánh trí. Chánh định có thể chuyển thành Đại viên cảnh trí. Bố thí và trì giới tương ưng Thành sở tác trí, Tinh tấn tương ưng với Diệu quán sát trí, Nhẫn nhục tương ưng Bình đẳng tánh trí, thiền định và trí tuệ tương ưng Đại viên cảnh trí; lại nữa, ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều hổ trợ chuyển hóa tâm thức. Tứ chánh cần, Ngũ căn, Ngũ lực có khả năng hổ trợ chuyển năm thức trước, thất Bồ đề phần hổ trợ chuyển thức thứ sáu, Tứ niệm xứ hổ trợ chuyển thức thứ bảy,Tứ thần túc, Bát chánh đạo trợ chuyển thức thứ tám.

35-                     Hỏi: Trong bốn phần của Duy Thức, tự chứng phần là cái thể nương tựa của kiến phần và tướng phần (Theo bản Khởi Tín Luận Giảng Nghĩa của học giả Phạm Cổ Nông), chính là cái thể của A Lại Da Thức, vậy thì chứng tự chứng phần là cái gì?

Trả lời: Muốn hiểu rõ vấn đề này, tóm lược mà trả lời để cho dễ hiểu. Bốn phần đều là một hệ tâm thức, chẳng qua phân thành hai nhóm lớn như sau: “Tự thể, tâm vương, năng duyên” và “Khởi dụng, tâm sở, sở duyên”. Kiến phần thuộc trong ba yếu tố của nhóm trước, Tướng phần thuộc trong ba yếu tố của nhóm sau; khi khởi ra tác dụng của năng duyên trong đó lấy kiến phần làm sở duyên, gọi là tự chứng phần; nhưng khi khởi tác dụng của năng duyên trong đó lấy tự chứng phần làm sở duyên, gọi là chứng tự chứng phần. Thực ra, chứng tự chứng phần này là do tự chứng phần sanh khởi, đó là tính chất kiểm định chính xác lại mà thôi, thực chất vẫn lấy tự chứng phần làm thể, kiến phần làm đối tượng duyên trước và chứng tự chứng phần làm đối tượng duyên sau đều là tác dụng của nó(Tự chứng phần).Tự chứng phần như kết quả của bài toán nhân, Chứng tự chứng phần như tính chất bản cửu chương để kiểm tra lại kết quả đó, hai yếu tố này bổ sung cho nhau mà tồn tại

36-                     Hỏi: Bốn từ “Tâm Vương Tâm Sở” trong Duy thức luận giải thích như thế nào? Người mới học chưa hiểu rõ ràng, mong được chỉ giáo! Xin đưa ví dụ thực tiển chứng minh để hiểu một cách thông suốt hơn!

Trả lời: Tâm gọi là vua, nhân vì vua là đứng đầu cả nước lãnh đạo tất cả mọi việc, tâm cũng như thế. Nói gọn nghĩa tâm sở trong hai từ là “Sở hữu” là chỉ trong tâm còn có hơn mười loại tư tưởng thiện ác xen lẫn rất phức tạp cho nên gọi là “Sở hữu”. Nay đưa ví dụ để diễn đạt nghĩa đó: Giống như tác dụng những điều luật quốc gia phụ thuộc vào vua, ở đây tâm ví như vua. Luật lệ được vua phát ra có thể đưa đến tai họa hoặc là đưa đến phước lành cho người dân, nó có tác dụng sai biệt. Cho nên dụ cho các loại tâm sở phụ thuộc là “Sở hữu”.

37-  Hỏi:  Trong Duy Thức Tam Thập Tụng có chú giải yếu tố Vô Minh rằng: “Si mê làm chỗ nương gá của phiền não là nghiệp”;  ý nói là phiền não nương vào si mê mà sanh, phiền não nương vào si mê mà trụ.  Si mê là quán trọ, phiền não là khách đến ở, nếu dẹp bỏ quán trọ thì khách không còn có chỗ đến ở. Giải thích như thế có hợp lý không?

Trả lời: Bạn giải thích chỗ nương gá của phiền não, có nói “Mà sanh” và “Mà trụ”;  sau đó lấy quán trọ dụ cho si mê, nghĩa lý này chưa đầy đủ, vì rằng quán trọ có thể tiếp nhận khách đến ở, không thể nói là quán trọ có thể sanh ra khách đến ở.

38- Hỏi: Lúc ngồi thiền những niệm thô không khởi nhưng giống như còn có tri giác vi tế. Vậy tri giác vi tế này là thuộc sự phân biệt của thức thứ sáu hay thuộc sự thấy biết của Tứ trong hai thiền chi Tầm Và Tứ? (Tầm là tâm niệm thô, Tứ là tâm niệm vi tế)

Trả lời: Vẫn là thức thứ sáu.

39- Hỏi: Diệu quán sát trí và ý thức được phân biệt như thế nào?

Trả lời: Khi vọng thì gọi là thức, chuyển vọng thành chân gọi là trí.

40- Hỏi: Thầy thường nói rằng: Người chết trong vòng bốn mươi chín ngày thì phải đi đầu thai chuyển kiếp, nhưng có người chết đã lâu hay vừa mới chết lại về báo mộng với con cháu và người thân, vấn đề này giải thích như thế nào? (Có lúc báo điều lành, có lúc báo điều dữ)

Trả lời: Người chết đã đi đầu thai vào lục đạo thời gian lâu mà người thân còn nằm mộng thấy người đó, vấn đề này có hai trường hợp xảy ra: Một là do người nằm mộng có lòng thương tiếc người đã chết và ấn tượng vào tâm thức khiến phát khởi hiện hành thành tướng trạng trong mộng. Giống như một người nhiều năm trước đã đi dạo núi, nay nằm mộng thấy núi ấy, chẳng phải núi ấy về báo mộng, thực sự đó chỉ là tác dụng ý thức của chính mình. Hai là người đã chết sanh vào cảnh giới ngạ quỹ, có cơ hội thì tiếp xúc với người còn sống.

41- Hỏi: Linh hồn và thân trung ấm khác nhau như thế nào? Nhưng người niệm Phật lúc lâm chung thì linh hồn vãng sanh hay là thân trung ấm vãng sanh?

Trả lời: Trung ấm còn gọi là trung hữu, có nghĩa khi thân này đã chết mà chưa sanh vào chỗ khác, thân trung gian giữa hai kiếp sống chưa định, người đời thường gọi đó là linh hồn, đúng là như vậy. Nhưng người vãng sanh Tây phương nhanh hơn thời gian co duỗi cánh tay thì không có giai đoạn trung gian. Chỉ có thể nói thần thức vãng sanh, không thể nói thân trung ấm vãng sanh. Đương nhiên cũng có trạng thái trung ấm vãng sanh nhưng đó là một trường hợp bất đắc dĩ, giống như chỉ một phần trong trăm ngàn phần mà thôi.

42- Hỏi: Pháp sư Khuy Cơ là một vị Tăng tu diệt tận định trong thời kỳ Pháp Phật Ca Diếp đã diệt, đến thời đại nhà Đường mới may mắn gặp duyên pháp sư Huyền Trang đi thỉnh Kinh, tức đã chuyển kiếp tái sanh vào Trung Quốc, mới mười sáu tuổi đỗ trạng nguyên, thời gian mê lầm an trú trong cảnh giả huyễn, bậc tu hành như thế mà còn mê khi cách ấm. Như vật thì trong thời gian dài tu thiền định như thế, thần thức đã từng đi đầu thai hay chưa? Giả sử không đi đầu thai thì trong lúc nhập định thần thức ở đâu?

Trả lời: Tu theo giáo pháp Bồ tát Đại Thừa chứng quả Thất địa trở lên mới không còn bị cách ấm. Thời gian tu định, thần thức tại trong cảnh định. Định là không bị loạn động, không đến, không đi, thời gian có thể dài có thể ngắn, động là chẳng phải định; không có trường hợp thần thức sanh vào trong cảnh giới Lục đạo.

43- Hỏi: Xin thầy giải thích về đạo lý Luân hồi?

Trả lời: Nếu thần thức chưa chuyển thành trí thì không tránh khởi Luân hồi, tạo nghiệp có thiện và có ác thì sanh vào lục đạo có thăng có trầm. Nghiệp thiện ác của chúng sanh rất phức tạp, tùy theo nghiệp lực mà chiêu cảm cảnh giới tương ưng, thiên biến vạn hóa. Đại khái là như vậy, biết điều này thì suy nghiệm được điều kia.

44- Hỏi: Xưa nay đối vấn đề sự tích cảm ứng hài cốt rất nhiều, nếu người sau khi chết, thần thức do nghiệp lực dẫn vào cảnh lục đạo luân hồi, Thế gian có câu: “Sống không nhận qủy, chết không nhận thây”, Vậy hài cốt làm sao có chuyện cảm ứng?

Trả lời: Cảm ứng hài cốt chỉ hạn định đối với người chết sanh vào đường ngạ quỹ, vì chúng quỷ thần cũng có một phần thần thông nhưng lại chấp vào thân kiến cho nên có duyên tương cảm về hài cốt, đó chẳng phải chuyện thông thường, sự thật cũng có yêu ma khác nương dựa vào hài cốt mà chúng ta khó biết rõ.

45- Hỏi: Hôm nay có người hỏi tôi về ý nghĩa ba hồn bảy vía, rốt cuộc phải trả lời như thế nào?

Trả lời: Hồn vía là vấn đề ngoài Phật giáo, có rất nhiều quan niệm về yếu tố đó. Trong nhà Nho gọi nó thuộc năng lực tinh thần, chuyển bên này biến hóa bên kia, vía hóa vía. Trong văn Dương Viết Hồn chú giải rằng: Nương vào phần linh ảnh là vía, nương vào linh khí là hồn. Y học cổ truyền lại nói hồn liên quan đến gan, vía liên quan đến phổi, cho rằng đó đều thuộc linh khí. Kinh sách nhà Nho nói về nội ảnh và có xác nhận có ba hồn bảy vía. Ngoài ra có nhiều thuyết bàn về hồn vía khác với quan điểm Phật giáo, đâu rảnh mà bàn chuyện đúng sai! Nhà Phật có nói về Tánh, do mê hoặc thì chuyển thành thức. Từ cái thức này mà các nhà ngoại đạo gọi là linh hồn. Thực ra, thức này càng mê thì càng xa tánh giác, từ một mà thành tám thức, nói ra tường tận mới hiểu, không thể vài lời mà giải hết cho bạn được.

46- Hỏi: Trung ấm thân có theo các căn(Phù trần căn) không? Nếu có thì không thể trở lại các căn của sắc thân giả làm duyên cho thấy, nghe, giác, biết; như xem ở người bị mù và điếc mất khả năng thấy và nghe thì có thể nói thân trung ấm có thức mà không có các căn không?

Trả lời: Đã gọi thân trung ấm có là có thân, tự nó có các phù trần căn, thân là một trong các căn. Sắc thân chẳng phải chỉ ở một loại thai sanh mà thôi, vì bốn loài chúng sanh đều có sắc thân. Vậy tác dụng của sự thấy, nghe, giác, biết chẳng phải chỉ thuộc ở phù trần căn, các căn chẳng qua là trợ thêm một duyên, duyên chủ lực là thuộc các tịnh sắc căn.

47- Hỏi: Trung hữu thân thật có không? Nếu có thì thể tướng của nó như thế nào? Nếu như trước khi nó chưa đầu thai thì nương vào chỗ nào mà tồn tại?

Trả lời: Hai từ “thật có”, phương diện học lý thì vạn pháp đều không, chỉ do nhân duyên sanh ra các tướng, trung hữu thân cũng không ngoài nguyên lý đó. Tướng của nó như người nhưng nhỏ hơn, dáng vóc nằm ngang hay nằm đứng thẳng và với nhiều loại khác nhau, Kinh Trung Ấm nói rất rõ về nó, khi chưa đầu thai nương thức mà tồn tại.

48- Hỏi: A lại da thức nương vào chân như không có đến và đi, vậy thì tâm thức đến đài sen như thế nào?

Trả lời: Cổ đức có câu nói:”Sanh thì quyết định sanh, đi mà thật không đi”, “Đi thì quyết định đi, sanh mà thật không sanh” có thể rõ điều ấy. Nếu chưa lĩnh hội được câu đó, nên nghĩ thêm rằng A lại da thức đã có thể đi vào lục đạo, tại sao lại không thể sanh về Tây phương?

49- Hỏi: Chuyển tám thức thành bốn trí, bốn trí thành tam thân. Mấy thức cộng thành một trí, chỉ riêng một thức nào mà thành một trí?

Trả lời: Năm thức trước tổng hợp nên thành sở tác trí; chỉ riêng ý thức thành Diệu quán sát trí, thức thứ bảy chuyển thành bình đẳng tánh trí và thức thứ tám chuyển thành đại viên cảnh trí.

50- Hỏi: Bốn trí chuyển thành ba thân, bao nhiêu loại trí thành một thân, riêng loại trí nào thành một thân?

Trả lời: Thành sở tác trí và Diệu quán sát trí cộng thành hóa thân; riêng loại bình đẳng tánh trí thành báo thân, đại viên cảnh trí thành pháp thân.

51- Hỏi: Nguồn gốc của chủng tử là mới sanh khởi hay là vốn có sẳn? Có phải chủng tử hữu lậu là mới sanh khởi? Có phải vô lậu chủng tử là vốn có sẳn hay không?

Trả lời: Chủng tử là một loại từ ngữ dùng diễn đạt công năng chẳng phải thật có như một vật thể. Các nhà Duy thức phân chủng tử có hai loại, thức thứ tám vốn không có đầu mối, gốc của nó vốn có chủng tử, về sau huân tập các tập khí ấn tượng vào trong thức thứ tám nên có chủng tử vừa huân tập, còn gọi là chủng tử mới sanh khởi; không kể là chủng tử hữu lậu hay vô lậu, đều có hai loại:loại có sẳn và loại mới huân tập.

52- Hỏi: A lại da thức là tuần hoàn không gián đoạn, vì sao thường khi bị hôn mê bất tỉnh mất đi tri giác, rốt cuộc không phải là đã có gián đoạn một lần hay sao?

Trả lời: Ở đây lấy con mắt làm ví dụ, ngay lúc sáng suốt trong sạch không bị bệnh, dụ cho cái gốc của thể tánh chiếu soi tất cả vạn vật đúng như thật tướng; Một khi mắt bị phát bệnh dụ cho A lại da khả năng nhận biết không đúng sự thật nên không thấy rõ chân tướng vạn vật. Nếu khi nhắm mắt hoặc đang ngủ thì không thấy gì, thật sự lúc ấy không khởi tác dụng cái thấy nhưng chẳng phải con mắt bị đoạn diệt, suy nghĩ việc này có thể hiểu rõ.

53- Hỏi: Phật dạy rằng: Tất cả động vật đều có Phật tánh, đã có Phật tánh thì có thần thức. Lại nói: Nhìn trong một bát nước thấy có tám vạn bốn ngàn vi trùng, hiện nay các nhà khoa học dùng kính hiển vi chiếu soi thì quả thật không sai; nhưng có người lại hỏi, nếu bát nước này đổ xuống đất, thế là có nhiều tâm thức của vi trùng hay không? Nếu có nhiều thần thức, vậy thì một bát nước thì có thể biến thành quá nhiều vi trùng?

Trả lời: Thần thức vô hình, nương tựa vào thân hữu hình. Nếu thừa nhận một bát nước có tám vạn bốn ngàn thân vi trùng, sao còn nghi hoặc con số tám vạn bốn ngàn thần thức. Thần thức trong một bát nước không hiện rõ nhiều, nếu đổ nước ra mặt đất nghĩ thấy quá nhiều. Nước rơi xuống đất, thân trùng bị chết thì thần thức chuyển nương chỗ khác sanh, nghĩa lý ấy quá rõ ràng. Nên biết trong hư không pháp giới chỉ trong một sát na có hằng hà sa số không thể nói số lượng chúng sanh trong bốn loại: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh bị chết; lại có hằng hà sa số không thể nói số lượng chúng sanh trong bốn loài xả thân chỗ này đầu thai hay sanh ở chỗ kia, điều đó cũng dễ hiểu.

54- Hỏi: Kinh Phật nói:”Người chết trong vòng bốn mươi chín ngày thì tùy theo nghiệp lực của mỗi người mà sanh vào cảnh giới tương ưng với nghiệp lực của họ. Còn có trường hợp, khi cơ duyên đầu thai chưa chín muồi, thường ở trong hư không giới trôi nỗi không chỗ nương tựa.” Nhưng mà người ta thường nói: “Ở phần mộ thường phát hiện tượng qoái lạ”. Đây có phải người trong lúc còn sống quá ư chấp trước, mê đắm sắc thân cho nên linh hồn cứ bám víu không rời, cho nên mới có hiện tượng đó xuất hiện phải không?

Trả lời: Trong vòng bốn mươi chín ngày, gọi là “Thân Trung Hữu”, Trãi qua cuộc phiêu du trong hư không, hoặc hiện tướng quái lạ, thì trường hợp người đó đã sanh vào cảnh giới ngạ quỹ. Lại còn tâm luyến ái phần mộ của chính mình là do chấp “Thân kiến” mà có.

55- Hỏi: Phàm phu nương thần thức để đầu thai, nếu như Phật và Bồ tát vì nguyện lực tái sanh, nếu như không dùng thần thức đầu thai, không rõ cách nhập thai như thế nào?

Trả lời: Tánh mê gọi là thức, Thức giác gọi là trí, thức là còn trói buộc vì nghiệp lực nên không được tự do, cho nên có thọ báo từ nguyên nhân trong vòng sanh tử là nhập thai và xuất thai. Bồ tát có nhiều cấp độ, tùy theo sự phân định nên chưa nói hết được. Nhưng Bồ tát từ thất địa trở xuống còn tồn tại thức, tùy nguyện nhập thai, dùng hóa thân để nhập thai, nếu không thì dùng Như Lai Tạng gồm thức và trí mà nhập thai. Nếu như Phật hoặc bậc Đẳng giác đã chuyển thức thành Đại Viên Cảnh Trí, pháp thân bất động, hóa thân vô lượng, dùng hóa thân mà nhập thai. Giống như trường hợp biến hóa loại chim nói pháp trong Kinh A Di Đà, theo đó mà biết.

56- Hỏi: Thần thức của bốn loài thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh là giống nhau hoặc có phân biệt lớn nhỏ. Thí dụ như loài súc sanh hổ, sư tử, voi có hình dạng to và khỏe; con kiến con sâu thì dạng nhỏ và yếu; vậy thần thức của chúng vốn có giống nhau không?

Trả lời: Thể tánh giống nhau, thần thức sai biệt, thần thức ô nhiễm sâu cạn của các loài khác nhau, nếu luận to nhỏ thì đều không nghĩ bàn, có lớn bao nhiêu cũng không ngoài tâm thức ấy, không hạn định thọ thân hình lớn hay nhỏ. Cho nên các loài hổ, sư tử, voi to lớn và mạnh khỏe, con kiến con sâu nhỏ và yếu đuối, vẫn là quan hệ thể lực và hình trạng, thần thức không vì đặc điểm ấy mà có thêm hay bớt.

57- Hỏi: Chúng sanh vì nghiệp lực trói buộc, vậy khi kết thúc báo thúc sanh mạng thì phải đọa vào địa ngục hay không? Có phải yếu tố thọ nhận quả báo do nghiệp lực này là thức thứ tám hay không? Chúng sanh đi nhận quả báo là chủ động đi hay bị động? Nếu chủ động thì nhất định đi tìm cảnh giới tốt và lánh xa cảnh giới xấu? Nếu là bị động thì làm sao trong hằng hà sa số chúng sanh mà biết tìm ra chủ nợ để đền tội báo?

Trả lời: Không ra khỏi cảnh lục đạo luân hồi thì tâm thức có thể nhập vào địa ngục, như người ở chung trong nhà thì thường phải gặp lại nhiều lần. Thức thứ tám là chủ nhân ông, nghiệp lực là hạt gióng được chứa trong thức thứ tám, khởi lên hiện hành, gọi là năng lực của nghiệp giống như dây trói ràng buộc thức thứ tám thăng trầm trong lục đạo, đây là nguyên nhân chính yếu; trả nợ oan gia chẳng qua là cái duyên bên ngoài mà thôi.

58 Hỏi- Khoa học cận đại phát minh tất cả quy tắc và nguyên lý; y theo kinh Phật thì vẫn thuộc khả năng phân biệt của thức thứ sáu thì chẳng phải là lý tuyệt đối. Nhưng nếu ứng dụng nó vào thực tế thì phù hợp với sinh hoạt văn minh vật chất, như học môn toán học có thể đo độ cao của núi, độ sâu của nước, biến đổi hành tinh, điều này quá ư rõ ràng. Hiệu quả như vậy, cũng gọi là hư vọng hay sao?

Trả lời: Vọng là vọng niệm mê hoặc, cho đến cảnh giới hư vọng bên ngoài. Cảnh đã không thật, tính toán nhiều cách cũng là lấy vọng duyên vọng. Núi cao, nước sâu vốn là cảnh giả, môn toán học tính toán cũng thực dụng, nhưng không qua sự kiểm soát hành vi trật tự của tâm.

59- Hỏi: Chúng sanh chết không diệt, tùy theo sự tạo nghiệp thiện ác chịu lang thang trong lục đạo luân hồi, nhưng từ vô thủy đến nay, thần thức của chúng sanh có tăng hay giảm? Nếu như không có tăng giảm, nhưng khi tu hành đạt đến địa vị Phật và Bồ tát thì không còn đọa lạc luân hồi, thì rõ ràng là có giảm; Như sinh vật tăng trưởng không ngừng, y số lượng tăng thêm với cấp độ như thế nào thì biết là tăng. Nếu gọi là có tăng giảm, nếu tăng thì từ đâu đến, nếu giảm thì đi về đâu?

Trả lời: Ở đây xin lấy không khí làm ví dụ, không khí khi gặp khí hậu nóng và lạnh lưu chuyển không ngừng, trong quá trình lưu động đó chiếm vạn không gian căn nhà. Như vậy, trong mỗi căn nhà đều chứa đầy không khí, nếu như bớt đi ngàn căn nhà thì có thể nói bớt đi ngàn gian không khí không? Nếu kiến lập tăng thêm mười vạn gian nhà, cũng không thể nói tăng thêm mười vạn gian không khí. Tâm thức chúng sanh giống như không khí trong nhà có phần thơm, thúi, nóng và lạnh. Ví dụ, không khí nhà anh A lưu chuyển sang nhà anh B, nhà anh B lưu chuyển qua nhà anh C, triển chuyển không ngừng. Không khí vô lượng vô biên trong tam thiên đại thiên thế giới đến chỗ này đi chỗ kia. Nên biết hư không này rộng lớn, vấn đề tăng giảm có thiết lập hay không? Tánh của Phật và Bồ tát giống như bản năng không khí bên ngoài căn nhà, không có mùi vị thơm hay thối, cũng không thọ biến đổi nhiệt độ nóng hay lạnh.

60- Hỏi: Bậc thánh nhơn không mộng tưởng có tương tợ với trạng thái như như bất động của nhà Phật hay không?

Đáp: Trình độ thánh nhân cũng có các bậc sai biệt, trạng thái như như bất động đương nhiên là không còn mộng tưởng, nếu chỉ đạt trạng thái không còn mộng tưởng cũng không thể cho rằng là đã chứng như như bất động.

61- Hỏi: Trong thế gian có thánh hiền, có hạng ngu trí và tầm thường, căn tánh vốn sai biệt. Lại có người giàu sang hay nghèo hèn, người có mạng sống lâu dài hay bị chết yểu, tất cả có quả báo khác nhau. Cho đến tất cả chúng sanh bao gồm thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh sống ở đất liền hay dưới nước đều có nhiều loại. Nếu như do vô minh làm cái duyên đầu tiên đưa đến cảnh luân hồi sanh tử, như vậy có phải là chân như thật tướng có nhiều thể loại khác nhau, như thể chất của kim loại thì cảm ứng điện từ, thể chất của cây gỗ thì đốt cháy. Cái gọi là vô minh cũng có nhiều thuộc tánh khác nhau, gióng như điện, như lữa và nhiều loại khác nhau ngay khi mới hình thành thế gian. Thứ hai là chúng sanh có nhiều hình tướng sai biệt đều do nghiệp lực mỗi loài mà tạo nên, tức là do đầu tiên của yếu tố vô minh. Nếu tạo nghiệp thiện thì có quả báo thiện, nếu tạo nghiệp ác thì có quả báo xấu ác, phân biệt như thế nào? Thứ ba, Duy thức luận có nói: “Vô minh huân tập chủng tử, chủng tử sanh hiện hành”. Lập luận vô minh làm nhân đầu tiên nên có hai tính chất thiện ác. Nếu do huân tập mà có, nếu duyên điều thiện thì trãi qua nhiều kiếp có thể thành Phật, nếu duyên điều ác thì bị đọa lạc địa ngục càng sâu nặng. Nếu có hai cảnh giới thánh nhân và và địa ngục, thì tại sao có sự phân biệt cảnh chư thiên, cảnh A tu a, cảnh súc sanh và cảnh ngạ quỹ, cho đến trường hợp người chết đầu thai làm con dê, con dê chết đầu thai thành người, thay đổi ăn nuốt lẫn nhau. Thứ tư, Giả sử ban đầu chân như thật tướng giống như một tấm vãi trắng, vô minh dụ như một chậu chứa nhiên liệu nhuộm đủ các màu sắc, do điều kiện nhuộm khác nhau mà có các màu sắc khác nhau. Nếu theo nhà thiền nói: “Tất cả do tâm tạo”, vậy ai là người tạo các màu sắc ban đầu và cái chậu chứa nhiên liệu nhuộm? Xin chỉ giáo.

Trả lời: Câu hỏi này có bốn đoạn, nay phân biệt để trình bày cho rõ ràng. Đoạn đầu hỏi về “Tối sơ vô minh”(Vô minh là yếu tố có đầu tiên), Phật học chỉ nói: “Vô thủy vô minh”(Vô minh không có ban đầu), chứ không nói là vô minh là có đầu tiên. Không có cái nguyên nhân đầu tiên, huống gì nói có nghĩa ban đầu. Nay đưa một vật ra truy cứu, truy tìm tận cùng thì chắc chắn khó thấy cái yếu tố ban đầu trong đó. Người ta thường nói cái ban đầu là cách nói tạm thời mà thôi. Thứ hai là câu: “Thật tướng chân như phải có nhiều cái thể khác nhau”, thật tướng chân như không có nhiều thể khác nhau, do nhiễm có sâu và cạn nên lưu chuyển có tiến và lùi, cho nên hình thành vạn loại. Kế đến đoạn: “Các tướng thiện và ác làm sao mà phân biệt”, tánh thiện, tánh ác đều có đủ trong ba phẩm loại nghiệp bậc thượng, bậc trung và bậc hạ; hoặc là trước thiện sau thì ác, trước thì ác sau thì thiện, nên vô minh khởi thì thấy đủ duyên phần và hoàn cảnh, hình thành duyên thiện và duyên ác thành nhiều loại khác biệt, không thể suy lường hết. Đoạn ba câu nói: “Nên chỉ có hai cảnh giới thánh và cảnh địa ngục…” Hai cảnh thiện ác nói tổng quát thì có thượng, trung và hạ, nếu nói tường tận thì có nhiều đẳng cấp. Cái nhân đã phức tạp như vậy thì kết quả làm sao chỉ đơn giản có hai cảnh thánh và địa ngục. Bậc thánh còn có bốn quả vị thanh văn, Bồ tát còn có năm mươi hai địa vị khác nhau. Địa ngục cũng căn bản có nhiều loại như cận biên, cô độc. Tuy nói hai cảnh thánh và địa ngục nhưng trong đó không giống nhau. Đoạn cuối đã nói: “Tất cả do tâm tạo” Vậy sao đặt câu hỏi ai tạo! Xin vui lòng tự hiểu.

61- Hỏi: Theo tông Duy thức thì tu hành như thế nào? Đến lúc lâm chung đi về đâu? Có phải sanh về thế giới Tây phương?

Trả lời: Tu theo Duy thức chỉ là quán sát, nói đến tường tận rất là phức tạp. Đầu tiên phải hiểu nghĩa lý năm pháp quán ba tự tánh, ba tánh ấy là “Biến kế sở chấp”, “Y tha khởi” và “Viên thành thật”. Ý nghĩa ba tánh ấy như thế nào, ở đây không thể nói hết, chỉ giới thiệu tên, chỉ nói thứ tự cho biết mà thôi. Hành giả phải quán sát ba tánh ấy, từ cạn đến sâu. Lại thêm năm món khác, một là: Bỏ hư vọng thì hiện chân thật (Khiển hư tồn thật), ở đây vẫn là pháp quán tương đối về hư và thật. Hai là: Xả tạp vọng nhiễm lưu thuần tịnh(Xả lãm lưu thuần), đây vẫn là pháp quán về tâm và cảnh tương đối). Ba là: Nhiếp ngọn trở về gốc ( Nhiếp mạt quy bổn), đây vẫn là pháp quán thể dụng tương đối. Bốn là làm mất hạ liệt hiện thù thắng (Ần liệt hiện thắng), đây là pháp quán tâm sở tương đối. Bốn là: Bỏ tướng trở về tánh (Khiển tướng quy tánh), đây là pháp quán tương đối về sự lý. Đến đây là xong. Bốn pháp quán đầu là xả bỏ “Biến kế sở chấp” trở về pháp quán: “Y tha khởi”. Pháp quán sau cùng là xả bỏ “Y tha khởi” để chứng đắc “Viên thành thật”, viên thành thật là tên khác của chân như, còn gọi là Đại viên cảnh trí. Phát nguyện sanh Cực lạc thì được sanh, nếu không có nguyện ấy thì không sanh.

62- Hỏi: Trường hợp lỗ tai bị điếc mất khả năng nghe là tai có bị bệnh; nhưng trường hợp lỗ tai không bị bệnh gì tại sao khi chúng ta đang ngủ cũng không nghe được âm thanh?

Trả lời: Lỗ tai là thuộc về căn, khả năng nghe thuộc về thức, căn và thức đều có chủng tử trong A lại da. Chủng tử có công năng tịnh chỉ và hiện hành, âm thanh là thuộc tướng phần, khả năng nghe thuộc về kiến phần. Kiến phần duyên tướng phần tức là thức nương vào căn mà nắm lấy nhân duyên đó. Bất luận là nghe hay nhìn đều phải mượn duyên để phát khởi chủng tử của thức và chủng tử của căn cùng nương tựa vào nhau phát khởi hiện hành khả năng nghe và thấy. Nếu không có duyên tịnh chỉ thì không có khả năng nghe và thấy. Cho nên lúc ngủ mất các duyên đó và thức không nương vào căn được nên không có khả năng nghe.

63- Hỏi: Thầy thường dạy rằng, chúng ta làm việc lành với thể không tam luân, hạt giống nghiệp không lưu dấu trong tâm thức (Người chuyên làm việc xấu ác lại không biệt hỗ thẹn. Ví dụ như tín đồ ngoại đạo nói: “Loài súc sanh là để cho con người ăn, cho nên họ chủ trương giết vật ăn thịt mà trong tâm không một chút ái ngại, trường hợp đó trong tâm thức tựa hồ như hạt giống nghiệp chưa lưu dấu, như vậy có tội không?

Trả lời: Tam luân thể không vẫn là một pháp hành không chấp tướng, chúng ta nghe pháp và đang tu đây chỉ là công phu đầu tiên, tu thiện mà tâm chưa tự tại, vẫn còn lưu dấu pháp trần trong tâm thức. Tu hành với công phu sâu hơn tâm thức như cảnh vật qua gương soi, cảnh đối trước gương thì bóng hiện, cảnh vật dời đi thì bóng không còn, đạt cảnh giới đó mới gọi chân thể không. Ngoại đạo không rõ thể tánh, chưa từng nghe pháp không và vô tướng thì nhất cử nhất động đều ghi bóng trong tâm thức. Sát sanh ăn thịt mà trong tâm không chút ái ngại chứng tỏ còn si mê không rõ tội phước, chẳng phải là thể tánh không nhiễm chân không. Những thực phẩm có các loại thịt, có đủ các loại máu huyết trong cảnh dao thớt và nấu nướng, đầy đủ các mùi vị khiến mọi người tham lam, mê mờ nhân quả. Những thực phẩm và tâm niệm luôn luôn tương ưng mà tập nhiễm, tại sao nói là trong thức thứ tám không huân tập hạt giống nghiệp đó.

64- Hỏi: Do vô ý hay gián tiếp tạo nghiệp mà bản thân mình không biết, hạt giống nghiệp làm sao mà nhập vào được trong thức thứ tám?

Trả lời: Do vô ý mà tạo tác thì vấn đề tội phước chưa phân biệt, với sự kiện do thân khẩu ý tạo ra, tức có niệm khởi thì hạt giống nghiệp sẽ lạc vào trong thức thứ tám. Tất cả mọi sự tạo tác đều có đủ tánh thiện và tánh ác, thiện ác ở trong sự việc, sự việc ở trong tâm niệm, tâm niệm ở trong tâm thức. Thử hỏi hạt giống thiện ác rơi vào chỗ nào? Chẳng qua dù cố ý hay vô ý thì tội ấy cũng phân ra có lực mạnh hay yếu, cho nên khi khởi lên hiện hành thì có phân biệt tội báo nặng hay nhẹ.

65- Hỏi: Giải thích như thế nào về ý nghĩa duyên hình bóng sáu trần trong tâm thức?

Trả lời: Năm thức của Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, theo duyên bên ngoài tương ưng với năm trần là: Sắc, thanh, hương, vị, xúc thì chủng tử ấn vào trong tâm thức thức tám, gọi là nội pháp trần. Ý thức hướng vào bên trong duyên với hình ảnh đó, tính toán và phân biệt ba thời tương tục, sự mê hoặc phát khởi như lữa cháy. Nên biết thức vốn huyễn vọng, nhân căn trần mà khởi, nếu căn cách li trần thì thức không phát khởi. Phàm phu không liễu ngộ tâm mình, ngộ nhận ý thức là tướng của tâm, gọi là duyên hình ảnh của sáu trần.

66- Đáp: Độc đầu ý thức có chức năng như thế nào?

Trả lời: Trong tám thức, ý thức có năng lực rất lớn, cùng với năm thức trước theo duyên bên ngoài, gọi là Ngũ câu ý thức, lại còn duyên với pháp trần bên trong gọi là Độc đầu ý thức.

67- Hỏi: Nguyên nhân nào mà có thức?

Trả lời: Mê bản tánh là thức, mê tức là nhân duyên của thức.

68- Hỏi: Căn cứ “Bát thức quy củ tụng thích luận”, nói Sắc căn là tăng thượng duyên, sắc trần là sở duyên duyên. Khi căn và trần giao thoa với nhau sanh ra sự thấy biết của thức về tướng phần; nói cách khác, thấy biết về cảnh thì cảnh đó là do thức biến không phải là cảnh của sắc trần. Cảnh sắc trần thật bên ngoài không phải do thức biến, ở đây không phải trái ngược với đạo lý vạn pháp do thức biến của Duy thức hay sao?

Trả lời: Thức và vạn pháp chẳng phải một và chẳng phải hai, như nước và sóng chỉ có tướng bên ngoài khác nhau mà thôi. Trong tám thức đó ví như một cây cổ thụ, thức thứ tám là gốc cây, thức thứ bảy là thân cây, thức thứ sáu và năm thức trước là cành cây. Tuy nói là tám thức nhưng thực sự ra từ một thức mà biến thêm bảy thức. Thức thứ tám hàm chứa tất cả các chủng tử, biến hiện thành sanh mạng và môi trường sự sống, nói vạn pháp duy thức là giải thích rõ gốc tướng trạng của căn và thức. Thức thứ sáu là chủ sự phân biệt do năm thức đầu duyên với trần cảnh mà khởi. Khi khởi lên phân biệt thì phân thành kiến phần và tướng phần, đó là tác dụng của thức vậy. Khi căn trần không duyên thì không có tác dụng tiền ngũ thức, tác dụng không khởi nhưng chẳng phải không có năm thức trước. Khi căn trần giao thoa mà sanh thức là giải thích tướng trạng chi nhánh của thức.

69- Hỏi: Xin chỉ giáo về đạo lý Tâm tạo ra cảnh giới?

Trả lời: Đạo lý tâm tạo ra cảnh giới, thật khó giảng rõ khi dùng vài lời ngắn gọn, giáo lý về hai tông tánh và tướng đã từng nói về vấn đề này. Nếu nói tóm lược và không đi vào chi tiết thì khó nắm được ý nghĩa quan trọng của nó. Theo những lời giải đáp trước có thể hiểu khái quát về đạo lý tâm tạo ra các cảnh giới.

70- Hỏi: Ba cõi duy tâm, vạn pháp duy thức, đạo lý tâm và thức có gì khác nhau.

Trả lời: Ba cõi duy tâm là nói đến phần năng(chủ thể), vạn pháp duy thức là nói đến phần sở(đối tượng), chủ thể là lấy niệm khởi làm thể, đối tượng là cảnh được nhận thức. Thực ra hai câu này có sự diễn đạt riêng của nó, nên thấy ý nghĩa tâm thức tương tự như một. Nếu như không dùng câu nói trên, khi diễn đạt về pháp tướng thì tâm là A lại da thức, thức là sáu thức khi căn trần tiếp xúc với nhau, vậy thì tâm và thức có nội dung khác nhau.

71- Hỏi: Xin hỏi thân thể con người sau khi bị gây mê tâm thức ở chỗ nào? Thức thứ tám có bị lạc mất cảnh tượng hay không? Vì sao bị lạc?

Trả lời: Thức đợi nhân duyên mà khởi, nếu không khởi là do lúc đang hôn mê các căn tạm thời mất tác dụng, lúc ấy thức chỉ tạm thời không khởi mà thôi. Công năng thức thứ tám dung chứa chủng tử. Thức nương vào căn, đợi đủ duyên mới khởi. Lúc hôn mê các căn tạm thời mất tác dụng, thức không đủ duyên nằm ẩn đó mà không khởi. Công dụng của thức thứ tám vốn là dung chứa, thức thứ bảy nắm giữ các duyên, là đều thuộc tư tưởng, tư tưởng có tập khí của nó, có tập khí thì có ấn tượng trong tâm thức. Ngôn ngữ hiện đại, danh tức là ấn tượng, ấn tượng sâu cạn quan hệ với trí nhớ sâu hay cạn, từ điều này mà suy luận ra đạo lý ấy.

72- Hỏi: Ban ngày suy tư điều gì, ban đêm mộng điều ấy, lúc vào giấc mộng thì có phải thần thức đi đến chỗ nào đó phải không?

Trả lời: Thần thức tức là dung lượng của tâm, rộng lớn bao trùm vô cùng, tất cả các sự vật đều chứa trong đó, lúc vào giấc mộng là chủng tử khởi hiện ra, vì đó là hiện tượng của thức, cho nên thức chẳng có đến đi, cái gọi là bóng dáng của sáu trần, mộng là một sự kiện như vậy.

73- Hỏi: Từ đầu đêm đến sáng mai không nằm mộng, không biết thời gian đó thần thức nằm ở đâu?

Trả lời: Nên biết thần thức gồm có thể và dụng, thể của nó vốn là do khi mê lầm và theo vọng tâm, dụng tức là khởi sự phân biệt. Lúc tỉnh ngủ thì theo duyên vọng niệm, lúc ngủ say thì mộng tưởng điên đảo, các hiện tượng này đều thuộc tác dụng của thức, như thế tác dụng của thức lại có hai trạng thái ẩn phục và hiện khởi. Ẩn phục là tiềm ẩn không có điều kiện sanh khởi tác dụng của thức, tuy ẩn nhưng chẳng mất công năng của tác dụng. Khởi là theo điều kiện sanh khởi tác dụng, tuy khởi nhưng vẫn thuộc thể không. Nay đưa ra ví dụ cho dễ hiểu: Khi dùi chuông đánh vào cái chuông thì âm thanh được phát ra, thật ra âm thanh không có tự thể. Khi dùi không đánh vào chuông thì không có âm thanh phát ra. Suy tìm tường tận, chẳng phải không có âm thanh. Nếu thấu hiểu điểm này, nếu có mộng thì sanh khởi tác dụng của thức, khi không có mộng thì tác dụng của thức ẩn phục.

74- Hỏi: Vấn đề thức thứ sáu và thức thứ bảy, khi xuất hiện một niệm (Niệm tưởng), cái nào có trước? Cái nào có sau? Hay là cùng khởi lên một lần, hay là không có sự trước và sau? Có phải một niệm khởi đầu tiên là từ thức thứ sáu? Nếu thức thứ bảy cùng nương tựa vào niệm khởi thì thức thứ bảy là đầu tiên? Tóm lại, khi khởi lên một niệm tưởng là do tác dụng của thức nào trước, hay là không có phân biệt trước sau?

Trả lời: Thức thứ bảy gọi là hằng tư lượng (Tư duy và suy lượng), diễn biến liên tục không ngường, thức này do căn bản của vô minh mà sanh tướng phần, lại còn tiếp nhận thêm từ thức thứ sáu, mà tác dụng thức thứ sáu là phân biệt và lúc thì hiện hữu lúc thì vắng mặt. Thứ hai, luôn nhớ nghĩ, vừa dừng niệm này lại tiếp tục niệm sau, vì vậy rất khó so sánh và thấy được thức nào trước và thức nào sau. Nếu như phân tích rõ ra thì thức thứ bảy hiện khởi trước, thức thứ sáu hiện khởi sau. Hiện khởi trước là lúc ban đầu niệm tưởng khởi, Hiện khởi sau là sau khi niệm khởi.

75- Hỏi: Tại sao “Sanh khởi của sắc pháp phải có hai duyên, nhân duyên và tăng thượng duyên”? Tại sao “ Tâm pháp thì phải hội đủ bốn duyên?

Trả lời: Tâm pháp là tám thức, các thức sanh khởi phải y theo chủng tử, cho nên phải có nhân duyên. Tâm và tâm sở tương tục không gián đoạn, nếu đoạn thì không sanh khởi, nếu sanh thì không đoạn, nên có vô gián duyên. Duyên lự của thức vẫn nhờ tự cảnh của thức mà khởi, duyên lự vào tự cảnh của chính nó, nên gọi là sở duyên duyên. Nương vào pháp khác mà làm duyên giúp sức, hoặc đoạn trừ chướng ngại, làm cho thức sanh khởi dễ dàng và có cơ hội tốt, nên gọi là tăng thượng duyên. Trường hợp này bốn duyên liên quan với nhau, thiếu một duyên cũng không sanh khởi. Sắc là biến tướng của tâm và tâm sở mà thành, khi có tướng thì có thể luận từng giai đoạn, tự nó thành một nhân, còn giữ thức mà trừ duyên nương tựa thì nó hiện bày.

76- Hỏi: Chứng bệnh phân liệt tâm thần tạo ra các nghiệp hoặc cố ý hoặc vô ý, hoặc thiện hoặc ác, tương lai gặp nhân duyên thì có khởi hiện hành không?

Trả lời: Khởi hiện hành là từ chủng tử trong tâm thức con người. Chủng tử này có tồn tại từ đời trước và đời này, gặp duyên thì phát khởi. Sự tác động của căn bệnh tâm thần cũng phân thành trạng thái còn tỉnh và mê loạn. Như người say rượu, chẳng đầy đủ lý trí, lúc tỉnh thì có ý thức xen vào và ấn tượng vào tâm thức, trạng thái cuồng điên tâm thức là vô ý thì không ấn tượng vào trong tâm thức. Có ấn tượng thì có chủng tử, gặp duyên thì khởi hiện hành, không có chủng tử thì làm sao mà có hiện hành. Ở đây chỉ nói tình trạng căn bệnh, nếu bệnh chưa lành hẳn thì sẽ phát sanh trở lại, chủng tử hiện hành thì định kết quả.

77- Hỏi: Mỗi người trong giấc mộng thấy hình ảnh các sự vật, sau khi tỉnh giấc cảm nhận những hình ảnh ấy giống như thật, nhưng thật ra đó là không phải thật, có phải hình ảnh trong mộng là tác dụng phát khởi của các chủng tử thức thứ bảy và thức thức tám của chúng ta hay không? Đối với nhân quả có quan hệ như thế nào?

Trả lời: Tuy những cảnh trong mộng đó là không thực, có lúc cũng ấn tượng thành chủng tử trong tâm, vấn đề xem cảnh mộng đó ấn tượng trong tâm lý sâu hay cạn mới xác định thành chủng tử hay không. Chủng tử có năng lực, gặp duyên thì phát khởi mầm thành nhân. Trường hợp khởi mầm nhân là khi giấc mộng xảy ra có hình ảnh và nội dung trùng lặp với giấc mộng lần trước. Có người nói cảnh huyễn mộng đó không thực thuộc vô ký, không thể tạo thành kết quả. Cảnh mộng liên hệ với tướng cảnh giới, nếu không trải qua sự “Liên tục”,“Nắm giữ”,“Lập danh tự” và “Khởi nghiệp” thì sẽ không sanh quả báo về sau.

78-Hỏi: Có phải từ vô thủy đến nay Phật tánh đã bị nhiễm vô minh hay không? Hoặc giả là có phật tánh bất động thanh tịnh bỗng nhiên sau lại bị nhiễm vô minh? Phật pháp là siêu việt thời gian và không gian, nếu trả lời cho người sau này hiểu rõ thì chắc rất khó trình bày?

-Trả lời: Phật tánh và vô minh đều từ vô thủy mà có. Vô thủy là không thể nói ban đầu của nó. Phật tánh bất động vắng lặng đột nhiên nhiễm vô minh, nhiễm từ lúc nào nói ra không cùng tận, gọi là vô thủy.

79- Hỏi: Do hết thảy thức thứ tám đến thức thứ nhất đều là vô minh, như thế sự tồn tại khách quan của vũ trụ là có thật hay sao? Hay là giả? Sự tồn tại khách quan của vũ trụ chính là lý thuyết này cho rằng vũ trụ sanh ra cảm giác của người và sự vật, vậy vũ trụ làm sao sanh ra cảm giác con người? Làm sao sanh ra sự vật nữa?

Trả lời: Vũ là không gian, trụ là thời gian, hai yếu tố này chẳng phải là sự vật, đó là hai phạm vi bao hàm sự vật. Đây là cảnh, tâm ta khởi niệm theo cảnh cho nên nói: ”Sanh ra cảm giác con người”

80- Hỏi: Tất cả do tâm tạo, câu nói này có phải nói là khi tâm chúng ta chưa khởi động niệm thì vũ trụ không có vạn vật? Giả sử không có vạn vật thì tại vì lý do nào mà thể tính bị ô nhiễm bởi vô minh bên ngoài?

 Trả lời: Vô minh phân làm hai loại, một là vô thủy vô minh, hai là hậu lai tăng thượng vô minh. Vô thủy vô minh là một niệm bất giác từ vô thủy, vô minh tự khởi lên, bất giác tức gọi là vô minh, chẳng phải do bên ngoài vào. Giống như người mệt mỏi sanh buồn ngủ, vậy buồn ngủ là do mệt mỏi sanh chứ không phải do từ bên ngoài vào. Hậu lai tăng trưởng vô minh là do Tam tế lục thô(Tam tế: Vô minh nghiệp tướng, năng kiến tướng, cảnh giới tướng; lục thô: Trí tướng, tương tục tướng, thủ chấp tướng,kế danh tướng, khởi nghiệp tướng và nghiệp hệ khổ tướng) mà sanh khởi, rồi sanh ra vạn hữu, mới bắt đầu gặp cảnh tăng thêm vô minh, ví dụ như hiện tại đối với sáu trần mà khởi niệm thương ghét vậy.

81- Hỏi: Mê bản tánh thì biến thành thức, phân thành bốn nhóm bao gồm tám thức. Tất cả mọi hoạt động của chúng sanh đều là do tác dụng của thức thứ tám. Lại nói thức thứ tám cũng chẳng thật có, do niệm niệm sanh diệt. Trong trường hợp này, khi niệm trước diệt, trong sát na niệm sau chưa sanh, có phải chính ngay đó là trở về bản thể?

Trả lời: Vọng niệm và vô minh sanh khởi, hai từ sanh diệt chỉ là tổng tướng. Thực chất tướng “Sanh” và tướng “Diệt” thuộc trong bốn tướng chuyển biến liên tục không gián đoạn. Nếu biết “Sanh-trụ-dị-diệt” là liên tục thì nhận ra sự liên tục của “Trụ-dị-diệt-sanh”, thuộc cái gọi là ”Niệm niệm không dừng”. Dù có sát na của tướng bên ngoài “Chưa sanh”, thực chất không có sát nào thức thứ bảy “Chưa sanh”, dù có sát na của thức thứ bảy “Chưa sanh” Nhưng nghĩa sanh ấy thuộc năng sở (tướng đối đãi) vẫn là là vô minh, vô minh này chưa đoạn trừ, làm sao gọi là trở về bản thể!

82- Hỏi: Tự chứng phần và chứng tự chứng phần hỗ trợ chứng đắc như thể nào?

Trả lời: Ở đây có thể đưa ra một ví dụ làm sáng tỏ vấn đề: Như có hai hình chữ Khẩu viết thiếu nét, một hình thiếu một nét phía trên, một hình khác viết thiếu nét ở dưới. Khi mắt nhìn thấy rõ xác nhận đặc điểm hai chữ khẩu thiếu nét. Từ phương diện con mắt mà nói thì con mắt là “Tự chứng phần”. Nhưng con mắt thấy có chính xác hay không, sau khi xem lại cẩn thận hai chữ khẩu thiếu nét, quả thật là đúng, mắt nhìn không sai. Từ phương diện hai hình mà nhận thức, thì hai hình chữ là dụ cho “Chứng tự chứng phần”, Năng và Sở cùng chứng, không cần tìm cái duyên bên ngoài.

83- Hỏi: Nói thức trước sau đó mới có vạn pháp, có phải là “Vạn pháp duy thức” hay không?

Trả lời: Phật pháp nói rằng giác ngộ chân tướng của vạn pháp. Vạn pháp có tương quan tương duyên với nhau, có đặc điểm khác khau. Nếu dùng văn tự giải thích tức là từ lý nhân duyên xác định, nhưng khác nhau ở ngôn từ diễn đạt, như “Vạn pháp duy thức”, “Vạn pháp giai không”, “Vạn pháp vô thường”, không thể nói hết, nếu chấp vào một phương diện thì có sự vấn nạn; Nếu khởi viên quán, vấn đề càng thực tế hơn. Ở đây đáp lại câu hỏi, thức cũng là pháp, vậy thì thức có trước hay pháp có trước? không thể xác định được. Nếu từ ”Vạn pháp nhất như” mà nói thì không có trước và sau.

84- Hỏi: Con người do từ nhiều điều kiện có nhận biết của các giác quan từ cái nhìn thấy, nghe âm thanh, ngữi mùi,nếm vị,xúc chạm và cảm thọ của sáu thức, tác dụng của sáu thức này không có tính thiện hay ác, thế thì từ xưa tới nay không phải chỉ vì vô minh dẫn khởi. Do đó mà lý “Vạn pháp duy thức” được thành lập và không nhất thiết lấy nguyên nhân “Mê” để giải thích.

Trả lời: Tư tưởng rất cao nhưng lý còn thiếu sót, đó là chỉ có thể phân tích trên lời nói. Một là: “Sáu thức khởi tác dụng không có tính thiện ác”. Theo thế gian pháp mà luận thì: Không hợp lễ giáo chớ nhìn. Không hợp lễ giáo chớ nghe. Không hợp lễ giáo chớ nói, Không hợp lễ giáo chớ làm.(Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động). Ở đây, cho rằng sáu thức không hợp lễ là ác vậy. Nhưng khi nói: Quán sát tư duy rõ biết đối tượng, lắng nghe tư duy hiểu lời người nói, Nét mặt biểu hiện thân thiện ôn hòa, Oai nghi cử chỉ biểu hiện cung kính.(Thị tư minh, Thính tư thông, Sắc tư ôn, Mạo tư cung). Ở đây, sáu thức có tư duy thiện, không thể nói là không phải thiện và không phải ác. Theo pháp xuất thế mà luận: Bản tánh giác ngộ là trí, bình đẳng nhất như là thiện, vô minh là thức, giả dối phân biệt là ác. Tham sân si do thức khởi tác dụng là ác; giới định tuệ do trí tuệ khởi tác dụng là thiện. Cho nên cần tu giới định tuệ, dứt bỏ tham sân si để chuyển thức thành trí.

Hai là nói tác dụng của sáu thức: “từ xưa tới nay không phải chỉ vì vô minh dẫn khởi”. Không biết về thức tức là vô minh, vô minh là mê, mê thì vọng động. Phật dạy A Nan và bà Vi Đề Hy, phát khởi ba thứ tâm liền được vãng sanh. Một là chí thành tâm, hai là thâm tín tâm, ba là phát nguyện hồi hướng tâm; đầy đủ ba tâm này thì được vãng sanh Tây phương. Lại nữa có ba hạng chúng sanh được vãng sanh. Thế nào là ba: Một là từ bi không sát hại, đầy đủ giới hạnh. Hai là đọc tụng kinh điển đại thừa. Ba là tu hành lục niệm, hồi hướng nguyện vãng sanh Cực lạc. Đầy đủ các công đức này, một ngày cho đến bảy ngày tức được vãng sanh./.

(Dịch xong một ngày đầu xuân năm 2015, tại chùa Tam Bảo-Tulsa-Oklahoma-Hoa Kỳ)

[1] Dẫn nghiệp là tổng báo, mãn nghiệp là biệt báo.

[2] Dị thục: Chỉ cho ý nghĩa diễn biến nhân duyên đưa đến quả báo.

[3] Tam tế: Vô Minh Kiến tướng, Năng kiến tướng, Cảnh giới tướng. Lục thô: Tri tướng, tương tục tướng, chấp thủ tướng, kế danh tự tướng, khởi nghiệp tướng, nghiệp hệ khổ tướng.

[4] Thắng nghĩa căn: Hệ thống tinh thần.

[5] Ý này chỉ bảy nghiệp của thân và khẩu: Thân ba: sát, đạo, dâm; khẩu bốn: Nói lời độc ác, nói dối, nói lời hai chiều, dựa lời nói ngụy biện.

QUÁN CHIẾU DUYÊN NGHIỆP ĐỂ NHẸ LÒNG HƠN

Nhiên Như - Quảng Tánh

HỎI: Tôi có một người bạn, bạn ấy không may mắn bị hãm hiếp và có thai. Vì nhiều lý do và khủng hoảng về mặt tâm lý nên bạn ấy đã phá thai. Về sau trở thành Phật tử, bạn ấy suy nghĩ lại và rất ân hận vì hành động của mình khiến suy sụp tinh thần. Mong quý Báo có thể giúp cho những lời khuyên để bạn ấy vượt qua cú sốc tinh thần đồng thời khuyên bạn ấy nên làm gì để thai nhi được siêu thoát? (NGUYÊN NHÃ, nguyennha0989@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Nguyên Nhã thân mến!

Mỗi người sống ở đời đều có một hoàn cảnh riêng, họ thường suy tư về đời mình “vì đâu mà nên nỗi” cũng theo những cách khác nhau. Có người thì cho rằng, cuộc đời mình được sắp đặt bởi ý chí của các đấng thiêng liêng. Người khác thì cho rằng, tất cả được mất buồn vui âu cũng là số mệnh. Người Phật tử thì không nghĩ như vậy, những diễn biến của đời mình là kết quả tất yếu của nghiệp cũ và nghiệp mới do chính mình đã làm trong quá khứ xa và gần tạo nên. Hoàn cảnh hiện tại là biểu hiện cụ thể Nhân quả-Nghiệp báo của chính mình. Người Phật tử cần thấy rõ Nhân quả-Nghiệp báo để bình tâm mà lập chí hướng thượng. Nghiệp cũ đã tạo thì chấp nhận, nghiệp mới đang tạo (mình hoàn toàn chủ động) thì cố trau dồi cho thanh sạch thiện lành để tạo nên quả tốt ở tương lai.

Trước đây, bạn ấy đã gặp bất hạnh (bị hãm hiếp), rồi bị khủng hoảng tâm lý nên tạo ác nghiệp (phá thai). Nay đã là Phật tử, bạn ấy cần nương vào giáo pháp để quán chiếu thấy rõ duyên nghiệp của chính mình. Ắt hẳn vì trong quá khứ mình đã tạo nghiệp nhân cưỡng bức người, nay nghiệp quả đến, và bạn ấy cũng đã trả. Điều cần làm trong hiện tại là xả buông, không oán hận và tha thứ cho người đã hãm hại mình. Thù hận và tìm cách rửa hận chỉ làm cho mình khổ đau hơn, oán đối chập chùng không bao giờ dứt được.

Ác nghiệp phá thai cũng vậy. Tạo nghiệp thì cũng đã tạo rồi. Người Phật tử khi đã biết tội thì hãy thành tâm sám hối. Bạn cần lễ bái Tôn hiệu chư Phật, thành tâm bày tỏ tội lỗi của mình, cầu Tam bảo chứng minh cho sự sám hối ấy, mong con tha thứ cho sự nóng giận và si mê của mình. Chí thành lễ sám lâu ngày cùng với nỗ lực làm thiện thì tội diệt phước sinh, duy trì mãi cho đến lúc thấy lòng bình yên, thanh thản.

Riêng vấn đề hương linh (con của bạn ấy) tái sinh vào đâu là tùy thuộc vào duyên nghiệp của vị ấy. Người thân chỉ có thể làm các việc phước thiện (bố thí, cúng dường, giữ giới, tu học…) rồi hồi hướng công đức, phước báo cho hương linh. Cho dù ở đâu thì hương linh người thân của mình đều được lợi ích. Để an lòng hơn, bạn ấy nên đến chùa nhờ chư Tăng cầu siêu cho con, ký linh vào chùa, hàng ngày đi chùa tụng kinh và tu học, đem phước đức ấy hồi hướng cho con và cho tất cả.

Chúc bạn tinh tấn!

PHẬT TỬ CÓ ĐƯỢC BUÔN BÁN THỰC PHẨM “MẶN”

(SỬ DỤNG THỊT LÀM THỨC ĂN)

Nhiên Như – Quảng Tánh

HỎI: Tôi được nghe, trong 5 nghề Phật cấm người Phật tử không nên làm có nghề bán thú vật và bán thịt. Vậy điều này có đúng không? Xuất xứ từ kinh sách nào? Người Phật tử kinh doanh buôn bán thực phẩm có sử dụng thịt thì có rơi vào trường hợp này không? (NGUYÊN NIỆM, xuandinh.nguyenle@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Nguyên Niệm thân mến!

Kinh Tăng chi bộ,Đức Phật dạy:  “Có năm nghề buôn bán, này các Tỳ-kheo, một nam cư sĩ không nên làm. Thế nào là năm? Buôn bán đao kiếm, buôn bán người, buôn bán thịt, buôn bán rượu, buôn bán thuốc độc” (Chương 5, phẩm Nam cư sĩ, phần Người buôn bán).

Vấn đề đáng bàn ở đây là lời dạy không buôn bán thịt. Hiện có nhiều luận giải khác nhau về lời dạy này, tựu trung có hai khuynh hướng: 1- Không làm nghề đồ tể (không bán thịt-trực tiếp giết hại), 2-Không những chẳng giết hại mà còn không buôn bán thú vật, không bán thịt sống và cả thịt chín (không bán thịt-dù không trực tiếp giết hại).

Trước hết là vấn đề bán thú vật. Trong bối cảnh xã hội nông nghiệp thời Phật, người nông dân chủ yếu trồng trọt và chăn nuôi nên việc buôn bán hoặc trao đổi gia súc là đương nhiên. Do đó, không buôn bán thịt không hẳn là Phật cấm buôn bán hoặc trao đổi gia súc, thú vật nói chung.

Đối với vấn đề bán thịt, thời xưa, những người bán thịt hầu hết đều kiêm luôn giết mổ. Muốn có thịt để bán thì người hàng thịt phải sát sanh. Cho nên nghề đồ tể, sát sanh lấy thịt đem bán là chắc chắn không được làm vì tạo nghiệp sát rất nặng nề.

Còn ngày nay, người bán thịt (bán hàng ăn, các loại thực phẩm “mặn”) thì đa phần không trực tiếp sát sanh. Trong trường hợp này, họ tuy có liên hệ nhưng không tạo nghiệp sát hại. Người Phật tử trong những ngày không ăn chay, ra chợ mua các thực phẩm về thọ dụng cũng có liên hệ nhưng không tạo nghiệp sát hại.

Vì vậy, xét theo quan điểm tạo ác nghiệp, không buôn bán thịt là không làm nghề đồ tể (bán thịt-trực tiếp giết hại) hoàn toàn xác đáng. Còn luận giải, không buôn bán thịt là không bán thịt sống và thịt chín (dù không giết hại), về ngữ nghĩa thì rất chính xác nhưng xét về bản chất tạo ác nghiệp thì không xác đáng bằng.

Dĩ nhiên người Phật tử thì không nên mở cửa hàng, tiệm sạp chuyên bán thịt tươi sống. Vì những hình ảnh thịt xương máu huyết ngổn ngang ám ảnh lâu ngày sẽ ảnh hưởng xấu đến tâm thức. Nhưng “kinh doanh buôn bán thực phẩm có sử dụng thịt”, trong chừng mực nào đó, nếu chưa tìm được nghề khác để mưu sinh thì có thể tạm chấp nhận. Vì như đã nói, nếu không trực tiếp giết hại thì họ chỉ có liên hệ mà không tạo nghiệp sát.

Trong cuộc sống, mỗi nghề mỗi nghiệp, không ai mà không tạo nghiệp. Người Phật tử nguyện sống theo tinh thần Chánh mạng (nuôi mạng chơn chánh) có thể tránh được hoặc hạn chế đến mức thấp nhất các biệt nghiệp xấu ác nhưng cũng không thể tránh hết các liên hệ cộng nghiệp. Do đó, thành tâm sám hối nghiệp chướng hàng ngày, trong mỗi nửa tháng là việc cần làm. Song hành với sám hối là nỗ lực làm mọi việc phước thiện, tốt lành trong khả năng có thể để vun bồi phước đức.

Người Phật tử luôn phát huy trí tuệ và từ bi để tìm một nghề mưu sinh thích hợp với hoàn cảnh của mình. Không chạy theo lợi nhuận mà bất chấp tất cả nhưng cũng không quá cứng nhắc, không dám làm gì vì thấy nghề nào cũng có tội. Vì thế trung đạo là tinh thần căn bản mà mỗi người cần suy nghiệm để cân nhắc và quyết định nên và không nên trong việc chọn việc mưu sinh cho chính mình.

Thầy Henepola Gunaratana (người Tích Lan), có đưa ra một vài nguyên tắc mà một người khi thực hành công việc mưu sinh cần nên suy xét. Chúng ta có thể tham khảo thêm những nguyên tắc này để sống theo tinh thần Chánh mạng:

“Xem xét phương tiện kiếm sống có làm cản trở việc phát triển tâm linh của ta hay không. Xem xét một nghề nghiệp được coi là Chánh mạng hay không bằng việc thực hiện một sự khảo sát ba bậc: 1.Xem xét công việc đó có làm hại người và mình hay không. 2. Xem xét công việc đó có khiến ta phạm năm giới cấm hay không. 3.Xem xét những yếu tố khác mà chúng liên quan đến công việc đó có khiến cho tâm ta khó định tĩnh hay không. Nếu không có những ý định gây hại, tâm ta sẽ không bị tổn hại bởi những kết quả tiêu cực của công việc” (Henepola Gunaratana, Eight mindful steps to happiness: Walking the Buddha’s Path, 2001, tr.148).

Chúc bạn tinh tấn!

AN LẠC TỨC KHẮC

Thích Minh Không

Có đạo hữu hỏi tôi rằng thực sự có luân hồi (hệ quả của lý nhân quả ) hay không ? Sở dĩ có câu hỏi đó đa số là vì kẹt ở chỗ chỉ thấy có những gì xảy ra trong đời sống ở kiếp này mà như theo pháp của Phật thì nhân quả cần thấy qua 3 đời : quá khứ, hiện tại, vị lai… Có những nhân quả dù nhân tạo trong đời này nhưng quả có khi phải qua đời sau hoặc những đời sau mới trỗ. Và hoặc trong đời này dù sống rất là thiện nhưng hay gặp nhiều cảnh xấu. Rối cũng cần phân biệt  định nghiệp và bất dịnh nghiệp. Dù đã tạo nhân nhưng khi nhân chưa thành quả mà do những nhân duyện khác ngược lại thì nhân sẽ bị tiêu trừ và không thành quả Còn khi tạo nhân mà quả trở thành định nghiệp thì quả phải trỗ. Trong trường hợp này thì cho dù có tu tập thì quả cũng xảy ra ; nhưng sự khác biệt là nếu có tu tập thì chúng ta sẽ dễ chấp nhận một cách an nhiên .

Và khi được hỏi về luân hồi thì tôi trả lời rằng : trừ những người đã đạt quả thì không ai thấy được nhân quả qua 3 đời nhưng chúng ta có thể thấy những chỉ dấu (indices) ; chẵng hạn những hiện tượng thần đồng, những hiện tượng  một người tự nhiên nói một ngoại ngữ mà người đó chưa từng học qua ; hoặc là kể một nơi chốn mà người đó chưa hề đi tới, và rồi chúng ta thấy những trẻ sơ sinh dù mới có vài tháng nhưng đã có tính khí riêng biêt rõ ràng những thứ dó hòan toàn không do dạy dỗ…Nhưng những điều đó hoàn toàn không quan trọng. Điều tôi muốn nói với các đạo hữu là dù các đạo hữu có còn một chút nghi ngờ về luân hồi thì cũng nên hành trì theo Phật pháp.Tại sao vậy ? Thí dụ như không có luân hồi, các bạn đi tìm hạnh phúc theo sự hiểu của mình như cần phải có nhiều tiền,cần có một danh vọng, địa vị ; cần có một tình yêu…Chỉ là những ảo tưởng vì tất cả những gì ở bên ngoài đó đều hình thành do nhân duyên và tan biến cũng bằng nhân duyên.Bởi vì nhân duyên tạo thành bởi những điều kiện. Hễ có điều kiện này thì có cái kia..không có thì thôi. Rồi thì, bạn sẽ phải miên man đối đầu với lo âu, sợ hải…Rồi vì vậy lúc tuổi già, bạn cảm nhận cuộc đơi thật là vô nghĩa . Nhưng khi các bạn tu tập theo Phật pháp thì mọi điều kiện sẽ từ từ tan biến : chẵng hạn bạn cúng dường bố thí không đặt điều kiện là đạt được cái này hay cái nọ mà đơn thuần là chia sẻ những gì mình có và người khác đang cần…Khi có tu tập hành trì (chẵng hạn thể hiện từ bi hỉ xả…) thì chúng ta cũng có an lạc ngay lâp tức,  lo âu và sợ hải trở nên xa lạ, hanh phúc ngay trong tầm tay. Hoặc nói đơn giản hơn, nếu chúng ta sống không mong cầu, không dính mắc thì chúng ta cũng có an lạc ngay lập tức bởi vì những khổ đau, lo âu, sợ hải do chúng ta có quá nhiều điều ham muốn ( tài,sắc,danh tực, thùy…) có quá nhiều dính mắc về vật chất,tình cảm,tinh thần…Điều đó không có nghĩa là từ bỏ tất cả những thứ này vì chúng cũng đến do nghiệp quả trong quá khứ đời trước hoặc đời này nhưng đừng sử dụng chúng để tạo nghiệp xấu mà ngược lại nên cố gắng nhờ những quả tốt để tạo thêm nhiều nhân tốt. Nói thì cũng khó mà có an lạc tức khắc vì chúng ta đều chịu áp lực rất mạnh cuả nghiệp lực cũ nhưng chắc chắn nếu ta liên tục tu tập thì càng ngày ta càng an lạc nhiều hơn . Và rồi  chúng ta càng ngày càng có cái cảm nghiệm sống rất thực , sống thực chứ không phải chỉ là hiện hữu (vivre au lieu d’exister). Và rồi nếu có luân hồi thì dĩ nhiên sự hành trì sẽ đem lại kết quả, cho dù  không giải  thoát thì kiếp tới cũng sẽ tốt hơn kiếp hiên tại. Tức là dù có luân hồi hay không thì tu tập theo đao Phật cũng tạo quả tích cực.

Một điều tôi muôn nói thêm là trong tiến trinh tu tập chúng ta nên làm những gì chúng ta có thể làm và hãy tạm bỏ qua những gi ngoài tầm tay. Chẵng hạn khi bố thí, ta có khi nghe nói đến ‘tam luân không tịch’ tức là 3 thứ không : không có ngưòi bố thí, không có ngưòi nhận bố thí và không có của cải bố thí ( tam luân không tịch thôi nên dành cho các vị đại bồ tát). Chúng sinh như chúng ta có ký ức, có ý thức cho nên dỉ nhiên chúng ta phải biết là ta có bố thí, có ngươi nhận bố thí, và có của bố thí ; có điều là ta nên mau quên những gi ta làm và luôn luôn ý thức rằng  tất cả những gì ta làm dù có tạo nhiều công đức hay phước đức đến đâu cũng chưa bằng một hạt cát trong sa mạc công đức và cũng chỉ là một giọt nước trả ơn cho cả đại dương mà ta nhận được tư nhũng ơn chư Phật, chư Bô tát và chúng sinh.                              

Hoặc câu nói ‘ năng lễ, sở lễ tánh không tịch’ và được lý giải rằng nếu lễ lạy trong tinh thần tánh không thì một lạy này bằng cả ngàn lạy bình thường. Thực là sai lầm khi so sánh hai thứ hoàn toàn khác nhau. Không thể nào nói 1000 con chuột bằng một con bò.1000 con chuột là 1000 con chuột và một con bò là một con bò. Thôi thì ta cứ lễ lạy chư Phật  một cách bình thường như là một chứng tỏ lòng thành kính và biết ơn, thế thôi.

ƯU TƯ VỀ HỎA TÁNG, CÁCH RẢI TRO CỐT VÀ THỜ CÚNG

 Quảng Tánh - Nhiên Như trả lời

HỎI: Cha tôi nay đã già nhưng còn rất minh mẫn. Tôi đã bàn bạc với cha cùng toàn thể gia đình thống nhất là, sau khi cha mất, đưa đi hỏa táng xong, tro cốt còn lại mang đi rải ở sông hoặc biển. Xin hỏi làm như vậy được không? Nếu được thì khi đi rải cốt có cần mời thầy với lễ nghi nào nữa hay con cháu tự làm là được. Còn nữa, khi đi rải cốt, phải bốc từng nắm thả xuống sông, biển hay thả luôn cả hũ? Rải cốt xong, về nhà thờ hình ảnh và cúng cơm như phong tục xưa nay hay phải gửi hình lên chùa và cúng cơm ở chùa? (DIỆU HOẰNG, Bưu điện Bình Thọ, Q.9, TP.HCM)

ĐÁP:

Bạn Diệu Hoằng thân mến!

Nhân loại hiện nay có nhiều cách mai táng người chết như địa táng (chôn), hỏa táng (thiêu), thủy táng (thả sông biển), lâm táng (bỏ xác vào rừng), không táng (treo lên cây)… Theo Phật giáo, mai táng người chết theo cách nào cũng đều được. Bởi lẽ, sau khi chết thần thức sẽ theo nghiệp tái sinh, đây mới là phần quan trọng, còn xác thân tứ đại thì tùy duyên an táng theo phong tục. Gia đình bạn chọn cách hỏa táng, sau đó đem tro cốt rải sông hoặc biển (hoặc rừng cây) là giải pháp rất văn minh, tiết kiệm, phù hợp với xu thế chung của xã hội hiện nay.

Khi đi rải tro cốt, con cháu nên tự làm mà không cần mời thầy cũng như thực hiện bất cứ lễ nghi nào. Chọn một khúc sông hay bờ biển (khu rừng) nào sạch sẽ, kính cẩn bốc từng nắm tro cốt của người thân thả xuống. Trong khi rải tro cốt con cháu cần yên lặng, thành kính, nguyện cầu cho người thân được sinh về cõi lành. Khởi tâm quán tưởng thân tứ đại này vốn là cát bụi, nay trở về với cát bụi; ngày mai thân của mình cũng trở về với cát bụi. Rải cốt xong, “về nhà thờ hình ảnh và cúng cơm như phong tục xưa nay” hoặc “gửi hình lên chùa và cúng cơm ở chùa”, cách nào cũng được.

Quan trọng là, gia đình cần chăm làm các điều phước thiện trong khả năng có thể để hồi hướng phước đức cho người thân. Có thể cúng dường, bố thí, tụng kinh, niệm Phật, giữ giới v.v… rồi đem phước đức ấy hồi hướng cho người đã mất. Dù người thân tái sinh bất cứ nơi đâu, những phước đức mà bạn đã làm đem hồi hướng họ đều nhận được, sẽ trở nên tốt hơn trong cảnh giới hiện đang tái sinh.

Chúc bạn tinh tấn!
Quảng Tánh - Nhiên Như 

HỎA TÁNG

Tâm Diệu biên soạn

Quả là một chuyện không được cho là bình thường vì đang khỏe mạnh yêu đời mà lại đi đến các nhà quàn hỏi thăm vấn đề hỏa táng hay chôn cất người chết vì nhiều người quan niệm rằng nói về cái chết là một điều cấm kỵ, có thể mang lại vận sui vào người. Thật ra chuyện chết chóc hầu như không ai muốn nghĩ tới nhưng đây là một sự thật không ai tránh khỏi. Người chết thì đương nhiên nhắm mắt ra đi, nhưng còn người sống ở lại, thường là thân nhân mới thật sự là những người đau khổ và vô cùng bối rối không biết phải làm những gì...

Vì muốn người thân ở lại được yên tâm, không phải gánh nhiều đau khổ và bối rối lúc người thân yêu ra đi nên chúng tôi đã đích thân đến thăm viếng một số nhà quàn ở quận Cam cho biết sự tình. Chúng tôi đã đến thăm bốn nhà quàn, 2 nhà quàn tọa lạc ở thành phố Westminster, một nhà quàn ở Garden Grove và nhà quàn còn lại ở thành phố Orange.

Nói chung tất cả những người chúng tôi tiếp xúc tại các nhà quàn nói trên đều cho biết họ làm vì “lợi ích” cho người qua đời và thân nhân của họ. Và một điều chung khác nữa là các nhà quàn đều có nhiều dịch vụ với các thuật ngữ tiếng Mỹ xa lạ tương ứng với nhiều loại chi phí. Nhiều đến nỗi mà chính chúng tôi, những người còn đang tỉnh táo mà còn cảm thấy rối đầu khó hiểu. Chính một vị chủ nhà quàn còn nói “ông chả hiểu gì cả”, ông ấy cũng nói thêm rằng “ngay cả một phóng viên của một nhật báo Việt ngữ địa phương cũng thế ..” Chúng tôi tự hỏi mai đây khi chúng tôi chết đi, người thân chúng tôi trong lúc tang gia bối rối mà đến gặp các vị chắc chắn cũng không hiểu gì cả nên cứ việc gật đầu đồng ý với dịch vụ và giá cả như họ nói cho xong. 

***

Có hai cách an táng thông thường hiện nay là chôn cất và thiêu hay còn gọi là địa táng và hỏa táng. Trong phạm vi bài này, chúng tôi tập trung nói về hỏa táng: lợi ích, các dịch vụ và các chi phí tương ứng. Trước hết nói sơ qua về hỏa táng và những lợi ích của nó.

VẤN ĐỀ HỎA TÁNG


Hỏa táng là hình thức an táng người qua đời bằng cách dùng lửa để thiêu xác người chết. Thuật ngữ nhà Phật dùng chữ “trà tỳ” để thay cho từ hỏa táng, do vậy lễ hỏa táng của đức Phật và các đệ tử của Ngài thường được gọi là lễ Trà tỳ. Hình thức lễ táng này theo một bài viết được đăng tải trên tạp chí TIME của Mỹ cho biết, việc hỏa thiêu người chết đang trở thành xu thế mới ở Mỹ và nhiều quốc gia trên khắp thế giới, vốn coi việc chôn cất là cách an táng truyền thống. Ngày xưa thì xác người chết được đốt bằng củi. Sau khi cháy hết, người thân thâu nhặt tro cốt của người chết rồi rải trên núi rừng, hay thả xuống sông, biển... Ngày nay thì xác người chết thường được đem đến lò thiêu đốt bằng gas hay điện, sau đó sẽ thu lấy tro cốt để vào trong một cái hủ, lọ... rồi đem thờ tại chùa, nhà thờ, hay trong nhà, hoặc rải xuống sông biển, hay trên núi rừng... để gieo duyên với vạn loại chúng sanh, hay mang ý nghĩa “xác thân tứ đại trả về với tứ đại.” 

Tuy đi ngược với tập tục được duy trì suốt hàng trăm, hay hàng ngàn năm qua ở nhiều quốc gia nhưng những lợi ích thiết thực khiến hỏa táng đang ngày càng trở nên phổ biến, đặc biết trong giới trung lưu và có trình độ đại học tại Hoa Kỳ.

Có ít nhất là ba lợi ích lớn là (1) dành đất cho người sống bởi tình trạng quá tải dân số. (2) chi phí rẻ vì nguồn cung cấp đất có hạn trong khi nhu cầu tăng cao. Ở Hoa Kỳ, chi phí cho địa táng đắt gấp 3 lần so với chi phí hỏa táng khiến tỷ lệ an táng theo cách thức này tăng từ 25% năm 1999 lên con số dự kiến 50% năm 2017 và sẽ tiếp tục gia tăng. (3) thân thiện với môi trường. Hỏa táng được tiến hành nhanh gọn, không ảnh hưởng đến môi trường chung quanh do các lò thiêu đã xử lý khói thải trước khi thoát ra ngoài. Trong khi đó, cách địa táng, thi thể người chết buộc phải trải qua quá trình xử lý bằng hóa chất. Sau khi chôn cất, hóa chất này sẽ ngấm vào đất trước khi tác động đến các mạch nước ngầm, gây ra hiện tượng ô nhiễm đất xung quanh nơi chôn cất (nghĩa địa). Ngày nay, phương pháp “hỏa táng xanh” tối tân mới, sử dụng hỗn hợp nước và kali hydroxit vẫn giúp giữ lại tro cốt của người quá cố mà không cần sử dụng lửa. Hiện tại, cách thức này đang nhận được sự ủng hộ của đa số trường hợp hỏa táng ở Mỹ. (4) tiễn đưa người quá cố nhanh gọn nhằm giúp người quá cố thoát khỏi cõi trần nhanh chóng, không còn lưu lại dấu gì để thần thức tơ vương và người thân ở lại mau trở về trạng thái bình thường cuộc sống.

Trong số các viên chức nhà quàn chúng tôi gặp, có lẽ người duy nhất là ông Khang Lê chủ nhân nhà quàn An Lạc ở Westminster khuyên chúng tôi nên áp dụng phương cách hỏa táng mà theo ông là có những điểm lợi ích tương tự như nói trên và một điều nữa ông cho biết chính chính quyền tiểu bang California cũng khuyến khích dân chúng như thế qua các văn thư gửi chủ nhân các nhà quàn.

BIỆT NGHIỆP VÀ CỘNG NGHIỆP

Nhiên Như – Quảng Tánh

HỎI:Xin hỏi quý Báo, tại sao trong một gia đình, cha mẹ làm ác và hậu quả thì con cái lại gánh? Đúng ra thì ai làm nấy chịu chứ! Trường hợp khác, tại sao cha mẹ giàu mà con cái lại nghèo, và ngược lại con cái giàu mà cha mẹ lại nghèo? (VĂN GIÁP, vovangiapalgiap@gmail.com)

ĐÁP: 

Bạn Văn Giáp thân mến!

Theo giáo lý Nghiệp của đạo Phật, mỗi người đều thừa tự nghiệp của chính mình. Nghiệp là những tạo tác, hành động có tác ý. Nghiệp do mình tạo ra và trở lại chi phối chính mình. Nghiệp có biệt nghiệp (nghiệp riêng) và cộng nghiệp (nghiệp chung). Hai loại nghiệp này có liên hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau.

Xét về biệt nghiệp thì dĩ nhiên ai làm nấy chịu, không ai có thể chịu thế cho ai. Khi cha mẹ làm ác thì chính họ sẽ chịu quả báo. Sở dĩ “cha mẹ làm ác và hậu quả thì con cái lại gánh” là do cộng nghiệp. Con cái có liên hệ cộng nghiệp với cha mẹ, nên những nghiệp thiện hay ác mà cha mẹ tạo ra sẽ tác động tốt hay xấu lên con cái. Và ngược lại, những nghiệp thiện hay ác mà con cái tạo ra sẽ tác động tốt hay xấu lên cha mẹ.

Trường hợp “cha mẹ giàu mà con cái lại nghèo, và ngược lại con cái giàu mà cha mẹ lại nghèo” là trong cộng nghiệp có biệt nghiệp. Cộng nghiệp là cả gia đình nhưng mỗi người có một biệt nghiệp khác nhau. Thế nên trong cùng một gia đình nhưng mỗi người lại có một đặc điểm giàu nghèo khác biệt nhau.

Chúc bạn tinh tấn!
Nhiên Như - Quảng Tánh

BIỆT NGHIỆP VÀ CỘNG NGHIỆP (Giáo sư Minh Chi)

Tất cả Phật tử chúng ta hãy sống thiện như những cái cây có bộ rễ toàn hút những chất ngọt trong đất. Nhất định đời sống chúng ta sẽ an lạc hạnh phúc.

Thực là một điều lý thú đối với Phật tử chúng ta, khi theo dõi cuộc bàn luận về một đề tài Phật giáo như: “Biệt nghiệp và cộng nghiệp” giữa hai nhà khoa học tự nhiên, hai nhà bác học thế giới: Một là Matthieu Ricard, người Pháp, tiến sĩ Sinh học, trở thành một tu sĩ Phật giáo tại một thiền viện Tây Tạng ở Katmandu (Nepal). Người thứ hai là Trịnh Xuân Thuận, một người Mỹ gốc Việt, một nhà bác học về Vật lý thiên văn, đang công tác tại Viện Công nghệ học California, và là giáo sư ở trường Đại học Virginia.

Chủ đề của cuộc đàm thoại như sau: Khái niệm về nghiệp (karma) của Phật giáo có ý nghĩa hay không? Thuyết nghiệp liên hệ như thế nào với luật nhân quả và tư tưởng định nghiệp (destin deterministe). Nếu theo đạo Phật, cái ta và con người cá nhân là ảo ảnh, thì cái gì luân hồi trong vòng sanh tử? (chương 8,cuốn “Vô biên trong lòng bàn tay”_ L’infini dang la paume da la main _Trịnh Xuân Thuận)

Tôi rất đổi ngạc nhiên khi thấy tiến sĩ sinh học Matthieu Ricard, mô tả một vài thế giới đặc biệt theo đúng nội dung của phẩm “Hình thành thế giới” trong kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka sutra). Một kinh đại thừa mà bản Hán dịch đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ thứ VII (đời bà Võ Hậu Võ Tắc Thiên). Nghĩa là trước rất xa sự phát hiện của Copernic ! Đúng là đạo Phật luôn luôn và liên tục dành nhiều ngạc nhiên cho các nhà bác học thế giới!

Sau đây, xin giới thiệu nội dung của cuộc đàm thoại, bắt đầu bằng lời phát biểu của tiến sĩ Matthieu Ricard (từ đây, viết tắt là Matthieu).

Matthieu Về từ nguyên mà nói, karma có nghĩa là “hành động”.Những điều chúng ta làm, nói và suy nghĩ không những có một tầm quan trọng về đạo đức, mà chúng còn tạo ra thế giới của chúng ta. Nhận thức của chúng ta đối với thế giới là kết quả của toàn bộ thực nghiệm của tâm thức của chúng ta từ nhiều đời, nhiều kiếp. Ngược lại, tâm thức đó lại bị chi phối bởi cấu trúc thân thể chúng ta, bộ não và hệ thần kinh chúng ta. Đây là một ví dụ nữa của luật tương tác nhân quả (causalité réciproque). Chắc chắn là con người nhận thức vũ trụ khác với bầy ong bầy dơi. Cách thức hoạt động của tâm thức chúng ta gắn liền với cái mà chúng ta gọi là “vũ trụ của chúng ta”. Do có những thực nghiệm tương tợ nhau trong nhiều kiếp quá khứ, mà có những cộng đồng loài hữu tình có một nhận thức tương tợ nhau về thế giới. Đó là kết quả của cái mà đạo Phật gọi là cọng nghiệp(karma collectif) nói lên nhận thức của chúng ta đối với thế giới, ngoài ra, còn có biệt nghiệp (karma individuel) là kết quả của kinh nghiệm cá nhân của mỗi người.

Thuận: Nhận thức về thế giới có thể khác nhau giữa các sinh vật trong các thế giới khác nhau trong vũ trụ này, thí dụ, những sinh vật sống ở một hành tinh khác, có một vì sao khác làm mặt trời, nhưng theo tôi nghĩ, nhận thức của họ đối với thế giới, có thể không khác biệt lắm so với nhận thức của chúng ta, bởi lẽ, tất cả đều cùng có một lịch sử vũ trụ, giống nhau, đều là sản phẩm của vụ nổ đầu tiên- Big bang, với các tinh vân, sao và hành tinh v.v...Đối với hàng triệu sinh vật không phải loài người, sống trên trái đất này cũng vậy, vì có cùng một lịch sử vũ trụ, cho nên nhận thức của chúng đối với thế giới có thể là không khác nhau lắm.

Matthieu: Đấy bất quá là do chúng ta quá chấp thủ vào nhận thức của chúng ta đối với thế giới, đến mức chúng ta cho là các sinh vật khác cũng thấy thế giới, gần như chúng ta thấy. Tôi cho rằng, con kiến hay con dơi nhìn thế giới khác chúng ta rất nhiều. Quen thuộc với ba chiều kích(dimension) của thời gian, chúng ta mệt lắm mới mường tượng chiều kích thứ tư, bây giờ các nhà vật lý học nói có tới 10 hay 12 chiều kích! Một sinh vật sống ở bình độ thứ nguyên tử(subatomic), chắc là thấy thế giới khác chúng ta rất nhiều.

Đức Phật là bậc toàn giác, hẳn là cũng thấy thế giới rất khác với chúng ta. Kinh Phật nói tới một số thế giới và vũ trụ nhiều như cát trong biển, và mô tả chúng một cách rất hình ảnh và khác lạ. Có những thế giới giống như bánh xe quay vòng (phải chăng đó là những tinh vân hình xoáy- galaxies spirales), những vũ trụ hình giống miệng sư tử (phải chăng đó là những lỗ đen-trous noirs-là loại thiên thể đặc biệt, có trọng lực bản thân lớn đến nỗi, không có vật chất hay ánh sáng nào có thể thoát ra được), những vũ trụ hình dẹp (phải chăng đó là vũ trụ có không gian hai chiều?), những vũ trụ giống như núi lửa đang phun (phải chăng đó là những novae-là ngôi sao bùng nổ rồi tan biến) v.v...

Thuận: Hình ảnh của các vũ trụ theo Phật giáo thật là kỳ lạ. Đức Phật có thể đã nói tới những sinh vật không phải là loài người, phát triển khác hẳn  chúng ta trong một môi trường khác biệt hoàn toàn.

Matthieu: Theo vũ trụ quan Phật giáo, có tới sáu loại chúng sanh, trong số này chỉ có hai loại, chúng ta còn nhận thức được, tức làloài người và loài động vật, còn bốn loại kia thì chúng ta không biết được. Đó là không kể loài trời gọi là vô sắc, tức là không có sắc thân, là một hính thái sống không thể nghĩ bàn(bất khả tư nghì) đối với loài người chúng ta.

Thuận: Nếu hai loại biệt nghiệp và cọng nghiệp theo Phật giáo đều do quá khứ quyết định, thì phải chăng đây là một hình thức của quyết định luận(determinisme)?

Matthieu: Không, thuyết nghiệp phản ánh luật nhân quả, thuyết nghiệp không phải là quyết định luận. Nghiệp là hành động, nghiệp do hành động tạo ra, thì nghiệp cũng do hành động của con người mà thay đổi. Chúng ta có thể thay đổi qúa trình chuyển nghiệp, bằng cách tác động vào nó, trước khi hình thành quả vui hay buồn, tốt hay xấu. Cũng như một quả bong bóng đang rơi, chúng ta có thể bắt lấy nó và ném lên ở một độ cao hơn.

Cuộc sống chúng ta hạnh phúc hay bất hạnh là kết quả của toàn bộ ý nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta, được thực hiện trong vũ trụ này, trong đời này hay là trong các đời sống trước. Đó là một tổng thể hết sức phức tạp của những yếu tố tương tác lẫn nhau, mà chúng ta có thể thay đổi quá trình trong từng giây phút. Đó là thuyết bất định nghiệp của đạo Phật, rất khác với các thuyết quyết định luận hay số mệnh luận.

Thuận: Như vậy, điều xảy ra cho chúng ta trong đời này là kết quả trực tiếp của hành động và tư duy của chúng ta trong các đời sống trước. Như vậy phải chăng thuyết nghiệp có liên hệ với thuyết tái sanh, thuyết luân hồi qua nhiều cuộc sống nối tiếp nhau. Đối với tôi, niềm tin về thuyết tái sanh làm giảm nhẹ nỗi lo âu trước sự chết, và cung cấp những giải thích hợp lý cho sự xuất hiện những đứa bé thiên tài. Mozart, mới 5 tuổi đã là một nghệ sĩ dương cầm xuất sắc và đã soạn được nhiều bản nhạc... phải chăng trong đời sống trước, Mozart đã là một thiên tài âm nhạc? Thuyết tái sanh cũng giải thích vì sao có những đứa trẻ, chưa lớn lên đã mắc phải những chứng bệnh hiểm nghèo và phải đau đớn vô cùng. Phải chăng chính chúng phải gặt hái hậu quả những hành động của chúng trong đời sống trước?

Matthieu: Nếu không tin vào thuyết tái sanh, thì thật là khó chấp nhận tình hình những đứa bé “vô tội” phải gánh chịu hậu quả những hành động mà dường như chúng không có ý niệm gì hết, không có trách nhiệm gì hết. Nhưng thuyết tái sanh và nghiệp sẽ giúp cởi bỏ thắc mắc đó.

Thuận: Đạo Phật nói không có “cái ta”, “cái ta” không thật có. Nếu không có cái ta thì ai hưởng hạnh phúc, ai chịu bất hạnh?

Matthieu: Đúng là có một sự liên tục cho phép nói “tôi” hưởng hạnh phúc hay là chịu nỗi bất hạnh, thế nhưng đó chỉ là sự liên tục của một cái gì thay đổi liên tục. Chính sự liên tục đó tạo ra ảo ảnh một cái gì có thật và bất biến. Cũng như một người đứng xa nhìn con sông, hình như không chảy, hay là nhìn một ngọn đuốc cháy liên tục suốt đêm, nhưng ngọn đuốc đầu đêm, ngọn đuốc giữa đêm, và ngọn đuốc cuối đêm không phải là cùng một ngọn đuốc. Thậm chí, qua từng giây phút, ngọn đuốc cũng đổi khác. Không phải chỉ con người mà mọi sự vật đều là những giòng chảy liên tục của những hiện tượng nối tiếp nhau, và mỗi hiện tượng trong giòng chảy liên tục đó cũng vô thường, biến đổi không ngừng. Norbert Wiener, một trong những cha đẻ của môn “Thần kinh cơ giới học”(Cybernetics) đã dùng hình ảnh của thi ca để nói lên chân lý đó của đạo Phật: “ Chúng ta chỉ là những giòng xoáy của một con sông chảy vô tận. Chúng ta không phải la ømột chất liệu tồn tại mãi, mà là những nét đường luôn được tái phục hồi.”

Một thế kỷ trước công nguyên, Milinda, vua xứ Bactriane, (tức một phần của xứ Aphganistang hiện nay, sách Hán dịch là Đại Hạ) đã đặt câu hỏi đó với Đại Đức Nagasena:

“- Bạch Đại Đức, con người tái sanh với con người kiếp trước là một người hay là hai người?

-  Không phải là một người, cũng không phải là hai người.

-  Hãy cho tôi một ví dụ.

-   Nếu chúng ta thắp một bó đuốc, bó đuốc có thể cháy suốt đêm không?

-   Tất nhiên, có thể.

-    Bó đuốc cuối đêm có giống bó đuốc nửa đêm và bó đuốc đầu đêm hay không?

-   Không.

-   Như vậy là có ba bó đuốc khác nhau?

-   Không, chỉ có một bó đuốc cháy suốt đêm.

-   Thưa Đại Vương, cũng như vậy,các hiện tượng nối tiếp nhau liên tục, một hiện tượng này nảy sinh, thì một hiện tượng khác mất đi. Chính vì lẽ đó, mà người tái sanh không phải là một người, cũng không phải là người khác, so với người của đời sống trước.”

Khái niệm có một cái ta thường tại, hay một tâm thức thường tại, thực nghiệm hậu quả của những nghiệp tạo ra trong quá khứ, và luân hồi liên tục từ đời sống này qua đời sống khác chỉ là một ảo tưởng. Cái ta ảo tưởng đó tuy không có một sự tồn tại tuyệt đối, nhưng vẫn tồn tại tương đối, cho nên mới có tạo nghiệp và chịu hậu quả của nghiệp. Đó là cái mà sách Phật gọi là cái ta giả( giả ngã), cái ta quy ước. Cái ta quy ước đó tồn tại một cách tương đối và cái ta tồn tại tương đối đó vẫn chịu hậu quả của một cái nghiệp cũng tồn tại tương đối.

Lời người bình: Tôi không muốn bàn nhiều hơn về vấn đề cái ta quy ước vì chúng ta sẽ còn nhiều cơ hội để bàn vấn đề khá phức tạp này. Nhưng qua cuộc toạ đàm giữa Thuận và Ricard, còn một vấn đề phức tạp khác là vấn đề cọng nghiệp, là nghiệp do nhiều người tạo ra và cùng chịu hậu quả. Thí dụ, tôi là người Việt Nam, hiện đang sống cùng với khoảng 80 triệu người Việt khác trên đất nước Việt Nam này. Theo thuyết nghiệp của Phật Giáo, chắc là tôi trong nhiều đời sống trước đã cùng với 80 triệu đồng bào đó đã tạo ra cọng nghiệp, khiến cho tôi cùng với họ trở thành người Việt Nam và cùng sống trên đất nước Việt Nam này.

Thế nhưng, trong cọng nghiệp của người Việt, sống trên đất nước Việt Nam, lại phân chia có người Nam, người Trung, người Bắc sống trong những môi trường địa lý khác nhau. Có thể nói trong cọng nghiệp đất nước, còn có cọng nghiệp vùng. Đấy là không kể những người Việt định cư ở nước ngoài. Nghĩa là trong cọng nghiệp chung, có những yếu tố không phải cọng nghiệp. Thí dụ, cùng ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng lại ở các quận, phường, khu phố khác nhau. Người thì có nhà cửa khang trang, người thì ở căn nhà chật hẹp, thậm chí không có nhà,v.v... Nếu phân tích chi ly thì phức tạp vô cùng. Đạo Phật cho rằng, không có gì gọi là ngẫu nhiên. Mọi sự sai biệt trong cuộc sống, đều do nghiệp tạo ra cả, kể cả cọng nghiệp , biệt nghiệp. Một cách không có ý thức, chúng ta tạo ra môi trường sống của bản thân chúng ta. Giáo chủ Đạt Lai Lạt Ma, phát biểu về ảnh hưởng của nghiệp đến môi trường khí hậu như sau:

“ Hãy tưởng tượng một cộng đồng trong đó hận thù và giận dữ là tâm trạng phổ biến. Tôi nghĩ là tình trạng cảm xúc tiêu cực có thể ảnh hưởng tới môi trường, có thể góp phần tạo ra một đợt thời tiết nắng nóng và khô hạn. Nếu trong một cộng đồng mà lòng tham ái, tham đắm rất mạnh mẽ và phổ biến thì đó có thể là nguồn gốc của độ ẩm tăng cao và nạn lụt lội. Tôi (tức Đạt Lai Lạt Ma) chỉ nêu vấn đề chứ không nói điều gì khẳng định. Nhưng dù là cá nhân hay cộng đồng, thì hành động của mỗi người, cách hành xử của anh ta, tâm trạng của anh ta, ngày này qua ngày nọ, năm tháng này qua năm tháng nọ cuối cùng cũng ảnh hưởng tới môi trường cộng đồng” (Đạt Lai Lạt Ma_Samsara{Luân hồi}, trang 167, bản Pháp ngữ)

Rõ ràng, vấn đề ngài Đạt Lai Lạt Ma đề cập đến trong đoạn văn trên chỉ là một vấn đề chi tiết trong cả vấn đề cọng nghiệp rộng lớn, có thể bao quát cả vũ trụ, như hai ông Trịnh Xuân Thuận và Matthieu Ricard nêu ra trong cuốn sách tôi tường thuật “Vũ trụ trong lòng bàn tay”. Trình độ khoa học hiện nay chưa cho phép khẳng định ngoài trái đất ra, còn có rất nhiều hành tinh có sự sống, có thể là cao cấp hơn loài người  rất nhiều. Môi trường sống của những hành tinh đó cũng có thể rất khác với môi trường sống trên trái đất, do cọng nghiệp của các chúng sanh trên các hành tinh đó khác biệt với cọng nghiệp người trên trái đất. Với cọng nghiệp khacù nhau, chúng sanh trên các hành tinh đó rất có thể có cấu trúc thân thể và cảm quan khác với cấu trúc thân thể và cảm quan người. Kinh Hoa Nghiêm Phẩm “Thế giới” có mô tả những thế giới muôn hình vạn trạng trong vũ trụ, mà ông Ricard có đề cập tới ở đầu bài này. Kinh Hoa Nghiêm giải thích muôn hình vạn trạng các thế giới (Kinh Hoa Nghiêm nói tới không phải một thế giới mà là hàng biển thế giới – thế giới hải), đếu do cọng nghiệp của chúng sanh tạo ra. Cọng nghiệp khác, thì thế giới môi trường cũng khác. Có thể nói câu: “Thế biệt do nghiệp sanh”, trong luận Câu Xá ( Phẩm nghiệp) không những áp dụng cho thế giới loài người mà là cho toàn vũ trụ, cho muôn vàn thế giới trong cả ba cõi “ Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới”. Chỉ nói riêng về Dục giới, trong đó có cõi người cũng đã có nhiều cõi sống, mà mắt người không thể thấy được như cõi địa ngục là nơi chúng sanh sống chịu đựng những nổi khổ vô cùng tận; cõi quỷ đói, nơi chúng sanh bị đói triền miên; cõi súc sanh, là nơi chúng sanh thường ăn thịt lẫn nhau ( ngay cõi súc sanh, mắt loài người cũng chỉ thấy được một phần); cõi A tu la là cõi các hung thần; cuối cùng là 6 cõi trời ở dục giới là nơi chúng sanh hưởng thụ một cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống loài người rất nhiều.Sách Phật, có nói tới cõi “ bốn thiên vương” là cõi trời thấp nhất trong các cõi trời thuộc dục giới. Ở đây, thời gian một ngày đêm bằng cả 50 năm ở cõi người. Đây mới nói tình hình thọ mạng ở một cõi trời thấp nhất trong các cõi trời dục giới. Nếu bàn tới cõi trời sắc giới, là cõi không còn có lòng dục, không còn phân biệt giới tính, nam nữ, chúng sanh có sắc thân chói sáng, vô cùng đẹp đẽ, với thọ mạng lâu dài. Theo luận Câu Xá, phẩm “phân biệt thế gian”, thì cõi sắc giới gồm có 17 cõi trời khác nhau, với những tên gọi khác nhau. Cuộc sống ở đây, thật là không thể nghĩ bàn.

Cuối cùng, là cõi Vô sắc, nơi chúng sanh không còn có sắc thân, chỉ sống cuộc sống tinh thần thuần tuý, loài người chúng ta lại khó bàn hơn nữa.

Để kết luận lời bình giải của tôi về đoạn văn hai nhà khoa học Trịnh Xuân Thuận và Matthieu Ricard bàn về biệt nghiệp và cọng nghiệp, tôi thấy cần ghi nhận tính phức tạp của vấn đề nghiệp, mà có lẽ chỉ có Đức Phật mới thấu rõ mọi ngọn ngành chi tiết. Còn chúng ta chỉ có thể nắm được những nét chính, cơ bản. Những nét chính cơ bản về thuyết nghiệp của đạo Phật cũng đủ để chúng ta sống một cuộc đời có ý nghĩa, một cuộc đời mà mỗi ý nghĩ, lời nói và hành động hàng ngày đều có trọng lượng, có giá trị nhân sinh vì chúng đều ảnh hưởng dến cuộc sống hiện tại và tương lai của chúng ta ở đời này và đời sau. Đó là những ý nghĩ, lời nói, hành động thiện lành, tuyệt đối không hại người, hại vật, những lời nói và hành động thấm nhuần bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ,xả.

Trong Tăng Chi I, Phật ví người sống thiện như một cái cây có bộ rễ toàn hút chất ngọt từ trong đất, khác với cái cây có bộ rễ toàn hút những chất đắng từ trong đất đem ví với người ác.

Tất cả Phật tử chúng ta hãy sống thiện như những cái cây có bộ rễ toàn hút những chất ngọt trong đất. Nhất định đời sống chúng ta sẽ an lạc hạnh phúc. Không những, bản thân chúng ta tạo ra biệt nghiệp cho chúng ta,mà chúng ta còn góp phần tạo ra cọng nghiệp tốt đẹp cho cộng đồng.

Phật tử chúng ta không phải, chưa phải là con người hoàn thiện. Nhưng chúng ta có ý thức là chúng ta đang tiến tới sự hoàn thiện, dù cho bước tiến đó có thể kéo dài từ đời sống này sang đời sống khác.

Vì biết rằng, thế giới chúng ta đang sống là không hoàn thiện, là vô thường, khổ, không, vô ngã, cho nên chúng ta luôn tỉnh giác, không để cho hình dáng, màu sắc, âm thanh,v.v... của thế giới đó làm chúng ta động lòng, tham đắm, dẫn chúng ta tạo nghiệp, và nghiệp lực tạo ra lại lôi kéo chúng ta lăn lóc mãi trong vòng sanh tử luân hồi. Nhờ chánh niệm tỉnh giác, mà tâm chúng ta được giữ ở trạng thái hài hoà, cân bằng, thanh thản. Đó chính là tâm giải thoát, dẫn tới tuệ giải thoát, cuộc sống hạnh phúc, an lạc ngay trong hiện tại.


GS. Minh Chi

CÕI CỰC LẠC CÓ VĨNH HẰNG?

Nhiên Như – Quảng Tánh

HỎI: Xin được hỏi, Phật Thích Ca dạy vạn pháp vô thường. Vậy việc tồn tại một cõi Cực lạc vĩnh hằng có mâu thuẫn với lời dạy của Phật Thích Ca? (minhminh0712@yahoo.com.vn)

ĐÁP: 

Bạn Minh Minh thân mến!

Vạn pháp vô thường là một trong những giáo lý căn bản của đạo Phật. Các pháp hữu vi, có hình tướng, duyên sinh thì đều tuân theo quy luật vô thường, biến hoại, sinh diệt. Nếu nói vĩnh hằng, thường còn mãi là không đúng với Tam pháp ấn, sai với giáo lý đạo Phật.

Vì thế, cảnh giới Cực lạc tuy là y báo của Đức Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng, có vô lượng công đức cũng như sự thù thắng vi diệu trang nghiêm nhưng thực chất vẫn không vĩnh hằng, không ngoài quy luật vô thường. Bởi “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (KinhKim cang), bất cứ pháp nào có tướng (do duyên sinh) thảy đều hư vọng, vô thường, vô ngã.

Sở dĩ giáo điển Tịnh độ (Phật giáo Bắc tông) ca ngợi Cực lạc với vô lượng thù thắng trang nghiêm là nói thiên về mặt Tướng và Dụng. Thế giới Cực lạc là y báo do vô lượng công đức đồng thời là phương tiện quyền xảo của Đức Phật A Di Đà nhằm tạo thắng duyên cho chúng sinh Ta-bà về nương để tu tập cho đến ngày thành Phật.

Nói một cách dễ hiểu, khi chưa thành Phật, các Thánh giả ở Cực lạc có được một môi trường tu tập tuyệt hảo, hội đủ mọi thắng duyên tiến tu thành Phật, bất thoái chuyển. Tuy nhiên, đến khi các Thánh giả ở Cực lạc tu tập thể nhập “Tự tánh Di Đà”, thành bậc Giác ngộ rồi thì chính các Ngài trực nhận rõ ràng nhất, Cực lạc chỉ là phương tiện độ sinh của Phật A Di Đà. Nên phàm đã có “tướng”, cho dù là Cực lạc thì cũng theo quy luật duyên sinh, vô thường, vô ngã. 

Chúc bạn tinh tấn!
Nhiên Như - Quảng Tánh

CÕI CỰC LẠC CÓ HAY KHÔNG?
Nhiên Như – Quảng Tánh

HỎI: Cả nhà tôi lâu nay đều tu theo pháp môn Tịnh độ, luôn khuyến tấn nhau niệm Phật, thực hiện ba điều Tín-Nguyện-Hạnh, đồng thời cũng biết làm lành, tránh dữ, cúng dường, bố thí, phóng sanh, nguyện cầu hiện đời an lành và sau khi xả bỏ nhục thân được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn về cõi Tây phương Cực Lạc. Nhưng gần đây chúng tôi được nghe bài pháp thoại nói về vai trò của người Phật tử tại gia đã làm cho chúng tôi cảm thấy hoang mang. 

Theo thầy giảng sư thì tu pháp môn Tịnh độ mục đích hướng về cõi Cực Lạc, mong cầu sau khi chết được Phật rước, tu như vậy là vì tham, sẽ không bao giờ được thấy Phật. Một điều khác nữa là thầy nói cõi Cực Lạc mà Đức Phật Thích Ca nói trong kinh A Di Đà chỉ là phương tiện, tạm dùng để cho chúng sanh mê muội hướng về, và cảnh giới Cực Lạc vốn không có thực. Những người lớn tuổi trong gia đình tôi cảm thấy lo lắng khi nghe pháp thoại này. Bây giờ chúng tôi phải làm sao đây? Rất mong được quý Báo sẻ chia và cho chúng tôi biết cõi Cực Lạc có hay không?

(THANH VŨ, giachaohdvl@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Thanh Vũ thân mến!

Niệm Phật là một pháp môn tu tập rất căn bản và phổ biến trong Phật giáo, cả Nam tông lẫn Bắc tông. Tu tập như gia đình của bạn “luôn khuyến tấn nhau niệm Phật, thực hiện ba điều Tín-Nguyện-Hạnh, đồng thời cũng biết làm lành, tránh dữ, cúng dường, bố thí, phóng sanh, nguyện cầu hiện đời an lành và sau khi xả bỏ nhục thân được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn về cõi Tây phương Cực Lạc” là hoàn toàn đúng đắn với Chánh pháp.

Tất nhiên, pháp môn tu nào cũng là phương tiện. Vì là phương tiện, nên mỗi pháp môn có một đường hướng, lập trường và quan điểm tu tập riêng. Cũng giống như lên núi, có nhiều cách khác nhau, đi bộ hay ngồi cáp treo là tùy nhân duyên của mỗi người, miễn là lên đến đỉnh núi. Cho nên không thể đứng ở lập trường pháp môn của mình rồi so sánh hay đánh giá các pháp môn khác.

Do đó, các hành giả tu Tịnh độ, “nguyện cầu hiện đời an lành và sau khi xả bỏ nhục thân được Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn về cõi Tây phương” chính là Nguyện (Tín-Nguyện-Hạnh), hoàn toàn không phải là tham. Tu Tịnh độ mà không nguyện, không mong sanh về Cực Lạc là thiếu sót, hành giả cần phải cầu vãng sanh, phải nguyện về Tây phương, đây là đường hướng, tôn chỉ căn bản của pháp môn này.

Xin nói thêm, lập trường của người tu nói chung là buông xả, không mong cầu, dẫu là cầu Niết-bàn nhưng bước đầu cũng cần phải “muốn”, đó là Dục định (lòng mong muốn, nhiệt tình, khát khao loại bỏ mọi thứ ngăn che thiền định, khử trừ mọi ham muốn thế thường để đi vào thiền định). Chắc chắn Dục định hoàn toàn không phải là tham. Dục định là ước muốn mãnh liệt để chứng đạt các Thánh quả, thà xả bỏ thân mạng cũng không nao núng, sờn lòng. Phật Thích Ca lúc sắp thành đạo ngồi dưới cội bồ-đề cũng phát khởi đại nguyện, nếu không thành chánh quả thì thà chết chứ không rời khỏi cội bồ-đề đó sao!

Đối với vấn đề, cõi Cực Lạc có hay không? Xin khẳng định rằng: Cực Lạc hoàn toàn có thật với các vị có chánh báo tương ứng, Cực Lạc là y báo của Phật A Di Đà và chư Thánh chúng tu niệm Phật. Các hành giả tu Tịnh độ cầu sanh về Cực Lạc, rồi từ đó nương thắng duyên mà tu tập cho đến ngày công viên quả mãn, thành Phật. Cho nên, Cực Lạc không chỉ “tạm dùng để cho chúng sanh mê muội hướng về” mà các bậc Tổ sư vĩ đại của Tịnh tông, các Đại Bồ-tát có nhân duyên cũng nguyện sanh về cõi ấy.

Tất nhiên, mọi người con Phật có chánh kiến đều biết “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Kinh Kim cang) nên Cực Lạc dù có thù thắng trang nghiêm đến mấy cũng là phương tiện, không có tự tánh (tánh Không, vô ngã). Vãng sanh Cực Lạc là thành tựu “bất thối chuyển”, không còn bị đọa lạc, để rồi từ đó tiến tu thành Phật, phổ độ quần sanh. Vì thế, gia đình bạn không có gì phải hoang mang cả mà càng tinh tấn niệm Phật hơn nữa để thành tựu nhất tâm.

Chúc bạn tinh tấn!

PHẢI CHĂNG CUỘC ĐỜI ĐÃ LẬP TRÌNH SẴN?

Hòa thượng Viên Minh chia sẻ

trong buổi Trà Đạo Bửu Long sáng ngày 25.8.2016

1. Phải chăng cuộc đời đã lập trình sẵn?

HỎI: Thưa Thầy phải chăng cuộc đời đã lập trình sẵn?

TRẢ LỜI: Cuộc đời không phải đã được lập trình sẵn nhưng nó giống như một bàn cờ mà thành hay bại, khổ hay vui... là do quyết định của người trong cuộc đi quân cờ nào, chọn nước cờ nào, với mục đích gì... (có nhiều quân cờ, nước cờ và mục đích để mỗi người tự do lựa chọn) tuỳ theo khả năng hay trình độ nhận thức và cách xử lý trong ván cờ của mình.

Nói là lập trình sẵn cũng đúng nhưng không nên nghĩ rằng ai đó đã an bài sẵn như định mệnh mà mình phải tuân theo. Lập trình sẵn ở đây chỉ có nghĩa là có sẵn những yếu tố tự nhiên, ví dụ như trong thiên nhiên đã có sẵn hydrogen, oxygen, carbonic v.v..., nhưng tuỳ hiểu biết tính chất của các nguyên tố ấy mà có thể tạo ra những phản ứng hoá học khác nhau để có những hiệu ứng nhất định tuỳ mục đích sử dụng của mỗi người.

Dễ hiểu hơn như chúng ta có sẵn rau, củ, quả, gia vị mặn, ngọt, chua, cay v.v... nhưng ai thông hiểu được tính vị của chúng thì có thể chế biến thành những món ăn ngon, không biết chế biến sẽ ra món ăn dở. Như vậy thức ăn ngon dở không phải do Tạo Hoá lập trình sẵn mà do nhận thức và cách chế biến của người nấu.

Lập trình mà không phải lập trình, đây là một cách lập trình rất kỳ lạ: chỉ lập trình trên nguyên lý thôi còn ứng dụng thì tự do chọn lựa của mỗi người. Ngược lại dù tự do chọn lựa nhưng cuối cùng vẫn phải học ra sự vận hành theo nguyên lý của pháp chứ không phải muốn gì theo ý mình cũng được. Rốt cuộc chọn lựa đường nào rồi cũng phải học cho ra nguyên lý của pháp mới thôi.

HỎI: Có đôi khi những giấc mơ như báo hiệu chính xác điều sắp xảy ra. Vậy có phải là mọi việc đã sắp đặt sẵn rồi sao?

Không phải sắp đặt sẵn mà giống như trái mít đang được 1 tháng người trồng mít rành nghề có thể biết bao lâu nữa trái mít ấy sẽ chín vì nó có tiến trình của nó, nhưng trong đó vẫn có sự uyển chuyển mà người càng rành rẽ càng đoán trúng chừng đó. Nếu như trời nắng nhiều thì trái mít sẽ chín sớm, trời lạnh quá thì mít sẽ chín trễ hơn, người ta có thể nhìn qua tất cả hiện tượng thiên nhiên mà biết được sự vận hành của vạn pháp. Cho nên người ta có thể dự đoán thời tiết...mà trong dịch lý gọi là "lý sương kiên băng chí" tức nhìn thấy sương mà biết sắp tới sẽ có băng giá. Những người đi làm rừng thấy măng mọc như thế nào đoán được năm đó có lũ lụt lớn hay không, hoặc thấy hoa lau nở ra sao mà đoán được thời tiết sắp xãy ra rất chính xác, như kiểu kiến đoán được trời mưa, cá đoán được động đất dưới biển vậy.

Trong “lập trình” của tạo hoá có những nguyên lý phổ quát quy mô lớn như thành - trụ - hoại - không; quy mô vừa như sinh - trụ - dị - diệt; quy mô nhỏ như sinh - lão - bệnh - tử. Nhân quả, nghiệp báo cũng có quy luật của nó nên những vị có thiên nhãn minh có thể biết được người nào làm hạnh nghiệp gì sẽ gánh chịu hậu quả ra sao, ở cõi giới nào. Nghiệp được mỗi người tự do chọn lựa nhưng chọn lựa nào thì cũng đều phải học bài học trong chọn lựa của mình.

Về phương diện tâm, phần tướng biết của tâm qua lục căn chỉ biết được đối tượng hiện khởi, nhưng tánh biết của tâm có thể biết được thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai và không gian vô tận bên trong, bên ngoài, tám hướng, mười phương. Bản chất của tâm rộng lớn bất tận về cả không gian và thời gian nên việc linh cảm được chuyện sắp xãy ra ở tương lai hoặc chuyện đang diễn biến ở cõi giới khác là chuyện bình thường. Ví như nước và sóng, tánh biết như nước, tướng biết như sóng, sóng tuỳ duyên mà biểu hiện khác nhau nhưng tánh nước không thay đổi. Nước thì ở cùng khắp nhưng hiện tướng như hơi, sương, mù, mây, mưa, nước giếng, nước sông, ao, hồ, biển cả… đều khác nhau.

Cũng vậy, tướng của tâm chỉ giới hạn trong mỗi chúng sanh, nhưng tánh của tâm rộng lớn vô cùng nên người ta thường gọi là vũ trụ tâm. Người thoát khỏi bãn ngã, thâm nhập vào được biển tâm rộng lớn có thể thấy quá khứ, tương lai và không gian rộng lớn. Như Đức Phật có thể ngồi ở chùa Kỳ Viên mà thấy được các cõi trời ra sao, thấy luôn cả quá khứ, tương lai ra sao.

Đôi lúc chúng ta vô tình cảm ứng được tương lai, nhất là qua giấc chiêm bao, lúc đó ý thức của tướng biết không hoạt động, nhưng tánh biết của tâm thì vẫn âm thầm làm việc. vì vậy mà nó vẫn biết được quá khứ tương lai, thậm chí linh cảm được những chuyện xãy ra bên ngoài.

Tâm rất kỳ diệu mà chưa môn tâm lý học nào nói hết được, kể cả Vi Diệu Pháp hoặc Duy Thức. Có những trường phái thấy tâm như vậy sinh ra chủ nghĩa duy tâm và cho rằng tất cả do tâm tạo ra hết. Thật ra, sự sống không phải chỉ có tâm không thôi mà còn có đất nước lửa gió hư không nữa. Những nguyên tố đó kết hợp với nhau sinh ra muôn loài vạn vật. Hiện tướng của muôn loài vạn vật thì có sinh có diệt, nhưng tánh của chúng vẫn không sinh diệt.

Đạo Phật nhìn sự vật một cách toàn diện cả mặt tất định, mặt tự do và cả mặt ngẫu nhiên nữa. Trong khi một số tôn giáo, triết học chỉ nhìn thấy một chiều nên họ chủ trương hoặc là định mệnh, hoặc là tự do, hoặc là ngẫu nhiên một cách phiến diện.

HỎI: Những yếu tố này có liên quan gì trong Thiên thời, địa lợi, nhân hòa?

Đó chỉ là duyên bên ngoài giúp đạt đến thành công. Trong Phật giáo có Tứ Như Ý Túc: dục, cần, tâm và thẩm là những yếu tố bên trong làm nhân quyết định sự thành công. Trong khi thiên thời, địa lợi, nhân hòa có vẻ thụ động vì lệ thuộc vào điều kiện trời đất và lòng người thì Tứ Như Ý Túc mang tính chủ động của thái độ nội tâm.

Thí dụ như trong chiến tranh bên nào biết lợi dụng điều kiện thiên thời, địa lợi và lòng người thì có hy vọng chiến thắng, như vậy chiến thắng vẫn một mặt mang tính thiên định, một mặt do quyết định của con người nên mới có câu: “Thuận thiên lập mệnh”. Vì nhiều người không thấy được điều này nên khi thành công cứ tưởng là mình tài giỏi và sinh ngã mạn, tự cao.

2. Đạo có phải là con đường? 

Đạo không phải là con đường. Đạo trong Đạo đế là những yếu tố giác ngộ ra Sự Thật mà sự thật rốt ráo nhất chính là Niết Bàn. Nếu có con đường thì phải có điểm xuất phát và đích đến như vậy đã có ham muốn trở thành, tức rơi vào hữu, tướng, tác, cầu hay sinh, hữu, tác, thành, chứ không phải là Đạo: không, vô tướng, vô tác, vô cầu hay không sinh, không hữu, không tác, không thành.

Niết-bàn ở ngay đây và bây giờ nơi chính mình nên đức Phật dạy chỉ cần nhìn lại mà thấy chứ không phải trở thành hay đạt tới.

Như Tuệ ghi chép

HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO

Con xin chào thầy!

Con năm nay con được 28 tuỗi, hiện tại con đã ra trường và đang làm việc tai Mỹ. Qua sự tìm hiểu con có quen một bạn Nữ rất đáng yêu, bạn Nữ cũng đã ra trường và đang làm việc tại Đức. Trong quá trình tìm hiểu tụi con đã có cảm tình với nhau.

Ban Nữ con quen là một người rất yêu thích Đạo Phật và gia đình bạn ấy cũng vậy. Gia đình con thì Bố con hồi trước có theo đao Phật và Mẹ con thì theo đạo Công Giáo. Bố con rất thương mẹ con nên đã quyết định theo đạo Công Giáo vì Bố, Mẹ con nghĩ chỉ nên theo một đạo trong một gia đình thôi. Hiện tại gia đình con là đạo công giáo nhưng bố và mẹ con luôn tôn trọng cac Đạo khác cũng như là Đạo Phât. Gia Đình con nghĩ là Đạo tại Tâm chỉ cần có Đạo Đức là bố mẹ con luôn luôn tôn trọng. 

Con và bạn Nữ có nói chuyện về tôn giáo của mỗi gia đình và trong lúc bạn Nữ về Viet Nam đã có lên chùa để hỏi một thầy tại chùa xem tuổi cho tụi con và hỏi là chúng con có tiếp tục mối tình này không. Bạn Nữ có nói lại với con là vì gia đình con là đạo Công Giáo nên thầy nói không nên quen nhau nữa. Con rất buồn và thất vọng. Từ lúc quen bạn Nữ con cũng tìm hiểu về Đạo Phật rất nhiều và con cũng rất thích. Con tin vào nhân quả nhưng con không có niềm tin vào xem tuổi cũng như là xem tương lai cho ai cả.Con cảm nhận đạo chính là một phương tiện, một người thầy để giúp mỗi người hoàn thiện hơn. Con thấy Đức Phật là một người rất từ bi và con rất kính trọng ngài vì con nghĩ nhờ có Đức Phật nên rất nhiều người đã trở nên tốt đẹp hơn. Lúc xưa ngài cũng đã nói là con người không vì xuất thân mà cao quý mà là vì hành động mà cao quý. Con nghĩ nếu con và bạn Nữ yêu thương nhau chân thành và con cũng đồng ý ngồi xuống cùng bạn ấy tìm hiểu về một đạo và sẽ chỉ theo một đạo sau này mà thôi thì có sai không thầy?. Bạn Nữ có nói với con là bạn ấy rất mệt mõi vì thầy trong chùa và mẹ của bạn Nữ khuyên bạn ấy là không nên quen con nữa. Hiện giờ con rất là bế tắc và không biết là phải nên nói với bạn nữ như thế nào. Xin thầy hãy giúp cho tụi con lời khuyên.

Mong hồi âm của thầy,


Chào hai anh chị,

Ngày xưa, một số tôn giáo đã khắt khe ngăn cấm các tín đồ mình kết hôn với người “ngoài” tôn giáo. Sự cấm đoán như vậy dựa trên một kinh nghiệm, đó là sự khác biệt niềm tin tôn giáo, tạo nên những trở ngại có ảnh hưởng không tốt đến hạnh phúc lâu dài của hai người yêu nhau. Có những người Kitô Giáo lấy vợ hay chồng là Phật Giáo hay ngược lại, sau nhiều năm chung sống, đều cho rằng hôn nhân hỗn hợp là một sai lầm đối với họ do vấn đề họ gặp phải vì những bất đồng tôn giáo nhất là về việc giáo dục con cái trước tuổi thành niên.[01]

Mới đầu khi yêu nhau họ chỉ muốn sống chung với nhau mà không nghĩ tới hướng giải quyết khi hai người có con. Lời giao kết "đạo ai nấy giữ" thuở ban đầu ấy là chỉ dành cho vợ chồng, nhưng con của họ thì sao? Theo cha hay theo mẹ? Ai mến đạo thì cũng muốn con mình theo đạo truyền thống của ông bà cha mẹ mình, phải tranh thủ hướng dẫn cho con ngay từ khi còn bé nhỏ. Nếu cha mẹ thoáng hơn, cởi mở hơn thì khi tới tuổi trưởng thành cho con được tự quyền lựa chọn tôn giáo, quyết định số phận của cuộc đời, nhưng nếu đứa con, mặc dù đã đủ lớn khôn để nhận thức nên theo đạo nào, lại ngặt nỗi sợ mất lòng cha hoặc mẹ thì càng rắc rối hơn. Thật là nan giải..

Đối với người Phật Giáo ngày nay, nhất là những tín đồ Phật giáo ở Tây Phương phần đông chủ trương đạo ai nấy giữ, cố gắng hiểu biết và tôn trọng tôn giáo của người phối ngẫu và không đem hôn nhân làm một áp lực bắt người phối ngẫu đổi đạo. Sự cưỡng bách hay khuyến dụ bỏ đạo không thể thấm sâu vào lòng người, mà lại phát sinh ẩn ức. Với con cái, không bắt ép chúng đi chùa hay đi nhà thờ, không ép buộc chúng phải quy y hay rửa tội mà đợi chúng đến tuổi trưởng thành, cho chúng tự quyền quyết định nên theo tôn giáo nào. 

Đối với người Công Giáo, trước thời Công Đồng Vatican II trong thập niên 1960, nếu một người Công Giáo quyết định lấy một người không-Công Giáo, Giáo Hội mạnh mẽ yêu cầu họ “trở lạiđạo” trước khi làm đám cưới. Nếu người ấy không chịu “trở lại đạo”, thì họ được yêu cầu phải đồng ý nuôi nấng con cái trong đức tin Công Giáo. 

Ngày nay (sau Công Đồng Vatican II),  trên nguyên tắc, Giáo Hội Công Giáo không bắt buộc sự “trở lại đạo” của người không-Công Giáo, cũng như người không-Công Giáo không bị bắt buộc phải đóng vai trò tích cực trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái trong đức tin Công Giáo. 

Tuy nhiên, thực tế cho biết, “theo giáo luật Công Giáo, người Công Giáo kết hôn với người chưa rửa tội (không-Công Giáo) thì hôn nhân ấy không thành sự hay bị rối. Theo khoản 1086 trong Bộ giáo luật hiện hành của giáo hội Công Giáo, nếu không muốn bị rối trong tình trạng ấy thì phải xin phép chuẩn dị giáo (dispensation for disparity of cult) của Đức Giám Mục địa phận. Để được phép chuẩn cho hôn nhân dị giáo hầu ‘đạo ai nấy giữ’, khoản 1126 trong giáo luật cũng quy định phải có 3 điều kiện : (1) Bên Công Giáo hứa phải giữ trọn đức tin của mình, đồng thờicố gắng rửa tội và giáo dục con cái theo đức tin công giáo. (2) Thông tri cho bên không công giáo biết những điều mình hứa và bị lương tâm ràng buộc. (3) Cả hai phải được học hỏi về mục đích và đặc tính căn bản của hôn nhân theo giáo lý công giáo”.[2][3]

Thật ra, việc hôn nhân với người khác tôn giáo theo cách nhìn của những người Công Giáo cũng có những điểm tích cực nhất là trên phương diện truyền giáo, “nếu khi có tình yêu với người khác đạo, ta nên dùng chính cơ hội này để giúp cho người mình yêu tin và sống theo Chúa Kitô, gia nhập Giáo Hội Ngài…”[3] Đó là chưa kể đến việc truyền giáo cho con cái khi chúng nó ra đời. 

Xét hai quan niệm hay hai đường hướng giải quyết vấn đề kết hôn với người khác tôn giáo, giữa Phật Giáo và Công Giáo vẫn còn có nhiều điểm khác biệt, khó có thể dung hoà hay hiệp thông được. Bên Công Giáo vẫn yêu cầu người Công Giáo muốn kết hôn với người ngoài đạo phải có “phép chuẩn” của Toà Giám Mục sở tại mới cho kết hôn và phải “cố gắng rửa tội và giáo dục con cái theo đức tin Công Giáo”. Bên Phật Giáo, ngược lại, không muốn con cái phải rửa tội mà không biết một chút gì về tôn giáo mình theo…và cũng không bắt buộc chúng phải quy y vì chúng còn quá nhỏ, không biết gì về Phật, Pháp, Tăng.

Vì thế, anh chị và các bạn trẻ khác đang là Phật tử, đang là Kitô hữu sắp yêu, đang yêu và sẽ tính đến chuyện kết hôn với nhau hãy nghiên cứu thật kỹ quan niệm của cả hai bên về vấn đề này. Nếu có đủ sáng suốt, đủ để thấy là mình không thể sống với một vài khác biệt nào đó của người khác, thì ngay tự bây giờ (trước khi kết hôn) thật quan trọng để thú nhận và bàn thảo kỹ lưỡng với nhau là có nên kết hôn hay không. Nếu cần phải lựa chọn thì cách hay nhất (nếu có khả năng) vẫn là làm sao cả hai người và con cái ra đời về sau được sống trong tinh thần hiểu biết và quý trọng cả hai tín ngưỡng. Phải hiểu đức tin Công Giáo cũng như đức tin Phật Giáo đều là những (không phải một) “viên ngọc vô giá” nên cần được chia sẻ cùng nhau giữa vợ chồng và con cái. Nếu như cảm thấy không đủ khả năng cam kết và cùng nhau thực hiện việc sống trong tinh thần hiểu biết và quý trọng tín ngưỡng của nhau thì hãy cùng nhau vui vẻ chấp nhận chia tay từ bây giờ để kết hôn với người cùng đạo, dù sao vẫn hay hơn và dễ có hạnh phúc hơn.

Cả hai anh chị phải tự quyết định hướng đi của chính mình, không thể giao phó đời sống lứa đôi của mình cho bất cứ ông Thầy nào hay một vị thày bói nào. Lời dạy của ông thầy mà hai anh chị đề cập đến trong thư không đáng tin cạy vì (thứ nhất) Đạo Phật cấm không cho các vị tu sĩ xem tuổi, xem sao đoán hạn vì đó là mê tín. (thứ hai) chỉ vì gia đình anh là đạo Công Giáo nên ông thầy nói "không nên quen nhau nữa" là một lời khuyên võ đoán, hàm hồ, không có cơ sở.

Còn việc anh chị hỏi nếu như hai người chỉ theo một đạo mà thôi thì có điều gì sai không. Chúng tôi có thể trả lời ngay cho anh chị là không có điều gì sai hết nếu như cả anh và chị không đem hôn nhân làm một áp lực bắt người yêu phải đổi đạo. Anh chị nên nhớ là một trong những yếu tố cơ bản để cấu thành cuộc hôn nhân bền vững ngoài tình yêu là sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Việc từ bỏ tôn giáo của mình để theo người yêu phải là việc  xuất phát từ tinh thần tự giác, tự nguyện và lòng tôn trọng lẫn nhau.

Chúc anh chị an vui hạnh phúc lâu bền.

QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ THÂN TRUNG ẤM

HT. Viên Minh

Bạch Sư, 
Con có một thắc mắc về ý niệm Thân Trung Ấm. Theo như con hiểu thì con người sau khi chết, tùy theo nghiệp lực mà đi đầu thai ngay lập tức, từ tử tâm, chuyển tức thì qua thức tái sanh (Vi Diệu Pháp).  Nhưng cùng lúc lại có sự giải thích là nếu chưa đi đầu thai được thì phải chờ ở Thân Trung Ấm. Xin thầy giảng giải cho con được rõ.

Thầy Viên Minh trả lời:

Thân trung ấm, người cõi âm, vong linh, ngạ quỷ, hồn ma, phi nhân v.v... là những tên gọi khác nhau người đời sau đặt ra theo hiểu biết của họ nhưng đều ám chỉ người cõi Peta trong tiếng Pāli mà thôi. Như vậy gọi gì không quan trọng, chủ yếu là biết đúng thực chất cõi này là gì mới được.

Có hai quan niệm cực đoan sai lầm: Một cho rằng có thân trung ấm là vong linh người chết còn vất vưởng đâu đó trong vòng 49 ngày chưa được đi đầu thai, đó là theo quan niệm trong Abhidharma-Kosa (A-tì-đàm Câu-xá) của Nhất Thiết Hữu Bộ. Về sau được người Hoa duy trì phát triển thêm. Hai cho rằng không có người  âm, tức không có cõi Peta này.

Theo Pāli Abhidhamma nguyên thủy thì tiến trình tâm tục sinh (patisandhi) đi liền sau tử tâm (cuti) chỉ một sát- na, có nghĩa là chết là tâm thức do nghiệp lực liền đi tái sinh ngay, không có tình trạng vong hồn vất vưởng 49 ngày, do đó quan niệm thân trung ấm về sau là sai. Tuy nhiên, vì vậy mà cho rằng không có người cõi Peta cũng là một sai lầm khác. Thức tái sinh, kết sinh thức hay tâm tục sinh vẫn xuất hiện ngay sau tử tâm để tái sinh vào cõi Peta, và tuổi thọ của cõi này bất định chứ không nhất định là 49 ngày như quan niệm về thân trung ấm.

Thực ra, Peta là một cõi tái sinh do nghiệp lực và tưởng của người lúc lâm chung, nên chính xác nhất có thể gọi đó là người cõi âm bởi vì thân của người cõi này được hình thành do tưởng của người cõi dương trước khi chết (người sống). Như vậy có người âm nhưng không phải là hồn ma trung ấm mà là một cõi chúng sinh có thực trong trong 4 đường ác đạo ( cõi Atula, Peta, súc sinh và cõi khổ).

Người cõi âm (Peta) hình thành:

1) Do nghiệp lực mà chủ yếu là nghiệp bất thiện thuộc loại xan tham, ích kỷ, bỏn sẻn, ganh tỵ, khao khát, dính mắc, luyến tiếc tài tình danh lợi ở đời chưa thỏa mãn được

2) Do tưởng ngay khi tử tâm xuất hiện.Thí dụ: Người bị chết đuối thấy mình đang chới với lặn hụp trong nước với sự sợ hãi cao độ, hình ành ấy tạo một ấn tượng rất mạnh ám ảnh tâm thức người ấy, tưởng chấp giữ hình ảnh ấy và một thân tướng do tưởng ấy sinh tạo thành người cõi âm là một "ma chết đuối" như người đời thường nói. Một người mẹ chết khi đứa con còn nhỏ dại, cô ta trở thành âm bản của mình, hàng ngày ôm ấp đứa con trong tưởng để tự đánh lừa mình v.v...

Có một loại nữa gọi là Asura thường đọc theo phiên Âm Hán Việt là A-tu-la. Đây là loại "Atula địa" thấp hơn cõi người, cũng gọi là người âm có nhiều năng lực hơn cõi âm Peta, nên người Hoa còn gọi là Thần nhưng cũng thuộc 4 ác đạo, khác với "Atula thiên" cao hơn cõi người, thuộc cõi trời Dục giới (thường tranh chấp với chư thiên cõi trời Đao Lợi).

Những người vì có tài năng và quyền lực nên ngã mạn, tự cao, thích ra oai, điều khiển, khống chế người khác, dễ bị sân hận oán thù nên bị đọa vào cõi Atula địa này. Atula này cũng do tưởng sinh nên gần giống như Peta nhưng có uy lục hơn và thường hay quấy phá những người oan trái với họ ở dương gian...

Viên Minh
Trích mục Hỏi Đáp - trungtamhotong.org

PHÁT HUY CHÁNH KIẾN TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐẠO PHẬT 

Nhiên Như - Quảng Tánh

HỎI: Tôi là một Phật tử trẻ, đang tìm hiểu về Phật pháp để ứng dụng trong đời sống. Hiện tôi đang phân vân về giá trị của đạo Phật bởi một số ý kiến phản biện như sau: Họ nói, đạo Phật chỉ thích hợp với người già, người lớn tuổi, người về hưu... vì những người này gần như đã buông bỏ tất cả các nhu cầu về cuộc sống, cần một bến đỗ bình yên, tâm hồn thanh thản trước khi rời khỏi cuộc sống này. Đạo Phật mang khuynh hướng từ bỏ tất cả mọi thứ như mong muốn vật chất, tình yêu..., nên giới trẻ đến với đạo Phật sẽ không năng động, không mang tinh thần cầu tiến, cống hiến, từ đó sẽ làm cho xã hội không phát triển được, nói chung là mang ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn. 

Họ lại nói, nếu cho con trẻ đi chùa, ăn chay, học Phật thì dần dần tính cách của chúng sẽ điềm đạm, hiền từ, chỉ biết buông xả... nên lớn lên vào đời sẽ rất khó thành công. Tôi rất mong được quý Báo giải đáp và chia sẻ để thiết lập niềm tin vững chắc vào đạo Phật.

(PHÚ QUỐC, dophuquoc927@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Phú Quốc thân mến!

Đạo Phật ra đời vì lợi ích, vì an lạc cho tất cả chúng sinh. Có thể nói, khi nào con người còn vô minh, tham ái, phiền não, khổ đau thì còn cần đến các giải pháp trị liệu và chuyển hóa của đạo Phật. Tùy theo tuổi tác, điều kiện, hoàn cảnh và đặc điểm riêng của mỗi người mà có cách ứng dụng Phật pháp vào đời sống khác nhau. Cụ thể, một người từ khi bắt đầu thọ thai, đến lúc sinh ra và lớn lên học tập, cho đến khi trưởng thành có sự nghiệp, lúc nghỉ hưu, già yếu và chết đi, cả đời người đều cần đến các giá trị của đạo Phật.

Nên nói, “đạo Phật chỉ thích hợp với người già, người lớn tuổi, người về hưu...” là phiến diện, không đúng. Tham gia các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, xã hội, cộng đồng là đặc điểm nổi bật của người già, vì có tác động tích cực lên đời sống tinh thần của họ. Sở dĩ người lớn tuổi, người nghỉ hưu đi chùa, tham dự các lễ hội, những khóa tu nhiều hơn những người khác, đơn giản vì họ có thời gian hơn. Không phải chỉ có người già mới “cần một bến đỗ bình yên, tâm hồn thanh thản” mà tất cả mọi người, nhất là tuổi trẻ đều rất cần. Có điều, người trẻ có cách tiếp cận với đạo Phật khác với người già. Vì không có nhiều thời gian nên họ chỉ tranh thủ đến chùa những lúc có thể, nên khi nhìn vào những buổi lễ ở chùa thấy người trẻ ít hơn. Trong quá trình học tập và làm việc, những người trẻ rất cần đến các giá trị đạo đức Phật giáo để tự răn và hoàn thiện mình, để làm chủ bản thân trước mọi cám dỗ. Dù không có thời gian để đi chùa nhiều nhưng giới trẻ luôn ứng dụng Phật pháp để tạo ra những “khoảng lặng” cần thiết nhằm nghỉ ngơi, thư giãn, thanh lọc và làm mới thân tâm, đồng thời chiêm nghiệm về các giá trị nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, để sống có ý nghĩa, lợi mình và lợi người.

Kế đến, nói “đạo Phật mang khuynh hướng từ bỏ tất cả mọi thứ như mong muốn vật chất, tình yêu...” cũng rất phiến diện và thiển cận. Đạo Phật không hề phủ định các giá trị của vật chất, tình yêu… mà chỉ phê phán sự tham lam, khát khao sở hữu chúng một cách mù quáng, vô độ mà thôi. Buông xả vì tham lam, vun vén cho riêng mình nhiều quá sẽ không tạo ra hạnh phúc, thậm chí ngược lại chỉ tạo ra đau khổ. Vật chất, tình yêu…, hay mọi thứ cần cho cuộc sống nói chung đều được đạo Phật trân trọng nhưng chỉ xem đó là phương tiện.

Luôn vận dụng sự tỉnh thức, dùng trí tuệ để soi sáng nhằm đem vật chất phục vụ đời sống, không để mình phải phụ thuộc, bị vật chất sai khiến. Với tình yêu cũng vậy, tham ái và chiếm hữu sẽ giết chết tình yêu, thành ra yêu nhiều thì đau khổ nhiều. Muốn tình yêu mang đến hạnh phúc thực sự thì thay thế tham ái bằng từ ái, không chiếm hữu mà trân trọng và hiến dâng, yêu người như yêu mình. Đạo Phật kêu gọi tu tập buông xả, chuyển hóa tâm tham ái và chiếm hữu chứ không phủ nhận hay chối bỏ các phương diện của đời sống. Nên quy kết “giới trẻ đến với đạo Phật sẽ không năng động, không mang tinh thần cầu tiến, cống hiến, từ đó sẽ làm cho xã hội không phát triển được, nói chung là mang ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn” là một sự xuyên tạc có dụng ý riêng.

Nói “cho con trẻ đi chùa, ăn chay, học Phật thì dần dần tính cách của chúng sẽ điềm đạm, hiền từ, chỉ biết buông xả... nên lớn lên vào đời sẽ rất khó thành công” lại càng sai lầm. Ai cũng biết, đạo đức vốn cần thiết hơn cả tài năng, “có tài mà không có đức là người vô dụng”. Đạo đức cần dạy dỗ từ khi còn tấm bé, như măng được uốn nắn thì tre mới thẳng. Nên cần nói ngược lại, nếu trẻ mà không được dạy dỗ cho hiền từ, điềm đạm, biết xả buông… đến khi lớn khôn vào đời chắc chắn sẽ thất bại. Để thành công trong cuộc sống, con người cần có nhân cách đạo đức, trầm tĩnh và nghị lực, thông minh và khéo léo (đạo Phật gọi là Giới-Định-Tuệ) chứ không phải nhờ tranh đoạt, mạnh được yếu thua, khôn ranh lõi lọc, lợi mình mà hại người.

Hiện nay, mọi người đều sống trong sự bất an, chất lượng cuộc sống ở mọi phương diện bị suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là sự xuống cấp đạo đức xã hội, nhất là trong giới trẻ. Đây là quả báo xấu có nhân duyên một phần từ việc chối bỏ, thậm chí hủy hoại các giá trị đạo đức và tâm linh truyền thống mà tổ tiên đã dày công tạo dựng. Trong các mối nguy thì tà kiến (quan điểm sai lầm, nhận thức không đúng) sẽ khiến cho nhiều thế hệ bị ảnh hưởng và hệ lụy. Mặt khác, người Phật tử cần cảnh giác, phát huy chánh kiến trước những luận điệu xuyên tạc từ những phần tử xấu, cố tình bóp méo nhận thức về đạo Phật để tiến hành cải đạo.

Hiện nay, các giá trị đạo đức, nhân văn của đạo Phật được các bậc trí thức trên thế giới tôn vinh, họ hy vọng giáo lý từ bi và trí tuệ của Phật giáo sẽ cứu vãn cho các xung đột, bất an trên thế giới. Bạn đã có duyên lành quy y rồi thì cố gắng học tập, nghiên cứu giáo pháp. Đạo Phật chủ trương “đến để thấy”. Một khi đã nhận thức đúng đắn về Chánh pháp (chánh kiến) ắt sẽ có hành động đúng và giúp bạn kiến tạo cuộc sống với đầy đủ thành công, cống hiến, hạnh phúc và an vui.

Chúc bạn tinh tấn!

BỊ ĐỔ NGHIỆP

Nhiên Như - Quảng Tánh

HỎI: Tôi phát tâm tu tập theo Phật giáo, áp dụng lời Phật dạy vào đời sống hàng ngày như bố thí, giúp đỡ người khác hết lòng, nguyện sống tốt, không làm gì xấu và tổn hại đến ai. Nhưng không biết vì sao, đã mấy năm hướng Phật, làm lành, tránh dữ mà tôi ngày càng xui xẻo, làm gì cũng thất bại, bị người khác ganh ghét, công việc, sức khỏe,... đều xấu đi, giống như bị đổ nghiệp. Xin hỏi quý Báo nên làm gì để giải nghiệp xấu đó. (QUANG VIỆT, quangviet2006@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Quang Việt thân mến!

Hiện nay, có một bộ phận Phật tử, do nhận thức về Phật pháp còn hạn chế nên hình thành quan niệm vì siêng tu nên ‘đổ nghiệp’. Đây là một quan niệm sai lầm, không đúng với Chánh pháp, tà kiến, cần được chấm dứt trong suy nghĩ cá nhân Phật tử và không trao truyền đến người khác. Bởi lẽ, tu tập thì chuyển nghiệp, từ xấu thành tốt, từ dữ hóa lành, không hề có chuyện vì tu mà ‘đổ nghiệp’ hay gieo nhân lành mà gặt quả ác cả.

Vậy thì lý giải thế nào đối với một số trường hợp, sau một thời gian tu học, hướng thiện thì bản thân và gia đình có nhiều xui xẻo liên tiếp xảy ra? Trước hết, người đệ tử Phật cần học tập về giáo lý Nhân quả-Nghiệp báo để hiểu đúng và tin sâu. Nhân quả-nghiệp báo do mình tạo ra trong quá khứ xa và gần, rồi tác động lên đời sống của chính mình.

Tiến trình từ nhân đến quả có 3 thời: 1-Hiện báo, nhân quả nhãn tiền, xảy ra liền hay trong đời này. 2-Sinh báo, gieo nhân hiện đời nhưng đến đời kế sau mới thành quả. 3-Hậu báo, gieo nhân hiện đời nhưng đến những đời sau mới thành quả. Đây là xét về mặt thời gian hình thành nhân quả. 

Còn về phương diện vận hành của nhân quả phức tạp hơn nhiều, không đơn thuần nhân nào quả nấy mà chính là nhân-duyên-quả. Duyên, tuy là nhân phụ nhưng tác động rất lớn đến việc hình thành quả. Chuỗi nhân-duyên-quả này lại không độc lập mà luôn tương tác, va chạm với vô số chuỗi nhân-duyên-quả khác. Trong quá trình vận hành, chúng vừa làm nhân, làm duyên, làm quả của nhau đồng thời luôn tác động chi phối lẫn nhau mãnh liệt tạo ra một mạng lưới nhân quả, nhân duyên trùng trùng điệp điệp.

Người phàm chúng ta chỉ có thể biết phần nào nhân quả nhãn tiền (hiện báo) mà không thể biết về nhân quả của sinh báo và hậu báo. Cụ thể, chúng ta không biết được trong những đời trước mình đã gieo nghiệp nhân nào, thiện hay ác. Nhân quả-Nghiệp báo hay dòng chảy Nghiệp cũ (thiện hoặc ác) từ quá khứ đang xuôi về hiện tại với tất cả sức mạnh của nó. Năng lực của Nghiệp cũ rất mạnh mẽ, nếu gặp lúc đã chín muồi thì không gì có thể ngăn cản nổi sự hình thành quả. 

Việc tu tập, làm thiện của bạn mấy năm gần đây dĩ nhiên tạo ra Nghiệp mới tốt lành. Nghiệp mới (thiện) này, nếu đủ mạnh thì có khả năng tương tác với Nghiệp cũ (xấu ác), chi phối lên Nghiệp cũ để khiến cho nó lệch hướng, tạo thành quả bình an. Cụ thể, Nghiệp mới (thiện) giống như đắp đê, Nghiệp cũ (xấu ác) như nước lũ thượng nguồn dội xuống. Đê nhỏ và yếu, thì dù có cố công xây đắp nhưng không cản được sức tàn phá của lũ.

Bạn nhờ tu tập, làm phước thiện, đã kiến tạo được Nghiệp mới tốt lành nhưng chúng không đủ lớn mạnh để chống chọi, chi phối lên dòng Nghiệp cũ xấu ác đang tràn về. Khi dòng vận hành Nhân quả-Nghiệp báo của bạn đến đúng thời điểm như vậy thì những việc không như ý, xui xẻo xảy ra. Cần phải thấy sự việc trong tiến trình Nhân quả (3 thời) chứ không phải do hiện tại tu tập mà đổ nghiệp. Quan trọng nhất là, phải thấy rõ nhờ hiện tại có tu tập, tích lũy được một số công đức phước báo nên tuy bị tác động bởi Nghiệp cũ nhưng hậu quả ít nặng nề hơn. Nếu không tu tập và làm thiện, không tích lũy được chút phước báo nào thì hậu quả sẽ thảm khốc hơn rất nhiều.

Để giải nghiệp xấu, trước phải hiểu rõ dòng vận hành Nhân quả-Nghiệp báo. Nhận ra Nghiệp cũ vốn không thay đổi được nhưng Nghiệp mới thì hoàn toàn do mình chủ động kiến tạo. Nghiệp mới thiện lành trong hiện tại chắc chắn sẽ cho quả tốt về sau. Nghiệp mới này còn tương tác, chi phối lên Nghiệp cũ xấu ác để tạo ra quả báo nhẹ nhàng hơn. Vì thế, bạn hãy nỗ lực tu học, sám hối tội chướng, tích cực làm thiện, tạo ra Nghiệp mới thiện lành nhiều hơn nữa, sau một thời gian quả lành sẽ đến với bạn.

Chúc bạn tinh tấn!

CÓ NÊN CHO TRẺ NHỎ QUY Y?

Nhiên Như - Quảng Tánh

HỎI: Hiện tôi thấy nhiều bậc cha mẹ cho con cái quy y Tam bảo rất sớm, mới 1 hoặc 2 tuổi đã quy y. Tôi nghĩ, người quy y Tam bảo thì phải hiểu ý nghĩa quy y, phải hiểu về ngũ giới, mà trẻ em làm sao hiểu được điều đó? Và những bé quy y từ nhỏ, khi lớn lên hiểu biết về quy y Tam bảo cùng ngũ giới thì có cần quy y và phát nguyện giữ giới lại không?

(PHẠM LONG, long_p97@yahoo.com.vn )

ĐÁP:

Bạn Phạm Long thân mến!

Vấn đề quy y Tam bảo cho trẻ nhỏ, thậm chí khi còn trong thai đã có từ thời Đức Phật. Kinh Trung bộ II (kinh Vương tử Bồ-đề, số 85) đã ghi lại chi tiết vấn đề này.

Theo kinh văn, lúc Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhagga, tại Sunsumaragira, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển. Bấy giờ, vương tử Bồ-đề (Bodhi) có một ngôi lâu đài tên Kokanada dựng lên không bao lâu và chưa được một Sa-môn, một Bà-la-môn hay một hạng người nào ở cả. Rồi vương tử Bodhi gọi thanh niên Sanjikaputta đi đến chỗ Thế Tôn, mời Ngài ngày mai dùng cơm cùng với chúng Tỷ-kheo tại lâu đài Kokanada.

Thế Tôn nhận lời và ngày mai đi đến lâu đài của vương tử Bồ-đề thọ trai. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, vương tử Bồ-đề đã nói: “Ôi, thật là Phật! Ôi, thật là Pháp! Ôi, thật là khéo thuyết pháp thay!” nhưng vương tử không nói thêm “Tôi quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng” như thông thường đối với những người khác.

Thanh niên Sanjikaputta đã nhắc lại điều này, nhân đó, vương tử Bồ-đề đã giải thích cho Sanjikaputta rõ: “Này Sanjikaputta, chớ có nói như vậy! Này Sanjikaputta, chớ có nói như vậy! Này Sanjikaputta, mặt trước mặt đối diện với mẫu thân của ta, ta tự nghe như sau: Một thời, này Sanjikaputta, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại tu viện Ghosita. Mẫu thân ta đang mang thai, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, mẫu thân ta bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, đứa con này của con, dù là con trai hay con gái, cũng xin quy y với Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận nó làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, nó trọn đời quy ngưỡng’. 

Lại một thời, này Sanjikaputta, Thế Tôn trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển. Rồi người vú của ta, ẵm ta bên hông, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, người vú của ta bạch Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, vương tử Bồ-đề nay xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận vương tử này làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, xin trọn đời quy ngưỡng’. Và nay, này Sanjikaputta, lần thứ ba ta quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng”.

Như vậy, quy y cho trẻ lúc còn mang thai hay khi còn thơ ấu là điều cần làm. Tuy bấy giờ trẻ chưa nhận thức mấy về ý nghĩa quy y nhưng gia đình đã gieo trồng được hạt giống lành vào tâm thức con trẻ đồng thời đứa trẻ cũng nhận được năng lượng bi mẫn gia hộ của Tam bảo. Sự kết nối và giao cảm tâm linh sơ khai ấy đã được Đức Phật chấp nhận.

Cần thấy rõ rằng, lễ quy y Tam bảo và trao truyền năm giới tuy được thực hiện chung nhưng kỳ thực đó là hai vấn đề khác biệt nhau. Người quy y Tam bảo có thể chưa thọ giới hay thọ từ một đến hết cả năm giới. Nên trong trường hợp quy y cho trẻ nhỏ thì chỉ có quy y mà không thọ giới. Và dĩ nhiên, sau khi đứa trẻ đó lớn lên trong sự gia hộ của Tam bảo, nhận thức được sự cao quý của giáo pháp, cần đối trước Tam bảo phát tâm quy y và nguyện giữ năm giới. Cũng giống như vương tử Bồ-đề, lúc còn trong bào thai đã được mẹ cho quy y, rồi tuổi thơ được cho quy y thêm lần nữa, khi trưởng thành nhận thức được giáo pháp, chính vương tử đã phát tâm quy y Tam bảo.

Chúc bạn tinh tấn!

THIỀN HAY TỊNH TỐT CHO PHÚT LÂM CHUNG?

Chân Hiền Tâm

Sống chết là vấn đề hầu như ai cũng thấy lo ngại, nhất là với người lớn tuổi. Trong buổi tọa đàm ở một đạo tràng thiền, một phụ nữ lớn tuổi đã nêu ra thắc mắc: “Một thầy ở bên Tịnh độ khi nào gặp con cũng khuyên con nên tu Tịnh độ. Nhưng vừa rồi đây, một người bạn bên Tịnh độ đã hỏi con, khi chị ấy đang lâm vào cơn bạo bệnh với những đau đớn về thể xác không thể tránh khỏi, là bên Thiền có pháp gì hỗ trợ cho chị vào lúc này không?”.
Câu thứ hai người phụ nữ ấy hỏi là chết rồi, thiêu là tốt hay chôn là tốt?

Thiền tốt hay Tịnh tốt?

Ngoại trừ những pháp, tuy cũng mang tên Tịnh độ hay Thiền mà nội dung hoàn toàn khác với những gì kinh luận đã nói, như xuất hồn, nhân điện, cúng sao giải hạn v.v… thì Thiền hay Tịnh độ đều là pháp của Phật. Tu pháp nào cũng được, miễn nó phù hợp với căn cơ và tính dục của mỗi người. Bởi pháp Phật, ngoài việc khế lý còn phải khế cơ, pháp mới mang lại lợi ích cho hành giả.

Nếu khế lý mà không khế cơ, tức người có căn cơ tu Thiền mà lại tu Tịnh độ, người có căn cơ tu Tịnh độ lại tu Thiền thì pháp không mang lại kết quả tốt đẹp. Xưa, Đức Phật đã nói về việc này, khi ngài A Nan dùng sai pháp cho hành giả của mình. Người làm ở nghĩa địa lại cho tu pháp quán hơi thở. Người thợ lò hơi lại cho quán pháp bất tịnh. Do dùng pháp không phù hợp với điều kiện hiện tại của người nên kết quả không có. Vì thế, pháp phải được đổi lại cho phù hợp mới mang lại kết quả tốt đẹp.

Nếu khế cơ mà không khế lý, tức pháp phù hợp với căn cơ của người mà không phải là pháp của Phật, thì mục đích giải thoát cũng không được đáp ứng.

Người phụ nữ không tu Tịnh độ mà bước sang tu Thiền, vì trong môi trường Thiền bà tìm được sự an vui. Bà hình thành được cho mình một đường hướng rõ ràng. Tu để tương lai thành Phật. Học và tọa thiền để khai mở phần định tuệ của chính mình. Vì “Tất cả chúng sinh đều có trí tuệ và đức tướng của Như Lai”. Quan trọng là hiện tại bà tìm thấy được sự an lạc cho chính mình và gia đình. Bà không còn thấy khổ sở khi có những bất như ý xảy ra, không thấy bực bội về những gì chồng con nói nữa v.v… Mọi thứ đều thay đổi khi bà đến với Thiền. Đó là lý do bà không quay về Tịnh độ như lời khuyên của vị thầy. Việc này không có nghĩa là Thiền hay hơn Tịnh độ. Chỉ là vì Thiền phù hợp với căn cơ của bà. Pháp vừa khế lý vừa khế cơ với bà nên bà có được sự an lạc trong hiện tại, lại có phương hướng rõ rệt cho tương lai.

Rốt cuộc, tu Thiền hay tu Tịnh đều được. Với điều kiện là phù hợp với căn cơ của mình. Việc này tự mỗi người phải liệu lấy. Một vị thiện tri thức đúng nghĩa cũng có thể giúp hành giả tìm thấy pháp phù hợp với căn cơ của mình. Nếu không thể tự mình liệu lấy pháp môn cho mình, cũng không thể gặp được vị thiện tri thức giúp mình như ý, thì nên phát lời nguyện với chư Phật. “Nguyện con gặp được pháp môn phù hợp với căn cơ của mình mà pháp môn ấy luôn đúng với Chánh pháp”. Với tâm thiết tha, mọi nguyện cầu sẽ được đáp ứng.

Tu Tịnh độ là tu thế nào?

Ngày trước, khi khởi xướng lại Thiền tông, Hòa thượng Trúc Lâm đã nêu ra một vài sai trái của cái gọi là Tịnh độ trong thực tế. Những vị không hiểu, cho rằng Hòa thượng bài bác pháp môn Tịnh độ. Hòa thượng không bài bác pháp môn Tịnh độ. Vì trong một số bài, Hòa thượng vẫn nói về Tịnh độ. Những ai phù hợp với pháp niệm Phật, Hòa thượng vẫn khuyến khích họ niệm Phật. Chỉ là nêu ra những gì đã được thực hành không đúng với nội dung của pháp môn Tịnh độ mà Phật Tổ đã xiển dương. Như tu Tịnh độ mà chỉ còn hai thời tụng kinh, không phải người tụng mà máy tụng, chỉ thấy cúng ma chay không thấy công phu cho chính mình, rồi cúng sao giải hạn v.v… Vì những sai trái ấy mà Hòa thượng lên tiếng, không phải là bài bác pháp môn Tịnh độ. Thực hiện một pháp môn, nếu không đúng với những gì pháp môn đó nêu bày, thì kết quả không thể có. Vì lý do đó mà Hòa thượng Trúc Lâm đã lên tiếng.

Người tu Tịnh độ, đa phần đều muốn vãng sinh Cực lạc. Để được vãng sinh Cực lạc hành giả phải có đủ ba việc: Tín, Nguyện, Hạnh. Trong ba thứ đó Tín là nền tảng. Vì không có phần Tín này thì không có hai phần sau. “Ba thứ này tương quan mật thiết với nhau như cái đỉnh có ba chân, thiếu một tức phải sụp đổ”1, vì thế không thể thiếu một trong ba thứ này.     

Tín, là tin có thế giới A Di Đà, tin niệm Phật có thể giúp chúng ta về được cõi đó, tin lời nguyện của A Di Đà không hư dối. “Chúng sinh dù nghiệp nặng đến đâu, nếu đã niệm được danh hiệu Ngài thì nhất định được tiếp dẫn vãng sinh”2.

Nguyện, là tha thiết mong muốn được về cõi Cực lạc. Muốn vậy, phải có tâm chán cõi Ta-bà, nói chính xác là chán những ham muốn đối với ngũ dục ở thế gian. Nếu tâm còn ham muốn dục lạc thế gian thì nguyện về cõi Cực lạc chỉ là nguyện suông, không đủ lực để về cõi Cực lạc, cũng không đủ lực để niệm Phật cho được nhất tâm bất loạn.  

Thời Hậu Lê xưa, có vị sư ở chùa Quang Minh, công hạnh niệm Phật tuy sâu nhưng nguyện lại không chí thiết. Khi mãn phần, chuyển sinh làm một vị Đế vương triều nhà Thanh bên Trung Hoa. Về sau nhà vua nhân dùng nước giếng ở chùa ấy để rửa vết son ghi tiền kiếp của mình trên vai, mới cảm khái làm mấy bài thơ. Trong ấy có hai câu “Ta vốn là con Phật cõi Tây. Vì sao lưu lạc Đế vương này?”. Tuy biết vậy, nhưng do cảnh đế vương quá nhiều dục lạc nên rốt cuộc kiếp ấy cũng không tu hành gì được3. Điều đó cho thấy, dù Tín và Hạnh đầy đủ chăng nữa mà Nguyện không tha thiết thì cũng không thể vãng sinh Cực lạc, chỉ theo cõi lành mà đi. Cho nên, Đại sư Ngẫu Ích nói: “Nếu Tín Nguyện bền chắc, khi lâm chung chỉ cần mười niệm hay một niệm danh hiệu, cũng quyết được vãng sinh”. Kinh Hoa nghiêm, phẩm Hạnh nguyện Phổ Hiền cũng nói: “Người này khi sắp mạng chung, trong khoảng sát-na rốt sau, tất cả các căn thảy đều tan hoại, tất cả quyến thuộc thảy đều lìa bỏ, tất cả oai thế thảy đều lui hết. Duy có nguyện vương này là không rời đi. Trong tất cả thời, nó đều dẫn dắt ở trước. Trong khoảng một sát-na, kẻ ấy liền được vãng sinh thế giới Cực lạc”. Cho nên, Nguyện cần tha thiết.                

Hạnh, là những gì hành giả phải thực hành để tâm có thể tương ưng được với cõi Cực lạc. Đó là niệm danh hiệu Phật.

Hòa thượng Thiền Tâm nói: “Đã đủ Tín Nguyện mà thiếu phần Hạnh thì như thuyền có lái mà không chèo, không thể vãng sinh. Có người nghe nói chỉ cần Tín Nguyện chân thiết, khi lâm chung, mười niệm hay một niệm cũng quyết được vãng sinh Tây phương, liền nghĩ rằng như thế cần gì phải vội gấp, đợi đến khi ấy niệm Phật cũng được. Đó là ý tưởng rất sai lầm. Vì đã xem thường pháp môn niệm Phật. Phải biết điểm quan yếu để vãng sinh theo kinh “Phật thuyết A Di Đà” là khi lâm chung lòng không điên đảo (Thị nhân chung thời tâm bất điên đảo tức đắc vãng sinh A Di Đà Phật Cực lạc quốc độ). Nếu tâm không điên đảo thì quả tình niệm mười niệm hay một niệm đều được vãng sinh. Nhưng ai dám chắc đến lúc ấy tâm mình không điên đảo? Nếu bình thường không chịu dụng công, đến khi mạng chung, tứ đại phân ly, sức nghiệp dồn dập, thân tâm bị khổ làm cho kinh hoàng mê loạn, sợ e một niệm còn không thực hành được, huống là mười niệm? Cho nên, muốn khi lâm chung có phần bảo đảm thì lúc bình thường, hành giả phải chuyên niệm Phật cho nhiều, cố gắng đạt cho được trình độ nhất tâm bất loạn. Bằng khi đợi sắp chết mới niệm, trên lý nghe thì suốt thông, nhưng trên sự e chẳng phải đơn giản. Cho nên, các hành giả niệm Phật phải gắng dụng công, không nên lơ là khinh thường sự hành trì mà rước lấy nỗi thất bại”.

Bình thường nếu không chuyên tâm trì niệm danh hiệu thì khi bệnh tật khổ nạn, Phật pháp còn không cứu giúp gì được huống là khi chết. Vì thế, nếu nói tu Tịnh độ mà chỉ đi chùa lễ lạy lấy đó làm vui, không chuyên tâm trì niệm danh hiệu Phật cho nhiều, cũng không tham học giáo lý và tập buông bớt tham chấp, tức chỉ có danh xưng mà không có chất thực của cái gọi là Tịnh độ, thì khó có thể giúp mình an vui trong cuộc sống khi gặp việc bất như ý xảy ra, huống là khi gần chết, tứ đại phân ly đau đớn, tâm tán loạn lo lắng? Vì thế, dù là tu Tịnh độ hay tu Thiền, muốn cuộc sống hiện tại được an vui, lúc ra đi được an ổn, thì bình thường nhất định phải có công phu. Dù niệm Phật chưa được nhất tâm bất loạn, Thiền tập chưa được chỗ vô niệm thì trên sự học hỏi cũng phải quán xét thấu đáo cái lý vô thường ở thế gian. Quán chết là việc không ai có thể tránh, chết rồi cũng không mất mà đi đầu thai kiếp khác. Sướng hay khổ ở kiếp sau là do ba nghiệp trong đời này quyết định v.v... Biết vậy thì giới đã thọ cần giữ kỹ được chừng nào hay chừng nấy, thiện nghiệp cần tạo cho nhiều. Tạo rồi hồi hướng khắp tất cả chúng sinh cũng như hồi hướng cho những sở nguyện của mình. Được vậy thì tu Thiền hay Tịnh độ, khi ra đi đều được an ổn.

Người tu Thiền có thể hỗ trợ gì cho người tu Tịnh độ khi sắp lâm chung?

Ni sư TĐ ở thiền viện Từ Nguyên đã kể câu chuyện:

Ngày trước trong thiền viện có một Ni, mẹ Ni cũng xuất gia. Nhưng sau, sợ bà cụ không giữ được giới luật đã thọ, Ni đã để bà xả giới làm Phật tử thường ngoài đời. Thời gian sau bà bệnh, Ni sư TĐ cho rước về chăm sóc. Khi bà sắp đi, ngoài việc khai thị để bà hiểu chết là chuyện thường ở thế gian, v.v… Ni sư cho chúng tụng Bát-nhã liên tục cho bà. Bà tụng theo được thì tụng không thì thôi, phần chính vẫn là chư Ni trong thiền viện. Khi đi, sắc diện bà rất tốt, thân thể mềm mại. Đó là điềm tốt, biết bà đã vào được vào cõi giới lành. Nói cõi giới lành, không phải vãng sinh Cực lạc. Bởi Tín, Nguyện, Hạnh không đủ thì không thể vãng sinh.

Cách hỗ trợ như thế tương tự như cách hộ niệm bên Tịnh độ. Chỉ khác bên thì niệm Phật, bên thì tụng Bát-nhã.

Song muốn việc hỗ trợ có kết quả thì bình thường người sắp mất cũng phải biết đến kinh kệ, thậm chí là phải huân sâu kinh kệ hay danh hiệu Phật.

Một lần, tôi và người bạn đi dự một lễ cầu siêu cho người chết. Giấc trưa rất nóng, lại tìm hoài ngôi chùa không ra nên cả hai không khỏi thấy mệt mỏi và bực bội. Nhưng khi vào được trong chùa, nghe tiếng tụng kinh của chư Tăng, thân tôi tự nhiên hết nhọc, tâm cũng hết bực bội. Một trạng thái hoan hỷ an lạc trùm khắp. Nhưng người bạn thì không. Mọi bực dọc không thể xóa bỏ. Vì cô chưa từng đến chùa và huân tập kinh điển bao giờ. Điều đó cho thấy, tụng đọc kinh điển hay trì danh hiệu Phật một khi đã được huân tập trong tạng thức thì việc hộ niệm lúc gần chết dễ mang lại kết quả tốt đẹp hơn là người chưa từng huân tập chút gì về Phật pháp.        

Bát-nhã, dù là tu Thiền hay tu Tịnh, gần như ai cũng thuộc lòng. Chủng Bát-nhã hay danh hiệu Phật, một khi được huân sâu trong tạng thức thì khi đủ duyên được khơi, nó sẽ hiện tiền, làm chủ thân tâm. Dù chỉ mới là văn tự Bát-nhã, nhưng một khi đã được hiện tiền, thì ngay giờ phút ấy, sự bình yên nhất định có. Chủng Bát-nhã hiện tiền làm chủ tâm thì cận tử nghiệp đương nhiên tốt. Cảnh giới kế tiếp của người chết nhất định lành.

Việc này đòi hỏi hành giả, bình thường phải huân sâu danh hiệu Phật hay chủng Bát-nhã. Phải huân sâu thì khi đủ duyên khơi dậy, nó mới có khả năng làm chủ tâm. Không thì lực nghiệp nào mạnh, lực ấy sẽ làm chủ tâm, bất kể có người tụng niệm chung quanh.

Ngoài cách hỗ trợ như thế, chúng ta còn có thể cúng dường Tăng Ni, dùng phước đức đó hồi hướng cho người sắp mất.  

Nếu hiểu nghĩa hỗ trợ theo cách “vào lúc này Thiền có pháp gì có thể giúp tôi tự giải quyết khổ nạn của tôi”, thì phải nói là rất khó. Bởi bình thường, nếu không thường xuyên dùng trí tuệ quán xét thân tâm vô thường, không tập buông xả, không tọa thiền tập định, là những thứ đòi hỏi chúng ta phải có sức khỏe và năng lực mới dễ tu tập, thì trong cảnh bệnh hoạn, khó có thể dùng Thiền để thoát khổ. Niệm danh hiệu Phật là việc đơn giản nhất trong hoàn cảnh này. Song không phải ai cũng làm được việc đó nếu không có tâm tin tưởng và tha thiết đối với pháp môn này.

Rốt cuộc, khi còn đang khỏe mạnh thì nên tự mình tu tập. Tu tập theo đúng tinh thần mà pháp môn đó đang chuyển tải. Hiện tại được an lạc mà khi lâm chung cũng không sợ hãi.

Tu Tịnh vãng sinh Cực lạc, tu Thiền đi về đâu?

Đây là câu hỏi hiện giờ đang có nhiều người thắc mắc. Tu Tịnh vãng sinh Cực lạc, kinh luận nói như thế, còn tu Thiền thì không thấy nói chỗ nơi, chỉ nghe nói hai chữ vô sinh. Nhưng vô sinh không phải là chỗ mà ai cũng có thể đạt được.   

Thật ra kinh luận không nói chung chung “tu Tịnh vãng sinh Cực lạc”. Chỉ nói, tu Tịnh nếu Tín và Nguyện đầy đủ, khi lâm chung, tâm không tán loạn (nhất tâm bất loạn) thì nhất định vãng sinh. Nghĩa là tu Tịnh, muốn vãng sinh cũng phải có điều kiện mới vãng sinh được. Không phải chỉ có cái danh tu Tịnh độ là đã có thể vãng sinh. Như vị Sa-môn trong câu chuyện trên, Hạnh và Tín tuy có mà Nguyện không đủ, cũng không về được Cực lạc mà rơi vào cảnh Đế vương. Người có Tín có Nguyện mà khi lâm chung, tâm không được bất loạn thì cũng khó mà về được cõi Cực lạc. Như vậy không phải cứ tu Tịnh là đương nhiên vãng sinh Cực lạc. Tín, Nguyện và Hạnh phải đủ mới về được Cực lạc. Còn lại cứ theo nghiệp hiện tại mà đi. Thiện nghiệp nhiều, cận tử nghiệp không có việc gì khiến tâm bức xúc thì đương nhiên vào cõi giới lành. Thiện nghiệp có nhưng cận tử nghiệp xấu thì vẫn đầu thai vào ba đường dữ. Những lúc này rất cần sự hộ niệm.  

Người tu Thiền, muốn được vô sinh, dòng tâm thức phải dừng. Đó là việc không mấy người làm được. Tuy vậy, khi tu Thiền, ngoài việc điều phục thân tâm để có định tuệ, hành giả còn phải giữ giới và làm các việc phước thiện. Dù định tuệ chưa được bình đẳng để có thể vô sinh thì việc giữ giới và làm phước thiện là cái nhân giúp hành giả tiếp tục đường lành của mình. Vì thế, người tu thiền, dù chưa được định tuệ, chưa được vô sinh thì vẫn sinh ở cõi lành, để tiếp tục con đường tu hành của mình. Nguyện lực là việc không thể thiếu của hành giả tu thiền, nó góp phần không nhỏ cho việc này. Song nguyện lực của hành giả tu Thiền không phải để vãng sinh Cực lạc mà là ra đời luôn gặp được Chánh pháp, gặp được minh sư, tu hành tinh tấn v.v… để trọn thành Phật đạo.

Tóm lại, tu Thiền hay tu Tịnh, nếu chúng ta có tâm tu hành và tu đúng với nội dung pháp môn mình đang tu thì hiện tại được lợi ích, tương lai được lợi ích, không phải chỉ cho mình mà còn cho người hữu duyên với mình.    

Chết rồi, thiêu tốt hay chôn tốt?    

Chết rồi, nghĩa là thần thức đã lìa khỏi thân và có thân mới (thân trung ấm hoặc thân ở các cõi), thì thân chết ấy chỉ là tứ đại giả hợp, không còn phần “thọ” để bị chi phối bởi việc thiêu hay chôn. Nhưng nhiều người vẫn nghĩ chôn an toàn hơn thiêu, thiêu nóng rát. Nếu thiêu nóng rát thì chôn nhất định sẽ ngợp thở. Với suy luận đó thì chỉ còn cách không thiêu cũng không chôn mới thoát được cái mé nhị biên kia. Thật ra, chỉ là những suy tưởng của người đời đối với vấn đề chôn-thiêu, không phải thực chất của nó vốn vậy.

Ngày bố tôi mất, thân được chôn ở Mạc Đĩnh Chi. Vài tuần sau, mẹ tôi mộng thấy bụng ông sình to, ruột gan lòi ra chảy nước… Bà thắc mắc thì ông nói, bây giờ thân ông đang như thế. Dù chỉ là mộng nhưng không thiếu tính trung thực. Thiêu rồi, nhất định không có việc như thế xảy ra. Ở mặt này, rõ ràng thiêu lợi hơn chôn.

Việc thiêu hay chôn đối với người chết là việc đã xảy ra sau khi thần thức lìa khỏi thân, nên nó không ảnh hưởng gì đến tâm thức người chết nữa. Vấn đề là tâm thức của người chết khi còn sống và khi sắp chết như thế nào đối với vấn đề chôn thiêu mới là quan trọng. Vì tâm có tính chấp thủ. Chính sự chấp thủ này gây bất lợi cho tâm thức người chết trong suốt quá trình tiếp theo khi việc chôn cất không như ý mình muốn. Nếu người chết vẫn nghĩ thiêu nóng, chỉ muốn chôn mà người sống không đủ khả năng để lý giải hay thuyết phục thì nên theo ý người chết, dù ý đó trên thực tế không có giá trị xác thực.

Có thuyết cho rằng thiêu thì con cháu đời sau làm ăn không phát đạt, chôn thì giữ được giềng mối cho dòng tộc… Nói vậy là lấy việc chôn hay thiêu làm cái nhân quyết định sự sung túc cho dòng tộc. Như vậy là phủ nhận lý Nhân quả và tính đồng nghiệp mà Phật đã nói.

Trên thực tế, không phải gia đình nào có người chôn thì dòng tộc cũng phát đạt, gia đình nào có thân nhân hỏa táng thì gia đình đó con cháu không phát đạt. Dì chồng tôi khi chết cũng được mang chôn, nhưng người con trai ra tù vô khám nhiều bận, giờ thần kinh cũng không ổn định. Bố tôi ngày trước cũng chôn, nhưng gia đình xuống dốc một cách kinh khủng. Sau này, con cái biết đến chùa chiền, biết bố thí cúng dường v.v… thì cuộc sống mới đổi khác. Giải phóng vào mộ ông cũng phải bốc và mang thiêu. Điều đó cho thấy lý thuyết “Chôn để giữ gìn giềng mối cho con cháu đời sau được sung túc” không phải là lý thật ở đời này. Nếu nó là lý thật thì nó phải chi phối mọi sự vật, mọi hiện tượng như lý Nhân quả. Nhưng đã có nhiều trường hợp xảy ra không theo hướng đó thì biết lý thuyết ấy không mang tính xác thật. Chỉ là một sự suy đoán trùng lập. Nhưng với cái nhìn hạn hẹp của người đời, chúng ta thấy như chính sự việc ấy tạo ra cái nhân khiến cái quả thành hình.

Kết luận

Hiện tại nếu chúng ta có tâm tu tập và tu tập tốt thì dù là tu Tịnh hay tu Thiền, thảy đều được lợi ích trong hiện tại và lúc lâm chung. Vấn đề là phước nghiệp chúng ta không được tốt, nên không gặp được thầy lành bạn tốt, hoặc gặp được thầy lành bạn tốt rồi, lại không chịu tu. Đó là lý do khiến chúng ta không thể áp dụng Phật pháp vào đời sống để tìm thấy an vui trong hiện tại và được yên ổn khi ra đi.

Nguyện tất cả chúng ta luôn gặp được Chánh pháp và minh sư, tâm cũng thuận thảo thích ứng được với những gì minh sư ấy chỉ dạy, để có thể ứng dụng Phật pháp vào đời sống thường nhật của mình, giúp hiện đời được an vui, tương lai được an vui. 

Chân Hiền Tâ

 

ĐỊA NGỤC CÓ THẬT KHÔNG?

Theo kinh điển Phật giáo thì địa là chỗ còn ngục là hình phạt đau khổ. Vì thế khi chúng sinh khi còn sinh tiền tạo quá nhiều nghiệp ác thì sau khi chết phải thọ sanh vào chỗ chịu những hình phạt đau khổ thì đó gọi là địa ngục. Cũng theo Phật giáo thì Địa Ngục không phải là cõi giới có 18 tầng với bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa lăm le để trừng phạt con người như người Trung Hoa đã vẽ trong kinh sách. Thật ra Địa Ngục chỉ do Nghiệp Thức biến hiện bởi vì tự thể chính địa ngục cũng chỉ là cái Không. Khi một người chết thì thần thức thoát khỏi thân xác trong một trạng thái mơ hồ, tối tăm mê muội trong khoảng ba, bốn ngày.

Lúc bấy giờ chính thần thức cũng không nghĩ rằng mình đã chết và dĩ nhiên cũng không biết mình sẽ đi về đâu. Những nghiệp thức hiện đến làm cho thần thức cảm nhận những điều ghê sợ. Lúc bấy giờ có một thứ gió Nghiệp (Nghiệp Phong) nhẹ nhàng thổi đến đưa nghiệp thức vào nơi không phương hướng bềnh bồng như một con thuyền không người lái trên đại dương mênh mông. Tiếp theo là những vầng sáng lạ lùng tỏa ra hòa với những âm thanh kỳ lạ mà thần thức chưa từng được nghe thấy như lúc còn sống ở thế gian.  Chưa hết những hình tượng đầy vẻ ma quái rùng rợn của những con vật mình người đầu thú, hung tợn, gầm gừ như muốn nhảy tới phanh thây, nhai  nuốt người chết. Sau cùng là những khối lửa lớn ngùn ngụt phụt lên từ mọi phía cùng với giông tố sấm sét chớp lòa làm cho Thần Thức kinh hoàng. Tất cả những hiện tượng kinh hoàng đó thật ra đều do nghiệp lực mà chiêu cảm nhưng Thần Thức không biết mà tin là thật cũng giống như nếu để một em bé trước một cái TiVi lớn có hình ảnh sấm sét kinh hồn làm cho đứa bé tin là thật mà khóc thét lên.

Vì do nghiệp lực chiêu cảm và Thần Thức vẫn còn mê mờ tăm tối nên nó càng thấy nhiều cảnh tượng kinh hoàng làm cho nó càng sợ hãi và tìm cách trốn tránh bất chấp đó là chỗ nào.  Bây giờ nếu nghiệp cảm của người chết muốn sinh vào cõi địa ngục thì trong thời điểm nầy Thần Thức sẽ thấy một khoảng mờ ảo với âm thanh trầm buồn lặng lẽ. Thần Thức nghĩ rằng đây chính là một nơi yên lành có thể dung thân trong giai đoạn nguy hiểm nên mới dấn thân vào đó.Từ đó tất cả những nghiệp thức sẽ phát sinh ra những cảnh giới như nhà cửa, đường xá… Thần thức sẽ thấy những căn nhà có màu sắc đen hay trắng đục và có vẻ mờ ảo lung linh. Còn đường xá thì như chìm dưới lớp sương màu xám tro và thỉnh thoảng lộ ra những đoạn gập gềnh, hang lỗ tối đen. Cảnh vật nơi đây thì vô cùng lạnh lẽo, âm u và vắng lặng và cũng có nơi nóng ran như thiêu đốt. Dần dần Thần thức cảm nhận những sự nóng lạnh rất rõ ràng như khi còn sống ở thế gian. Nếu người chết bị đọa vào Hỏa ngục thì Thần Thức trước tiên cảm nhận một sự lạnh lẽo ghê hồn xuyên qua Thân Trung Ấm khiến họ mong mỏi có cơ hội thoát khỏi cái lạnh khủng khiếp nầy. Tư tưởng nầy vừa xuất hiện đã làm phát sinh một làn hơi nóng ấm từ đâu đó thoát ra khiến họ vô cùng mừng rở và dĩ nhiên Thần Thức vội vàng tìm đến đó. Thế là họ tức thì rơi vào Hỏa ngục mà chính họ không hay biết gì. Nên nhớ tất cả những cảnh tượng chợt biến chợt hiện đó đều do Nghiệp Cảm tạo thành cho nên khi lòng nghĩ đến điều gì thì hình ảnh liên quan sẽ hiện ra như có thật trước mắt.

Thân Trung Ấm là thân không có xác thịt mà chỉ lấy tư tưởng làm thân nên tất cả đều không thật mà chỉ là giả tướng. Nếu đã là không thật thì không có gì phải khiếp sợ. Người có tu đạo thì họ làm chủ được Thần Thức của mình nên dễ dàng tránh xa những cảm nhận thích nghi với những âm thanh và ánh sáng dễ chịu mà thoát ra khỏi lục đạo.Nếu lỡ đã sa vào Địa ngục hay chạm trán với quỷ sứ Ma Vương thì cũng chỉ là đối diện với hư ảnh mà thôi. Bởi vì tất cả những hình tượng ấy đều do nghiệp thức biến hiện và tự thể của nó là không thật. Nhưng trong thật tế hầu như tất cả mọi người khi chết đều rung sợ và mê mờ tối tăm trước những hình ảnh hư ảo ở cõi âm. Một lần nữa, kinh điển Phật giáo khẳng định là địa ngục không phải là nơi có các quỷ sứ hiện diện để moi tim, móc ruột, chặt tay, cưa chân hay thả tội hồn vào vạt dầu…Mà Địa Ngục chỉ là nơi tối tăm mà con người khi chết phải vào đó để thọ lãnh những đau khổ mà họ đã tạo tác trong khi còn sinh tiền.

Nói một cách khác theo tinh thần Phật giáo thì Địa Ngục không có quỷ sứ xử phạt kẻ có tội với những cực hình thê thảm mà thật ra Địa Ngục chính là cõi thế gian mà loài người đang sống. Từng giây, từng phút và từng ngày họ phải thọ báo những đau khổ, những xấu xa, những tội lỗi mà nghiệp báo đã chuyển đến cho họ sau khi họ được tái sinh. Đây chính là Địa Ngục trần gian vậy. Biết bao người hằng ngày phải sống trong thiếu thốn khổ đau. Họ bị đọa đày từ tinh thần đến xác thân thì có phải đây là địa ngục chăng? Trong kiếp quá khứ chúng ta gây nên ác nghiệp nên bây giờ thân phải chịu bệnh tật hiểm nghèo. Có người vì bệnh mà phải chịu mổ xẻ tim, gan, thận, cắt tay, cắt chân, mổ óc…Đây có phải là giống như cảnh chặt tay, cưa chân, móc óc trong cảnh địa ngục chăng? Có người trong tiền kiếp gây ra nghiệp sát hại nên khi qua đến kiếp nầy phải bị sát hại mà tệ hại hơn nữa là bị sát hại ngay khi còn nằm trong bụng mẹ tức là phá thai.  Đây có phải là địa ngục chăng?

Trong cuốn Hồi Dương Nhân Quả của Linh Tự Kỳ và sách Địa Ngục Du Ký xuất bản đời nhà Đường có ghi lại những lời đối thoại của Tế Phật cho một nhân vật tên là Dương Sinh nghe về cảnh giới của địa ngục. Dựa theo sách nầy thì địa ngục gồm có 10 điện chính và mỗi điện có 16 ngục. Sách diễn tả khá rõ ràng về kích thước và cảnh giới của mỗi điện địa ngục. Thêm nữa sách nầy cũng mô tả những gì liên quan đến cõi Diêm phù mà từ lâu trong thế gian thường hay nói đến. Chẳng hạn như cây cầu ở chốn địa ngục mà người Việt Nam hay Trung Hoa thường gọi là cầu Nại Hà. Cầu Nại Hà nầy là một trong 6 cây cầu chính ở địa ngục. Cầu treo lơ lửng trên cao và người chết vào địa ngục thì phải đi qua cầu nầy. Các quỷ sứ có nhiệm vụ áp giải tội hồn đi qua cầu.

Khi tội nhân tới giữa cầu thì các tội hồn nầy sẽ bị quỷ sứ đẩy xuống vực sâu thăm thẳm. Nơi đó vô cùng tối tăm lạnh lẽo và đầy rắn độc. Còn những kẻ ác ở thế gian khi chết đi qua cầu nầy tự nhiên tâm thức kinh động nên tự nhào xuống vực chớ không cần quỷ sứ xô xuống. Khi xuống đến địa ngục thì có 18 tầng và còn thêm 16 tiểu ngục nữa để trừng phạt tội hồn. Có lẻ tất cả đều là do óc tưởng tượng của người Trung Hoa vì có ai xuống được địa ngục rồi trở về để ghi chép quá chi tiết như thế bao giờ? Nằm mơ, nằm mộng kể lại thì ai nói gì chẳng được. Đạo Phật là đạo giải thoát mà cứ ôm khư khư những tư tưởng kinh hồn, khiếp vía ràng buộc cứng ngắt như thế thì làm sao giải thoát cho được.Riêng đối với các nhà khoa học thì quan niệm về Địa Ngục quả là một quan niệm chứa đầy tính chất siêu hình. Khó có ai thấy được rõ ràng trước mắt cõi Địa ngục và khó có ai chụp được hình ảnh của cõi Địa ngục. Cho đến nay, những nhà nghiên cứu về các hiện tượng siêu linh huyền bí cũng chỉ ở giai đoạn thu thập các tư liệu liên quan đến những gì gọi là cõi giới bên kia cửa tử mà chúng ta gọi là Địa ngục mà thôi. 

Ý NGHĨA SẮC TỨC THỊ KHÔNG

Tâm Trí

Hỏi: Gần đây, tôi có tham gia một pháp hội trong đó có một vị giảng sư trẻ giảng về Kinh Bát Nhã. Trong pháp hội này có một đạo hữu đứng lên hỏi nếu thầy nói sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, như vậy ăn cũng giống như là không ăn. Vậy tại sao mình phải ăn? Nếu thầy không trả lời được thì thầy không có tư cách giảng bài pháp này. Câu hỏi làm vị giảng sư trẻ bí lối không thể trả lời bèn cáo lỗi đại chúng rồi lui xuống.  Vậy xin hỏi ý nghĩa sắc tức thị không là như thế nào?

Đáp: Tôi xin chia phần trả lời thành 2 phần như sau:

Phần 1: Ý nghĩa của “Sắc Tức Thị Không”

Đa số chúng ta đã nghe nhắc đến “sắc tức thị không, không tức thị sắc” nghĩa là sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Nhưng nếu hiểu và lập luận là có cũng như không có, không có cũng như có, vậy là sống cũng như chết, chết cũng như sống, vậy ta đi chết hết ư? Ở nhà cũng như không ở, vậy chúng ta ra bụi ở hết ư? Đấy là một cách hiểu và lý luận sai lạc của những người chưa hiểu đạo.

Sơ lược về thâm nghĩa thì đây là câu nói trong Bát Nhã Tâm Kinh. Nếu đã nói đến Bát Nhã thì đấy là giáo lý tối thượng thừa của Phật giáo, không phải chỉ dựa vào một chút ít Phật Pháp sơ sài là hiểu được diệu lý bên trong. Bằng cớ là ba đời mười phương chư Phật nhờ thông đạt Bát Nhã mà có được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nói như thế không phải là chúng ta không thể nào hiểu được nghĩa lý của kinh Bát Nhã, mà là để cho chúng ta hiểu rằng, sắc tức thị không là nhìn từ cái nhìn của Tuệ Nhãn và Phật Nhãn, chứ không phải là nhìn bằng nhục nhãn của phàm phu.

Từ “Sắc” trong đạo Phật dùng để chỉ vật chất và những gì có hình tướng màu sắc. Chữ “Không” được nhắc đến trong đạo Phật không phải là “Ngoan Không” như lông rùa sừng thỏ, cái mà không bao giờ xẩy ra. Chữ Không được nhắc đến nhiều trong đạo Phật chính là “Chơn Không Diệu Hữu”. Như vậy, sắc tức thị không là nói đến THẬT TƯỚNG của vạn pháp và đấy chính là VÔ TƯỚNG, cái tướng KHÔNG của vạn pháp. Đến đây chắc có người thắc mắc sao lại là Vô Tướng, rõ ràng tôi thấy có nhà cửa, xe cộ, sông núi tại sao lại bảo là không? Xin thưa, nếu nhìn bằng nhục nhãn là như thế. Tuy nhiên, nếu truy nguyên ra nguồn gốc thì chẳng có cái gì là nhà cửa hay xe cộ gì cả. Vì sao thế? Vì những cái có hình tướng đó KHÔNG CÓ TỰ TÁNH CHƠN THẬT. Tất cả cũng do nhân duyên tạm bợ nương gá nhau mà thành. Hết duyên thì tan rã rồi trở về với cát bụi hư vô. Không có gì là tự thân riêng biệt của chính nó cả. Vậy, nếu có vị nào hiểu được từ cái không mà do nhân duyên nương gá nhau để hợp lại thành cái có (ví dụ như là thân này, nhà cửa, xe cộ, sông núi) khi hết duyên mọi thứ tan rã, và từ cái có lại trở về với không, mỗi giây phút chúng ta đang sống thì cũng đồng nghĩa là chúng ta đang dần dần chết, v.vv.. thì quý vị đã hiểu được ý nghĩa sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc là không, không là sắc. Câu nói “phiền não tức bồ đề” cũng là từ ý này.

Phần 2: Tư cách của người học pháp và hỏi pháp

Vấn đề Phật Tử tại gia có trình độ Phật Pháp cao hơn những vị xuất gia là một điều đáng khen. Tuy nhiên, nếu đem sự hiểu biết đó để hý luận, tranh chấp hơn thua, để đề cao cái ngã mạng của mình, không đem sự hiểu biết đó góp phần gìn giữ Chánh Pháp, thì đấy là tư cách không nên có của một người học Phật. Khi học pháp hay hỏi pháp, chúng ta nên học làm sao, hỏi làm sao để sự học hỏi đó đem lại lợi lạc cho bản thân và cho tất cả mọi người, và đừng nên có thái độ “bắt bí” người khác. Giá như trong pháp hội vị đạo hữu này dùng sự học hiểu của mình để trợ giúp thêm phần giảng của vị giảng sư trẻ thì hay biết bao nhiêu?

Mỗi khi vào chùa chúng ta đều thấy các pho tượng hộ pháp trấn giữ ở các chùa. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi các vị hộ pháp này là ai hay không? Từ các bài học lịch sử đã cho thấy những ông hộ pháp bằng đất, bằng xi măng không thể nào bảo vệ được Chánh Pháp khi có trộm cướp hay binh biến giặc loạn. Nhưng chính quý vị là những vị hộ pháp, đã gìn giữ Chánh Pháp của Phật cho đến nay là đã gần 2600 năm. Vậy thì xin quý vị mãi là những vị hộ pháp chứ không phải là con cháu của ma vương, đi đâu cũng nhiểu loạn đại chúng, và ngăn trở sự truyền thừa của Chánh Pháp!!

Chúng ta trì tụng Bát Nhã tâm kinh, bản toát yếu của giáo pháp Bát nhã luận giảng về tính không. Kinh điển dạy rằng: ngũ uẩn không có sự tồn tại cố hữu, điều đó biểu lộ về tính không của Pháp và tính không của cái tôi. Tinh túy của Bát nhã Tâm kinh là: Tất cả chư Phật, an trụ trong tam thế tỉnh thức viên mãn và thấu suốt, cũng y theo Trí huệ Bát-nhã mà được vô thượng, chánh đẳng, chánh giác. Chứng ngộ tính không được tạo ra trực tiếp bởi Bồ đề tâm tỉnh giác là nền tảng của trí tuệ Bát nhã.

Tính không là gì? Sắc tức thị không; không tức thị sắc. Nếu chúng ta suy xét và phân tích kỹ càng về sắc, chúng ta sẽ không thể thấy bất cứ thứ gì tồn tại một cách cố hữu cả. Mọi thứ đều tồn tại trong mối liên hệ với sự vật khác. Sắc tướng và tính không đều có sự tương tác lẫn nhau.

Trong lần chuyển Pháp luân thứ nhất, đức Phật đã dạy nhiều về tính không của cái tôi, còn trong lần chuyển pháp luân thứ hai, ngài giảng kỹ hơn về tính không của Pháp, hợp uẩn thân- tâm là nền tảng tạo nên con người cũng được hiển lộ trong lần chuyển pháp luân này. 
(Trích lời giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết tại chùa Điều Ngự ngày 20 tháng 6 năm 2016)

HƯƠNG LINH CÓ BỊ ĐOẠ ĐỊA NGỤC?

TT. Thích Nhật Từ

Câu hỏi: Thưa Thầy sau khi con người qua đời được 49 ngày mà vẫn chưa được tái sinh vào cảnh giới khác có phải là đã bị đọa vào cảnh giới ngạ quỷ không?

Trả lời: Hoàn toàn không có chuyện đó. Có 2 vấn đề mà chúng ta cần lưu tâm. Thứ nhất, theo lời dạy nguyên gốc của đức Phật, sau khi kết thúc sự sống, con người không hề bị mất đi. Chết không phải là dấu chấm cuối cùng của cuộc đời. Con người và vạn vật sau khi chết tiếp tục tái sinh. Sự tái sinh này do nghiệp chi phối 100%, không hề có một tác nhân nào làm công việc trung gian sắp xếp cảnh giới tái sinh ở chỗ này hay chỗ nọ như trong các tôn giáo nhất thần, đa thần đã chủ trương.

Đức Phật dạy trong một số kinh và dựa vào những lời dạy đó ta có thể kết luận rằng: sau khi kết thúc sự sống, phần lớn đối với những người có nghiệp cực ác hay cực thiện thì sự tái sinh của họ diễn ra trong tích tắc, tức trong vòng vài ba giây là họ đã có mặt trong một kiếp sống mới. Đối với những người bị vướng kẹt vào sự tiếc nuối về tình yêu, tình thương, gia tài, sự nghiệp, oán hận, oan ức... thì tiến trình tái sinh có phần muộn hơn. Muộn không có nghĩa là kéo dài tình trạng đó theo ý muốn của mình được. Thời gian tối đa được kinh điển Đại thừa, đặc biệt kinh dia tang bo tat bon nguyenkinh Địa Tạng cho biết là 49 ngày. Sau 7 tuần thất không có một chúng sinh nào, dù là con người hay con vật có thể tiếp tục tồn tại trong cảnh giới trung gian. Đây là điều mà các Phật tử cần phải lưu tâm để không mê tín dị đoan.

Các nhà ngoại cảm trong vòng 30 năm qua tại Việt Nam đã vẽ vời rất nhiều câu chuyện hoang đường. Rằng: họ có thể đối thoại được với các hương linh dưới âm phủ sau khi các hương linh đó chết vài trăm năm, vài chục năm, vài năm. Họ còn nhắc lại các câu chuyện lâm li bi đát hoặc có những câu chuyện đầy ắp tình người. Tất cả những chuyện đó không có thật.

Theo đức Phật thì không có âm phủ dưới lòng đất. Các hương linh sau khi chết sẽ không bám víu ở mộ huyệt, không bám víu ở nơi mà cái chết diễn ra, không bám víu vào nơi thờ tự tức là từ đường hay bàn thờ, cũng không bám víu vào di ảnh hay các đoạn băng video chứa đựng hình ảnh của mình. Lý do họ không thể bám víu được là vì: nghiệp quyết định tiến trình tái sinh của mỗi người sau khi chết.

blankKinh Na Tiên Tỳ Kheo đưa ra một ẩn dụ rất có chiều sâu: Tử tù 2 ngày nữa là bị tử hình, đến gặp phán quan nài nỉ rằng: “Hãy cho tôi ân huệ cuối cùng là về thăm vợ con cha mẹ thì tôi chết vẫn thấy hài lòng”. Phán quan trả lời: “ theo luật nước, tôi không thể cho anh trở về thăm người thân. Hai ngày sau khoảng 3-4h khuya chúng tôi sẽ cho anh ăn bữa ăn cuối cùng, bịt mắt anh lại, dẫn ra pháp đình, cho anh nói lời cuối cùng, sau đó sự sống của anh phải bị kết thúc”. Tử tù nài nỉ: ‘nếu phán quan sợ tôi có thể tẩu thoát trong giai đoạn đưa tôi về nhà người thân thì hãy còng, trói bằng nhiều phương pháp khắt khe, cho đội kỵ binh giỏi nhất đi theo tôi’. Phán quan trả lời: ‘việc đó là không thể được”.

Câu chuyện ẩn dụ này cho ta những gợi ý về lời nài nỉ của tử tù tượng trưng cho tâm lý tiếc nuối gắn kết với tình yêu, tình thân, gia tài, sự nghiệp, oan trái, hận thù… mà thỉnh thoảng chúng ta bị vướng kẹt một thời gian nhất định nào đó. Nhưng, theo quy luật tái sinh, tất cả chúng ta không thể trì hoãn tiến trình đó, không thể lũng đoạn, thương lượng được với tiến trình đó, không thể hối lộ để tiến trình tái sinh đó diễn ra chậm hơn mà theo đó chúng ta có thể được tồn tại trong cảnh giới trung gian. Về sau này Phật giáo Trung Quốc, do tác động của các phong trào mê tín dị đoan có sẵn tại Trung Quốc, lại có khuynh hướng cho rằng người chết có thể tồn tại dưới chín suối, âm phủ bằng cách này hay cách khác dưới hình thức là ngạ quỷ.

Ngạ quỷ được họ “đánh đồng” với địa ngục và ngược lại. Đó là các quan điểm rất sai lệch và ngược lại phần lớn nội dung đức Phật giảng dạy về bản chất của tái sinh. Là người tu học Phật chúng ta không nên bận tâm đi tìm hài cốt của những người thân đã mất tích hay đã chết trong quá khứ vì chúng ta biết rất rõ, nhiều nhất trong 49 ngày, mà phần lớn chỉ là vài phút, tất cả các người chết phải tái sinh theo nghiệp.

Thứ hai, cảnh giới ngạ quỷ được đạo Phật đề cập đến thật ra là cảnh giới trung gian, không giống như con người đang sống trên mặt đất, vạn vật đang sống trong vũ trụ này. Vào thời đức Phật chỉ có 3 cảnh giới phàm phu: con người, động vật và cảnh giới được tạm gọi ngạ quỷ (tức sau khi con người và động vật chết do sự luyến tiếc sẽ tồn tại trong cảnh giới trung gian ). Phật giáo Trung Quốc nhấn mạnh đến tính chất trung gian này, nên tạm gọi đương sự chết trong cảnh giới trung gian đó là thân trung ấm. Thực tế trong giai đoạn chờ tái sinh không có hương linh nào có thân thể. Do vây, khi gọi là thân trung ấm sẽ dẫn đến ngộ nhận lớn là sẽ có một cảnh giới sống ở đó có thể tồn tại hoặc 5 năm, 10 năm, 20 năm, 30 năm, vài chục năm, vài trăm năm.,…nhận thức này đã dẫn đến rất nhiều ngộ nhận .

Các ngộ nhận này phần lớn xuất phát từ sự hiểu sai của Phật giáo Trung Quốc đối với lời dạy nguyên gốc của đức Phật về tiến trình tái sinh. Do đó, chúng ta cần thấy rõ, ngạ quỷ chỉ tồn tại nhiều nhất là 49 ngày sau khi chết. Ma quỷ mà dân gian thường đề cập đến có nghĩa đen tương đương với hương linh, tâm tái sinh, thức tái tục trong triết học Phật giáo. Nếu họ chưa được siêu trong 49 ngày không thể có khả năng hại con người, đeo phá hay nhập vào con người. Tất cả các khái niệm nói về chứng bệnh như bệnh “mắc đằng trên”, “mắc đằng dưới”, “ma nhập”,“quỷ ám” thực ra chỉ là những ngộ nhận hoặc mê tín dị đoan. Các hiện tượng vừa nêu nói theo y khoa ngày nay là sự rối loạn tâm thần đa nhân cách, một loại tâm thần phân liệt cần phải được điều trị y khoa, ma không nhập không bám vào con người được nếu họ chưa siêu. Thời gian tồn tại nhiều nhất là 49 ngày, trên thực tế khoảng 95% tồn tại nhiều nhất là vài phút.

Kinh Na Tiên tiếp tục đưa ra một sự kiện: trong vũ trụ bao la này, hành tinh chúng ta có sự sống con người và có những hành tinh khác ngoài hành tinh của chúng ta cũng có sự sống của con người, sẵn sàng tiếp nhận tâm thức tái sinh sau khi chết. Sự tái sinh diễn ra theo cơ chế: cộng nghiệp của người mới vừa chết và cha mẹ của người sắp được sinh ra đó có một mẫu số “na ná” với nhau, để sinh ra chịu trách nhiệm trực tiếp về gien di truyền, màu da, vóc dáng, hình thù đồng thời tiếp nhận văn hóa, phong tục, tập quán,….nói chung là cộng nghiệp của gia tộc đó.

Như vậy chúng ta thấy: hiện nay hơn 7 tỷ người trên hành tinh có rất nhiều người có cùng mẫu số nghiệp. Cho nên, nếu sinh ra không tiếp tục làm người Việt Nam thì cũng sinh ra làm những người có cộng nghiệp, mà mẫu số của cộng nghiệp đó tương đương với mình. Và trong vũ trụ bao la như thế, nửa ngày bên đây là nửa ngày bên kia, đêm của nửa vòng trái đất này là ngày của nửa vòng trái đất khác, bất cứ thời điểm nào trên hành tinh này cũng có sự quan hệ giới tính giữa nam và nữ, giữa người mẹ với người cha. Vì vậy, thức tái sinh sau khi sinh vật kết thúc hơi thở, thoát ra khỏi cơ thể và có mặt trong bào thai của một người mẹ hay của một giống cái để tiếp nhận cộng nghiệp mà mình đã gieo tạo. Nhận thức này sẽ giúp cho người Phật tử không còn tiếp tục rơi vào mê tín dị đoan rằng: người thân của tôi sau khi chết báo mộng, than vãn dưới âm phủ lạnh lẽo, không có tiền xài, đói khát,...cần phải cúng cái này làm cái nọ, đốt giấy vàng mã mới yên tâm. Đó chỉ là ức chế của tình thương do khi còn sống chúng ta có mối quan hệ quá mật thiết với người chết và mình chưa làm tròn bổn phận cho nên khi ngủ dưới điều kiện phòng quá nóng, quá lạnh, ngủ nằm sấp, gối cao, ngủ co quắp,….không được thoải mái,cơ thể mệt mỏi, kiệt sức... chúng ta thường có những giấc mộng, những giấc mộng đó liên hệ với người quá cố hoàn toàn không phản ánh điều gì trong thế giới hiện thực. Các hiện tượng báo mộng không phải là dấu hiệu cho thấy rằng người thân của chúng ta chưa được tái sinh.

Các Phật tử cần tin vào lời Phật dạy: sau 49 ngày làm lễ cúng thất tại các chùa nên tin rằng người thân của chúng ta đã tái sinh, từ đó, ta không phải khổ đau, luyến tiếc, buồn rầu, lo lắng nữa. Đến những ngày kỵ giỗ lần thứ nhất, lần thứ hai và những ngày giỗ về sau mặc dù biết những người thân đó đã tái sinh, ta vẫn cúng như là một biểu hiện văn hóa của sự nhớ ơn và đền ơn trong ứng xử với ông bà, cha mẹ, tổ tiên. Nhờ đó mà truyền thống văn hóa hiếu thảo trong gia tộc được di truyền. Các hương linh sau khi chết không thể trở thành ma quỷ như trong phim ma của Hoa Kỳ, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác. Do vậy, người Phật tử tại gia không cúng cô hồn tại nhà mình cũng không sợ ma vì ma không thể hại mình được. Tất cả đều phải tái sinh phần lớn là vài ba phút sau khi chết chứ không còn đó để hại mình hay gây trở ngại như người ta đã suy nghĩ.

(Giảng tại chùa Hoa Nghiêm, Pháp, ngày 12/07/2014)

ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ, TÂY PHƯƠNG TAM THÁNH CÓ TIẾP DẪN NGƯỜI TU KHÔNG?

Thích Giác Chinh

Nhân việc nhiều người hỏi:


- Đức Phật A Di Đà, Tây phương Tam thánh có tiếp dẫn người tu không?

Đáp:

- Câu trả lời là Không, không thể có chuyện đợi đến lúc trút hơi thở cuối cùng ra đi rồi tiếp dẫn đón về thế giới Tây phương, vì như vậy là sai ngược với giáo pháp Nhân quả, ngược với Chân lý Tứ diệu đế.

Vì vậy, hãy từ bỏ cách niệm Phật mê tín, nó sẽ không dẫn đến con đường giác ngộ chân lý tối hậu, người tu có trí và tuệ giác giác ngộ không ai chọn tịnh độ mê lầm, thiếu chánh kiến.

Hỏi: Vậy lâu nay, Tôi (con) đã niệm Phật tiếp dẫn thì bây giờ có phải đã quá muộn rồi không?

Đáp:

- Pháp giác ngộ tĩnh thức không bao giờ muộn khi một người trí quay đầu và bắt đầu thực hành giáo pháp. Đó là giáo pháp Bát chánh, con đường đưa đến an vui, tĩnh thức, tịch tịnh, giác ngộ, chứng đạt chân lý. Đó là pháp hành của người tu có chánh tri kiến.

Hỏi:

- Nhưng như vậy, lâu nay và đến lúc này Tôi (con) đã biết, có phải rằng là đã quá hoang mang, con không thể ngồi thiền thì làm sao?

Đáp:

- Đâu phải ngồi thiền mới giác ngộ!

Phật giáo đề cập đến đặc tính Vô thường, Vô ngã là bản chất của tất cả sự vật hiện tượng dù thuộc vật lý hay thuộc tâm lý. Như vậy, một thế giới Tây phương và một Phật Di Đà tiếp dẫn (hoặc Tây phương Tam thánh tiếp dẫn về tịnh độ) được xác định như thế nào khi mà tất cả đều luôn thay đổi, biến chuyển, không có một tự tính tự tồn nhất định?

Với nguyên lý hệ thuộc (điều kiện, nhân duyên), và tất cả đều luôn thay đổi, biến chuyển, không có một tự tính tự tồn nhất định, chính là bản chất của Phật giáo và là pháp môn - pháp hành của người Phật tử. Niệm Phật cầu nguyện để về Tây phương nó không đưa đến giác ngộ, nó làm ra con đường đẹp và cụt, nó đưa đến cuối chân tường không lối thoát và rồi nó trở thành nguy hại cho Giác ngộ giáo pháp Tứ đế do Đức Phật Thích Ca khám phá ra (khám phá chứ không sáng tạo ra).

Niệm Phật A Di Đà Tiếp dẫn và cứ mù quáng thực hành cầu, nguyện, và tin sẽ được vãng sanh về một thế giới đó là chấp ngã, nếu không muốn nói là Tà chấp, điều này trái ngược hoàn toàn với giáo pháp Bát chánh đạo trong Phật giáo.

Mong rằng, bằng cách thể hiện giáo pháp, ít ra con và đối với những ai có chút nhân duyên về Phật giáo hãy nên nhanh chóng giác ngộ điều này; nói ra để thấy pháp với tinh thần chia sẽ và từ bi chứ không phải vì phân biệt hay chỉ trích hoặc với thái độ vạch lá tìm sâu, một hành giả thực hành giáo pháp không ai làm điều đó.

Như vậy, giác ngộ hay không do chính mình lựa chọn và thực hành. An lạc và giác ngộ không thể nào ép buộc mà thành, giác ngộ và trí tuệ đến do buông bỏ mà thành chứ không phải do tiếp dẫn và cầu nguyện để được về mới được.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật giáo chỉ rõ mọi hiện tượng tâm lý và vật lý tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác. Chúng không có tự ngã, lại càng không có cơ sở tự tồn hoặc cở sở tồn tại do Thượng đế ban cho. Nếu nói rằng Phật A Di Đà có tiếp dẫn thì A Di Đà không phải vị Phật và là không khác gì một vị Thượng đế có quyền năng ban cho năng lực để có thể về Tây phương, điều này không thể và không phải là giáo pháp Vô ngã của Phật giáo.

Bản chất của sự tồn tại thế giới và sự sống chính là một dòng chuyển biến liên tục (vô thường), không do một thần linh hay Thượng đế nào sáng tạo ra, và chúng không tồn tại vĩnh hằng. Mọi sự vật hiện tượng đều vận động theo một quá trình của sự hệ thuộc vào sự sinh ra, tụ lại, biến đổi và cuối cùng là hoại diệt theo một quy luật Nhân quả nhất định. Mỗi tác động dưới một điều kiện nhất định thì sẽ tạo thành một kết quả tương ứng. Khi nhận thức rõ bản chất này, còn người sẽ hình thành nên một nhận thức tích cực trong đời sống. 

Đó chính là nhận thức của sự chấm dứt hành động bất thiện, chấm dứt một ý niệm xấu hoặc một hành động xấu và ác; và từ đó, đối với hành động thực hành pháp Bát chánh đạo của hành giả mới bắt đầu có mặt, không cầu, không nguyện và không có tiếp dẫn trong một Đạo Phật giác ngộ.

NGƯỜI CHẾT BẤT ĐẮC KỲ TỬ, THÌ NGHIỆP QUẢ SẼ RA SAO?

Thích Phước Thái

Kính bạch Thầy, nếu người sắp chết, được có nhiều người tụng kinh, niệm Phật, thì người đó niệm Phật theo, nên sau khi chết được sinh về cảnh giới lành. Ngược lại, đối với những người, họ bị tai nạn chết bất đắc kỳ tử thì sao? Kính xin Thầy hoan hỷ giải đáp điều này cho con rõ.

Điều thắc mắc này, tuy Phật tử lo hơi xa, nhưng xét kỹ ra cũng thật là chính đáng. Nhưng Phật tử đừng lo, vì xưa kia, ở thời Phật, cũng có một người thắc mắc hỏi Phật, y như Phật tử hôm nay hỏi chúng tôi vậy. 

Xưa kia, Ngài Ma Ha Nam là em bà con chú bác với đức Phật. Khi đức Phật trở về hoàng cung giáo hóa trong thân tộc, thì ông đến xin Phật cho ông Quy y giữ 5 Giới và tu thập thiện. Đức Phật tán thán sự phát tâm của ông và cho ông được toại nguyện. Từ ngày đó, ông trở thành một vị Ưu bà tắc rất thuần thành.


Một hôm, ông nêu ra vấn đề đó hỏi Phật. Ông nghĩ rằng, cả đời vâng theo lời Phật dạy tu hành, bỗng một hôm nào đó, bất thần xảy ra tai nạn, chết bất đắc kỳ tử, như vậy, thì thần thức sẽ sinh về đâu? Có bị sa đọa không? Vì chết như thế, đâu có ai hộ niệm cho mình mà được siêu thoát! 


Đức Phật không trả lời thẳng câu hỏi của ông, mà đức Phật hỏi vặn lại:

- Này Ma Ha Nam, giả như có một cái cây mà nó đã nghiêng sẵn, bỗng một hôm có người đến cưa, thì cây đó ngã về đâu ?

- Thưa Thế Tôn, cây nghiêng chiều nào, khi cưa thân cây sẽ ngã theo chiều đó.

Phật dạy: “Cũng vậy, hàng ngày ông thường tạo nghiệp lành, khi chết thì ông sẽ theo nghiệp lành mà tái sinh vào cõi lành. Ngược lại, nếu người nào hàng ngày tạo nghiệp ác, thì khi chết sẽ tái sinh vào cõi ác. Không phải chết bất đắc kỳ tử là đọa địa ngục”. Chúng ta chết nghiệp không mất, mà thần thức theo nghiệp thiện hoặc nghiệp ác sinh vào cõi lành hay cõi dữ. 

Điều quan trọng là hàng ngày chúng ta nên kiểm điểm lại mình tạo nghiệp lành nhiều hay nghiệp ác nhiều. Hiện đời mình nặng về nghiệp gì, thì khi nhắm mắt mình sẽ đi theo nghiệp đó. Căn cứ theo lời Phật dạy cho ông Ma Ha Nam ở trong Kinh A Hàm, thì chúng ta đừng lo sợ, khi chết bất đắc kỳ tử không biết có sinh về cảnh lành hay không? Vấn đề này, nếu nghiệm vào đời sống thực tế, thì chúng ta cũng thấy rõ.

Người có thói quen niệm Phật, bất thần ai làm họ giật mình, thì họ liền Mô Phật. Vậy tiếng Mô Phật đó, họ đâu có cần phải suy nghĩ. Do "tập quán nghiệp và tích lũy nghiệp" hàng ngày của họ huân tập, mà tự động họ phát ra như thế thôi. Ngược lại, người có tập quán nghiệp hay văng tục chửi thề, bất thần có ai chọc giận họ, thì họ sẽ tự động cho văng tục bằng tiếng chửi thề ra ngay, mà không cần phải suy nghĩ.

Lại như, hai người cùng đi chung một đường, một người thì ghiền cờ bạc; một người thì thích chơi kiểng. Khi đi ngang qua, có một khu vườn trưng bày đủ thứ hoa kiểng, người thích chơi kiểng liền vội ghé vào xem. Trong khi đó, người thích chơi đỏ đen, thì không ngó ngàng đếm xỉa gì đến vườn hoa kiểng đó, mà họ đi riết tới nhà chứa bài để chơi. Cũng vậy, chết là một, (dụ như cùng đi chung một đường) nhưng tùy theo nghiệp thiện ác của mỗi người mà thọ sinh có khác. 

Quan trọng là ở nơi Tập quán nghiệp và Tích lũy nghiệp. Khi hai nghiệp này thuần thục, sẽ đưa đến "Cực trọng nghiệp". Nghĩa là nghiệp nào nặng sẽ lôi đi trước. Nghiệp lành nặng sẽ lôi người đó đi vào đường lành. Ngược lại, nghiệp ác nặng, thì cũng sẽ lôi người đó đi vào con đường ác. Tất cả đều đi đúng theo luật nhân quả báo ứng, không ai thưởng phạt mình cả, mà do nghiệp thiện ác của mình dẫn dắt mình đi mà thôi.

Vậy Phật tử đừng lo sợ, cứ ráng lo tu tạo phước lành cho nhiều, thì khi chết, cũng sẽ theo con đường lành mà đi. Tuy nó không được thắng duyên bằng khi mình chết có người hộ niệm nhắc nhở, vì lúc đó, tín tâm hướng về Phật của mình mạnh hơn, nên sẽ được vãng sinh về cõi Phật. Nhưng có điều, theo lời Phật dạy cho ông Ma Ha Nam ở trên, thì chắc chắn sẽ không bị đọa vào đường ác vậy.

Kính chúc Phật tử tinh tấn tu hành, để khỏi phải lo sợ sau khi chết không như ý sẽ bị rơi vào đường ác.



Ý NGHĨA CỦA HAI CHỮ LĂNG NGHIÊM VÀ NGUYÊN NHÂN NÀO PHẬT NÓI CHÚ LĂNG NGHIÊM.

Thích Phước Thái

Hỏi: Mỗi buổi sáng sớm, con thường trì chú Lăng Nghiêm, nhưng con không hiểu nghĩa Lăng Nghiêm là gì? và nguyên nào mà Phật nói bài chú đó? Kính xin thầy giải thích cho con được rõ.

Đáp: Lăng nghiêm, tiếng Phạn là Suramgama, nói đủ là “Thủ Lăng Nghiêm”, Trung Hoa dịch là “Đại Định Kiên cố”. Nghĩa là cái bản thể chơn tâm sẵn có của tất cả chúng sanh và chư Phật. Vì thể của nó rộng lớn không có giới hạn ngằn mé, bao la trùm khắp cả pháp giới, nên gọi là “Đại”. 

Tâm thể nầy xưa nay vốn là thanh tịnh, không có tán loạn, thường hằng vắng lặng, không lay động dời đổi, nên gọi là “Định”. Vì tính chất của nó không dời đổi, thấu xưa suốt nay, thường hằng bất động, ở nơi thánh không tăng, ở nơi phàm không giảm, hằng hữu bất hoại, nên gọi là “Kiên cố”. Đại khái, đó là nghĩa của ba chữ “Thủ Lăng Nghiêm”, tức là “Đại Định Kiên Cố”.

Nguyên nhân Phật nói thần chú Lăng Nghiêm là vì Tôn giả A nan mắc nạn Ma đăng già. Ngài A nan bị nàng Ma đăng già dùng chú thuật Ta tỳ ca la tiên Phạm thiên ép buộc tình duyên … Lúc đó, Tôn giả A Nan rất buồn rầu, thành kính  hướng về đức Phật, mong  đức Phật đoái hoài thương xót cứu độ giải nạn cho Ngài. 

Phật biết Ngài A Nan bị nạn, nên sau khi thọ trai, Phật không thuyết pháp như thường lệ mà trở về tinh xá ngay và rồi Ngài ngồi kiết già, trên đảnh phóng hào quang, có hoa sen ngàn cánh, trên hoa sen có đức Hóa Phật ngồi kiết già, nói thần chú Lăng Nghiêm. 

Phật bảo Ngài Văn Thù đem thần chú ấy đi đến chỗ nàng Ma đăng già , để phá trừ tà chú, cứu nạn cho A Nan. Ngài A nan được kịp thời cứu thoát và sau đó Phật độ luôn cho nàng Ma đăng già tu hành trở thành bậc A la hán. Đó là nguyên nhân có ra năm đệ thần chú Lăng Nghiêm mà chư Tăng Ni cũng như quý Phật tử thường trì tụng vào mỗi buổi khuya. 

Ở nhà có tụng chú Lăng Nghiêm được không? Hỏi: Thường thì ở trong chùa chư Tăng Ni hay tụng Chú Lăng Nghiêm và Đại Bi Thập Chú vào buổi khuya. Vậy xin hỏi không biết hàng cư sĩ tại gia chúng con có trì tụng được không?

Đáp: Tất nhiên là được. Chỉ sợ chúng ta lười biếng không tụng trì đó thôi. Tụng kinh trì chú là điều rất tốt. Như đã nói, sở dĩ có chú Lăng Nghiêm là do Ngài A Nan bị mắc nạn Ma đăng già, nên Hóa thân Phật nói thần chú và Bồ tát Văn Thù lãnh sứ mạng tụng chú để giải nạn cho tôn giả A Nan. 

Chính vì lý do đó, nên trong các thiền môn thuộc hệ phái Phật giáo Bắc tông, còn gọi là Phật giáo Phát triển ( Đại thừa ), đều có trì tụng vào mỗi buổi khuya. Tại sao không trì tụng vào những thời điểm khác mà phải trì tụng vào buổi khuya? Trong thiền môn có hai thời khóa căn bản, gọi là nhị thời khóa tụng. Buổi tối là thời Tịnh độ, tức tụng Kinh A Di Đà. Buổi khuya thì tụng năm đệ chú Lăng Nghiêm và Đại bi thập chú. 

Vì buổi khuya khí trời mát mẻ trong lành và cảnh vật yên tĩnh. Thần khí con người mới ngủ thức dậy cũng tỉnh táo mạnh mẽ hơn. Thần chú có năng lực rất mạnh, nên rất thích hợp với sự định tỉnh của thời điểm nầy. Do đó, người tụng chú ngoài phần tự lực nhiếp tâm ra, còn có sức gia hộ mạnh mẽ của long thần hộ pháp.

Như thế, thì bất luận Phật tử xuất gia hay tại gia, tất cả đều có thể trì tụng được hết. Phật tử đừng có lo ngại chi cả. Điều quan trọng là khi trì tụng chú, chúng ta cần phải nhiếp tâm thật kỹ. Như thế, thì rất dễ nhiếp phục vọng tưởng phiền não. Phiền não vọng tưởng không có, thì ngay lúc đó tâm ta sẽ được an định thanh thoát, nhẹ nhàng. Đó là ta đã có được hạnh phúc phước báo rất lớn vậy.

TỤNG KINH CẦU SIÊU THÌ CÓ SIÊU ĐƯỢC KHÔNG?

Thích Nhật Từ

(Giảng tại Hội trường Đông Đô, TTTM SAPA, Praha, Czech, ngày 27/07/2014)

Làm Gì Khi Chúng Ta Gặp Thị Phi?

Thích Nữ Huệ Nhàn

Thị phi là một yếu tố hiển nhiên trong cuộc sống nó giống như gió bụi  giữa hư không . Thị phi hiểu đơn giản là dư luận, là lời đồn, Trong đó tiếng Hán Việt thì “thị” là đúng, “phi” là sai, “thị phi” đi chung với nhau ý muốn nói miệng đời không lường được, ai muốn nói đúng nói sai thế nào thì nói.

 Các pháp tương đối ở thế gian luôn tồn tại hai phạm trù đối lập đó là trắng và đen, thương và ghét, đêm và ngày, buồn và vui vv…Tuy nó là những cặp tương phản nhau nhưng luôn tồn tại song song và không thể tách rời, đặc biệt nhờ vậy mà nó mới tạo nên cuộc sống. Nếu chỉ có đặc mà không có rỗng thì cái chén không có công năng chứa đựng, nếu chỉ có tối mà không có sáng con người sẽ chẳng thể làm được gì. Vì vậy đừng mong cầu rằng chỉ có thị mà không có phi.

Thị phi thỉnh thoảng làm cho người ta đau đầu, bất an, cảm thấy mệt mỏi và có khi suy sụp, mất niềm tin vào cuộc sống. Những lúc như vậy chúng ta nghĩ rằng phải tránh xa nơi này, tìm đến một nơi không có những người “big mouth” để tìm một cuộc sống yên ổn hơn. Nhưng điều đó là không thể, bởi vì ở nơi đâu có con người thì ở nơi đó có cả thiện- ác, đúng - sai.

Phần lớn thị phi phát xuất từ lòng đố kị giữa con người với nhau, bởi lẽ rằng cảm thông với nỗi khổ của người khác thì dễ mà hân hoan với thành công của người thì rất khó. Khi thấy một ai đó thành đạt hay được nhiều người yêu thương hơn mình chúng ta thường có khuynh hướng khó chịu, và tìm cách chỉ ra những lỗi nhỏ nhất của họ, soi mói đời tư của họ thay vì nhìn những những ưu điểm hay những đóng góp của họ cho mọi người. Thị phi có đôi khi là sản phẩm của tâm thức con người dệt nên. Chúng ta quan sát ai đó bằng cặp mắt nhỏ hẹp của mình từ xa rồi cho rằng họ thế này thế kia. Chúng ta đánh giá những việc làm của các bậc hiền trí qua lăng kính, qua tâm lượng phàm phu của mình mà cho đó là phải quấy, thanh ô. Tất cả nói cho cùng cũng đều là do tâm thức của chúng ta đầy ắp những phiền não, trái tim của chúng ta nhỏ hẹp không thể dung chứa được những ưu khuyết của nhân gian.

Sống trên đời không ai tránh khỏi được thị phi yêu ghét, ngay cả đức Thế Tôn hay các bậc Thánh cũng không tránh khỏi huống hồ gì chúng ta. Đứng trước những thị phi nhân ngã người thường dễ mất bình tĩnh, chạy Đông chạy Tây để phân bua hư thật, tìm cách đáp trả hơn thua cho đến cùng. Tuy nhiên kẻ trí thì an nhiên tự tại, chỉ lặng lẽ ngồi nhìn nó đến đi, sanh diệt. Bởi lẽ rằng hơn ai hết họ biết họ đang làm gì, biết làm chủ và kiểm soát tâm họ không vì những tiếng lao xao đó len lõi vào tâm để đánh mất sự quân bình nội tại. Chính vì vậy cuộc sống họ luôn thảnh thơi.

 Kinh Tứ Thập Nhị Chương Đức Phật dạy: "Có người nghe ta giữ đạo, thực hành tâm đại nhân từ, nên đến mắng ta; ta im lặng không phản ứng. Người kia mắng xong, ta liền hỏi: "Ông đem lễ vật biếu người khác, người kia không nhận thì lễ vật ấy trở về với ông không?". Đáp: "Về chứ". Ta bảo: "Nay ông mắng ta, ta không nhận thì tự ông rước họa vào thân, giống như bóng theo hình, rốt cuộc không thể tránh khỏi. Vậy, hãy cẩn thận, đừng làm điều ác".

Đặc biệt trong nhà thiền còn có câu chuyện về thiền sư Hakuin. Có một cô gái con nhà danh giá gần chùa bị chữa hoang, nên gia đình cô xem đây là việc xấu hổ, cha cô tra khảo, đánh đập rất bạo. Ban đầu cô định quyết tâm không khai nhưng sau đó cô thiết nghĩ nông cạn rằng khai đại thiền sư Hakuin ở chùa gần nhà là khỏe nhất. Vì thiền sư vốn nổi tiếng, đông đệ tử, ai cũng kính trọng, hơn nữa thiền sư vốn từ bi nên không chối, không kiện ngược hay làm khổ cô. Thế là cô khai đứa con ấy là con của thiền sư.

   Gia đình cô tức giận nhưng kiên nhẫn chờ đứa con được sinh ra buộc cô gái phải mang tới trả cho thiền sư.

   Khi gia đình cô mang đưa bé tới thả vào tay thiền sư và bảo: “Đấy, con của ông đấy, ông giữ mà nuôi lấy, đồ đạo đức giả”.

   Hakuin: “Thế à!”

   Thông tin  được loan ra và dân chúng dị nghị, nghi ngờ, xầm xì, khinh thường. Họ cho rằng ông ấy mà tu hành gì, đồ đạo đức giả… rồi đệ tử cũng dần dần bỏ ra đi gần hết.

   Không có sữa cho đứa bé, đệ tử xa lánh nên đích thân thiền sư phải bồng đứa bé ngày ngày đi xin sữa, bị người đời chê bai, dè bỉu.

   Một thời gian, cô gái thấy điều ấy thật nhẫn tâm và tội lỗi nên quyết tâm nói ra sự thật. Cô khai đứa bé đó là con của cô và chàng bán cá tanh hôi ở chợ.

   Cha mẹ cô nghe xong liền hoảng hốt, cảm thấy tội lỗi vô cùng nên tức tốc dẫn con gái tới chùa dập đầu sám hối với thiền sư và xin cháu về.

   Thiền sư nghe xong, bảo: “Thế à!”.

   Sự tình câu chuyện lại được loan ra và dân chúng cũng như đệ tử cảm phục đức nhẫn nhục và tâm lượng thản nhiên tốt đẹp của thiền sư nên lần lượt kéo về và danh tiếng lại hơn xưa.

Lời đồn xuất phát từ những tâm địa xấu, từ những cái miệng không xinh gây tổn thương đau khổ đến người khác vô cùng. Nhất là ngày nay trên hệ thống internet rất dễ dàng, chỉ có một cái click chuột là cả ba ngàn thế giới hiện ra, đủ tốt đủ xấu. Những lời đồn vì thế được truyền đi càng nhanh chóng và dễ dàng hơn. Và cũng chính vì vậy sự nguy hại của nó càng khôn lường hơn. Nó làm cho người bị đồn cảm thấy xấu hổ, tuyệt vọng, nếu không đủ sáng suốt họ sẽ nghĩ quẫn và đi tìm cái chết.

Thiết nghĩ rằng là con người ai ai cũng có những ưu và khuyết điểm trong tính cách, những sai trái trong việc làm, chẳng có ai là hoàn hảo cả. Biết như vậy chúng ta nên hiểu và thông cảm lẫn nhau để tránh gây đau thương cho nhau dù chỉ bằng một lời nói vô tình hay cố ý. Cho nên tu tập khẩu nghiệp tuy có vẻ đơn giản song có khi cả đời chúng ta không làm được. Chính vì vậy đừng vì những lời đồn của dư luận mà hùa theo đánh giá chỉ trích việc làm của một ai đó khi chúng ta không phải là người trong cuộc. Người xưa có câu  “Họa tùng khẩu xuất, bệnh tùng khẩu nhập" (Tai họa từ miệng mà ra, bệnh tật từ miệng mà vào). Nếu không muốn rước họa vào thân thì nên cẩn trọng lời nói, biết lắng nghe, biết quan sát và dùng trí tuệ để nhận định những đúng sai hư thật trên cuộc đời. Nếu gặp những thị phị trong cuộc sống thì nên bình tâm quán chiếu lại chính mình, không hơn thua, không phân bua, chỉ lặng lẽ quan sát nó đến đi như lời Thế Tôn dạy: “ Bất cứ cái gì thuộc về bản chất của sinh đều thuộc về bản chất của diệt”. Là những người học Phật chúng ta thừa hưởng cả kho tàng quý giá mà Thế Tôn đã để lại, vậy thì ngần ngại gì mà ta không đem vào trong cuộc đời mình và biến nó thành chất liệu sống, để cuộc sống mỗi ngày nhẹ nhàng và an vui hơn.

Nghịch duyên và tình huống xuất gia

Lời Ban Biên Tập:

Trong thời gian qua, chúng tôi nhận được nhiều thư và lời ngỏ ý qua các mục góp ý muốn xin xuất gia tu tại chùa hay tu viện hoặc thiền viện. Chúng tôi rất vui mừng vì ít nhất trong xã hội văn minh vật chất hiện nay vẫn còn có nhiều người có tâm nguyện chân thành, xem con đườngxuất gia như là một lý tưởng.

Để trả lời, chúng tôi xin giới thiệu hai bài viết về vấn đề xuất gia: một bài của TT. Thích Nhật Từ dưới đây và một bài do ban biên tập chúng tôi biên soạn theo link: http://thuvienhoasen.org/a23513/y-nghia-va-dieu-kien-xuat-gia
Trường hợp người muốn xuất gia nếu là vị thành niên cần phải được sự cho phép của cha mẹ là theo điều 28 chương VI của nội quy ban Tăng sự Trung ương và Luật (Tỳ-ni) nghiêm cấm việc tiếp nhận vào Tăng đoàn những người trẻ chưa có sự ưng thuận của cha mẹ. Tuy nhiên... (xem bài nghiên cứu: Về sự cho phép của gia đình để được xuất gia)

NGHỊCH DUYÊN VÀ TÌNH HUỐNG XUẤT GIA
Thích Nhật Từ

Trước khi xuất gia, ta cần có quyết tâm, thấu rõ động cơ tốt, hiểu được bản thân, xác định lý tưởng. Không nên lấy thiện cảm hay tình cảm với một vị thầy nào để làm mục đích xuất gia, vì như thế sẽ không có giá trị.

BẢN CHẤT TẠI GIA VÀ XUẤT GIA

Cách đây vài tháng, chúng tôi có dịp thuyết pháp mười ba tiểu bang ở Hoa kỳ. Đến tiểu bang nào, hầu như chúng tôi cũng được gặp và trao đổi những người có nguyện vọng muốn xuất gia nhưng không xuất gia được. Sau khi làm một thống kê nhỏ, chúng tôi đúc kết thành bốn lý do căn bản. Gồm nghịch cảnh, thói quen, tình thương, và sở hữu. Rất nhiều người có tâm nguyện chân thành, động cơ và thái độ đúng đắn, xem con đường xuất gia như là một lý tưởng. Thế mà thời gian qua đi, họ vẫn duy trì hình thức tại gia. Dĩ nhiên, chúng ta cảm thấy hơi buồn và làm tiếc cho họ. Các hạt giống xuất gia ấy, nếu được phát hiện đúng lúc, chăm sóc một cách có phương pháp, chắc chắn sau này họ sẽ trở thành những rường cột giúp cho Phật giáo phát triển vững mạnh.

Khi sống và sinh hoạt với tư cách là một người tại gia, có rất nhiều hạn chế. Trong kinh Phật thường dùng ẩn dụ về đời sống tại gia bị giới hạn trong bốn bức tường, với những sinh hoạt mang tính chất thỏa mãn các dục lạc thế gian. Người nam và người nữ khi trưởng thành lấy vợ hoặc gả chồng. Hoa trái của tình yêu và hạnh phúc đó mang lại cho họ những đứa con, và tiếp tục được nuôi dưỡng bằng nhà cao cửa rộng, tài sản, sự nghiệp, danh phận, địa vị và chức tước v.v… Tất cả những thứ này được xem là đỉnh cao hạnh phúc của người tại gia.

Đức Phật đưa ra ẩn dụ sâu sắc, sánh ví hạnh phúc đó giống như hình ảnh của con ốc hay con rùa. Dĩ nhiên, cái vỏ của con ốc hay cái mai của con rùa sẽ giúp cho hai loài vật này được sống an ổn trong môi trường mà nó được sinh ra. Mỗi khi đối đầu với con vật lớn hơn, có sức hủy diệt hay tàn phá nhiều, thì phản ứng khôn ngoan của chúng là rút đầu vào trong cái mang hay cái vỏ đó. Nhờ đó, các con vật lớn hơn không thể làm hại đến tánh mạng của chúng.

Chính cái mai hay cái vỏ này đã làm cho chúng có cảm giác đây là một sự an ổn, giả tạo. Nói cách khác, nó có giá trị thời lượng rất hạn hữu. Có đôi lúc, chúng ta cảm thấy thực sự thoải mái và hạnh phúc, nhưng phần lớn không thể duy trì được trạng thái này một cách lâu dài.

Ngược lại, đức Phật cũng đưa ra hình ảnh ẩn dụ về người xuất gia giống như bầu trời quang đãng không có mái nhà che, không có bốn bức tường bao bọc lại, nhưng có thể sống, hít thở không khí trong lành của gió thoảng, mây bay, trời xanh, thông reo hay suối chảy. Những cảnh vật xung quanh là dưỡng khí giúp cho người tu có một sức sống lạc quan, yêu đời, hạnh phúc, vững chải và an lạc. Đây là hai hình ảnh đối lập nhau, một bên có mái nhà che và một bên là sự bao la không cùng tận. Dĩ nhiên, bức tường mà đức Phật đề cập đến ở đây không phải là bức tường vật lý mà là những bức tường về thái độ nhận thức, tâm lý, tình cảm, hành động liên hệ đến đời sống vật dục. Theo tình huống của thái độ chấp mắc, bức tường này là vật vô hình nối kết ta với những người khác. Thông thường, chính thái độ chấp mắc luôn dẫn đến những khổ đau trong cuộc đời.

Trong khi đó, sự hoạch định sống với bầu trời quang đãng, thong dong, tự tại gợi cho người xuất gia có một sức sống mới: “Lấy thái hư làm nhà, phong cảnh làm bạn, chánh pháp làm thầy, đạo lý vô ngã vị tha làm tông chỉ, mang lại hạnh phúc cho mình và cho những người khác”.

Do đó, hai phương cách này dẫn đến tình huống của hai lối sống khác nhau: con đường thế trần lẫn lộn hạnh phúc và khổ đau; và con đường tâm linh, tìm giá trị an lạc bằng đời sống nội tại, vượt lên trên các giá trị hạn hữu của một kiếp người. Mặc dù, người xuất gia vẫn mang thân phận của một con người, có trái tim biết yêu thương, biết suy nghĩ và hành động để có thể đứng vững vàng trong cuộc đời, nhưng sự biết yêu thương, suy nghĩ và hành động của người xuất gia vẫn mang tính vị tha hơn. Họ lấy đức tính vị tha vô ngã làm nền tảng. Mỗi bước chân đi, mỗi một hành động của họ, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều góp phần mang lại hạnh phúc cho tha nhân.

Trong cuộc đời, không phải ai cũng có được sự may mắn phát tâm xuất gia. Đã xuất gia rồi, có nhiều người duy trì được đời sống tâm linh lâu dài với lý tưởng và hạnh nguyện dấn thân phục vụ. Một số còn lại thì bỏ cuộc nửa chừng. Đại đa số những người không thực hiện được, hoặc bỏ cuộc nửa chừng, đều do thái độ chuẩn bị tâm lý, động cơ và lý tưởng quá ít, hoặc không đúng theo tinh thần mà đức Phật đã dạy.

NHẬN DIỆN NGHỊCH CẢNH

Nghịch cảnh bao gồm thái độ nhận thức, hoàn cảnh, điều kiện và con người không thuận lợi, hoặc tiêu cực, mà chúng ta có dịp tiếp xúc. Tất cả những tâm lý tiêu cực từ nghịch cảnh đã làm cho nhiều người nhận định về đời sống của người tu chẳng khác gì so với đời sống của người tại gia.

Trong những nước phương Tây, chúng tôi có dịp tham quan và thuyết pháp, có một số nghịch cảnh làm cho nhiều người không muốn xuất gia, mặc dù họ có chí nguyện. Những nghịch cảnh đơn giản như hằng ngày họ tới chùa, nhìn thấy quí thầy, quí sư cô phải làm nhang bán, đi tụng kinh, ma chay, những việc rất đỗi thông thường. Ngoài ra, họ không nhìn thấy được những việc gì có giá trị ấn tượng hơn. Do đó, họ đã suy nghĩ rằng, đi tu là giao hết thân phận cho đức Phật, chánh pháp và những vị hướng dẫn đời sống tâm linh, liệu mình sẽ có được những giá trị an lạc gì thông qua những việc làm như thế này? Câu hỏi của họ chứa đựng nỗi niềm thao thức. Chính vì thế, người xuất gia cần thể hiện các giá trị vượt lên trên những người thông thường về nhận thức, tình cảm, cách ứng xử và các sinh hoạt khác trong cuộc đời.

Hoặc một tình huống so sánh về nội dung và hình thức,đã làm cho người phát tâm xuất gia chưa vững trở nên thối chí. Chẳng hạn như nhìn thấy quí thầy, quí sư cô ở chùa vẫn có những nỗi buồn, lời qua tiếng lại, ăn uống, ngủ nghỉ giống như những sinh hoạt hàng ngày của người tại gia. Một số đã thối chí vì nghĩ rằng khi xuất gia ta hy sinh cả tuổi đời thanh xuân tươi đẹp để được gì đây?

Nếu được ở chùa, ta sẽ được học cách ăn uống, đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, trao đổi hay tư duy có chánh niệm sẽ khác hoàn toàn với người tại gia. Sự khác biệt lớn giữa người tại gia và người xuất gia trong các sinh hoạt hằng ngày, người tại gia thể hiện như một thói quen: thích cái gì thỏa mãn cái đó, đôi lúc thể hiện thiếu sự cân nhắc, chỉ chiều theo bản ngã và thói hưởng thụ vật dục.

Trong khi đó, đạo Phật dạy người xuất gia khi ăn luôn có sự hiện diện của dòng chảy chánh niệm tỉnh thức. Khi ăn, họ đóng lại cửa ngõ của suy nghĩ, hay ký ức về mọi sự vật hiện tượng, con người hoặc các mối quan hệ đối tác. Khi ăn, họ hiểu được thực phẩm nào có lợi ích cho sức khỏe, thực phẩm nào chứa độc tố thì mạnh dạn kiêng cữ, không hành hạ thân thể bằng những chiều chuộng thông thường.

Trong lời nói và việc làm của họ cũng thể hiện tính cách từ ái, biết chia sẻ, lắng nghe, bồi đắp tình huynh đệ và các giá trị của sự vươn lên. Trong dòng chảy của tâm thức, họ có sự huấn luyện và theo dõi chánh niệm không còn những nỗi khổ niềm đau và những ước vọng mông lung. Cho nên, người xuất gia sẽ nhận thấy rất rõ các giá trị của sự tu tập. Với những phương tiện đời sống giản đơn ấy, nhưng họ vẫn tìm được những giá trị của hạnh phúc và đi suốt cuộc đời với hình ảnh và hình thức người tu.

Vì thế, khi đánh đồng hình thức sinh hoạt hằng ngày của người xuất gia giống như người tại gia, ta đã đánh mất đi cơ hội nhìn thấy các giá trị của chánh niệm tỉnh thức trong lòng hiện thực. Khi hành động của người đánh đồng bị ám ảnh bởi những điều đó, những người muốn xuất gia khó phát nguyện chân thật đi tu để mang lại lợi ích cho nhiều người. Chướng ngại này liên hệ đến nhận thức, vốn thuộc về phần chủ đạo, dẫn khởi và đạo diễn cho đời sống của chúng ta. Sự nhận thức sai lệch về khuynh hướng lý tưởng và con đường thực hiện đi theo cái ngã mà giá trị của nó lại không được gì. Vì lẽ đó, đức Phật khuyên chúng ta hãy chăm sóc nhận thức của chính mình, giúp nó đi đúng hướng và có giá trị bền bỉ, lâu dài.

NHẬN DIỆN THÓI QUEN ĐỜI

Thói quen thế tục luôn ảnh hưởng đến sự xuất gia. Thói quen này đòi hỏi sự hưởng thụ đời sống vật dục như: quần áo, thực phẩm, giải trí, hoàn cảnh sinh hoạt v.v… Nếu không có những thứ này, cuộc sống sẽ trở nên vô vị.

Các hình thức sinh hoạt, giải trí, phục vụ đời sống là cần thiết, nhưng nếu chạy theo những khuynh hướng này một cách cực đoan, con người sẽ bị biến thành kẻ nô lệ. Thói quen đó được nhận định như một dòng chảy ngấm ngầm, vô hình không thấy được, nhưng bên trong có tác động chi phối, buộc chúng ta phải ứng xử theo hình thức này mà không phải hình thức khác. Chúng ta bị sai sử theo cách này hay cách khác. Từ đó, nó tạo cho ta một phong cách riêng, làm cho ta khác biệt hơn những người khác. Khi một ai đó chạm đến sự khác biệt này, ta thường có sự biện hộ rằng: “Tính của tôi như thế, ai không chịu được thì thôi..!”. Vì suy nghĩ sai như thế, ta sẽ khó thực hiện được việc sửa đổi, cho dù những điều này liên hệ đến hạnh phúc của bản thân.

Chúng tôi từng gặp một số tình huống, các cô thiếu nữ muốn xuất gia, khi được sự khuyến khích, đã trả lời rằng: “Thưa thầy, con rất thích đi tu nhưng tu không được. Vì con rất yêu mái tóc đẹp của con. Nếu xuất gia sẽ bị cạo đầu trọc, con cảm thấy nó làm sao ấy!” Hoặc nhiều người có thói quen trang điểm son phấn, đồ nữ trang v.v… Họ cảm thấy nếu đi tu mà thiếu những thứ này thì giá trị con người sẽ bị giảm xuống.

Thực ra, giá trị nhà Phật không dựa trên những nền tảng này, vì nó là những giá trị ảo, liên hệ đến sự nhận thức về bản ngã, tầm quan trọng của mình đối với người khác. Khi ăn mặc những bộ quần áo thời trang và nữ trang đắt tiền, ta nhầm tưởng nó làm tăng giá trị đẹp cho bản thân mình, ta sẽ được nhiều người ca ngợi, nhưng thực tế không có ai quan tâm. Sĩ diện này làm cho một số người cảm thấy hạnh phúc khi được sở hữu những thứ đắt tiền và sang trọng.

Thói quen vật dục sẽ chi phối con người lớn đến độ làm cho ta mất tất cả sự tự do.Về lâu dài, có thể làm cho con người bị trói buộc, chạy theo những gì mà ta muốn, thay vì nó phải phục vụ cho những gì mà ta cần làm.

Trong Kinh Phật có câu chuyện ngụ ngôn như sau. Có một chàng thanh niên vào rừng thưởng ngoạn cảnh đẹp. Không may anh ta đã gặp cọp. Anh hoảng hốt chạy bán sống, bán chết về phía trước, nhưng càng chạy anh lại càng bị lạc sâu hơn vào rừng. Cuối cùng, anh ta không thể tìm thấy con đường phía trước. Trước mắt anh chỉ là một vực thẳm. Khi anh quay đầu nhìn lại, con cọp đã tới gần và nó sắp sửa chực vồ lấy anh. Nếu anh không có một phản ứng nhanh bằng cách nhào xuống vực sâu, chắc chắn anh đã trở thành con mồi cho cọp. May mắn thay, ở dưới vực sâu có một chùm dây tầm gửi, và anh đã vội chụp lấy chùm dây này. Chùm dây đã đánh đong đưa qua lại làm cho thân thể của anh cũng bị va vào trong vách núi, khiến anh ta bị đau nhức vô cùng, và tim anh đập thình thịch. Nỗi sợ hãi lúc đó đã chiếm hết tâm trí của anh. Một lát sau, ngước nhìn lên trên, anh thấy con cọp đang nhìn xuống. Ở phía trên của vực sâu có hai con chuột đang gặm nhấm chùm dây tầm gửi này, anh đã chợt nghĩ không biết nó sẽ đứt vào lúc nào?

Bi kịch của câu chuyện, thay vì phải tìm cách leo lên khỏi vực sâu để tránh cái chết đang gần kề, làm mồi cho cọp. Anh lại nhìn một chùm nho lơ lửng trước mặt, anh đã nở nụ cười rất tươi, với tay hái lấy nó, mà quên đi sự nguy hiểm ở gần kề. Anh đã ăn những trái nho đó một cách ngon lành, không còn nhớ đến mọi khổ đau đang có mặt với anh. Bi kịch này gợi lên một số suy nghĩ

Thứ nhất, nếu đứng trên phương diện kinh Phật, ta phải biết tận dụng đời sống hiện tại, sống với những gì mà ta đang có và những gì ta cần phải sống, không nên để cho những nỗi sợ hãi, khó khăn chi phối mình. Ta vẫn có thể biến nỗi khổ đau thành niềm vui. Một khuynh hướng thông thường khác mà bài kinh muốn phản ánh là thái độ, thói quen thường chi phối con người. Đó là góc độ của sự hưởng thụ, thay vì phải tìm cách thoát khỏi vực thẳm và cái chết, thì anh ta lại quay sang hưởng thụ những trái nho.

Thứ hai, nó phản ánh được rằng trong cuộc sống luôn có nhiều nỗi khổ, niềm đau. Nhiều người trong chúng ta lại không quan tâm, chăm sóc và chữa trị nó. Ta chỉ quan tâm tìm đến những nguồn vui nhất thời. Do vậy, nỗi khổ niềm đau sẽ bị tăng trưởng theo thời gian. Khi để cho các thói quen hưởng thụ chi phối cuộc đời mình, ta sẽ trở thành những cái máy. Phản ứng của ta thể hiện qua lời nói hoặc việc làm hoàn toàn sẽ không phụ thuộc vào nhận thức, mà phụ thuộc vào quán tính, thay vì ta phải ứng xử, lời nói, việc làm theo cách khác có lợi cho mình và cho người.

Chướng duyên trong đời sống vật dục làm cho nhiều người nhận thấy rằng mình không thoải mái, an lạc, hạnh phúc trong đời sống rất thanh cao và giản dị của người tu. Nghịch cảnh về thói quen trong trường hợp này liên hệ đến yếu tố nhận thức, tâm lý, vốn có khả năng chi phối tác động những hành vi trong cuộc sống. Vì lẽ đó một số người họ có nguyện vọng chính đáng, có chí nguyện xuất gia nhưng lại không dám nghĩ, vì sợ nó sẽ làm cho họ mất hết tất cả.

NHẬN DIỆN SỰ TRÓI BUỘC CỦA TÌNH CẢM

Tình cảm quyến luyến giữa chúng ta và cha mẹ, giữa vợ chồng, con cái, anh em với nhau đã tạo nên sự ràng buộc rất lớn. Sợi dây tình cảm càng đằm thắm bao nhiêu sẽ là những trở lực cho người tu nhiều bấy nhiêu.

Kinh điển nhà Phật đề cập đến người xuất gia như người đang đi trên con đường ngược dòng, và đời sống của họ được xem là đời sống của những người ngược đời. Ngược dòng và ngược đời là hai khái niệm ca ngợi sự ra đi có giá trị của họ. Theo nhà Phật, phản ánh một cách sống ngược lại với khuynh hướng hưởng thụ thông thường. Những gì mà con người cho là sự hạnh phúc tuyệt đối và lâu dài, thì nhà Phật xem nó có giá trị nhất thời, dễ bị vô thường tác động, làm thay đổi, có thể gây những nỗi khổ niềm đau cho chúng ta bất cứ lúc nào.

Có nhiều bậc cha mẹ không đồng ý cho con cái họ xuất gia, vì nghĩ rằng nếu con mình đi tu sẽ khổ. Đây là một quan niệm và nhận thức rất sai lầm.

Đức Phật Thích Ca, khi còn là một đông cung thái tử, muốn được xuất gia nhưng vua cha không cho phép. Các vị tiên tri đã dự đoán trước, sau này thái tử sẽ đi một trong hai con đường. Con đường thứ nhất, nếu là vua thì Ngài sẽ là một đấng minh quân, cai trị toàn cõi Ấn Độ, thống nhất sơn hà về một mối và có khả năng ảnh hưởng đến các nước liên bang. Ngài sẽ lấy tinh thần đạo đức làm nền tảng của chính trị. Con đường thứ hai, nếu trở thành người tu, Ngài sẽ là một nhà đạo sư lỗi lạc nhất của nhân loại. Dĩ nhiên, khi nghe điều dự đoán con đường thứ hai của đức Phật, nhà vua đã không thể chấp nhận. Ông chỉ mong muốn con mình trở thành một đấng minh quân, giúp cho dòng họ ông được trường thịnh. Từ đó, nhà vua luôn tìm đủ mọi cách để ngăn cản, không cho thái tử tiếp xúc với ai. Ông cho xây dựng ba cung điện nguy nga tráng lệ, giúp cho đời sống của thái tử được an vui hạnh phúc, để cho nhu cầu xuất gia của Ngài không có cơ hội bén rễ. Vậy mà lúc nào, trong lòng thái tử vẫn thao thức, mong muốn thuyết phục được cha mình để trở thành nhà tâm linh, hơn là một vị minh quân.

Sau đó, không còn cách nào khác, nhà vua đành chọn một cô gái đẹp nhất để lập gia thất cho thái tử. Đó là công chúa Da-du-đà-la. Vẻ đẹp và sự chung thủy của nàng vẫn không thể giữ chân được thái tử. Ngay khi nàng vừa sanh đứa con đầu lòng là La-hầu-la, thái tử đã quyết định từ bỏ cung vàng điện ngọc để ra đi. Nhiều người cho rằng ngài là một người chồng không có tình nghĩa, một người cha thiếu trách nhiệm, và một người con bất hiếu, và một thái tử vô trách nhiệm với muôn dân. Trước tình cảnh như thế, Ngài vẫn dứt khoát không hề thay đổi quyết định. Khi từ giã vợ con để ra đi, những xúc cảm dâng trào với tình thương yêu đã giằng xé đến độ Ngài phải quay trở vào lần thứ hai. Và khi đi được vài bước, Ngài cảm thấy khó chịu trong lòng, trở vào nhìn vợ con một lần nữa. Ngài đã tự chiến đấu với tâm lý dằn co. Thái độ dứt khoát giúp Ngài hy sinh tình cảm nhỏ nhoi để hướng về tình thương bao la. Cuối cùng, Ngài đã tìm thấy được bầu trời của hạnh phúc, với những giá trị của sự hy sinh, để mang lại lợi ích cho bản thân, cho gia đình mình và cho quốc gia xã tắc. Ngài đã không còn bận tâm, quyến luyến đến những tình cảm thông thường của cuộc đời.

Chúng ta thấy, nếu đi tu để khổ thì đức Phật không bao giờ từ bỏ ngai vàng, vợ đẹp, con khôn, quyền uy tối thượng để chọn con đường đi tu. Ngài nhận thấy tâm linh mới chính là con đường mang đến những giá trị và niềm hạnh phúc cao đẹp để phục vụ nhân sinh và xã hội.

Ngày nay, có một bài Thiền ca được cải biên lời lại, phản ánh rất rõ giá trị này: “Ai bảo đi tu là khổ, đi tu sướng lắm chứ …!” Thật vậy, đi tu rất sướng. Có những người khi chưa xuất gia mặt mày u ám, phiền não tràn trề, nhưng khi vào chùa, nếu tu tập đúng phương pháp trong một thời gian ngắn, tâm của họ sáng ra, chất liệu an lạc và thảnh thơi bắt đầu có mặt. Họ trở thành một con người mới hoàn toàn với tâm buông xả, lòng hoan hỷ, sự hy sinh và sự dấn thân phục vụ cho tha nhân.

Thời nay, câu chuyện về cô công chúa Thái Lan, hiện tại cũng là một người có chí nguyện xuất gia, không còn xa lạ nữa. Vì truyền thống của Phật giáo Nam Tông không chấp nhận nữ tu như trong thời kỳ của đức Phật ngày xưa. Vì thế, khi người nữ đi xuất gia ở các nước Nam Tông sẽ không có tương lai. Thế nhưng, hạt giống xuất gia của công chúa vẫn lớn mạnh. Cô quyết định không lập gia đình và tu Bát Quan Trai giới dành cho người tại gia. Cô theo học Phật và trở thành nhà Phật học. Chúng ta thấy, khi hạt giống xuất gia cấy vào trong tâm thức của con người, tuy có thể trải qua nhiều đời, hạt giống của sự tu tập đó vẫn tiếp tục phát triển lớn mạnh, khiến cho nhiều người nhận thấy đời sống của thế gian thực sự không phù hợp, không mang lại hạnh phúc cho họ.

Các bậc cha mẹ nếu nhận thấy con em mình có nguyện vọng xuất gia với lòng nhiệt huyết và niềm tin chánh pháp rõ ràng thì đừng bao giờ ngăn cản. Chính sự ngăn cản này sẽ làm cho những hạt giống đó bị biến dạng. Chúng ta là những người Phật tử, hiểu được tu là con đường đúng đắn, hãy khuyến khích, tạo điều kiện cho con em đạt thành sở nguyện đi đúng con đường lý tưởng, với những giá trị của sự dấn thân phục vụ.

Trong một số nước Phật giáo Nam Tông như Thái Lan, Lào, Campuchia, tất cả những người nam trước khi lập gia đình đều phải xuất gia tối thiểu là một tuần, ba tháng hoặc ba năm. Tu tập ở chùa với thời gian nhiều chừng nào, thì cơ hội được các cô chọn làm chồng sẽ nhiều chừng đó. Vì xã hội của họ quan niệm rằng, một thanh niên trước khi lập gia đình để trở thành một người chồng, một người cha mẫu mực, cần phải trải qua đời sống đạo đức trong chùa. Sau khi đi tu họ sẽ trở thành những người có đạo đức, có trách nhiệm với gia đình và xã hội. Họ nhận thấy việc đi tu như vậy không phải là khổ. Cứ một tháng đi tu, họ cảm thấy hạnh phúc nhiều hơn và sau những kỳ đi tu như vậy, tâm của họ được sáng ra, làm được nhiều việc thiện, giúp cho những mảnh đời bất hạnh, giải phóng khổ đau.

Sự quyến luyến về tình cảm trong gia đình là một rào cản lớn, làm cho người muốn đi tu nhưng không cắt đứt được.

Nhất là khi cha mẹ đang gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc cha mẹ đang cần sự chăm sóc, nâng đỡ của người con. Vì thế, họ đi tu rất khó, tâm không cảm thấy an ổn. Việc cắt đứt sợi dây luyến ái của người thân là việc khó làm. Những người có đời sống không được hạnh phúc với gia đình, vợ chồng, con cái, hoặc anh em ra đi rất dễ. Sự ra đi trong trường hợp này giống như một quá trình giải phóng, mang lại cho ta niềm vui lớn. Ngược lại, những tình cảm gia đình nồng nàn, hạnh phúc trong đời tại gia sẽ là một thử thách, rào cản và những trở lực lớn đối với những người có chí nguyện xuất gia.

TÀI SẢN TRÓI BUỘC NGƯỜI TẠI GIA

Sở hữu tài sản cũng là sợi dây ràng buộc đối với người xuất gia, làm cho họ khó có thể rời bỏ để ra đi. Những ràng buộc đó gồm: tiền bạc, tình yêu, nhà cửa, địa vị, chức tước, v.v… Một số người không quan trọng về tài sản, nhưng lại quan trọng chức danh, địa vị họ đang có. Khi có ý định xuất gia, họ thấy rằng mình sẽ mất hết những gì mà hàng ngày mình có được, mất hết sự quí trọng và tôn kính của những người cấp dưới, để trở thành một nhà sư sống nương tựa vào sự giúp đỡ của đàn na tín thí. Trước đây, khi làm Phật sự, phát tâm cúng dường và chia sẻ, họ cảm thấy rất hạnh phúc, nhưng bây giờ phải nhận lại những đồng tiền từ người cúng dường, lòng tự ái, mặc cảm bị trỗi dậy, khiến họ cảm thấy không thể mạnh dạn để xuất gia. Mặc khác, nếu một người nào đó đã làm việc đủ số thời gian mà chính phủ qui định, họ sẽ được hưởng các khoản trợ cấp như lương hưu hoặc các chế độ an sinh xã hội khác. Khi có ý định xuất gia, thời điểm này họ chưa được hưởng các chế độ ưu đãi mà bỏ đi tu thật uổng phí, mất hết những gì họ đã dành dụm suốt mấy mươi năm qua.

Quan niệm trên là cách nhìn thông thường của những người không hiểu được qui luật nhân quả, vô thường. Trong các tùng lâm của Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam thời xưa, tất cả những người đi xuất gia không được quyền có tài sản riêng, những trương mục riêng, chỉ giao trọn thân phận mình cho nhà chùa gói gọn. Tất cả những việc khác đều được nhà chùa lo. Ngay cả khi có bệnh tật đau ốm, nhà chùa sẽ giúp đỡ. Người xuất gia nếu tích lũy nhiều tài sản, tiền bạc sẽ ỷ lại, không cố gắng tu học. Càng có nhiều phương tiện, tâm của họ sẽ hướng ngoại nhiều hơn. Từ đó, họ sẽ xa rời đời sống tăng thân. Do đó, để vượt qua sự trở ngại của việc tiếc nuối về sở hữu tài sản, đây cũng là sự thách đố rất lớn đối với người xuất gia.

Câu chuyện của Ngài lục tổ Huệ Năng, là một bài học để chúng ta suy ngẫm và học hỏi. Cha của ngài mất sớm. Mẹ của ngài mất sức lao động, không tạo ra của cải vật chất để lo cho bản thân bà lúc về già.

Một ngày nọ, khi ngài từ trong rừng đốn củi trở về, gặp một cư sĩ từ chùa Huỳnh Mai đi xuống. Ông ta rất hân hoan, vừa đi vừa xướng đọc bài kệ: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kì tâm”. Ý Nghĩa nói tâm rỗng rang, thanh thản, không vướng mắc, tức không bị kẹt vào địa vị, chức tước, quyền thế, danh lợi. Có an trụ tâm như vậy lòng mới cảm thấy nhẹ nhàng. Khi nghe được bài kệ, bỗng nhiên ngài lục tổ Huệ Năng cảm thấy tâm mình bừng sáng và hạnh phúc vô cùng, ông quyết định trở thành một người xuất gia. Thông thường, những người có đại căn, chỉ cần nghe một câu nói hay một ý tưởng nào đó, tâm của họ bừng sáng và tự nguyện trở thành người tu.

Hoàn cảnh ngài lúc đó thật khó giải quyết. Vì ngài còn mẹ già, nếu đi tu ai sẽ chăm sóc cho bà? Dù ngài không được đi học, không hề biết chữ, nhưng nhờ trí sáng suốt, ngài đã giải quyết công việc ổn thỏa. Ngài đã mời một người bạn thân nhất đến giúp mình cùng đốn củi trong thời gian thêm một tháng nữa. Một tháng đó, giúp ngài đốn thêm được nhiều củi và bán được nhiều tiền. Ngài lấy tất cả tiền kiếm được cùng tài sản, giao hết cho người bạn thân, mong anh ta hãy xem mình như người anh em ruột thịt, thay mình chăm sóc mẹ, để ngài có thể yên lòng ra đi.

Cuộc đời của ngài rất gian truân, lận đận. Suốt mấy tháng ở chùa, ngài chưa một lần được bước lên chánh điện, chỉ quanh quẩn dưới nhà bếp để làm những công việc nặng nhọc mà người khác không làm. Có những việc chỉ dành cho những người thấp kém, nhưng ngài vẫn làm với tất cả sự dấn thân phục vụ, với niềm hoan hỷ và dòng chảy chánh niệm tỉnh thức. Với niềm hạnh phúc tràn đầy, Tâm ngài càng sáng hơn.

Lúc bấy giờ, ngài ngũ Tổ Hoàng Mai nhận thấy đây chính là pháp khí của Phật giáo nên đã âm thầm truyền y bát cho ngài. Và ngài đã trở thành vị tổ thứ sáu khi còn là người cư sĩ tại gia. Đây là một sự kiện chưa từng có trong lịch sử truyền tâm ấn của Phật giáo. Từ khi nhận tâm ấn, ngài phải sống một cuộc sống nhiều gian truân thử thách. Rất nhiều người ganh tị, hãm hại nên ngài phải sống ẩn tu trong rừng với đám thợ săn trong suốt mười một năm. Ngài vẫn không sờn lòng, nản chí, để nuôi dưỡng chí nguyện lớn trở thành nhân tài đóng góp những lợi ích thiết thực cho Phật giáo.

Qua câu chuyện, chúng ta thấy sự lựa chọn của ngài lục tổ Huệ Năng bấy giờ là sự buông bỏ khôn ngoan. Ngài đã trở thành một vị thầy xứng đáng cho chúng ta học hỏi suốt cuộc đời vẫn chưa hết.

Khi người muốn xuất gia không chấp trước vào sở hữu tài sản, nhận thấy những giá trị thật thì họ sẽ mạnh dạn buông bỏ hết tất cả.

XUẤT GIA LÀ SỰ KHAI SINH TRONG ĐẠO

Bốn trở lực về nghịch cảnh, thói quen, quyến luyến tình cảm, và sự tiếc nuối sở hữu tài sản trở thành những nghịch duyên đối với những người có chí nguyện xuất gia.

Những ai có chí nguyện muốn xuất gia nên đi trong thời điểm còn tuổi thanh xuân, có năng lực, sức khỏe và sự sáng tạo. Lúc đó, sự dấn thân của chúng ta mới thật sự có ích cho xã hội và tha nhân. Mặc dù đi tu tuổi về già, vẫn mang lại sự an lạc nhưng sự đóng góp, phục vụ của ta sẽ bị hạn chế.

Có thể định nghĩa rằng, xuất gia là sự khai sinh trong Phật pháp. Với giáo pháp của đức Phật, chúng ta được sinh ra với con người hoàn toàn mới. Mặc dù về vóc dáng, hình hài không có gì thay đổi, nhưng sự nhận thức, lý tưởng và hành trì của người xuất gia hoàn toàn khác với trạng thái của người tại gia. Xuất gia là cơ hội để ta tiếp xúc với hạnh phúc, và là con đường mở rộng tầm nhìn, sự dấn thân nhằm đem lại lợi ích cho chính mình và cho những người khác. Niềm thao thức và động cơ xuất gia là những yếu tố rất quan trọng, quyết định cho sự đóng góp của ta trong suốt đời tu.

Đức Phật dùng hình ảnh những quả trứng gà sau một thời gian được gà mẹ ấp. Nhờ sự ấp ủ đó gà con có khả năng chọc thủng lớp vỏ bên ngoài, trở thành một chú gà con.

Đức Phật nói, Ngài cũng là một con gà giống bao nhiêu con gà khác như chúng ta, nhưng Ngài khác chúng ta một điểm, Ngài là con gà đầu tiên chọc thủng vỏ đi ra với một thân thể khỏe mạnh, không cần sự giúp đỡ của gà mẹ. Thỉnh thoảng, ta vẫn thấy gà mẹ hỗ trợ gà con, dùng mỏ, mổ cho gà con chui ra. Hành động này đôi khi làm cho gà con bên trong bị chết do gà mẹ không xác định vị trí, vô tình mổ trúng con mắt hoặc cái đầu.

Đức Phật dạy người xuất gia hãy nương vào sự hỗ trợ phương tiện, hoàn cảnh, điều kiện môi trường khi có thầy bạn tốt. Chính ngôi chùa là nơi chúng ta cũng như những gà con biết tự mình chọc thủng vỏ trứng, chui ra tạo nên một sức sống mới. Đó là sự khai sinh trong đời sống của đạo đức, thiền định và hành trì. Nơi đó, yếu tố tâm lý, tình cảm của người tu sẽ hoàn toàn khác biệt so với lúc họ còn tại gia. Sự khác biệt này được cảm nhận rõ rệt giống như cảm xúc của người nam và nữ khi kết hôn với nhau. Ở đây, người xuất gia kết hôn với chánh pháp của đức Phật, với lý tưởng của sự phục vụ, những giá trị hạnh phúc, an lạc nội tại và xa rời hạnh phúc của thế nhân. Đối với những ai khi xuất gia không có sự rung động với Phật pháp, người đó khó tu được lâu dài và bền bỉ. Sự rung động càng mạnh, giá trị sự tu tập càng lớn, dấn thân càng lâu dài, giúp họ vượt qua được những thử thách, trở ngại dễ dàng trong tương lai.

CÁC TÌNH HUỐNG XUẤT GIA

Không phải những ai đi xuất gia đều mang một tâm nguyện lớn, được đóng góp, phục vụ. Có những người xuất gia để quên đi những nỗi khổ đau trong tình duyên, như chuyện tình Lan và Điệp. Xuất xuất gia như vậy sẽ không có giá trị cho bản thân, làm cho thế nhân có sự nhìn nhận sai lệch, cho rằng người xuất gia chỉ toàn là người chán đời, tiêu cực, không mang lại giá trị gì cho cuộc đời.

Chúng ta nhìn thấy có nhiều vị thầy, vị sư cô rất trẻ, thậm chí rất đẹp, nhưng họ lại đi tu. Không phải do họ chán đời hoặc không có người thương. Thực ra, họ có rất nhiều thứ, nhưng những thứ ấy họ không màng tới. Họ nghĩ rằng, hy sinh tình yêu nhỏ để có được tình yêu lớn, vĩ đại hơn. Đó là những người xuất gia chân chính. Tôi xin nêu ra một số hình thức xuất gia như sau:

1. Thân xuất gia mà tâm hướng về thế tục

Hình thức này, họ vẫn vào chùa, cạo đầu, mặc đồ tu, tụng kinh, bái sám, niệm Phật, tham thiền nhưng tâm của họ luôn hướng về đời sống của thế gian, những dục lạc thấp kém, về danh vọng, địa vị hoặc họ để cho dòng cảm xúc tiêu cực như tham, sân, si, hờn giận, ganh tị chi phối. Những người xuất gia này, theo ngôn ngữ nhà Phật gọi là dơi chuột. Vì họ không hẳn là chuột, mà cũng không hẳn là dơi, nếu xếp vào loài có cánh cũng không xong, vì vừa có cánh vừa có chân. Hành động của một người tu không đúng với người tu thật là đáng tiếc.

Khi xuất gia, nếu không làm mới cuộc đời, không cách tân về nhận thức, không làm cho con mình hạnh phúc, không làm cho tình yêu thương của mình được mở rộng, để những giá trị cuộc đời thêm lớn mạnh, thà rằng chúng ta đừng đi tu. Nếu động cơ của ta không đúng với những chất liệu Phật pháp, về sau ta dễ rơi vào những cám dỗ, sa ngã trước dục tình, trở thành con người đi sai với lý tưởng Phật giáo, phản bội lại con đường phục vụ chân chính.

2. Tâm xuất gia nhưng thân tại gia

Hình thức này là một sai lầm lớn đối với người tại gia. Những người này không thấy được sự khác biệt giữa người xuất gia và người tại gia. Họ nghĩ, mình ở nhà tu tâm dưỡng tánh, thích thì đi chùa, tụng kinh hoặc khi có tiền thì làm phước, không có thì thôi. Họ không bị ràng buộc, vướng bận nào. Điều khó nhất của người xuất gia là đời sống độc thân. Họ phải từ bỏ tình cảm luyến ái của thế gian. Đây là sự hy sinh hướng thượng. Nếu ai có thể từ bỏ tất cả những thứ đó, tại sao không dám mạnh dạn mang hình thức của một người tu?

Chúng ta làm một cư sĩ với hình thức tại gia cũng tốt, nhưng sự phục vụ sẽ bị giới hạn. Trong khi đó, mang hình thức người tu, có hình tướng trang nghiêm, đỉnh đạt, lời nói nhẹ nhàng có thể mang lại sự an lạc cho những người khác. Nếu ta là một nhà sư có uy tín trong lời nói, ta có khả năng vận động được nhiều người cùng chia sẻ những sở hữu tài sản của họ để làm những việc từ thiện, phước báu, khả năng này đối với những người tại gia vẫn còn bị hạn chế.

Trường hợp của Ni sư Chứng Nghiêm ở Đài Loan là một điển hình. Những năm trước, đất nước Đài Loan bị động đất, Ni sư đã vận động được những khoản từ thiện từ quần chúng vượt xa hơn cả ngân quỹ của quốc gia.

Là một người tu có tư cách, có hạnh nguyện lớn, chúng ta luôn mang lại an vui cho những người khác và sẽ được nhiều người cùng dấn thân, giúp đỡ ta hoàn thành nhiệm vụ. Do đó, khi xuất gia bằng tâm mà thân tại gia, là sự uổng ích: Vì tâm thiêng về xuất gia nên không dấn thân xã hội, vì không xuất gia nên có tâm tốt mà không làm việc lớn được. Nếu không khéo chuyển hóa, kiếp này và những kiếp khác, chúng ta mãi mãi cũng chỉ là những người tu tại gia mà thôi.

3. Thân và tâm xuất gia

Đây là hình thức xuất gia đúng đắn với lý tưởng nhất, đầu tròn, áo vuông, vào chùa, tu học, sống với tăng thân, có tình huynh đệ, có lý tưởng, có chí nguyện và sự dấn thân. Mặt khác, ta cũng có thể làm được nhiều Phật sự để mang lại hạnh phúc, tháo gỡ những đau khổ của con người trong điều kiện mà ta có thể. Đây là mẫu người tu có lý tưởng mà người xuất gia cần hướng đến. Người tu muốn có một đời sống lý tưởng về thân và tâm, phải có động cơ lớn, chí nguyện hùng dũng, hành sự khôn ngoan, khéo léo. Sự tu tập của họ phải miên mật và lâu dài, biết tạo điều kiện, cơ hội để có phước báu và hạnh phúc. Họ không sợ hãi trước những khó khăn,

không chùn bước trước những thử thách. Chính động cơ xuất gia này sẽ giúp họ trở thành những người có giá trị đóng góp lớn cho Phật giáo và cuộc đời về sau.

4. Thân và tâm đều không xuất gia

Đây là hình thức của những người có lối sống buông thả, ăn chơi, sa đọa hoặc không có đạo đức và cũng không chịu tu. Những người này không những mang lại khổ đau cho bản thân, cho người thân, người thương mà còn là mối đe dọa của xã hội.

Các tổ Trung Hoa phân định ra bốn loại xuất gia trên, các ngài cũng thấy rằng. Giá trị của người xuất gia chân chính bao gồm hai phương diện. Phương diện về hình thức và phương diện về nội dung.

Về phương diện hình thức, dân gian Việt Nam có câu: “Chiếc áo không làm nên thầy tu”, nhưng nếu thiếu đi chiếc áo của thầy tu, có lẽ chúng ta dễ dàng đánh mất đi tư cách của người tu.

Khi mặc chiếc áo của người tu đi ra đường, chúng ta luôn ý thức đến tính cách trang nghiêm, không dám nghĩ đến việc đùa giỡn. Ta cũng không thể làm những việc mang tính chất phàm tình của thế nhân, phải tự nhắc nhở mình cần làm gì để xứng đáng với người tu. Không chỉ xứng đáng về mặt hình thức, mà còn xứng đáng trong suy nghĩ của người tu. Khi phát khởi một ý nghĩ sai lầm như: ăn cắp, lừa đảo, giả dối hoặc hưởng thụ, chính hình thức này sẽ ngăn cản chúng ta lại, không dẫn ta đi đến con đường sa ngã và tội lỗi.

Ta không nên xem nhẹ yếu tố hình thức, vì nó sẽ làm thăng hoa đời sống của người tu bằng những việc làm thanh cao, những giá trị hạnh phúc lớn từ hành động cho đến suy nghĩ của họ. Nếu đánh giá con người thông qua hình thức, ta dễ dàng bị đồng hóa những cái không có giá trị, trở thành những cái có giá trị. Đôi khi trong cuộc sống, ta có thể gặp những vị Phật sống, nhưng do vì chấp mắc vào hình thức, ta lại xem họ chỉ là những người bình thường.

Đức Phật dạy những người xuất gia, mỗi ngày hãy sờ vào cái đầu láng bóng của mình, để suy nghĩ và sống như thế nào cho xứng đáng là bậc chân tu, vượt lên trên thế tục. Nếu tâm của chúng ta vẫn còn sự ích kỷ, nhỏ hẹp, ngại khó, hưởng thụ thì biết rằng mình vẫn đang đi chưa đúng con đường, đang làm mất đi giá trị của một vị thánh. Cho nên, ta cần phải chuyển hóa, cải tạo, cách tân và làm mới.

Có ba cấp độ của sự xuất gia, được phân định về nội dung như sau:

1. Cấp độ thứ nhất - Xuất thế tục gia

Cấp độ này có ý nghĩa là chúng ta từ bỏ mái ấm gia đình, chia tay với người thân, người thương không hề quyến luyến và nuối tiếc. Ta không nối dõi tông đường, không dấn thân làm chính trị để trở thành con người có chất liệu an vui, hạnh phúc, thảnh thơi, vững chãi. Thông qua những giá trị ta có được, có thể giúp đỡ cho những người khác. Xuất thế tục gia trong trường hợp này cần phải cương quyết. Vì khi xuất gia rồi, mà ta vẫn giống như đang ở trong ngôi nhà thế tục, thì ý nghĩa xuất gia không còn nữa.

Có nhiều người do không hiểu được lời Phật dạy, cứ tưởng rằng tu đâu chẳng được. Nhất là khi họ bị ảnh hưởng bởi quan niệm dân gian có câu: “Thứ nhất tu chợ, thứ hai tu chùa, thứ ba tu tại gia”. Nghĩa là thờ cha, kính mẹ mới là tu. Họ cho rằng tu ở chùa thì dễ, nhưng tu ở nhà thì khó hơn.

Hiểu như vậy là sai lầm. Khi chúng ta xa rời đời sống tập thể của những người xuất gia chân chính thì thân và tâm của ta cũng sẽ bị lung lạc. Khi tăng thân phấn đấu vươn lên trong lý tưởng, ta cũng được ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực đó. Phấn chấn vươn lên, không cho phép mình lười biếng.

Chúng ta hãy quan sát con hổ, nó sẽ mất đi thế mạnh của nó khi rời khỏi rừng sâu, núi thẳm, nơi nó từng sinh sống. Hình ảnh của một người xuất gia cũng thế. Nếu chỉ ở nhà tu tại gia, ý nghĩa của việc xuất gia sẽ không còn nữa.

Chúng ta từ bỏ gia đình, để có điều kiện tiếp xúc với ngôi chùa, với Phật, chánh pháp. Với sự hành trì và dấn thân, người xuất gia chân chính sẽ làm mình ngày càng lớn mạnh. Nếu chỉ tiếp xúc với những bức tường của ngôi nhà thế tục, thì tâm của ta sẽ không có gì thay đổi. Đứng về góc độ xuất thế tục gia, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được cấp độ thứ hai và thứ ba.

2. Cấp độ thứ hai - Xuất phiền não gia

Đây là một cách chơi chữ rất hay. Nghĩa là cần vượt ra khỏi ngôi nhà phiền não. Phiền não tức những tâm lý tiêu cực như: tham, sân, si, giận dỗi, ganh tị, lười biếng v.v… không làm cho con người hạnh phúc và phát triển đúng mức. Ta cần phải chuyển hóa những nhận thức sai lầm, lý giải mọi sự vật hiện tượng theo nguyên lý vô thường, vô ngã, không lệ thuộc vào thần linh. Khi nào gội rửa được phiền não, chuyển hóa được nhận thức, lúc đó chúng ta mới thật sự là người xuất gia.

Chúng ta phải nắm bắt cơ hội làm người tu ở trong chùa, làm người tu đúng đắn về nhận thức, chí nguyện và hành động. Chính những sự trưởng thành đó mới giúp chúng ta đạt được chí nguyện ở cấp độ thứ ba.

3. Cấp độ thứ ba - Xuất tam giới gia

Có nghĩa là vượt qua khỏi dòng sanh tử luân hồi trong ba cõi sáu đường. Ba cõi gồm: cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.

Cõi dục là cảnh giới sống như đời sống vật dục, tình dục. Sự ham muốn của con người đặt trên nền tảng của bản ngã, vị kỷ và lòng tham. Ta có thể bất chấp nền tảng của đạo đức, hạnh phúc, khổ đau của người khác để mang lại những giá trị cho bản thân. Vì vậy, đời sống trong dục giới là đời sống thấp kém. Cõi sắc vẫn còn hạn chế những điều kiện, hoặc cảnh giới vô sắc, nghĩa là sống hoàn toàn với trạng thái lặng thinh với đời sống nội tâm. Trong ba cảnh giới này, dục giới là cảnh giới thấp nhất.

Theo đức Phật, ba giới nằm trong nhà lửa. Muốn vượt ra khỏi nhà lửa của ba cõi, tnhững người xuất gia cần phải có động cơ chân chính, nghị lực phi thường để buông bỏ và chuyển hóa nhận thức, cảm xúc với những pháp môn đúng đắn. Có như thế, chúng ta mới có thể đi đến con đường của an lạc, hạnh phúc, giác ngộ và giải thoát.

CON ĐƯỜNG RỘNG MỞ

Bốn loại hình và ba cấp độ của người xuất gia, giá trị của người tu gợi cho ta một con đường phục vụ, dấn thân lớn. Khi muốn trở thành người xuất gia, ta cần phải đạt được hai giá trị: xuất phiền não gia và xuất tam giới gia. Nếu không đạt được trong kiếp này, cần có quyết tâm lớn để đạt được ở nhiều kiếp trong tương lai, không bao giờ cho phép ta được bỏ cuộc nữa chừng. Trên thực tế, có rất nhiều người không thành công, họ đã ra đời và sống đời sống của một người tại gia.

Trước khi xuất gia, ta cần có quyết tâm, thấu rõ động cơ tốt, hiểu được bản thân, xác định lý tưởng. Không nên lấy thiện cảm hay tình cảm với một vị thầy nào để làm mục đích xuất gia, vì như thế sẽ không có giá trị. Nếu xuất phát từ tâm niệm đúng đắn, thì những giá trị lợi lạc sẽ có mặt, nhờ đó sự đóng góp, dấn thân của chúng ta mới mang lại các giá trị an vui và hạnh phúc lâu dài.

TT.Thích Nhật Từ
Trích từ cuốn sách "Phương trời thong dong"

CON CÁI VÀ CHA MẸ Ở KIẾP NÀY CÓ DUYÊN NỢ GÌ VỚI NHAU?

Thích Tánh Tuệ

Xét về nghiệp quả nhân duyên giữa cha mẹ và con cái, nhà Phật cho rằng: Con cái đến với cha mẹ ở kiếp này là có 4 loại:

Một là đến để báo ơn,
Hai là đến để đòi nợ,
Ba là đến để trả nợ,
Bốn là đến để báo oán.

Nếu không có nợ nhau thì không có gặp gỡ, hãy cùng xem câu chuyện dưới đây để hiểu hơn về điều này.

- Ở một ngôi làng kia có một cặp vợ chồng nông dân. Hai vợ chồng họ mãi mới sinh được một cô con gái. Nhưng con gái họ vừa chào đời đã có nhiều bệnh tật, thường xuyên ốm yếu. Cũng chính vì có một đứa con mà con lại ốm yếu nên hai vợ chồng họ rất sủng ái đứa con này, đứa trẻ muốn gì được đấy.

Vì để chữa bệnh cho con gái, tiền của và tài sản trong nhà họ lần lượt ra đi. Vào năm con gái họ tròn 18 tuổi, tài sản trong nhà chỉ còn lại 1 con ngựa duy nhất. Một ngày, con gái họ lại chỉ vào con ngựa này và nói: “Con muốn ăn thịt ngựa, cha mẹ hãy làm thịt con ngựa này đi.”

Hai vợ chồng người nông dân nhìn con ngựa khỏe mạnh, là tài sản duy nhất trong nhà, giúp làm việc đồng áng nên không lỡ lòng giết nó. Nhưng nhìn cô con gái duy nhất đang nằm trên giường thoi thóp thì trong lòng lại thấy đáng thương.

Trong lúc hai người họ còn đang phân vân thì cô con gái kia lại nhắc lại một lần nữa: “Con đang rất muốn ăn thịt ngựa. Cha mẹ không giết thịt con ngựa này đi thì con sẽ chết mất.”

Hai vợ chồng họ thấy con gái nói như vậy liền vô cùng luống cuống hoảng loạn liền mang con ngựa ra giết thịt. Sau khi làm thịt con ngựa, vợ chồng họ làm món hầm cho con gái ăn. Nhưng thật không ngờ, chỉ nửa canh giờ sau khi ăn, con gái họ nằm trên giường mà chết.

Hai vợ chồng người nông dân gào khóc thảm thiết. Hàng xóm láng giềng đến an ủi động viên nhưng cũng không thể làm vơi đi nỗi đau mất con trong lòng họ.

Con gái chết đi là một sự đả kích rất lớn đối với họ. Mặc dù họ biết rằng, từ khi con gái ra đời đều là mang đến vô cùng nhiều họa nạn, đến mức mà ngay cả tiền làm tang chôn cất cũng không còn. Nhưng vì thương con, vợ chồng họ cũng không còn thiết sống, cả ngày thẫn thờ.

Thấy thương cho tình cảnh của hai vợ chồng họ, một người đàn ông trong làng đã tìm đến nhà nói với họ rằng: “Ở ngôi chùa ở phía nam của ngọn núi kia có một lão hòa thượng. Ông ấy có thể giải phá được rất nhiều chuyện ly kỳ. Hai người thử lên núi tìm gặp lão hòa thượng để hỏi về chuyện của con gái hai người xem.”

Thế là, hai vợ chồng người nông dân này trèo đèo lội suối tìm đến gặp lão hòa thượng để thỉnh giáo. Sau khi kể hết sự tình về con gái từ khi ra đời đến lúc mất đi, người chồng cất lời hỏi: “Thưa thầy, không biết nhân duyên kiếp trước của vợ chồng con và đứa con gái này là như thế nào ạ?”

Vị lão hòa thượng nghe xong không nói gì mà nhắm mắt lại ngồi thiền nửa ngày. Sau đó, ông chậm rãi nói: “Ở kiếp trước, thí chủ còn nợ con của thí chủ một khoản nợ nên kiếp này phải hoàn trả. Hai người có muốn biết kỹ càng về khoản nợ này không?”

Hai vợ chồng họ phủ phục trước mặt lão hòa thượng rồi nói: “Chúng con muốn biết nguyên nhân thực sự là gì? Xin lão phương trượng nói chi tiết ạ!”

Lão hòa thượng vừa nhắm mắt lại vừa chậm chạp nói: “Ở kiếp trước, con gái của hai người là thiên kim tiểu thư của một gia đình giàu có. Vào năm thiên kim tiểu thư này 18 tuổi, cha mẹ họ cùng cô con gái của mình đi thăm người thân. Không ngờ giữa đường lại gặp một toán cướp. Thủ lĩnh của toán cướp đó chính là con ngựa của nhà thí chủ ở kiếp này, còn hai thí chủ khi đó là đám thuộc hạ của nó.(tức con ngựa kiếp này) Ba tên cướp này đã cướp sạch tài sản của nhà họ, giết chết cha mẹ cô gái, đánh đuổi người nhà họ, tên thủ lĩnh còn cưỡng hiếp cô ấy. Cuối cùng, vị tiểu thư này đứng trên vách núi thề rằng: “Kiếp sau nhất định ta phải lấy đầu tên thủ lĩnh này để trả mối hận trong lòng mình.” Nói xong, vị tiểu thư này nhảy xuống núi tự vẫn. Về sau, tên thủ lĩnh vì cướp bóc quá nhiều chết bị đầu thai thành súc sinh, còn hai thí chủ về sau có làm việc thiện nên vẫn được đầu thai làm người nhưng phải hoàn trả khoản nợ kia. Vị tiểu thư kia chuyển sinh làm con gái của hai người chính là để đòi nợ kiếp trước.”

Hai vợ chồng họ nghe xong nửa tin nửa ngờ: “Hòa thượng! Những lời ngài nói là thật sao?”

Lão hòa thượng nhìn hai vợ chồng họ rồi nói thêm: “Thí chủ hãy nghĩ lại tất cả mọi chuyện xảy ra với bản thân và cô con gái của mình thì sẽ thấy rõ điều này. Tất cả tài sản của thí chủ đều dùng để chữa bệnh và nuôi dưỡng con gái, đây chính là tài sản mà thí chủ lấy của người ta ở kiếp trước nay phải trả lại. Đến năm 18 tuổi, con gái thí chủ nhất định đòi giết thịt con ngựa kia, chẳng là ứng với lời thề kiếp trước sao?”

Hai vợ chồng người nông dân này bấy giờ mới ngẫm nghĩ lại thì thấy quả đúng là mọi chuyện đều y như lời vị hòa thượng nói. Họ lập tức bái lạy rồi thỉnh cầu: “Xin phương trượng chỉ bảo cách để chúng con thoát khỏi nghiệp lực này?”

Lão hòa thượng trả lời: “Chỉ có vứt bỏ cái ác, một lòng hành thiện, làm một người lương thiện thì mới có thể hóa giải hết được. Nếu làm việc ác thì kiếp này không trả, kiếp sau sẽ vẫn phải trả hết.”

Hai vợ chồng họ cung kính cảm ơn vị lão hòa thượng rồi ra về. Cũng từ đó, hai vợ chồng họ một lòng hướng Phật, làm việc tốt để mong sám hối cho những tội ác ở kiếp trước của mình và cũng là để gieo trồng phúc báo cho kiếp sau.

Namo Buddhaya

Thích Tánh Tuệ

NIỆM PHẬT VÃNG SANH

Tâm Trí

Hỏi: Mẹ tôi rất đam về pháp môn tịnh độ và niệm Phật vãng sanh. Mẹ bảo các con phải ráng niệm Phật thì đến lúc chết sẽ được vãng sanh. Khi tôi hỏi thì mẹ lại bảo chưa chết làm sao biết? Chẳng lẽ niệm Phật phải chờ chết mới được vãng sanh hay sao? Chẳng lẽ niệm Phật không vãng sanh được lúc còn sống hay sao?

Đáp: Đức Phật thuyết pháp 49 năm gom lại cũng chỉ có 2 ý chính, về mặt Không Gian là “Lý Nhân Duyên”, về mặt Thời Gian là “Lý Nhân Quả”. Dựa vào Lý Nhân Quả thì cái Nhân niệm Phậttức sẽ có Quả Vãng Sanh. Đấy là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, niệm Phật mà phải đợi chết mới cầu được vãng sanh thì cũng giống như là chế tạo máy bay mà không hề thử nghiệm trước là có bay được hay không, rồi nhảy vào để lái với hy vọng là nó sẽ bay được. Nếu trường hợp thành công bay được thì là chuyện đáng mừng, nhưng nếu không bay được, nữa đường gãy cánh thì xem như là toi mạng vô ích.

Pháp môn Tịnh Độ thật ra là một Pháp Môn tu rất hay. Tuy nhiên, vì thiếu người giảng giải cho nên Pháp Môn này đã bị “Đồng Hóa” hay là “Dân Gian Hóa” rất nhiều. Đôi khi nó còn pha lẫn cả Tà Kiến của ngoại đạo ở trong này

Trong Đạo Phật, cái chết để bỏ thân xác của mình để biến đổi qua một giai đoạn khác gọi là “Phần Đoạn Sanh Tử”. Cái chết thứ 2, nói theo thông thường là Đổi Đời, hay Làm Lại Cuộc Đời Mới, ví dụ như lúc trước là người xấu, bây giờ làm người tốt, một ý niệm xấu khởi lên là ta đang ở thế giới của Địa Ngục, của Ngạ Quỷ, của Xúc Sanh. Nhưng dẹp bỏ ý niệm xấu là ta đã sanh sang một thế giới khác của trời, người, hay Thanh văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Trong Đạo Phật gọi sự biến chuyển sanh diệt này là “Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử”. Cái vãng sanh ở Tịnh Độ là ý nói đến “Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử” này. Chỉ cần nhất tâm chuyên niệm, khởi một niệm lành thì ngay tức thì ta đã vãng sanh cực lạc và mang theo cả thân xác và nghiệp báo mà cũng chẳng cần đi đâu hết. Tịnh Độ Tông gọi cái này là “Đới Nghiệp Vãng Sanh”. Thử hỏi một người lúc còn sống niệm Phật với tâm Tham Sân Si (là Nhân của Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Xúc Sanh) thì làm sao mà có quả Tây Phương Cực Lạc? Thế nên Niệm Phật là phải vãng sanh liền ngay lập tức, phải thực chứng là vãng sanh ngây lúc còn sống. Niệm Phật là phải thấy an lạc, khinh an, gia đình hạnh phúc, mọi vật cỏ cây hoa lá đâu đâu cũng đẹp, đấy là đã vãng sanh vào cảnh giới Tây Phương như Phật Thích Ca đã giới thiệu trong kinh Vô Lượng Thọ rồi đấy. Từ chỗ thực chứng này ta có thể khẳn định rằn, cái Nhân Tây Phương Cực Lạc đã thành thục ngay lúc ta còn sống, thì đến lúc lâm chung, do căng lành đã gieo trồng thì tự nhiên nghiệp lực sẽ chiêu cảm đến cõi Cực Lạc mà không cần người nào hộ niệm. Luật Nhân Quả rõ ràng là như thế.

Để chứng minh vãng sanh Tây Phương là vãng sanh ở nội tâm và Tây Phương cũng chỉ là phương tiện của Như Lai nhằm giúp chúng sanh cột cái tâm để dễ dàng tu tập, vậy tôi xin chứng minh về điều này như sau:

Chứng minh 1:

Cùng một ngôi nhà, nếu mà đời sống hạnh phúc thì ta sẽ cảm thấy căng nhà đẹp và hạnh phúc. Nhưng cũng căn nhà này, lúc trong nhà có chuyện lộn xộn thì ta cảm thấy sống trong nhà khó chịu bực bội, là ngục tù, là địa ngục, là khổ đau. Như vậy, ở cùng một chỗ, nhưng thiên đàng hay địa ngục có phải là do “Tâm” của ta hay không? Nếu một người Tâm luôn khổ đau, thì đi đâu, sống ở đâu trong tam thiên đại thiên thế giới này cũng là đau khổ. Cho dù ở cõi Cực Lạc vẫn là đau khổ và cõi Cực Lạc sẽ biến ngay thành cõi Ta Bà. Các vua quan, tổng thống sống trong nệm ấm chăng êm, người hầu kẻ hạ, ai cũng cho là sung sướng, nhưng tâm hồn đau khổ thì vẫn cứ đau khổ thôi

Chứng minh 2:

Theo quan niệm thông thường thì mặt trời mọc ở hướng Tây. Khoa học bay giờ đã chứng minh là trái đất xoay quanh mặt trời, và ngay cả khi xoay quanh mặt trời, trái đất cũng xoay vòng không đứng yên ở một vị trí nhất định. Quý vị cứ lấy 2 vật tròn ra làm thí nghiệm, như là 2 trái banh. Trái thứ nhất đứng giữa làm mặt trời, trái thứ hai thì xoay quanh trái thứ nhất. Vậy có vị nào chỉ xem “Hướng Tây” là hướng nào? Dựa vào đâu để xác định là Hướng Tây? Mà Hướng Tây quý vị đưa ra có phải là chân lý hay không? Hay chỉ là “Phương Tiện” của Như Lai? Để mở gút ở điểm này Đức Phật đã khéo léo vận dụng ngôn từ “Đông Tây Nam Bắc, Tứ Chi, Thượng Hạ” để chỉ rõ 10 phương mà khoa học bây giờ cũng đã chứng minh là quả địa cầu lơ lững. Nếu không dựa vào hiện tượng vật chất để làm mốc điểm, thì không thể chỉ được phương hướng. Nhưng dựa trên một điểm nào để định hướng thì đấy chỉ là tương đối chứ không phải là tuyệt đối (Chân Lý là Tuyệt Đối).

“Giả sử” là có Hướng Tây, như vậy, nhìn từ Hướng Tây thì cõi chúng ta đang ở sẽ là Hướng Đông, vậy chẳng phải là ta đang ở cõi “Tịnh Độ Đông Phương của đức Dược Sư Lưu Ly” hay sao? Nếu đã ở cõi Tịnh Độ của Phật Dược Sư rồi tại sao lại còn Tham Sân Si Phiền Não? Đang ở cõi Tịnh Độ mà quý vị còn muốn chạy đi đâu nữa? Có phải là “đứng núi này trông núi nọ” hay không?

Chứng minh 3:

Nếu có vị nào nghiên cứu sâu về kinh điển Đại Thừa cũng điêu biết rằng, Pháp Giới là “Nhất Chơn”, tất cả chỉ là một. Dựa trên “Hình Tướng” thì có sự phân biệt chia cách. Nhưng dựa trên “Thể Tánh” thì tất cả đều là một. Thế nên kinh Hoa Nghiêm mới nói “Tâm, Phật và Chúng Sanh tuy 3 nhưng là một”. Nếu tất cả Pháp Giới là một vậy thì chỉ cân “Chuyển Đổi Cái Tâm” tức thì sẽ vãng sanh Cực Lạc. Nói đến đây nhiều người vẫn chưa tin. Bằng chứng là sau khi thành Phật dưới cội Bồ Đề, Đức Phật của chúng ta có được Bồ Đề Niết Bàn ngay trên mặt đất này mà đâu cần trốn chạy chỗ nào đâu? Các Hàng Thánh Chúng của Phật cũng có Bồ Đề Niết Bàn nhưng cũng đi đứng nằm ngồi như chúng ta đấy thôi? Vậy chẳng phải Vãng Sanh là Vãng Sanh ở Nội Tâm hay sao?

Chứng minh 4:

Trong kinh Duy Ma Cật ở lần hiện Tịnh Độ thứ nhất, ông Xá Lợi Phất (đại diện cho chúng ta) nghĩ rằn, chẳng lẽ Đức Thế Tôn (chỉ cho Phật Thích Ca) tu cái Nhân “Bất Tịnh” hay sao mà nay ngài lại làm Giáo Chủ ở cõi Ta Bà (Ta Bà dịch là Kham Nhẫn hay là chịu đựng mọi thứ khổ đau. Nếu chiếu theo luật Nhân Quả thì xem như là đúng rồi) Biết được ý nghĩ này, Đức Thế Tôn muốn cho đại chúng nhìn nơi mà chúng sanh gọi là cõi Ta Bà bằng cái nhìn của “Phật Nhãn”. Ngài liền ấn chân xuống đất thì lập tức Cõi Ta Bà liền biến thành Cõi Tịnh Độ.

Đoạn kinh này đã xác định rõ ràng ngay chính nơi đây là cõi Tịnh Độ của Phật Thích Ca. Chỉ cần Tâm Thanh Tịnh, nhìn bằng “Tuệ Nhãn”, nhìn bằng “Phật Nhãn” thì đây là Cực Lạc, là Tịnh Độ. Bằng không, nhìn “Nhục Nhãn” của phàm phu, nhìn bằng cái Tâm đau khổ thì đâu đâu cũng là Ta Bà, là chịu đựng, là đau khổ.

Mình đang sống ở cõi Tịnh Độ của Phật Thích Ca mà vẫn đau khổ, vậy nếu mình chạy sang cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà thì vẫn cứ đau khổ thôi. Ngay cả thi hào Nguyễn Du cũng nói là “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”?

Chứng minh 5:

Cũng trong kinh Duy Ma Cật. Bồ Tát Duy Ma Cật dạy rằng:

“Tùy Kỳ Tâm Tịnh Tắc Phật Độ Tịnh

Dục Tịnh Phật Độ, Tiên Tịnh Kỳ Tâm”

Nghĩa là muốn có được cõi nước Thanh Tịnh của Phật, trước hết Tâm mình phải Thanh Tịnh. Là Vãng Sanh ở nội Tâm đấy.

Chứng minh 6:

Dựa vào câu “Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật” nghĩa là Phật A Di Đà ở khắp cùng trong tất cả Pháp Giới, vậy thì trên mặt đất này Phật A Di Đà cũng hiện hữu. Nếu chúng ta đang sống với Phật A Di Đà, vậy chẳng phải đây là Cực Lạc hay sao? Trong kinh Vô Lượng Thọ Đức Phật cũng giới thiệu về Phật A Di Đà như vậy: “Đức Phật Như Lai kia đến không chỗ đến, đi không chỗ đi, không sanh không diệt, không có quá khứ hiện tại vị lai, chỉ có một nguyện độ sanh. Hiện ở phương Tây cách diêm phù đề này mười vạn ức cõi Phật, thế giới đó gọi là Cực Lạc, Pháp Tạng thành Phật hiệu là A Di Đà”. Nếu Phật A Di Đà “đến không chỗ đến, đi không chỗ đi” nghĩa là không đến cũng không đi. Sở dĩ mình thấy khách đến nhà chơi, có đến có đi là vì người đó không ở với mình. Còn nếu người khách đó không bao giờ rời xa mình thì mình không bao giờ thấy có đến có đi. Đây để nói lên “Tự Tánh Di Đà” của chính mình, là Phật Tánh, là Pháp Thân Như Lai, luôn hiện hữu trong ta. Cho nên một niệm Giác là sẽ thấy Phật, là sẽ sống trong thế giới an lành của Phật.  Vậy chẳng phải là Vãng Sanh hay sao?

Nói tóm lại, Pháp Môn Tịnh Độ niệm Phật để được vãng sanh rất tốt và rất có hiệu quả nhanh chóng. Nhưng vì không có người giảng giả cho nên đã số đại chúng đã hiểu sai lạc về pháp môn này. Lấy ví dụ một người đang tranh chấp gianh nhau bãi đậu xe. Vì lúc đang nóng giận (Nhân A Tu La), người này cầm cây đánh chết người kia. Kết quả là bị tù tội, đánh đập, giam cầm, rồi sống trong ăn năn hối hận (Quả Địa Ngục). Ngược lại lúc này người đó nhớ đến câu niệm Phật, lúc đó niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” cho dù là niệm Phật mà nghiếng răng, rồi không tranh cãi nữa, vậy là đã chuyển đổi ngay cái Nhân A Tu La và đóng bít cánh cửa Địa Ngục (không bị tù tội), để rồi có được sự tư do, an vui tự tại. Như vậy có phải là nhờ câu niệm Phật nên được vãng sanh ngay tức thì hay không? Công năng của niệm Phật rất lớn. Đấy cũng là do chính tự thân của mình tu tập. Nếu hiểu theo kiểu nhờ niệm Phật A Di Đà nên Phật mới đến rước, nghĩa là nếu không niệm Phật, không kêu tên ngài, thì ngài sẽ làm lơ không đến cứu, chẳng lẽ đức Phật lại còn ưa thích nịnh nọt, phải đợi người ta khóc lóc van xin mới cứu hay sao? Tâm đại từ đại bi đại hỹ đại xã của Phật chạy đâu mất tiêu rồi? Hiểu như vậy thì làm sao gọi Đạo Phật là “BÌNH ĐẲNG” cho được? Làm sao gọi là Tâm Đại Từ Đại Bi thương xót tất cả mọi chúng sanh?

Kết luận:

Niệm Phật Vãng Sanh là Vãng Sanh là Vãng Sanh ở Nội Tâm. Thế nên phải vãng sanh ngay bây giờ lúc chúng ta còn sống, còn thực chứng được. Đấy mới thật sự là Niệm Phật Vãng Sanh. Nếu niệm Phật bây giờ mà không vãng sanh nổi nghĩa là tham sân si còn đầy dẫy (Nhân), thì lúc chết sẽ không bao giờ vãng sanh nổi (Quả). Đấy, cái nhân tham sân si là của địa ngục ngạ quỷ xúc sanh thì làm sao ra quả Cực Lạc?  Cho nên, điều cần thiết là ngay bây giờ chúng ta phải gieo trồng Nhân lành, xã bỏ Tham Sân Si để chứng thực được Bồ Đề Niết Bàn (là hạnh phúc, là kinh an, là an lạc đấy) để sau khi xã bỏ thân này ta có thể đi theo Nghiệp Lực (Nghiệp Thiện) mà thọ báo một kiếp sống tốt hơn. Hãy nhớ rằn, chúng ta đang sống trong cõi Tịnh Độ của Phật Thích Ca, là đã vãng sanh rồi đấy. Đừng nên thả mồi bắt bóng chạy theo một hư ảo mà quên đi Bồ Đề Niết Bàn mà mình đã sẵn có.

“Thân người khó được, đạo pháp khó gặp, thời khắc dễ qua”

Nếu đã được thân người, gặp được Chánh Pháp thì phải nên trân quý, vận dụng Trí Tuệ, nắm lấy thời cơ để tu hành. Đừng đợi phải mất đi thân người rồi mới biết là vãng sanh hay không? Niệm Phật chờ chết mới được vãng sanh xem như là đi buôn lỗ vốn, đợi chờ những cái mà mình không thực chứng, lãng phí đi những ngày tháng tu hành và hạnh phúc hoặc là sự an lạc trong đời hiện tại.

LẠY PHẬT CÁCH NÀO ĐÚNG

Quảng Tánh - Như Nhiên

HỎI: Tôi được biết lạy Phật nên theo cách “ngũ thể đầu địa”, đại thể là hai chân, hai tay và đầu đụng mặt đất, tâm thanh tịnh và trang nghiêm. Tuy nhiên thực tế tôi thấy nhiều người lạy Phật với những cách thức khác nhau: Có người ngửa hai lòng bàn tay, trán cúi đặt vào lòng bàn tay. Có người thì úp hai bàn tay xuống đất, trán cúi đặt vào lưng bàn tay. Có người thì trán cúi chạm xuống đất, còn hai bàn tay ngửa đưa ra phía trước trán. Có người khi cúi đầu lạy xuống, giữ lại một lúc. Có người cúi lạy xuống thì ngẩng đầu lên ngay. Tôi không biết cách lạy nào đúng? Ý nghĩa của cách thức lạy ấy thế nào? Kính mong quý Báo hướng dẫn.

(CHÁNH TÂM, tanlochappy@yahoo.com.vn)

ĐÁP:

Bạn Chánh Tâm thân mến!

Đúng như bạn nói, lạy Phật theo cách “ngũ thể đầu địa” là thể hiện lòng tôn kính nhất. Ngũ thể đầu địa có nghĩa là năm vóc (đầu, hai tay và hai chân) gieo sát đất. Theo Phật Quang đại từ điển, tập 3, dẫn sách Đại Đường Tây Vực ký(quyển 2), nói về cách lạy Phật “năm vóc gieo xuống đất” gồm: Trước hết, quỳ gối bên phải (gồm toàn bộ gối, cẳng chân và mu bàn chân) sát đất, kế đến là gối bên trái, rồi đến hai khuỷu tay sát đất, hai bàn tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán, sau cùng là đỉnh đầu đặt sát đất, giữ yên một lúc, như thế gọi là một lạy.

Điều cần lưu ý là động tác “hai khuỷu tay sát đất, hai bàn tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán”. Động tác này biểu thị cho việc hai tay người lạy nâng bàn chân của Thế Tôn cung kính đảnh lễ . 

Cho nên, cách lạy này còn gọi là “đầu diện tiếp túc quy mạng lễ” (đầu mặt chạm chân Thế Tôn cung kính lễ lạy). Như vậy, cách lạy mà bạn mô tả “trán cúi chạm xuống đất, còn hai bàn tay ngửa đưa ra phía trước trán” là đúng với cách lạy “ngũ thể đầu địa”.

Một điều nữa cần lưu tâm là “đầu đặt sát đất, giữ yên một lúc”. Việc cúi lạy rồi “giữ yên một lúc” là rất cần thiết vì không chỉ thân mà cả tâm đều cung kính lễ. Do đó, cần một khoảng thời gian để dốc hết tâm tư cung kính lễ lạy Phật. Lạy Phật nên chậm rãi, thong thả mới trang nghiêm và thành kính. Nên, những ai “cúi đầu lạy xuống, giữ lại một lúc” là đúng với quy cách lạy “ngũ thể đầu địa”.

Theo Hoa nghiêm kinhtùy sớ diễn nghĩa sao, khi kính lễ Tam bảo năm vóc gieo sát đất có ý nghĩa nhiếp phục sự kiêu mạn và tỏ lòng thành kính: 1. Khi gối bên phải sát đất nguyện cho chúng sanh được đạo chánh giác. 2. Khi gối bên trái sát đất, nguyện cho chúng sanh không khởi tà kiến ngoại đạo, tất cả đều an trụ trong đạo chánh giác. 3. Khi tay phải sát đất, nguyện như Thế Tôn ngồi tòa kim cương, đại địa rúng động, hiện bày tướng lành, chứng nhập đại Bồ-đề. 4. Khi tay trái sát đất, nguyện cho chúng sanh xa lìa ngoại đạo, khiến họ vào chánh đạo. 5. Khi đỉnh đầu sát đất, nguyện cho chúng sanh lìa tâm kiêu mạn, đều được thành tựu vô kiến đỉnh tướng.

Chúc bạn tinh tấn!
Quảng Tánh - Như Nhiên

BẢY CÁCH LỄ PHẬT

Tâm Trí

Hỏi: Tôi thấy có nhiều tông phái hay ở các chùa, các đạo tràng cách lạy Phật không giống nhau. Vậy xin hỏi là có bao nhiêu cách để Lễ Phật?

Đáp: Trước hết ta phải phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa “Lạy” và “Lễ”. Lạy là nói trên hình thức của Thân, được biểu hiện qua hành động đứng lên lạy xuống. Có người thì lạy úp hai bàn tay xuống, có người lai ngửa hai bàn tay lên, có người lại lạy theo ngũ thể đầu địa, người Tây Tạng thì lạy bằng cách nằm ẹp dài xuống đất, v.vv… Lạy chỉ là một phương tiện rất thấp. 

Lễ không nằm trong phạm vi hạn hẹp của sự đứng lên lạy xuống, mà Lễ là nói chung cho cả Thân và Tâm. Bài viết hôm nay xin chú trọng về “Lễ Phật”. Nếu biết lễ đúng cách thì quý vị cũng có thể đạt được sự giải thoát Giác Ngộ.  Lễ Phật được chia ra làm 7 cách:

  1. Ngã Mạng Lễ
  2. Cầu Danh Lễ
  3. Thân Tâm Cung Kính Lễ  
  4. Phát Trí Thanh Tịnh Lễ
  5. Biến Nhập Pháp Giới Lễ
  6. Chánh Quán Tâm Thành Lễ
  7. Thật Tướng Bình Đẳng Lễ

Ngã Mạng Lễ - Đây là cách hành lễ mà vẫn còn ngã mạng, vẫn còn tự tôn, không có sự thành tâm hay cung kính. Ví dụ như các Tiểu ở chùa bị sư phụ phạt lễ lạy, vì đang bị phạt trong lòng còn đầy sân hận, thân thì lạy theo tiếng chuông, nhưng tâm thì không phục

Cầu Danh Lễ - Đây là cách hành lễ trên hình thức lòe loẹt bên ngoài để cầu danh lợi, để được ngợi khen là sư ông sư bà đúng là chơn tu, chỉ làm ra vẽ bên ngoài khi có khách hay là thập phương bá tánh bổn đạo viến thăm. Nhưng thật chất hàng ngày thì biếng nhác không chuyên tâm cầu đạo. Hoặc là ông A bà B lên chùa thì xâu chuổi đeo đầy mình, lên chánh điện thì chen lấn xô đẩy người này người kia để được đứng trước tượng Phật để lễ lạy để được khen là thành tâm cúng Phật.

Thân Tâm Cung Kính Lễ - Đây là cách hành lễ của những người bình thường, tuy chưa hiểu nhiều về đạo, nhưng đến chùa (hoặc là lạy Phật ở nhà) với lòng tin vào Tam Bảo và khi lễ lạy rất chí thành

Phát Trí Thanh Tịnh Lễ - Đây là cách hành lễ của những người hiểu đạo, biết tư duy học hành theo kinh điển để Trí Tuệ phát sinh. Tuy Thân không có lạy Phật, nhưng phát sinh Trí Tuệ là được kể như là một cách hành lễ

Biến Nhập Pháp Giới Lễ - Đây là cách hành lễ bằng cách mở rộng Tâm mình ra bên ngoài, dẹp bớt những cái trần tướng phiền não bình thường, nhìn cỏ cây hoa lá đâu đâu cũng đẹp, cũng thanh tịnh, lúc này Tâm có được khinh an, nhẹ nhàng, không cần có đối tượng mà Tâm vẫn có được sự an lạc

Chánh Quán Tâm Thành Lễ - Đây là cách hành lễ bằng cách vận dụng tư tưởng trong chánh niệm để tu tập Chỉ và Quán. Chỉ là chặn đứng các Vọng Tưởng, Quán là đặc vấn đề Quán cái gì, như là Quán Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, Quán Bất Tịnh, v.vv..

Thật Tướng Bình Đẳng Lễ - Đây là cách hành lễ bằng cách học đạo tư duy nghiên cứu cho đến khi nào không còn chấp ngã, thấy được Thật Tướng Của Vạn Pháp là Vô Tướng, thấy được sự vật Sắc Chẳng Khác Không, Không Chẳng Khác Sắc

Nhìn bằng Đạo Nhãn, 3 cách hành lễ đầu tiên gọi là “Sự Lễ”, là cách hành lễ hạng bét. Vì Sao thế? Vì đấy chỉ là hình thức bên ngoài, bất quá thì chỉ giản gân giản cốt, không đem lại được sự giải thoát Giác Ngộ. Là một người Trí, chúng ta phải xát định rõ ràng, mục đích ra đời của chư Phật là gì? Và tại sao chúng ta lại lễ lạy Phật?

Chư Phật ra đời nhằm mục đích nguyện độ chúng sanh chứ không phải là ngồi để cho quý vị lễ lạy (Phật không còn cái ngã mạng là ngồi để cho quý vị lễ lạy đâu nha). Sở dĩ chúng ta lạy Phật là do lòng kính quý của chúng ta đối với vị thầy của trời người, đã khai sáng cho chúng ta con đường giải thoát, và mỗi lần lễ lạy ông Phật bên ngoài, lại nhắc nhỡ chúng ta rằng, mình còn có ông Phật bên trong, đó là ông Phật Tâm của chính mình. Và làm sao để ông Phật Tâm của chính mình có được giải thoát giác ngộ, đấy mới thật sự là Lễ Phật và đền đáp công ơn của chư Phật.

Như vậy 4 cách hành lễ sau cùng là hành lễ bằng Tâm (bằng Trí), có thể đưa chúng ta đến giải thoát và giác ngộ. Đấy mới thật sự là LỄ PHẬT.

ĐƯA ÔNG TÁO VỀ TRỜI

Hôm nay ngày 23 Tết Âm lịch, năm nào cũng vậy, mọi nhà lo mua ba bộ mũ, hia, giày và một con cá chép sống để cúng tiễn đưa ông Táo về Trời và ông Táo sẽ tâu trình với Ngọc Hoàng các việc làm ác, thiện của gia chủ. Như vậy có không, có người còn bảo, năm nào mà không mua mũ cho ông Táo thì đêm đến nằm mơ thấy ông Táo về đòi. Như vậy có đúng không ?


Đáp: Ông Táo là một chuyện mê tín của dân gian, mục đích là để răn người đừng làm điều ác, vì làm điều ác là ông Táo sẽ về chầu Trời tố cáo tội ác trong năm, rồi Ngọc Hoàng sẽ cho giáng họa và người làm ác sẽ chịu biết bao nhiêu đau khổ. Mũ hia, áo mão của ông Táo giống như mũ hia, áo mão của một vị quan phong kiến. Ông Táo không có thật, mà chỉ là trí tưởng tượng của loài người, để khiến cho người ta sợ mà không làm điều ác.

Từ câu chuyện dân gian răn nhắc đừng làm ác, biến dần thành một phong tục, đến cuối năm nhà nào cũng đều cúng ông Táo, để ông về tâu bớt những chuyện làm ác của mình, để ông Trời không  có  gieo  tai  họa.  Câu  chuyện  biến  dần thành câu chuyện lo lót hối lộ. Từ câu chuyện răn nhắc đừng làm ác thì dần dần biến thành phi công lý, phi đạo đức (hối lộ mũ hia, giày, quần áo, cá chép, cúng bái thần linh là một hình thức hối lộ).

Nằm mộng thấy ông Táo về đòi, đó là tưởng mộng chớ ông Táo đâu có thật. Người ta huyền thoại nhiều câu chuyện về Táo quân “Một bà hai ông”, bây giờ đã thành một phong tục truyền thống dân tộc, cứ đến ngày 23 tháng chạp nhà nhà đều cúng đưa ông Táo về trời. (Nguồn: TTL)

HIÊN TƯỢNG PHẬT SỐNG, VÀ LÀM SAO ĐỂ THẤY ĐƯỢC MỘT VỊ PHẬT HAY BỒ TÁT?

Tâm Trí

Hỏi:Gần đây lại có tin đồn hiện tượng “Phật sống”và cũng có một số người đã xác nhận là đã gặp qua Phật sống. Vậy tin này có thể tin được không? Và làm sao để có thể thấy được một vị Phật hay Bồ Tát?

Đáp: Trên căn bản, danh từ “Phật sống” là đã sai đối với giáo lý của Đạo Phật. Đã gọi là Phật sống tức là phải có Phật chết. Nhưng Phật có chết hồi nào đâu mà bảo là Phật sống hay là Phật chết? Chẳng lẽ đã là Phật, là Như Lai Thế Tôn mà lại còn sống chết như phàm phu hay sao? Vậy làm sao gọi Phật là đã chấm dứt sanh tử luân hồi? Cho nên những người phao tin, cũng giống như là những người xác nhận đã thấy qua Phật sống, thật ra chẳng biết Phật là gì, mà chỉ tự dối mình gạt người và đánh lừa lòng tin của những Phật Tử nhẹ dạ, chưa thâm nhập vào Đạo Phật.

Có 3 điều đáng lưu ý ở sự kiện này:

1.Thuở xưa, Đức Phật Thích Ca (cũng như là các vị Phật khác) đã từ bỏ vương vị, tiền tài danh vọng, cung vàng điện ngọc, chỉ còn lại 1 bình bát và 3 y,  để có được bồ đề niết bàn. Bây giờ chúng ta lại đem những của cải tài vật đến cho Phật, những cái mà ngài đã bỏ đi từ lâu vì chính nó là “nguyên nhân của Phiền Não”, vậy chẳng phải là “Phỉ Báng Như Lai” hay sao? Các chư Phật ra đời là nhằm mục đích độ thoát chúng sanh, chứ không phải ngồi để cho chúng ta lễ lạy. Chẳng lẽ Như Lai Thế Tôn đại từ đại bi, đại hỹ đai xã lại còn cái ngã mạn là ngồi để cho chúng ta lễ bái hay sao? Cho nên chẳng có ông Phật nào mà ngồi ở không để nhận lễ lộc cúng bái của quý vị đâu nha.

2.“Lại nữa, Xá Lợi Phất! Các Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni đó tự cho mình đã đặng A-la-hán, là thân rốt sau rốt ráo Niết bàn, bèn chẳng lại quyết chí cầu đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nên biết bọn đó là kẻ tăng thượng mạn” (kinh Pháp Hoa)

3.Phật hỏi: “Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng? Như Lai có pháp để nói chăng?” Tu Bồ Đề thưa: “Theo con hiểu về nghĩa Phật đã nói thì không có pháp cố định gọi là Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng không có pháp cố định Như Lai có thể nói. Tại sao? Pháp do Như Lai nói đều chẳng thể chấp lấy, chẳng thể nói, chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp. Vì cớ sao? Tất cả Hiền Thánh đều do pháp vô vi mà có sai khác.” (kinh Kim Cang) – Qua đoạn hội thoại này, ta có thể hiểu được, sở dĩ gọi là Như Lai Thế Tôn, là Phật, vì ngài đã không còn có ý niệm ngài là Như Lai Thế Tôn. Nếu ngài khởi niệm thì tuyệt không phải là Như Lai Thế Tôn nữa vì khi đã thành Phật thì không còn chấp vào 4 tướng là Tướng Ngã, Tướng Nhơn, Tướng Chúng Sanh, và Tướng Thọ Giả.

Qua 3 điểm trên, ta có thể khẳn định ông nào tự xưng là Phật sống, là Bồ Tát, là đã chứng thánh quả ngồi cho quý vị lễ lạy cúng bái, thu nhận tiền của, thì ông đó, không phải là “bị chạm dây” thì cũng là “Phàm Phu Thứ Thiệt 100% đấy”

Trả lời câu hỏi thứ 2,làm sao để có thể thấy được một vị Phật hay Bồ Tát? Cõi Ta Bà mà chúng ta đang sống được gọi là “Thánh Phàm Đồng Cư Độ”, nghĩa là chư Phật, chư Bồ Tát và Phàm Phu chính hiệu 100% đều sống chung lẫn lộn.Cho nên, muốn thấy Phật và Bồ Tát cũng không khó, chỉ cần có “Trí Tuệ” là có thể thấy được. Vậy trước hết ta hãy định nghĩa Phật và Bồ Tát là gì?

Phật là gọi tắc của hai chữ “Phật Đà” nói theo tiếng Pali (Phạn Ngữ), dịch sang tiếng Hán-Việt là “Giác Giả”, có nghĩa là “Người Tỉnh Thức”. Nói như vậy có người lại hỏi, tôi đang tỉnh, đang nói chuyện, vậy có phải tôi cũng là người tỉnh thức hay không? Xin thưa không. Quý vị chỉ đang tỉnh ngủ thôi. Tất cả chúng ta nhìn thì dường như không khác biệt, nhưng thật sự là “đang đắm chìm trong sông mê, biển ái, sanh tử trầm luân” mà lại không hề nhận thức, lấy giả làm thật, lấy khổ làm vui, lại cho đó là thật. Thế nên Phật mới bảo là chúng sanh mộng tưởng điên đảo.

Bồ Tát là gọi tắc của Bồ Đề Tát Đỏa. Vào đời Dao Tần, ngài Cưu Ma La Thập dịch là “Thành Tựu Chúng Sanh Đại Đạo Tâm”. Nghĩa là nếu có chúng sanh nào phát nguyện đi trên con đường rộng lớn (là con đường thoát ly sanh tử), thì người đó chính là Bồ Tát.Trong bài kệ hồi hướng có đoạn “Thế thế thường hành Bồ Tát đạo. Nguyện sanh Tây Phương tịnh độ trung”. Nếu quý vị đã nguyện là thường hành Bồ Tát đạo, nghĩa là làm việc làm của Bồ Tát, như vậy quý vị là Bồ tát rồi đấy. Nhưng là “sơ phát tâm Bồ Tát”. Phải còn tu lâu dài nữa mới diệt trừ được tham sân si phiền não.

Sau này đến đời nhà Đường, ngài Huyền Trang dịch là “Hữu Tình Giác” nghĩa là Chúng Sanh Hữu Tình đã có sự tỉnh thức (không còn mê). Tuy nhiên quý vị đừng nghĩ “Tỉnh Thức” là hoàn toàn Giác Ngộ như Phật. Ba La Đề Mộc Xoa dịch là “Giới”, nghĩa là “Biệt Biệt Giải Thoát”, tức là “sự giải thoát từng phần”. Nếu có vị nào giữ được 2 giới là đã chứng được 2 phần và cũng đã có sự giải thoát hay là tỉnh thức được 2 phần. Giữ được 10 giới thì giải thoát được 10 phần. Bồ Tát cũng được dịch là Giác Hữu Tình” nghĩa là đem sự tỉnh thức của mình để đánh thức những Chúng Sanh Hữu Tình khác. Nói tóm lại, Bồ Tát là một người tỉnh thức chuyên làm việc lợi lạc cho chúng sanh.

Theo như trong kinh Hoa Nghiêm, khi một thế giới mới được hình thành thì chư Phật và Bồ Tát liền thị hiện xuống làm những vị thuốc, làm nhữ vị tổ của các nghành nghề để giúp đỡ, truyền dạy và hóa độ cho chúng sanh ở quốc độ đó. Cũng với ý này, trong kinh Pháp Hoa, Bồ Tát Quán Thế Âm dạo chơi ở cõi Ta Bà qua 32 Ứng-Hóa-Thân. Như vậy, nếu quý vị quán sát đến những người chung quanh (“dùng Trí để quán sát” không được dùng tình cảm), những vị “Chơn Tu”, những người xuất gia hay không xuất gia, bất kể là màu da, chủng tộc, hay Tôn Giáo, đã không cầu danh lợi, bỏ cả cuộc đời để đi làm việc lợi lạc cho chúng sanh, hay là những vị tổ của các nghành nghề. Nhìn bên ngoài thì không khác với chúng ta, nhưng đích thực đấy là những vị Phật và Bồ Tát thị hiện để hóa độ chúng sanh.

PHẦN ĐỌC THÊM

Phần trả lời trên, xem như là khá đầy đủ chi tiết cho những người chưa hiểu nhiều về đạo. Tuy nhiên, xin khai triển thêm ở điểm này, hằng mong những ai có “Chủng Tử Đại Thừa” có thể lĩnh hội thêm nét sâu sắc của đạo Phật.

Như đã trả lời ở phần trên, tuy chư Phật và các hàng “Đại Bồ Tát” thị hiện khắp nơi để giáo hóa chúng sanh. Nhưng khi đã thâm nhập sâu vào đạo thì đừng nên chạy tìm cầu các ông Phật hay Bồ Tát nào ở bên ngoài nhé, Phật rầy nặng lắm đấy.

Thế nào là kẻ “Ngoại Đạo”? Đa số các Phật Tử ai cũng cho rằng các đạo khác như là Thiên Chúa Giáo hay là Hồi Giáo là ngoại đạo chứ gì? Xin thưa đấy là một sự nhầm lẫn đáng tiếc. Những người Phật Tử đôi khi cho mình là “Nội Đạo”, nhưng thật ra là ngoại đạo đấy. Lục Tổ Huệ Năng định nghĩa như thế này: “Thế nào là kẻ ngoại đạo? Chính là kẻ cầu tìm Phật Pháp ở ngoài Tâm”. Vậy những ai đi tìm cầu Phật Pháp ở bên ngoài mà không hề biết, không hề tìm cầu ông Phật ở trong Tâm mình để sớm đạt được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (là thành Phật), thì đều là những kẻ ngoại đạo. Vậy thì hãy xem lại xem mình là Nội Đạo hay là Ngoại Đạo nhé. Phật nói 4 câu kệ trong Kinh Kim Cang cũng là ý này:

“Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thinh cầu ngã
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai”

Đây là 4 câu kệ trong kinh Kim Cang, nghĩa là nếu có kẻ tìm cầu mong được thấy Phật bằng âm thanh hay sắc tướng, qua 32 tướng tốt, 80 vẽ đẹp, muốn đến chiêm ngưỡng lễ bái ông Phật biết đi, biết đứng, biết nói biết cười, kẻ đó đang làm việc tà, không bao giờ biết được Như Lai là như thế nào (Phật rầy những ai tìm cầu ông Phật bên ngoài là tà đạo đấy)

“Phật hỏi: Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể ở nơi thân tướng mà thấy được Như-lai chăng? Thưa không, Thế-tôn! Không thể ở nơi thân tướng mà thấy được Như-lai. Vì sao? Như-lai nói thân tướng đó, tức chẳng phải thân tướng. Phật bảo Tu-bồ-đề: Phàm những gì có hình tướng, đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, thì thấy Như-lai (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng tắc kiến Như Lai.)” – Kinh Kim Cang

Qua đoạn hội thoại trên, ta có thể hiểu được rằng, dựa vào thân tướng bằng xương bằng thịt, biết đi, biết đứng biết nằm biết ngồi mà cho đó là thân của Phật vậy là chưa biết gì về Phật. Vì sao thế, đó chẳng qua là những giả hợp do nhân duyên nương gá nhau để tạo thành, nào phải là thân Phật (cũng gọi là thân Như Lai). Muốn thấy được Phật thì phải thấy cho được “Pháp Thân Phật”. Pháp Thân Phật còn được gọi là Tỳ-Lô-Giá-Na dịch là “Biến Nhất Thiết Xứ” mà Pháp Thân Phật là Bất Sanh Bất Diệtbởi lẽ đó là tự tánh thanh tịnh, là bản thể chơn như, cùng khắp Pháp Giới vô thỉ vô chung. Thế nên, muốn thấy Pháp Thân Phật là phải thấy cho được“Vô Tướng”. Vậy Vô Tướng là gì? Vô Tướng là “Tướng Không”, nghĩa là khi nhìn vào các tướng mà không bị “dính mắt” (nghĩa là không chấp vào 4 tướng, không có sự phân biệt đối đãi – Nhìn bằng “Thập Như Thị”) và hiểu rõ tất cả đều do nhân duyên nương gá hợp thành, “Không có tác giả cũngKhông Có Tự Thể Riêng Biệt Của Chính Nó” thì người đó mới thấy được “Thật Tướng của Như Lai”. (Xin nói thêm, cổng Tam Quan ở chùa là tượng trưng cho Cửa Không-Vô Tướng-Vô Tác)

Trong kinh Vô Lượng Thọ, Phât dạy rằng: “Giả sử cúng dường Hằng Sa Thánh. Không bằng kiên dõng cầu Chánh Giác”. Nghĩa là giả sử có người cúng dường các chư Phật nhiều bằng số cát của Sông Hằng, thì Phước Đức cũng không bằng người này tự cầu đạo và giải thoát cho chính mình. Vì sao thế? Vì chỉ lo cúng dường ông Phật bên ngoài chỉ là “phương tiện râu ria bìa chéo”. Nói dễ hiểu hơn là cho dù người nào làm vua cũng đâu bằng chính mình làm vua? Thế nên, phải tìm cầu cho được ông Phật Tâm của mình để có được Giải Thoát Giác Ngộ cho tự thân đó mới thật sự là cứu cánh. 

Nói như vậy có người lại hiểu là từ nay lên chùa gặp các ông Phật đồng Phật đất thì không cần lễ lạy kính quý nữa. Trên lý là nói như vây, tuy nhiên, không phải thế. Kính quý là sự biểu hiện của sự biết ơn của chúng ta đối với vị thầy của trời người, đã khai sáng cho chúng ta con đường giải thoát. Lễ lạy là tập thể dục, tốt cho sức khỏe, và mỗi lần lễ lạy ông Phật bên ngoài, lại nhắc nhỡ chúng ta rằng, mình còn có ông Phật bên trong, đó là ông Phật Tâm của chính mình!!

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

Hỏi: Xin được giải thíchvề sự hồi hướng công đức. Cũng xin hỏi thêm: “Công đức được hồi hướngcó đến với người không làm nên việc thiện, thậm chí đã hay đang làm ác không? Việc hồi hướng trái với nhân quả hay không?” V.T. Ân (Nguyễn Biểu, Q. Ba Đình, Hà Nội)

Đáp:

Hồi hướng công đức là ý niệm do Phật giáo Đại thừa triển khai, được trình bày rất đa dạng nên có thể khiến người ta hiểu theo nhiều cách. Về công đức (Punya, Guna) được Đại thừa nghĩa chươnggiải thích: “Công là công năng làm tăng trưởng phước lợi, công là đức của người tu hành nên gọi là công đức”. Theo đó, công tạo ra phước lợi nhân quả, đức là đức độ, đức hạnh và công cũng được hiểu biết là công đức. Sách Thắng Man Bảo Quật ghi: “Hết sạch đều ác gọi là công, điều thiện tràn đầy gọi là đức”. Theo đó, công đức là sự toàn thiện.

Xưa kia, Lương Võ Đế hỏi sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma rằng vua đã cho lập chùa, bố thí, độ Tăng vô số, như thế vua được công đức gì không thì Sơ tổ đáp rằng không có công đức gì cả (xem Cảnh Đức truyền đăng lục). Lục Tổ Huệ Năng giảng rằng: “Đấy là cầu phước, không thể đem phước đổi lấy công đức (…). Công đức là ở trong pháp thân, không thể do tu mà được (…). Thấy tánh là công, bình đẳng là đức. Mỗi niệm không ngừng trệ, thường thấy bổn thánh chân thật, diệu dụng, đấy gọi là công đức” (Xem Pháp Bảo Đàn kinh). Ở đây, công đức thuộc bình diện tuyệt đối, là chân như, bình đẳng, vô sai biệt. Từ các giải thích trên về công đức, ta có thể hiểu công là hành động, là công việc thực hiện, là tu hành, hành thiện; đức là sự phát triển tâm linh, là tánh hạnh, thiện căn tăng trưởng do kết quả của công và công cũng là sự thể hiện của cái đức bên trong. Công đức là sự viên dung giữa thể và dụng, tánh và tướng.

Hồi hướng (Paridanayati) là hành động chuyển về, trao đến, nhận về và trao đến. Hồi hướng công đức (Pridana) nghĩa là bố thí (Dana) khắp cả (Pari), tức bố thí công đức của mình cho hết thảy chúng sanh. Sách Đại thừa nghĩa chương phân biệt ba ý nghĩa của hồi hướng công đức: a/mong cầu trí tuệ;
b/đem thiện pháp do mình tu được ban cho chúng sanh và
c/đưa thiện căn của mình đến pháp tánh bình đẳng như thật.
Có thể hiểu hồi hướng công đức là công hạnh tu hành vừa là lởi lạc, là sự thể hiện của từ bi (cũng là một công hạnh tu tập), thiện nguyện của người hồi hướng; và theo lý bình đẳng thì mọi chúng sanh đều được hưởng công đức hồi hương. Cũng trong ý nghĩa bình đẳng, vô chấp, vô phân biệt, kinh Tiểu phẩm Bát-nhã ghi: “Hồi hướng mà không có một pháp nào được gọi là hồi hướng mới gọi là hồi hướng A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (…), vì chư Phật dạy rằng hồi hướng thì không được chấp tướng”.

Thấy tánh, chân thật, bình đẳng (như ngài Huệ Năng giảng và đoạn trích trong Đại thừa nghĩa chương, đã dẫn) là những pháp vô vi thuộc chân lý tuyệt đối hay chân như thì không liên hệ gì đến lý nhân quả của thế giới hiện tượng (hữu vi) này. Do đó mọi chúng sanh đều được thọ nhận công đức hồi hướng. Mặt khác, về lý nhân quả thì tùy theo sức hồi hướng (tức trình độ tâm linh) của người hồi hướng và tùy theo nghiệp lực, nghiệp quả của mỗi chúng sanh mà sự thọ nhận có mức độ ít nhiều khác nhau. Đối với người không làm thiện, thậm chí làm ác thì người ấy cũng thọ nhận được đôi phần công đức; điều này không trái với lý nhân quả vì chắc chắn trong quá khứ, trong vô số kiếp trước, chắc chắn người ấy cũng có hành thiện, tích đức ít nhiều.

Hồi hướng công đức là mục tiêu, hướng đi của chư Phật, Bồ-tát; là một thể cách tu hành để phát triển tâm linh, thể hiện nguyện ước thiện lành, lòng từ bi cao độ mà mọi Phật tử nên thực hiện trong sinh hoạt hàng ngày.

(Tạp chí văn hóa Phật giáo)

CẦU NGUYỆN VÀ HỒI HƯỚNG CÓ TÁC DỤNG KHÔNG?

 Thích Phước Thái

Việc cầu nguyện đều theo như ý mình muốn hết, thì trần gian này chắc không ai dại khờ gì mà tu hành chi cho nó khổ sở mệt xác. Vì tất cả đều có chư Phật, Bồ tát lo hộ độ cho mình hết rồi. Hiểu đạo Phật theo kiểu đó, tức vô tình ta mắc phải cái tội là dìm đạo Phật vào con đường mê tín.

Hỏi: Kính bạch thầy, con có hai câu hỏi kính mong thầy giải đáp:

1. Mấy đứa con của con đều có tâm từ biết làm phước, bố thí, nhưng chúng nó chưa có hướng tâm về Tam bảo. Điều mà con mong muốn cho chúng nó nên hướng lòng về Tam bảo để lo tu niệm, nhưng không có đứa nào làm theo như ý muốn của con. Có phải đó là do căn duyên của chúng nó không? Và con phải làm sao?

2. Con có đứa con bị mang tật bẩm sinh và một đứa ham mê cờ bạc, con nghĩ đây cũng là do nghiệp duyên của nó, nên mỗi khi tụng kinh, niệm Phật, thì con đều hồi hướng công đức về cho chúng nó. Xin hỏi, như vậy có lợi lạc gì cho chúng nó không?

Đáp: Tôi rất cảm thông nỗi lòng đau khổ của phật tử và hơn thế nữa, với tâm tư sầu muộn lo âu trong trách nhiệm bổn phận của một người mẹ. Tôi xin được chia sẻ góp chút thành ý với phật tử qua hai câu hỏi đã nêu trên.

1. Việc bố thí làm phước của các đứa con của phật tử, thật đó là điều đáng khen ngợi vui mừng. Nếu các em không có thiện căn biết thương yêu người, thì làm gì các em có thể biết hành thiện như thế. Đó cũng là do nhiều đời các em đã có huân tập hạt giống lành vào trong tâm điền, nên nay các em mới có được phát tâm như thế. Phật tử chỉ nên khuyến khích các em cố gắng tu tạo thêm phước đức để được lợi mình và lợi người. Đó là điều cần khích lệ cho các em. Khích lệ chớ không phải là bắt buộc. Có nhiều người vì muốn cho con mình có phước, nên thường bảo các em phải cúng dường, bố thí v.v… Điều này, tất nhiên là có ý tốt, nhưng việc làm từ thiện không nên ép buộc. Có đôi khi, phật tử sẽ bị phản tác dụng, gây nên tình trạng không mấy tốt đẹp giữa tình mẹ con với nhau. Tốt hơn hết, là hãy để cho các em tự ý thức và phát tâm. 

Còn việc phật tử nói, các em chưa hướng tâm về Tam bảo, theo ý của phật tử mong muốn các em phải hướng về Tam bảo như thế nào? Có phải là các em nên đến chùa quy y thọ giới hay phải đi chùa thường xuyên hoặc là hằng đêm phải lễ bái tụng niệm v.v… Điều này, theo tôi, phật tử không nên mong muốn những gì ngoài khả năng tầm tay của mình. Việc hướng lòng về Tam bảo tu hành còn tùy thuộc vào căn duyên chủng tính của mỗi người. Không phải ai cũng có thể làm được. Nếu người đó thiếu căn lành với Phật pháp, thì dù mình có muốn cho họ thọ giới quy y hay đi chùa nghe kinh, tụng niệm, lễ bái… đâu phải là chuyện dễ làm. 

Thật ra, làm cha mẹ ai cũng mong muốn cho con mình đi theo con đường chính giáo đạo đức tốt đẹp, chớ không ai muốn cho con mình phải hư hỏng lầm đường lạc lối, đi vào con đường tà giáo tội lỗi. Nhưng xin thưa với phật tử, không phải cái gì mình muốn là được hết đâu. Muốn là một chuyện còn được hay không lại là chuyện khác. Nếu muốn cái gì cũng toại nguyện theo ý mình hết, thì cõi đời này chắc không còn một ai phải chịu nhiều đau khổ nữa. Vì mọi việc đều theo ý mình muốn hết rồi. Muốn trúng số độc đắc bạc triệu để mau làm giàu, mua vé số là trúng liền. Như thế, thì trần gian này sẽ trở thành cõi huỳnh kim thiên đường hạnh phúc. Người ta sở dĩ đau khổ thất vọng nhiều, chính là do những điều mong muốn mà không được toại ý. Đây là một trong tám nỗi khổ lớn của con người, đó là “cầu bất đắc khổ”.

Tại sao phật tử lại bắt chúng nó phải theo ý của phật tử? Nếu thế, thì chúng nó sẽ cho phật tử là một người độc tài độc đoán. Nhứt nhứt cái gì cũng phải theo ý của phật tử hết. Ý niệm mong muốn đó là nguyên nhân đưa đến cho phật tử phải đau khổ. Hẳn phật tử còn nhớ câu người xưa nói: “Sinh tử bất sinh tâm, sinh ngưu bất sinh giác”. Phật tử chỉ có thể sinh được cái hình hài thể xác của chúng nó thôi, chớ làm sao sinh được cái lòng dạ của chúng nó. Nghĩa là chúng nó muốn cái gì, suy tính nghĩ ngợi điều gì, thử hỏi làm sao phật tử có thể hiểu biết hết được? Phật tử nên nhớ, tư tưởng và quan niệm sống của mỗi người mỗi khác, không ai giống ai. Mình không nên bắt buộc người khác phải làm theo ý mình. Nếu thế, thì còn gì là tinh thần tự do, độc lập và làm sao phát triển tư tưởng theo chiều hướng tiến bộ được? 

Xưa kia, đức Phật khi thuyết pháp độ sinh, Ngài không bao giờ bắt buộc ai phải theo đạo của Ngài. Chủ trương của đạo Phật từ xưa tới nay và có thể nói mãi mãi về sau cũng thế. Đạo Phật không bao giờ khuyến dụ hay bắt buộc một ai theo đạo Phật cả. Vì đạo Phật lúc nào và bao giờ cũng tôn trọng quyền tự do tin tưởng chọn lựa quyết định của con người. Đức Phật chỉ đóng vai trò của một vị Đạo Sư chỉ đường vạch bày hướng đi mà thôi. Phật chỉ rõ con đường nào đau khổ và con đường nào dẫn đến hoàn toàn an lạc hạnh phúc, rồi từ đó để cho mỗi người tự do quyết định chọn lựa lấy. Đi hay không là phần trách nhiệm của mỗi cá nhân, tuyệt đối, không bắt buộc ai cả. 

Tôi thành thật khuyên phật tử hãy để cho chúng tự quyết định, chúng ta hãy tôn trọng quyền tự do tư tưởng của mỗi người. Bổn phận làm cha, mẹ là có nhiệm vụ phân tích cân nhắc việc lợi và hại của những vấn đề tốt xấu, thiện ác, hay dở v.v… theo luật nhân quả và nghiệp báo. Từ đó, để tự con trẻ ý thức quyết định chọn lấy. 

Nói về việc tu hành như ở những câu trả lời của một vài câu hỏi trên, chúng tôi cũng đã có nói sơ qua. Nếu luận về sự tu hành, thì không nhất thiết là chúng ta phải đi chùa mới gọi là tu. Tu nghĩa là sửa đổi. Sửa những điều  xấu xa, hư tệ, hung dữ v.v… trở thành những điều tốt đẹp,  hiền lương, thiện mỹ cả thân lẫn tâm. Hiểu thế, thì ở bất cứ nơi đâu hay trong hoàn cảnh thuận nghịch nào mình cũng có thể tu hành được cả. Điều quan trọng là mình có ý chí cương quyết thực sự tu hay không mà thôi.

Ở đời, càng mong muốn thì lại càng đau khổ. Nhất là những điều mong muốn đó ngoài khả năng tầm tay của mình. Mong phật tử không nên mong muốn những gì ngoài ý lực khả năng của mình.

2. Việc phật tử tụng kinh niệm Phật cầu nguyện cho đứa con hư hỏng hiện đam mê trụy lạc vào con đường bài bạc, thật ra, việc cầu nguyện hồi hướng đó, tuy không phải là hoàn toàn không có ảnh hưởng, nhưng chỉ có được chút ít nhỏ nhoi phần nào thôi. Điều quan trọng là phải chính ở nơi đứa con đó. Làm sao cho nó phải tự thức tỉnh, cai nghiện bài bạc, thì nó mới hết khổ được. Nếu cầu nguyện được hết, thì thế gian này, chắc không còn ai đau khổ nữa cả. Nghĩa là không còn một ai phải chịu đau khổ vì những vấn nạn nghiện ngập bài bạc, rượu chè say sưa, hút chích xì ke ma túy. Nói tóm lại, là xã hội sẽ không còn những tội phạm gây nên những thảm họa và bị tù đày đau khổ như hiện nay. Thế giới loài người sẽ trở thành một thế giới Cực lạc hết rồi.

Thiết nghĩ, là phật tử tu học chơn chính, chúng ta cần phải tu tập hiện thực, không nên cái gì cũng tin tưởng hoàn toàn ỷ lại vào chư Phật, Bồ tát hết. Vì chư Phật, Bồ tát các Ngài cũng phải nỗ lực quán chiếu tự tu hành không ngừng, nên các Ngài mới thành tựu được đạo quả. Tuyệt đối, không ai tu thế cho ai, vì không thể người này ăn mà người khác no bụng được. Ai tu nấy thành ai hành nấy đắc. Nguyên tắc xưa nay là như thế. Còn việc cầu nguyện mong các Ngài gia hộ, đó là điều trợ duyên giúp sức phần nào thôi, chớ không phải đó là nguyên nhân chính yếu. Mà việc chính yếu là mỗi người phải tự tỉnh ngộ lo tu hành chuyển hóa hết vô minh phiền não, những tập khí xấu ác đầy dẫy trong tâm thức, có thế thì mới mong được hoàn toàn giải thoát vậy. 

Sự có mặt của chúng ta ở đời, là do báo nghiệp mà chúng ta đã gây tạo từ trước. Do đó, nên mỗi người có mỗi báo thân tốt xấu và hoàn cảnh sống khác nhau. Trường hợp đứa con bị khuyết tật bẩm sinh của phật tử cũng thế. Đó là do nghiệp quả của em. Theo luật nhân quả, tất cả khổ vui đều do mình tạo lấy. Làm lành làm dữ cuối cùng rồi cũng phải trả. Hiểu thế, thì chúng ta nên an vui mà trả nghiệp. 
Trong truyện Kiều có câu:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa..”

Tóm lại, việc thành tâm cầu nguyện của phật tử chỉ giúp được một phần nhỏ nhoi nào đó thôi, điều quan trọng là đương sự phải ý thức tự từ bỏ cái thói hư tật xấu nghiện ngập của chính mình. Không ai cứu thoát mình, mà chính mình phải tự cứu thoát lấy mình. Có thế, thì mới mong tiêu nghiệp hết khổ được. Bằng trái lại, không có một bàn tay thần thánh nào cứu thoát mình được cả. Đạo Phật hướng dẫn chỉ dạy cho con người rất ích lợi thực tế trong đời sống. Nếu con người y theo đó mà thật hành. Phải dựa trên nền tảng của triết lý duyên sinh, nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, mà Phật Tổ đã chỉ dạy. Đó là những triết lý đạo đức căn bản nhằm xây dựng đời sống hướng thượng tròn phẩm cách của một con người. Nếu người Phật tử chịu khó áp dụng hành trì theo nguyên lý đạo đức căn bản qua 5 giới cấm của đạo Phật, thì chắc chắn người phật tử sẽ không còn đau khổ nữa.

Phật tử một mặt nên thành tâm cầu nguyện, mặt khác và thực tế cụ thể hơn, là nên tìm mọi phương cách để giúp đỡ cho đứa con của mình sớm được cai nghiện cờ bạc. Xin nhắc lại, nếu mọi việc cầu nguyện đều theo như ý mình muốn hết, thì trần gian này chắc không ai dại khờ gì mà tu hành chi cho nó khổ sở mệt xác. Vì tất cả đều có chư Phật, Bồ tát lo hộ độ cho mình hết rồi. Nghĩa là ta muốn cái gì được cái nấy. Hiểu đạo Phật theo kiểu đó, tức vô tình ta mắc phải cái tội mê tín. Kính mong phật tử lưu ý điều này. Kính chúc phật tử thân tâm thường lạc, trí huệ sáng suốt, nghị lực dồi dào để vượt qua mọi chướng duyên thử thách trên bước đường tu học Phật pháp.
Thích Phước Thái

VIÊN TỊCH và TÂN VIÊN TỊCH

Trần Việt Long

Trước đây do phương tiện truyền thông còn nhiều hạn chế nên người ta ít khi nghe và thấy chữ "Tân Viên Tịch" trong các văn thư, cáo phó, phân ưu, điếu từ và điếu văn trên các phương tiện truyền thông, nhưng gần đây người ta thấy chữ "Tân Viên Tịch" nhiều hơn trước để chỉ sự kiện một vị Tôn Đức Tăng Ni Giáo Phẩm vừa viên tịch.  Vậy trong thực tế có sự khác nhau giữa viên tịch và tân viên tịch không?

Trong Kinh Luận Đại Thừa thì có Tân Vãng Bồ Tát và Cựu Trụ Bồ Tát, tức là tên gọi để phân biệt Bồ Tát mới vãng sinh về cõi Tịnh Độ với Bồ Tát đã trụ ở cõi Tịnh Độ từ trước.  Nhưng đấy là một phạm vi kinh luận khác còn chữ "Tân" trong "Tân Viên Tịch" chỉ thuần là phạm vi ngôn ngữ mà thôi.  Về phương diện ngôn ngữ học thì chữ "tân" được dùng dưới ý nghĩa tỉnh từ (mới / new) nhiều hơn trạng từ (vừa / newly / recently) như tân hôn, tân lang, tân giai nhân, tân gia, v.v...; tuy thỉnh thoảng cũng có dùng, ở vị trí trạng từ, nhưng ít lắm, như tân trang, tân tạo.  Trong chữ "tân viên tịch" thì chữ "tân" (mới, vừa xảy ra) là trạng từ; chữ "viên tịch" là động từ.  Chữ "tân" trong "tân viên tịch" hoàn toàn không mang ý nghĩa "mới" (tân / new / tỉnh từ) để đối chiều với "cũ" (cựu / old, former / tỉnh từ) mà chỉ mang ý nghĩa "vừa xảy ra" (tân / newly, recently / trạng từ).

Về phương diện kinh luận Phật học thì chữ "tân viên tịch" cũng không được khế lý mặc dầu trong ý nghĩa xã hội thì có vẻ khế cơ.  Viên tịch hay niết bàn (Sancrit: Nirvàna / Pali: Nibbàna / Nir là không, không còn, không có; Vàna là vọng, tham, dục, dục vọng, tham vọng, vọng tưởng) là một biến cố cấp kỳ, xảy ra trong sát-na chớp nhoáng (mỗi ngày có 24 giờ và gồm 4.800.000 sát-na) như thổi tắt ngọn đèn, và có nghĩa là diệt tận vòng quay sinh tử luân hồi, hoàn toàn giải thoát để vào một cõi sống khác đầy an lạc.  Khoảnh khắc viên tịch như một niệm, khởi lên và tan biến ngay lúc đó như khi ta nghĩ về, nhớ đến hình ảnh người thân yêu thì hình ảnh đó hiện ra ngay cho dầu người thân của chúng ta đang ở đâu đó trên trái đất này.  Tình trạng đau yếu, và thời gian bệnh hoạn, kể cả khoảng thời gian lâm chung và trăn trối không phải là thời điểm viên tịch mà là giai đoạn trả nghiệp mà người lâm chung đã tạo ra trong cuộc đời của họ.  Để hình dung được sự viên tịch và hành viên tịch thì phải hiểu sát-na là gì?
" Nhất sát-na vi nhất niệm.
Nhị thập niệm vi nhất thuấn.
Nhị thập thuấn vi nhất đàn-chỉ.
Nhị thập đàn-chỉ vi nhất la-dự.
Nhị thập la-dự vi nhất tu-du.
Nhất nhật nhất dạ hữu tam thập tu-du.
一刹那为一念
二十念为一瞬
二十瞬为一弹指
二十弹指为一罗预
二十罗预为一须臾
一日一夜有三十须臾
1 sát-na là 1 niệm
20 niệm là 1 thuấn
20 thuấn là 1 đàn-chỉ
20 đàn-chỉ là 1 la-dự
20 la-dự là 1 tu-du
1 ngày 1 đêm có 30 tu-du."

["Nhất Sát-Na" Thị Đa Cửu / Huỳnh Chương Hưng dịch]

Như vậy trọn mỗi một ngày đêm trong 24 giờ thì có 4.800.000 sát-na và được tính như sau:

30 tu-du x 20 la-dự x 20 đàn-chi x 20 thuấn x 20 niệm = 4.800.000 niệm mà mỗi niệm là một sát-na.

Mỗi lời, mỗi chữ đều có nội hàm và ngoại diên của nó và nó còn tùy thuộc vào ngữ cảnh (context) mà thay đổi ý nghĩa nữa.  Trong ngôn ngữ thường dùng mỗi ngày chúng ta thường gặp những mâu thuẩn thật khó nói; chẳng hạn như, khi một tín hữu Thiên Chúa Giáo từ trần thì tang gia đưa ra một cáo phó với nội dung “Gia đình chúng tôi vô cùng đau buồn báo tin Cụ Phê-rô Nguyễn Văn A … đã được Chúa gọi về ngày …” và rồi sẽ nhận được nhiều phân ưu như “Nhận được tin buồn Cụ Phê-rô đã được Chúa gọi về ngày … chúng tôi xin thành kính chia buồn … .”  Được Chúa gọi về Nhà Cha ở trên Trời là một tin vui chứ sao lại tin buồn; tin buồn là khi nào bị Chúa gọi về mới hợp lý. 

Ngôn ngữ là một quy ước không thuần lý nên ở đây, là người Phật tử, chúng ta nên hiểu rõ sự khác nhau giữa hai chữ “Viên Tịch” và “Tân Viên Tịch” do tập tục lâu đời trong sinh hoạt sơn môn như sau.  Và ở đây cũng cần nói qua về ý nghĩa hai chữ “sơn môn” và “hệ phái.”  Sơn môn nghĩa đen là cổng chính của một ngôi chùa được kiến lập ở chốn núi rừng, nghĩa thông thường là cửa chùa, nhưng nghĩa rộng thường được dùng trong nhóm chữ “sơn môn hệ phái” thì sơn môn là chùa Tổ, là Tổ đình, là môn phái trong Phật giáo.  Sơn môn và hệ phái được hiểu như là một chi nhánh, một cấp nhỏ hơn của một Tông chính.

Khi một vị Tôn Đức Tăng Ni Giáo Phẩm cao cấp như các bậc Cao Tăng, Trưởng Lão, Đại Lão Hòa Thượng, Đại Lão Ni Trưởng, Hòa Thượng, Ni Trưởng hay vị Phương Trượng, Trụ Trì, Viện Chủ từ trần thì theo tập tục sơn môn, vị Tăng sĩ phụ trách giới luật, thanh quy phải viết tôn kính vị Tôn Đức đó là “Hòa Thượng, Thượng Tọa Tân Viên Tịch” để bày tỏ lòng thương tiếc và kính trọng theo đúng tinh thần văn hóa “tôn lão, kỉnh trưởng” của dân tộc Việt Nam.  Chữ “Tân Viên Tịch” được dùng từ ngày viên tịch cho đến khi xong Lế Giỗ lần thứ nhì, tức là mãn phục Đại Tường, và sau đó là Lễ Thỉnh Nhập Tổ Vị.

Khi một vị Tôn Đức Tăng, Ni còn tương đối trẻ tuổi và chưa giữ trách nhiệm Trụ Trì, Viện Chủ mà từ trần vì bất cứ nguyên do gì thì chúng ta, môn đồ, Pháp quyến, và đồng bào Phật tử xa gần vẫn chỉ nói và viết "Thượng Tọa / Đại Đức (Pháp danh) vừa viên tịch lúc 11 giờ 22 phút 33 giây ngày 14 tháng 11 năm 2015" như xưa nay mà thôi.

Trần Việt Long

San Jose, 15-11-2015

KHI CHẾT NGŨ UẨN DIỆT THEO NHƯ VẬY NẾU CHẾT MÀ DIỆT HẾT THÌ THOÁT KHỎI NGHIỆP CHĂNG?

Dịch giả: Hòa thượng Giới Nghiêm (Maha Thera Thita Silo) Tỳ kheo Giới Đức hiệu đính

Đức vua hỏi:

- Khi một chúng sanh chết ở đây, tái sanh chỗ khác thì thức của chúng sanh ấy có lìa khỏi ngũ uẩn này để tái sanh chăng?

- Chúng sanh chết thì ngũ uẩn diệt và thức cũng diệt theo, tâu đại vương .

- Thế tại sao Đức Thế Tôn có thuyết rằng, chúng sanh hằng đi theo nghiệp của mình và thức sẽ đi tìm cảnh thú tái sanh theo nghiệp ấy.

- Đúng là như thế.

- Xin đại đức giảng cho nghe.

- Thức tái sanh ấy được gọi là kết sanh thức, tức là thức nối liền từ kiếp này sang kiếp kia. Khi chết, thức diệt, không đi theo, nhưng nó tác động, chuyển hướng trong nháy mắt là kết sanh thức đi sang cảnh giới khác liền. Ví như người ta mồi lửa từ cây đèn này sang cây đèn khác. Lửa từ cây đèn bên này không đi sang cây đèn bên kia như thế nào, thì thức cũng không đi theo như thế ấy, tâu đại vương .

- Xin cho nghe thêm ví dụ.

- Thuở nhỏ đại vương có học toán số, văn phạm, sử truyện với các thầy phụ đạo phải chăng?

- Đúng thế.

- Thế thì toán số, văn phạm, sử truyện... ấy nó có chạy ra từ miệng, từ óc của thầy phụ đạo sang miệng và óc của đại vương chăng?

- Không có chạy qua.

- Và khi đại vương học giỏi, thì kiến thức, hiểu biết của các thầy phụ đạo chắc là cạn hết vì đã truyền sang tất thảy cho đại vương rồi?

- Không phải như thế. Kiến thức và hiểu biết của các vị ấy còn y nguyên.

- Vậy là không có cái gì đi qua cả sao?

- Không có.

- Tái sanh cũng y cũng như thế. Khi chết ngũ uẩn diệt, thức cũng diệt, chẳng có thức đi theo, nhưng thức ấy tác động, hướng tâm, trong một niệm là duyên theo cảnh giới tái sanh liền, tâu đại vương .

- Trẫm đã rõ.

* * *

Đức vua hỏi:

- Cho trẫm trở lại câu hỏi trước. Đại đức nói là khi chết, ngũ uẩn diệt, nghĩa là cả thân tâm này diệt hết, không còn gì?

- Đúng vậy.

- Chẳng có bất cứ cái gì ở thân này đi sang cảnh giới tái sanh cả?

- Tạm thời có thể nói như vậy.

- Vậy thì tiện lắm, khỏe lắm rồi. Nếu trên đời này mà trẫm có làm ác, giết người vô số; khi chết, tất cả nghiệp cũng diệt theo; sang cảnh giới mới, trẫm sẽ không bị trả quả do ác nghiệp của mình đã tạo!

- Chẳng phải thế đâu, đại vương! Chỉ có người chấm dứt mọi nguyên nhân sanh tử, kẻ ấy mới chấm dứt được nghiệp; còn tất cả mọi chúng sanh, không ai thoát được nghiệp đã gieo!

- Thế tại sao đại đức bảo là diệt hết!

- Đại vương có nhớ chuyện xử phạt người trộm xoài không?

- Có nhớ.

- Kẻ trộm xoài ấy đã ngụy biện ra sao?

- Y nói rằng, tôi hái trái ở trên cành còn xoài của người trồng ở trong đất đã bị diệt mất tiêu.

- Rồi đại vương phán tội ra sao?

- Trái dưới đất nó diệt nhưng nó nảy mầm, lớn lên, ra hoa ra trái. Trái mà ngươi hái cũng do từ trái dưới đất mà sanh ra.

- Nghiệp cũng như thế, tâu đại vương! Thân tâm tuy diệt, nhưng nghiệp đã tạo giống như mầm cây, nó sẽ ra hoa kết trái ở thân tâm mới. Người hái trộm xoài không thoát khỏi tội như thế nào thì chúng sanh cũng chẳng thể tránh khỏi nghiệp khi nó đã trổ quả, tâu đại vương !

- Hay thay! Đại đức đúng là bậc Đại trí tuệ.

- Dạ không dám!

__________________

Chú thích của BBT:

Ngũ uẩn là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Đây là những yếu tố vật chất và tinh thần được kết hợp lại mà có cái gọi là con người, là chúng sanh.

Khi không gọi là ngũ uẩn mà gọi là danh và sắc thì ta cũng phải hiểu: Sắc là sắc thân vật lý, và danh là gọi chung của phần tâm và tâm sở gồm có thọ, tưởng, hành và thức.

Nói chi tiết thì ngũ uẩn là:

  1. Sắc, chỉ thân và sáu giác quan (hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), do Tứ đại chủng tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng.
  2. Thọ, tức là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.
  3. Tưởng, là nhận biết các tri giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị..., kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện.
  4. Hành, là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác. Hành là đối tượng đã tạo nên nghiệp thiện ác...
  5. Thức, bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thức phụ thuộc vào sáu căn tiếp xúc với sáu trần để hình thành nên sáu thức. Nếu không có thức người ta sẽ không phân biệt được màu sắc hay âm thanh v.v

(Hết chú thích)

(Trích trong Mi Tiên Vấn Đáp)

SỰ THẬT VỀ CÚNG CÔ HỒN VÀO MÙNG 1 & 15 HÀNG THÁNG

Thích Nhật Từ

Hỏi: “Chúng con muốn cúng thí thực cô hồn vào ngày sóc vọng mùng 1 - 15 hàng tháng, chúng con đọc bài ‘Mông sơn thí thực’ trong Kinh nhật tụng nhưng lại nghe có người nói việc cúng chúng sinh ngoài trời chỉ thích hợp ở chùa, có quý sư tu hành thanh tịnh; người tại gia nếu cũng cúng tương tự sẽ kéo theo tình trạng trong nhà bị phá phách, nhất là cúng ở ngoài giờ đã định nhiều khi có hại hơn là có lợi. Xin thầy chia sẻ vấn đề này”.

Trả lời:

Nghi thức cúng cô hồn với tên gọi “Mông sơn thí thực” là nghi thức do Phật giáo Trung Quốc biên soạn, đức Phật không hề dạy nghi thức này. Người TQ cho rằng TQ cho rằng “sống là tạm bợ trên dương thế, chết là về với âm phủ lâu dài”; cũng giống với người TQ, người Ai Cập cổ xưa tin rằng dưới lòng đất mới là cảnh giới sống vĩnh hằng. Cho nên kho còn sống các vị vua không chăm sóc cho người dân, thu gom ngọc ngà vàng bạc châu báu chôn ở dưới đế kim tự tháp, ướp xác để mình tiếp tục được sống và hoàng hậu, cung tần mỹ nữ từng được vua sủng ái đều phải bị chôn sống theo. Người TQ đã có cải biên về tập tục này, thay vì chôn vàng thật, họ đốt giấy vàng mã; thay vì làm kim tự tháp tốn tiền thật, họ làm nhà giấy vàng mã; thay vì chôn người chết thật là phạm pháp họ chôn người hình nộm.

Dù có cải biên, phong tục tập quán của người TQ và Ai Cập cổ đều là mê tín giống như nhau, cho nên người TQ tin rằng có 10 loại cô hồn, nếu không được cúng và cầu siêu họ sẽ không thể được siêu thoát. Cho nên các chùa TQ vào 4 giờ chiều đều cúng nghi thức cúng cô hồn và phẩm vật cúng cô hồn thật ra chỉ là 1 chung nước nhỏ đường kính 3cm, chiều cao 3cm, trong đó chỉ bỏ 7 hạt cơm. Bằng sự quán tưởng, người TQ tin rằng thế giới ma quỷ ăn no đủ từ 1 chung 7 hạt cơm đó - đó là cường điệu và hoang tưởng. Vì theo đức Phật sau khi chết Nghiệp dẫn chúng sanh tái sinh trong Luân hồi.

Đã trở thành thói quen nhiều thế kỷ rồi, các chùa VN tiếp tục cúng cô hồn và nhấn mạnh đến việc cúng cô hồn này, từ đó có nhiều thầy cường điệu qua các câu chuyện ly kỳ và từ đó người ta đồn thổi với nhau sau khi chết ma quỷ vẫn chưa siêu. Vài chục năm, vài trăm năm, vài nghìn năm, điều đó trái với Phật học vừa trái với khoa học hiện đại. Một số nhà sư TQ còn cường điệu: đang khi cúng cô hồn, nếu lỡ mà mình nghĩ đến chìa khóa thì các cô hồn này chỉ nhai chìa khóa không, nếu nhà sư đó nhớ đến các cục đá cục đất thì cô hồn chỉ ăn đá và đất, nếu lỡ người cúng nghĩ đến vàng vòng thì các cô hồn này hưởng vàng vòng là không có thật. Cúng là 1 hình thức tưởng niệm, mục đích của sự tưởng niệm này để nối kết văn hóa “uống nước nhớ nguồn” cho thế hệ đời sau dành cho ông bà tổ tiên đã qua đời.

Cho nên, chỉ có những chùa tu theo Tịnh Độ tông kiểu TQ mới cúng cô hồn vào 4 giờ chiều tại các chùa; VN mô phỏng TQ 100% nên chùa nào tại VN cũng cúng cô hồn vào 4 giờ chiều. Do vậy, người Phật tử tại gia không nên làm việc đó vì không cần thiết và không có giá trị thiết thực gì. Thay vì dành 45 phút cho nghi thức Mông sơn thí thực, các Phật tử hãy đọc các bài Kinh thuần Việt, mở mang trí tuệ hoặc đến chùa làm công quả, tham gia các hoạt động từ thiện, làm công ích gì đó – giá trị thiết thực cao hơn nhiều lắm. Vì đặt nặng vào nghi thức cúng cô hồn, Phật giáo TQ, VN, Nhật Bản, Triều Tiên, Tây Tạng rơi vào việc biến đạo Phật thành đạo đám ma. Ở Nhật Bản người ta có 1 câu rất đau lòng: “Muốn tổ chức sinh nhật linh đình, hãy vào các đền thờ Thần Đạo – đạo riêng của người Nhật, họ tổ chức thôi nôi, sinh nhật rất hay. Nếu muốn tổ chức các lễ cưới linh đình, hãy vào các nhà thờ Công Giáo, Tin Lành, vì tại đây lễ cưới rất trang trọng; muốn tổ chức đám ma linh đình, hãy vào nhà chùa.” Vì mỗi đám ma, các Phật tử mời đến vài chục nhà sư, mấy chục Phật tử cùng hộ niệm, như vậy đạo Phật đã trở thành đạo hốt xác.

Một nhà sư nếu chịu khó đi giảng kinh thuyết Pháp có thể độ được vài chục ngàn Phật tử, khi còn sống nghe giảng còn chưa chắc hiểu được, hiểu rồi chưa chắc vượt qua được nghiệp chướng; huống hồ ngay cái chết, tâm thức của hương linh chuẩn bị tái sinh rối bời, vừa tiếc nuối, vừa sợ hãi, vừa lo lắng, vừa bấn loạn, … tâm trí đâu mà lắng nghe, có nghe cũng rất khó có thể làm được. Cho nên trở về với đạo Phật gốc, chúng ta (bao gồm cư sĩ và Phật tử) hãy độ người còn sống đúng với lời Phật dạy. Khi người còn sống đó, có đời sống đạo đức, nhập thế, năng động, tích cực; khi chết chẳng cần ai tụng kinh, người đó tái sanh ngay lập tức dựa vào Nghiệp thiện do chính mình tạo dụng được. Đó là cách tu rất thiết thực, còn tại các chùa hiện nay người ta vẫn tiếp tục tụng bài Kinh cúng cô hồn; thay vì tụng bài kinh cúng cô hồn, chúng ta hãy đọc bài kinh đạo đức (Kinh 5 điều đạo đức, Kinh 10 điều đạo đức, Kinh 8 điều đạo đức, Kinh phước báu, Kinh lời vàng Phật dạy) đều là những bài Kinh người đọc tụng có thể phát triển đạo đức và nhân cách cao thượng.


Do đó, muốn cho đạo Phật phát triển, chúng ta phải mạnh dạn tách rời sự nô lệ văn hóa vào TQ. Phật giáo VN, phải tách rời sự nô lệ Phật giáo vào văn hóa Phật giáo TQ và trở về với đạo Phật gốc. Chúng ta không tốn thời gian mà đạt được được những kết quả rất lợi lạc, thiết thực.

SƯ TU THEO TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NÀO?

Chắc hẳn, những vị đã từng là Tăng-ni sinh Khất sĩ du học tại nước ngoài như các nước Phật Giáo Đại thừa (Mahayana), và Phật Giáo Nguyên thủy (Theravada). Sẽ bao lần nghe chung một câu hỏi: Bạn theo truyền thống Phật giáo nào?

Với tôi, là một Tăng sĩ trẻ hiện đang du học tại Thái Lan. Với những trải nghiệm sâu sắc từ một đất nước Phật giáo với nhiều truyền thống, văn hóa và sinh hoạt đặc thù theo tinh thần truyền thừa của Phật giáo Nguyên thủy. Cộng theo sự du nhập và giao lưu văn hóa giữa các truyền thống Hệ phái với nhau tại Trường Đại học Phật giáo Quốc tế đến từ các nước Phật giáo Đại thừa.

Chính sự hài hòa, cùng chung tu học giữa cộng đồng Tăng sĩ với nhiều hệ tư tưởng khác nhau và cách thức truyền tải giáo lý khác nhau, đã tạo nên sự đặc sắc, đa dạng của Phật giáo tại đây, để cùng nhau trải nghiệm theo tinh thần sẻ chia và cầu học.

Sư theo truyền thống Phật giáo nào?

Đó là câu hỏi của sư Ashim Chakma –một vị sư người Ấn Độ, hiện đang học cùng chung chương trình Cử nhân Phật học, cũng như những vị Tăng sĩ khác. Với tôi chỉ có một câu trả lời: Phật giáo Khất sĩ.

Rồi sư Ashim Chakrma liên tục đặt cho tôi nhiều câu hỏi khác nhau: Phật giáo Khất sĩ là như thế nào? Pháp tu ra sau? có gì khác với các truyền thống Phật giáo Đại thừa và Nguyên thủy. Cứ thế, cuộc trò chuyện với nhiều câu hỏi liên tục được đưa ra để tìm hiểu và muốn biết đến sự đặc sắc của một Hệ phái Phật giáo mới mà sư Ashim Chakrma tỏ ra một cách phấn khởi.

Con đường tôi đang đi,…

Khác với các nước vốn đặc thù một truyền thống Phật giáo riêng biệt, thì Phật giáo Việt Nam được tiếp nhận và dung hòa từ hai truyền thống Phật giáo Đại thừa và Nguyên thủy. Từ đó, Phật giáo Khất sĩ ra đời vì mục đích dung hòa chung với hai nguồn từ tưởng của hai truyền thống Phật giáo lâu đời. Nhằm đáp ứng nhu cầu học Phật của đại đa số người dân tại Việt Nam lúc bấy giờ, giúp cho mọi tầng lớp có thể hành trì tu học một cách dễ dàng như tụng kinh tiếng Việt, Ăn chay, và lấy pháp trì bình khất thực để đi vào đời sống người dân, giúp họ gieo duyên và gần gũi hơn với Đạo Phật.

Phật giáo Khất sĩ cùng chung một chí nguyện tiếp nối con đường mà Đức Phật đã đi, vì thế những pháp môn tu học và hành trì không đi ngoài lời dạy của Đức Phật, lấy Tứ-Diệu -Đế làm nền tảng để tu học và Thiền định là pháp môn để hành trì theo Tứ niệm xứ,… vì đây là phương pháp hành thiền mà Đức Phật đã thực hành để đưa đến sự Giác-ngộ hoàn toàn.

Được coi, như một truyền thống đặc thù của Người Việt, vì thế giáo lý và pháp môn đều dựa trên lời Phật dạy, và những tinh hoa được đúc kết từ hai truyền thống Phật giáo Đại thừa và Nguyên thủy. Chỉ có sự khác biệt là đời sống sinh hoạt và phương thức hành trì để phù hợp với văn hóa và truyền thống vùng miền. Không ngoài mục đích tuỳ nhân duyên mà hoá độ, không có sự phân biệt giai cấp Giàu-sang, Kẻ ngu-người trí,…tất cả đều bình đẳng trên con đường cứu cánh, và giải thoát khổ đau.

Bây giờ đã hiểu,…

Cứ như thế, mỗi khi có ai tiếp tục hỏi tôi: Sư theo truyền thống Phật giáo nào? Thì sư Ashim Chakrma lại tiếp lời và dành phần trả lời của tôi. Sư trả lời cho những vị sư khác một cách rất tâm đắc và phấn khởi về kiến thức của mình đã biết được về Phật giáo Khất sĩ khi ai hỏi đến. Tôi chỉ biết nhìn và thầm mỉm cười, vì đã có thêm một người bạn đã hiểu được con đường tôi đang đi. Nó đơn giản là sự hạnh phúc bình dị của một người con trong giáo pháp. Tôi không còn cảm thấy mình là người lẻ loi giữa các truyền thống Phật giáo khác, mà tôi càng cảm thấy sự tự hào vì mình là người “đặc biệt”.

Còn lại một nỗi lòng

Nỗi lòng đó được mang tên là “Hạnh phúc”, cảm ơn Người, cảm ơn Đời. Cảm ơn những cảm xúc bình dị giữa đời, khi được đắp trên mình tấm Y người Khất sĩ. Nó quá đổi thiêng liêng và thanh thoát. Với tôi tất cả là quá đủ cho một kiếp người, rồi tương lai sẽ đi mãi. Nhưng hiện tại là đây, tôi là người con Khất sĩ.

Một ngày kia, vừa bước chân vào lớp, sư Ashim Chakma và các sư cùng lớp đều gọi tôi bằng một ngôn từ tiếng Việt rằng: Khất sĩ. Một sự ngạc nhiên và cảm xúc tràn dâng, đúng chúng ta là Khất sĩ.
Giác Minh Luật 

XUẤT GIA – NÊN HAY KHÔNG?

Giác Minh Luật

Gần đây, tôi thường xuyên nhận được những dòng tin nhắn, những chia sẻ chân tình của rất nhiều bạn trẻ than trách về đời mình và muốn tìm đến con đường xuất gia giải thoát.

Những dòng tin nhắn đại loại như: Sư ơi! Con đang gặp rất nhiều khó khăn trước mắt, con cảm thấy chán nản và bất lực trước hiện tại, giữa gia đình và xã hội.

Giờ này con chỉ muốn xuất gia đi tu để tìm sự bình an.

Hồi đáp: - Xuất gia không có nghĩa là sự trốn chạy cuộc đời, không có nghĩa là từ bỏ cuộc sống hiện tại và lẩn trốn mọi ràng buộc. Mà xuất gia cũng có nghĩa là bắt đầu cho một chặng đường mới càng nhiều thử thách và khó khăn hơn nữa.

Nếu bạn không yêu đời, không nhìn đời bằng cặp mắt của tình thương và hiểu biết, không dám chấp nhận khó khăn để vượt qua khó khăn trong hiện tại, thì xin đừng có ý niệm xuất gia. Vì đời sống tu hành càng gặp nhiều khó khăn và chông gai hơn bạn nghĩ, nếu dễ thì ai cũng trở thành tu sĩ và không khó thì chẳng ai mà trở lại cuộc sống thế tục, bạn nhé!

Về phương diện xuất gia giải thoát, thì không dễ như bạn đã hình dung. Vì nếu muốn được sự giải thoát thì không chỉ dựa vào yếu tố buông bỏ hoặc buông xả, vì nó chỉ là bước đầu tiên của ý niệm từ bỏ hay xa lánh. Như người sai trái và lỗi lầm, họ ăn năn và phát nguyện từ bỏ để trở thành một người hoàn thiện, thì sự phát nguyện từ bỏ chỉ là yếu tố đầu tiên, còn muốn trở thành người hoàn thiện phải dựa trên hành động cụ thể qua hình thức đạo đức, thái độ của mình để chứng minh cho người khác ở tương lai thì mới thật sự là người hoàn thiện.

Như "Buông đao thành Phật" nó chỉ mang tính khích lệ và khuyên bảo, chứ bản chất thật sự của sự việc, khi bạn đã "buông đao" thì phải trả giá cho những hành động tội lỗi của mình đã gây tạo và phải nổ lực để khắc phục, ăn năn và chấp nhận đối diện với nhân quả mà mình đã gieo và gây đau khổ cho người, từ đó mới bắt đầu cho những việc làm cụ thể để làm lại cuộc đời với vai trò của một con người mới.

Hay nói với ngôn ngữ hiện đại là: Một khi đã giết người thì phải đền tội và trả giá cho những việc làm của mình đã gây ra. Còn yếu tố hoàn thiện thì chỉ nằm ở khía cạnh trong quá trình đền tội và nổ lực khắc phục từ bỏ bằng hành động cụ thể trong hiện tại hoặc tương lai.

Vậy bản chất của giải thoát phải dựa trên nền tảng của công đức hay khác hơn là thiện nghiệp mà bạn đã đạt được. Mà công đức hay thiện nghiệp thì định nghĩa căn bản của nó đã là hành động và công việc được lập đi lập lại từ giá trị lợi ích mà bạn đã mang lại theo một cách tích cực cho chính mình, cộng đồng và xã hội. Chứ không phải công đức hay thiện nghiệp xuất phát từ sự cầu nguyện, khát khao hay mong muốn mà có được. Điều đó sẽ phi thực tế và mâu thuẫn với định nghĩa của chính nó. Như vậy thì sự nổ lực chuyển hóa thân tâm và giá trị phụng sự để mang lợi ích cho người khác của bạn phải gấp đôi người bình thường.

Nhưng dưới góc độ cá nhân: Với tôi, con đường xuất gia của những người trẻ là con đường rất cần thiết, nếu ai đã và đang có ý niệm muốn trở thành những người phụng sự trên phương diện là một người xuất gia để có đủ điều kiện, thời gian, hoàn cảnh và dành trọn đời mình cho sự phụng sự nhân sinh thông qua lăng kính đạo Phật.

Thì con đường xuất gia là quyết định đúng đắng và phù hợp nhất mà bạn phải cần quyết định ngay và liền nếu đang có ý niệm đặc biệt nêu trên.

Giác Minh Luật

SAU KHI CHẾT XÁC THÂN CHỈ LÀ ĐẤT

Nhiên Như – Quảng Tánh

HỎI: Cha tôi được chôn tại Nghĩa trang Văn Điển đã 29 năm. Mẹ tôi mất cách đây gần một năm, hiện tro cốt đang gửi chờ đến giỗ đầu mới thu xếp nơi đặt tro của mẹ. Tôi thấy hiện có nhiều gia đình lập mộ đôi (hợp táng), và tôi cũng rất muốn làm như vậy để tiện thăm viếng các cụ sau này, giảm đi một phần chiếm dụng quỹ đất đai của xã hội. Tất nhiên đó là những vấn đề mang tính thực dụng, tôi không rõ về mặt tâm linh thì có phù hợp không? 

Ngay cả đối với chính bản thân, tôi vẫn có ý định sau này khi mất đi tro cốt của tôi được rắc xuống dòng sông Hồng, liệu có gì ảnh hưởng đến con cháu tôi về sau hay không? Trong gia đình tôi, một số anh em sợ đụng chạm vào phần mộ của cha thì sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người. Có một chuyện tôi cũng xin được thưa rằng, sau khi tôi đưa ý kiến của mình cho người anh cả, ít hôm sau tôi có nằm mơ thấy cha hiện về, ông có điều gì đó phản ứng rất dữ dội, thậm chí nhiều lần còn tìm cách đánh vào người tôi. 

Tôi vốn rất tin tưởng vào các quan điểm của Phật giáo, tuy hơi thắc mắc về chuyện liệu 29 năm qua đi cha tôi đã đầu thai chưa? Việc mỗi khi có sự kiện gì lớn trong gia đình tôi lại mơ thấy cha mình, lúc nhiều lúc ít, liệu đây có phải là cha tôi vẫn còn chưa siêu thoát và vẫn còn tham dự vào chuyện gia đình chúng tôi?  (PHẠM VIỆT, phamvietds@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Phạm Việt thân mến!

Trên thế giới hiện nay, tùy theo tập tục của mỗi địa phương, xứ sở mà có sự an táng người chết khác nhau. Địa táng (chôn dưới đất), hỏa táng (thiêu đốt thành tro), thủy táng (thả sông hoặc bỏ biển), thiên táng (treo lên cây hoặc nhét trong hang núi), lâm táng (đem bỏ trong rừng)… là những cách an táng phổ biến. Người Việt phần lớn theo tập tục địa táng, lâu đời hình thành tín niệm về mồ mả như: Phần mộ phải hợp hướng, mộ không bị “động”, mộ kết lại càng hay v.v… Ngày nay, xu hướng hỏa táng ngày càng được người Việt hưởng ứng vì tiện lợi nhiều mặt.

Theo Phật giáo, con người là hợp thể năm uẩn, gồm sắc (thân) và thọ, tưởng, hành, thức (tâm). Khi một người chết đi, phần quan trọng nhất là tâm thức thì theo nghiệp tái sinh. Còn thân xác, “cái túi da chứa đầy vật bất tịnh” trở nên vô dụng được tùy duyên an táng, theo cách nào cũng được. Điều đáng nói là, cái xác thân tứ đại còn lại nhưng thực ra chỉ có địa đại, chính xácchỉ là “đất”; các đại khác như hỏa, phong cũng nhanh chóng phân tán, thủy đại thì chậm hơn. Như vậy, với tuệ giác của Phật giáo, người đệ tử Phật không xem một phần nhỏ còn lưu lại của thân này, xác chết, là “tôi, của tôi và tự ngã của tôi”.

Người đệ tử Phật có chánh kiến, hiểu biết Phật pháp, thấy rõ sự vô thường, bất tịnh, vô ngã của xác thân nên an táng theo tinh thần tùy duyên. Mộ đơn hay mộ đôi, theo Phật giáo, chỉ đơn thuần là cách xử lý phần “đất”, không liên hệ gì đến “tâm linh”. Theo quan điểm nhà Phật, việc đem tro cốt của người mẹ hợp táng vào phần mộ của người cha là bình thường.

Sau khi bạn chết đi, bạn cứ di nguyện người thân an táng theo cách nào mà bạn cảm thấy phù hợp nhất. Hỏa táng rồi đổ tro bụi xuống sông, gởi vào chùa hay chôn cất theo phong tục v.v…, tất cả đều không có bất cứ ảnh hưởng gì lên con cháu cả. Bởi lẽ, đời sống con cháu của bạn hạnh phúc hay bất hạnh là do nghiệp duyên tốt hay xấu của họ quyết định chứ không phải do cách an táng thân xác của bạn.

Còn việc bạn “mơ thấy cha hiện về, ông có điều gì đó phản ứng rất dữ dội” chỉ là biểu hiện của chính tâm thức bạn. Vì bạn suy nghĩ quá nhiều về điều ấy nên tâm bạn tự “nhào nặn” thành giấc mơ, hoàn toàn không phải là cha của bạn về báo mộng hay chưa tái sinh.

Kinh Phật dạy rằng, một người chết đi lập tức tái sanh nếu sinh thời tạo nghiệp cực thiện hoặc cực ác. Còn nếu tạo nghiệp thiện ác lẫn lộn có thể trải qua thân trung gian, tối đa 49 ngày là tái sinh. Cha của bạn mất đã 29 năm, dĩ nhiên đã theo nghiệp tái sinh, không hề có chuyện “ông vẫn còn tham dự vào chuyện gia đình”.

Việc “một số anh em sợ đụng chạm vào phần mộ của cha thì sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người” là tín niệm dân gian về mồ mả của không ít người Việt. Đạo Phật không có quan niệm này. Tuy nhiên đây là việc chung, liên hệ đến nhiều người, nên việc hợp táng cần có sự đồng thuận của tất cả anh em gia đình. Với người Việt, mồ mả là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là “biểu tượng” của cha ông, là nét văn hóa tâm linh. Người Phật tử luôn tôn trọng những tập tục này nhưng cũng cần phát huy tuệ giác của nhà Phật để tránh những hủ tục, những tín niệm dân gian kiêng kỵ không nên có,… để sống văn minh, góp phần lợi đạo, ích đời.

Chúc bạn tinh tấn!  

Ăn chay nhưng phải nấu mặn cho chồng con

Hỏi: Kính bạch Sư, con có một câu hỏi kính Sư chia sẻ cho con được biết. Con là phật tử mới bước vào đạo, con cũng có giác ngộ được chút đỉnh. Con đi chùa, con ăn chay trường mà về nhà con còn phải đi chợ mua và làm đồ ăn thịt cá cho chồng và con của con ăn. Con phải làm tất cả từ khâu mua bán, chế biến… vậy Sư cho con hỏi con tu thì liệu có được kết quả gì không? (Phật tửNhư Liên hỏi tại chùa Bửu Châu – Trà Vinh 3/9/2015 – 21.7.Ất Mùi)

Đáp: Để giải đáp cho thắc mắc của cô, trước tiên sư chia sẻ với cô câu chuyện sau:

Dưới thời Đức Phật, có một cô đắc được Thánh quả Tu-Đà-Hườn (quả vị thấp nhất trong 4 tầng đạo quả của bậc thánh, quả vị này vẫn được lập gia đình). Để đắc được đạo quả Tu-Đà-Hườn này phải là người đoạn tuyệt hoàn toàn nghiệp sát sanh. Tuy nhiên, cô này lại có chồng làm nghề thợ săn. Mỗi ngày, cô này đều phải chuẩn bị cung tên cho chồng vào rừng đi săn bắn. Cô đã làm việc này trong thời gian rất dài. Vì cô ấy là bậc thánh nên các vị tỷ khưu biết được chuyện đó mới bàn tán vào ra. Theo những bàn tán đó thì cô này đã đắc quả vị Tu-Đà-Hườn mà còn làm như vậy thì không biết là đúng hay sai? Có đúng với chánh pháp không? Có phù hợp với đạo hạnh của bậc thánh Tu-Đà-Hườn hay không? Những bàn cãi qua lại này mãi không tìm ra được một đáp án thống nhất vì các vị tỷ khưu mỗi người một lý lẽ để phản biện cho hành động của cô đó. Cuối cùng, các vị quyết định tham vấn

Đức Phật Tổ để nhờ Ngài giải đáp.

Đức Phật mới trả lời rằng: việc làm của cô đắc được quả vị Tu-Đà-Hườn là hoàn toàn ĐÚNG. Cô làm công việc hằng ngày đó vì vai trò bổn phận của một người vợ đối với chồng. Cô làm hoàn toàn vô tâm và không để tâm dính chấp vào cái nghiệp sát.

Còn đối với cô Như Liên, cô là người ăn chay trường nhưng cô vẫn đi chợ thực hiện bổn phận người vợ, người mẹ để mua và chế biến cá thịt cho chồng cho con thì cô là người đại trí huệ. Vì rằng, chồng cô ăn cá thịt, con cô ăn cá thịt mà cô không làm thì đó là cô thiếu trách nhiệm trong vai trò của người vợ, người mẹ. Còn nếu cô cố ý lôi kéo, ép buộc chồng con cô ăn chay mà họ hoàn toàn chưa thực sự sẵn sàng thì dẫn tới việc lục đục, xào xáo, mâu thuẫn trong gia đình. Người chồng có thể vì thế mà bất mãn dẫn tới việc xa cách trong đời sống tình cảm vợ chồng gây đổ vỡ hôn nhân. Thậm chí, người chồng người con còn có thể có những phản ứng tiêu cực lại với tăng sĩ, chùa chiền và pháp môn mà cô đang tu học. Điều này đi ngược lại với giáo huấn của Đức Phật. Vì tiêu chí cho các lời dạy của Ngài là để giáo dục cho đạo đứcvà phạm hạnh của con người. Giúp cho họ tìm được hạnh phúc an lạc ngay trong hiện tại. Bây giờ, đi chùa mà gia đình xào xáo, đổ vỡ thì đó hoàn toàn không phải tu theo đúng chánh pháp. Do vậy, nếu được thì khi cô đi chợ, cô tránh mua những thực phẩm còn tươi sống. Cô mua các thực phẩm đã được sơ chế qua để hạn chế nghiệp sát sanh. Nếu cô làm được điều này thì cô đã tu đúng theo luật Tam Tịnh Nhục (không thấy, không nghe, không nghi) của Đức Phật dạy. Vậy là cô vừa giữ được giới đạo vừa hòa hợp được với lẽ thường tình ở đời.

LINH HỒN NGƯỜI CHẾT ĐI VỀ ĐÂU?

Thích Phước Thái

Hỏi:Kính bạch Thầy, con nghe người ta nói, con người sau khi chết có một cái hồn tồn tại và rồi đi đầu thai, chứ không có nghiệp báo gì hết. Họ nói như thế có đúng không? Kính xin Thầy giải đáp cho chúng con được rõ.

Đáp: Vấn đề sau khi chết, linh hồn tồn tại hay không tồn tại và linh hồn người chết sẽ đi về đâu? Đây là một vấn đề rất phức tạp, thật khó chứng minh. Vấn đề này, có nhiều luận giải quan niệm khác nhau, tùy theo quan niệm giải thích của mỗi tôn giáo và tùy theo niềm tin của mỗi người. Tuy nhiên, người Phật tử khi đặt định niềm tin theo một điều gì, chúng ta cần nên phối kiểm tìm hiểu vấn đề bằng lý trí và qua sự sát nghiệm luận cứ kỹ càng, chứ không nên nghe đâu tin đó. Nhất là đối với những người nói bừa không có một luận cứ vững chắc và không có một niềm tin nào cả. Tốt hơn hết là chúng ta nên cẩn trọng khi nghe người khác nói.

Qua câu hỏi trên, nếu phải luận giải cặn kẽ rõ ràng, thì thật là dài dòng. Ở đây, chúng tôi chỉ dựa theo quan điểm của Phật giáo, mà xin được trình bày góp ý qua một vài nhận xét thô thiển của chúng tôi, còn vấn đề tin hay không là tùy ý ở nơi mỗi người.

Bảo rằng, con người sau khi chết còn có một cái hồn tồn tại và rồi đi đầu thai, chứ không có nghiệp báo gì hết, theo Phật giáo, thì quan niệm lý giải đó không thể chấp nhận được. Phật giáo không chấp nhận có một linh hồn bất tử. Vì đó là lối chấp của ngoại đạo. 

Ngày xưa, thời Phật, có 2 phái ngoại đạo nêu ra 2 chủ thuyết: một là "Thường kiến" hai là "Đoạn kiến". Phái Thường kiến cho rằng, linh hồn con người mãi mãi là con người, dù có tạo tội ác đến đâu, chết rồi cũng tái sinh trở lại làm người. Ngược lại, phái Đoạn kiến thì cho rằng, con người sau khi chết là không có linh hồn tồn tại đời sau, nghĩa là mất hẳn. Họ chấp như thế, nên Phật gọi họ là phái Đoạn diệt hay Đoạn kiến. Vì quan niệm và tin như thế, nên họ tha hồ làm ác, vì không có tội lỗi quả báo ở đời sau. Đây là 2 phái gây tác hại lớn làm đại loạn trật tự an bình cho xã hội. 

Hai phái này, theo chủ trương của họ là, không có nhân quả báo ứng. Nhưng chúng ta đừng quên rằng, nhân quả là một chân lý phổ biến, tiềm tàng trong mọi sự vật và chi phối tất cả. Không một loài nào thoát khỏi nhân quả. Do Phật sau khi giác ngộ chân lý, Ngài nói ra cho chúng ta biết như thế.

Vì căn cứ theo luật nhân quả mà nhà Phật nêu ra thuyết nghiệp báo. Hễ chúng ta gây tạo nghiệp nhân gì, sớm hay muộn gì cũng phải có kết quả. Phật giáo không chấp nhận có một linh hồn bất tử như thế. Vì như thế là rơi vào lối chấp thần ngã của ngoại đạo như đã nói ở trên.

Theo Phật giáo, tất cả đều do nhân duyên sinh. Nghiệp báo cũng từ nhân duyên, nhân quả mà hình thành. Theo Duyên khởi luận của Phật giáo, trong đó, có nêu ra thuyết A lại da duyên khởi. Thuyết này thuộc Đại thừa thỉ giáo. A lại da là thức thứ tám sau thức Mạt na. Thức này còn gọi là Tàng thức. Là cái thức trùm chứa tất cả chủng tử thiện ác. Nói Tàng thức, vì thức này có 3 công năng: "năng tàng, sở tàng và ngã ái chấp tàng". 

Năng tàng là thức này có khả năng hay dung chứa tất cả pháp. Sở tàng là khả năng để đựng chứa chủng tử các pháp. Do 2 công năng này, nên khi chúng ta gây tạo nghiệp thiện ác, thì tất cả những hạt giống thiện ác đó đều được huân chứa vào cái kho Tạng thức này. Đến khi đủ nhân duyên, thì những chủng tử ấy phát khởi hiện hành. Những chủng tử (hạt giống) được cất giữ vào trong kho nầy gọi đó là nghiệp thức. Chính cái nghiệp thức này là chủ động theo duyên mà tiếp nối thọ sinh đời sau. Nhà Phật gọi đây là tiếp nối vòng sinh tử luân hồi trong Lục đạo (Trời, người, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh ).

Như vậy, theo thuyết nghiệp cảm duyên khởi và A lại da duyên khởi của Phật giáo, thì mỗi ý nghĩ, lời nói, hành động của 3 nghiệp: thân, miệng, ý tạo tác của chúng ta, đều được cất giữ trong cái kho Tạng thức này hết, không sót mất một hạt giống thiện ác nào. 

Dụ như một thửa đất chúng ta gieo nhiều loại hạt giống khác nhau, khi mới gieo xuống ta không thấy chúng nẩy mầm lên, vì không thấy nên ta tưởng là chúng bị mất hay không lên, nhưng khi gặp mưa ướt đất, đủ duyên, thì chúng lại nẩy mầm lên. Khi nẩy mầm lên, thì giống nào nẩy mầm theo giống nấy. Như hạt cam, hạt ớt, hạt ổi…mỗi thứ lên khác nhau, chúng không bao giờ lộn lạo. Khi chưa đủ duyên, chúng nằm yên đó, chớ không bao giờ mất.

Cũng thế, nếu hiện đời, chúng ta huân tập nhiều hạt giống lành như niệm Phật, làm lành, làm phước… vào Tàng thức, thì chính những hạt giống đó nó có công năng dẫn dắt chúng ta đến cảnh giới lành sinh ra, để tiếp tục hưởng những quả báo tốt đẹp mà do chúng ta đã gây tạo trong hiện đời nầy. Nhà Phật gọi đó là nghiệp dẫn. Ngược lại, nếu chúng ta tạo nghiệp ác thì cũng như thế. Nên nói, tùy nghiệp thọ sanh là vậy. Nên biết, nghiệp là hành động lặp đi lặp lại nhiều lần thành thói quen. Chính thói quen này khi thuần thục, thì nó có một sức mạnh phi thường để tùy duyên chiêu cảm thọ sinh.

Như người ghiền cờ bạc, họ đi kiếm nơi nào có sòng bài, thì họ nhào vô chơi. Người ghiền nhạc, thì đi tìm phòng nhạc để ca hát… Khi tập thói quen, dĩ nhiên có thói quen tốt và có thói quen xấu. Thói quen tốt hay thói quen xấu, một khi đã tiêm nhiểm thành ghiền nặng rồi, thì chính thói quen đó nó dẫn dắt chúng ta, tùy theo sở thích mà chiêu cảm, Thói quen hay sở thích nào nặng (cực trọng nghiệp), thì nó có một năng lực rất mạnh để tìm đến môi trường thích hợp mà thọ sinh, nên gọi là nghiệp cảm. 

Về điểm này, trong Quy Sơn Cảnh Sách, Tổ Quy Sơn cũng có nói: “Như nhân phụ trái, cường giả tiên khiên, tâm tự đa đoan, trọng xứ thiên trụy”. Nghĩa là: Như kẻ mắc nợ, ai mạnh kéo trước, trong tâm nhiều mối, nặng đâu sa đó. 

Thường ta nghe trong kinh nói, người khi chết, thần thức xuất ra. Nói thần thức, chính là cái nghiệp thức A lại da, nói rõ ra là những chủng tử thiện hoặc ác đã kết thành nghiệp. Và chính nghiệp thức nầy là đầu mối của việc thọ sinh đời sau đó vậy.

Người đời vì không biết, nên cho là có một cái linh hồn đi đầu thai. Chữ đầu thai có nghĩa là có một cái hồn nhảy vào cái bào thai để thọ thai. Hiểu như thế, thì không phù hợp với hai thuyết: Nghiệp cảm và A lại da duyên khởi của Phật giáo như đã nói ở trên. Không phải có một cái linh hồn đi đầu này đầu kia để kiếm đường chui vào một chỗ nào đó. Theo thuyết A lại da duyên khởi, thì không chấp nhận quan niệm đó. Vì trong thức nầy có đủ chủng tử hữu lậu và chủng tử vô lậu. Chủng tử hữu lậu là những hạt giống tùy duyên mà phát sinh ra thiên sai vạn biệt, tức hiện tượng giới; còn chủng tử vô lậu, có thể đưa đến chỗ giải thoát.

Tóm lại, người nào đó nói rằng sau khi con người chết, có một cái hồn tồn tại đi đầu thai và không có nghiệp báo gì hết, thì điều nầy như chúng tôi đã tạm nêu ra đôi nét giải thích trên, thì quan niệm đó không đúng.

Trong quyển Quy Sơn Cảnh Sách giảng giải của Thiền sư Thích Thanh Từ ở trang 77 có đoạn Hòa thượng nói: “Người thế gian cho rằng mọi người đều riêng có một linh hồn là cái tính linh khôn ngoan sáng suốt, mà đã khôn ngoan thì sao lại chịu vào nơi khổ? Ai cũng nghĩ rằng sau khi chết linh hồn mình sẽ sinh ra làm người nữa và chấp chặt cho linh hồn đó là mình.

Đạo Phật thì gọi đó là tâm thức. Cái tâm thức này tùy theo chỗ huân tập thiện ác mà đến, chứ không cố định. Vì không cố định nên nó không phải là cái khôn ngoan biết lựa chọn, mà chỉ tùy nghiệp mà thôi. Tâm thức khác linh hồn ở chỗ đó. Nếu nói chúng ta có linh hồn thì sẽ tưởng như đó là một tinh thần duy nhất, nếu là duy nhất cố định thì thiện ác, mãi mãi không thay đổi. Nhưng tâm thức chúng ta luôn luôn biến chuyển, gần người lành thì hấp thụ điều lành, gần kẻ ác thì hấp thụ điều ác. Như vậy, tâm thức là một dòng thiện ác sinh diệt, chính dòng thiện ác đó sẽ đưa chúng ta đến chỗ lành hay dữ, nghiệp nào nặng sẽ lôi mình trước, đó là ý Tổ Quy Sơn nói “trọng xứ thiên trụy”.

Như vậy, Phật giáo không chấp nhận có một cái linh hồn trước sau như nhất và càng không chấp nhận cái hồn đó đi đầu thai, như người đời lầm tưởng. Còn bảo rằng không có nghiệp báo gì hết, quan niệm nầy, theo Phật giáo cho đó là thuộc hạng người Nhất xiển đề, tức bất tín cụ. Đây là hạng người họ không có lòng tin nhân quả. Chẳng những không tin mà họ còn bài bác nhân quả nữa. Hạng người như thế, thật chúng ta khó trao đổi luận giải với họ được.

Như đã nói, thuyết nghiệp báo là đặt định trên chiều thời gian nhân quả mà nói. Người nói như thế, thiết nghĩ, họ chưa tìm hiểu về thuyết nghiệp báo. Và chưa hiểu nghiệp là gì. Nếu vì chưa hiểu, thì tốt hơn hết là nên tìm hiểu, chớ không nên nói càn bướng mà chuốc lấy khổ lụy vào thân. Thật là một tai hại vô cùng và thật đáng thương xót lắm thay!

Thích Phước Thái

ĂN CHAY CÓ THỂ ĂN TRỨNG ĐƯỢC KHÔNG?

Như Nhiên – Quảng Tánh

HỎI:Gia đình tôi ăn chay trường, vừa rồi tôi có tìm hiểu vài cuốn sách dạy nấu chay nhưng lại thấy một số các món chay có thành phần là trứng gà. Theo mẹ tôi thì ăn chay là không được ăn trứng. Vậy tại sao trong sách dạy nấu chay lại nói như vậy? Tôi có biết một số món chay trong Thực phổ của Làng Mai cũng dùng trứng. Tôi thảo luận với mẹ chuyện này nhưng mẹ nói người ta tu ở bên Tây nên ăn được, hiện tôi rất thắc mắc nên nhờ quý Báo giải đáp. Tôi ăn chay đã hơn 10 năm, vì một số bệnh duyên nên bác sỹ bảo thỉnh thoảng phải ăn trứng để bổ sung thêm dinh dưỡng. Theo bác sỹ thì ăn chay không đúng cách có thể dẫn đến suy dinh dưỡng. Tôi có tìm hiểu thì một số vị bảo là người ăn chay trường có thể ăn trứng gà công nghiệp. Việc đó không biết đúng sai thế nào, xin quý Báo hoan hỷ giải thích. (DIỆU HẢI, dieuhai12...@yahoo.com.vn; QUẢNG TUỆ, KP.3, P.7, Q.5, TP.HCM)

ĐÁP:Bạn Diệu Hải và Quảng Tuệ thân mến!

Hiện nay có rất nhiều người trên thế giới thực hành ăn chay. Có người ăn chay trường, có người ăn chay kỳ, có người ăn chay tùy thích… và họ ăn chay cũng vì nhiều mục đích khác nhau như tôn giáo, đạo đức, khấn nguyện, sức khỏe hay đơn giản chỉ là để thay đổi khẩu vị.

Theo các nhà nghiên cứu ẩm thực, cách thức ăn chay của người phương Tây và trên thế giới nói chung hiện nay gồm ba nhóm chính như sau:

(1)Ăn chay có uống sữa và ăn trứng (Ovo-Lacto Vegetarian) nhưng không ăn thịt cá gà vịt và những loại hải sản khác.

(2)Ăn chay có uống sữa (Lacto Vegetarian) nhưng không ăn trứng, thịt cá gà vịt và những loại hải sản khác.

(3)Ăn chay hoàn toàn (Strict Vegetarian/Vegan), không ăn tất cả thực phẩm là động vật hoặc các sản phẩm chiết xuất từ động vật.

Trong các sách, tài liệu dạy nấu ăn chay trên thị trường, những nhà ẩm thực thiết kế thành phần các món ăn chay dựa trên ba quan điểm này. Đối với các thực phẩm chay đã được đóng gói thì nhà sản xuất có ghi rõ thành phần để người tiêu dùng tự lựa chọn.

Riêng việc ăn chay trong truyền thống Phật giáo Việt Nam hiện nay, theo thiển ý và quan sát của chúng tôi, có sự phối hợp của cả ba cách ăn chay trên. Trước hết, cách ăn chay (2) là phổ biến nhất, chư Tăng và Phật tử tuy không ăn thịt cá và trứng nhưng uống sữa và ăn các thực phẩm chế biến từ sữa. Trong trường hợp không dùng trứng, sữa, phó-mát chỉ ăn ngũ cốc cùng tương dưa rau củ quả v.v… thì đã ăn chay theo cách (3). Từ khi có trứng gà công nghiệp (theo quy trình sản xuất thì loại trứng này không chứa mầm sống) bán rộng rãi trên thị trường thì một số người và một số nơi ăn chay theo cách (1), ăn chay có sữa và trứng (sản xuất công nghiệp). Có điều, người ăn chay theo cách (1) này không nhiều và không phổ biến, bởi còn một số vấn đề… bất đồng và nhạy cảm, đơn cử như hình thức của hai loại trứng gà công nghiệp và trứng gà ta (có mầm sống) khá giống nhau.

Và hiện Giáo hội cũng chưa ban hành một văn bản mang tính giáo quy hay giới luật nào quy định cụ thể về việc ăn chay ngoài các tiêu chuẩn và nguyên tắc ăn chay truyền thống như không ăn thịt, không sát sanh, nuôi dưỡng lòng từ…, nên người Phật tử Việt Nam ăn chay theo cách nào (3), (2) hay (1) hoàn toàn tùy thuộcvào quyết định chọn lựa của cá nhân, phù hợp với điều kiện sức khỏe, tu học của mỗi người.

Trong Thực phổ của Làng Mai, thành phần của một số món chay có trứng gà công nghiệp và một số nơi chư Tăng Ni, Phật tử dùng thực phẩm có trứng là chuyện rất bình thường, đều dựa trên nguyên tắc này. Tuy nhiên, việc ăn trứng nhằm bổ sung thêm một số dinh dưỡng theo lời khuyên của bác sỹ là cần thiết nhưng cũng cần liều lượng phù hợp. Những người có khuynh hướng kiêng ăn trứng vì để giảm cholesterol, ngăn ngừa bệnh dị ứng cùng các bệnh do nhiễm khuẩn salmonella, campylobacter và H5N1 v.v…

Đối với vấn đề suy dinh dưỡng, không chỉ ăn chay mà ăn uống nói chung, nếu không đúng cách đều dẫn đến hậu quả suy dinh dưỡng. Theo bác sỹ Đào Thị Yến Thủy (Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM), “Thực phẩm chay thường có năng lượng thấp và nếu không ăn đa dạng thì rất dễ bị thiếu dinh dưỡng gây ra gầy ốm cùng suy giảm sức đề kháng, dễ bị bệnh nhiễm trùng. Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng như thiếu chất sắt tạo máu, thiếu kẽm, thiếu vitamin B12... với biểu hiện là thiếu máu có thể xảy ra do các chất này có trong thực vật với tỷ lệ thấp và cũng khó hấp thụ hơn.

Nếu bữa ăn chay quá đơn điệu, như chỉ ăn cơm với rau cải luộc chấm tương, chao hoặc cơm với muối tiêu, nước tương thì nguy cơ thiếu chất rất cao. Ngược lại nếu bữa ăn chay có quá nhiều bột đường và dầu thì có thể dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì.

Ăn chay đúng cách là các món ăn trong bữa chính phải đủ 4 nhóm chất: bột đường, đạm (đậu hũ, tàu hũ, sữa đậu nành, đậu phộng, muối mè, nấm, đậu que, đậu đũa, đậu xanh...), dầu và rau - trái cây. Các bữa ăn cần đa dạng và thay đổi món thường xuyên. Bữa ăn luôn có rau trái để vitamin C giúp hấp thụ chất sắt trong thức ăn. Ngoài ra cần bổ sung thêm sắt, vitamin... theo chỉ định của bác sĩ”.

Chúc các bạn tinh tấn!

LUẬT NHÂN QUẢ CÓ BẤT CÔNG HAY KHÔNG?

ĐÁP: “Ác đạo tuần hoàn cảm ứng tự nhiên, tuy không báo ứng tức thời, nhưng thiện ác chung qui vẫn phải chịu quả báo” (kinh Vô Lượng Thọ)

Luật nhân quả là một hệ thống phức tạp mà chúng sanh không thể dùng trí tuệ phàm phu để thấy rõ được sự việc. Với cái nhìn của nhục nhãn của phàm phu, chúng ta chỉ thấy được những gì trước mắt, còn những chuyện thầm kín, tâm tư, quá khứ, tạo tác (nghiệp đã gây ra), tiền kiếp, v.vv.. chúng ta điều không nhìn thấy được.

“Bồ Tát sợ Nhân chẳng sợ Quả
Chúng Sanh sợ Quả chẳng sợ Nhân”

Như các hàng Bồ Tát, các ngài dùng Pháp Nhãn đã thấy trước được sự việc (Quả) nên các Nhân ác các ngài đã không trồng. Còn chúng sanh không thấy được “hậu Quả” nên cứ vun trồng nghiệp ác, đến khi quả báo đến thì lại than trời trách đất sao lai bất công. Đức Phật đã có dạy rằng: “nếu muốn biết nghiệp đời trước của chúng ta (nhân) thì hãy nhìn vào phước báo mà chúng ta đang có ở hiện tại (qủa). Muốn biết nghiệp báo của tương lai (quả) thì hãy nhìn vào những tạo tác mà chúng ta đang làm hiện tại (nhân)”.

Luật Nhân Quả không mảy may sai lệch. Những người giàu có về vật chất, quyền uy thế lực, chưa chắc đã là sung sướng. Những của cải, uy quyền người ta đang hưởng là dó quá khứ người ta đã vun trồng giờ thì người ta đang hưởng. Còn những nghiệp ác bây giờ có thể đến “mùa lúa sau” khi người ta đã hưởng hết phước báo rồi thì mới trả quả ác. Biết đâu chừng lúc đó có người lại bảo sao trời lại quá bất công với những người này mà đâu biết rằng tất cả điều đã do người đó tạo nghiệp

Nói chung, Nhân quả được chia ra làm 4 loại:

  1. Đồng Thời Nhi Thục
  2. Dị Thời Nhi Thuc
  3. Biến Dị Nhi Thục
  4. Dị Loại Nhi Thục

Đồng Thời Nhi Thục: nghĩa là nhân và quả xảy ra cùng vào một thời điểm. Ví dụ như ta cầm dao bị cắt đứt tay, cái nhân chơi dao, và cái quả là bị cắt tay liền ngay vào lúc đó.

Dị Thời Nhi Thục: nghĩa là nhân và quả xảy ra vào 2 thời điểm khác nhau. Ví dụ như hút thuốc lá và bị ung thu phổi, cái nhân hút thuốc lá, nhưng phải cần một thời gian dài mới có kết quả là ung thư phổi

Biến Dị Nhi Thục: nghĩa là nhân và quả có chênh lệch thay đổi vì tác động nhân duyên có thay đổi. Ví dụ như một vú đụng xe trên đường cao tốc, theo như lý thì với tốc độ này thì tai xế xe phải bị tử nạn, nhưng nhờ có cài dây an toàn (seat belt) nên tài xế chỉ bị thương mà không tử nạn

Dị Loại Nhi Thục: nghĩa là nhân và quả không giống nhau. Ví dụ cái nhân trộm cắp và cái quả là bị tù tội đánh đập chứ chưa hẳn là sẽ bị trộm cắp lại

Sở dĩ nhân quả có khác là vì bị “Duyên” tác động. Nếu ta đem một hột cam gieo trồng, theo lý nhân quả là chúng ta sẽ hưởng được quả cam đấy. Tuy nhiên, nó còn tùy thuộc vào rất nhiều duyên tố khác trước khi quả cam được hình thành, ví dụ như thời gian, nước, nắng ấm, phân bón, người chăm sóc, v.vv.. Nếu như cây bị ngập nước, khô cháy v.vv.. thì quả cam vẫn không hình thành được. Vì từ nhân cho đến quả bị “Duyên” chi phối thế nên Nhân Quả có khác. Thế nên, nếu lúc trước lỡ làm việc ác thì vẫn có thể sám hối được. Với điều kiện là thật tâm sám hối và chừa bỏ các tội ác xưa. Hãy nên vui vẽ trả nghiệp và đừng thối tâm làm việc thiện. Đến khi nghiệp trả xong thì tự nhiên sẽ gặt hái được những phước báo mà mình đã và đang gieo trồng.

“Tội từ Tâm khởi đem Tâm sám
Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu
Tội tiêu tâm diệt thảy điều không
Thế mới thật là Chơn Sám Hối”

CHÁNH MẠNG CỦA NGƯỜI XUẤT GIA

Thiên Hạnh

HỎI :

Mô Phật.

Kính bạch thầy. Con là sa di Trung Thắng mới xuất gia được hơn một năm. Con kính xin thầy  chỉ dạy thế nào là Chánh mạng đối với người xuất gia để con có được định hướng thích đáng trong việc tu học. Con xin kỉnh lễ tri ân Thầy.

ĐÁP:

Sa di Trung Thắng thân mến. Mới xuất gia thời gian ngắn, rồi đây chú sẽ được thầy bổn sư hoặc nếu được vào các trường sơ trung cấp Phật học sẽ được các vị giáo thọ dạy về Gíao lý căn bản và Kinh_Luật_Luận ở mức khai tâm. Nhân đây thầy tóm tắt các ý chính về phần Chánh mạng của người xuất gia. Chánh mạng là phương kế sinh nhai chân chánh (còn gọi là phương tiện sống chân chánh). Trong Kinh DI GIÁO Đức Phật dạy các Tỳ kheo về Phương tiện thanh tịnh:

Đức Phật đã phân tích những phương cách làm nguồn sống trong đời sống nhân sinh mà chúng đệ tử Ngài bất đắc dĩ phải tiếp cận. Ngài cảnh tỉnh các vị Tỳ kheo (xuất gia) không nên theo lối mòn của người thế tục và ngoại đạo có nghĩa là không nên làm các việc sau:

_ Việc của doanh nhân như mua bán trao đổi ( dịch vụ ).

_Việc của các điền chủ như tậu dựng ruộng đất, nhà cửa, mướn nhân công, nuôi người ở, nuôi súc vật, khai khẩn trang trại, xâm hại thiên nhiên.

_Việc của ngoại đạo như bào chế linh đơn, luyện phép thuật bùa chú, làm bốc sư, địa lý…

_Việc của các nhà hoạt động chính trị xã hội như đi sứ ngoại giao, tham gia các cơ quan quyền lực,…

       Đức Phật đã thấu rõ nếu người xuất gia làm những công việc trên sẽ phát sanh những tác hại. Trước hết nó tăng trưởng lòng tham hủy bại công đức. Thứ đến là suy mất chánh niệm, trí tuệ khó thành. Và cuối cùng là nhận lấy chướng duyên, lung lay Đạo nghiệp.

       Người xuất gia cốt cầu Pháp xuất thế, sống đơn giản thanh bần, bình bát ba y, không thiên vật chất, không màng danh vọng. Từ cơ sở này, Đức Phật khuyên chúng đệ tử nên điều độ và thanh tịnh trong mọi sinh hoạt, chừng mực trong sự thọ nhận cúng dường của tín thí, thành khẩn trong lỗi lầm, phải xem mục đích giải thoát là trên hết.

       Thầy cầu chúc sa di Trung Thắng và các Pháp hữu tinh tấn trong Đạo lộ hành trì Pháp Phật, tăng trưởng Đạo nghiệp.

(Thiên Hạnh_ giáo thọ tại tp HCM)

BÁI SÁM, LỄ LẠY CÓ DIỆT ĐƯỢC TỘI KHÔNG?

Thích Nhật Từ

Hỏi: Thưa thầy, bái sám, lễ lạy nhiều thì có tội diệt phước sinh không? Tu và bái sám thế nào thì đúng với chánh pháp.

Trả lời:

Bái sám nhiều mà tội diệt phước sinh là không đúng về nhân quả. Trong kinh điển Pali, A Hàm và Đại Thừa, Đức Phật không cường điệu về sám pháp. Đức Phật chỉ dạy chúng ta: hãy nhận thức lỗi lầm, nêu cam kết không để cho lỗi lầm đó được xuất hiện thêm một lần nào nữa trong tương lai và bằng “Tứ Chính Cần” để kết thúc việc xấu đã làm, ngăn chặn việc xấu chưa có
1. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh. 
2. Tinh tấn dứt trừ những điều ác phát sinh. 
3. Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sinh. 
4. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh.

Tác dụng thứ hai của sám pháp nhằm thuyết phục, răn đe để chúng ta không cố tình làm những lỗi lầm đó trong tương lai. Có lạy hàng trăm lạy các Đức Phật ba đời thì tội đó cũng không bớt được một tý nào. Có đọc hàng trăm bộ Lương Hoàng Sám, Từ Bi Thủy Sám, Mục Liên Sám Pháp, Ngũ Bách Danh, Tam Thiên Phật, Vạn Phật thì cũng không thể nào chuyển được nghiệp đó. Lạy thì có sức khỏe. Lạy thì có phước được tôn kính. Nghiệp xấu vẫn phải trả thôi. Cho nên, chúng ta không nên cường điệu. Đọc vừa phải để nhận thức đúng và điều chỉnh nghiệp xấu bằng sự gieo nghiệp thiện đối lập tương đương với năng lực nghiệp xấu cũ đã tạo.

Theo chúng tôi lạy Phật là một điều đúng, tốt cho sức khỏe vì vận động toàn thân, giúp chúng ta rũ bỏ được cái tâm ngã mạn khi biết tôn kính Phật và Bồ Tát. Tốt vì thời điểm đó chúng ta đang tĩnh tâm, hoàn toàn thanh tịnh, nó làm cho tâm của mình được an lạc. Và chỉ cần lạy 50 - 100 lạy là đủ vì với chừng đó số lượng lạy, lượng calori chúng ta được tiêu hao. Lạy Phật để tu chứ đừng có lạy Phật để mà cầu sám hối hết tội. Muốn sám hối hết tội thì phải gieo nghiệp thiện đối lập. Đó là con đường duy nhất, không có con đường nào khác.

Có phải Phật giáo cũng tin có quỷ, thần mơ hồ hay không?

Đạo Phật là đạo giác ngộ. Mọi sự mê tín không bao giờ đạo Phật chấp nhận. Thế thì xin hỏi: Tại sao chúng tôi thấy rãi rác trong các kinh lại có nêu ra các vị Thần, như Thiên Thần, lâm Thần, thọ Thần, Quỷ, Thần v.v... điều nầy, có ý nghĩa gì ? Có phải Phật giáo cũng tin có Quỷ, Thần mơ hồ hay không? Và có phải Phật giáo cũng tin tưởng vào đa Thần giáo không?

Xin thưa, Đạo Phật dứt khoát không bao giờ chấp nhận việc mê tín Thần quyền, nhứt là những vấn đề tin nhảm nhí, theo một niềm tin mù quáng, không được điều động bởi lý trí. Phật giáo cũng không chủ trương lấy việc cúng tế Quỷ, Thần như là một điều van xin cầu khẩn để được các vị Thần linh ban phước, giải khổ. Tuy nhiên, theo quan niệm của Phật giáo, thì giữa vũ trụ bao la, thế giới vô lượng, và lẽ dĩ nhiên có vô số chúng sanh xuất hiện dưới mọi hình thức tùy theo nghiệp quả của mỗi loài mà có ra thiên hình vạn trạng sai biệt. Sự sai biệt đó, theo kinh điển của Phật giáo cho chúng ta biết, thì tùy theo nghiệp nhân của mỗi loài đã tạo, nên quả báo thọ thân chẳng đồng.

Như có loài sống ở dưới nước, như tôm, cá v.v... Có loài ở trên không, như chư Thiên... Có loài sống trên đất liền, như loài người và các loài động vật, thực vật khác. Như thế, Quỷ, Thần cũng là một loại chúng sanh như vô số chúng sanh khác. Vì vậy mà rãi rác trong các kinh điển của Phật giáo, tiêu biểu như Kinh Địa Tạng chẳng hạn, trong đó, Phật nêu ra có nhiều loại Quỷ, Thần. Nhưng nêu ra như thế, để nói lên nghiệp cảm sai biệt của mỗi chúng sanh trong thế giới lục đạo luân hồi, chớ không phải Phật nêu ra như thế là có ý chấp nhận Quỷ, Thần có quyền ban phước giáng họa, để rồi Phật khuyên mọi người nên tin tưởng cúng bái Quỷ, Thần .

Điều nầy là một điều tối kỵ trong Phật giáo. Kinh Phật còn cho chúng ta biết thêm về thế giới quan, có chúng sanh hữu tình, có loài chúng sanh vô tình, có loài hữu hình hữu tướng, có loài vô hình vô tướng vân vân và vân vân. Tất cả đều tùy theo căn thức và nghiệp cảm mà có ra vô số sai khác. Như thế, thì không có một chúng sanh nào cai quản chúng sanh nào, ngoại trừ sự hỗ tương sinh thành theo luật nhân duyên nhân quả.

Do đó, Đức Phật không bao giờ khuyên dạy bất cứ ai cầu xin nơi Quỷ, Thần, vì Quỷ, Thần vẫn còn là một chúng sanh cũng vẫn đang chịu khổ như bao nhiêu chúng sanh khác, chưa biết bao giờ thoát khỏi, nếu như Quỷ, Thần đó không biết hồi tâm chuyển ý lo tu niệm.

Tóm lại, theo giáo lý của Phật giáo, Phật giáo có nói đến các loại Quỷ, Thần, như là một chúng sanh bị nghiệp cảm thọ báo mang hình hài nghiệp thức trong loài đó, chớ Phật giáo không chấp nhận quyền năng của bất cứ vị Thần sáng tạo nào, dù là nhất Thần, hay đa Thần cũng thế.

Hơn thế nữa, Đức Phật chưa bao giờ khuyên đệ tử của Ngài tin tưởng vào Thần quyền. Và cũng không bao giờ chấp nhận cho đệ tử của Ngài cúng bái, cầu khẩn van xin điều nầy việc nọ với Quỷ, Thần. Nếu là đệ tử của Phật, đã quy y theo Phật giáo, thì trong 3 điều quy y có một điều Phật răn cấm là không được quy y với Thiên, Thần, Quỷ, Vật. Ngay cả như chư Thiên, người phật tử cũng không được nương tựa. Lý do tại sao? Xin thưa, vì các vị trời cũng vẫn là một chúng sanh, nói rõ hơn, họ với ta sánh vế thì ngang nhau, vì ta cùng họ đều là đệ tử của Đức Phật. Tất nhiên là huynh đệ với nhau. Chẳng qua là họ hơn ta ở chỗ thọ dụng phước báo mà thôi.

Tỳ Kheo Thích Phước Thái

KHI THẦN TƯỢNG SỤP ĐỔ

Thiên Hạnh

HỎI:

Mô Phật.

Con kính bạch thầy ạ!

Con còn đang là sinh viên đại học, chưa quy y Tam Bảo. Trong nhà con chỉ có một mình má con (năm nay đã ngoài năm mươi) là đã quy y, thường xuyên đi chùa và tham gia các hoạt động của chùa. Trong những bữa cơm hay các dịp gia đình đông đủ, má con thường tỏ vẻ rất tự hào về Đạo Phật, về ngôi chùa nơi bà sinh hoạt và đặc biệt bà ca tụng hết lời vị thầy bổn sư bà đã quy y. Thấy tuổi già về hưu mà má con tìm được nơi an vui hoan hỷ như vậy cả gia đình con rất mừng, anh chị em chúng con còn có ý định thời gian nữa xin phép má cho được cùng quy y làm Phật tử. Đùng một cái, một hôm má từ chùa về mặt buồn thiu không nói năng gì, đi thẳng vào phòng nằm rầu rĩ bỏ cả cơm nước. Chúng con phải tìm cách nhẹ nhàng khéo léo gạn hỏi mãi má mới nói giọng như nghẹn ngào: thầy đổ nghiệp rồi!. Chỉ bấy nhiêu thôi, rồi bà không nói thêm gì nữa, nhưng con biết là vị thầy bổn sư của má đã phạm một điều hệ trọng gì đó để đến nỗi má phải thất vọng ê chề như thế.

       Sau đó chúng con tìm hiểu số các vị Phật tử cùng tu với má mới biết là ông thầy của các vị đó có phạm một số điều giới gì đó của người xuất gia khiến cho các Phật tử mới lâm vào cảnh “thần tượng sụp đổ” dở khóc dở cười như thế.

       Kính bạch thầy.

       Đứng trước sự việc này, sự hoang mang khiến tâm phát nguyện quy y của con cũng không còn nữa. Má con thì không còn đi chùa và cũng chẳng vui tươi như trước, mặt mày lúc nào cũng ủ dột và thường tránh mặt mọi người trong nhà. Xin thầy cho chúng con một lời khuyên, chúng con phải làm gì, phải hành xử như thế nào cho phải phép trong chuyện này ạ! Trước giờ con rất sùng tín Đạo Phật và Qúy Thầy, nay thì lòng tin đã giảm rõ rệt thay vào đó là sự hoang mang ngờ vực.

       Con kính tri ân thầy, và xin thầy hỷ xả nếu con có nói gì chưa phải.

             (Một tín nữ ở phường 12, q. Gò Vấp, tp HCM)

ĐÁP:

Phật tử thân mến.

       Trước hết cho phép thầy gọi con bằng danh xưng là Phật tử, vì qua câu hỏi thầy biết con đã rất tin kính Tam Bảo. Đây quả là nhân duyên tốt lành mà không phải bất cứ ai trong cõi đời này cũng có được.

       Mẫu thân con như con đã miêu tả là một Phật tử thuần thành đã lớn tuổi, có quá trình gắn bó phụng sự quý thầy và hộ trì Tam Bảo, đó là phước duyên của bà và của gia đình mình, con nên tự hào về điều đó.

       Trường hợp của mẹ con cũng không phải ít xảy ra đối với những Phật tử có tín tâm với Chư Tăng, dường như rất phổ biến là đằng khác. Theo logic thông thường của thế gian, người ta vẫn truyền tụng câu: càng hy vọng lớn thì thất vọng càng nhiều_ có thể tinh thần câu nói đó rất trùng hợp trong tình huống này vậy.

       Sự thất vọng và khủng hoảng tâm lý của mẹ con bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:

    Thứ nhất là tôn sùng và đề cao thái quá một nhân vật nào đó đến nỗi thần tượng hóa nhân vật ấy. Nên nhớ điều gì thái quá thường được gọi là cực đoan, mà đã cực đoan thì không còn tỉnh táo sáng suốt, đến nỗi gán ghép cho nhân vật đó những đức tính khả năng mà thực sự họ không hề có hoặc chưa đạt tới, ví dụ trong tâm mình cứ nghĩ họ thanh tịnh siêu quần như Phật như Thánh. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, đến khi thực tế phơi bày ra những mặt hạn chế của họ khiến mình bị bất ngờ, thậm chí khi họ mắc những sai lầm có vẻ hơi trầm trọng thì mình càng bị sốc vì “thần tượng sụp đổ”. Đối trước tình huống này, không ít Phật Tử phản ứng một cách tiêu cực là quay lưng với chùa( nơi vị ấy trú xứ), thậm chí xa rời Tam Bảo, bỏ ngang việc tu học mình đã bao lâu dày công nổ lực, cá biệt có vị niềm tin không vững quay lại phỉ báng Phật Pháp và bỏ theo tôn giáo khác.

     Thứ hai, Chưa xác định một cách chánh kiến về mục đích tu học và đâu là cái tổng thể nên nương theo và đâu là nhân duyên nhất thời mang tính tương tác cục bộ, thêm nữa là do các Phật tử chưa tự đào luyện cho chính mình sự bản lĩnh thích nghi bất cứ hoàn cảnh bất lợi nào trên đường tu tập nên gặp chuyện ngoài dự tưởng thì khủng hoảng, suy sụp, dẫn đến những hình thức đối phó thiếu đứng đắn.

       Vậy nên thầy có lời khuyên chung cho các Phật tử như sau:

       ● Để tránh những việc không hay về sau, trước khi đến và thỉnh cầu một vị Tăng(Ni) là thầy Bổn sư cầu Pháp tu học lâu dài( xin quy y), các tín chủ nên có quá trình tiếp cận tham học, là giai đoạn sơ ngộ, dần dần nếu thấy với vị thầy này, việc tu học mình có tiến bộ, tâm thức mình ngày càng an lạc, hoan hỷ, thì đây là bậc tôn túc hữu duyên với bản thân mình, lúc đó nên thỉnh cầu phát nguyện được quy y là đệ tử( bởi vì Phật Pháp là nhân duyên, không quy định rạch ròi như một số tôn giáo khác: tín đồ khu vực nào phải sinh hoạt khu vực đó). Các Phật tử không nên vì hình thức bề ngoài, hay thoạt diện kiến vị nào thấy trang tướng dung nghi dễ coi liền tức khắc xin quy y để gắn bó thầy trò, đó là những lối hành xử hời hợt, cảm tính, bột phát… rất dễ tạo ra sự giao động tâm lý về sau.

      ● Vì sao có tâm lý “ thần tượng sụp đổ”? Xin trả lời một cách nôm na là : vì có xây nên mới có đổ! Nếu không xây thì chẳng có gì là đổ và không đổ! Thế nào gọi là xây, nghĩa là ngày mỗi ngày, Phật tử cứ vun quén tạo dựng ảo tưởng thầy mình là nhất không thầy nào bằng, thầy mình tu hành giới đức thanh tịnh, thầy mình giỏi dang, thầy mình toàn bích, không chút tỳ vết lỗi lầm,… quả là một bức tượng hoàn hảo! Nhưng mình quên rằng, thầy mình cũng là con người, là người xuất gia đang tu học Phật, thầy mình chưa là Phật làm sao toàn bích đây? Vậy nên lời khuyên là hãy đừng xây nên một thần tượng nào cả, hãy tinh cần tu và học là điều thiết thực nhất.

       ● Tại sao phải buồn rầu khi một ai đó phạm sai lầm, mình vẫn còn một Đức Phật, Bậc Giác Ngộ tối thượng, là thầy của trời và người( Thiên nhơn chi Đạo Sư) đang được cả nhân loại ngưỡng mộ đó cơ mà! Sao không lấy Ngài làm thần tượng noi gương mà tu tập lại thần tượng một vị nào đó, rồi thấy họ là tất cả?

       Thêm nữa, cả nền giáo lý nhiệm mầu Đức Phật để lại còn đây, Phật tử nên theo đó hành trì tu tập, nên nhớ: “ Y Pháp bất y nhơn”. Với người tu học Phật chân chính thì lúc nào cũng lấy Gíao Pháp làm thầy như lời Đức Phật đã dạy, các thầy chỉ là người trợ duyên dẫn đường.

       ● Sai lầm của một vị thầy nào đó là chuyện cá nhân, một hiện tượng cá biệt, nó không phản ánh toàn bộ Phật Giáo, nếu đánh đồng rồi quy kết là Phật Giáo không tốt rồi quay sang chê bai Đạo Phật, bỏ theo tôn giáo khác là cách hành xử thiếu trí tuệ, rồi sẽ mất cơ hội tu tập (tự mình thiệt mình).

        ● Cũng có thể đó là biệt nghiệp rơi rớt của riêng thầy ấy, xử lý theo Luật theo Pháp là việc của cộng đồng Tăng đoàn, nằm ngoài trách nhiệm của cư sĩ Phật tử, nên các Đạo hữu chỉ nên chú tâm tu học đừng quá bận tâm.Vả lại nhân quả ai gây ra người ấy gánh chịu, không phải Phật tử chịu thay, nên hiểu rõ điều này.

  Theo thầy, mẹ con cứ nên đi chùa tu học tụng kinh bình thường, vẫn cung kính thầy mình như chưa từng xảy ra việc gì. Một Phật tử khôn khéo là biết học tập những gì nên học tập, không làm theo những điều chưa tốt chưa hay. Cứ theo Phật theo Pháp hành trì, vững chải mà tiến lên.

       Riêng phần của con, thầy khuyên con không việc gì phải thối thất tín tâm với Tam Bảo, việc mẹ con bị chao đảo tâm lý cũng là chuyện bình thường, nếu tín tâm Phật Pháp đủ mạnh, thầy tin tưởng bà sẽ vượt qua nhanh thôi và sẽ tinh tấn tu học như xưa. Con đừng lấy chuyện riêng của một vị thầy nào đó mà ảnh hưởng sự quy hướng về Phật Pháp của mình( bởi chuyện chẳng đáng chút nào cả_chẳng khác nào tự mình thiệt mình, uổng lắm!).

        Thầy cầu nguyện Chư Phật gia hộ mẹ của con sớm nhận rõ đường lành, bản thân con sẽ sớm là Phật tử ngày ngày tinh tấn tu tập theo lời Phật dạy.

        Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

Ghi chú của ban biên tập: Thầy Thiên Hạnh hiện là giảng viên lớp đào tạo giảng sư (cao trung cấp giảng sư) tại TP. HCM

LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐỊNH TÂM KHÔNG BỊ ẢO GIÁC KHI HUYỆT ĐẠO BỊ MỞ DO TU THEO NHÂN ĐIỆN?

VẤN: Cách đây ba năm, con được một số bạn chỉ cho cách tu nhân điện vì các bạn bảo đó là phương pháp tốt nhất giúp sớm định tâm quán tưởng, biết được nhiều chuyện nhiệm mầu, hiểu về thế giới xung quanh cũng như có một năng lực rất diệu kỳ. Con tò mò nghe theo và đã được một người thầy khai ấn, mở huyệt đạo để tu. Ban đầu con cũng khá thích thú vì thấy mình có một sức mạnh khác, khỏe hơn và thấy được nhiều thứ xung quanh. Tuy nhiên, dần dần con cảm thấy tâm con quá loạn động, không bao giờ được ngồi yên, ảo giác xảy ra thường xuyên nhiều lúc làm con muốn điên loạn. Giờ con cảm thấy hối hận và muốn tu hành theo một pháp môn của Phật giáo để không bị loạn động. Con không thể ngồi thiền vì mỗi lần ngồi là con bị hoảng loạn, ảo giác xuất hiện dù chỉ là ngồi hít thở. Con không biết là con có thể niệm Phật được không hay có phương pháp nào giúp con định tâm tốt hơn? Các huyệt đạo bị khai mở ấy có bị làm sao không và có cách nào giúp đóng lại các huyệt đạo bị mở? Xin sư chỉ dạy cho con.

ĐÁP

Nhân điện xuất hiện trong cộng đồng người Việt ở Mỹ mà người khởi đầu là ông Lương Minh Đáng, một người Việt di cư đến Mỹ năm 1985. Những người theo học được ông hoặc các người phụ tá giảng dạy khai mở luân xa, rồi sau đó có thể tự chữa lành bệnh cho mình và cho tha nhân, kể cả các căn bệnh như ung thư và tim mạch và có khả năng chữa bệnh cho bệnh nhân ở xa qua việc truyền nhân điện bằng điện thoại?

Những người tu theo phái này cho biết khi khai mở được luân xa cuối cùng, hoặc thầy khai mở cho hay tự mình khai mở được luân xa số 1 thì con người trở thành siêu nhân và đạt được giác ngộ…Nhân điện hay còn gọi là Trường Sinh Học Khai Mở Luân Xa, chủ trương vào việc khai mở luân xa với mục đích, gần thì có năng lực cho mình được khỏe rồi truyền cho người khác cùng khỏe, chữa cho họ hết bệnh; cao xa hơn nữa là để “thể xác và tâm trí hoàn toàn trống rỗng, hư vô tuyệt đối, hòa mình vào cùng vũ trụ”.

Ý tưởng nhân điện thì cao xa, tuy nhiên trong các kinh điển đức Phật không dạy về luân xa cũng như khai mở luân xa. Cứu cánh của Phật giáo là giải thoát khỏi phiền não, khổ đau và sinh tử luân hồi, thoát ly tam giới đạt được giác ngộ hoàn toàn, an trú trong Niết bàn tịch diệt.

Chúng ta không nên phê phán tín ngưỡng khác, như mỗi loài hoa có vẻ đẹp riêng, chúng ta có thể nghiên cứu để mở mang kiến thức. Việc đóng mở luân xa là việc của Nhân điện, không phải việc của Phật pháp. Về tín ngưỡng tâm linh thì tùy duyên, không nên gượng ép.

Riêng đối với Phật tử, Sư có lời khuyên hãy trì giới thành kính, không thực hành pháp môn ngoại đạo. Đó là điều bạn đã hứa khả khi trong lễ thọ tam quy ngũ giới:

Các thiện nam (hay Thiện nữ)!

Các vị đã quy y Phật rồi, từ nay trở đi thà bỏ thân mạng trọn đời không quy y thiên thần và quỷ vật, vì sao? Vì thiên thần quỷ vật kia còn bị luân hồi sanh tử, không phải là thánh nhân xuất thế gian

- Quy y pháp rồi, thà bỏ thân mạng, chớ không quy y theo kinh điển ngoại đạo tà giáo. Vì sao? Vì kinh điển ngoại đạo tà giáo không phải là pháp môn vô lậu giải thoát

- Quy y Tăng rồi, thà bỏ thân mạng chớ suốt đời không quy y đồ chúng ngoại đạo. Vì sao? Vì đồ chúng ngoại đạo không phải là người giải thoát chứng quả Tam thừa, họ sẽ dẩn dắt quý vị vào con đường tối tăm nguy hiểm (trích Giới đàn Tăng, trang 15,16, do HT Thích Thiện Hòa biên dịch).

Đoạn luật nầy chỉ nói đến người Phật tử phát tâm quy y Tam Bảo là như vậy, không áp dụng cho người không hoặc chưa quy y Tam bảo.

Là Phật tử, trước đi theo pháp nhân điện, nay có trở lại tu Phật thì phải sám hối trước Phật và chư tôn đức Tăng già, bổn sư, chốn Tổ của bạn, hoặc chư tôn đức ở tự viện nào cũng được, cho được thanh tịnh nhẹ nhàng, thanh tâm mát dạ; nếu chưa phải là Phật tử thì bạn cầu học Phật pháp, lóng lòng cho tâm trí sạch trong và thanh thản rồi xin quy y Tam bảo. Không nên chê bai ngược lại pháp môn mà bạn đã theo và thực hiện không hiệu quả vừa qua.

Không nên nặng nề lắm với công phu tụng kinh niệm Phật. Bạn vẫn sinh hoạt bình thường với gia đình và xã hội. Sau đó tìm Thầy quy y, hướng dẫn tu hành. Mỗi ngày nên chọn thời gian thích hợp, buông bỏ vạn duyên, thành kính niệm Phật từ 20-30 phút. Mỗi ngày tự thực hành như thế dần dà sẽ thấy Phật pháp nhiệm mầu.

HT Thích Giác Quang
Quan Âm Tu Viện
TP. Biên Hòa, Đồng Nai

BỐ THẮC MẮC MONG ĐƯỢC GIẢI ĐÁP

Con có một số thắc mắc mong quý sư giải đáp:

01. Con đọc được một số tài liệu là không nên để hình của mình trên màn hình máy tính hoặc làm hình nền điện thoại. Vậy liệu con có thể để hình ảnh của những vị Phật, Bồ tát mà con tôn kính làm hình nền máy tính hoặc điện thoại liệu có ổn không ạ?

Trả lời: Rất nhiều người thường lấy hình của người mình yêu làm hình nền máy tính hoặc điện thoại. Còn em lấy hình Phật hay Bồ Tát là những vị em tôn kính, luôn nghĩ tưởng và hướng tới. Điều này là điều tốt vì em luôn nhớ tưởng đến ngài, đến các công hạnh của ngài mà em sẽ cố gắng noi theo. Thí dụ như Đức Phật. Ngài là hiện thân của đấng Đai Từ, Đại Bi không phải chỉ nhằm tình thương trong phạm hẹp hòi của gia đình: thương cha mẹ, vợ con, bạn bè hay tình thương yêu đồng chủng, đồng loại. Tình thương của Ngài là tình thương tất cả chúng sanh, không trừ bỏ một sinh vật nhỏ bé nào. Tình thương ấy nó rộng sâu như trời bể, không bờ bến, không biên cương, không hạn định.

02. Con có nghe một số người nói là với những người giới tính bất thường, đồng tính hoặc ái nam ái nữ, bán nam bán nữ thì không được quy y có đúng không ạ? Nếu đúng thì cho con xin phép hỏi thêm, con hiện giờ sinh ra với cơ thể là nam giới nhưng con cảm nhận bản thân mình là nữ giới và nếu con tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính thành 1 người nữ thì liệu con có được quy y và được tu học không? Nếu được thì con sẽ thọ giới của Tăng hay Ni ?

Trả lời: Trước hết em nên hiểu quy y là gì.

Trong kinh Tăng Chi, đức Phật dạy: "Ai nguyện nương tựa Phật, Pháp, Tăng, thì người ấy được gọi là Phật tử". Nguyên văn lời nguyện thành một Phật tử là:

Buddham saranam gacchàmi, (Con nay đi theo Phật) 
Dhammam saranam gacchàmi, (Con nay đi theo Pháp) 
Sangham saranam gacchàmi, (Con nay đi theo Tăng) 

Đó là ý nghĩa của quy y. Nói rộng ra là Tam Quy. Tam quy là Quy y Phật, Quy Y Pháp và Quy Y Tăng, gọi là Quy Y Tam Bảo. Quy y nghĩa là trở về và nương tựa, nhưng chúng ta trở về đâu và nương tựa cái gì? Chúng ta trở về với Phật giáo và nương tựa vào Tam Bảo, Phật, Pháp, và Tăng. Sau lễ quy y, người Phật tử được thầy truyền thọ Tam Quy đặt cho một pháp danh (Dharma name). Pháp danh này là biểu tượng chính thức của người Phật tử, nói lên sự chấp nhận nương tựa vào Tam Bảo về mặt tinh thần.

Quy y như thế có nghĩa là hoan hỷ chấp nhận sự hướng dẫn của Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật Bảo là chư Phật, Pháp Bảo là giáo pháp, cụ thể là Tam Tạng Kinh Điển, Tăng Bảo là Tăng đoàn, đoàn thể của những người đã ly gia cắt ái, đang tu hành thanh tịnh, đại diện Chư Hiền Thánh Tăng cả ba thời để hướng dẫn Phật tử trên con đường đến bờ Giác. 

Như thế bất cứ ai, không phân biệt, chủng tộc, mầu da, giới tính, kể cả những người giới tính bất thường, đồng tính hoặc ái nam ái nữ, bán nam bán nữ đều được quy y để trở thành một người Phật tử. Với nguyên tắc thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh, Phật giáo không chủ trương xét xử, không chống đối hay chỉ trích (lên án) người khác, đơn thuần chỉ dựa trên tính chất của người đó, vì điều này được xem như là một sự phê phán thiên vị và không công bằng. Vì thế, xuyên qua những lời giảng dạy của Đức Phật, chúng ta không thấy Ngài phê phán hay lên án những người đồng giới tính hay chuyển đổi giới tính về phương diện đạo đức.

Trong đạo Phật, có hai giới Phật Tử, Phật tử tại gia và Phật tử xuất gia.

Đối với hàng Phật Tử tại gia, hôn nhân và sinh con được xem là tích cực, nhằm xây dựng một đời sống hạnh phúc gia đình của đời này và đời sau, nhưng không có nghĩa là bắt buộc. Trong giới luật áp dụng cho hàng cư sĩ tại gia, không có điều luật hay lời khuyên nhủ nào về vấn đề kết hôn giữa những người cùng giới tính.

Đối với hàng Phật tử xuất gia, những người đã từ bỏ nếp sống gia đình, phát nguyện sống đời sống độc thân, quyết chí tu hành giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, nên bị ràng buộc trong tổ chức Tăng đoàn qua bộ luật Tỳ Kheo. Theo bộ luật này, Dâm Dục là giới cấm đầu tiên trong bốn giới “Ba La Di” mà bất cứ vị Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni nào phạm phải giới này đều bị trục xuất hay bị khai trừ vĩnh viễn ra khỏi cộng đồng Tăng đoàn. Dâm Dục được định nghĩa là bất cứ loại hoạt động tình dục nào, cho dù đó là cùng giới tính hay khác giới tính, kể cả với loài vật.

Có thể do nguy cơ gây xáo trộn đời sống thanh tịnh của Tăng đoàn, làm cản trở tiến trình tu tập của các thành viên, nên những người đồng tính luyến ái, trong đó bao gồm cả người ái nam ái nữ và cả loại người mà kinh điển Pali gọi là Pandakas, không được thọ giới Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni, tức là không cho vào hàng ngũ Tăng đoàn.

Con hỏi hiện giờ sinh ra với cơ thể là nam giới nhưng con cảm nhận bản thân mình là nữ giới và nếu con tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính thành 1 người nữ thì liệu con có được quy y và được tu học không? Nếu được thì con sẽ thọ giới của Tăng hay Ni?

Trả lời: Đạo Phật tin rằng, mọi sự mọi vật trên thế gian là vô thường, cuộc sống nhân sinh cũng chuyển dịch biến hoá không ngừng và tuỳ theo nghiệp của mỗi chúng sinh, giới tính có thể thay đổi từ giới này sang giới khác như người nam trở thành người nữ hay ngược lại và chuyển dịch từ đời này sang đời khác. Ngay cả hiện tại cũng đã có nhiều người hoặc tự mình thay đổi với sự trợ giúp của y khoa hay tự nhiên thay đổi giới tính. Đạo Phật không ngăn cấm, không kỳ thị đồng tính hay chuyển đổi giới tính. Và như trên đã nói bất kỳ ai cũng được thọ quy y Tam Bảo. Em cũng vậy, khi em trở thành nữ em có thể quy y với bất cứ với vị Tăng hay vị Ni nào tại bất cứ ngôi chùa nào hay tu viện nào. Vì khi em quy y, không phải quy y với vị Tăng đó hay vị Ni kia mà quy y với Tăng Bảo hay Tăng Đoàn.

03. Con có đọc 1 số trang sách có ghi là Giới luật là do Đức Phật chế ra sau khi có những sự cố trong tăng đoàn, nên Đức Phật mới tạo ra giới luật để ngăn chặn những việc đó. Việc này liệu đúng không ạ ?

Trả lời: Điều này đúng.

Vì theo như chỗ con biết và nghe thì con có nghe là Đức Phật đã thành Phật từ vô lượng kiếp. Là bậc biết được quá khứ hiện tại vị lai và biết rõ tất cả căn tánh chúng sanh, thì không có lý do nào Phật lại để xảy ra những việc đáng tiếc mới tìm cách ngăn chặn. Con thấy điều này có gì đó không hợp lý cho lắm theo ý ngu muội của con.

Trả lời: Trong Ngũ Phần Luật quyển 1, Ngài Xá Lợi Phất trình thưa Phật: “Bạch đức Thế Tôn làm sao để Chánh Pháp của đức Như Lai, sau khi Như Lai diệt độ rồi Chánh Pháp ấy được tồn tại lâu dài”.

Thế Tôn dạy: “Đức Phật nào mà có nói giới nói pháp thì chúng đệ tử nhờ đó để tu hành, làm cho Chánh Pháp được cửu trụ lâu dài”.

Ngài Xá Lợi Phất thưa: “Bạch Thế Tôn tại sao con không thấy Thế Tôn chế giới mà chỉ nói Pháp?”

Đức Phật nói: “Này Tôn giả, ta biết thời phải làm gì, nay chưa đến thời ta chưa chế giới. Khi nào trong Tăng chúng có việc vì danh lợi, vì hữu lậu xảy ra thì Như Lai mới chế giới”. 

Ngài còn dạy rằng : “Nếu Ta chế Giới trước khi vi phạm, thì người đời sẽ phỉ báng ta. Họ sẽ bảo rằng tôi không có gây tội, sao lại cưỡng chế ra Giới luật. Đây không phải là nhất thiết trí. Như thế là Như Lai không có tâm từ bi, không lợi lạc, không bảo bọc chúng sanh. Như người không có con lại nói rằng sẽ sanh con vào giờ ấy. Chuyện ấy không thể tin, vì không chân thật. Nếu là sự thấy đứa con người ta mới tin được, cũng thế hữu lậu chưa sanh, tội chưa làm, trời người chưa thấy làm sao chế Giới được. Cho nên cần phải thấy rõ phạm tội, rồi sau đức Thế Tôn mới chế Giới, đây là đúng thời. Này Xá Lợi Phất như y sĩ biết là nguyên nhân tật bịnh và biết thuốc nào ngọt để trị bịnh ấy”.

Từ đó, dần dần về sau trong Giáo đoàn Tăng sinh các hữu lậu với mục đích tâm họ không chân chánh. Do đó tăng đoàn đã xảy ra nhiều trường hợp nhiều Tỳ kheo thiếu kỷ cương nề nếp, đời sống buông lung phóng túng, vi phạm tịnh hạnh … khiến cho Giáo đoàn của Phật bị mang tiếng xấu lây, lại có nhiều ý kiến mâu thuẫn. Để giải quyết những vấn đề đó, Thế Tôn bắt đầu chế Giới để đối trị những lỗi lầm đã xảy ra, ngăn ngừa hành vi bất thiện pháp sắp vi phạm hay đã phạm thì phải sám hối, đồng thời duy trì uy tín của Tăng đoàn.

04. Có 1 ngày con nghe 02 người nói chuyện với nhau với ý gần như là phỉ báng. Đại ý như sau :" Chắc bữa nào phải nhờ mẹ của con mua dùm cho mấy cái áo tràng để mặc vào nhìn cho giống chân tu" rồi họ cười lên, con không hiểu tại sao lúc đó con lại bật cười chung với họ, con thực sự rất sợ hãi, vì con biết mình đã có ý phỉ báng với chiếc áo tràng và những bậc tu hành, con đã sám hối và xin được tha thứ,nhưng con vẫn lo lắng và tâm con không yên. Liệu có được không thưa quý sư, con thật sự không muốn mình như vậy và con cũng không muốn thối chuyển bồ đề tâm và mất hạt giống Phật. Xin hãy chỉ giúp con cách nên làm thế nào?

Trả lời: Sám hối chân thật thì Đức Phật dạy có sự hối hận trong lòng. Khi làm việc sai, mình thực lòng ăn năn việc quá khứ đã lỡ làm. Vì nhận ra lỗi cũ khiến cho lòng mình ray rứt, nên quyết tâm về sau không bao giờ tái phạm như vậy nữa. Trong kinh diễn tả rằng “Sám tiền khiên, hối hậu quả”, nghĩa là sám hối tội trước và ngăn chặn tội sau, không cho phạm, đó là chân thật sám hối.

Như thế là em đã sám hối chân thật rồi.

Em cũng biết là trong các thời kinh sám hối, chúng ta thường tụng rằng:

Xưa nay đã tạo bao ác nghiệp
Đều từ vô thủy tham sân si
Bởi thân miệng ý phát sinh ra
Hết thẩy tôi nay xin sám hối.

Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh thẩy đều không
Ấy mới thật là chân sám hối.

Nghĩa là tội sanh ra phát xuất từ tâm. Nếu thành tâm sám hối, dần dần tội hết, tâm sẽ sáng. Và khi tâm tịnh, tội cũng không còn thì chơn tâm hiển hiện. Chơn tâm là tâm Phật, nên tâm này gắn liền với chư Phật mười phương tạo thành thế giới thanh tịnh, Niết-bàn.


Con có những thắc mắc như vậy mong Quý Sư từ bi giải đáp cho con để con được hiểu rõ. Nếu con có nói điều gì sai trái, con xin được sám hối, kính mong chư Phật, Bồ tát và quý Sư từ bi tha thứ cho con.

Con chân thành cảm ơn.


(Ban Biên Tập)

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẠO PHẬT VỀ “THÁNG CÔ HỒN”

Nhiên Như- Quảng Tánh

HỎI: Trong dân gian xem tháng Bảy âm lịch là “tháng cô hồn”, tháng của ma quỷ. Đặc biệt rằm tháng Bảy là ngày mở cửa địa ngục để ma quỷ được tự do về dương thế. Dân gian tin rằng từ mùng hai tháng Bảy, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ môn quan và cao điểm là ngày rằm tháng Bảy thì xả cửa để cho ma quỷ tự do đến sau 12 giờ đêm thì kết thúc. Thế nên tháng Bảy cần kiêng kỵ nhiều điều để không bị ma quỷ làm hại, nhất là trong ngày rằm tháng Bảy nhà nào cũng phải có lễ cúng cho cô hồn ăn uống no nê, đốt vàng mã thật nhiều chứ còn để họ đói khát, thiếu thốn là sẽ bị quấy phá. Xin cho biết, quan điểm của đạo Phật về vấn đề này thế nào? (DIỆU PHÚC, Trần Hưng Đạo, Q.5, TP.HCM)

ĐÁP:

Bạn Diệu Phúc thân mến!

Trước hết, xin khẳng định việc gọi tháng Bảy là “tháng cô hồn” chính là quan niệm dân gian. Phật giáo Bắc tông gọi tháng Bảy là mùa lễ hội Vu lan-Báo hiếu. Trọng tâm của lễ hội Vu lan-Báo hiếu nhằm giáo dục người Phật tử về lòng hiếu thảo, biết nhớ ơn và lo đền ơn các đấng sanh thành, để rồi từ đó tu dưỡng đạo đức, sống hiếu thảo tốt đời đẹp đạo.

Dựa theo kinh Vu lan với sự tích Tôn giả Mục-kiền-liên cứu mẹ, nhân ngày chúng Tăng mãn hạ Tự tứ, các Phật tử phát tâm cúng dường mười phương Tăng, hồi hướng công đức phước báo nguyện cầu âm siêu dương thái. Nhân dịp này, các Phật tử còn thiết lễ cúng kiếng ông bà cha mẹ quá vãng, đồng thời trải lòng bi mẫn sắm sanh lễ vật bố thí chư vị quỷ thần (người âm nói chung), thường gọi là thí thực cô hồn. 

Như vậy, theo quan điểm của đạo Phật, lễ hội Vu lan-Báo hiếu vào tháng Bảy âm lịch là “tháng báo hiếu”, hoàn toàn không phải là “tháng cô hồn”. Tuy nhiên hiện nay, tháng Bảy mùa hội Vu lan-Báo hiếu có ý nghĩa trọng tâm là giáo dục lòng hiếu thảo cho con người rất nhân văn và cao cả của đạo Phật đang có nguy cơ bị không ít người hiểu sai, bị dân gian hóa theo hướng cầu cúng ma quỷ, nhuốm màu tà kiến, mê tín.

Chúng ta đều biết, kinh Vu lan có mặt rất sớm ở Trung Quốc (do ngài Trúc Pháp Hộ [226-304] dịch vào đời Tây Tấn [265-317]) và có sức ảnh hưởng to lớn đến đời sống xã hội thời bấy giờ. Người Trung Quốc xưa tiếp thu tinh hoa hiếu đạo của kinh Vu lan nhưng đồng thời có sự tiếp biến với văn hóa bản địa thành tín ngưỡng dân gian: “Tháng Bảy âm lịch là tháng cô hồn, rằm tháng Bảy là ngày mở cửa địa ngục để ma quỷ được tự do về dương thế. Từ mùng hai tháng Bảy, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ môn quan và cao điểm là ngày rằm tháng Bảy thì xả cửa để cho ma quỷ tự do đến sau 12 giờ đêm thì kết thúc”.

Phật giáo Bắc tông Việt Nam chịu khá nhiều ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc, nên ngoài việc đọc tụng và thực hành hiếu đạo theo kinh Vu lan, một bộ phận quần chúng Phật tử và trong dân gian còn ảnh hưởng tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, tin vào “tháng cô hồn” (sâu đậm ở miền Bắc). Vấn đề là người Phật tử Việt Nam hiện nay cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, kinh Phật không hề nói đến việc Diêm Vương mở cửa địa ngục vào tháng Bảy. Nên không có ngày “âm khí xung thiên”, ma quỷ đồng loạt tràn lên dương thế phá phách, xin ăn mặc vào ngày rằm tháng Bảy. Nếu tin vào việc Diêm Vương mở địa ngục vào tháng Bảy, rồi thành lệ: “Tháng Bảy cần kiêng kỵ nhiều điều để không bị ma quỷ làm hại, nhất là trong ngày rằm tháng Bảy nhà nào cũng phải có lễ cúng cho cô hồn ăn uống no nê, đốt vàng mã thật nhiều chứ còn để họ đói khát, thiếu thốn là sẽ bị quấy phá” là không phù hợp với Chánh pháp.

Người Phật tử chân chính cần xác định rằng: Ngày rằm tháng Bảy là ngày Tăng tự tứ, ngày Tăng thêm tuổi hạ, ngày Phật hoan hỷ. Đối với Phật tử thì tháng Bảy là thời điểm để mỗi người trau dồi, làm tăng trưởng thêm tâm hiếu và hạnh hiếu. Còn việc “thí thực cô hồn” trong dịp này cũng rất tốt, là hạnh bố thí cho quỷ thần được no đủ nhưng chỉ là một lễ tiết có tính thứ yếu trong mùa lễ hội Vu lan mà thôi. Cần lưu ý là, thực hành bố thí - ở đây là “thí thực” - nên lễ phẩm chủ yếu là thực phẩm, không nên quá lãng phí cho việc mua sắm vàng mã, rải tiền lẻ v.v... Đặc biệt là không nên kiêng kỵ và sợ hãi ma quỷ theo kiểu mê tín dị đoan. Thiết nghĩ Giáo hội PGVN cũng như chư vị Tăng Ni cần hướng dẫn cho Phật tử tu học đúng Chánh pháp trong mùa Vu lan-Báo hiếu, nhất là tránh gọi tháng Bảy là “tháng cô hồn” rồi quá chú trọng đến cầu cúng ma quỷ theo dân gian.

Chúc bạn tinh tấn!

NGƯỜI XUẤT GIA CÓ ĐƯỢC THAM DỰ, BÀN LUẬN CHUYỆN CHÍNH TRỊ KHÔNG? 

Hòa thượng Thích Giác Quang

VẤN: Xin Sư cho con hỏi: người tu hành xuất gia có được tham dự chuyện thế sự và chính trị đời thường không? Con nghe nói người tu hành không được xen vào chuyện chính trị, chỉ lo thuyết pháp độ chúng, tu hành cho mình, nhưng con thấy rất nhiều các bài viết từ những người tu hành bàn luận chính trị, các chính sách của nhà nước, của nước ngoài, bàn chuyện đời nhiều hơn chuyện đạo như vậy là có đúng không? Có bạn bảo thì đó cũng là phương tiện hoằng pháp, mang đạo vào đời, xưa kia các vị thiền sư còn cởi áo nhà sư để lo chuyện chính sự, đánh đuổi quân xâm lược, hết chiến tranh, đất nước yên bình, lại trở về thảo am tu hành. Con cũng biết vậy nhưng con cảm thấy có điều gì đó không được bình thường nếu người tu hành lo bàn luận chuyện chính trị thế sự quá nhiều. Xin Sư từ bi giải đáp cho con được rõ.

Đáp:

I .

Trước khi niết bàn, Phật có khuyên bảo đức A Nan và đại chúng: “Ta tịch rồi các ông hãy lấy giới luật làm Thầy, giới luật còn là Ta còn, giới luật mất là Ta mất”. Ngoài ra, Phật còn nói những lời cuối cùng là kinh Di Giáo, tại chương Một, có đọan như sau:

"Này các Tỳ-kheo! Sau khi Ta diệt độ, các ông phải nên tôn trọng và trân kính Biệt Giải Thoát. Nó như trong bóng tối gặp được ánh sáng, như kẻ nghèo được châu báu. Phải biết rằng nó tức là vị đại sư của các ông, và cũng y như chính Ta trụ thế không khác.

Phàm người trì giới thanh tịnh thì không được kinh doanh buôn bán, không được sở hữu nhà cửa ruộng vườn, lưu giữ nô tỳ, hay chăn nuôi súc vật. Hết thảy các loại nông nghiệp và tiền tài, họ phải nên xa lánh như là tránh hầm lửa. Không nên cắt cỏ chặt cây, khai khẩn đất đai, bào chế thuốc thang, xem tướng cát hung, xem tinh tú, xem tử vi, hay xem bói. Tất cả những việc này đều không nên.

Họ nên điều hòa thân thể, thọ thực đúng thời, và sống thanh tịnh. Không nên tham dự chuyện thế tục hay làm sứ giả đại diện. Không nên dùng chú thuật, luyện tiên dược, kết giao với người quyền quý, và thân cận với kẻ đê tiện.

Với chánh niệm và lòng ngay thẳng, người trì giới thanh tịnh hãy nên cầu độ thoát. Họ không nên che giấu lỗi lầm hay tỏ ra vẻ khác lạ để mê hoặc đại chúng. Đối với bốn sự cúng dường, họ phải biết giới hạn và biết đủ. Khi được phẩm vật cúng dường thì đừng nên cất giữ...”

Câu Không nên tham dự chuyện thế tục hay làm sứ giả đại diện, đứng về góc độ xuất thế, Đức Phật không cho phép chư Tăng Ni tham gia việc chính trị, du thuyết thế sự, ngọai giao hòa đàm, đàm phán, khiêu khích chiến tranh, thời nay gọi là làm chính trị. Tuy nhiên, ở một công hạnh khác của người con Phật, thì người Phật tử có thể ra giúp nước giúp dân, tham gia góp phần đánh đuổi ngoại bang xâm lăng tổ quốc dưới mọi hình thức, mang lại nền hòa bình thống nhất đất nước, ấm no cho dân tộc .

II .

Trong quá khứ, vào thế kỳ thứ XIV, đất nước chúng ta có Phật Hoàng Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, hai lần đánh đuổi quân Nguyên Mông xâm lăng Đại Việt, chinh phạt Ai Lao, ngọai giao với Chiêm Thành mở mang bờ cõi đến Thuận Hóa. Ngài có để lại hai câu thơ về việc đánh giặc phương Bắc, bình định Chiêm Thành, Ai Lao như sau:

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông muôn thuở vững âu vàng

(Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu)

Sau khi đất nước hòa bình độc lập thì Nhà Vua đi tu trở thành vị Thiền sư đắc đạo thiền và nhập Niết Bàn vào ngày 01 tháng 11 năm Mậu Thân (1308). Nhìn chung, trải suốt gần 600 năm, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, giáo lý Đức Phật truyền bá sâu rộng trong chốn cung đình, tạo điều kiện cho vua quan, cận thần, đến hàng thứ dân đều quy y Tam bảo tu hành theo hạnh Phật.

Đứng về góc độ xuất thế, tầm nhìn của chúng ta có bị lệch, chứ không phải kinh hướng dẫn lệch hướng, hay đệ tử Phật giáo hóa lệch hướng. Tuy nhiên, theo tầm nhìn của Bồ tát giáo hóa chúng sanh thì dù ở thời đại nào, Phật sự của người con Phật phải làm là “hộ quốc an dân” đúng nghĩa và xứng tầm với nền giáo lý chính chân, chính đẳng. Đạo Phật đi vào cuộc đời làm cho quốc thới dân an, thiên hạ thái bình, đó cũng là bản hoài của ba đời chư Phật.

Trong quyển từ điển Phật học từ vựng, giải thích rằng: Đạo Phật đi vào cuộc đời là “tùy duyên bất biến” nghĩa là tùy theo cơ duyên mà duyên với ngàn sai vạn biệt, Đạo Phật hóa cuộc đời, tức là “Phật Độ Đời” làm lợi lạc cho đời, góp phần an sinh xã hội, làm cho xã tắc tổ quốc bình an chứ không phải bị cuộc đời hóa Đạo Phật, nên các Ngài, các bậc tổ sư “độ đời”; “bất biến tùy duyên” nghĩa là tùy theo duyên mà hiện ra vạn hữu, nhưng bản thể của nó vẫn không thay đổi, nghĩa là các Ngài vào đời “độ đời” chứ không tham chính gì cả! Ví như muốn tham chính cũng không có cơ sở để tham gia Bạn ạ! Vì đã là tu sĩ xuất gia học đạo giải thoát!

III .

Các nhà Sư đi vào cuộc đời giáo hóa chúng sanh, nhưng đi mà không đi đâu cả, mới thật sự là giáo hóa. Các Sư độ đời thật ra không độ ai cả! Có chăng các Ngài độ đời bằng hạnh nguyện, Phật tử nương theo hạnh nguyện của nhà Sư mà năng tác Phật sự theo hạnh nguyện của nhà Sư; như vậy nhà Sư vào đời mà không đi đâu cả là như thế.

Đạo Phật đi vào cuộc đời bằng lòng từ bi chí cả, nêu cao ý thức hệ của Tăng lưu, hướng thiện cuộc đời bằng tâm nguyện vô biên, hành động đi vào đời của con người Đạo Phật không có một động lực, thế lực nào xây trở biến thể các nhà Sư thành người thế tục. Tinh thần hộ Phật, hộ Pháp, hộ Tăng của người Phật tử một đôi khi bị lệch hướng, làm cho nhà Sư biến thái, biến dị. Phải có tinh thần hộ trì Tam Bảo sao cho Phật Pháp xương minh, giới luật được truyền trì, định tuệ được viên dung, người Phật tử mới tăng phước tăng huệ, đạo Phật mới vững bền. Đừng biến đạo Phật thành một tổ chức có uy quyền thế lực, có giáo đường vàng son. Đừng biến nhà Sư thành những con người sống vô tư trong sự ưu đãi của một chế độ cúng dường thiếu ý thức, quên lãng nhiệm vụ tự thực hiện giải thoát và phụng sự con người. Đừng để người Phật tử hiểu rằng Phật Pháp Tăng là những bảo vật xa vời không hiện hữu giũa cuộc đời đau khố. Phải thực hiện tất cả những hình thức sinh hoạt nào có thể chứng minh rằng đạo Phật hiện hữu trong cuộc đời để giải thoát cho con người (Ts Nhất Hạnh - 1966 - Lá Bối xuất bản).

Trong chiến tranh Việt Mỹ, người người bị nạn tai do chiến tranh, chết chóc do chiến tranh, từng gia đình ly tan do chiến tranh, nhà cháy, lửa bùng cháy do chiến tranh, người người tị nạn do chiến tranh, chẳng lẽ lúc bấy giờ các nhà Sư, chư Tăng Ni, các Phật tử đến an ủi ủy lạo, tụng kinh cầu nguyện nạn nhân chiến tranh...

Sau mỗi thời kinh tụng của người con Phật, chư Tăng Ni, Phật tử đều có bài cầu nguyện:

Phật nhật tăng huy,
Chiếu diệu đại thiên sa giới.
Pháp luân thường chuyển,
Lưu thông bá vạn nhơn thiên.
Tăng hải hòa bình,

Hạo hạo tông phong vĩnh chấn; Thiền môn nghiêm tịnh,
Nguy nguy Tổ ấn trùng quang.
Vũ thuận phong điều, dân an, quốc thạnh.

Phổ nguyện:

Đồng văn Phật thuyết, đồng diễn Phật âm,
Đồng kiến Phật tâm, đồng thành Phật đạo.

Hay là:

Phục nguyện:
Đèn thiền na tỏ rạng,
Chuông cảnh tỉnh reo vang.
Ba thừa xe pháp chuyển rần rần
Sáu thứ hoa trời tuôn rỡ rỡ
Cầu cho chúng sanh đặng phần ăn ở
Bề sanh nhai hớn hở thêm lên
Chúc cho nước nhà thêm cuộc mở mang
Đời thực tế dân sang giàu mạnh

Khắp trăm họ bỏ tà về chánh
Suốt sáu loài nhập thánh siêu phàm
Bao nhiêu phước thiện hãy nên làm
Tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo.

Lời cầu nguyện trên, tức là nói đến sinh mệnh nước non, cầu cho vận mệnh nước nhà thêm giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Cầu nguyện cho thế giới hòa bình, không có vấn đề quốc gia mạnh hiếp quốc gia yếu; không đem bom đạn giết chết dân lành. Chẳng lẽ những lời cầu nguyện như trên là tham chính sao?

HT Thích Giác Quang

ĂN CHAY TRƯỜNG NHƯNG NẤU ĐỒ MẶN CÓ MANG TỘI SÁT SINH KHÔNG?

Hòa Thượng Thích Giác Quang

VẤN:Con đã phát nguyện ăn chay trường được hơn 5 năm và ngày ngày đều cố gắng tu hành, niệm Phật, nguyện vãng sanh. Tuy nhiên, vì sống chung với gia đình, cha mẹ vợ chồng con cái mà gia đình của con những người còn lại chỉ ăn chay được một tháng hai bữa và con lại là người nấu ăn chính trong gia đình. Chồng con cũng có hiểu biết một chút về Phật pháp, dù không ra mặt phản đối con ăn chay nhưng cũng không cảm thấy hài lòng cho lắm khi vào mâm cơm một người ăn chay một người ăn mặn. Quả thật là con không thể ăn nổi đồ mặn được nữa và con cũng không hề ép chồng con ăn chay. Chồng con vì muốn con vui cho nên cũng im lặng. Con cũng không biết làm cách nào ngoài việc cố gắng nấu thật nhiều món mặn ngon nhất có thể cho chồng con ăn. Tuy nhiên, mỗi lần nấu quá nhiều đồ mặn con lại xúc động dâng trào chỉ còn biết cố gắng hồi hướng mong đến lúc đủ duyên chồng con cũng ăn chay với con, không thì nguyện mong cho những con vật ấy sớm được siêu sinh về cảnh giới lành. Con ăn chay mà nấu đồ mặn như vậy có phạm tội sát sanh không Sư? Con nên làm gì để chồng con vui vẻ và dần dần ăn chay cùng con? Con xin cảm ơn Sư rất nhiều.

ĐÁP:
Ăn chay (từ ngữ phổ thông trong chư Tăng Ni, Phật tử), ăn trai (các nhà Phật học, biên dịch sách Phật), hay ăn lạt (sử dụng trong giới Phật giáo xưa, Phật giáo bình dân, nông thôn). “Ăn mặn” đối với “ăn lạt”, ăn mặn tức là ăn thịt cá; theo Phật giáo Nam tông gọi là ăn “tam tinh nhục”. Ăn chay theo Phật giáo là một chế độ ăn uống chỉ gồm những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật (trái cây, rau quả, v.v...), có hoặc không ăn những sản phẩm từ sữa, trứng hoặc mật ong, hoàn toàn không sử dụng các loại thịt (thịt máu đỏ, máu trắng, thịt gia cầm và hải sản) hoặc kiêng ăn các thực phẩm có được từ quá trình giết mổ, cướp mạng sống của thú cầm, những sanh mạng yếu hơn để nuôi mạng sống của mình.

Bạn là cư sĩ ăn chay trường, như vậy đời sống Bạn thật cao quý, tinh khiết trong sạch, có trồng sâu căn lành với Phật Pháp trong muôn vạn kiếp về trước, chắc chắn Bạn sẽ thành tựu ước nguyện của mình, thành công trên đường đời, sự nghiệp như ý nguyện, gia đình hiện tiền an khang hạnh phúc.

Trong kinh Tăng A Hàm, quyển 37, khi luận bàn về vấn đề sát sanh, Phật dạy như sau: "Tôi muốn sống, không muốn chết, muốn được sung sướng, không muốn phải đau khổ. Nếu có kẻ nào cướp đi sự sống của tôi, tôi có vui vẻ không? Nếu tôi không vuivẻ, thì kẻ khác cũng không vuivẻ khi tôi cướp đi của họ sự sống và sự sung sướng ấy. Không những thế, phàm cái gì mình không ưa thích thì kẻ khác cũng không thích. Nếu thế thì tại sao ta lại làm cho những kẻ khác những điều mà ta không ưa thích?" (Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Kimura Taiken).

Hay là trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật dạy hàng Tỳ Kheo, nếu hành đầy đủ ba pháp "Tự mình từ bỏ sát sanh, khích lệ người khác từ bỏ sát sinh, tùy hỷ sự từ bỏ sát sanh sẽ được sanh lên cảnh trời, không bị rơi vào địa ngục…”

Việc ăn chaycòn có thể do nhiều lý dolợi ích khác nhau:

- Đạo đứckhông dùng sức mạnh hiếp yếu.

- Y tế: không bị tổn hại sức khỏe do ăn thịt những con vật bệnh dịch, lở mồm long móng, sên lãi lúc nào cũng đeo bám bên trong loài vật…

- Phật giáothể hiện lòng từ bi, không giết hại sanh mạng chúng sanh, bảo vệ sanh mạng động vật, cân bằng sinh thái.

- Chính trị: Tôn trọng mạng sống của các dân tộc, không sát sanh bắn giết xâm lăng lẫn nhau bằng súng đạn.

- Môi Trường: lục căn, thân người cân bằng sinh thái nội tạng, không giết hại động vật, làm cho cân đối môi trường.

- Văn Hóatâm linhSử dụng thức ăn tinh khiết, trong sạch, mang lại sự an vui bình đẳng, niềm hỷ lạc cho muôn loài, tôn trọng sanh mạng muôn loài.

- Thẩm Mỹ: không ăn thịt thì da thịt tinh khiết mịn màn, chén bát, bàn ghế nội thất không hôi nhơ.

- Kinh Tế: không tốn hao nhiều về việc ăn uống, vui say thỏa thích.

Ở Ấn Độ, do môi trường sinh thái, thực vật dồi dào, ước tính khoảng 40% dân số đều ăn chay.

Trong suốt thời gian trị vì vương quốc Ấn Độ, Hoàng Đế Asoka đã trở nên một đại quân vương Phật tử, lấy những tinh hoa của Phật giáo và những lời giảng dạy của Đức Phật làm thành chính sách trị nước của Nhà Vua. Mọi nơi, Ngài ra lệnh xây các bia đá "pillars of life" ghi lại giới luật của Phật. Trên các bia này, Ngài đặc biệt nhấn mạnh đến lòng từ bi và tính cách bất khả xâm phạm của đời sống, cả con người lẫn súc vật. Ngài đã đối xử với tất cả muôn loài chúng sinh bằng lòng từ bi không phân biệt. Ngài cho xây cất không chỉ những bệnh viện để săn sóc cho người đau ốm mà còn xây bệnh viện săn sóc cho thú vật. Trong một bia đá có khắc những hàng chữ sau: "Không nên lấy sự sống nuôi sự sống. Cho đến rơm rạ, nếu còn côn trùng trong ấy, cũng không nên đốt".

Trong luật tạng của Phật giáo quy định chư Tăng phải ăn không quá giờ ngọ. Hằng tháng vào những ngày trăng rằm và đầu tháng (mùng 1 và 15 âm lịch) gọi là ngày Bố-tát (tiếng Phạn gọi là Uposatha hay Upavasatha), là ngày định kỳ để thuyết giới, cùng nhắc nhở nhau về giới pháp để tu hành. Về sau được các nhà Phật học Đại thừa ở Trung Quốc dịch là ngày trai giới và Việt Nam dịch là ăn chay từ chữ trai đó.

Theo Phật giáo Bắc truyền và Khất sĩ, các Nhà sư khuyến giáo Phật tử tín đồ tập ăn chay: từ ăn chay kỳ đến ăn trường chay.

1/. Ăn chaykỳ, Phật tử sau khi đã quy y Tam bảo phát tâm ăn chay:

- Ăn chay mỗi tháng 02 ngày: Ngày 15 và mùng 01

- Ăn chay mỗi tháng 4 ngày: Ngày 14, 15, 30 và mùng 01 (nếu tháng thiếu 29, mùng 01).

- Ăn chay mỗi tháng 6 ngày: Ngày mùng 8, 14, 15, 18, 30 và mùng 01 (nếu tháng thiếu 29 mùng 01).

- Ăn chay mỗi tháng 10 ngày: Ngày mùng 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 và mùng 01 (nếu tháng thiếu 27, 28, 29 và mùng 01).

- Ăn ngọat trai (chay): ăn chay trọn tháng Giêng, hoặc trọn tháng 7, hoặc trọn tháng 10 hằng năm.

- Ăn tam ngọat trai (chay): ăn chay trọn 03 tháng trong năm.

2/. Ăn chaytrường: cả đời người, người Phật tử dù không ở chùa nhưng vẫn phát nguyện ăn chay trường, thật quý báu vô cùng. Những người Phật tử ấy luôn được kính phục, tán dương công đức trong cộng đồng người đệ tử Đức Phật.

Bạn ăn chay, phục vụ cha mẹ chồng và chồng con, nấu mặn có phạm giới sát không?

Bạn ăn chay thì cứ ăn chay, làm “dâu” thì cứ làm “dâu”, phụng sự cha mẹ chồng, phụng sự cho chồng là việc tốt, không ảnh hưởng gì tới việc ăn chay của Bạn trong hành trình tu nhơn học Phật, Nhà Phật sẽ khai giới cho Bạn. Xin kể vài câu chuyện Phật pháp vấn đề người tu ăn chay nhưng nấu thức ăn mặn phục vụ cho người khác:

Bà Tỳ Xá Ly, một đệ tử thân tín thời sanh tiền của Đức Phật, ăn chay trường, lớn lên được cha mẹ gã về nhà chồng thuộc ngọai đạo, ăn mặn. Bà được Phật khai giới sát cho phép phục vụ cha mẹ chồng, mà không phải lỗi lầm.

Vào thế kỷ thứ VI, Đức Huệ Năng, sau khi rời khỏi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, phải lui về ở ẩn 15 năm mới đi hoằng đạo.

Để sống ẩn, Đức Huệ Năng phải “ở đợ” cho số đông thợ săn khắp rừng núi vùng Lãnh Nam. Mỗi ngày phải nấu thức ăn bằng những con vật của thợ săn bắn giết đem về, bắt buộc Đức Huệ Năng phải làm thịt, nấu thịt phục vụ cho thợ săn… Trong quá trình phục vụ, do Ngài ăn chay trường nên hái rau rừng đem luộc chung với nồi thịt, khi ăn cơm, Đức Huệ Năng chỉ gắp rau mà ăn, không ăn thịt, việc làm của Đức Huệ Năng là việc làm đúng, vẫn gọi là ăn chay chứ không phải phạm giới sát.

Một ngày nọ Thiên Cảm Hoàng Hậu thỉnh Thượng sĩ Tuệ Trung vào cung để dâng lễ cúng dường trai Tăng, triều thần văn võ bá quan đại thần rất quý mến thượng sĩ. Tuy nhiên lúc cúng dường thọ thực, Thượng sĩ vẫn ăn thịt gà với mọi người - Thiên Cảm Hoàng Hậu nói: “Anh ăn thịt gà làm sao thành Phật được?” - Thượng sĩ trả lời: “Phật là Phật, Anh là Anh, Anh không cần thành Phật, Phật cũng không cần thành Anh. Em không nghe các bậc cổ đức nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao?” Trong bữa tiệc này có vua Trần Nhân Tông; vua rất thắc mắc về việc này và chưa hiểu rõ ý nghĩa câu trả lời của Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhưng chưa tiện hỏi, nói xong Thượng sĩ vẫn tiếp tục ăn tiệc…!

Vả lại, ngày nay khoa học tiến bộ, nhà máy, lò sát sanh thay người chế biến thịt thú vật, gia cầm, tôm cá… sẵn cho các Bà nội trợ mua về nấu ăn, không trực tiếp làm việc giết hại loài vật để phục vụ. Đây là việc làm tạo thuận lợi cho những người “ăn chay” phục vụ nấu “ăn mặn” cho người khác. Tuy vẫn còn nấu thức ăn mặn, nhưng không trực tiếp giết hại loài vật, cũng có “phạm giới” nhưng là “giới khinh”! cũng nghiệp nhưng là cộng nghiệp!
HT. Thích Giác Quang
(Quan Âm Tu Viện, TP. Biên Hòa, Đồng Nai)

NHÂN QUẢ TRÙNG ĐIỆP

HỎI: Tôi  đọc khá nhiều những câu chuyện Phật giáo và rất tin tưởng vào nhân quả. Nhưng có hai vấn đề hiện tôi vẫn chưa hiểu rõ: 1- Ví như đời này tôi giết một con chó, đời sau đủ nhân duyên tôi và con chó đều được tái sinh, và con chó ấy giết lại tôi thì đúng vì tôi phải trả mạng lại cho nó. Nhưng nếu con chó giết tôi lại phạm phải tội nghiệp thì như thế có công bằng với nó không? 2- Nếu kiếp sau tôi là người biết tu học, sám hối, tụng kinh, niệm Phật…, thì những tội lỗi của tôi (kiếp trước giết chó) sẽ biến mất hay chuyển hóa thành nhẹ hơn? 

(ÁNH DƯƠNG, anhduong3997@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Ánh Dương thân mến!

Nhân quả là nói tắt của tiến trình nhân-duyên-quả. Nhân là tác nhân chính, duyên là những nhân phụ, quả là kết quả. Ngoài nhân, duyên có vai trò cực kỳ quan trọng, chi phối mãnh liệt đến việc hình thành quả. Thực tế có vô số tiến trình nhân-duyên-quả đang vận hành, những tiến trình nhân-duyên-quả khác nhau này lại luôn tương tác, chi phối lẫn nhau; làm nhân, làm duyên, làm quả cho nhau để tạo ra thiên biến vạn hóa. Nhân quả theo Phật giáo là những mối quan hệ đa tuyến, đan xen điệp điệp trùng trùng, là điều không thể nghĩ bàn.

Vì thế, nếu hiện đời bạn giết một chú chó, tạo ác nghiệp sát sinh thì có thể ngay đời này, đời kế sau hoặc nhiều đời về sau mới có quả báo. Quả báo ấy rất đa dạng, có thể bạn bị oan gia báo oán, có thể vô tình bị đoạt mạng, có thể bị đau ốm bệnh tật triền miên, có thể bị tai này nạn kia nhưng không ảnh hưởng gì nhiều đến thân mạng hay sức khỏe, v.v và v.v... Đó là chưa nói đến vô số các việc thiện ác khác mà bạn đã làm trong đời (các đời trước nữa) sẽ vận hành cùng tương tác lẫn nhau tạo ra vô lượng chuỗi nhân-duyên-quả tốt xấu khác nhau, vô cùng vô tận.

Như vậy, có nhân thì chắc chắn có quả. Nhưng quả ấy thế nào còn tùy thuộc vào duyên. Nếu hiện tại tạo được nhiều duyên lành (tu tập, tạo phước…) thì có thể chuyển hóa phần nào (hoặc gần hết) các nhân ác trong quá khứ. Điều cần lưu ý là những định dạng nhân quả theo chiều hướng đơn tuyến (như bạn ví dụ, kiếp trước người này giết chó rồi kiếp sau con chó ấy giết lại người này, rồi tiếp tục theo nhau oan oan tương báo) đều không đúng như thật với vận hành nhân-duyên-quả đa tuyến, trùng điệp của Phật giáo.

Nhân quả trong các câu chuyện hay các truyện tích Phật giáo phần lớn hướng đến việc giáo dục đạo đức, có tính phổ biến, nên thường triển khai theo nguyên tắc “nhân nào-quả nấy”, nhằm giúp cho người đọc dễ khái quát về nhân quả, thực sự đó chỉ đúng một phần nhỏ so với triết lý nhân-duyên-quả của Phật giáo.

Chúc bạn tinh tấn!
Quảng Tánh-Nhiên Như

Ý NGHĨA & ĐIỀU KIỆN XUẤT GIA

Lời Ban Biên Tập: Trong thời gian qua, chúng tôi nhận được nhiều email của các bạn trẻ ngỏ ý muốn được xuất gia và hỏi về các điều kiện xuất gia. Bài viết này nhằm mục đích trả lời chung các bạn. Trước hết chúng tôi tán thán tâm nguyện xuất gia của các bạn và sau nữa, chúng tôi khuyên các bạn nên tiếp cận với thầy trụ trì ngôi chùa nào gần nơi cư trú để tham vấn hay ghi danh tham dự một hay nhiều khóa tu xuất gia gieo duyên do bất cứ một tu viện hay thiền viện nào tổ chức để có cơ hội tham học với quý thầy, quý sư và sinh hoạt với môi trường sống trong chùa hay tu viện. Xuất gia gieo duyên là chịu sự ràng buộc của giới luật trước hết trong một thời gian, còn sau đó, là nếp sống quy củ của tự viện và cách thay đổi thói quen hàng ngày như chuyện ăn uống là phải thay đổi thói quen ăn uống từ 3 bữa/ngày thành 1 bữa/ngày và không ăn phi thời (ăn vặt).

Ý NGHĨA XUẤT GIA

Xuất gia đi tu là nguyện suốt đời sống với giáo lý đạo Phật, mang trái tim từ bi sưởi ấm cho chúng sanh. Người xuất gia là bậc đại trượng phu, có ý chí kiên cường, tâm nguyện vững chắc, và việc làm cao thượng.

Xuất gia có nghĩa lìa xa gia đình, lìa bỏ nhà cửa sự nghiệp, cha mẹ, vợ chồng, con cái, dứt đường ái ân, không còn thiết tha lưu luyến mùi đời thế tục, để vào ở hẳn trong chùa hay tu viện sống suốt đời độc thân, qui y thọ giới, hằng ngày tu thiền, tụng kinh, niệm Phật, học kinh, đọc sách, để thanh lọc tâm ý.

Hòa thượng Thích Thanh Từ dạy “xuất gia có ba nghĩa: 1. Xuất thế tục gia. 2. Xuất phiền não gia. 3. Xuất tam giới gia. Trước hết là xuất thếtục gia. Khi phát nguyện cạo tóc xuất gia làm Sa-di, thì kể từ ngày đó phải ra khỏi nhà thế tục. Nhà thế tục là nhà cha mẹ, anh chị. Nếu người già, thì nhà của con cháu. Tại sao chúng ta phải ra khỏi nhà đó? Bởi vì còn trong nhà thế tục thì phiền não còn vây khốn chung quanh, không thể nào gỡ được. Đến ý nghĩa thứ hai là xuất phiền não gia, tức ra khỏi nhà phiền não. Người xuất gia là ra khỏi nhà phiền não. Còn phiền não thì chưa gọi là xuất gia.  Đến thứ ba là xuất tam giới gia. Nghĩa là ra khỏi nhà tam giới. Đức Phật dạy có ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Người tu chẳng những ra khỏi nhà phiền não của Dục giới, mà ra luôn cả nhà phiền não của Sắc giới và Vô sắc giới, hoàn toàn thoát ly sanh tử, không còn đi trong tam giới nữa. Đó là xuất tam giới gia.”

Cụ Đoàn Trung Còn trong quyển Phật Học Từ Điển, có phân ra ba hạng xuất gia như dưới đây:

Thân xuất gia mà Tâm không xuất gia, ấy là hạng người dầu là đầu tròn áo vuông, mà tâm còn luyến tục.

Thân Tâm đều xuất gia, ấy là hạng người mộ Tam Bảo, giữ giới thanh tịnh, quyết dứt các phiền não, quyết đắc quả Bồ Đề.

Thân tại gia mà Tâm xuất gia, ấy hạng người dầu còn ở thế gian mà tinh tấn tu học,không say đắm nhiễm trược, ấy cầm bằng xuất gia.”

Hiện nay việc xuất gia gặp nhiều khó khăn nên người tu hành quyết tâm cầu tu giải thoát có thể chọn loại thứ ba kể trên để tu tiến lên hàng thượng thừa.

ĐIỀU KIỆN XUẤT GIA

Ngoài ý chí nguyện lực của mình, người muốn xuất gia còn phải được sự cho phép của cha mẹ nếu là vị thành niên hay nếu đã có gia đình thì phải có sự cho phép của chồng hoặc vợ, và chính quyền địa phương thường trú (nếu ở Việt Nam). Dưới đây là các điều khoản mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Hiến chương Phật giáo đã qui định(Điều 28 chương VI của nội quy ban Tăng sự Trung ương):

a. Là công dân tốt, không vi phạm pháp luật. Tự tay viết đơn phát nguyện, ghi rõ lý do và nguyện vọng phát tâm xuất gia.        

b. Người xin xuất gia phải đầy đủ các căn (bộ phận cơ thể), thể chất lành mạnh, không bị bệnh truyền nhiễm, bệnh tâm thần và có phiếu khám sức khỏe tốt.        

c. Nếu Nam Nữ Phật tử dưới 16 tuổi (tính theo khai sinh), thì do cha mẹ hoặc người giám hộ làm đơn ký thác cho vị trụ trì cơ sở Tự, Viện. Nếu nam nữ Phật tử đã có gia thất, muốn xuất gia phải có giấy ly hôn do Tòa án cấp và theo các quy định tại mục a, b, c, d điều 28 chương VI của Nội quy này.         

d. Thông qua ý kiến chấp thuận của Ban Đại diện Phật giáo cấp Huyện.         

e. Được Tăng, Ni trụ trì cơ sở Tự, Viện nơi người xuất gia đến cư trú và tu hành bảo lãnh.        

f. Các nam nữ Phật tử tại địa phương có nhân duyên xuất gia, tu học phải được vị trụ trì, Ban Đại diện Phật giáo cấp Huyện cùng (chính quyền) địa phương chấp thuận. Ban Đại diện Phật giáo phải báo trình Ban Tăng sự cấp Tỉnh được tri tường.        

g. Các nam nữ Phật tử từ địa phương này đến địa phương khác (ngoài Tỉnh) xuất gia tu học, phải được Ban Đại diện Phật giáo cấp Huyện đề xuất, Ban Trị sự Phật giáo cấp Tỉnh chấp thuận.        

h. Việc nhận người vào tu hành tại cơ sở Tự, Viện phải thực hiện theo quy định của điều 21 chương III Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo và điều 22 mục 2 chương IV Nghị định số 22/2005/NĐ-CP của Chính phủ.        

i. Nam nữ Phật tử có đầy đủ thủ tục xuất gia được Ban Tăng sự cấp Tỉnh cấp giấy chứng nhận xuất gia theo mẫu do Ban Tăng sự Trung ương GHPGVN ban hành.    

TẬP SỰ ĐỂ XÁC LẬP LÝ TƯỞNG

Thông thường, những ai muốn xuất gia phải trải qua thời gian thực tập xuất gia từ ba tháng cho đến sáu tháng. Tùy theo mỗi người tập sự, thầy trụ trì hay thầy bổn sư có thể quan sát người đó từ lời nói, việc làm, xem họ có thật sự muốn vào chùa trở thành người tu bằng lý tưởng, chí nguyện lớn hay không. Đây là sự thử thách cần thiết.

Ở trong nước ví dụ như chùa Hoằng Pháp, Phật tử được vị trụ trì chấp thuận cho xuất gia khi đã qua thời gian thực tập xuất gia là 6 tháng, phải có phẩm chất đạo đức tốt, không mắc phải 32 chướng nạn của người xuất gia và học thuộc các thời khóa tụng kinh, công phu như: Chú Lăng Nghiêm, Kinh Nhật Tụng và các nghi thức sử dụng chuông, trống, mõ...

Ở hải ngoại ví dụ như Làng Hoa Anh Đào (Virginia, Hoa Kỳ - Thầy Thích Minh Niệm trụ trì) việc xuất gia tu học tương đối dễ dàng hơn (vì không cần giấy phép cho xuất gia của chính quyền địa phương). Chỉ cần thỏa mãn các điều kiện sau:

Tuổi từ 18 đến 50.

Sức khỏe tốt (có thể tham dự đầy đủ các chương trình luyện tập).

Không bệnh tật nặng hay bệnh truyền nhiễm.

Không mắc nợ (cá nhân hay nhà nước)

Không đang mắc tội hình sự.

Phải được sự chấp thuận của gia đình (cha mẹ, hoặc vợ/chồng)

Phải trải qua từ 3 đến 6 tháng thử nghiệm.

Phải trả chi phí sinh hoạt trong thời gian thử nghiệm (giảm 50% so với các thiền sinh. Trong trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, Làng sẽ cứu xét). (xem thêm: www.thienhieubiet.org)

KẾT LUẬN

Như trên đã trình bày, việc xuất gia có nhiều khó khăn, tối thiểu phải hội đủ ba điều kiện tiên quyết là (1) phải được sự hoan hỷ chấp thuận của gia đình (cha mẹ, hoặc vợ/chồng) (2) phải được vị trụ trì và Ban Đại diện Phật giáo cấp Huyện chấp thuận và (3) phải được chính quyền địa phương chấp thuận. Tuy nhiên việc khó cũng trở thành dễ là do cái duyên, nhất là có túc duyên nhiều đời theo Phật Giáo (là tu sĩ hay là cư sĩ) của mỗi người.

Đi tu không phải để trốn chạy cuộc đời thực của mình, để đi tìm hạnh phúc ảo tưởng nào đó mà là tự mình tu hành giải thoát và trợ giúp người khác giải thoát, và lấy việc tự cứu mình cứu người đồng được giải thoát làm lý tưởng.

Ban Biên Tập TVHS biên soạn

THẾ NÀO LÀ THÍNH PHÁP NHƯ CHÁNH PHÁP

Thiên Hạnh

HỎI
Kính bạch Thầy.
Con thường dự các khóa tu một ngày ở các chùa và được nghe khá nhiều quý thầy giảng Pháp. Trong khi đang dự thính thì con nghe được nhiều điều hay nhưng về đến nhà tư duy lại thấy sao mình không nằm lòng được điều gì cốt lõi ( thường các nội dung nhớ nó bàng bạc, lẻ tẻ ). Con kính mong thầy chỉ giáo thế nào là nghe Pháp đúng nghĩa.

Mô Phật, con cảm ơn Thầy.
(Phật tử Ngọc Diệu_ q. Bình Thạnh_tp HCM)

ĐÁP:
Phật tử N.D thân mến.
Giảng Pháp và thính Pháp là những Pháp sự không thể thiếu trong chương trình tu học của các tự viện đúng nghĩa. Các đàn tràng Pháp hội ngày trước quy củ và rất trang nghiêm vì đó là một thời khóa tu tập. Vị giảng sư được lãnh sứ mệnh đại Phật tuyên dương , trao truyền nghĩa lý ba đời Chư Phật đến thính chúng.

Ngày nay các đạo tràng tu học mở ra khắp nơi là thuận duyên cho các Phật tử tu tập. Thường thì các giảng sư tuyên giảng với nội dung theo các chủ đề, có thể đó là nội dung sở trường của các vị, cũng có thể quán sát căn cơ hội chúng mà chuẩn bị nội dung tương hợp. Những người nghe Pháp thường đa dạng, nhiều trình độ và nhu cầu khác nhau :

_ Có người nghe Pháp để thu nhận kiến thức giáo lý, bồi bổ văn tuệ làm cơ sở để hành trì tiến tu

_ Có vị đơn giản chỉ nghe Pháp vì thời Pháp đó được phụ trách bởi vị giảng sư mình ưu ái kính mộ ( dạng như đề cao thần tượng_ trường hợp này phổ biến)

_ Có vị suốt thời giảng khi nghe thuyết minh nghĩa lý Kinh Điển thì lim dim hôn trầm nhưng lúc vị giảng sư kể chuyện cổ tích tiếu lâm hay có những câu trào lộng hay ca cổ gì đó thì bỗng tươi tỉnh hẳn, mắt sáng rực, phấn chấn đến không ngờ (!), khi hết thời Pháp ra về chỉ lưu lại trong óc những câu chuyện đó.

_ Có vị thì cố gắng nghe nhưng sức tập trung có hạn , kỹ năng hệ thống hóa các nội dung đã nghe kém đưa đến sự lĩnh hội chẳng là bao.

_ Phần đông Phật tử khi đề cập đến một vị giảng sư nào thường ưu tiên những đặc điểm như : thầy ấy tướng hảo quang minh quá, thầy ấy ăn nói có duyên quá, thầy ấy kể chuyện tiếu lâm nghe hấp dẫn quá, rồi thầy ấy giảng nghe ướt át tình cảm quá, thầy ấy,.v.v… Hy hữu mới có những Phật tử cảm nhận sâu xa được ý Pháp các vị giảng sư đã truyền trao (điểm này đáng quý)

Không ít các vị tôn túc hành trì miên mật học vấn uyên thâm nhưng khi giảng Pháp một số Phật tử lại cho là khô khan quá, rồi thối lui dần dần, thật là của báu trước mặt không biết đón nhận lại xu hướng theo những giá trị không đâu. Đã có những vị trụ trì nơi có các đạo tràng Phật tử tu tập chỉ thỉnh giảng những vị giảng sư được quần chúng mến mộ dẫn đến hệ quả có vị giảng sư lịch giảng kín có khi không đáp ứng hết ( còn phải để thời gian cho các vị ấy tu tập, tái tạo và củng cố nội lực nữa chứ! ), có những vị giảng sư năng lực cũng không tệ nhưng vẫn không được để tâm. Sự mất quân bình tạo ra tình trạng khập khiễng trong Hoằng Pháp ( hội chứng cám để treo heo nhịn đói).

Riêng các Phật tử luôn luôn phải tỏ ra mình là những người nghe Pháp đúng Pháp, có trí tuệ. Biết để tâm nắm bắt những giá trị quý báu trong thời Pháp ( đó là những nền tảng giáo lý hữu ích ), không nên quá sa đà hay chỉ chú tâm vào các tiểu tiết ngoài lề như chuyện vui hay vài câu ngâm hát của một vị giảng sư nào đó.

Hãy thính Pháp với càng nhiều vị giảng sư càng tốt bởi đó là điều kiện mình sẽ được tiếp cận nhiều nguồn truyền thụ phong phú từ nhiều bộ óc khác nhau. Không nên chỉ chăm chăm nghe Pháp độc nhất với một vị dù đó là thần tượng trong tâm đi nữa, hãy nhớ nguyên lý 1+0,1 kết quả vẫn hơn 1. Qúy vị thấy bắt đầu từ lớp 6 phổ thông trở lên mỗi môn học đều do một vị giáo viên khác nhau đảm trách, càng lên bậc học cao hơn sự phân bố chuyên môn càng rõ rệt, không có và không thể có một vị giáo sư dám vỗ ngực rằng có thể đảm đương tất cả các môn học trên đời.

Thứ nữa chúng ta đừng cho rằng thời Pháp là cơ hội thư giãn ( chức năng này có các sân khấu giải trí phụ trách rồi) để rồi chê vị này giảng khô, ông kia giảng mùi mà hãy chú tâm vị ấy đã giảng điều gì, điều ấy có thiết thực cho cuộc sống và tu tập của mình không. Nếu biết tự định hướng bản thân như thế là các vị đã có thái độ đúng đắn khi nghe Pháp và học Pháp.

Nếu có điều kiện các Phật tử có thể đăng ký học các lớp giáo lý của Ban Hoằng Pháp tp tổ chức ( chùa Phổ Quang, Việt Nam Quốc Tự, Tuyền Lâm, Xá Lợi, Phật Bảo,..) . Ở đó các vị sẽ được rất nhiều vị giảng sư hướng dẫn nội dung học một cách tuần tự có hệ thống, bài vở quy củ dễ nắm bắt và điều quan trọng là kiến thức Phật học của mình sẽ rất căn bản, có nền tảng_ cơ sở để nghiên cứu học tập lĩnh vực cao hơn.

Chúc Phật tử Ngọc Diệu và các Phật tử luôn tinh tấn tu học và tinh tấn nghe Pháp trên  tinh thần trí tuệ.

GIÚP NGƯỜI TÁI DUYÊN CÓ BỊ ĐỌA ĐỊA NGỤC?

Nhiên Như - Quảng Tánh

HỎI: Tôi là Phật tử, vừa qua tôi có lên internet tìm hiểu về lục đạo và thấy một bài viết về 18 tầng địa ngục. Trong đó có tầng Tiễn đao địa ngục trừng phạt những ai “Làm cho quả phụ tái duyên hoặc giúp nàng làm mai làm mối câu dẫn đàn ông khác thì sau khi chết sẽ bị đưa vào ngục này, cắt đứt mười ngón tay”. Không biết bài viết này có thuộc kinh điển Phật giáo không? Theo tôi thì hình phạt này không hợp tình cho lắm, vì quả phụ thủ tiết thờ chồng sau ba năm vẫn có thể tìm hạnh phúc riêng cho mình. Nếu trừng phạt như vậy thì chẳng phải là ngăn cấm quả phụ không được mưu cầu hạnh phúc sau khi chồng chết, là cướp đi cả tuổi thanh xuân, cả cuộc đời của người đó hay sao? Mong quý Báo khai ngộ cho.

(VIỆT ANH, vietanhkid2001@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Việt Anh thân mến!

Đúng là kinh sách của Phật giáo có nói đến địa ngục (Dục giới gồm lục đạo: cõi trời, a-tu-la, người, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục). Địa ngục là cảnh giới khổ đau chiêu cảm với những nghiệp nhân xấu ác, gây trọng tội. Con người tạo ác nghiệp vô biên nên có vô lượng khổ đau trong địa ngục. Trong kinh điển Phật giáo thuộc Hán tạng, có bản kinh nói về 18 địa ngục(Phật thuyết Thập bát nê-lê kinh, An Thế Cao dịch) nhưng nội dung khác với “địa ngục có 18 tầng và nhất là nhân quả của tầng Tiễn đao địa ngục” mà bạn đã nêu.

Thiết nghĩ, loại hình địa ngục được mô tả với 18 tầng, vong hồn người chết trải qua 10 điện Diêm vương, rồi qua cầu Nại hà nếu tội nặng liền đọa xuống, ai được chuyển kiếp đầu thai phải qua Vọng đài (ăn cháo lú nên quên hết quá khứ)… cùng với nhân quả kiểu “Làm cho quả phụ tái duyên hoặc giúp nàng làm mai làm mối câu dẫn đàn ông khác thì sau khi chết sẽ bị đưa vào ngục này, cắt đứt mười ngón tay” là sự tiếp biến, pha trộn giữa kinh văn Phật giáo và văn hóa dân gian Trung Hoa.

Theo tinh thần từ bi và nhân bản của Phật giáo, người cư sĩ sau khi ly hôn hay người bạn đời chết đi thì có thể tái hôn bình thường. Giúp người tái hôn một cách chân chính, đúng pháp thì không hề mang tội, nên không vì thế mà đọa địa ngục. Với lý luận nhân quả về địa ngục như bạn đã nêu, cốt nhằm răn đe người phụ nữ trong xã hội phong kiến khi sống thờ chồng, chồng chết thủ tiết nuôi con theo quy chuẩn tam tòng “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (Người nữ lúc nhỏ thì theo cha, đến khi lấy chồng thì phải theo chồng, chồng chết thì theo con), hoàn toàn xa lạ với nhân quả và đạo đức nhân bản của Phật giáo.

Chúc bạn tinh tấn!
Nhiên Như - Quảng Tánh

NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NAM CÓ ĐƯỢC THỌ ĐẠI GIỚI?

HỎI: Tôi xuất gia từ nhỏ, đã thọ giới Sa-di được bốn năm. Lúc nhỏ thì tôi không biết gì nhưng nay tôi phát hiện mình là người đồng tính nam (gay). Khi các bạn đồng tu biết tôi là gay, họ có vẻ kỳ thị và thường nhìn tôi bằng ánh mắt khác. Cuối năm nay, tôi sẽ được bổn sư cho đi thọ Đại giới, làm Tỳ-kheo.

Tôi có nghe rằng người đồng tính nam như tôi thì không được thọ Đại giới. Vậy điều đó có đúng không? Trước đây, tôi có nghe những người như tôi không được thọ Đại giới nên đã nhiều lần có ý định hoàn tục nhưng vì tôi không đủ can đảm để tự quyết định. Bên cạnh đó, sư phụ, bố mẹ và các thầy trong chùa cũng rất kỳ vọng và thương yêu tôi, tôi sợ sẽ làm các vị ấy đau lòng. Hiện tôi không biết phải làm sao? Mong quý Báo hoan hỷ giúp tôi. 

(ĐỨC HOÀNG, hoangbaoduc95@gmail.com )

ĐÁP:

Bạn Đức Hoàng thân mến!

Theo giới luật nhà Phật, và đúng như bạn đã biết, “người đồng tính nam như tôi thì không được thọ Đại giới”. Vì trước khi thọ giới, bạn không vượt qua được vòng khảo nghiệm đầu tiên của 13 già nạn. Già nạn là chướng ngại đạo pháp, tức là những điều gây trở ngại cho việc chứng đắc Thánh quả ngay trong đời này do thân và tâm có khiếm khuyết.

Bạn đã vướng vào già nạn bất năng nam - người có cấu trúc tâm sinh lý không phải chuẩn nam, từ đó phát sinh nhiều trở ngại không thể thành tựu mục tiêu phạm hạnh - nên không được phép thọ Đại giới.

Giới luật còn quy định, trong quá trình khảo nghiệm 13 già nạn, nếu bạn cố tình che giấu, vị thầy khảo nghiệm cũng không nhận ra bạn là người bất năng nam, bạn vẫn được Đại Tăng cho thọ Đại giới, nhưng về sau nếu bị khám phá ra cũng bị tẩn xuất khỏi Tăng đoàn.

Với hoàn cảnh của bạn, thiết nghĩ, bạn nên bình tâm suy xét thấu đáo về bản thân để thương mình, kính Phật, trọng Pháp, thanh tịnh Tăng nhằm tìm ra giải pháp phù hợp nhất cho sự tu học. Là người có tâm tu, có nhiều hạnh lành nên được bố mẹ yêu thương, thầy tổ kỳ vọng là điều tốt, bạn nên giữ vững các đức tính này.

Bạn là người đồng tính nam, đó là nghiệp duyên của bạn. Thực chất thì người nam, người nữ, người đồng tính nam, người đồng tính nữ, người song tính, người chuyển giới tính…, mỗi người mang mỗi nghiệp. Nói chung là họ đều tu được, đều có khả năng trở thành người tốt, có ích cho đạo và đời.

Bạn nên can cảm nói lên sự thật về giới tính của mình cho bố mẹ, thầy tổ và các bạn đồng tu biết. Vì lẽ người đồng tính nam không có gì là xấu cả. Chắc chắn bổn sư của bạn, người quyết định cho bạn đi thọ giới và chịu trách nhiệm trước Tam bảo, sẽ chỉ dạy cho bạn những điều nên làm.

Theo chúng tôi, tu học bắt đầu từ nơi tâm, nếu bạn có tâm tu, bạn có thể chỉ làm Sa-di (Bồ-tát giới), vẫn ở chùa, tu học và phụng sự đạo pháp bình thường. Mặt khác, vì không thể làm thầy Tỳ-kheo, không có cơ hội thăng tiến trong đạo pháp thì bạn cũng có thể xin phép bổn sư để hoàn tục, làm người cư sĩ và sống đúng với con người thật của chính mình, hộ trì Phật pháp.

Cũng nên nói thêm rằng, thực tế hiện nay vẫn có một số ít người đồng tính nam và đồng tính nữ trong hàng ngũ xuất gia. Không nói đến những người đồng tính hay có khuynh hướng đồng tính sau khi thọ Đại giới, mà ngay cả những người biết trước sự đồng tính của mình (như bạn) cũng vẫn tham gia thọ giới.

Chắc chắn khi dự phần vào Tăng đoàn thì các “chướng ngại đạo” sẽ xuất hiện, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hòa hợp và thanh tịnh Tăng. (Đức Phật đã dạy như vậy!). Nếu những người này vẫn không tự biết mình để an phận mà còn tìm mọi cách tham gia lãnh đạo tín đồ, lãnh đạo Tăng đoàn, thì chính điều này ẩn tàng một nguy cơ tai họa cho Phật pháp không nhỏ.

Cho nên, đó không phải là lối mòn để cho bạn nghĩ rằng, người khác làm được thì mình cũng làm được. Sự nghiệp tu học phải lấy sự thật làm căn bản. Che giấu hay chối bỏ sự thật thì chỉ đạt được hình thức mà thôi.

Vì vậy, người đệ tử Phật luôn lấy bi-trí-dũng để làm hành trang cho cuộc sống. Bạn hãy phát huy bi-trí-dũng để khẳng định và chấp nhận bản thân, ứng xử phù hợp với hoàn cảnh đúng như lời Phật đã dạy. Bởi có rất nhiều phương cách tu học và phụng sự Phật pháp tùy theo duyên nghiệp của mỗi người.

Chúc bạn tinh tấn.
Tổ Tư Vấn (Giác Ngộ)

ĐẠO PHẬT VÀ VẤN ĐỀ NẠO PHÁ THAI

Thích Minh Trí dịch

Quan điểm của Phật tử

Không có quan điểm duy nhất của Phật tử xung quanh vấn đề nạo phá thai:

Hầu hết Phật tử phương Tây và Nhật Bản hiện không còn tin vào việc có thể được phép phá thai, cùng lúc đó, nhiều Phật tử khác tin rằng phá thai là phạm tội sát sinh. (James Hughes)

Phật tử tin rằng, sinh mệnh của chúng sinh không nên bị hủy diệt. Nhưng họ xem nguyên nhân gây nên tử vong chỉ là sai lầm mang tính đạo đức, nếu sự tử vong được gây ra bởi cố ý hay do sơ suất.

Phật giáo truyền thống không chấp sự nạo phá thai. Vì nạo phá thai liên quan đến tác ý hủy diệt sinh mệnh của chúng sinh.

Phật tử cho rằng sinh mệnh của chúng sinh bắt đầu tại tưởng (conception). Đạo Phật tin vào sự tái sinh và dạy rằng, sinh mệnh của con người khởi nguồn tại tưởng (conception). Vì thế, một chúng sinh mới, mang bản thể nghiệp của một người vừa mới chết gần đây, được quyền tôn trọng giống như một người trưởng thành nếu xét về phương diện đạo đức. (Damien Keown, Bản tin Khoa học và Thần học, 4/2004)

Quan niệm của đạo Phật về sát sinh

Theo giáo lý của đức Phật, để cấu thành nên một hành động sát sinh, phải có sự hiện diện của 5 điều kiện sau:

- Đối tượng bị giết phải là một chúng sinh.

- Người sát sinh phải biết hay phải nhận thức được rằng đối tượng bị giết là một chúng sinh.

- Người sát sinh có tác ý giết chúng sinh đó.

- Người sát sinh phải có một cố gắng/nỗ lực giết.

- Chúng sinh bị giết phải là kết quả của những điều kiện trên.

Ở đây, đơn cử một thí dụ về sự nạo phá thai đã cấu thành nên một hành động giết như thế nào:

- Khi thai nhi đã tượng hình, một chúng sinh đã được tạo ra. Điều này thỏa mãn điều kiện thứ nhất. Mặc dù Phật tử tin rằng, chúng sinh sống trôi lăn trong vòng sinh tử, và tái sinh, nhưng họ coi sát-na của tưởng là sự bắt đầu của đời sống của một con người cụ thể.

- Sau ít tuần, thai phụ trở nên nhận thức được sự hiện hữu của thai nhi. Sự kiện này đáp ứng được điều kiện thứ 2.

- Nếu thai phụ quyết định muốn nạo phá thai nhi ấy, thì quyết định muốn ấy chính là có tác ý giết. Đây là điều kiện thứ 3.

- Khi thai phụ tìm kiếm cách nạo phá thai, thì thai phụ đã tạo ra một cố gắng/nỗ lực giết,  tức đã rơi vào điều kiện thứ 4.

- Cuối cùng, thai nhi bị giết chết vì hành động nạo phá thai ấy. Đây thỏa mãn điều kiện thứ 5.

Vì thế, nạo phá thai là phạm vào giới thứ nhất của đạo Phật - cấm sát sinh, và sự nạo phá thai này tương đương với việc giết một chúng sinh.

Nghiệp (karma)

Như đã trình bày trên đây, thì rất rõ ràng là tại sao nạo phá thai sinh ra nghiệp bất thiện cho thai phụ và người phá thai, trong khi đó, có vẻ như không được rõ ràng lắm là tại sao nạo phá thai lại sinh ra nghiệp bất thiện cho thai nhi.
Sở dĩ thai nhi phải chịu nghiệp bất thiện khi bị nạo phá thai là vì, thần thức của nó bị tước mất những cơ hội mà cuộc sống trần thế có thể mang đến cho nó để tìm kiếm nghiệp thiện, và hơn nữa, thần thức của nó ngay lập tức phải quay trở lại vòng luân hồi sinh tử, và tái sinh. Như vậy, nạo phá thai là chướng ngại vật cho tiến tình phát triển tâm linh của thai nhi.

Sống quân bình

Các Phật tử đối diện với một khó khăn, ở đó sự phá thai cần đến y học can thiệp để cứu lấy sinh mệnhh của thai phụ. Vì vậy, trong trường hợp này, chắc chắn sẽ phải có một sinh mệnh bị hủy diệt dù muốn hay không muốn nạo phá thai.

Đối với những trường hợp như thế, khía cạnh đạo đức của nạo phá thai sẽ dựa trên những tác ý của từng trường hợp đang tiến hành.

Nếu quyết định nạo phá thai trong những trường hợp ấy bị mất đi lòng từ, và sau khi đã suy nghĩ chín chắn, cẩn thận, thì dù hành động nạo phá thai có thể là bất thiện, nhưng việc làm gây tổn hại về phương diện đạo đức này sẽ được giảm thiểu đến mức thấp nhất vì đã có sự tác ý thiện xen vào.

Phá thai vì lợi ích của thai nhi

Có những trường hợp không nạo phá thai, dẫn đến việc sinh con bằng những điều kiện y học mà khiến cho thai nhi đau khổ.

Trong trường hợp này, tư tưởng của Phật giáo truyền thống trở nên bất cập. Các Phật tử đang tranh luận về trường hợp này như sau:

Nếu thai nhi đã gặp phải trở ngại quá lớn mà nó phải chịu nhiều khổ đau, thì nạo phá thai khả dĩ chấp nhận được.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói:

Dĩ nhiên, theo quan điểm của Phật tử,  phá thai là một hành động sát sinh và tiêu cực nói chung. Thế nhưng, nó cũng dựa  vào từng  trường hợp. Nếu thai nhi không sinh sẽ bị chậm phát triển, hoặc nếu sự sinh nở sẽ sinh ra những vấn đề nghiêm trọng cho cha mẹ, thì những trường hợp này có thể là ngoại lệ. Tôi nghĩ, sự nạo phá thai được chấp nhận hay không chấp nhận tùy thuộc vào mỗi trường hợp”. (Dalai Lama, Thời báo New York, 28/11/1993)

Trách nhiệm cá nhân

Các Phật tử nghĩ rằng, họ phải tự chịu trách hoàn toàn về những gì mà họ đã làm và về những hậu quả mà nó đưa tới cho họ.

Vì vậy, quyết định phá thai là một quyết định có tính cách cá nhân rất cao, và là một quyết định vốn đòi hỏi sự xem xét hết sức cẩn thận, đầy tình người về các vấn đề vốn liên quan đến đạo đức, và chấp nhận gánh lấy bất cứ gánh nặng hậu quả nào mà nó mang đến..

Những hậu quả có tính đạo đức của quyết định cũng sẽ dựa vào động cơ và tác ý nằm sau một quyết định, cũng như vào mức độ lưu tâm đến hậu quả mà nó mang lại.

Nạo phá thai ở Nhật Bản

Phật tử Nhật Bản đã phải tạo nên những cố gắng có ý nghĩa để làm cho việc nạo phá thai tương thích với tôn giáo của họ khi sự nạo phá thai đã trở nên phổ biến ở Nhật Bản. Và sự nạo phá thai đã được sử dụng như là một hình thức kiểm soát nạn nhân mãn.

Một vài tín đồ Phật giáo Nhật Bản, những người đã nạo phá thai, tiến hành tổ chức những buổi lễ cúng dường đức Địa Tạng Vương, - vị Bồ-tát của những người du hành đã khuất và của trẻ em. Họ tin rằng, đức Địa Tạng Vương Bồ-tát sẽ quản lý những đứa trẻ cho đến khi chúng được tái sinh trong một kiếp tái sinh khác.

Họ thực hiện việc này tại Thủy Tử Cúng Dường (mizuko kuyō), một dịch vụ mai táng dành cho những đứa trẻ chết vì nạo phá thai đã trở nên phổ biến ở Nhật Bản trong thập niên 70 của thế ký XX. (Dịch vụ này cũng được dùng trong các trường hợp sẩy thai hay chết yểu). Nghi lễ gồm có các yếu tố tín ngưỡng dân gian, và Thần Đạo (Shinto) cũng như Phật giáo.

Nhà văn William R.Lafleur đã nêu lên vài khó khăn về truyền thống này:

Tranh luận  nạo phá thai ở bên trong cộng đồng Phật giáo Phật Bản hiện nay được hạn chế đến mức tối đa sau  những chỉ trích của những ngôi chùa và những tổ chức gần giống như chùa, nơi mà khái niệm báo oán của các thai nhi bị phá được tận dụng một cách triệt để  nhằm ép buộc cha mẹ của chúng tham gia vào các buổi lễ cầu siêu rình rang hình thức để tưởng nhớ các thai nhi bị phá, để xóa bỏ lòng đố kỵ của chúng, và để làm cho  chúng  được tái sinh dễ dàng.

Nhiều Phật tử Nhật Bản  nhận ra được cái kiểu tuyên truyền phản cảm như thế về tội lỗi của cha mẹ, nhất là khi diễn đạt dưới khái niệm mà một thai nhi trong tình trạng không biết đi về đâu  sẽ trút cơn oán hận lên đầu  cha mẹ đã sao lãng việc làm lễ húy nhật cho nó”. (William R. Lafleur, Tranh luậnvà Đồng thuận: Đạo đức của sự Nạo phá thai ở Nhật Bản, Triết học Đông và Tây, tập 40, 1990)

Thích Minh Trídịch

Thiên tai, động đất, sóng thần có phải do chiêu cảm của việc sát sanh và nạo phá thai?

VẤN: Trong những năm gần đây, tình hình bão lũ, động đất, sóng thần xảy ra khắp mọi nơi với cường độ càng ngày càng mạnh có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của rất nhiều người và động vật. Hình như bão lũ năm sau luôn mạnh hơn năm trước và thiệt hại về người cũng như vật chất không ai có thể biết được. Theo các nhà khoa học tất cả đều do việc nóng dần lên của trái đất làm băng tan, do việc phá rừng bừa bãi, sử dụng quá nhiều chất gây tăng khí hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng tất cả đều do việc sát sinh mà ra vì các oan hồn uổng tử không được siêu thoát, chồng chất nợ nghiệp nhau nên chiến tranh mới xảy ra khắp nơi còn động đất và sóng thần là do chiêu cảm nghiệp của việc phá thai, các vong nhi không được siêu thoát gây nên. Xin sư cho con biết liệu điều ấy là có đúng với tinh thần của Phật giáo không? Làm cách nào để giảm bớt những thiệt hại như thế này?

ĐÁP

Trong lịch sử địa chất của Trái đất chúng ta, sự biến đổi khí hậu đã từng nhiều lần xảy ra với những thời kỳ lạnh và nóng kéo dài hàng vạn năm mà chúng ta gọi là thời kỳ băng hà hay thời kỳ tan băng. Thời kỳ băng hà cuối cùng đã xảy ra cách đây 10.000 năm và hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ tan băng.

Nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu này, chúng ta có thể thấy đó là do sự biến động và thay đổi độ nghiêng trục quay trái đất, sự thay đổi quỹ đạo quay của trái đất quanh Mặt trời, vị trí các lục địa và đại dương và đặc biệt là sự thay đổi trong thành phần khí quyển.

Trong khi những nguyên nhân đầu tiên là những nguyên nhân hành tinh, thì nguyên nhân cuối cùng lại có sự tác động rất lớn của con người mà chúng ta gọi đó là sự làm nóng bầu khí quyển hay hiệu ứng nhà kính. Sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển dâng cao; là các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm…

Có thể thấy tác hại theo hướng nóng lên toàn cầu thể hiện ở 10 điều tồi tệ sau đây: Gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực, những đợt nóng, bão tố và lũ lụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đi sự đa dạng sinh học và phá hủy hệ sinh thái…(theo Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới và những tác hại - Ngô Huyền, tổng hợp Kiến Thức Môi Trường).

Như trên là nhận định của khoa học, còn theo Phật giáo thì tình trạng môi trường của chúng ta đang sống thuộc về “kiếp giảm”. Những hiện tượng của “kiếp giảm” xảy ra trong thế kỷ XXI làm tổn hại con người, cũng không ai khác hơn là con người tự tạo nghiệp ác, như bạn đã kể trong câu hỏi là chuyện nhỏ và còn tệ hơn thế nữa!

Kiếp giảm lấy nhơn thọ trong thời kỳ tiệm giảm làm hạn lượng. Thọ số của nhơn loại ở mức cực cao là 84.000 tuổi. Từ 84.000 tuổi mỗi 100 năm giảm một tuổi, giảm đến chừng nào con người còn 10 tuổi là mức cuối cùng. Khoảng thời gian nầy kể là một giảm kiếp. Như thế một giảm kiếp tính ra có đến 8.399.000 năm. Trong khi thọ lượng được 84.000 tuổi, con người cao 840 trượng, qua trăm năm giảm một tuổi, bề cao cũng thấp xuống một tấc, qua ngàn năm giảm 10 tuổi, bề cao thấp xuống một thước. Đến chừng nhơn loại còn 10 tuổi là thượng thọ, bề cao con người chỉ còn một thước. Trong kiếp giảm, ác nghiệp của nhơn loại càng ngày càng tăng, phước báo càng lúc càng kém. Như khi nhơn thọ 84.000 tuổi, do phước nghiệp tăng thạnh, nên có bảy báu hiện ra, điềm lành tập hợp, năm vị ngon quí, người thần vui đẹp, mưa gió thuận thời, suối ngọt gạo thơm, dân chúng hiền lành, bậc thánh vương trị nước. Lúc nhơn thọ còn mười tuổi, do ác nghiệp tăng thạnh nên bảy báu ẩn mất, năm vị lợt lạt, điềm dữ hiện ra, nhơn vật khốn cùng, quỷ thần kêu khóc, âm dương trái độ, mưa gió lỗi thời, cảnh đói khát lan tràn, con người tranh đua lường gạt chém giết lẫn nhau. Lại trong kiếp giảm có tiểu tam tai là: Nạn cơ cẩn, nạn dịch khí, và nạn đao binh.

Theo luận Du Già Sư Địa, lúc nhơn thọ giảm còn 30 tuổi, có tai nạn cơ cẩn (đói khát) kéo dài bảy năm bảy tháng bảy ngày. Trong thời gian này cách rất lâu mới có một cơn mưa, ngũ cốc không sanh loài người chết vô số, xương trắng đầy đồng. Khi đó nếu người nào tìm được một hạt lúa, họ xem như ngọc ma ni, đem cất giấu ở trong rương. Qua một loạt chết chóc kinh khủng này, những kẻ còn sống sót khởi lòng nhàm chán bậc hạ, thật tâm ăn năn sám hối, tai nạn đó mới dứt.

Lúc nhơn thọ giảm còn 20 tuổi, do loài người lui sụt tâm nhàm chán ăn năn trước kia, lần lần làm ác, nên có tai nạn dịch khí nổi lên, trải qua thời gian bảy tháng bảy ngày, thây chết rải rác ngổn ngang khắp đường sá đồng ruộng, không ai chôn cất. Khi ấy mọi người tự biết do nghiệp ác nên phải chịu quả khổ như thế, ai nấy đều ăn năn sám hối, khởi lòng nhàm chán bậc trung, nạn dịch khí liền dứt. Rồi tháng năm trôi qua, nhơn loại lần lần quên bao nhiêu cảnh khổ, trở lại tạo thập ác thêm nhiều.

Đến lúc thọ lượng của thế nhơn còn 10 tuổi, con người sanh ra ít ngày là biết đi, mới năm tháng đã có chồng vợ. Lúc ấy nhơn loại lấy lúa lép làm thức ăn bậc nhất, lấy tóc kết lại làm y phục bậc nhất, lấy sắt làm đồ trang nghiêm bậc nhất. Bao nhiêu thức ăn ngon quí đều ẩn mất, các thứ mật, mía, dầu, muối đều biến chất, không thành mùi vị. Khi có yến hội lớn, người ta thường nấu xương khô để thết đãi lẫn nhau. Bấy giờ lại có tai nạn đao binh nổi lên. Trước tiên các nước đem binh đánh giết lẫn nhau; trong thân quyến như cha con, anh em, chồng vợ còn luôn luôn có sự tranh cãi, huống chi đối với kẻ khác.

Đến lúc kiếp mạt, thế lực của nghiệp ác mạnh mẽ cùng cực, trong vòng bảy ngày, loài người như mê cuồng, tay cầm đến cây, gậy, ngói, đá, những thứ ấy đều hóa ra đao, kiếm không luận kẻ thân sơ, hễ gặp mặt là tàn sát nhau. Ai nấy đều nghĩ rằng: Nếu mình không giết người ta, người ta cũng giết mình. Trong thời gian đó, thây chết cùng khắp, đường sá vắng người. Qua bảy ngày nầy nghiệp sát tiêu tan, còn độ một muôn người sống sót, trốn ở trong hang đá rừng núi lần lượt đi ra. Bấy giờ thế giới hoang sơ, trong vòng mấy muôn dặm khó thấy một bóng người, nên khi được gặp mặt họ liền ôm nhau mà khóc. Thời gian nầy kiếp giảm đã đến mức cuối cùng, loài người khởi tâm nhàm chán bậc thượng, lần lần tu pháp lành, nên phước thọ cũng lần lần tăng thêm (trích Phật học tinh yếu - HT Thích Thiền Tâm biên soạn)

Thật vậy những hiện tượng (y báo) thường xảy ra như thế, là do nghiệp nhân, quả báo của chúng sanh (chánh báo) trên hành tinh địa cầu tác động, muốn có sự hưởng thụ lao động của mình, tranh chấp quyền bính, bành trướng bá quyền, ít nghĩ đến sanh hoạt đạo đức, ít tu hành. Từ đó khí tham sân si ngày càng bộc phát dữ dội, để phục vụ cho sự tham lam ích kỷ cá nhân. Vì sự ăn mặc, tiện nghi, hám danh hám lợi, tạo cảnh oán thù, chém giết lẫn nhau, dẫn đến gây nên những thảm cảnh chiến tranh sắc tộc, chiến tranh biên giới, chiến tranh thế giới, thật tàn khốc, giết hại con người không thương tiếc. Đấy là những nghiệp nhân quả báo.

Còn một hệ quả khác đáng thương tâm không ít là con người tạo nghiệp, sát sanh loài vật, thú rừng: Hùm, beo, tê, tượng; gia súc: Trâu, bò, cừu, dê, lợn, gà, vịt; dưới biển các loài thủy tộc cũng không yên. Chung quy cũng từ con người chuốc lấy oán hờn, tạo thành những cuộc tử sanh, luân trầm, vay trả.

Muốn không còn khổ đau, thì con người cần có sự tu tỉnh, tránh xa các điều ác, làm các việc lành, giúp đỡ chúng sanh, đó là lời chư Phật trang nghiêm kiếp, hiền kiếp đều giáo hóa. Thế giới và con người sẽ theo nghiệp cảm mà thọ báo lành, không còn khổ đau nữa. 

Ví dụ: Không chặt phá rừng thì không có lũ lụt, hạn hán; không sát sanh, trộm cướp, không ỷ thế hiếp cô thì không còn chiến tranh đau thương chia cách, không tham lam ích kỷ, say đắm ngũ dục thì không có cảnh trái đất nóng dần, băng tan, động đất sóng thần, không xa hoa trụy lạc, cờ bạc rượu chè thì không còn cảnh nghèo đói…

HT Thích Giác Quang

Cái Nhìn Phật Giáo Về Sự Phá Thai Và Sự Tha Thứ

Lodro Rinzler - Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến

Source-Nguồn: www.huffingtonpost.com

(A Buddhist View On Abortion And Forgiveness - Lodro Rinzler)

Cái Nhìn Phật Giáo Về Sự Phá Thai Và Sự Tha Thứ

Nhiều người xem Sĩ Đạt Ta Cồ Đàm (Siddhartha Gautama) như một thí dụ về một người đã đạt tới Niết bàn, ngài là một vị Phật. Cứ mỗi hai tuần lễ, trên trang mạng nầy, chúng ta giả sử rằng, ngày hôm nay nếu Tất Đạt Đa bước vào cuộc hành trình tâm linh, ngài sẽ làm gì. Ngài sẽ kết hợp Phật giáo và cuộc hẹn hò trai gái, như thế nào? Ngài sẽ giải quyết sự căng thẳng nơi làm việc, như thế nào?  "Ông Sĩ (tên gọi tắt của Sĩ Đạt Ta) sẽ làm gì?" câu hỏi nầy mang đến một cái nhìn trung thực về những vấn đề của chúng ta - là các thiền giả - sẽ phải đối mặt trong thế giới hiện đại.

Cứ mỗi hai tuần lễ, tôi sẽ mang vào một câu hỏi mới và đưa ra một số lời khuyên dựa trên những gì tôi nghĩ rằng ông Sĩ, một Sĩ Đạt Ta tưởng-tượng, sẽ làm gì. Ông Sĩ lúc nầy chưa thành Phật; ông chỉ là một người tranh đấu, để duy trì một trái tim rộng mở trên một con đường tâm linh, trong khi ông phải đối mặt với rất nhiều phiền toái trên đường ông đi. Bởi vì chúng ta sẽ phải đối mặt với trở ngại nầy: Bạn và Tôi, bây giờ chính là ông Sĩ.

Câu hỏi của tuần nầy đến từ Cô Gái Đẹp (Pretty Girl):

Tôi là một người mẹ độc thân, đang nuôi một đứa con còn bé, mới bốn tuổi. Tôi năm nay 41 tuổi, và tôi đã có thai ba lần. Lần có thai đầu tiên, tôi đã phá thai, rồi sau đó, tôi cảm thấy không thể tha thứ cho chính tôi. Lần có thai thứ nhì, tôi đã sẩy thai. Mỗi ngày tôi tự hỏi tại sao tôi còn sống ở đây, và tại sao tôi có lại hành động ích kỷ vì tôi đã giết con tôi. Tôi thương yêu con trai tôi, nhưng luôn tự hỏi tại sao, tôi lại có được cơ hội có con nầy. Tôi cũng đã tự làm hại, tự gây đau khổ cho chính tôi, trong những lúc tôi cố gắng tìm sự tha thứ cho chính mình. WWSD?

Nói chung trong các truyền thống Phật giáo, người ta tin rằng sự sống bắt đầu từ thời điểm thụ thai. Thần thức sẽ có rất ít thời gian, từ lúc bố mẹ của bạn có quan hệ tình dục, rồi thấy đây là chuyện vui vẻ, rồi đi đến để vào gá thai. Vào thời điểm nầy, thần thức đã đi vào cõi người, và ở trong quá trình sẽ được sinh ra đời. Vì như thế, Đức Phật dạy rằng phá thai chính là lấy đi mạng sống của một con người, đây là một lỗi lầm rất nghiêm trọng.

Tuy nhiên, nhiều vị Thầy Phật giáo đã nói rằng, có những trường hợp mà phá thai có thể không tạo ra nghiệp xấu, thí dụ như bào thai sẽ tạo ra tình trạng nguy hiểm đến sức khỏe của người mẹ. Với cùng ý tưởng nầy, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn với Báo Nữu Ước Times rằng "... phá thai được chấp nhận, hoặc không được chấp nhận, là còn tùy theo mỗi trường hợp."

Phật giáo truyền thống có thể không khuyến khích phá thai, nhưng cũng không khuyến khích việc áp đặt luân lý cứng chắc một cách tuyệt đối. Trong khi tôi nghĩ rằng, ông Sĩ sẽ không khuyến khích người bạn gái của ông phá thai, và tôi cũng nghĩ rằng, ông sẽ để người đàn bà có quyền tự do chọn lựa, chuyện bà muốn làm gì với thân thể của bà. Tôi phải nói ra rằng, với cá nhân tôi - Lodro Rinzler - không phải là ông Sĩ, tôi có thể muốn và tôi cũng có thể không muốn người bạn gái của tôi phá thai. Đây là những chuyện mà tôi phải học tập để hòa giải với chính bản thân tôi.

Phật giáo gần như là một con đường đi, mà tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Tôi không biết tại sao bạn đã phá thai, và cũng vì thế, tôi cũng không có quyền lên án hay ca ngợi bạn (và cho những người vào bình luận, xin bạn vui lòng viết lời tử tế ở đây: bởi vì, có người thật đằng sau những câu hỏi thật nầy!). Tôi khuyến khích bạn nên suy nghĩ thật kỹ lưỡng, những động cơ đằng sau quyết định của bạn. Tôi không biết một chút gì về bạn, nên tôi chỉ đoán rằng những gì bạn đã làm, là bạn muốn làm giảm bớt đi sự đau khổ, không những cho chính bản thân bạn, mà còn cho đứa con mà bạn sẽ mang vào thế giới nầy. Nếu đúng như thế, thì ý định của bạn không phải là điều xấu xa, và vì hành động nầy của bạn đã xảy ra, bạn nên học tập để tha thứ cho chính mình, đây là điều vô cùng quan trọng.

Rinpoche Dilgo Khyentse đã từng nói, "Trong trường hợp phá thai ... nếu bố mẹ cảm thấy hối hận, họ có thể tự giúp đỡ bằng cách thừa nhận chuyện nầy, cầu mong sự tha thứ, và hãy hăng hái thực hành cách thanh lọc của Bồ Tát Vajrasattva. Họ cũng có thể mang những hiểu biết và kinh nghiệm nầy để khuyên nhủ, ngăn ngừa, hoặc cứu giúp người khác, hoặc tài trợ cho một số dự án nhân đạo, và tinh thần, rồi hồi hướng cho hạnh phúc và tương lai giác ngộ cho thần thức của thai nhi." Những chuyện làm kể trên đều là việc làm tốt đẹp, tuy nhiên, tôi muốn nói thêm cho đầy đủ, là chuyện thực hành cách thanh lọc của Bồ Tát Vajrasattva của Phật giáo Tây Tạng, nên được giảng dạy bởi một vị Thầy đã được chứng nhận. Nói cách khác, đừng thử cách nầy ở nhà, hoặc học qua một cuốn sách.

Chủ đề này làm tôi nhớ đến câu chuyện về Đức Phật và Angulimal. Angulimal là một kẻ giết người. Một kẻ giết người hàng loạt. Người ta nói rằng ông ta đã giết chết 999 người và ông mang chiếc vòng đeo cổ bằng các ngón tay, mỗi một ngón tay là một nạn nhân của ông, nghĩa là ông ta đang đeo 999 ngón tay. Tuy nhiên, Đức Phật vẫn đi xuống đường để gặp ông ta. Angulimal cảnh báo với Đức Phật rằng, nếu ông đến gần ngài hơn, thì ngài sẽ là nạn nhân thứ 1000 của ông ta.

Đức Phật, sẵn sàng hiến tặng cuộc sống của ngài, để Angulimal thực hiện lòng mong muốn của ông, là làm xong chiếc vòng đeo cổ, nhưng ngài yêu cầu ông cho ngài một điều ước cuối cùng. Ngài mong muốn Angulimal cắt một nhánh cây. Angulimal đã làm như thế và dâng lên Đức Phật. Sau đó, Đức Phật nói ông ta gắn nhánh cây nầy ngược trở lại cây, cho nó y hệt như cũ. Khi ngài nhìn thấy kẻ giết người đang bị rối trí, Đức Phật mới giải thích rằng: "Nếu ông không tạo ra cây, thì ông cũng không có quyền cắt bỏ nó. Nếu ông không ban cho sự sống, thì ông cũng không có quyền gây ra cái chết cho bất kỳ sinh vật nào."

Tâm của Angulimal đã được chuyển đổi ngay lập tức, ông đặt thanh kiếm xuống, rồi ông được chấp nhận vào Tăng Đoàn. Ông đã được Đức Phật tha thứ cho những lỗi lầm của ông, và người ta được biết là trước khi ông mất, ông đã là vị A La Hán.

Tôi đề cập đến câu chuyện nầy, không phải để đánh đồng những gì bạn đã làm với kẻ giết người hàng loạt nầy (thật sự không phải như thế), nhưng để nói ra rằng, ngay cả những hành động kinh khủng và vô nghĩa lý nhất, cũng có thể và đã được tha thứ. Hơn nữa, những sai lầm to lớn nhất của chúng ta, cũng sẽ là những vật to lớn nhất, lót đường cho chúng ta đến mục đích giác ngộ. Chúng ta cần phải học mọi khía cạnh của cuộc sống, từ khía cạnh cần trau giồi, cho đến những khía cạnh cần loại bỏ. Chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, khi chúng ta vượt qua được những lỗi lầm, và học hỏi từ những lỗi lầm nầy.

Bạn nói rằng bạn đã làm nhiều chuyện tự làm hại, tự gây đau khổ cho chính bạn, trên con đường hướng đến sự tha thứ. Điều quan trọng, là khi bạn đã nhận ra những điều đó là sự tự gây hại, đây là bước quan trọng đầu tiên. Bước thứ nhì là từ bỏ những điều tự gây hại nầy. Bước thứ ba thậm chí còn khó khăn hơn. Bước thứ ba là học tập những thói quen mới, cụ thể là học tập để biết được những cảm xúc của chính mình khi chúng đang có mặt, như là cảm giác tội lỗi, như là sự tức giận, hoặc như là sự buồn bã. Để cảm nhận được những cảm xúc của chúng ta, nguyên vẹn như chúng chính là, theo kinh nghiệm của tôi, là con đường tốt nhất để tha thứ cho những sai lầm của chính bản thân mình. Tôi có thể đã làm cho mọi người khó chịu, vì lập đi lập lại quá nhiều lần trên trang mạng nầy, nhưng thiền định chính là một phương pháp có giá trị, vì thiền định cho phép chúng ta có mặt với những loại kinh nghiệm nầy.

Hơn nữa, tôi nghĩ rằng những lời đối thoại của Đức Phật với Angulimal khá thích đáng với trường hợp của bạn. Trong lúc nầy, cuộc đời bạn đã có một người con yêu quý. Bạn có thể thương yêu cháu và nuôi nấng cháu với một trái tim đầy lòng từ bi và hiểu biết. Cá nhân tôi tin rằng, làm bố mẹ là đi trên con đường mang đến cuộc sống phong phú và hạnh phúc, và nếu được thực hiện một cách chính xác, cùng với thực tập thiền định, có thể dẫn chúng ta đến sự giác ngộ.

Chúc bạn thật nhiều may mắn, trên con đường hướng đến sự tha thứ, cũng như trên con đường làm bố mẹ. Chúng ta hãy học hỏi từ sự sai lầm, đây chính là cơ hội thực hành có nhiều giá trị. Chúng ta hãy học cách tha thứ cho chính mình, đây là chuyện làm, còn có giá trị nhiều hơn. Tuy nhiên, chúng ta học tập để có mặt trong lúc có nhiều khó khăn, bối rối, hoặc nhiều buồn đau là điều tuyệt vời. Như Acharya Pema Chodron đã nói, "Lúc nầy đây, chính là vị Thầy Giáo tốt nhất."

MUA DÂM CÓ PHẠM GIỚI TÀ DÂM?

HỎI: Tôi năm nay 32 tuổi, khỏe mạnh, công việc và kinh tế ổn định. Là nam cư sĩ, hiện đang tu học theo pháp môn niệm Phật, cầu vãng sanh Cực lạc nhưng do một số điều kiện khách quan nên tôi hiện sống độc thân (cũng có thể độc thân suốt đời). Vì sống độc thân, nhu cầu sinh lý không được đáp ứng đầy đủ như người có gia đình nên tôi thường bị bức xúc, ức chế, không thể tập trung làm việc cũng như tu niệm tốt được. 

Tôi có ý định tìm gái bán hoa làm bạn tình trong vài giờ nhằm cân bằng tâm sinh lý; tôi biết điều độ và thực hiện đầy đủ trách nhiệm, tôn trọng đối tác, cả hai đều tự nguyện và đều vui. Theo bản thân tôi, chỉ có cách đó tôi mới cân bằng tâm sinh lý, sau đó mới toàn tâm toàn ý làm việc cũng như tu niệm. Xin hỏi, tôi mua dâm như vậy thì có phạm giới tà dâm của người Phật tử không?

(HUY PHƯƠNG, hoabac999@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Huy Phương thân mến!

Người cư sĩ được khuyến nghị tiết dục chứ không bị ngăn cấm hành dục. Nên Phật tử lập gia đình, nguyện giữ giới không tà dâm cốt để giữ thủy chung với người bạn đời của mình nhằm xây dựng đời sống hôn nhân hạnh phúc.

Phạm vi của giới không tà dâm rất rộng: Ngay trong quan hệ vợ chồng cần phải dựa trên tinh thần tự nguyện, dâng hiến, có chừng mực, hợp thời, phải chỗ; ngay cả sự phóng tâm đắm sắc, nghĩ ngợi bất chính, buông thả phóng dật, cũng bị xem là tà dâm.  Nói chung, theo quan điểm của Phật giáo, những sự quan hệ nam nữ không được giới luật, luật pháp và luật tục thừa nhận đều được xem là tà dâm.

Bạn đã trưởng thành, khỏe mạnh nên có nhu cầu sinh lý là chuyện bình thường. Hiện bạn còn độc thân nên vấn đề chung thủy với người bạn đời chưa được đặt ra. Do đó, bạn mua dâm mà “biết điều độ và thực hiện đầy đủ trách nhiệm, cả hai đều tự nguyện và đều vui”, theo giới luật của hàng cư sĩ tại gia, bạn không phạm tà dâm. Kinh Ưu-bà-tắc ngũ giới tướng, Phật dạy: “Nếu Ưu-bà-tắc (nam cư sĩ) cùng dâm nữ (gái điếm) hành dâm, quỵt không trả tiền, phạm tà dâm không thể sám hối, trả đủ tiền thì không phạm (Minh Lễ dịch, Thành hội Phật giáo TP.HCM ấn hành, 1994, tr.52).

Như vậy, về mặt giới luật của người cư sĩ và luật tục (một số tập tục như lệ làng), người trưởng thành sống độc thân, có hành vi tình dục trước hôn nhân hay mua dâm, trong chừng mực nào đó, có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, về mặt luật pháp, ở nước ta hiện nay, mua dâm là hành vi phi pháp. Theo Điều 22, Pháp lệnh số 10/2003/UBTVQH11 ngày 17-3-2003 về phòng, chống mại dâm: “Người mua dâm tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền. Người mua dâm người chưa thành niên hoặc biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. 

Mặc dù hoạt động mua bán dâm khá phổ biến trong đời sống xã hội nhưng đều không chính thức, nước ta không có “phố đèn đỏ” hoạt động hợp pháp và công khai như ở một số nước trên thế giới, vì thế mua dâm là phạm pháp (đa phần bị xử phạt hành chính).

Ngay đây, bạn cần lưu ý là, dù giới luật và luật tục tạm “du di” cho bạn có thể mua dâm nhưng vì luật pháp hiện hành lại không cho phép, do đó, nếu bạn mua dâm tức phạm vào tà dâm. Những Phật tử đã thọ Bồ-tát giới tại gia, vi phạm luật pháp dĩ nhiên là phạm giới. “Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di (nam, nữ cư sĩ) đã thọ tại gia Bồ-tát giới, phạm luật pháp nhà nước, ấy là phạm tội thất ý, giới thể không vững, đọa lạc, bất tịnh, bị chướng ngại” (Ưu-bà-tắc giới kinh, Giới khinh thứ 22). Mặc dù đây là giới luật của những Phật tử thọ Bồ-tát giới tại gia, nhưng nếu các Phật tử chỉ thọ năm giới mà vi phạm pháp luật (nhân cách chưa trọn) thì cũng xem là khuyết giới, phạm giới vậy.

Tóm lại, hiện nay ở nước ta, người cư sĩ độc thân mua dâm là phạm tà dâm (nhưng nếu mua dâm tại các “phố đèn đỏ” ở nước ngoài hoạt động hợp pháp thì không phạm). Trong hoàn cảnh của bạn, nên quán niệm rằng ở đời không có ai là hoàn hảo, mỗi người mỗi nghiệp nặng nhẹ khác nhau đồng thời thành tâm sám hối tội nghiệp tà dâm của mình. Sám hối liên tục cho đến khi nhẹ nghiệp.

Chúng ta đang sống trong cõi dục nên dục vọng không có gì là xấu. Quan trọng là biết điều hòa và làm chủ thân tâm, không để cho dục vọng chi phối quá mức dẫn đến mất tự chủ, dễ dàng tạo ác nghiệp. Cần xác quyết rằng, mua dâm (nếu được giới luật và pháp luật cho phép) cũng chỉ là giải pháp tạm thời. Do đó, lập gia đình, xây dựng hạnh phúc hôn nhân vẫn là giải pháp tối ưu và bền vững nhất cho bạn để “toàn tâm toàn ý làm việc cũng như tu niệm” ở hiện tại và tương lai.

Chúc bạn tinh tấn!

MƯỜI HAI BỘ KINH

(THẬP NHỊ BỘ KINH)

* Nếu dựa trên phạm vi vĩ mô thì giáo lý mà Phật nói trong 49 năm được chia thành 3 tạng kinh điển là:

1) Kinh tạng
2) Luật tạng 
3) Luận tạng

* Nếu dựa theo thời gian thuyết pháp thì giáo lý Phật nói được chia thành 5 thời, gọi là "Ngũ thời giáo":

1) Thời Hoa Nghiêm
2) Thời A Hàm
3) Thời Phương Đẳng
4) Thời Bát Nhã
5) Thời Pháp Hoa, Niết Bàn


* Nếu dựa theo cấp độ cao thấp về ý nghĩa thì giáo lý Phật nói được chia thành 5 cấp độ, gọi là "Ngũ thừa". Mỗi "thừa" phù hợp với một tầng lớp căn cơ từ thấp đến cao:

1) Nhân thừa
2) Thiên thừa
3) Thanh Văn thừa
4) Duyên Giác thừa
5) Bồ tát thừa, Đại thừa hay Phật thừa


* Nếu dựa theo phạm vi ý nghĩa chi tiết của kinh điển thì giáo lý Phật giáo được chia thành 12 chủng loại, gọi là "Thập nhị bộ kinh". 

1) Kinh (Khế kinh): những bài kinh chính căn bản Phật nói bằng văn xuôi, ngắn gọn, súc tích, khế cơ và khế lý tức là những lời Phật dạy khế hợp với chân lý với từng căn cơ của chúng sinh.

2) Trùng tụng (Ứng tụng): những bài kinh hoặc kệ tụng được đức Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần để các đệ tử ngài thuộc lòng. 

3) Thụ ký: kinh Phật thụ ký, chứng nhận quả vị cho những đệ tử và những việc xảy ra về sau.

4) Ký chú (Phúng tụng): những bài kinh thuộc thể thơ ca không diễn xuôi

5) Tự thuyết (Tán thán): bài pháp Phật thuyết không cần sự thưa thỉnh

6) Nhân duyên (Quảng thuyết): kinh nói về nhân duyên pháp hội, nhân duyên của nhân sinh và vũ trụ.

7) Thí dụ (Diễn thuyết giải ngộ): kinh Phật dùng thí dụ để giảng thuyết những giáo lý cao thâm cho dễ hiểu.

8) Bản sự kinh (Như thị pháp hiện): kinh Phật nói “tu nhân, chứng quả” của hàng đệ tử trong quá khứ và vị lai.

9) Bản sinh kinh: kinh Phật nói về tiền thân của Phật và hàng Bồ tát dẫn đến câu chuyện của đời hiện tại, sự liên hệ giữa tiền kiếp và hậu kiếp…

10) Phương quảng (Phương đẳng): kinh điển đại thừa, nói về pháp tu rốt ráo

11) Hy pháp (Vị tằng hữu): kinh Phật nói về thần lực của Phật và hàng thánh đệ tử, nói về cảnh giới vi diệu của quả tu.

12) Nghị luận (Cận sự thỉnh vấn): kinh vấn đáp, biện luận giữa Phật và hàng đệ tử hoặc giữa các hàng đệ tử với nhau để lý giải rốt ráo chính tà…

Vấn đề hộ niệm cho người sắp lâm chung

Thích Phước Thái

Con nghe nói hộ niệm vãng sinh, nhất là cho người hấp hối sắp chết, nhưng con không hiểu phải hộ niệm như thế nào mới đúng cách? và phải làm sao cho người chết được lợi lạc vãng sinh? Kính xin Thầy hoan hỷ chỉ dạy cho chúng con được hiểu rõ

Đây là một vấn đề rất hệ trọng đối với những người tu theo pháp môn Tịnh độ, niệm Phật cầu vãng sinh. Những người mà tịnh nghiệp của họ đã thuần thục, hiện đời họ đã niệm Phật chứng được niệm Phật Tam Muội, tức được nhất tâm bất loạn, Thánh cảnh hiện tiền rồi, thì việc hộ niệm không cần thiết nữa.

Vì họ đã vãng sinh ngay trong hiện đời rồi. Thật ra, trong thời mạt pháp này, đối với hạng người này thật không phải dễ có. Đó phải là bậc thượng căn thượng trí mới có được.

Ngoài ra, nếu chưa được như thế, thì giờ phút sắp lâm chung, đối với việc hộ niệm hay trợ niệm là điều tối thiết yếu, thiết nghĩ, chúng ta cũng cần nên tìm hiểu thật kỹ về vấn đề này.

Trong khuôn khổ giới hạn của trang giấy phạm vi vấn đáp, chúng tôi không thể nào trình bày cho tận tường chi tiết hết được. Ở đây, chúng tôi chỉ xin được trình bày một cách khái yếu vấn đề mà thôi.  

Đời người, khi sắp mất, hay cuối nẻo đường trần có 3 lối rẽ để đi. Một là tiến thẳng lên Thánh đạo, vãng sinh Cực Lạc tức thời, lối đi này chỉ dành cho những người cực thiện. 

Hai là lối đi vào thiện đạo và ba là lối đi vào ác đạo. Lối đi vào thiện đạo dù có được tốt đẹp ít khổ, nhưng vẫn còn quanh quẩn luân chuyển vào nhân đạo hoặc thiên đạo. 

Thứ ba là lối đi vào ác đạo, đây là con đường trầm luân thọ khổ muôn kiếp, mà không một ai muốn bước chân vào. Tuy không muốn, nhưng nghiệp ác hiện đời đã gây tạo, thì phải tránh như thế nào đây? Cho nên đối với hai hạng người sau này, thì việc hộ niệm trong giờ phút sắp lâm chung thật vô cùng quan yếu. Nhưng phải hộ niệm như thế nào để cho người sắp lâm chung mới được lợi lạc vãng sinh? Đó là điều mà người đóng vai trò hộ niệm giúp cho những người sắp chết, thiết nghĩ, cũng cần nên  biết qua. 

Hai chữ hộ niệm có nghĩa là giúp cho người sắp chết có được chánh niệm. Chữ niệm nầy, có nghĩa là chánh niệm. Nói cách khác là mình giúp (hộ) cho họ nhớ (niệm) Phật, tức đồng với tâm niệm Phật, vì tâm niệm Phật là chánh nhân thành Phật. Vì muốn nhắc nhở người bệnh luôn nhớ đến Phật, mà không nhớ đến duyên trần, vì nhớ đến duyên trần là mất chánh niệm hay tịnh niệm, thì rất trở ngại cho việc vãng sanh. 

Do đó, mà người hộ niệm là chiếc phao nổi để người bệnh sắp chết nương vào.Vì sao? Vì lúc nầy, người bệnh tứ chi đau nhức rã rời, nếu là người bị mang chứng bệnh nan y, như ung thư chẳng hạn, thì sự hành hạ xác thân, bởi cơn đau nhức hoành hành thật là khó tả. Do đó, tâm thần của họ dễ bị tán loạn, dù cho bình thường, họ có công phu niệm Phật, nhưng vì chưa đạt đến chỗ thuần thục, nên dễ bị tán tâm. Bởi thế, nên họ rất cần người khác hộ niệm. 

Lúc nầy, người bệnh hoàn toàn mất hết tự chủ, tinh thần rối loạn, nghĩ nhớ lung tung, thật khó tập trung vào câu hiệu Phật. Nên người hộ niệm phải giúp cho họ tập trung tinh thần về với chánh niệm bằng cách chí thành tha thiết niệm Phật.

Điều ta nên nhớ, người bệnh vừa dứt hơi thở, nhưng chưa thật chết hẳn, thần thức chưa hoàn toàn rời khỏi thể xác, ít nhứt là 2 tiếng đồng hồ, nên giờ phút nầy, vẫn còn rất cần thiết cho việc hộ niệm, niệm Phật. 

Người bệnh được vãng sanh hay không, ngoài phần chánh nhân tu niệm bình nhật của họ ra, phần lớn là nhờ vào giờ phút hộ niệm nầy. Do đó, những người thân quyến hay con cháu trong gia đình, là những nhân tố chánh giúp cho người thân của mình không bị đọa lạc vào cảnh khổ.

Nếu giờ phút quan trọng nầy, mà thân nhân hay bạn bè, không biết cách hộ niệm, chẳng những không niệm Phật giúp cho người thân mình có thêm chánh niệm, trái lại, còn gây thêm cho họ nhiều rối loạn, lo âu, buồn bực v.v… thì thật là tai hại nguy hiểm vô cùng. Cho nên, nếu mọi người thật sự thương thân nhân của mình, thì chỉ nên một lòng chắp tay tha thiết mà thành tâm niệm Phật. 

Ngoài ra, không nên có thái độ hay lời nói gây xúc phạm đến người bệnh sắp lâm chung. Vì lúc nầy hơn bao giờ hết, người bệnh dễ hay sanh bực tức giận hờn.

Cách hay nhất trong giờ phút nầy, nên cần có ít nhất là một người biết cách trợ niệm, để giúp đỡ  chỉ bảo mọi việc cho thân nhân và bạn bè. Người nầy rất là cần thiết. Vì thân nhân của người sắp chết, ai nấy đều tỏ ra rất bối rối lo buồn, nên không còn đủ bình tĩnh để lo trợ niệm giúp đỡ cho bệnh nhơn. 

Thế nên, theo kinh nghiệm của chúng tôi, thì phải có người thông hiểu mọi việc hộ niệm túc trực bên cạnh bệnh nhơn, vừa nhắc nhở bệnh nhơn niệm Phật, vừa khuyên nhủ thức nhắc bằng những lời pháp ngữ cảnh tỉnh, để bệnh nhơn tăng thêm đạo lực tín tâm và dễ được định tâm niệm Phật hơn. 

Bởi vậy, những người hộ niệm nầy, phải được thay phiên nhau niệm Phật liên tục, tùy hoàn cảnh mà khéo léo dùng chước phương tiện để giúp cho bệnh nhơn và trong thân quyến.  Điều nầy, thật rất là cần thiết quan trọng. Người hộ niệm phải có tấm lòng bi cảm và hòa ái nhẫn nại đối với bệnh nhơn. Đó là thể hiện lòng từ bi vị tha nhân ái cao cả của Bồ tát Quán Thế Âm. 

Tóm lại, muốn cho việc hộ niệm vãng sanh đạt được kết quả cao, theo thiển nghĩ của chúng tôi, cần phải hội đủ những điều kiện cần thiết để thực hiện qua 3 yếu tố quan trọng như sau :

I. Người hộ niệm 

II. Bệnh nhân.

III. Thân bằng quyến thuộc. 

I. Người hộ niệm.

Đối với người hộ niệm đóng một vai trò chủ chốt rất quan trọng trong việc hộ niệm, nên cần phải thông hiểu về việc hộ niệm nầy. Sau đây là những điều mà người hộ niệm cần biết:

1. Nên khuyên bảo thân quyến và sắp xếp mọi việc cần thiết trong lúc hộ niệm cho người bệnh hấp hối sắp lâm chung. Tối kỵ nhứt là gây xáo trộn khóc than trong giờ phút nầy. Những ai không dằn lòng được xúc động, thì tốt hơn hết là nên mời họ bước ra ngoài, đừng để bệnh nhơn nghe tiếng khóc than.

2. Thái độ và cung cách, nhứt là lời nói đối với người bệnh phải hiền hòa dịu ngọt, nên khuyến nhắc người bệnh nhớ niệm Phật và cần gợi lại những công hạnh mà người bệnh đã thực hiện.

3. Ngoài việc niệm Phật và khuyến nhắc bệnh nhơn ra, tuyệt đối không được nói lời gì khác, mà gây cho bệnh nhơn không vui dễ mất tín tâm và tán loạn.

4. Tùy trường hợp, hoàn cảnh nơi bệnh nhơn nằm, mà linh động niệm Phật to tiếng hoặc nhỏ tiếng, tốt hơn hết là chỉ niệm Phật cho bệnh nhơn vừa đủ nghe, không nhỏ quá và cũng không nên lớn tiếng quá. Theo kinh nghiệm cho biết, lúc nầy, càng niệm lớn tiếng, bệnh nhơn càng không nghe rõ. Tốt hơn hết, là nên niệm vừa đủ cho bệnh nhơn nghe thôi. Và khi niệm, phải niệm đủ 6 chữ : Nam Mô A Di Đà Phật. Phải niệm chậm rãi và từng chữ cho thật rõ ràng.

5. Phải thay phiên nhau niệm Phật liên tục không cho gián đoạn, cần khuyến khích thân nhân cùng thay phiên nhau niệm Phật. Trong phòng bệnh, ngoài tiếng niệm Phật ra, tuyệt đối phải giữ yên lặng, không được nói chuyện ồn ào làm loạn tâm bệnh nhơn vô ích.

6. Khi người bệnh đã thật sự tắt thở, cứ để như vậy mà chí thành niệm Phật liên tục, không nên sửa làm động đậy bệnh nhơn, ít nhứt là 2 tiếng đồng hồ. Điều nầy rất quan trọng, chúng ta cần phải lưu ý. Vì khi bệnh nhơn mới tắt thở, thần thức chưa rời khỏi xác thân. Nên rất cẩn trọng quan tâm về vấn đề nầy. Còn nhiều chi tiết khác, nhưng ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu ra 6 điều quan trọng mà người hộ niệm cần ghi nhớ trong khi hộ niệm mà thôi.

II. Bệnh nhân.

Người bệnh là yếu nhân chính trong việc quyết định cuộc đời mình. Đây là giờ phút quan trọng để mình quyết định cho sự chọn lựa. Nếu là một liên hữu đã phát nguyện niệm Phật cầu vãng sanh, thì trong lúc bệnh nặng, nên buông bỏ tất cả duyên trần, không bận tâm với bất cứ vấn đề gì, nhứt là đối với việc gia đình nhà cửa con cháu v.v… Không ai thương mình bằng chính mình thương mình. Trước giờ phút phân ly đôi ngã, dù đó là người thân yêu nhứt đời mình, họ cũng không thể nào thay thế được gì cho mình. 

Trong nỗi niềm cô đơn tuyệt vọng, cái chết gần kề với mình, thì thử hỏi mình còn tham đắm luyến tiếc thứ gì nữa chớ! Nghĩ thế, mình nên dốc hết tâm lực còn chút hơi tàn mà quyết lòng niệm Phật cầu sanh Tây phương, theo bản nguyện sanh tiền của mình đã phát nguyện. Nên nhớ đến lời khuyên dạy chí tình chí thiết của Hòa Thượng Thiện Đạo, vị Tổ thứ hai của Liên Tông. Ngài thường khuyên dạy cho những người tu Tịnh độ, niệm Phật như sau: “Người niệm Phật khi sắp mãn phần, muốn được sanh về Tịnh độ, thì điểm cần yếu là đừng sợ chết. Phải thường nghĩ thân nầy nhơ nhớp, biết bao điều khổ lụy trói vây! Nếu bỏ được thân huyễn hôi nhơ, sanh về Cực Lạc thọ thân kim cương thanh tịnh, sẽ thoát khỏi luân hồi khổ thú, hưởng vô sự an vui. Ví như bỏ chiếc áo cũ rách đổi lấy đồ trân phục, còn điều chi đáng thích ý bằng! Nghĩ như thế, buông hẳn thân tâm không còn lo buồn tham luyến. Lúc vừa có bệnh, liền tưởng đến sự vô thường, một lòng niệm Phật chờ chết. Nên dặn thân thuộc chớ lộ vẻ bi thương, cùng bàn việc hay dở trong nhà. Nếu có ai đến thăm, chỉ khuyên nên vì mình niệm Phật, đừng hỏi thăm chi khác…”. 

Đó là chúng tôi trích dẫn một đoạn khuyến nhắc của Ngài, để chúng ta nhớ đến mà hết lòng niệm Phật. Nên biết, Tổ Thiện Đạo là hóa thân của đức Phật A Di Đà. Lời Ngài dạy thật là thiết tha bi mẫn. Đây là lời khuyên chung của Tổ, không nhứt thiết là chỉ có liên hữu không thôi. Nếu ai nghe theo lời khuyên dạy nầy của Ngài, mà thật tâm tha thiết hành trì, dốc lòng niệm Phật, thì cũng được lợi lạc vãng sanh về Cực Lạc. 

Xin tất cả hãy nghĩ đến tương lai sướng hay khổ của đời mình mà tự mình phải cố gắng buông bỏ tất cả, chỉ có một con đường trước mắt là niệm Phật cầu vãng sanh về Cực Lạc mà thôi. Hãy nhớ đến bản nguyện của đức Từ Phụ A Di Đà lúc nào Ngài cũng sẵn sàng chờ đón chúng ta.  Đó là trọng tâm chính yếu mà người bệnh sắp lâm chung cần ghi nhớ thực hành để được lợi lạc cho chính mình.

III. Thân bằng quyến thuộc.

Việc hộ niệm người bệnh được vãng sanh hay không, những người trong thân quyến đóng vai trò không kém phần quan trọng. Nếu thật sự thương thân nhân của mình trong giờ phút quyết định cuộc đời vui hay khổ nầy, y cứ theo lời chư Phật Tổ chỉ dạy, chúng tôi xin thành thật có đôi lời khuyến nhắc chung qua một vài điều thiết yếu sau đây:

1. Phải tỏ thái độ có lòng thương kính từ ái và tuyệt đối không được dùng lời nói mất hòa khí trong gia đình. Tuyệt đối, không nên đem việc nhà ra bàn luận. Nếu để cho người bệnh biết được những sự việc không hay xảy ra, thì sẽ gây tác hại lớn cho việc vãng sanh, vì người bệnh sẽ phiền muộn, tham, sân, si nổi lên dễ sa vào ác đạo như tên bắn.

2. Phải làm và nghe theo sự thức nhắc, sắp xếp của người có trách nhiệm hộ niệm cho thân nhân của mình. Những người nầy, họ vì thân nhân của mình mà hết lòng hộ niệm, nên chúng ta cần tôn trọng những lời chỉ bảo của họ.

3. Không nên kêu khóc lớn tiếng và kể lễ bất cứ điều gì, chỉ một bề niệm Phật. Phải gắng dằn lòng xúc động trong giờ phút nầy. Nên nhớ đây là yếu tố quan trọng mà người mới lâm chung có được vãng sanh hay không, đều tùy thuộc vào thân quyến.

4. Tất cả nên vì người mất mà phải thành tâm niệm Phật, tụng kinh cầu siêu suốt trong thời gian từ khi mất cho đến trải qua 49 ngày.

5. Trong thời gian cư tang, nên tu tạo nhiều phước lành để hồi hướng cho người quá cố sớm được siêu sanh thoát hóa.

Riêng đối với thân hữu bạn bè, chúng ta cũng nên quan tâm lưu ý. Tục ngữ ta có câu: “một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”. Hay “nhứt gia hữu sự bá gia ưu”. Nghĩa là: một nhà có việc trăm nhà đều quan tâm lo lắng giúp đỡ. Vì thế, nên khi hay tin người bạn thân của mình bệnh nặng, thì bạn bè thường hay đến thăm. Đến thăm là vì nghĩ tình thương bạn. Do đó, nếu thật thương người bạn mình trong giờ phút quan trọng nầy, thì chỉ nên hiệp lực cùng với những người khác mà đồng tâm niệm Phật. Nếu không quen niệm, thì chúng ta cũng không nên nói những chuyện gì khác. Vì như thế, chỉ làm cho người bạn của mình đang nằm chờ chết càng thêm rối loạn tinh thần mà thôi, chớ không có ích lợi gì. 

Thế nên, nếu thật sự thương bạn mình, thì chúng ta chỉ nên giữ yên lặng là tốt lắm rồi. Được thế, thì chẳng những người bệnh được lợi ích mà những thân quyến của người bệnh cũng mang ơn chúng ta rất nhiều. Xin tất cả hãy quan tâm cho vấn đề nầy. Đừng vì thói quen tình cảm của mình mà gây tác hại cho người bệnh, đang cần đến sự trợ niệm thiết thực của chúng ta. Nếu không như thế, thì rất tội nghiệp cho người bạn của chúng ta lắm! Họ đang khao khát cần sự giúp đỡ của chúng ta, như người sắp chết đuối mong chúng ta cứu vớt họ vậy. Mong lắm thay!

Thích Phước Thái

Hộ niệm chỉ là trợ duyên

HỎI: Ở quê tôi, một số gia đình khi người thân mất, có mời Ban hộ niệm đến để hộ niệm. Có điều, những người trong Ban hộ niệm bắt buộc phải niệm (A Di Đà Phật) đến khi nào người chết được vãng sanh mới thôi, có khi quá 24 giờ mới được khâm liệm. Tôi muốn hỏi làm sao để biết người chết được vãng sanh để dừng hộ niệm? Để quá lâu như thế mới khâm liệm có ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của mọi người không? (HUỆ QUANG, Bưu điện Ngã Bảy, Hậu Giang)

ĐÁP:

Bạn Huệ Quang thân mến!

Hộ niệm trước, trong và sau khi lâm chung có tác dụng trợ duyên rất tốt cho người chết. Nếu người chết lúc sanh tiền đã có công phu tu niệm sâu dày, trợ niệm sẽ giúp họ giữ được chánh niệm, tùy thuận vãng sanh. Còn nếu người chết có gieo chút duyên tu niệm hoặc chưa tu niệm ngày nào thì cũng nhờ năng lực trợ niệm mà có thể chuyển hóa cận tử nghiệp theo hướng thiện lành. Vì thế, những ai được Ban hộ niệm đến trợ duyên thì thật có phước.

Tuy nhiên, theo tinh thần Chánh pháp, hộ niệm dù đông đảo, thiết tha và chí thành đến mấy cũng chỉ có tính trợ duyên mà không mang tính quyết định trong việc vãng sanh của người chết. Vãng sanh (hoặc sanh về cõi lành) hay không là do duyên nghiệp của người chết tự quyết định. Ban hộ niệm, thậm chí ngay cả Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng Cực lạc cũng không thể giúp người chết vãng sanh nếu nghiệp lực, chấp thủ của họ quá nặng nề. Điều này, chúng ta có thể thấy rõ, trong thời Phật Thích Ca tại thế, một số người vô duyên thì Ngài cũng không thể cứu độ.

Đối với vấn đề người chết sẽ sanh về đâu, trừ các bậc lậu tận A-la-hán thành tựu Thiên nhãn minh trở lên mới có thể biết chính xác, còn người phàm như chúng ta không ai đủ khả năng để biết được điều này. Dù rằng, một số dấu hiệu lưu lại trên thân xác có thể dự đoán người chết sẽ sanh về cõi lành hay dữ (1-Nóng sau cùng ở đỉnh đầu, sanh về cõi Thánh. 2-Nóng sau cùng ở vùng trán, sanh vào cõi trời. 3-Nóng sau cùng ở ngực, sanh vào cõi người. 4-Nóng sau cùng ở bụng, sanh vào ngạ quỷ. 5-Nóng sau cùng ở đầu gối, sanh vào súc sanh. 6-Nóng sau cùng ở lòng bàn chân, sanh vào địa ngục) nhưng điều đó chỉ có tính tương đối mà thôi.

Điều cần hết sức lưu ý là theo nghiên cứu của y khoa, sau khi chết chừng vài giờ thì thân xác bắt đầu đông cứng, co quắp lại. Nhưng khi sự co cứng đã đạt đến đỉnh điểm, trung bình khoảng từ 15 đến 20 giờ trở đi (có khi từ 2 đến 3 ngày) thì xác chết dần mềm tươi trở lại để bắt đầu quá trình phân hủy. Như vậy, việc thân thể từ tím tái và co quắp sau một thời gian chuyển thành “mềm mại, tươi nhuận hơn” là sự chuyển biến bình thường của mọi xác chết, dù có được hộ niệm hay không thì tiến trình này vẫn xảy ra. Nếu những ai xem sự biến chuyển tự nhiên đó là kết quả nhiệm mầu của quá trình hộ niệm rồi “vỗ tay chúc mừng bạn đã vãng sanh” là một nhầm lẫn vô cùng nghiêm trọng, cần nhanh chóng sửa sai và khắc phục.

Do đó, việc “Ban hộ niệm bắt buộc phải niệm đến khi nào người chết được vãng sanh mới thôi” là điều hoàn toàn không đúng và không nên. Nếu Ban hộ niệm tự tin vào năng lực tiếp dẫn của mình một cách thái quá, cứ khăng khăng bảo vệ quan điểm của mình thì chắc chắn rơi vào tà kiến, chấp thủ sai lạc. Vì như đã nói, vãng sanh hay không tùy thuộc vào nhiều nghiệp duyên của người chết. Chúng ta nỗ lực hết mình hộ niệm chỉ nhằm trợ duyên cho họ được chừng nào hay chừng nấy mà thôi.

Nên thiết nghĩ, việc hộ niệm thì rất cần, nhưng hộ niệm trong khoảng 8 đến 10 giờ sau khi mất là lý tưởng nhất. Đây là khoảng thời gian cần thiết để thần thức lưu xuất ra khỏi xác thân nên rất cần được bảo hộ. Mặt khác, sau khoảng thời gian này (có thể thêm vài giờ nữa) thì tiến trình phân hủy sẽ bắt đầu. Nếu không khâm liệm kịp thời sẽ ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường cũng như an toàn sức khỏe cho thân nhân và cộng đồng.

Người học Phật cần nêu cao tinh thần Chánh kiến, tin sâu Nhân quả-Nghiệp báo, “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”, quyết không rơi vào tà kiến và chấp thủ sai lạc.

Chúc bạn tinh tấn!

THIỀN VÀ TỊNH ĐỘ KHÁC NHAU?

Con xin được hỏi: Năm nay con 26 tuổi. Con có một số thắc mắc về phương pháp tu tập:

1. Sau khi đọc cuốn “Thiền Tông và Tịnh Độ Tông” của Hòa Thượng Thích Thanh Từ và “Thiền Tịnh Song Tu” của Ni trưởng Như Thanh, con đã quyết định thực tập niệm Phật và tu tập Thiền song song với nhau, vì con thấy sự kết hợp này rất phù hợp với con. Nhưng con không biết rằng tu tập như vậy có được không? Con muốn dung hòa tự lực và tha lực chứ không nghiêng về một bên. Kính mong quý thầy quý sư cô hướng dẫn giúp con một đường đi cụ thể hơn?

2. Người sơ cơ như con liệu có thể thực hành thiền Minh sát được không? Có cần một nền tảng nào không? Ví dụ như thiền chỉ samatha hay các thế khí công,… Khi ngồi kiết già con thấy tâm dễ yên hơn là bán già, nhưng bàn chân trái của con lại tím dần, vì con mới tập ngồi kiết già và chân con rất cứng, không dẻo, con có ngồi sai không? Khi thiền hành thì đi trong nhà có được không (vì ngoài đường bụi và ồn ào)? Thời gian thiền hành có nhất thiết phải bằng thời gian ngồi thiền không? Làm thế nào để duy trì  nhẫn nại?

3. “Tượng pháp” và “Mạt pháp” là gì? Tại sao mỗi thời kỳ lại có sự sai khác về pháp môn tu tập để đạt được giải thoát? Thời mạt pháp cũng có chánh pháp, tại sao không được gọi là thời chánh pháp?

4. Hiện con rất khó xử, vì tuy con đã ăn chay trường nhưng tháng 9 này con lại sang UK học và ở homestay nên hoang mang không biết liệu chủ nhà có cho mình ăn chay không, ra ngoài ăn thì có đồ chay nhưng làm sao đủ tiền ăn nhà hàng? Con phải làm sao đây? Phải nói với họ như thế nào?


Thầy Từ Thông xin được chia sẻ cùng bạn:

1. Thiền hay Tịnh đều là pháp môn của Phật giáo. Nếu theo đúng chân tinh thân đạo Bụt, hai pháp môn này không bao giờ chống trái nhau, bởi nó được sinh ra từ một cội gốc: tuệ giác của đức Thế Tôn. Và do đó, nó cũng có cùng chung đích: tuệ giác giải thoát. Theo lời Bụt dạy, muốn đạt được tuệ giác giải thoát thì phải thành tựu cho được chánh định, mà con đường duy nhất đưa tới chánh định đó là niệm (niệm, định, tuệ), chánh niệm. Khi các thiền sinh thực tập theo pháp môn Làng Mai thì lấy hơi thở, bước chân, mọi động thái sinh hoạt suốt hai mươi bốn giờ làm đối tượng của chánh niệm để làm duyên cho chánh định có mặt và lớn lên theo thời gian công phu thực tập. Nhưng người thực tập pháp môn Tịnh độ thì dùng danh hiệu Bụt để làm đối tượng của chánh niệm nhằm đạt đến đích điểm là “nhất tâm bất loạn”, mà nhất tâm bất loạn cũng chính là chánh định. Cho nên thực tập chánh niệm với đối tượng nào cũng được, miễn là mình có được chánh định và càng thực tập mình càng có nhiều tuệ giác, cái thấy mỗi ngày mỗi sâu sắc và sáng suốt hơn, định tĩnh hơn. Và một điều quan trọng nữa là trong khi thực tập, mình phải cảm thấy thoải mái, an lạc chứ không bị gò ép, khó chịu từ tâm lý và vật lý mình. Ngày xưa, Bụt đã dạy như thế với các thanh niên Kalama, hãy đọc lại “Đường xưa mây trắng” chương “Đừng vội tin cũng đừng vội bài bác”.

Tuy nhiên, theo pháp môn Sư Ông Làng Mai dạy thì Thiền và Tịnh là một, các thiền sinh đến thực tập tại Làng Mai, tăng thân cũng đang thực tập tịnh độ, nhưng là thứ tịnh độ hiện tiền, tịnh độ có mặt ngay trong giờ phút hiện tại. Nghĩa là, trong luồng ánh sáng của chánh niệm, hành giả nhận diện được những gì đang xảy ra trong mình và quanh mình đều rất mầu nhiệm và đẹp không thua gì những sự kiện được diễn tả trong kinh. Hơn nữa, một mục đích quan trọng mà kinh A-di-đà đưa ra để trả lời “tại sao cần phải phát nguyện sinh về nước Cực lạc?” thì đó là vì ở đó mình “sẽ được sống chung và gần gũi với các bậc “thiện nhân cao đức” (舍利弗!眾生聞者,應當發願,願生彼國。所以者何?得與如是諸上善人俱會一處。Xá-lợi-phất, chúng sinh văn giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ. Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như thị chư thượng thiện nhơn câu hội nhất xứ (366 - tạng kinh Đại Chánh tân tu).

Như thế, bây giờ thử xét lại, ở ngay đời này mình có được cùng các thượng thiện nhơn tu học không? Thượng thiện nhơn là ai? Mình tiếp xúc, học hỏi, tu tập với ai mà tâm bồ đề, niềm vui, hạnh phúc an lạc trong cuộc sống mình được nuôi dưỡng và năng lượng tu học của mình được nâng cao mãi, thì mình biết ‘đây chính là thượng thiện nhân’ rồi. Và nếu ngay thế giới này mà mình có thể có được thượng thiện nhân thì tại sao đây không phải là Tịnh độ? Đây là Tịnh độ, Tịnh độ là đây (Tây thiên thử độ, thử độ Tây thiên), các vị Tổ sư ngày xưa đã dạy như thế. Xin hãy tìm đọc thêm ở sách “Thiết lập tịnh độ” và sách “Thông điệp tình huynh đệ” của Sư Ông để rõ thêm.

2. Trước hết, xin lỗi bạn là vì truyền thống thiền tập Làng Mai không phải là thuyền thống thiền Minh sát, cho nên các thầy, các sư cô không trả lời được cho bạn.

Còn thế ngồi kiết già hay bán già, thì bạn cảm nhận như vậy cũng rất gần với cảm nhận của nhiều thầy và sư cô tu tập lâu năm. Nếu vì ngồi lâu nên bị bầm tím thì phải xoa bóp ngay những nơi bị tê, máu ít lưu thông đến trong khi mình ngồi thiền. Khi tập ngồi thiền, mình không nên quá ép cơ thể mình (cố nhiên là phải có cố gắng rồi), mà nên thoải mái cơ thể một chút, nếu chân mình đau quá rồi thì nên đổi chân hoặc xả chân ra, hoặc xả thiền ngồi và tiếp tục thiền tập bằng đi kinh hành hoặc thiền hành ngoài trời. Còn về thực tập thiền hành thì tùy theo hoàn cảnh mình cho phép mà mình thực tập. Tuy nhiên, phép thực tập thiền hành nếu được thực tập trong một khung cảnh thoáng mát, có nhiều cây xanh, không khí trong lành thì rất lý tưởng. Nhưng nếu hoàn cảnh mình không được như vậy không phải là mình không thể thực tập thiền hành. Ngày xưa, khi mới viết “Thiền Hành Yếu Chỉ” Sư ông Làng Mai đã nhờ người gởi cho một người học trò đang ở trong tù (VN) một bản chép tay, và người học trò đó thực tập rất thành công ngay trong khung cảnh tù đày, rất chật chội và ồn ào (người học trò đó là cố Ni sư Thích nữ Trí Hải, đã tịch năm 2003). Phép thực tập thiền hành đã đem lại cho sư cô đó (hồi đó chưa gọi là Ni sư) những tháng ngày hạnh phúc, an lạc ngay trong tù. Mình chắc chắn bạn đang còn nhiều tự do hơn sư cô đó lắm. Vậy tại sao bạn không thành công! Còn thời gian thực tập không nhất thiết là bao nhiêu hết, hễ lúc vào được thì thực tập liền. Nhưng thiền hành đâu phải chỉ có một số thời gian quy định đâu, theo tinh thần Làng Mai, phép thiền hành phải được đem áp dụng khắp nơi, hễ lúc nào cất bước đi là đi trong chánh niệm (thiền hành), dù dưới tàu điện ngầm, trong siêu thị, ngoài chợ, từ bến xe buýt về nhà, lên xuống cầu thang... đều nên áp dụng phép thiền hành. Có nắm được, làm chủ được bước chân thì mới mong nắm được, làm chủ được tâm mình. Không làm chủ được tâm thì sức mấy làm chủ được mình trong đời sống hàng ngày!

Độ nhẫn nại của mỗi người tùy thuộc vào độ cao của lý tưởng. Lý tưởng càng cao thì mới thúc đẩy được độ nhẫn nại cao. Mà muốn lý tưởng cao thì phải biết học hỏi và tu tập cho có niềm vui và lợi lạc từ sự chuyển hóa thân tâm thật sự.

3. Câu hỏi này cũng hay, nhưng chúng tôi thấy báo Văn Hóa Phật Giáo trả lời những câu hỏi thuộc loại này rất hay, bạn hãy gởi cho VHPG đi. Cảm ơn bạn.

4. Mình đã thực tập ăn chay và đã thấy được lợi ích từ ăn chay từ con đường ăn uống mà mình đang đi thì chắc chắn mình phải biết tìm cách để bảo vệ con đường ấy. Bây giờ đã tháng 10 rồi, chắc là bạn đã sang UK rồi, nhưng không biết là chủ nhà có tạo điều kiện cho bạn không. Xin gợi ý cho bạn mấy cách giải quyết: bạn có thể tự đi chợ nấu ăn riêng trong nhà không? Đó cũng là một cách. Hai, là tìm một tiệm ăn chay rẻ tiền để đăng ký cơm tháng như ở Việt Nam! Ba, tìm một chỗ ở khác, có thể tìm chung với một vài người bạn khác. Bốn, bạn cũng tiếp tục ở đấy và ăn đấy nhưng mình tìm cách, trong bữa ăn mình hạn chế tối đa ăn thịt động vật thôi, và mình thưa với chủ nhà như vậy cho chủ nhà và nhà bếp biết, thì có thể họ sẽ cho mình thêm một món rau quả/củ gì đó. Ngày xưa, khi Tổ Huệ Năng còn lánh nạn, ở chung với một nhóm người trong rừng, thì Ngài không ăn thịt, nhưng rau quả nấu chung trong nồi thì Ngài cũng ăn, vì đó là thời gian tạm thời. Mình bây giờ cũng vậy, thời gian ở nhà đó để đi học thì chắc cũng là thời gian tạm thôi, mình có thể phương tiện cho qua thời gian này, nếu trường hợp bất đắc dĩ. Chúc bạn sống vui và khỏe những tháng ngày ở UK.
(Làng Mai)

Ý NGHĨA CHƠN TÂM VÀ BẢN TÁNH NHƯ THẾ NÀO?

Thích Phước Thái

Hỏi: Kính thưa thầy, con có một thắc mắc về chơn tâm và bản tánh. Sao gọi là chơn tâm? Sao gọi là bản tánh? Vậy giữa chơn tâm và bản tánh giống nhau hay khác nhau? Con hay nghe cái tánh Phật của mọi người nó bất sanh bất diệt, thế nào là bất sanh bất diệt?

Đáp: Giữa chơn tâm và bản tánh tuy hai danh từ có khác nhưng ý nghĩa thì không khác. Nói chơn tâm là đối với vọng tâm mà nói. Chơn là chơn thật không biến đổi đó là nghĩa thường hằng bất sanh bất diệt. Tâm là biết, cái biết nầy nó lặng lẽ trong sáng không bị ngoại cảnh chi phối. Nếu trong lúc ngồi thiền, khi tâm chúng ta chưa dấy động khởi nghĩ bất cứ thứ gì, mà lúc đó chúng ta vẫn có cái biết sáng suốt hiện tiền, chính đó mới là cái biết chơn thật. Trong Kinh thường gọi cái “biết” nầy là chơn tâm. Còn khi chúng ta khởi niệm nghĩ đến chuyện lành dữ, phải trái, hơn thua v.v… thì cái biết đó trong kinh gọi là vọng tâm. Nghĩa là cái biết duyên theo trần cảnh đối đãi mà có. Kinh Viên Giác nói: “Cái tâm nầy nó do duyên theo bóng dáng sáu trần, mà có ra cái tướng tự tâm”. Nên nói nó là vọng tưởng. Chính nó do duyên sanh, nên bản chất của nó là không thật. Vì không thật, cho nên nó khởi sanh, khởi diệt, chợt có, chợt không, sanh diệt biến đổi liên miên không dừng.

Còn nói bản tánh là vì cái tánh “Biết” nó sẵn có từ hồi nào đến giờ. Trong kinh gọi là Phật tánh hay chơn như. Bản tánh là tên khác của Phật tri kiến hay Viên giác v.v… Thí như trong quặng nhơ sẵn có chất vàng ròng trong đó. Đứng về mặt bản thể của sự vật, thì nói là bản tánh. Thí như nước và sóng, nếu đứng về mặt bản thể, thì người ta gọi là nước. Nhưng nếu đứng về mặt hiện tượng thì người ta gọi là sóng. Như vậy, sóng và nước không thể ly khai ra mà có. Chính trong lúc sóng nổi lên, thì nó mang sẵn chất nước tiềm tàng ở trong sóng. Nếu không có nước thì làm gì có sóng? Nhưng nói sóng là nước thì không đúng.

Cũng thế, khi phiền não (dụ cho sóng) dấy khởi thì nó che phủ mờ tánh giác sẵn có. Ngay khi phiền não dấy lên, thì mình không thể nói phiền não là chơn tâm hay bản tánh được. Nhưng bản tánh cũng không rời phiền não mà có. Như nước trong không rời lìa nước đục mà có. Muốn có nước trong cần phải lóng. Lóng có nghĩa là tu, tu là chuyển hóa những thứ phiền não nhiễm ô, để cho tâm ta được thanh tịnh sáng suốt. Hai thực thể nầy không thể ly khai mà có. Đây là lý “Bất Nhị” hay pháp môn “Không Hai” của Kinh Duy Ma Cật đã nói. Và đây cũng chính là yếu lý “Tương Tức Tương Nhập, hay Lý Sự vô ngại” của hệ tư tưởng giáo lý trong Kinh Hoa Nghiêm. Vì thế, nên nói một là sai, mà nói hai thì không đúng.

Thí dụ như lúc mình nổi giận, thì cái tánh không giận nó tiềm tàng sẵn có trong cái phiền não giận. Giận là hiện tượng dấy khởi từ bản thể. Bản thể vốn vắng lặng. Vì nó sẵn có nên khi hết giận thì cái tánh không giận ( trước khi nổi giận ) nó trở lại với cái tánh không giận. Sở dĩ giận là vì tại mình không khéo gìn giữ ở nơi cái tánh không giận, nên để cho tập khí giận nổi lên.

Nói giận là để tiêu biểu cho tất cả những thứ phiền não khác. Giận là vì nó gặp nghịch cảnh cho nên khởi giận. Cũng như nước vốn không phải sóng, nhưng vì gặp gió thổi nên nước mới nổi sóng. Khi sóng dừng lại thì tánh nước sẽ hiện bày trở lại như cũ, nghĩa là như cái lúc mà nước chưa khởi thành sóng. Cho nên trong kinh nói: “Phiền não tức Bồ đề, sanh tử tức Niết bàn” là ý đó. Sóng thì khi có, khi không, nhưng nước thì lúc nào cũng vẫn có. Nước là dụ cho bản tánh hay chơn tâm, còn sóng là dụ cho vô minh hay phiền não. Muốn hết phiền não thì phải dừng vô minh. Muốn không có sóng thì gió phải dừng lại.

Đó là ý nghĩa của sự tu hành là diệt trừ phiền não. Tham thiền, niệm Phật, tụng kinh, hay trì chú v.v… vô lượng pháp môn Phật dạy cũng nhắm thẳng vào một mục đích duy nhất đó. Nói rõ hơn là Phật muốn cho chúng sanh nhận và hằng sống lại với cái thể tánh chơn thật sáng suốt hằng hữu bất sanh bất diệt sẵn có của chính mình. Sở dĩ nói bất sanh bất diệt là vì cái thực thể nầy vốn nó không có hình tướng, giống như hư không. Hư không thì không có sanh có diệt. Tuy nhiên, hư không thì vô tri, nhưng tánh giác thì hằng tri hằng giác. Khác nhau là ở chỗ đó. Thế nên, Kinh Bát Nhã nói: “Thị chư pháp Không Tướng, bất sanh, bất diệt” v.v… Tướng của các pháp thì giả có, nhưng tánh của các pháp thì không. Nhưng cái “Tánh Không” nầy, xin chớ vội lầm hiểu là không trơn như lông rùa sừng thỏ. Mà cái “Không” nầy là cái “Không Chơn Thật” của vạn pháp.

Đứng về mặt tu hành mà nói, thì cái chánh nhân Phật tánh tuy sẵn có, nhưng vì bị vô minh phiền não che lấp, nên có đó mà cũng như không. Đây là nghĩa Như Lai tại triền ( tánh giác còn bị các thứ phiền não trói buộc ). Khi nào hành giả nỗ lực gia công tu hành chuyển hóa hết vô minh phiền não, thì cái thể tánh thanh tịnh sáng suốt kia mới hiện bày. Đây là nghĩa Như Lai xuất triền ( tánh giác ra khỏi phiền não nhiễm ô ràng buộc ). Cũng thí như mây tan, thì trăng hiện, chỉ cần vẹt tan mây mù vô minh, thì ánh trăng Chơn Như sẽ hiện bày.

TÂM Ở ĐÂU?

CÂU HỎI: Chúng tôi được đọc sách của một vị Thiền sư. Vị này nói rằng “tâm không thể ở ngoài não, tâm cũng không thể ở trong trái tim mà tâm thực sự ở trong não….tâm bị nhốt trong cơ chế não”. Và "Cơ chế Tánh Giác (Phật tánh - Buddha nature) nằm sau bán cầu não trái" (Đồ Thị dẫn giải Thiền – Dẫn Giải pháp Thiền trong quyển Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ Hai Mươi Tập 1). Vì vậy, xin quý độc giả cao minh và ban biên tập hoan hỷ giải thích cho chúng tôi hiểu rõ, chiếu theo lời Phật và chư Tổ thì Tâm ở đâu?

Nguyễn Văn Hòa Bình


Lời Ban Biên Tập: Câu hỏi này (Tâm ở đâu?) thường hay được hỏi ở nhiều đạo tràng và trong các buổi thuyết pháp của quý thầy tại các chùa. Ban biên tập chúng tôi không đưa ra câu trả lời mà ghi chép lại nơi đây lời giải đáp của chư Tôn Thiền Đức đã giảng giải cho quý Phật Tử: (1) Thượng Tọa Thích Phước Thái, (2) Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, (3) Bác sĩ Sam Parnia, và (4) Hòa thượng Giới Đức Minh Đức Triều Tâm Ảnh.

TRẢ LỜI CỦA TT. THÍCH PHƯỚC THÁI,
TRỤ TRÌ CHÙA QUANG MINH, AUSTRLIA

Hỏi: Kính bạch thầy, trong lúc chúng con bàn bạc nói về tâm, thì một bà bạn hỏi con, chị nói tâm mà chị có biết tâm ở đâu không? Con đành ngậm miệng nín thinh không biết phải trả lời ra sao. Vậy kính xin thầy giải đáp cho chúng con được rõ.

Đáp: Phật tử nín thinh không trả lời cũng phải. Bởi vì ngay câu hỏi của bà bạn đó đã sai rồi. Nếu Phật tử có trả lời thì Phật tử cũng sai luôn. Thí như có người hỏi Phật tử: không khí ở đâu? Hỏi thế, thì Phật tử làm sao trả lời. Biết không khí ở đâu mà trả lời. Tâm của chúng ta cũng giống như không khí. Nói giống là vì không khí, không có hình tướng chỗ nơi. Nó bàng bạc trùm khắp tất cả. Tâm ta cũng thế. Nhưng tâm có khác hơn không khí là ở chỗ không khí thì vô tri, nhưng tâm lại là hữu tri, nghĩa là có cái “Biết” rõ ràng.

Chính vì cái biết không hình tướng, nên nó không có chỗ nơi cố định. Nhưng, người hỏi thì muốn biết chỗ trú ngụ của nó, cũng như muốn biết chỗ trú ngụ của không khí. Mà tâm hay không khí làm gì có nơi chốn để trú ngụ. Tuy nhiên, đứng về mặt học thuật trao đổi tìm hiểu, thì chúng tôi cũng xin tạm giải thích đôi điều. Kỳ thật, thì câu hỏi đó đã sai rồi. Nếu đặt câu hỏi: thế nào là tâm vọng? và thế nào là tâm chơn? Hỏi như thế, thì chúng ta còn có thể dễ trao đổi bàn bạc với nhau hơn.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, Tôn giả A nan đã hỏi Phật bảy lần về chỗ trú ngụ nơi chốn của tâm, tất cả đều bị Phật bác hết. Vì Ngài A nan cũng muốn biết cái tâm nó ở chỗ nào. Nên bảy lần Ngài nêu ra bảy nơi: “Tâm ở trong thân, ở ngoài thân, tâm ẩn trong con mắt, trở lại cho tâm ở trong thân, tâm tùy chỗ hòa hợp, tâm ở chính giữa, cuối cùng, Ngài cho chỗ không dính mắc đó là tâm. Cứ mỗi lần Ngài nêu ra mỗi nơi, tất cả đều bị Phật bác hết”. Sau đó, Ngài hốt hoảng kinh sợ không lẽ mình không có tâm. Mà nếu không có tâm thì làm sao biết tu hành thành Phật? Đó là chỗ hoang mang thật khó hiểu. ( Nên nhớ, Ngài A nan chỉ là đại diện cho chúng sanh để thưa hỏi thôi, chớ không phải Ngài dốt nát như chúng ta ).

Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh, chuyên thuyết minh giải bày cặn kẽ về chân tâm và vọng tâm. Muốn biết chân tâm, thì chỉ cần hết vọng thì chân hiện. Thí như vẹt hết mây mù thì ánh trăng sáng hiện ra. Như vậy, tu hành ta không cần phải tìm cầu chân tâm, vì có ý niệm tìm cầu là đã sai rồi. Ngài Tú Tài Trương Chuyết nói: “Đoạn trừ phiền não trùng tăng bệnh, thú hướng chân như tổng thị tà” . Nghĩa là, có ý niệm đoạn trừ phiền não, thì đó là càng thêm bệnh. Vì phiền não tự tánh vốn không. Đã không, thì đoạn trừ cái gì? Chính cái ý niệm khởi lên muốn đoạn trừ, đó là bệnh rồi. Còn có khởi ý niệm tìm cầu chân như thì đó cũng là tà ngoại. Vì sao? Vì tánh giác không phải là đối tượng để mong cầu. Vừa khởi ý niệm là đã trái với tánh giác rồi. Như vậy, chơn tâm là một thực thể thanh tịnh sáng suốt hằng hữu. Vì nó vốn không có hình tướng, giống như hư không, nên bất sanh bất diệt… Một thực thể trùm khắp pháp giới như vậy, thì làm gì có chỗ nơi mà tìm cầu. Tuy nhiên, tâm vọng khi dấy khởi thì nó có bóng dáng hình tướng. Đó là do vì, nó duyên với sáu trần mà có ra hình bóng, rồi chúng ta lại lầm chấp những cái bóng dáng đó cho là tâm thật của chính mình. Còn cái thể chơn tâm vắng lặng rỗng suốt hằng hữu thì chúng ta lại quên mất. Do đó, nên Phật thường quở trách chúng ta là những kẽ si mê tăm tối. Chúng ta vọng nhận cái tâm giả dối dấy lên từng chập, từng hồi, thì lại cho đó là tâm mình. Vì vọng chấp như thế, nên chúng ta mới theo nó mà tạo nghiệp luân hồi thọ khổ.

Nói rõ hơn, cùng là cái thấy biết, nhưng nó có hai phương diện, giống như đồng tiền cắc có hai mặt ( tạm dụ như thế): cái biết do theo cảnh phân biệt thương ghét, phải trái, tốt xấu, hay dở v.v… thì đó là cái biết vọng. Còn cái biết mà không theo vọng duyên phân biệt, nhưng vẫn thường hằng chiếu liễu, thì gọi đó là cái biết chơn, tức vô phân biệt. Kinh Lăng Nghiêm có đoạn Phật dạy Tôn giả A nan: “Nhược ly tiền trần hữu phân biệt tánh, tức chơn nhữ tâm”. Nghĩa là, nếu rời cảnh vật hiện tiền, mà cái “suy nghĩ phân biệt” nầy vẫn còn, thì mới thật là chơn tâm của ông. Trong kinh thường gọi là chơn tâm hay chơn như. Tuy biết mà không có bóng dáng hình tướng, tự thể làu làu trong sáng vắng lặng vậy.

Cái biết nầy khác hơn cái biết vọng là ở chỗ phân biệt và vô phân biệt. Tuy nhiên, ta nên lưu ý, nó không phải là hai thực thể riêng biệt. Nói một là sai mà nói hai thì không đúng. Như sóng và nước không thể tách rời ra. Nhưng khi sóng nổi lên, thì ta không thể nói sóng là nước. Nhưng khi sóng lặng thì toàn thể tánh nước hiện bày. Cũng thế, khi cái biết dấy khởi lên phân biệt cảnh duyên, thì nó là hiện tượng giả dối, tạm gọi nó là vọng tâm. Cái biết nầy giống như hiện tượng của sóng. Khi cái biết nầy lặng xuống, thì cái biết “không phân biệt” nói gọn là “Tánh không”, toàn thể hiện bày. Như sóng tan thì nước hiện, mây tan thì trăng hiện. Vì thế, trong kinh thường nói: “phiền não tức Bồ đề, hay sanh tử tức Niết bàn” chính là ý nầy. Một thực thể không hình, không tướng, không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch v.v… nghĩa là vượt ra ngoài đối đãi nhị nguyên như thế, thì làm gì có nơi chốn mà hỏi tâm ở đâu. (Trích: 100 Câu Hỏi Phật Pháp Tập 2)

THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH
Làng Mai ,Pháp Quốc


Khi quá bận rộn, hoặc quá căng thẳng về một vấn đề nào đó, chúng ta thường hay nói rằng chúng ta “đánh mất tâm.” Nhưng trước khi mất tâm thì tâm ở đâu và nó đã đi đâu? Trong Kinh Lăng Nghiêm (Surangama), một Kinh rất phổ biến của đạo Bụt ở Việt Nam và Trung Quốc, kể lại rằng Đức Bụt và đệ tử của Bụt là ngài A Nan có trao đổi cách làm thế nào để xác định vị trí của tâm. Tâm nằm bên trong thân thể hay bên ngoài thân thể, hay tâm nằm ở giữa thân thể và thế giới bên ngoài? Cơ bản, Kinh dạy chúng ta tâm là vô trụ. Nói cách khác, chúng ta không thể nói tâm nằm bên trong thân thể, cũng không thể nói tâm nằm bên ngoài thân thể, mà cũng không thể nói tâm nằm ở giữa thân thể và thế giới bên ngoài. Tâm không có một vị trí cố định.

Không những chỉ có tâm không có vị trí mà mọi thứ đều như thế cả. Sáng nay tôi nhặt một chiếc lá xanh. Chiếc lá này nằm bên trong hay bên ngoài tâm tôi? Đó là vấn đề. Câu hỏi tuy rất đơn giản nhưng lại khó trả lời. Chúng ta không thể lấy khái niệm về trong và ngoài để áp dụng vào thực tại.

Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng tâm thì ở đây và thế giới thì ở ngoài kia; tâm là chủ thể còn thế giới và thân thể là đối tượng. Bụt dạy rằng tâm và đối tượng của tâm không thể tồn tại biệt lập ngoài nhau mà chúng tương tức với nhau. Không có cái này thì cái kia cũng không thể có được. Sẽ không có chủ thể nhận thức nếu không có đối tượng nhận thức. Chủ thể và đối tượng nương nhau mà biểu hiện. Thông thường khi nghĩ về tâm chúng ta chỉ nghĩ về ý thức. Nhưng tâm không phải chỉ có ý thức thôi mà nó bao gồm cả mạt na thức và tàng thức nữa.

Chúng ta có thể tập luyện để xem thân thể chúng ta như một dòng sông, và tâm chúng ta là một phần của dòng sông ấy, luôn luôn trôi chảy, luôn luôn biến đổi. Theo tâm lý học Phật giáo thì chướng ngại lớn nhất ngăn cản chúng ta, không cho chúng ta nhìn rõ thực tại là khuynh hướng bị kẹt vào khái niệm chủ thể là một cái gì đó khác hẳn với đối tượng, và đối tượng là một cái gì đó tồn tại độc lập ngoài chủ thể. Cách nhìn này đã trở thành một tập khí, một khuôn mẫu ảnh hưởng đến suy nghĩ và cách hành xử của chúng ta.

Khi còn là một sa di trẻ, chúng tôi được học rằng thức có ba phần. Trong đó hai phần đầu là kiến phần, darshana, tức chủ thể nhận thức; và tướng phần, nimitta, là đối tượng được nhận thức. Chủ thể và đối tượng nương vào nhau mà biểu hiện. Tin rằng có chủ thể mà không cần có đối tượng thì đó là một sai lầm căn bản. Vậy mà chúng ta hay có khuynh hướng tin rằng chủ thể nhận thức - tâm chúng ta - có thể tồn tại biệt lập, tách rời với đối tượng nhận thức; và đối tượng nhận thức tồn tại biệt lập, nằm ngoài chủ thể nhận thức.

Trong đạo Bụt có danh từ nāmarūpa, tương đương với thân tâm (psychosoma). Nāma là tâm, rūpa là thân. Thực tại được biểu hiện qua hai mặt thân và tâm, tâm lý và sinh lý. Cái này không thể có được nếu không có cái kia. Cái này không thì cái kia cũng không. Não và tâm là hai mặt của cùng một thực tại. Vì vậy chúng ta phải luyện tập để thấy được não là thức, não tương tức với thức mà đừng xem chúng như là hai đối tượng hoàn toàn tách rời và khác biệt nhau.

Khi mời một ngọn lửa biểu hiện, chúng ta có thể nghĩ rằng ngọn lửa hoàn toàn khác với que diêm. Nhưng chúng ta biết rằng ngọn lửa có mặt khắp nơi, ngọn lửa có mặt trong que diêm, có mặt trong ôxy, trong không khí. Ngọn lửa không có vị trí đích thực. Khi điều kiện đầy đủ thì ngọn lửa biểu hiện. Bản chất của thức cũng thế, cũng không có vị trí. Chúng ta biết rằng ý thức luôn luôn phải là ý thức về một cái gì đó. Đối tượng và chủ thể luôn luôn có mặt cùng một lúc. Nhìn vào phần này chúng ta sẽ thấy được phần kia. Nhìn vào phần kia chúng ta sẽ thấy được phần này. Đó là tương tức. Cái này có trong cái kia.

Tàng Kinh Các - langmai.org

--------

Tâm là gì? Trong chúng ta chắc có nhiều người đã từng được nghe giai thoại Thiền học liên quan đến câu chuyện "an tâm" giữa Bồ Đề Đạt Ma và Tổ Huệ Khả. Khi Tổ Huệ Khả thỉnh cầu Bồ Đề Đạt Ma, “Xin Thầy an tâm cho con.” Bồ Đề Đạt Ma bảo, “Ngươi đem tâm của ngươi ra đây để ta an cho.” Tổ Huệ Khả bối rối, “Nhưng con không thể tìm ra nó.” Bồ Đề Đạt Ma cười bảo, “Thì ta đã an tâm cho ngươi rồi đó.”

Sự bối rối của Tổ Huệ Khả cũng là sự bối rối của tất cả chúng ta. Cho đến nay Tâm vẫn là một khái niệm trừu tượng. Có tâm hay không? Nếu có, tâm nằm ở đâu trong mỗi con người? Phải chăng tâm chính là thần thức, một danh từ mà Phật giáo Tây Tạng thường hay dùng để chỉ một cái gì đó như là một chủng tử -tích lũy tất cả nghiệp quả của một cá nhân- sẽ rời bỏ xác thân khi ta chết để đầu thai hay đi về một cảnh giới khác?

Những câu hỏi này không phải chỉ được đặt ra cho những người Phật tử mà còn cho cả giới khoa học nói chung. Dưới mắt nhìn khoa học, cái tâm này nếu hiện hữu tất phải nương tựa vào thân xác để tồn tại. Trong con người, não bộ là bộ phận chủ quản của ý thức, của tư duy, thế nên cái tâm này nếu có, não bộ phải là ngôi nhà lý tưởng để tâm trú ngụ, hay nóimột cách khác hơn, tâm chỉ là sự nối dài của não bộ. Trên căn bản của cái nhìn này, khi ta chết, não bộ ngưng hoạt động, cái tâm này cũng phải biến mất theo.

Cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa tâm và thân, như thế, đã kéo dài từ bao thế kỷ qua. Sam Parnia, Bác sĩ chuyên khoa hồi sinh, Giám đốc Dự án “Human Consciousness Project” và là tác giả cuốn “Chuyện Gí Xảy Ra Khi Chúng Ta Chết,” đang cốgắng để giải quyết cuộc tranh luận này. Trong một cuộc phỏng vấn hồi đầu tháng 10/08 dành cho AOL, Bác sĩ Parnia đã cho chúng ta một ý niệm căn bản về trường hợp cận tử cũng như phương pháp khoa học thực nghiệm được áp dụng hiện nay trong việc khảo cứu về tâm. Ông đã chứng minh cho ta thấy một điều: Tâm có mặt, hiện hữu như một thực thểđộc lập đối với não bộ. Kết quả này vô hình chung đã hoàn toàn phù hợp với những gì được mô tả trong “Tử Thư” của Phật giáo Tây Tạng về việc thần thức lìa bỏ xác thân trong giờ lâm tử. Đây là một bước tiến quan trọng của khoa học trong nỗ lực nghiên cứu về tâm. Từ viên gạch lót đường này, khoa học đang bắt đầu có những bước đi mới vào ngưởng cửa bí mật này.

Tốt nghiệp Đại Học Y Khoa St. Thomas, Luân Đôn, BS Parnia là người sáng lập Consciousness Research Group tại Đại học Southampton, Anh quốc. Cùng với Tiến sĩ Peter Fenwick, những công trình nghiên cứu của ông về Kinh Nghiệm Cận Tử (NDE - near-death experiences) đã gây được sự chú ý của dư luận, không phải chỉ riêng ở Anh quốc mà trên toàn thế giới. Công trình ngiên cứu này đã được trình bày trong một tác phẩm xuất bản mơi đây: “What Happens When We Die: A Groundbreaking Study into the Nature of Life and Death.”

Xem tiếp tại đây bài của BS. Sam Parnia:
TÂM LÀ GÌ? NÓ Ở ĐÂU TRONG CƠ THỂ
Dr. Sam Parnia - Tâm Hà Lê Công Đa dịch

TÂM (CITTA)
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Trụ Trì Thiền Viện Huyền Không Sơn Thượng


Tâm ở đâu?

Như vậy, tâm rất là rõ ràng khi thấy sự hiện khởi của nó như tâm tham, tâm sân... tuy nhiên, có người hỏi tâm ở đâu thì quả là câu hỏi khó có lời giải cho thoả đáng. Đây là một thắc mắc khá nghiêm túc, người học Phật, tu Phật cần phải liễu tri, chứ không thể mơ mơ hồ hồ được. Cũng không nên đưa những ví dụ có vẻ văn hoa nhưng vô thưởng, vô phạt như cách nói “huề vốn”.Cũng không nên lấy kinh điển mà bảo Phật nói như thế này, Phật bảo như thế kia – vì bao giờ “cái thực” cũng khác với những khái niệm khói sương!

Theo giáo pháp Theravāda, thì cần thấy biết tâm ở đâu mới có thể tu tập thiền vắng lặng (samatha) và thiền minh sát (vipassanā) được.

Đầu tiên, câu hỏi tâm ở đâu, tức là muốn hỏi cái “trú xứ” của tâm.

- Cái biết của con mắt (nhãn thức) có trú xứ là nhãn căn, tức là nương tựa nơi “con mắt thịt” mà khởi sanh. Con mắt thịt này có hai phần, phần thô tháo gọi là “phù trần căn”, phần tinh tế là “tịnh sắc căn”. Trong tịnh sắc căn này có thần kinh nhạy bén cảm biết đối tượng – mà ta gọi là nhãn thức.

Cả tai, mũi, lưỡi, thân đều tương tợ vậy nên có nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức. Cả 5 thức nầy đều yếu ớt, muội lược – nhưng Abhidhamma đều gọi chúng là tâm (thức và tâm đồng nghĩa, là cái biết). Như vậy, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức có trú xứ là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn và thân căn.

Nói cho rõ hơn:

- Nhãn thức y cứ vào nhãn tịnh sắc căn mà khởi sanh.

- Nhĩ thức y cứ vào nhĩ tịnh sắc căn mà khởi sanh.

- Tỷ thức y cứ vào tỷ tịnh sắc căn mà khởi sanh.

- Thiệt thức y cứ vào thiệt tịnh sắc căn mà khởi sanh.

- Thân thức y cứ vào thân tịnh sắc căn mà khởi sanh.

- Ý giới (tiếp thọ tâm).

- Ý thức giới (các tâm còn lại).

Hai cái ý giới và ý thức giới y cứ trên ý căn mà khởi sanh.

Đây được gọi là "7 thức tâm y cứ trên 6 trú căn". Ý giới chỉ những thức tâm yếu ớt, muội lược; còn ý thức giới, chỉ cho những thức tâm đầy đủ nhận thức. Thế thì, 5 căn đầu thì có điểm tựa rõ ràng, còn ý giới, và ý thức giới nương tựa nơi ý căn, nhưng ý căn ấy nằm ở đâu trong tấm thân một trượng nầy? Đây là vấn đề “bí hiểm”“gay cấn” nhất từ xưa đến nay!

Theo sớ giải, Hadayavatthu (hadaya là trái tim, vatthu là cõi, chỗ) là trú căn của tâm thức (tâm căn). Quan niệm trái tim là trú căn của tâm thức nguyên xưa thuộc truyền thống của Upanishad (Áo nghĩa thư), sau này ảnh hưởng vào các sớ giải. Đức Phật không chấp nhận cũng không phủ nhận điều ấy. Tuy nhiên, trong tập Paṭṭhāna (1) (tập 7, quan trọng nhất của tạng Abhidhamma) nói rằng đức Phật không xác định ý căn nằm ở đâu mà chỉ nói"y cứ trên sắc pháp này" (Yaṃrūpamnissāya) mà tâm khởi sanh - chứ không xác định trú căn ấy là ở tim hay ở não bộ!

Đến đây, “y cứ trên sắc pháp nầy” hé lộ cho ta về giáo lý duyên khởi, cái tư tưởng độc sáng của đức Phật, làm nền tảng cho giáo pháp.

Y cứ trên sắc pháp nầy?

Theo giáo lý duyên khởi, không cái gì tự dưng có mặt, lại càng không thể quan niệm được có một cái gì đó tồn tại độc lập mà không nương theo cái khác, kết hợp với cái khác. Từ trăng sao, vũ trụ, cho đến một hạt vi trần thảy đều duyên sinh, kết hợp. Lý tương duyên tương sinh cho ta biết rằng, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không! Từ sự thật này, nên ai nói rằng, có một cái tâm ở đâu đó, có một cái tâm thường còn ở đâu đó hoặc có một cái tâm độc lập (nhất nguyên luận) thì lại rơi vào cái thường kiến trong 62 tà kiến.

Vậy, tâm, thức (cái biết) cũng do kết hợp mà có, do duyên sinh.

Ta hãy quan sát.

- Khi nhìn một chiếc lá, ta nhận biết đó là chiếc lá: Tâm nhận biết chiếc lá có mặt do có nhãn căn tiếp xúc với chiếc lá (sắc). Tương tợ như vậy là nhĩ thức với âm thanh (sắc), tỷ thức với các mùi (sắc), thiệt thức với các vị (sắc), thân thức với đất, lửa, gió (sắc) (2). Vậy thì tâm, cái nhận biết là do duyên sinh. Rõ hơn, do sự vận hành của căn, trần, và thức. Căn là lục căn, trần là lục trần và thức là lục thức. 18 giới ấy là toàn bộ vận hành của ta và cả vũ trụ. Nó duyên sanh đồng khởi, đồng vận động, đống tác động, chẳng có cái nào trước, cái nào sau; và cũng chẳng có trong, có ngoài, chủ và khách không thể lập!

“Y cứ trên sắc pháp nầy” – nghĩa là tâm ở đó, khi nào ý thức, nhận thức có mặt. Khi đang ăn, uống, đi, đứng, nằm, ngồi... mà không có tâm biết (chánh niệm, tỉnh giác) đang ăn, đang uống, đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi... thì gọi là thất niệm hoặc gọi là “tâm bất tại”, vì nó đang lang thang ở chân trời góc biển, ở quá khứ hay tương lại nào đó! Người có tu tập minh sát tuệ có lẽ hiểu rõ điều này hơn ai hết khi tâm tham biết tham, tâm sân biết sân (cả 16 loại tâm). Huệ Khả cũng được Đạt Ma dạy cho chỗ này: “Tâm tán loạn tuệ tri tâm tán loạn; tâm không an, tuệ tri tâm không an” (3) Chỉ tuệ tri như vậy thôi, ngay hiện tiền như vậy, không đánh giá, không phê phán – thì đấy mới gọi là thấy rõ thực tánh. Cái gì cũng phải tuệ tri như thực, không thêm bớt, không thủ xả, không “đầu thượng trước đầu” không “tuyết thượng gia sương!”,“tri lập tri tức vô minh bổn” vậy!

Như thế thì người tu minh sát luôn thấy rõ tâm mình trong mọi lúc, mọi nơi – sao còn phải hỏi tâm ở đâu nữa? Nó duyên sanh!

Không ở trái tim, không ở não bộ, mà vẫn là duyên sanh.

Khoa học ngày nay cho rằng cái biết sơ khởi, ban đầu ở các giác quan (họ gọi là hưng phấn) là trạng thái được xác định bởitương quan lực” do sự phân cực điện trong các axon thần kinh (4). Mà hệ thần kinh có nhiệm vụ thu nhận tín hiệu kích thích từ các cơ quan cảm giác, xử lý phân tích các tín hiệu và phát các thông tin phản ứng nhằm điều khiển các hoạt động của các cơ và các tuyến tiết. Sự truyền tín hiệu này liên quan đến các neuronsynapse là các tế bào mang thông tin. Bất kỳ cung phản xạ thần kinh nào dù đơn giản hay phức tạp cũng đều được cấu tạo từ một số neuron nối với nhau qua các synapse nhỏ bé. Nhờ các synapse nhỏ bé này mà xung thần kinh được truyền từ neuron này sang neuron khác.

Còn nữa, hệ thần kinh gồm có hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại biên. Hệ thần kinh trung ương gồm tuỷ và não bộ được xem như là bộ phận điều khiển trung ương có chức năng thu nhận và xử lý phân tích tất cả các thông tin và phát thông tin trả lời. Hệ thần kinh ngoại biên gồm các tế bào và toàn bộ dây thần kinh còn lại, nó có chức năng nối liên lạc giữa thần kinh trung ương với các mô và các cơ quan của cơ thể.

Nói khái quát như thế để biết rằng, thu nhận và xử lý thông tin là cả một bộ máy khổng lồ, là cả một hệ thống tinh vi, tinh tế liên quan chặt chẽ với nhau, nó duyên khởi, nương tựa nhau trùng trùng.

Trở lại với giáo pháp, đức Phật khi nói về con người, ngài chỉ nói đến sắc thọ tưởng hành thức. Ngũ uẩn ấy nếu được nhìn ở thế giới khái niệm thô tháo (vĩ mô) thì có sắc thân, cảm thọ, cảm giác, tâm hành và nhận thức, một bên thân, một bên tâm. Nhưng nếu được nhìn trong thế giới cực vi (vi mô), vận động liên tục, hoạt dụng liên tục, duyên khởi liên tục – thì sắc chỉ là các phân tử, nguyên tử, hạt cơ bản, hạt nhân... Cảm giác, tri giác, tâm hành và nhận thức chúng chỉ là những sát-na cực vi trong những hạt chuỗi sinh, trụ, diệt (6) trùng trùng. Nơi ngũ uẩn, thì cảm giác là cái biết sơ khởi, tri giác là cái biết tổng quát và ý thức là cái biết có chức năng xử lý phân tích các thông tin và cả phát thông tin nữa.

Vậy nếu ai đó nói, cái tâm (cái biết) tồn tại độc lập thì rõ ràng là phản khoa học; và nên nhớ rằng thiên tài khoa học vĩ đại Albert Einstein có nói rằng: Phật giáokhông cần phải tu chỉnh, cải sửa những quan điểm của mình mà theo khoa học vì Phật giáo không chỉ bao hàm khoa học mà nó còn vượt xa, vượt quá khoa học nữa!” (5) Đức Phật chỉ nói: “Y cứ trên sắc pháp này”dường như là câu nói cô đọng và minh triết nhất cho mọi vận động duyên khởi ở trên, mà từng cái biết ở thần kinh mắt, thần kinh tai, thần kinh mũi, thần kinh lưỡi, thần kinh thân, thần kinh tuỷ sống, thần kinh não bộ - là toàn bộ vận hành ấy, trao truyền tín hiệu ấy lại còn nhờ cậy vào các neuronsynapse là các tế bào mang thông tin nữa. Vậy, cái biết ở khắp mọi nơi khi nhận thức, ý thức có mặt trong sự vận hành của căn trần thức. Đến đây, những hành giả tu tập minh sát chắc sẽ tâm đắc tại sao trong Tứ Niệm Xứ, đức Phật dạy, đừng bao giờ “rời khỏi cái biết”!

Không có vọng tâm, không có chân tâm.

Vậy cái biết (tâm) là duyên sanh trong sự vận động trùng trùng của căn trần thức. Và nếu duyên khởi là vọng thì tất cả đều làvọng hết làm gì có chơn? Nhưng nếu tất cả duyên khởi đều được “tuệ tri như thực” như tham, tuệ tri tham, như sân, tuệ tri sân - thì chúng đều là chơn (như thực) hết, làm gì có vọng?

Hay vọng với nghĩa là khi nó khởi và chơn là khi nó chưa khởi? Điều này cũng không đúng lắm, và coi chừng cũng chỉ ngang bằng tư tưởng của Khổng và Lão thôi!

Khổng nói rằng, chưa có dâm, nộ, si (tham, sân, si) là chỗ vào ra của đạo; nói cách khác, đạo là khi dâm nộ si chưa khởi! Còn Lão thì nói đạo sinh nhất, sinh nhị, sinh tam, tam sinh vạn vật – thì khi chưa sinh khởi là đạo!

Đức Phật là bậc Toàn Giác, ngài nói cái chỗ chưa khởi ấy là khi chưa có 6 nhân: tham, sân, si, vô tham, vô sân, vô si; và ngài không hề cho đây là đạo, mà ngài còn nói rằng, có duyên thì nó khởi đấy; và nó khởi thì khởi trùng trùng! Lại nữa, trong tâm của mỗi chúng sanh đang ngủ ngầm vô lượng hạt giống tốt có, xấu có – nghĩa là còn vô lượng năng lực ngầm (tuỳ miên kiết sử). Vậy thì từ chỗ chưa khởi này cũng phải thường trực chánh niệm, tỉnh giác; không thường trực chánh niệm tỉnh giác thì nó sẽ khởi lung tung đấy! Vậy nếu có khởi thì khởi làm việc lành, việc tốt, khởi thọ trì tam quy, ngũ giới, tu thập thiện, tu bố thí, tu tứ vô lượng tâm v.v.và v.v...

Để kết luận: Chỉ có sự khổ và sự diệt khổ.

Biết được cái tâm ở đâu là biết được hành tung của nó, là để mà tu tập. Ví dụ như đâu là tâm địa ngục, tâm ngạ quỷ, đâu là tâm người, tâm trời. Nói có hình tượng hơn là như bức tranh “thập mục ngưu đồ” đi tìm dấu chân trâu là đi tìm cái tâm của mình vậy! Và ai cũng biết rằng, tâm dẫn đầu các pháp, tâm chủ, tâm tạo tác. Vậy hãy dè chừng cái tâm. Và dè chừng kiểu nào cũng được hết, tu sao cũng được hết, miễn là có tu.

- Nếu ai thấy tâm mình có khuynh hướng xấu ác thì nên tu giới, mấy giới cũng được để ngăn chừng, ngăn ngừa chừng nào tốt chừng ấy.

- Nếu ai thấy mình thiếu phước, lại keo kiệt, bủn xỉn thì nên tu bố thí vừa được phước vừa mở rộng tấm lòng của mình ra.

- Nếu ai thấy mình lao xao, rối loạn, thiếu tự chủ, thiếu bình tĩnh thì nên tu thiền định.

- Nếu ai thấy mình vô cảm, xơ cứng, lạnh lùng thì nên tu tập tâm từ, tâm bi.

- Nếu ai thấy mình tối tăm, cố chấp thì nên tập tành tu tập thiền tuệ để tâm trí nó sáng ra...

Tất cả, tất cả sang hèn, giàu nghèo, trí ngu, vui khổ... đều do tâm, bởi tâm. Vậy hãy tu tập đi thôi, lửa đang bốc cháy ở khắp nơi; vậy hãy là hòn đảo an lành, an toàn cho mình nương tựa – là lợi mình và lợi người, lợi cả hai vậy.

MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH

Ghi chú:

(1) Thường dịch là Vị trí, Đại xứ hay Nhân duyên thuyết. Trong bộ này trình bày chi tiết về 24 duyên - trong ngoài duyên khởi, duyên sanh rất phức tạp – nó cũng không có trong ngoài, không có chủ thể và khách thể.

(2) Thân xúc cái gì cứng, mềm chiếm chỗ trong không gian là đất, cái gì nóng, lạnh là lửa, cái gì rung động, chuyển động là gió. Riêng nước, thân không xúc chạm được vì nó là cái kết dính các sắc. Do vậy, ngũ căn (5 sắc), có 7 đối tượng sắc pháp (sắc, thanh, hương, vị, địa, hoả, phong).

(3) Vikkhitaṃ vā cittaṃ ‘vikkhitaṃ cittan’ ti pajānāti hay Asamāhitaṃ vā cittaṃ ‘asam āhitaṃ cittan ‘ ti pajānāti.

(4) Tôi mạo muội học lóm một vài kiến thức cũng như một số thuật ngữ chuyên môn về cấu tạo tế bào và thần kinh học – mà tôi chưa thật sự hiểu cho tường tận. Ở đây chỉ nhằm chứng minh cho lý duyên khởi thôi!

(5) Buddhism requires no revision to surrender its views to science, because it embraces science as well as goes beyond science.

(6) Mỗi sát-na có 3 tiểu sát-na, một tiểu sát-na sinh, một tiểu sát-na trụ, một tiểu sát-na diệt.


Trích từ: http://thuvienhoasen.org/a21321/tam-citta

Làm sao để chia sẻ buồn vui với mọi người?

HỎI: Tôi là một kỹ sư, độc thân, công việc thì tạm ổn. Là Phật tử, tôi nguyện sống tử tế, hài hòa với mọi người trong gia đình, trong cơ quan và bè bạn. Hiện có một điều làm tôi cảm thấy khó xử. Đó là, theo như giáo lý nhà Phật, con người sống trên đời này thì luôn tương duyên với nhau; những suy nghĩ, nói năng và hành động của mình sẽ tác động đến mọi người xung quanh, và ngược lại. Vì vậy, tôi luôn sống tốt với mọi người, mong mọi người xung quanh mình có hạnh phúc, an vui để mình có nhiều cơ hội hơn được an vui, hạnh phúc.

Tuy vậy, trước những niềm vui của người khác tôi cũng khó có thể chia sẻ, vì không biết phải làm như thế nào? Rồi khi có người than thở về những nỗi buồn và sự bất hạnh của họ, nếu nghĩ tới thì tôi cũng bị lây theo cảm xúc đó, kéo theo cảm giác bất an. Nhưng nếu tỏ ra không quan tâm đến nỗi buồn và sự bất hạnh của người thì ngay lập tức tôi có suy nghĩ là mình vô cảm, ác độc với người. Chính những điều này làm cho tôi nhiều trăn trở, day dứt, không được bình yên. Vậy có cách nào vừa quan tâm chia sẻ với mọi người lại vừa bảo hộ được thân tâm của mình an lạc?

(LÊ QUANG HOÀNH, lq.hoanh@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Lê Quang Hoành thân mến!

Đúng như điều bạn đã chiêm nghiệm về Phật pháp, “con người sống trên đời này thì luôn tương duyên với nhau”, nên mình muốn hạnh phúc thì hãy trợ duyên giúp người thiết lập an vui, hạnh phúc.

Không thể có hạnh phúc đích thực nếu tự thân mình chưa hoàn thiện (suy nghĩ, nói năng, hành động chưa thuần thiện - lợi mình, lợi người) và xung quanh có quá nhiều người bất hạnh.

Vì thế, ngoài việc tự kiện toàn nhân cách đạo đức của người Phật tử (giữ năm giới, biết hổ thẹn với những điều sai trái đã làm), sống tử tế và hài hòa với mọi người thì chia sẻ buồn vui với người, khiến mọi người thêm hạnh phúc an vui là điều cần thiết, nên làm.

Khi một người có niềm vui, họ thổ lộ ra, bạn liền khởi tâm tùy hỷ (bày tỏ sự hân hoan, vui với niềm vui của họ). Bạn chỉ cần nở một nụ cười, hân hoan nói xin chúc mừng là đã đủ. Việc này không mất công, nhọc sức, chỉ cần có tấm lòng thật sự sẻ chia, vui với hạnh phúc của người là làm được.

Tuy nhiên, thực tế đời sống thì việc nhỏ này (tùy hỷ) lại không dễ làm. Vì trước thành công hay hạnh phúc của người, trong ta thường dấy lên tâm ganh tỵ nên cố gắng lắm mới nói được lời chúc mừng gượng gạo mà thôi. Bạn đã hiểu về lý Duyên sinh, niềm vui của người luôn tương tức với hạnh phúc của mình, vậy thì phải chuyển hóa ngay tâm ganh tỵ và đố kỵ (nếu có) để thật lòng tùy hỷ.

Ngược lại, khi một người thổ lộ những nỗi khổ niềm đau, bạn nghe mà xót thương, nhói lòng chính là tâm bi hiển lộ. Đừng sợ niềm đau ấy xâm chiếm tâm mình. Hãy lắng nghe họ, chỉ cần lắng nghe một cách chân thành thôi mà không cần làm gì khác (vì rất nhiều việc có thể ngoài khả năng của mình), sau khi lắng nghe, động viên “bạn cố gắng lên nhé” thì thực sự mình đã yêu thương (từ) và đã giúp cho họ bớt khổ rất nhiều (bi).

Có không ít người nghĩ rằng, mình phải có điều kiện thế này thế kia mới có thể thực hành từ bi, giúp người khác bớt khổ. Sự thật không hẳn như vậy, không cần có nhiều điều kiện, chỉ cần có tấm lòng thì mình đã có thể “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ”.

Đối với người đang đau khổ, bạn đã biết thực hành từ bi. Đối với người có niềm vui, bạn đã thực tập sẻ chia niềm hoan hỷ. Tuy nhiên, trong quá trình thực tập từ bi và hoan hỷ, có nhiều trường hợp bạn chưa thật thoải mái, lý do là vì bạn chưa tu tập tâm xả.

Xả chính là một trong Bốn tâm vô lượng (từ, bi, hỷ, xả). Xả chính là tâm buông bỏ, tự tại, an nhiên, bình thản trước mọi biến động thuận nghịch ở đời. Không luyến ái và cũng không thờ ơ, vô cảm là đặc tính của tâm xả.

Ngay cả khi thực hành tâm từ (yêu thương rộng lớn, hóa giải sân hận), tâm bi (thương xót và cứu giúp chúng sanh, lắng dịu độc ác và bạo tàn), tâm hỷ (mừng vui trước sự thành đạt, hạnh phúc của chúng sanh và loại trừ ganh ghét, đố kỵ) thì tâm ta vẫn còn những xung động vi tế, cần buông xả tất cả.

Vì vậy, khi ứng dụng thực tập chia sẻ buồn vui với mọi người, bạn cần trang bị thêm cho mình tâm xả. Tùy duyên mà làm việc tốt và sống tốt, sau đó là xả buông. Trước những thnh bại, được mất, hơn thua, khen chê, vui khổ... ở đời, bạn nên giữ tâm điềm nhiên và bình lặng như mặt đất thì sẽ giúp người và chính mình luôn an lạc.

Chúc bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN

CẦU CÚNG CÓ ĐƯỢC CHĂNG

Minh Hạnh Đức

Tinh Vân thiền thoại kể rằng:

Có một ông nhà giàu quanh năm suốt tháng mải mê đầu cơ tích trữ, vun vén cho bản thân, nuôi tham vọng làm cho cơ nghiệp ngày càng thêm lớn, bất chấp thủ đoạn, giẫm bừa lên khổ đau của người khác. Một lần vợ ông bệnh nặng, ông thỉnh một vị Tăng về nhà tụng kinh cầu phước giải bệnh. Ông nói với vị Tăng:

- Nhờ thầy thay tôi tụng kinh cầu nguyện chư Phật và Bồ-tát gia hộ cho gia đình tôi được bình an, việc làm ăn của tôi thêm phát đạt, vợ tôi qua khỏi cơn trọng bệnh, con cháu tôi sớm được thăng quan phát tài.

Nghe ông nhà giàu nói những điều mong cầu mà vị Tăng thở dài ngao ngán. Vị Tăng muốn cảnh tỉnh ông, bèn làm lễ, tụng kinh và khấn lớn tiếng rằng:

- Nguyện chư Phật và chư Bồ-tát phương xa từ bi chứng giám, hiện tiền gia chủ cầu khẩn chư Phật, chư Bồ-tát gia hộ cho gia đình ông ta được bình an, làm ăn thịnh vượng, vợ ông mau chóng khỏi bệnh, con cháu thăng quan phát tài.

Ông nhà giàu nghe vị Tăng khấn nguyện lấy làm ngạc nhiên, thắc mắc:

- Bạch sư phụ, sao thầy lại cầu khẩn Phật và Bồ-tát phương xa mà không cầu khẩn các vị ở gần để các vị ấy đến đây cho mau lẹ?

Vị Tăng đáp:

- Sở dĩ tôi không cầu Phật và Bồ-tát ở gần là vì e ngại các vị ấy không chịu giúp ông. Ông nghĩ coi, bình thường ông chẳng làm việc phước đức, chẳng gieo nhân lành, không làm việc gì có ích cho ai, ngược lại còn xan tham, sân hận, si mê tà kiến, kiêu căng ngã mạn. Tôi e rằng Phật và Bồ-tát ở gần đây đều biết ông, các vị ấy sẽ không đáp ứng lời thỉnh cầu của ông. Vì vậy mà bất đắc dĩ tôi phải cầu chư Phật và Bồ-tát ở xa giúp ông, may ra vì không biết rõ về ông mà các vị ấy giúp ông ít nhiều.

Lúc bình thường không gieo nhân lành, không kết thiện duyên, không tạo công đức phước báu gì thì dù cầu chư Phật và chư Bồ-tát ở gần hay ở xa cũng khó có sự cảm ứng. Vị Tăng trong câu chuyện trên mượn việc cầu Phật và Bồ-tát phương xa mà không cầu Phật và Bồ-tát ở gần để thức tỉnh ông nhà giàu, chứ kỳ thực chẳng phải Phật, Bồ-tát ở xa thì không hay không biết việc làm của ông nhà giàu. Đối với chư Phật và Bồ-tát thì không có chuyện ở xa hay ở gần mà không biết, quan trọng là người đời có thiện tâm hay không, có thật lòng hướng về Phật và Bồ- tát hay không, và tâm ý, việc làm của người đó có tương ưng với hạnh nguyện của các Ngài hay không. Có nghĩa là muốn cầu Phật và Bồ-tát có sự cảm ứng thì phải sống cho tốt, biết hành thiện, làm việc lợi ích cho mình và cho người khác, có lòng từ bi, hỷ xả, vị tha… Bởi vì Phật và Bồ-tát là những bậc toàn chơn, toàn giác, toàn thiện, toàn mỹ, muốn cầu các Ngài có cảm ứng thì tâm niệm và việc làm phải tương ưng với hạnh nguyện của các Ngài.

Trên thế gian không chỉ riêng ông nhà giàu nọ, còn có biết bao người trong lúc bình thường chẳng màng tội phước, không tin nhân quả, điên đảo thiện ác, không ngần ngại tạo nghiệp xấu, ác để thỏa lòng tham lam, sân hận, kiêu căng, ngã mạn, đến lúc tai họa giáng xuống đầu, gặp chuyện không may bất trắc xảy đến thì lạy lục cầu xin Phật, Bồ-tát che chở. Lúc đó dù có dâng cúng phẩm vật trọng hậu, quỳ mọp sát đất lạy lục đến mấy cũng chẳng ích lợi gì. Nhân quả tương ưng, đâu có Phật, Bồ-tát nào làm thiên lệch quy luật nhân quả được. Những người có tâm địa không tốt, xấu xa, độc ác, tham lam, ích kỷ, hẹp hòi thì làm sao có được kết quả tốt đẹp và làm sao có được sự cảm ứng nơi các Ngài.

Không nên chỉ biết trông cậy vào sự giúp đỡ, chở che của Phật, Bồ-tát, mà cần phải hiểu rằng sự gia hộ của Phật, Bồ-tát cũng do chính mình mà được, do việc làm thiện lành của mình, do công đức phước báo mình đã tạo mà có sự cảm ứng đó. Khi đã tin hiểu nhân quả thì biết muốn có cây lành trái ngọt thì phải gieo nhân tốt và tạo các duyên thích hợp, thuận lợi cho nhân đó phát triển. Ví dụ muốn cầu sống lâu trường thọ thì phải có ý thức giữ gìn sức khỏe, sống hợp vệ sinh, siêng năng vận động, rèn luyện thân thể, quan tâm đến chế độ dinh dưỡng, sống tiết độ, không làm tổn hại sức khỏe, tính mạng chúng sinh khác, biết phóng sinh, bố thí thuốc, các phương tiện điều trị cho người ốm đau bệnh họan… Muốn được giàu sang thì cần kiệm siêng năng học tập, lao động, giúp đỡ người nghèo khó đói rách, những người có hoàn cảnh neo đơn, cơ nhỡ bằng cách bố thí tài vật, phương tiện sinh kế v.v. Tóm lại, nếu không sống tốt, không biết gieo nhân lành, sống thiếu ý thức trách nhiệm đối với bản thân và xã hội thì đâu có Phật, Bồ-tát nào lại đi “phò hộ”, “che chở”, “giúp đỡ” cho.

Ngày nay hiện tượng tín ngưỡng nhiều nhưng ít người có được chánh tín, chỉ tin vào hững điều dị đoan, huyễn hoặc: nghe đồn chùa nào linh thì đến để cầu được ước thấy, xin bùa xin phép để làm ăn phát đạt, dán tiền lên tượng Phật, Bồ-tát hoặc lấy tay xoa lên tượng rồi xoa lên thân mình, chẳng biết những việc làm đó có ý nghĩa, lợi ích gì; suy nghĩ sai lầm, lệch lạc, mê tín cho rằng chư Phật, Bồ-tát, thần thánh cũng có tâm niệm như phàm phu, từ đó dẫn đến những hành động mù quáng, sai lầm: Khi đến chùa thì xì xụp vái lạy cầu xin đủ thứ chuyện, cúng một ít tiền hay phẩm vật thì muốn Phật, Bồ-tát làm cho mình lắm điều, không biết họ nghĩ Phật, Bồ-tát là những ai, mỗi ngày ngồi chờ hương quả để cho họ sai khiến sao? Nếu những gì họ cầu xin mà được như ý thì thế gian chẳng có công đạo, luật nhân quả không còn. Những việc làm đó chẳng khác nào hủy báng chư Phật, Bồ-tát, hủy báng Chánh pháp.

Nếu bỏ tiền ra thật nhiều để cúng chùa, làm phước, bố thí, phóng sinh, in kinh, tạo tượng mà không cần thuận theo nhân quả, và chỉ làm có hình thức, không có thật tâm mà vẫn được phước báu, vẫn tai qua nạn khỏi, vẫn bình an, thì trên thế gian này chỉ có người giàu mới có được an vui hạnh phúc, vì người nghèo làm gì có tiền để làm phước, cúng chùa… Nếu bố thí với tâm tham, mong rằng nhờ việc bố thí mà mình giàu hơn, làm ăn thuận lợi hơn; nếu phóng sinh với tâm tham, bỏ tiền ra mua con vật rồi nhốt ở đó, chờ tụng kinh cầu nguyện cho mình được việc, mặc cho con vật thoi thóp trong chậu, trong lồng, quằn quại khổ đau đang mong chờ sự sống; nếu cúng chùa với tâm tham muốn cho nhiều người biết đến mình, nhiều người hâm mộ mình, muốn cho Phật, Bồ-tát ghi công mình, phò hộ mình; nếu làm việc phước thiện với những tâm niệm ấy thì phước báu chẳng những không có được mà còn tăng thêm tà kiến. (Văn Hóa Phật Giáo số 155)

SỰ LINH ỨNG CỦA BỒ-TÁT CÓ MÂU THUẪN VỚI LUẬT NHÂN QUẢ?

HỎI: Tôi là Phật tử, hiện đang là sinh viên. Gia đình tôi thờ Bồ-tát Quán Thế Âm. Trong quá trình tu học, tôi thường trì chú Đại bi, niệm danh hiệu Bồ-tát và nhận được nhiều sự nhiệm mầu linh ứng không thể nghĩ bàn.

Tôi chỉ thắc mắc một điều là, theo luật nhân quả, những gì xảy đến với con người trong hiện tại là do nhân duyên đã gieo trồng trong quá khứ. Nhưng khi trì niệm thần chú Đại bi, nhờ thành tâm trì chú, thiết tha nguyện cầu, được Bồ-tát cảm ứng và gia hộ nên được thành tựu như nguyện (ví dụ như đau bệnh được lành, không con được con…) thì việc tu tập linh ứng và luật nhân quả đang vận hành có gì mâu thuẫn không?

(KIỀU TRINH, kieutrinh.ibc@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Kiều Trinh thân mến!

Đúng như bạn nhận thức về nhân quả, “những gì xảy đến với con người trong hiện tại là do nhân duyên đã gieo trồng trong quá khứ”, không có việc gì xảy ra mà chẳng có nguyên nhân. Tuy nhiên, từ nhân đến quả là một tiến trình phức tạp đầy biến động, trong đó, duyên (những nhân phụ) luôn tác động và chi phối vào nhân chính khiến cho quả bị lệch tốt hoặc xấu hơn so với nhân ban đầu.

Ví dụ, ta có hạt giống rất tốt (nhân chính tốt), theo nguyên tắc thì sẽ cho quả tốt nhưng nếu gieo vào đất xấu, không người chăm sóc (duyên xấu) thì cho quả không tốt. Ngược lại, ta có hạt giống không mấy tốt nhưng gieo vào đất tốt, có người chăm sóc (duyên tốt) thì lại cho quả tốt (có thể tốt hơn nhân chính rất nhiều lần).

Nói như vậy để thấy rằng, trong tiến trình nhân-duyên-quả, duyên đóng vai trò rất quan trọng. Nhân đã tạo ra trong quá khứ (xa hoặc gần) vốn không thay đổi được. Trong khi duyên được chúng ta chủ động tạo ra trong quá khứ gần và ngay trong hiện tại, thông qua những nỗ lực hướng thiện của cá nhân, sẽ tác động mạnh mẽ lên kết quả.

Bạn thành tâm niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, thiết tha trì tụng thần chú Đại bi (hay tu tập, làm phước nói chung), cầu tai qua nạn khỏi, mong vạn sự an lành chính là nỗ lực tạo ra những duyên tốt nhằm tác động vào nhân chưa tốt để thành tựu quả tốt đẹp hơn.

Chính điều này đã lý giải cho việc có người trì chú Đại bi, niệm danh Bồ-tát thì được linh ứng như nguyện nhưng có người lại không.

Những người được như nguyện nhờ nghiệp nhân trong quá khứ của họ không xấu lắm, cộng với duyên hướng thiện (tu tập, làm phước) trong hiện tại rất mạnh mẽ, nên những kết quả không lành nếu lớn thì hóa nhỏ, nếu nhỏ thì hóa không, mọi sự tưởng chừng khó khăn đều trở nên thuận lợi, tốt đẹp.

Ngược lại, những người cũng trì chú mà không được như nguyện vì nghiệp nhân trong quá khứ của họ vốn đã xấu, cộng với duyên hướng thiện (tu tập, làm phước) trong hiện tại chưa đủ mạnh nên không tác động tích cực vào kết quả, do đó những gì mà họ cầu nguyện không được như ý.

Vì vậy, những điều bạn cầu nguyện được linh ứng hoặc những điều mà người khác cầu nguyện không linh ứng đều do nơi duyên đủ hay chưa. Điều này hoàn toàn phù hợp với sự vận hành nhân-duyên-quả, không có gì mâu thuẫn cả.

Chúc bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN
(tuvangiacngo@yahoo.com)

VÔ NIỆM VÔ SANH

Thưa ban biên tập,

Một vị giảng sư Phật Giáo và một vị Cư sĩ viết nhiều bài về Phật Pháp loan tải trên một trang web Phật giáo đều cho rằng:

Tu Phật mà cầu vô niệm là tu sai bởi vì vô niệm thì làm sao “biết” để tư duy chân lý và những gì phi chân lý…và chẳng những vô niệm là tu sai mà nghĩ rằng tu cầu đến vô sanh cũng là lầm lẫn. Trên thế gian này có cái gì mà không biến chuyển vận hành? Nói cách khác tất cả đều là sanh diệt…Tu hành cần có những giờ phút "tĩnh tâm" nhưng tĩnh tâm, không được hiểu đó là những phút giây VÔ NIỆM. VÔ SANH là một ý niệm mà người tu Phật phải từ bỏ dứt khoát. Vô sanh đồng nghĩa với "đoạn diệt". Tự mình làm cho mình "rớt" vào hàng ngũ của ngoại đạo "đoạn kiến" là cách tu sai lạc, đáng thương!..”

Vậy xin ban biên tập cho biết ý kiến của hai vị pháp sư này.

Trước hết ý tưởng (hay là sao chép) của vị Cư sĩ là từ lời dạy trong giáo án Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương của vị giảng sư Phật giáo dạy trường Cao Trung Phật Học tỉnh Đồng Nai.

Thật ra vị giảng sư và vị cư sĩ nói ở trên đã hiểu một cách sai lạc về Vô Niệm, Vô Sanh. Từ và nghĩa Vô Niệm đã được nhiều thiện tri thức thảo luận từ năm 2002 trên diễn đàn Phật Pháp Thư Viện Hoa Sen, nay chỉ xin tóm lược để giải đáp câu hỏi nêu trên của Đạo hữu:

1 Khi trả lời một câu hỏi về Vô Niệm, Hòa ThượngThích Duy Lực đã khai thị trong một buổi pháp thoại tại Từ Ân Thiền Đường như sau:

“Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ giải thích: “Vô niệmchẳng phải không có bản niệm, ngoài bản niệm ra không được mống khởi niệm gì khác, mới gọi là vô niệm, chứ chẳng phải tuyệt luôn bản niệm, nếu bản niệm tuyệt là chết. Dù người chết, bản niệm cũng y nguyên không mất, vì đó là bản thể của tự tánh, chẳng đồng như gỗ đá. Nhiều người hiểu lầm cho vô niệm là trăm tư tưởng đều dứt, ấy là sai. Ngài Lục Tổ giải thích thêm: “Lục căntiếp xúc lục trần, sanh ra lục thức, không nhiễm không chấp thật tức vô niệm.” Hễ thấy cái gì thì chấp cái đó, nghe được cái gì chấp vào cái đó, là có niệm. Thấy như không thấy, nghe như không nghe, chẳng phải là không biết, biết mà không chấp thật (không dính mắc), mới là vô niệm. Kỳ thật, vô niệm tức vô tướng, vô tướng tức vô trụ, mặc dù danh từ có ba, sự thật chỉ là một. Ngài Lục Tổ sợ người hiểu lầm, nên đã hai lần giải thích về vô niệm. (Trích: Duy Lực Ngữ Lục)

2 Trong bản dịch Kinh Pháp Bảo Đàn Hòa Thượng Thích Minh Trực dịch như sau: “Sao gọi là vô niệm? Biết cả thảy các pháp mà lòng không nhiễm vương, dính níu, ấy là vô niệm.”

3 Tổ Huệ Năng đã chỉ rõ: "Đối trên các cảnh, tâm không nhiễm gọi là vô niệm, đối trên niệm thường lìa các cảnh, chẳng ở trên cảnh mà sanh tâm". Tổ không có nói là phải diệt trừ hết niệm, tổ nói thêm: "một niệm dứt tức là chết, rồi sẽ sanh nơi khác" tức là tổ biết rằng suy nghĩ là cái chức năng tự động của bộ óc con người, chỉ khi chết thì mới hết suy nghĩ.

4 Một thiền sư Nhật bản đương thời là thiền sư Kōshō Uchiyama, thuộc dòng Tào Động, có viết cuốn sách "Opening the Hand of Thought, Approach to Zen" trong đó sư có trình bày về pháp tu Vô niệm như sau:

" Khi chúng ta tọa thiền (zazen) có nghĩa là mọi ý nghĩ phải ngưng bặt và đầu óc trống rỗng phải không? Không, dĩ nhiên là không phải thế. Khi mà chúng ta còn sống thì các ý nghĩ khởi lên là điều tự nhiên, ngày cả khi tọa thiền cũng vậy. Điều quan trọng là để chúng tự đến và đi mà ta không theo đuổi chúng hoặc dẹp trừ chúng."

"Nếu niệm khởi phải gắng để dẹp nó không? Nếu làm như vậy tức là chúng ta lập ra ý nghĩ là phải dẹp niệm đó". Lấy một thí dụ trong cuộc sống là lái xe hơi. Khi chúng ta lái xe mà trong đầu suy nghĩ đủ thứ chuyện thì sẽ bị rối loạn, căng thẳng và nguy hiểm cho việc lái xe. Muốn giữ cho an toàn thì cần phải thư dãn và tỉnh giác. Tọa thiền là để cho bản thể biểu hiện một cách tự nhiên và thanh tịnh. Niệm khởi là điều tự nhiên. Nhưng khi chúng ta bám vào niệm đó, chạy theo chúng thì là chúng ta đang suy nghĩ. Thế nào là buông xả các niệm? Khi chúng ta suy nghĩ là suy nghĩ về một cái gì đó. Nghĩ về cái gì là dùng ý nghĩ để bám vào cái đó. Không bám vào cái đó tức là buông xả. Sư so sánh những trạng thái biến đổi trong tâm ta như là quang cảnh thiên nhiên: có những lúc trời xanh quang đãng, có lúc mây mù, có lúc mưa bão … những cảnh đó đến rồi tự nó đi, không có gì ta phải bận tâm dính mắc."

Hay nói một cách khác: "Khi mắt thấy một vật, chỉ thấy vật ấy. Khi tai nghe một tiếng, chỉ nghe tiếng ấy. Khi mũi ngửi một mùi, chỉ ngửi mùi ấy. Khi lưỡi nếm món gì, chỉ nếm món đó. Khi có cảm xúc trên da hay trên thân, chỉ biết đến cảm xúc ấy. Và khi một ý nghĩ, một đối tượng tâm linh, khởi lên trong tâm, như một tư tưởng xấu chẳng hạn, chỉ biết tư tưởng ấy. Điều này có nghĩa là không nên để cho tư tưởng phân biệt xấu, tốt, ưa thích hay ghét bỏ sanh khởi. Ưa thích cái gì có nghĩa là ham muốn cái ấy, không ưa thích cái gì có nghĩa là ghét bỏ cái ấy. Ham muốn hay ghét bỏ đều là ô nhiễm phát sinh từ tâm tham, sân và si. Không để các ô nhiễm này dấy lên trong tâm, tức là không dính mắc." (trích sách: Phật Pháp Trong Đời Sống (Tâm Diệu)

5 Còn Vô Sanh, trong kinh Đại Thừa cũng như Nguyên Thủy nói rất rõ ràng. Cho rằng “Vô sanhđồng nghĩa với "đoạn diệt". Tự mình làm cho mình "rớt" vào hàng ngũ của ngoại đạo "đoạn kiến" là cách tu sai lạc, đáng thương!..” là hiểu không đúng, hiểu một cách sai lạc. Đức Phật Thích Ca đã phá hai kiến chấp của ngoại đạo này là (1) chấp thường tức là chấp có một linh hồn bất diệt, và 2) chấp đoạn tức là chấp rằng chết là hết, không còn tồn tại sau khi chết, cũng có nghĩa là không có nhân quả, luân hồi, không có tội phước, đúng sai, phải quấy, đạo đức gì cả vì chết là hết. Chấp thường, chấp đoạn cũng là chủ trương của chủ nghĩa Duy Vật (metarialism)

BBT/TVHS

Ý KIẾN PHẢN HỒI CỦA TÁC GIẢ:

VÔ NIỆM VÔ SANH
(Phần chót)

Trước hết chúng tôi xin cám ơn ban biên tập TVHS đã cho phép chúng tôi đóng góp thêm vài ý kiến nhỏ để cho vấn đề được sáng tỏ.

1)Danh từ “Vô Niệm” nếu được hiểu theo ý nghĩa thông thường là không có ý niệm, không có tư tưởng nào phát hiện trong tâm cả. Nếu hiểu theo định nghĩa này thì trên thế gian này có người nào đã đạt đến trình độ đó chưa? Ngày xưa chính Đức Phật và 1250 vị A la hán khi nhập vào thiền định (tứ thiền) thì ý thức bị diệt, không còn tác động được nữa. Các Ngài chỉ còn sống trong tỉnh thức nghĩa là trong thời điểm đó các Ngài biết rất tỏ tường, sáu căn vẫn sáng tỏ, nhưng không tác ý được nữa cho nên toàn bộ tư tưởng, lời nói cho đến hành động đều bị diệt nghĩa là không còn suy nghĩ, nói năng hay cử động tay chân cho đến khi xuất thiền. Lúc đó tâm các Ngài hoàn toàn thanh tịnh và đây là con đường giải thoát, chứng nhập chân lý. Thế thì tuy ý thức không còn hoạt động, nhưng sáu căn vẫn còn sáng tỏ tức là các Ngài vẫn còn biết, còn tư tưởng chớ đâu có phải là vô niệm.

Bây giờ trong Kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng định nghĩa “Vô Niệm” như sau:” Vô niệm là đối với niệm mà không niệm, đối trên các cảnh mà tâm không nhiễm” nghĩa là khi sáu căn đối diện với cuộc đời (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà tâm không dính mắc, không khởi tà niệm tham, sân, si thì đây là vô niệm. Thế thì vô niệm bên Thiền tông chính là Chánh niệm bên Nguyên thủy rồi. Mỗi trường phái dùng một danh từ khác nhau để diễn giải ý tưởng của trường phái mình, nhưng bên trong ý nghĩa đâu có khác gì nhau. Đức Phật không dạy vô niệm mà chỉ dạy chánh niệm và vô ngã để có giải thoát. Tại sao? Bởi vì khi sáu căn tiếp xúc với thế gian thì mắt vẫn thấy sắc, tai vẫn nghe âm thanh, mũi vẫn ngửi mùi, lưỡi vẫn nếm thức ăn, thân vẫn có cảm xúc tức là đối cảnh mà vẫn vô tâm hay là “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nhưng chỉ thấy biết một cách khách quan, không cộng ngã kiến vào thì không bao giờ có khổ vui mà chỉ có an lạc. Tại sao? Bởi vì: “Chư Pháp tùng bổn lai, Thường tự tịch diệt tướng” nghĩa là các pháp từ xưa đến nay, tánh chúng thường vắng lặng, không hạnh phúc và cũng chẳng có khổ đau. Nói cách khác tất cả các Pháp từ Căn như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý đến Trần như sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cho đến sáu Thức đều là tự tánh thanh tịnh bản nhiên nghĩa là tự tánh của thiên nhiên là vậy (như thị), không khổ, không vui. Vì thế khi nói khổ đau hay hạnh phúc là có sự hiện diện của bản ngã trong đó nghĩa là tôi khổ hay tôi hạnh phúc rồi. Thí dụ cành hoa tự nó không đẹp, không xấu, không thơm, không thúi cho nên người biết đạo thì nhìn cành hoa là cành hoa thì tâm an lạc. Ngược lại, nếu cho cành hoa là đẹp thì trong tâm đã có sự so sánh, phân biệt. Tại vì mình cho nó đẹp, mình nghĩ nó đẹp…tức là có tự ngã. Thế thì đau khổ là không được như ý mình muốn còn hạnh phúc là thỏa mãn được ý muốn của mình. Nói cách khác thỏa mãn được Cái Ta thì gọi là hạnh phúc, ngược lại không thỏa mãn được Cái Ta thì gọi là đau khổ chớ trên thế gian này không có cái gì là khổ đau hay hạnh phúc cả. Do đó khi không còn sống với bản ngã thì người đó trở về sống với thực tánh pháp thì gọi là giải thoát thế thôi.

Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài dạy chúng sinh chớ vội tin những gì Ngài nói huống chi là kinh luận của các tông phái đời sau viết ra. (Believe nothing, no matter where you read it or who has said it, not even if I have said it, unless it agrees with your own reason and your own common sense. Buddha).

Ban biên tập TVHS viết rằng:”Nếu niệm khởi phải gắng để dẹp nó không? Nếu làm như vậy tức là chúng ta lập ra ý nghĩ là phải dẹp niệm đó”. Lấy một thí dụ trong cuộc sống lái xe hơi. Khi chúng ta lái xe mà trong đầu suy nghĩ đủ thứ chuyện thì sẽ bị rối loạn, căng thẳng và nguy hiểm cho việc lái xe. Muốn giữ cho an toàn thì cần phải thư giản và tỉnh giác”.

Thế thì vô niệm mà quý vị giải thích ở câu trên chính là tỉnh thức chánh niệm chớ là gì! Do vậy, trên thế gian này không có cái gì là vô niệm cả mà chỉ có chánh niệm. Danh từ Vô Niệm là do Thiền tông đặt ra chớ không phải do Đức Phật chế vì thế người học đạo cần phải sáng suốt để thấy con đường mình đi chớ không phải tin suông vào văn tự.

2) Ban biên tập TVHS viết rằng:””Cho rằng “Vô sanh đồng nghĩa với đoạn diệt. Tự mình làm cho mình “rớt” vào hàng ngũ của ngoại đạo “đoạn kiến” là cách tu sai lạc, đáng thương”  là hiểu không đúng, hiểu một cách sai lạc”.

Trong phần Tập đế của Tứ Diệu đế, Đức Phật đã giải thích rõ ràng biện kiến như sau:

Biện kiến: có nghĩa là lý luận một chiều. Đây là nói về những người có lý luận độc đoán. Họ nghĩ rằng lý luận của họ là đúng nhất bất chấp là lý luận ấy thực sự có đúng hay không. Có hai loại biện kiến thường thấy là:

-Thường kiến: là họ lý luận rằng khi chết rồi, cái Ta vẫn còn tồn tại mãi mãi. Người chết sẽ sanh ra người, còn súc vật chết sẽ trở lại làm súc vật và thánh nhân chết sẽ trở lại làm thánh nhân. Vì tin tưởng như vậy, nên đối với họ, có tu hay không tu cũng như nhau. Họ không sợ tội ác, nên chẳng cần làm thiện.

-Đoạn kiến: đối với nhóm nầy, thì họ nghĩ rằng chết là hết. Một khi chúng ta tắt thở, nhắm mắt xuôi tay thì không còn gì tồn tại nữa. Lúc đó tội cũng không mà phước cũng chẳng còn. Họ luôn luôn tâm niệm rằng:”Tu nhơn đức già đời cũng chết, hung hăng bạo ngược tận số cũng chẳng còn”. Vì tin tưởng như thế, nên luật nhân quả luân hồi đối với họ không còn ý nghĩa gì cả thành thử họ mặc tình làm điều tội lỗi.

Vì thế “Vô sanh” nghĩa là không còn tái sinh nữa tức là đoạn kiến chớ còn là gì nữa.

Ngày xưa Đức Phật chọn con đường trung đạo để xiễn dương đạo Phật nghĩa là thường kiến Ngài cũng phá mà đoạn kiến Ngài cũng phá. Tại sao? Giáo lý Phật Đà dựa trên thuyết “Duyên Khởi” và chân lý Vô Ngã. Khi Đức Phật thuyết giảng chân lý Vô Ngã cho nhóm ông Kiều Trần Như thì Ngài đã khẳng định rằng tất cả mọi hiện tượng trong thế gian này đều không ngừng tác tạo. Vì là do nhân duyên, nhân này quả nọ, mà thành chớ không có một vật thể nào tự chúng có được nên tất cả mọi hiện tượng đó không có thực thể, không có tự tánh tức là Vô Ngã. Con người chúng ta cũng thế, không có cái gì gọi là Cái Tôi hay Cái Của Tôi tức là Vô Ngã. Đức Phật gọi Cái Tôi chỉ là một ảo giác do tâm thức biến hiện. Sự sai lầm là con người luôn đồng hóa ngũ uẩn (thân, tâm) là Tôi cho nên họ luôn bám chặt vào nó như là một cá thể vững bền. Sự bám vúi đó chính là nguyên nhân đem lại biết bao nỗi khổ đau trong kiếp sống này và mãi mãi về sau. Vì thế dựa theo chân lý Vô Ngã thì làm gì có “vô sanh” cho nên nói vô sanh không là đoạn kiến hay tà kiến thì là gì?

Con đường trung đạo dựa theo thuyết Duyên Khởi là trong cái sinh đã ngầm chứa sự hủy diệt và trong cái chết đã ngầm chứa (kết duyên) cho sự sinh mới nghĩa là sinh ra rồi sẽ bị diệt và diệt rồi để sinh ra cái mới và cứ thế chu kỳ sinh sinh diệt diệt tiếp diễn không ngừng mà Phật giáo gọi là luân hồi. Vì thế từ vô ngã mà con người phải chịu sự biến hóa của luật vô thường để phải sinh tử luân hồi trong bao kiếp sống. Do đó vô sanh tức là đoạn diệt nếu không phải là lý luận của ngoại đạo thì là gì?

Ngày xưa Đức Phật và các vị A la hán khi chứng tứ thiền thì các Ngài đắc quả “vô sanh” nghĩa là các Ngài vĩnh viễn không còn tái sinh làm con người để phải chịu sinh tử khổ đau. Ngược lại phàm nhân thì phải chịu tái sinh nghĩa là tạo nhân thì chính mình phải thọ lãnh vì thế đạo Phật mới nói có luân hồi.

Lê Sỹ Minh Tùng

Oan Hồn Có Tồn Tại Ở Bệnh Viện Không? Làm Thế Nào Để Hóa Giải?

HT. Thích Giác Quang trả lời

VẤN: Chúng con là một nhóm các sinh viên y khoa và bác sĩ nội trú năm nhất thường thực tập và trực ở bệnh viện vào ban đêm. Ngày trước chúng con có nghe các anh chị sinh viên đi trước kể về các oan hồn họ thường thấy ở bệnh viện hay nhà xác nhưng chúng con cũng không tin là mấy. Dạo gần đây một số bạn trong nhóm kể thường thấy có bóng người lui tới lúc nửa khuya , kể cả nghe tiếng nước chảy nhưng khi vào nhà tắm thì chẳng thấy ai, cả nhóm cho là hoa mắt. Có một số bạn chẳng biết thế nào vừa đến ca trực người cảm thấy mê mệt, chỉ muốn ngủ, không phải vì bạn ấy thiếu ngủ và đôi khi nằm ở góc nào trong phòng trực ngủ rất ngon nhưng ngắn, khi tỉnh dậy người cứ như trên mây một lúc mới bình thường trở lại. Một số bạn còn có triệu chứng khó thở, người rất xanh nhợt nhạt sau những lần thực tập ở khoa chấn thương nhiều người liên tục qua đời. Có một bạn trong nhóm biết chút Phật pháp khuyên nên niệm Phật hay trì Chú Đại Bi và có lần bạn ấy trì chú thì một bạn hôn trầm đã tỉnh dậy. Con phân vân không hiểu là những gì chúng con thấy có đúng không? Có oan hồn thật sự trong bệnh viện không? Tại sao họ chưa siêu thoát? Nếu chúng con phải trì chú thì nên trì chú nào là đúng nhất? Chúng con xin cảm ơn Sư ạ.

ĐÁP:

Oan hồn, hồn ma, ma, cô hồn gọi chung là “ma”:

Bàn đến “ma”, “hồn ma bóng uế” đối với Phật giáo là việc không tưởng! Người Phật giáo cũng không tin là có ma. Phật giáo quan niệm ma là những nghiệp lực, chướng duyên cản trở quá trình tu chứng của người đệ tử đức Phật, như: ma tiền tài, ma danh vọng, ma sắc đẹp, ma ngủ nghỉ, ma ngũ dục… chứ không có vấn đề ma nhác, ma hiện hình cho người đời thấy, ma báo mộng, đưa tin…

Theo từ điển Việt Nam của Thanh Nghị thì hồn ma, oan hồn là bóng hình quái dị của người đã chết mà lắm người tin rằng có thể hiện ra. Như nói “ma da” là ma dưới nước, oan hồn, ma xó, cô hồn. Hồn ma là sự ám ảnh đối với người sống, “hồn ma” là hiện tượng mà mọi người tin là có, hoặc có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và “hồn ma” có thể xuyên qua khe hở, qua cửa, qua tất cả vật thể để đến với người sống, lúc bấy giờ người sống gọi là “ma nhác”. Câu chuyện “ma” là câu chuyện vô cùng hấp dẫn, nói mãi không hết chuyện “ma”. Người sợ “ma” bao nhiêu thì thích nghe nói chuyện “ma” bấy nhiêu… Thật ra “hồn ma” là một hiện tượng “vô thể” đối lập với “hữu thể”!

Như người bệnh mới vừa bị cưa mất khúc chân, người đó vẫn còn cảm giác bên khúc chân bị cưa mất về sự đau đớn, nhức nhối. Sự đau đớn nhức nhối ở khoản không bên khúc chân vừa bị cưa mất gọi là “chân ma”.

Nghe nói có người chết trên giường bệnh trong một bệnh viện lớn, vắng vẻ, xe hồng thập tự vừa đưa xác người chết xuất viện về quê… việc nầy đối với các Bác sĩ thì chẳng là gì! Nhưng với người bình thường vừa đến đây có cảm giác lành lạnh sờ sợ, khi vào bên trong đi ngang các phòng bệnh, nghe chuyền tai nơi đây hôm qua có người chết vừa đem ra khỏi giường… Cái cảm giác có người chết nằm trên giường, hôm qua còn người nằm, hôm nay không còn người nằm, liền nảy sanh sợ chỗ đó gọi là “sợ hồn ma bóng uế”.

Đối với các tôn giáo:

Nói đến ma, hồn ma, oan hồn, mọi người tiến bộ trên hành tinh nghĩ ngay đến tôn giáo, chỉ có những người làm công tác tôn giáo mới hóa giải vấn đề hồn ma. Một số tôn giáo và nền văn hóa dân gian quan niệm, con người gồm thể xác (mang tính chất vật chất) và linh hồn (mang tính chất phi vật chất). Khi thể xác chết, linh hồn xuất khỏi thể xác. Nếu linh hồn đó không có cơ hội đầu thai hoặc nơi trú ngụ chung với các linh hồn khác mà tương tác với cõi thực có con người sẽ gọi là "ma", "hồn ma"; nhưng nếu các phần phi vật chất đó tương tác với cõi thực của con người theo tình cảm, theo trách nhiệm được giao của các tôn giáo thì lại gọi là "hồn", "linh hồn", "thánh", "thần", "thiên sứ".

Theo Phật giáo:

Con người, nói chung là chúng sanh sau khi chết, không có một linh hồn, oan hồn nào tồn tại sau khi thân ngũ uẩn tan rã! Thân chúng sanh gọi là thân ngũ uẩn hay ngũ ấm, gồm có sắc, thọ, tưởng hành và thức: sắc dụ cho máu thịt gân xương v.v… và tâm (thọ, tưởng, hành, thức) dụ cho tâm thức, sự hiểu biết tạo ra nghiệp lực, hình thành một con người.

Có thể hiểu cách khác: thân người gồm có đất, nước, lửa, gió (là máu, thịt, gân, xương), tâm là thức đại, không đại (là sự hiểu biết); sau khi qua đời, đất, nước, lửa, gió được trả về với đất, nước, lửa, gió; thức đại, không đại được trả về với hư không và sau 49 ngày tái sanh theo nghiệp lực đã tạo. Như vậy, không còn gì ở lại thế gian nữa, làm gì có hồn ma hay oan hồn?

Việc cúng cầu siêu cho hương linh người qua đời, ngày kỵ giổ mời ông bà về thọ hưởng là đứng về mặt tín ngưỡng tưởng niệm người quá cố. Tưởng niệm không phải tin rằng có linh hồn tồn tại sau khi chết, tưởng niệm nói lên đạo đức của người con Phật, không quên ân sâu nghĩa nặng của cửu huyền thất tổ, ông bà cha mẹ, quá thế nhiều đời, cũng như cha mẹ tại tiền. Tưởng niệm cũng chính là để đáp ân sanh thành dưỡng dục của người con Phật mà thôi, hoặc cúng thí thực cho các “oan hồn” được siêu thoát là vì phát huy lòng từ thiện: người chết còn nghĩ đến huống gì người đói nghèo!

Con người hình dung về hồn ma:

Cho đến nay, hồn ma vẫn là bí ẩn đối với nhân loại, có những câu chuyện hư cấu về hồn ma, nhưng cũng không thể kết luận được có phải hư cấu hay không. Sự bí ẩn của hồn ma xuất phát từ giới hạn tri thức và hiểu biết của con người (nói chung) và các nhà khoa học (nói riêng).

Hồn ma thường được miêu tả là một dạng người, nhưng thông thường là "trắng bạc", "cái bóng lờ mờ", "nửa trong suốt", hay "tựa như sương mù", "đống đen thùi lùi". Hồn ma không có cơ thể sống như con người, hoặc chỉ là bộ xương người biết đi. Xã hội của các oan hồn theo nhiều người là "âm phủ" còn chỗ ở của hồn ma là cái mộ (sống cái nhà, thác cái mồ) vì vậy họ xây dựng nhà mồ rất đẹp có nhiều nghĩa địa khang trang như một thành phố. Nhưng hồn ma cũng có thể vương vất ở những nơi tăm tối, vắng vẻ nơi có liên quan đến họ khi còn sống.

Ở một số tín ngưỡng dân gian:

Người có "duyên" với hồn ma mới có thể nhìn thấy hồn ma hoặc chỉ những người có khả năng đặc biệt còn gọi là các nhà ngoại cảm là có thể thấy và tương tác với hồn ma. Nhiều người cho rằng oan hồn (ma) có khả năng biết tất cả những gì người sống nghĩ, có khả năng biết được các việc đã, đang và sắp xảy ra, hoặc có khả năng tác động lên thể xác, lời nói của người sống như hiện tượng lên đồng, tác động lên cảm quan người sống như dắt người sống đi lạc vào bụi, xúi người sống ăn đất mà tưởng ăn bánh hoặc hồn ma có thể tác động lên vật chất như tạo ra tiếng động, tắm trong nhà tắm nữa đêm, rung cây, xô lệch bàn ghế...

Oan hồn theo nghĩa đen tức là người chết không do từ một nguyên nhân cố định (bệnh chết, già chết) như xe đụng hết, bị lạc đạn chết, bị chết vì nước, lửa, lốc xoáy… gọi là chết oan, chết tức tửi. Người chết không có người cứu, không có người tụng kinh, đưa linh, nên người đời gọi đó là những oan hồn, còn ẩn khuất đâu đây chưa siêu thoát. Cứ nghĩ như thế mãi theo thời gian và cho rằng người chết đó không siêu thoát nên thành “ma đói, ma ngã ba đường cái, ma oán, oan hồn, cô hồn”.

Lời khuyên:

Bạn có thấy những oan hồn, nghe những sinh hoạt của oan hồn, nghe tiếng nước chảy trong bồn tắm, nghe trong người của Bạn có hiện tượng khác, ngầy ngật, ợ ngáp, khó thở… đó là do nghiệp thức của Bạn cảm ứng.

Người đời nói chuyện “hồn ma” vì thấy có “hồn ma”. Khi các Bạn nghĩ đến ma, thấy ma, nói chuyện ma, nghi có ma ở nơi nào đó thì Bạn cảm thấy sợ sệt, nhất là những nơi vắng vẻ… Theo Sư thì hôm nay chúng ta sợ “ma sống” hơn là “ma chết”, “ma xã hội đen” đấy Bạn ạ!

Về đạo đức tâm linh, Bạn niệm thần chú Vãng sanh, thần chú thất Phật diệt tội chân ngôn (Thập chú trong kinh Nhựt Tụng), Bạn chỉ còn thấy đức Phật, Bồ Tát, nên không còn thấy “hồn ma bóng uế” nữa!

HT Thích Giác Quang (Quán Âm Tu Viện - TP. Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai)

TẨU HỎA NHẬP MA

Nhiên Như-Quảng Tánh

HỎI:Chúng tôi đang tự thực tập tọa thiền ở nhà nhưng một số người nói như vậy là không được, dễ bị “tẩu hỏa nhập ma”. Vì thế, cần phải tìm các bậc minh sư hướng dẫn. Xin cho biết phải thiền thế nào cho đúng? “Tẩu hỏa nhập ma” là gì? Tu thiền có bị “tẩu hỏa nhập ma” không?
(TÂM THÀNH, Bình Chánh, TP.HCM; HOÀNG NGUYỄN, hoang.inf@gmail.com) 

ĐÁP: Bạn Tâm Thành và Hoàng Nguyễn thân mến!

Thiền định là pháp môn tu tập cốt tủy của Phật giáo. Đức Thế Tôn nhờ nỗ lực thiền định mà chứng đạt giác ngộ tối thượng. Nội dung tu tập thiền định của Thế Tôn hiện vẫn được lưu truyền và ứng dụng phổ cập trong cả hai truyền thống Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền.

Tu tập thiền định hiện nay rất phổ biến trong giới Phật giáo và cả những người không có tôn giáo hay theo các tôn giáo khác. Thiền định giúp hành giả tăng cường sức khỏe, thư giãn tinh thần, sống lạc quan, hạnh phúc và an vui. Quan trọng hơn, thiền định giúp người thực tập an trú chánh niệm, làm chủ thân tâm, xả ly và đoạn tận tham ái phiền não, thành tựu trí tuệ, giải thoát, Niết bàn.

Ở Việt Nam hiện có nhiều thiền phái đang được truyền bá với đông đảo thiền giả thực tập. Đơn cử như thiền phái Trúc Lâm (Thiền sư Thích Thanh Từ), thiền chánh niệm của pháp môn Làng Mai (Thiền sư Thích Nhất Hạnh), thiền công án, thiền Tứ niệm xứ, thiền Minh Sát Tuệ v.v… Tuy đồng nhất một mục tiêu thành tựu giải thoát nhưng kỹ thuật và phương thức dụng công, mỗi thiền phái có khác biệt nhau. Do vậy, để thực tập thiền đúng Chánh pháp, các bạn cần phải theo học một trong những thiền phái này, sau đó mới ứng dụng tu tập tại nhà.

Nói cách khác, muốn tu tập bất cứ pháp môn nào, trước hết phải có các bậc thầy nhiều kinh nghiệm hướng dẫn, kế đến là tham khảo nghiên cứu thêm các kinh sách, chỉ nam liên hệ đến pháp môn để nắm vững các phương pháp và kỹ thuật thực tập. Nếu chưa hội đủ những yếu tố căn bản này mà vội vàng thực tập thì dù cố gắng thật nhiều vẫn khó tiến bộ và không thể đạt đến thành công. Mặt khác, trong quá trình thực tập thiền định, nếu không nắm vững phương pháp và kỹ thuật thì có thể dẫn đến một số rối loạn về hơi thở, thân và tâm cùng với những di chứng khó lường, thường gọi là “Thiền bệnh” hay gọi nôm na là “tẩu hỏa nhập ma”.

Tuy nhiên, hiện tượng “tẩu hỏa nhập ma” và những liên hệ đến thiền định Phật giáo là điều cần phải bàn. Sau khi tra cứu một số từ điển Phật học thông dụng như Từ điển Phật học Huệ Quang (Thích Minh Cảnh chủ biên, NXB.Tổng Hợp TP.HCM), Từ điển Phật học Hán Việt (NXB.Khoa Học Xã Hội), Từ điển Thiền tông Hán-Việt (Hân Mẫn-Thông Thiền biên dịch) thì tuyệt nhiên không thấy đề cập đến vấn đề “tẩu hỏa nhập ma”.

Thực ra, “tẩu hỏa nhập ma” là các tai biến xuất phát từ việc luyện tập công phu võ thuật trái với quy luật vận động sinh lý tự nhiên (Có thể vì vậy mà “tẩu hỏa nhập ma” không được đề cập đến trong kinh sách Phật giáo). Theo các nhà luyện công, “tẩu hỏa” là tình trạng khí lực chuyển động bất chấp quy luật và nằm ngoài ý muốn của người luyện công. Các triệu chứng của “tẩu hỏa” bắt đầu với những cơn căng tức ở bụng và ngực kèm theo cảm giác hoa mắt chóng mặt do khí lực di chuyển thái quá đến các bộ phận cơ thể gây ra. Đến một giai đoạn nặng hơn, người luyện công sẽ cảm thấy đau đớn, nóng rực toàn thân và dần mất hẳn sự tự chủ cho đến điên cuồng. “Nhập ma” là trạng thái mê loạn với những ảo ảnh vọng tưởng hoặc không bao giờ có thật của người luyện công. “Nhập ma” được coi là rất nguy hiểm vì chỉ được phát giác ở giai đoạn bệnh đã trở nên nặng nề, khó chữa trị. Đây là quá trình người luyện công dần dần bị lôi cuốn vào những ảo ảnh để rồi lấy giả làm thật, tiến đến trạng thái hôn mê, tán thần và dẫn tới sự điên cuồng vào giai đoạn cuối.

Như vậy, “tẩu hỏa nhập ma” là bệnh của người luyện công vì không tuân thủ các nguyên tắc luyện công, vận khí, điều tâm cũng như quá nôn nóng để thành công hay tham lam luyện nhiều võ công lai tạp. Người luyện công tuy có thực tập thiền nhưng phối hợp với vận khí, khai mở các trung tâm lực trong cơ thể nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sinh khí và gia tăng nội lực. Các phương pháp này có thể gây những nguy hiểm nếu người tập thiếu những kiến thức về khí công, về y học truyền thống, hoặc không có đạo sư hướng dẫn để vận dụng và kiểm soát kịp thời nguồn năng lực mới phát sinh. Và rõ ràng, mục đích tọa thiền của người luyện công hoàn toàn khác với các hành giả thực tập thiền định Phật giáo.

Những thiền giả Phật giáo tu tập thiền định khiến tâm trí tĩnh lặng, thư giãn thần kinh cũng như cơ bắp, giúp hơi thở nhẹ, đều và sâu hơn nên sức khỏe được cải thiện rõ rệt. Mặt khác, các phương pháp thiền định Phật giáo không vận khí, không bám víu vào bất cứ ảo giác, âm thanh hoặc hình ảnh nào, xả ly hết tham ái và phiền não nên rất an toàn và hoàn toàn có thể tránh được tai biến “tẩu hỏa nhập ma” mà một số nhà luyện công mắc phải.

Chúc các bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN

TU TẬP XẢ LY PHẢI CHĂNG LÀ VÔ CẢM?

HỎI: Người tu lập nguyện xả ly, buông bỏ hết mọi thứ tạp niệm, tâm không vướng bận, không màng chuyện thế sự, vậy điều đó có phải là vô cảm không? Đạo Phật dạy mọi người hãy xem nhẹ mọi chuyện, đừng bám víu, hãy xem mọi thứ là Không thì sẽ chẳng dính mắc, nhưng tôi không biết làm thế nào mới là đúng? 

Đơn cử như khi đi đường gặp cảnh cướp giật nếu không giúp người đuổi cướp sẽ bị gọi là vô cảm, hèn nhát, còn đuổi theo thì có phải là động tâm, bị sân si chi phối không? Một việc khác, như người trong gia đình bị kẻ xấu hãm hại, mình không can thiệp thì không thương gia đình, nhưng mình trả thù thì có đúng không? Thật khó quá khi không làm gì thì bị coi là vô cảm, còn can thiệp vào thì tâm chưa tịnh.

(NAM, nam.torres_t9@yahoo.com)

ĐÁP:

Bạn Nam thân mến!

Trước tiên cần minh định rằng, xả ly và vô cảm là hai vấn đề hoàn toàn khác biệt nhau. Vô cảm là không có cảm xúc, tâm trơ lì với mọi người, mọi sự trong cuộc sống. Người vô cảm tâm không còn rung động, thờ ơ và dửng dưng trước những khổ đau của người khác. Xả ly là tâm buông bỏ, không dính mắc vào ngũ dục (tiền tài, sắc đẹp, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ), không chấp thủ vào cái “tôi và tự ngã của tôi”; một tâm thái tự do với đầy đủ trí tuệ và từ bi. Nói cách khác vô cảm là biểu hiện của tâm si mê, vô minh, còn xả ly là biểu hiện của minh triết, trí tuệ.

“Nguyện xả ly, buông bỏ hết mọi thứ tạp niệm” là không tham lam, sân hận, si mê… phiền não, tâm luôn tràn đầy hoan hỷ, yêu thương, dấn thân phụng hiến, lợi mình và người. Người tu “không màng chuyện thế sự” nên hiểu là những thăng trầm, vinh nhục, khen chê ở đời không tác động hay chi phối lên tâm bình an của họ, hoàn toàn khác tâm lý an phận, trốn đời kiểu “mũ ni che tai” vốn không phải là hạnh xả ly (luôn có mặt đồng thời với từ-bi-hỷ-xả) của Phật giáo.

Đạo Phật dạy quán Không, tức nhìn thật sâu sắc vào các pháp để thấy như thật về tính chất duyên sinh của chúng. Vạn pháp do duyên sinh nên vô thường, do duyên khởi nên vô ngã. Phàm đã vô thường, vô ngã thì sự vật hiện tượng tuy có đó nhưng chỉ là giả có, không chắc thật nên không bám víu, không dính mắc. Đây là một tuệ giác lớn, là một sự thật khách quan, cần phải quán chiếu thâm sâu mới ngộ ra được. Khi đã có tuệ giác trực nhận tánh Không thì luôn tự tại, thảnh thơi, vui sống vì mọi người, vì cuộc đời.

Người có tâm xả ly luôn phát huy tuệ giác để ứng xử thích hợp với từng hoàn cảnh trong cuộc sống. Cụ thể như gặp cảnh cướp giật, người tu liền vận dụng trí tuệ phân tích tình huống, lượng sức mình để chọn giải pháp như: đánh đuổi bọn cướp, gọi cơ quan chức năng, kêu gọi mọi người cùng ứng cứu, giúp đỡ người bị hại…, làm tất cả khả năng có thể để cứu người với tâm từ bi mà không hề có chút sân hận. Điều này hoàn toàn khác với người sân si hay vô cảm.

Trường hợp khác, nếu người thân của mình bị hại thì mình cũng tìm mọi cách để lấy lại sự công bằng, đem sự việc ra ánh sáng nhưng điều đó hoàn toàn không phải là hành động “trảthù”. Người có tâm xả không hề tồn tại ý niệm trả thù mà chỉ theo lương tâm, trách nhiệm và lòng từ bi để làm sáng tỏ công lý, để ứng xử và đối đãi với mọi người, kể cả thủ phạm gây oan nghiệp cho người thân của mình.

Cần nói thêm rằng, có một số trường hợp nhìn vào hình thức bên ngoài thì người tu hạnh xả ly và người vô cảm có biểu hiện khá giống nhau nhưng bên trong tâm thức của họ lại khác biệt nhau. Đơn cử như trước sự được mất của bản thân, người tu hạnh xả ly thấy rõ tính chất huyễn ảo của cuộc sống nên tâm không động, bình thản mà tiếp tục phụng hiến làm đẹp cho đời. Ngược lại, người vô cảm tâm cũng không động nhưng chẳng có động thái nào dấn thân phụng sự cả. Và trước sự được mất của người khác, người vô cảm thì dửng dưng còn người tu hạnh xả ly quán thấu nhân quả-nghiệp báo của họ nên bình thản an nhiên, chỉ tìm cách sẻ chia hay giúp đỡ trong khả năng có thể.

Nói chung tâm xả ly là biểu hiện của trí tuệ, có trí mới buông bỏ được. Bốn tâm vô lượng từ-bi-hỷ-xả luôn có mặt trong nhau, tương tức với nhau nên xả ly có mặt thì từ, bi, hỷ đồng thời hiện hữu. Vậy nên xả ly hoàn toàn khác biệt với vô cảm. Vì vậy, bạn hãy phát huy trí tuệ, thấy bản chất các pháp là tánh Không mà xả ly. Buông xả càng nhiều thì hạnh phúc, an vui càng lớn.

Chúc bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN

TÂM Ở ĐÂU?

Tỳ Kheo Thích Phước Thái

Hỏi: Kính bạch thầy, trong lúc chúng con bàn bạc nói về tâm, thì một bà bạn hỏi con, chị nói tâm mà chị có biết tâm ở đâu không? Con đành ngậm miệng nín thinh không biết phải trả lời ra sao. Vậy kính xin thầy giải đáp cho chúng con được rõ.

Đáp: Phật tử nín thinh không trả lời cũng phải. Bởi vì ngay câu hỏi của bà bạn đó đã sai rồi. Nếu Phật tử có trả lời thì Phật tử cũng sai luôn. Thí như có người hỏi Phật tử: không khí ở đâu? Hỏi thế, thì Phật tử làm sao trả lời. Biết không khí ở đâu mà trả lời. Tâm của chúng ta cũng giống như không khí. Nói giống là vì không khí, không có hình tướng chỗ nơi. Nó bàng bạc trùm khắp tất cả. Tâm ta cũng thế. Nhưng tâm có khác hơn không khí là ở chỗ không khí thì vô tri, nhưng tâm lại là hữu tri, nghĩa là có cái “Biết” rõ ràng.

Chính vì cái biết không hình tướng, nên nó không có chỗ nơi cố định. Nhưng, người hỏi thì muốn biết chỗ trú ngụ của nó, cũng như muốn biết chỗ trú ngụ của không khí. Mà tâm hay không khí làm gì có nơi chốn để trú ngụ. Tuy nhiên, đứng về mặt học thuật trao đổi tìm hiểu, thì chúng tôi cũng xin tạm giải thích đôi điều. Kỳ thật, thì câu hỏi đó đã sai rồi. Nếu đặt câu hỏi: thế nào là tâm vọng? và thế nào là tâm chơn? Hỏi như thế, thì chúng ta còn có thể dễ trao đổi bàn bạc với nhau hơn.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, Tôn giả A nan đã hỏi Phật bảy lần về chỗ trú ngụ nơi chốn của tâm, tất cả đều bị Phật bác hết. Vì Ngài A nan cũng muốn biết cái tâm nó ở chỗ nào. Nên bảy lần Ngài nêu ra bảy nơi: “Tâm ở trong thân, ở ngoài thân, tâm ẩn trong con mắt, trở lại cho tâm ở trong thân, tâm tùy chỗ hòa hợp, tâm ở chính giữa, cuối cùng, Ngài cho chỗ không dính mắc đó là tâm. Cứ mỗi lần Ngài nêu ra mỗi nơi, tất cả đều bị Phật bác hết”. Sau đó, Ngài hốt hoảng kinh sợ không lẽ mình không có tâm. Mà nếu không có tâm thì làm sao biết tu hành thành Phật? Đó là chỗ hoang mang thật khó hiểu. ( Nên nhớ, Ngài A nan chỉ là đại diện cho chúng sanh để thưa hỏi thôi, chớ không phải Ngài dốt nát như chúng ta ).

Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh, chuyên thuyết minh giải bày cặn kẽ về chân tâm và vọng tâm. Muốn biết chân tâm, thì chỉ cần hết vọng thì chân hiện. Thí như vẹt hết mây mù thì ánh trăng sáng hiện ra. Như vậy, tu hành ta không cần phải tìm cầu chân tâm, vì có ý niệm tìm cầu là đã sai rồi. Ngài Tú Tài Trương Chuyết nói: “Đoạn trừ phiền não trùng tăng bệnh, thú hướng chân như tổng thị tà” . Nghĩa là, có ý niệm đoạn trừ phiền não, thì đó là càng thêm bệnh. Vì phiền não tự tánh vốn không. Đã không, thì đoạn trừ cái gì? Chính cái ý niệm khởi lên muốn đoạn trừ, đó là bệnh rồi. Còn có khởi ý niệm tìm cầu chân như thì đó cũng là tà ngoại. Vì sao? Vì tánh giác không phải là đối tượng để mong cầu. Vừa khởi ý niệm là đã trái với tánh giác rồi. Như vậy, chơn tâm là một thực thể thanh tịnh sáng suốt hằng hữu. Vì nó vốn không có hình tướng, giống như hư không, nên bất sanh bất diệt… Một thực thể trùm khắp pháp giới như vậy, thì làm gì có chỗ nơi mà tìm cầu. Tuy nhiên, tâm vọng khi dấy khởi thì nó có bóng dáng hình tướng. Đó là do vì, nó duyên với sáu trần mà có ra hình bóng, rồi chúng ta lại lầm chấp những cái bóng dáng đó cho là tâm thật của chính mình. Còn cái thể chơn tâm vắng lặng rỗng suốt hằng hữu thì chúng ta lại quên mất. Do đó, nên Phật thường quở trách chúng ta là những kẽ si mê tăm tối. Chúng ta vọng nhận cái tâm giả dối dấy lên từng chập, từng hồi, thì lại cho đó là tâm mình. Vì vọng chấp như thế, nên chúng ta mới theo nó mà tạo nghiệp luân hồi thọ khổ.

Nói rõ hơn, cùng là cái thấy biết, nhưng nó có hai phương diện, giống như đồng tiền cắc có hai mặt ( tạm dụ như thế): cái biết do theo cảnh phân biệt thương ghét, phải trái, tốt xấu, hay dở v.v… thì đó là cái biết vọng. Còn cái biết mà không theo vọng duyên phân biệt, nhưng vẫn thường hằng chiếu liễu, thì gọi đó là cái biết chơn, tức vô phân biệt. Kinh Lăng Nghiêm có đoạn Phật dạy Tôn giả A nan: “Nhược ly tiền trần hữu phân biệt tánh, tức chơn nhữ tâm”. Nghĩa là, nếu rời cảnh vật hiện tiền, mà cái “suy nghĩ phân biệt” nầy vẫn còn, thì mới thật là chơn tâm của ông. Trong kinh thường gọi là chơn tâm hay chơn như. Tuy biết mà không có bóng dáng hình tướng, tự thể làu làu trong sáng vắng lặng vậy.

Cái biết nầy khác hơn cái biết vọng là ở chỗ phân biệt và vô phân biệt. Tuy nhiên, ta nên lưu ý, nó không phải là hai thực thể riêng biệt. Nói một là sai mà nói hai thì không đúng. Như sóng và nước không thể tách rời ra. Nhưng khi sóng nổi lên, thì ta không thể nói sóng là nước. Nhưng khi sóng lặng thì toàn thể tánh nước hiện bày. Cũng thế, khi cái biết dấy khởi lên phân biệt cảnh duyên, thì nó là hiện tượng giả dối, tạm gọi nó là vọng tâm. Cái biết nầy giống như hiện tượng của sóng. Khi cái biết nầy lặng xuống, thì cái biết “không phân biệt” nói gọn là “Tánh không”, toàn thể hiện bày. Như sóng tan thì nước hiện, mây tan thì trăng hiện. Vì thế, trong kinh thường nói: “phiền não tức Bồ đề, hay sanh tử tức Niết bàn” chính là ý nầy. Một thực thể không hình, không tướng, không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch v.v… nghĩa là vượt ra ngoài đối đãi nhị nguyên như thế, thì làm gì có nơi chốn mà hỏi tâm ở đâu.

Lạy Phật cách nào đúng?

Lạy Phật theo cách “ngũ thể đầu địa” là thể hiện lòng tôn kính nhất.

HỎI: Tôi được biết lạy Phật nên theo cách “ngũ thể đầu địa”, đại thể là hai chân, hai tay và đầu đụng mặt đất, tâm thanh tịnh và trang nghiêm. Tuy nhiên thực tế tôi thấy nhiều người lạy Phật với những cách thức khác nhau: Có người ngửa hai lòng bàn tay, trán cúi đặt vào lòng bàn tay. Có người thì úp hai bàn tay xuống đất, trán cúi đặt vào lưng bàn tay. Có người thì trán cúi chạm xuống đất, còn hai bàn tay ngửa đưa ra phía trước trán. Có người khi cúi đầu lạy xuống, giữ lại một lúc. Có người cúi lạy xuống thì ngẩng đầu lên ngay. Tôi không biết cách lạy nào đúng? Ý nghĩa của cách thức lạy ấy thế nào? Kính mong quý Báo hướng dẫn.

(CHÁNH TÂM, tanlochappy@yahoo.com.vn)

ĐÁP:

Bạn Chánh Tâm thân mến!

Đúng như bạn nói, lạy Phật theo cách “ngũ thể đầu địa” là thể hiện lòng tôn kính nhất. Ngũ thể đầu địa có nghĩa là năm vóc (đầu, hai tay và hai chân) gieo sát đất. Theo Phật Quang đại từ điển, tập 3, dẫn sách Đại Đường Tây Vực ký (quyển 2), nói về cách lạy Phật “năm vóc gieo xuống đất” gồm: Trước hết, quỳ gối bên phải (gồm toàn bộ gối, cẳng chân và mu bàn chân) sát đất, kế đến là gối bên trái, rồi đến hai khuỷu tay sát đất, hai bàn tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán, sau cùng là đỉnh đầu đặt sát đất, giữ yên một lúc, như thế gọi là một lạy.

Điều cần lưu ý là động tác “hai khuỷu tay sát đất, hai bàn tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán”. Động tác này biểu thị cho việc hai tay người lạy nâng bàn chân của Thế Tôn cung kính đảnh lễ . 

Cho nên, cách lạy này còn gọi là “đầu diện tiếp túc quy mạng lễ” (đầu mặt chạm chân Thế Tôn cung kính lễ lạy). Như vậy, cách lạy mà bạn mô tả “trán cúi chạm xuống đất, còn hai bàn tay ngửa đưa ra phía trước trán” là đúng với cách lạy “ngũ thể đầu địa”.

Một điều nữa cần lưu tâm là “đầu đặt sát đất, giữ yên một lúc”. Việc cúi lạy rồi “giữ yên một lúc” là rất cần thiết vì không chỉ thân mà cả tâm đều cung kính lễ. Do đó, cần một khoảng thời gian để dốc hết tâm tư cung kính lễ lạy Phật. Lạy Phật nên chậm rãi, thong thả mới trang nghiêm và thành kính. Nên, những ai “cúi đầu lạy xuống, giữ lại một lúc” là đúng với quy cách lạy “ngũ thể đầu địa”.

Theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao, khi kính lễ Tam bảo năm vóc gieo sát đất có ý nghĩa nhiếp phục sự kiêu mạn và tỏ lòng thành kính: 1. Khi gối bên phải sát đất nguyện cho chúng sanh được đạo chánh giác. 2. Khi gối bên trái sát đất, nguyện cho chúng sanh không khởi tà kiến ngoại đạo, tất cả đều an trụ trong đạo chánh giác. 3. Khi tay phải sát đất, nguyện như Thế Tôn ngồi tòa kim cương, đại địa rúng động, hiện bày tướng lành, chứng nhập đại Bồ-đề. 4. Khi tay trái sát đất, nguyện cho chúng sanh xa lìa ngoại đạo, khiến họ vào chánh đạo. 5. Khi đỉnh đầu sát đất, nguyện cho chúng sanh lìa tâm kiêu mạn, đều được thành tựu vô kiến đỉnh tướng.

Chúc bạn tinh tấn!

ĐẠO NÀO CŨNG LÀ ĐẠO

Tâm Diệu biên soạn

Có người cho rằng “đạo nào cũng là đạo”. Câu nói này thoạt nghe qua có vẻ hợp lý và là một ý tưởng hấp dẫn. Nếu hiểu theo một cách đơn giản, trong phạm trù luân lý đạo đức là đạo nào cũng dạy con người làm lành tránh dữ, thì câu này rất hợp lý. Tuy nhiên, chúng ta cần phải suy xét và nhận định lại quan niệm đó qua lăng kính tôn giáo.

Trước hết có thể nói ngay rằng câu “đạo nào cũng là đạo” hay “đạo nào cũng tốt” chỉ là một câu nói xã giao thông thường hoặc để làm vừa lòng khách, vui lòng bạn hay có thể do sự thiếu thông tin về sự khác biệt giữa các tôn giáo. Trong phạm vi bài này người viết thu gọn về sự khác biệt căn bản giữa hai tôn giáo lớn có đông đảo tín đồ tại Việt Nam là Kitô Giáo [01] và Phật Giáo để giúp cho những người đang đứng ở giữa ngã ba đường tầm Đạo với ấn tượng đạo nào cũng tốt để nhận thấy con đường nào phải lựa chọn. Việc chọn lựa là quyền của mỗi người. Dĩ nhiên mỗi người phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Người viết chỉ xin chúng ta suy nghĩ đến sự thật.

Trước khi đi vào chi tiết, chúng ta cần ghi nhận rằng, Phật Giáo là một tôn giáo hoàn toàn khác biệt với các tôn giáo khác trên thế giới về mặt tư tưởng triết học. Phật Giáo không chấp nhận giả thuyết có một vị Trời hay một vị Thượng Đế sáng tạo, không có giáo điều, không có một linh hồn bất tử vĩnh hằng, và không có một đấng quyền năng sáng tạo nào ngự trị trong cái gọi là định mệnh hay số mệnh của mỗi con người. Vì thế, điểm then chốt trong việc phân biệt giữa Phật giáo với các truyền thống tín ngưỡng lớn trên thế giới là vấn đề có hay không một Đấng Sáng Tạo? Đối với Phật giáo, ý niệm về một “nguyên nhân đầu tiên” không hề được đặt ra để lý giải do bởi ý niệm về tánh không và duyên khởi.

Điểm khác biệt căn bản đầu tiên giữa hai đạo là Niềm Tin Tôn Giáo:

Đối với Kitô Giáo, Đức Tin là cốt lõi của đạo. Nếu không tin thì không thể trở thành một Kitô hữu được. Không tin thì không thể thực hành những gì mà đạo Kitô đòi hỏi được. Đức Tin được ghi trong bản Kinh Tin Kính của các Tông Đồ (Apostle's Creed) thường gọi tắt là Kinh Tin Kính. “Tôi tin kính Thiên Chúa, là Cha toàn năng, là Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình”. [02]

Đối với Phật Giáo, vị sáng lập tôn giáo này – Đức Phật Thích Ca – khuyên những người muốn theo Ngài chớ có tin một điều gì chỉ vì điều đó đã được một bậc đạo sư của mình nói ra, được phát xuất từ nơi có uy quyền, được kinh điển truyền tụng hay theo truyền thống từ xưa để lại; mà phải dùng lý trí và sự thông minh của mình để cứu xét và chỉ chấp nhận điều gì khi đã trải nghiệm được hạnh phúc an lạc. Ngài nói rằng “Ta không dạy ai đến để tin, nhưng đến để thấy và thực hành”. Điều này đã khuyến khích những người muốn đi theo Ngài hãy nghiên cứu kỹ càng những lời dạy của Ngài và để cho họ tự do quyết định là có nên chấp nhận những điều chỉ dạy đó không. Ngài không bảo ai đến và chấp nhận tôn giáo này nếu họ chưa hiểu những lời dạy của Ngài.[Kinh Kalama] [03].

Nói gọn lại Kitô Giáo là tôn giáo của “đức tin” (faith) và Phật Giáo là tôn giáo của “lý trí” (trí tuệ). [4]

Điểm khác biệt thứ hai giữa Kitô Giáo và Phật Giáo là quan niệm về giải thoát.

Đối với Kitô Giáo, thì sự giải thoát là sự "giải thoát khỏi tội lỗi qua một Đấng Cứu Rỗi". Giáo lý giải thoát này được đặt trên căn bản một số tín điều mà các tín hữu Kitô Giáo phải tin, và đức tin này là tuyệt đối, bất khả tranh cãi, bất khả luận bàn. Vì thế muốn được giải thoát, tín hữu Kitô Giáo phải tin vào nhiều tín điều được ghi trong Kinh Tin Kính của các Tông đồ (Apostle’s Creed). Chúa Giê-xu là nền tảng, là Tác giả và là Đấng duy nhất có quyền ban cho sự Cứu Rỗi (Rôma 3:24, 25; 5:21; Công Vụ 4:12; Hêbơrơ 12:2). Những ai không tin nhận Chúa Giê-xu sẽ không được tha thứ tội lỗi và sẽ chịu phạt nơi hoả ngục.

Đối với Phật Giáo, đạo Phật cho rằng cuộc đời này là giả tạm và chúng sinh cứ phải sống trong đau khổ vì lòng tham dục vô bờ bến, khiến con người tự mình trói buộc với những xung đột và khổ đau do không bao giờ thoả mãn, nên phải luân hồi triền miên trong vòng sinh tử. Do đó nếu muốn, con người có thể tự mình giải thoát khỏi khổ đau, sinh tử luân hồi bằng các nỗ lực tu tập bản thân: làm lành, tránh ác và tự thanh tịnh hoá tâm ý. Bốn chân lý nền tảng của Phật giáo (Tứ Diệu Đế) cho rằng mọi khổ đau của chúng sinh đều có một hay nhiều nguyên nhân gây nên, chúng có thể bị giải trừ và có con đường để giải trừ khổ đau đó. Con đường đó chính là con đường giải thoát, là Bát Chánh Đạo trong giáo lý căn bản của nhà Phật. Giáo lý này được qui thành ba môn học: Giới, Định và Tuệ. Thực hành Giới và Định là đưa tới trí Tuệ, là giải thoát khỏi sự mê muội, lòng ích kỷ và khổ đau, là đạt tới cảnh giới Niết Bàn.

Đó là nét đại cương sự khác biệt giữa giải thoát trong Phật Giáo và trong Kitô Giáo. Cái căn bản khác biệt này là, một bên là tha lực tức nhờ sự cứu rỗi, bên kia là tự lực, tự mình thắp đưốc lên mà đi. Với Phật Giáo, triết lý của đạo này là một triết lý sống, bởi vì nó là một chân lý giải thoát mà chỉ có ai thực hành nó mới đạt được nó, hiểu được nó trọn vẹn, người Phật tử phải tự mình tu tập để tiến tới giải thoát. Chính Đức Phật dạy, "Không ai có thể cứu vớt chúng ta bằng chính bản thân chúng ta”. Đức Phật chỉ là người dẫn đường. Ngài chỉ dạy cho chúng ta con đường tạo ra nguyên nhân và hậu quả. Số phận của chúng ta nằm trong tay chúng ta, không phải trong tay của Trời/Thượng Đế cũng không phải trong tay của Đức Phật. Với Kitô Giáo, vì là một tôn giáo cứu rỗi, con người chỉ cần đặt tất cả vào một niềm tin duy nhất ở một đấng siêu nhiên để mong cầu được giải thoát cho mình: "Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban con duy nhất (sic) của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời." (Crossing The Threshold of Hope, trang 76),

Điểm khác biệt thứ ba giữa hai đạo là thuyết Sáng Tạo:

Kitô giáo tin có một Thiên Chúa duy nhất, và là Đấng Tạo Hóa toàn năng, đã dựng nên và điều khiển toàn thể vũ trụ hữu hình và vô hình. Cuốn Genesis (Sách Sáng Thế), một trong những kinh Thánh Cựu Ước viết rằng Thiên Chúa tạo ra vũ trụ và muôn vật và loài người trong 7 ngày. Vì thế tín hữu Ki Tô giáo tin rằng mọi thứ trên đời đều có một nguyên nhân, từ đó, cứ truy tầm lên mãi sẽ phải có một nguyên nhân đầu tiên, và Chúa Trời của họ chính là nguyên nhân đầu tiên đó.

Đối với Phật Giáo, tất cả mọi sự mọi vật đều do nhân duyênhòa hợp mà hiển hiện, biến đổi vô thường. Thế giới này, về bản chất, chỉ là một dòng biến ảo vô thường, không do một Đấng toàn năng nào sáng tạo. Sở dĩ vũ trụ vạn vật biến hóa vô thường chính là do vạn vật trong vũ trụ chịu sự chi phối của luật nhân quả. Cái nhân nhờ có duyên mà trở thành quả, quả lại là nhân mới, nhờ có duyên trợ giúp mà trở thành quả mới… Cứ như vậy, vạn vật trong thế giới cứ sinh hóa biến hiện không ngừng theo quá trình thành, trụ, hoại, không.

Điểm khác biệt thứ tư giữa hai đạo là vị sáng lập ra tôn giáo.

Đối với Kitô Giáo, Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa toàn năng, đã sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài.

Đối với Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca là một nhân vật lịch sử có thật, có một tiểu sử rõ ràng được cả thế giới công nhận. Ngài đã thực sự sống trên thế giới này, Ngài không tự xưng mình hay các đệ tử của Ngài tôn xưng Ngài là đấng toàn năng, đấng tạo hóa hay là Thượng Đế v.v. Ngài là người đã giác ngộ hoàn toàn và triệt để (toàn giác), là vị Đạo sư đã tự mình tìm ra được con đường giải thoát ngang qua kinh nghiệm bản thân, không có ai truyền dạy cho Ngài, không có ai ban phép cho Ngài, không phải do thần khởi, cũng không phải là hiện thân hay hóa thân của một đấng thần linh nào. Ngài là một người như mọi người khác, nhưng chính nhờ nỗ lực tu tập cá nhân, Ngài đã tìm ra được con đường giải thoát. Sau khi giác ngộ, Ngài đã giảng dạy giáo pháp cho mọi người, nếu ai có nhân duyên thực hành giáo pháp, kể từ vua quan cho đến thứ dân, kẻ khốn cùng đều được giác ngộ như Ngài. Cho nên Ngài đã nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.” Ngài là người hướng đạo, chỉ dẫn đường lối cho những ai muốn tu tập, Ngài không thể tu tập thay cho chúng sinh mà con người phải tự mình tu tập mới giải thoát được khỏi khổ đau phiền não do tham sân si trói buộc, mới ra khỏi sinh tử luân hồi được. Cho nên Ngài đã nói: “Các người hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Ngài khuyên hãy nên nương tựa vào chính mình và đi theo con đường giải thoát bằng nỗ lực của chính bản thân mình.

Nói tóm lại, điểm then chốt trong việc phân biệt giữa Phật giáo với Kitô Giáo nói riêng, các truyền thống tín ngưỡng lớn khác trên thế giới nói chung là vấn đề có hay không một Đấng Sáng Tạo? Đối với Phật giáo, tất cả mọi sự mọi vật đều do nhân duyên hòa hợp (duyên sinh), do đó không hề có một Đấng Sáng Tạo. Ngoài ra, với Kitô Giáo, Thiên Chúa chính là Chân Lý, là hơi thở, là con đường giải thoát, bất cứ ai đến với Ngài, tin nơi Ngài sẽ được cứu rỗi. Với Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca là bậc Đạo Sư đã tìm ra con đường giải thoát, hướng dẫn những ai muốn giải thoát khỏi đau khổ trầm luân, hãy đi theo con đường mà Ngài đã kinh qua. Ngài chỉ là người dẫn đường, còn người đi theo phải tự mình làm chủ, tự mình tu tập để đi đến giải thoát chứ không nương nhờ ở bất cứ đấng Thần quyền nào để được giải thoát.

Tâm Diệu

[01] Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt văn hóa cũng như hàng ngàn xác tíngiáo phái khác nhau. Trải qua hai thiên niên kỷ, Kitô giáo tự hình thành nên ba nhánh chính: Công giáo Roma, Chính Thống giáo Đông phươngKháng Cách (Protestantism). Tính chung, đây là tôn giáo lớn nhất thế giới với hơn 2,1 tỉ tín hữu (chiếm khoảng 34% dân số thế giới). (Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

[02] Kinh Tin Kính các Tông Đồ, cũng gọi là Biểu Tín các Tông Đồ, là kinh Tin Kính xưa nhất, có từ thế kỷ thứ II. Bản này tổng hợp các công thức đã có trước đó. Từ thế kỷ thứ VI, bản này có hình thức như ngày nay. Đây là bản tuyên xưng những tín điều chính yếu nhất khi chịu phép Rửa.

[3] Kinh Kalama (trong Kinh Tăng Chi Bộ III.65)

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-69_4-11426_5-50_6-1_17-78_14-1_15-1/kinh-kalama-anh-viet-thanissaro-bhikkhu-thich-minh-chau.html

[4] Theo định nghĩa trong tự điển thì Faith hay Đức Tin là "sự tin chắc vào một cái gì đó mà không chứng minh được cái đó có thực" (Firm belief in something for which there is no proof.) Định nghĩa của Reason hay Lý Trí trong tự điển là "khả năng có những tư tưởng hợp lý, suy lý, hoặc phân biệt" (The capacity of rational thought, inference, or discrimination) hay "suy xét đúng, phán đoán hợp lý" (good judgment, sound sense). Theo những định nghĩa trên thì hiển nhiên là Đức Tin Ki-Tô Giáo và Lý Trí của Phật Giáo là hai từ có nghĩa loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), có cái này thì không có cái kia. Thật vậy, khi chúng ta dùng lý trí để xác định và chấp nhận một điều gì thì chúng ta không cần đến đức tin, và khi chúng ta tin vào điều gì mà không cần biết, không cần hiểu, thì lý trí trở nên thừa thãi.

TRỌNG GIỚI VÀ “Y LUẬT XỬ TRỊ” CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

TRỌNG GIỚI
VÀ “Y LUẬT XỬ TRỊ” CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

HỎI:

Trong cáo bạch từ nhiệm ngôi vị Tăng Thống GHPGVNTN, Hòa thượng Thích Quảng Độ có nói “Y luật xử trị” một vị tăng phạm trọng giới theo giáo luật Phật chế. Vậy xin cho hỏi Trọng giới là gì và “Y luật xử trị” là nghĩa gì? (phamtlan1979…@yahoo.com.vn)

ĐÁP:

Theo sử sách ghi lại, trong 12 năm đầu, đức Phật chưa chế ra giới, vì chưa có chuyện gì rắc rối xẩy ra trong Tăng đoàn, có thể tạo nên sự bất hòa và gây cản trở cho sự tu tập của tăng ni.

Nhưng vào năm thứ 13, có xẩy ra chuyện Na Đề Tử ân ái với vợ cũ, cho nên Phật mới bắt đầu chế giới. Mỗi khi chế một giới, ngài lại nói 10 lợi ích của việc chế giới đó: "Vì sự kiện toàn của Tăng già, sự trường tồn của Chánh Pháp, sự an lạc của Tăng chúng, sự tăng trưởng của lòng tin, sự đoạn diệt phiền não trong hiện tại và tương lai... "

Cứ như vậy, mỗi khi xẩy ra một sự việc, Ngài lại chế thêm một giới, và dần dần số giới mỗi ngày một gia tăng, đa số là giới nhẹ (Khinh Giới) và một số ít là giới nặng (Trọng Giới). Trong 4 trọng giới đầu tiên được chế ra, giới Không Được Dâm Dục là giới đứng hàng đầu đối với người xuất gia.

Nguyên do vì Na Đề Tử là một đệ tử xuất gia của đức Phật, xuất thân từ một gia đình giầu có. Năm đó bị hạn hán mất mùa, dân tình đói kém, Tăng đoàn phải phân tán nhau đi các vùng chung quanh khất thực. Tình cờ, Na Đề Tử đi ngang quê mình, vào nhà khất thực. Mẹ của ông gặp lại con mừng rỡ, khóc lóc, năn nỉ ông ở lại, đừng đi tu nữa. Ông một mực từ chối. Cuối cùng, bà mẹ van xin ông để lại cho bà một đứa cháu để nối nghiệp gia đình và lo hương khói tổ tiên. Vì thương mẹ, cho nên Na Đề Tử chấp thuận ái ân một lát với người vợ cũ, rồi từ giã mẹ về với Tăng đoàn. Tưởng là chuyện đã xong, nhưng từ đó Na Đề Tử ăn năn, hối hận, ăn ngủ không yên, thân hình tiều tụy. Thấy vậy, các vị Tỳ-kheo khác hỏi lý do tại sao, Na Đề Tử kể chuyện đó cho họ hay. Họ đem chuyện bạch lên đức Phật, ngài liền quở trách và chế ra từ đó giới thứ nhất là bất dâm, tức là hàng xuất gia không được có quan hệ tình dục, ngay cả với vợ chồng cũ của mình. Đối với người cư sĩ, thì không được tà dâm, tức là có quan hệ tình dục bất hợp pháp.

Theo Tứ Phần Luật, Giới bổn của Tăng thì vị Tỳ kheo mà Hòa Thượng Thích Quảng Độ đề cập đến trong cáo bạch đã phạm 2 trong 4 trọng giới là giới Dâm và giới Vọng, là những giới nặng nhất, phạm vào thì mất tư cách Tỳ-kheo, không làm sao cứu vãn được nữa, phải trở về với thế tục làm ăn sinh sống như một người cư sĩ, vì thân tâm người này bất tịnh, thuật ngữ Phật giáo gọi là Ba la di tội. Ba la di tội tương đương với tội tử hình của luật thế gian (có nghĩa là giống như người đã bị chặt đầu, không thể dùng thuốc để cứu chữa được nữa. Ba la di gồm 4 tội: 1) đại dâm dục, tức là giao hợp với người khác phái, và ngay với cả người cùng phái, với súc vật; 2) lấy của người ta không cho, trộm cắp; 3) sát hại mạng người, đồng lõa giết người, và ngay cả khuyến khích sự chết; 4) đại vọng ngữ, tức là mạo nhận có thần thông.

Đó là ý nghĩa của trọng giới và biện pháp xử lý với người phạm giới được gọi là “Y luật xử trị”, tức y theo giới luật Phật chế ra mà xét xử.

Ban Biên Tập

ĐI TU LÁNH ĐỜI HAY ĐƯƠNG ĐẦU VỚI CUỘC SỐNG?

Đi tu hay không đi tu là “duyên” của mỗi người trong cuộc sống. Nhưng, theo thầy Thích Kiến Nguyệt, Trụ trì Trúc Lâm Thiền viện Tây Thiên không phải cứ ai muốn đi tu đều được chấp nhận…

(Hình bên: Thầy Thích Kiến Nguyệt, trụ trì Trúc lâm Thiền viện Tây Thiên)

Đi tu phải được sự đồng ý của người thân

Như chúng tôi đã có bài phản ánh về việc một số ông chồng tự nhiên đòi xuống tóc đi tu trước sự ngỡ ngàng của người thân. Phân tích ở góc độ tâm lý, hành động này là hành vi chạy trốn. Nhưng, ở góc độ người trong cuộc, thầy Thích Kiến Nguyệt, Trụ trì Trúc lâm Thiền viện Tây Thiên chia sẻ: Đối với đạo Phật, người được xuất gia là một đại nhân duyên, Người có túc duyên nhiều đời thì không còn tâm ham muốn hưởng thụ ngủ dục nên mới xuất gia chịu cảnh ăn uống kham khổ, mặc đồ nâu sòng, hoại sắc. Những ai còn ham muốn ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) thì khó đi trọn đường tu.

Ngoài ý chí nguyện lực của mình, người xuất gia còn phải được sự cho phép của cha mẹ và chính quyền địa phương thường trú (nếu là vị thành niên (dưới 18 tuổi), nếu đã có gia đình thì phải có sự đồng ý, sự cho phép của chồng hoặc vợ. Đây là điều mà giáo hội Phật giáo ViệtNam và Hiến chương Phật giáo đã qui định, người xuất gia thọ giới pháp (phải có đơn xin xuất gia, đơn cho phép của cha mẹ, hoặc chồng – vợ , và xác nhân của Chính quyền địa phương thường trú, thì mới được cứu xét đơn cho thọ giới phẩm để tu. Khi vào đạo rồi còn biết bao nghịch cảnh, chướng duyên thử thách, khiến nhiều người không đi trọn được con đường hướng đến giác ngộ, giải thoát mà mình đã chọn trước đó.

Đi tu chỉ là một trong nhiều lựa chọn trong cuộc sống

Việc một số người chọn cách đi tu, theo nhận định của nhiều chuyên gia, chỉ là một trong nhiều lựa chọn trong cuộc sống. Bởi, trên thực tế, có nhiều người chọn cách đối đầu với cuộc sống thực tại. Bằng chứng là cũng có những người chọn cách cực đoạn: tự tử để giải quyết nỗi đau của cuộc sống; có người bằng lòng với cuộc sống thực tại của bản thân mình… Trong muôn vàn chọn lựa về cách sống của mỗi người, những người chọn cách xuống tóc đi tu theo Thầy Thích Kiến Nguyệt, là vì mỗi người có một cái “duyên” riêng.

Theo phân tích của thầy Thích Kiến Nguyệt, trong thời gian vừa qua đất nước chúng ta có chiến tranh, nên có nhiều người hoạt động cách mạng không thành công bị địch truy lùng, vào chùa ẩn dương nương Phật, có người trốn quân dịch, cũng có người thất tình, làm ăn thất bại, thất chí, tuổi già không con cháu nương tựa… Từ đó có nhiều người xem đạo Phật là tôn giáo bi quan yếm thế.

Tuy nhiên, đối với những người có “túc duyên nhiều đời” (những người nhiều đời là thầy tu), lại mang nhiều ý nghĩa. Việc chọn lựa xuống tóc đi tu của một số người là bởi quan niệm đến với đạo Phật là để thực hành lời Phật dạy rồi tự mình “ngộ” ra vấn đề, thấy được chân lý. Từ đó mới hiểu được tại sao một vị hoàng đế anh hùng của dân tộc, đang hưởng thụ ngũ dục cao nhất, đang nắm quyền lực cao nhất mà lại từ bỏ ngai vàng, nhường ngôi cho con (trường hợp đức vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, năm Ngài 35 tuổi), chắc hẳn không phải đi tu để trốn chạy cuộc đời thực của mình, để đi tìm hạnh phúc ảo tưởng nào đó.

Vấn đề quan trọng nhất trong cuộc sống này của mỗi con người là trách nhiệm trước bản thân, gia đình và xã hội. Nếu mỗi người đều muốn làm những điều tốt đẹp cho bản thân và vẫn nghĩ đến cộng đồng, xã hội thì cuộc sống của mỗi người sẽ thực sự có ý nghĩa hơn và cùng hướng đến một mục tiêu, làm cái gì đó để ngày mai tốt đẹp hơn.

Trúc Dân

MỘT SỰ NGỘ NHẬN VỀ LUẬT NHÂN QUẢ

Thích Phước Thái

Hỏi: Kính thưa thầy, con không phải là người tu theo đạo Phật, nhưng lâu nay con nghe nói nhiều về luật nhân quả của đạo Phật và duyên nghiệp nhiều đời trồng chéo lên nhau. con thấy có nhiều người nói về nhân quả, nhưng thường thì họ chỉ nói chứ ít khi nào áp dụng vào đời sống của mình. Con có một cá tánh là khi biết người khác đối xử xấu với mình, con thường im lặng và tìm cách tránh chớ không nói. Như vậy, đối với luật nhân quả con có phạm hay không? Kính mong thầy giải thích.

Đáp: Trong câu hỏi của bạn, nếu phân tích thì tôi thấy có ba vấn đề chi tiết cần được trao đổi chia sẻ:

Thứ nhứt, theo bạn nói: “bạn thấy có nhiều người nói về nhân quả, nhưng thường thì họ chỉ nói chứ ít khi nào áp dụng vào đời sống của mình”. Điều nầy, tôi hoàn toàn đồng ý với bạn. Nhưng thưa bạn, trên đời nầy ít có mấy ai thật hành đúng theo hết những gì mà mình đã nói. Giữa lý thuyết và thật hành, thật khó mà song hành hợp nhứt với nhau. Nói thì rất dễ nhưng làm thì rất khó. Vì thế, nên sách Nho có câu: “Thuyết dị, hành nan” hay “năng thuyết bất năng hành”. Lý thuyết bao giờ cũng đi xa hơn hành động. Nếu nói và làm đi đôi với nhau, thì cõi đời nầy chắc không còn ai chịu nhiều đau khổ nữa. Do đó, nên ta thấy các bậc Cổ Đức, thường các ngài ít nói, và chỉ nói những gì trong phạm vi khả năng mà các ngài có thể thật hành được thôi. Bởi vậy, nên các ngài rất cẩn trọng ở nơi lời nói.

Trong đạo Phật có câu nói: “Tri hành hợp nhứt”. Câu nói nầy nhằm để cảnh tỉnh khuyến tấn, nhưng trên thực tế thì ít có mấy ai làm đúng. Chính vì không hợp nhứt, nên đôi khi trở thành là kẻ nói khoát. Hiểu biết tuy cũng rất cần thiết, nhưng nó chỉ đem lại lợi ích cho phần sở tri kiến giải của mình thôi. Cũng như người có đôi mắt thật sáng, nhìn xa thấy rộng, họ có thể nói đông nói tây đủ thứ chuyện trên đời, nhưng nhìn lại, thì họ vẫn còn dặm chân tại chỗ. Dù rằng họ có đôi chân rất mạnh.

Như thế, thì thử hỏi làm sao đến nơi mà họ nhắm tới. Khác nào như người ngồi đó chỉ biết diễn tả phân tích đủ thứ món ăn tuyệt diệu trên đời, nhưng rốt lại thì bụng họ vẫn đói meo. Họ nói thì rất hay, nhưng bản thân họ chưa từng bước chân xuống bếp. Người xưa có câu: “Muốn ăn phải lăn vào bếp, muốn chết phải lết vô hòm”. Đây là câu nói nhằm cảnh tỉnh thức nhắc người ta nên làm hơn là nên nói. Hãy biến nhận thức của mình thành hành động cụ thể. Có thế, thì mới có lợi ích thiết thực.

Tuy nhiên, sự nhận định hiểu biết đúng hướng chân lý (chánh kiến ) tuy chưa thật hành đúng theo, nhưng điều đó cũng rất là tốt và cần thiết. Chỉ sợ nhận định sai lầm ( tà kiến ) rồi chấp chặt bảo thủ làm theo, đó mới là điều tai hại đáng nói. Cho nên, điều quan yếu trước tiên là phải nhận định đúng với chân lý, còn việc thật hành thì có thể thực hiện từng bước cũng không sao. Cũng như người đứng dưới chân núi, thấy rất rõ hình dạng của ngọn núi, nhưng muốn tới ngọn núi, thì đòi hỏi họ phải gắng sức trèo lên từ từ từng bước vững chắc. Tuy chưa tới ngọn núi liền, nhưng cái hướng thấy của họ không bị sai lệch.

Trong nhà Phật có câu nói: “Đốn ngộ, nhưng phải tiệm tu”. Có thể cái chỗ thấy biết tương đồng với Phật Tổ, nhưng phải từ từ tu tiến, vì tập khí nghiệp chướng của con người còn quá sâu nặng. Như vậy, có những người tuy họ nói nhiều về nhân quả, nhưng sự thật hành của họ quả không đúng theo những gì họ nói. Người như thế, tuy họ không được lợi ích nhiều, nhưng ít ra họ cũng không đến nổi phải gây ra những lỗi lầm sâu nặng. Vì họ đã có ý thức đến lý nhân quả vay trả phần nào.

Như bạn nói, họ ít khi áp dụng chớ không phải hoàn toàn là họ không có áp dụng. Nghĩa là họ có áp dụng từ từ, đó gọi là họ đang hướng đời mình trên bước đường tu tập. Như thế, kể ra họ cũng vẫn còn tốt hơn là những người mà cả đời chưa bao giờ học hỏi biết đến nhân quả và họ cũng không bao giờ áp dụng một chút nào theo lý nhân quả trong cuộc sống. Do đó, nên suốt đời họ gặp phải nhiều tai nạn khổ đau. Có tránh nhân xấu thì mới không gặp quả xấu. Ở đời, nếu mình đòi hỏi phải thật hành một cách toàn vẹn, điều đó, thật khó có ai làm được, ngoại trừ các bậc Thánh nhân.

Thứ hai, bạn nói: “là bạn có cá tánh khi biết người khác đối xử xấu với mình thì bạn thường im lặng và tìm cách tránh chớ không nói”. Điều nầy là bạn hiện tập cho mình có một thói quen tương đối khá tốt. Nghĩa là bạn khéo áp dụng câu châm ngôn của người xưa: “Im lặng là vàng nói là bạc”. Điều đáng nói hơn nữa, là bạn khéo biết tránh duyên. Bạn tìm cách tránh né chớ không muốn đương đầu để tranh cãi hơn thua. Đứng về mặt xử thế tự lợi, điều nầy bạn xử sự rất tốt cho bạn. Vì bạn không muốn gây ra những chuyện phiền phức rắc rối cho mình và người.

Đấy là bạn đang thực tập hạnh nhẫn nhục rồi đó. Nhưng nếu bạn tập tánh khá hơn nữa là tuy tìm cách tránh né, nhưng bạn không bao giờ quan tâm cất chứa những lời nói của họ ở trong lòng. Đó là bạn đang thực tập hạnh hỷ xả. Hạnh nầy thật rất khó làm. Nhưng nếu bạn cố gắng thực tập, thì chắc chắn có ngày bạn sẽ thành công. Chẳng những bạn không buồn giận họ, mà bạn còn thương xót tật tánh của họ. Vì họ chưa biết thực tập tánh tốt không nói xấu ai. Người thích nói xấu chỉ trích lỗi lầm kẻ khác là vì người đó tâm của họ còn quá thô tháo vọng động, còn thích nhiều chuyện thị phi. Họ là hạng người thích làm cảnh sát quốc tế. Do đó, nên bạn cần thương họ nhiều hơn. Vì biết họ vẫn còn ôm ấp quá nhiều đau khổ nội kết trong lòng. Bởi thế, họ là người thật đáng thương hơn đáng trách!

Thứ ba, bạn nêu ra câu hỏi: “Như vậy đối với luật nhân quả bạn có phạm hay không?” Điều nầy, có lẽ bạn đã hiểu lầm về luật nhân quả rồi. Thưa bạn, luật nhân quả khác hơn những điều luật cấm giới. Luật nhân quả không mang tính giới điều như là giới luật mà người ta đã lãnh thọ. Dù bạn tu theo bất cứ tôn giáo nào, mỗi tôn giáo đều có những giới luật răn cấm cả. Nhân quả, sở dĩ người ta gọi là luật, bởi vì nó là luật tắc thiên nhiên có tác dụng vận hành chi phối toàn thể vũ trụ. Vì thế nên nói nhân quả là một chân lý phổ biến. Chân lý nầy nó tiềm tàng bao trùm trong mọi sự vật, không có một vật thể nào thoát ngoài định luật nầy. Từ thực vật, động vật, khoáng vật v.v… không một loài nào thoát khỏi.

Nói cách khác là từ vật lý, sinh lý, cho đến tâm lý… không có một thứ gì mà không có nhân quả. Lý nhân quả được đặt định trên chiều thời gian. Vì từ nhân tới quả phải có thời gian. Ngoài chánh nhân ra, nó còn nhiều trợ duyên khác nữa. Cho nên nhân quả là một hiện tượng rất phức tạp xuyên suốt qua ba thời kỳ: quá khứ, hiện tại và vị lai, chớ không phải đơn giản như nhiều người lầm tưởng. Bạn thử tìm mọi hiện tượng trên đời nầy có cái gì không phải là nhân quả. Ăn là nhân, no là quả. Học là nhân, biết chữ là quả v.v…

Nói tóm lại, người hiểu lý nhân quả và khéo biết ứng dụng vào trong đời sống, thì họ sẽ có được lợi lạc rất lớn. Như vậy luật nhân quả là quy luật vận hành tự nhiên của vạn hữu vũ trụ. Không ai đặt định bày ra luật nhân quả nầy. Đức Phật cũng chỉ là người giác ngộ khám phá ra luật nhân quả mà thôi. Mong bạn cố gắng khéo ứng xử hành hoạt đúng theo luật nhân quả, tức theo chiều hướng thánh thiện, thì đời bạn sẽ gặt hái nhiều điều lợi lạc trong đời sống vậy.


Thích Phước Thái
Chùa Quang Minh Australia

LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÂN BIỆT CHÁNH TÀ GIỮA RỪNG PHÁP MÔN PHẬT GIÁO?

HT. Thích Giác Quang

VẤN: Con nghe quá nhiều pháp môn và những cách giảng dạy về Phật giáo của đủ thứ kể cả các vị xuất gia và Phật tử tại gia. Giữa rừng pháp môn và những lời giảng pháp như vậy, con không biết đâu là đúng, đâu là sai mà thực hành. Xin Sư cho con biết mình lấy gì để có thể so sánh và đối chiếu là những lời giảng ấy đúng với chánh pháp của Đức Phật? Con nên dựa vào đâu để phân biệt tạo chánh kiến cho chính mình giữa rừng pháp môn mà không bị cuốn theo và đi sai con đường tu hành? Con xin cảm ơn Sư.

ĐÁP:

Sau Phật nhập diệt 1000 năm, mỗi môn phái được sáng lập để truyền bá giáo lý Phật đi khắp trong nhân gian, mỗi môn phái được sáng lập đều có chánh kiến, tư duy riêng, tôn chỉ riêng dành cho môn đệ tu tập. Các bạn nên dựa vào kinh Phật để nghe thuyết giảng tu hành, làm sao cho tâm các bạn an lạc, dứt ngã mạn, tham sân si phiền não, giải thoát mọi phiền trược.

Thường bạn nghe pháp, mà trong đó người giảng thường hay chê khen pháp nầy pháp kia, ông nầy chánh, ông kia tà… là không phải pháp Phật rồi đấy.

Người xưa có câu: “Y kinh diễn nghĩa tam thế Phật oan - Ly kinh thuyết tự tức thành ma thuyết”, nghĩa là:

Người thuyết giảng đem kinh ra dẫn chứng thì oan cho ba đời chư Phật, vì trong đời thuyết giáo của các đức Thế Tôn, các Ngài không có nói lời nào cả - người giảng kinh thuyết pháp mà không y cứ vào kinh Phật để giảng giải thì dễ bị sai lầm, đồng với ma thuyết.

Giáo pháp “tứ y” rất quan trọng với sứ giả Như Lai, thuyết pháp gặp thời điểm nào y cứ vào kinh nào, thời điểm nào không y cứ vào kinh nào, hoặc cả hai…

Các bậc đạo sư xưa từng giáo hóa đồ chúng, có khi các ngài dạy chúng không bằng một lời nào cả mà chúng vẫn học được, như Bồ Đề Đạt Ma thì khuyến giáo “y giáo biệt truyền bất lập văn tự”

Tổ sư Đạt Ma từ xa quán đất này có căn khí Đại Thừa, bèn vượt biển đến Trung Quốc, chuyên truyền Tâm ấn, khai thị cho kẻ mê, chẳng lập văn tự, trực chỉ nhơn tâm, kiến tánh thành Phật” (Bích nham lục)

Nói “Chẳng lập văn tự”, vì văn tự phải nương bộ não suy nghĩ, suy nghĩ thì nương nơi nhất niệm vô minh; nhất niệm vô minh hư huyễn chẳng thật, nên suy nghĩ văn tự cũng hư huyễn chẳng thật. Do hư huyễn chẳng thật gọi là tương đối, tương đối thì có sanh có diệt, chẳng thể hiển bày tuyệt đối chẳng sanh diệt của bản thể, vì văn tự chẳng thể hiển thị Phật tánh, nên nói chẳng lập văn tự.

Phật Thích Ca dùng lời nói văn tự để hoằng giáo pháp là do sự bất đắc dĩ, nên thí dụ như ngón tay chỉ mặt trăng, vừa thuyết liền phá, Kinh Niết Bàn nói: “Bắt đầu từ Lộc Uyển, cuối đến sông Bạt Đề, khoảng giữa 50 năm, chưa từng thuyết một chữ” là vậy.

Đấy là việc của chư Phật, Bồ tát, hàng Thanh văn, phàm phu không thể sánh kịp. Trong đời làm con Phật của Bạn, khi đi nghe thuyết pháp bất cứ nơi nào, dù đó là Mỹ châu hay Á châu, Âu châu, bạn tu học bốn pháp như dưới đây:

Y pháp bất y nhân, nghĩa đen là y theo giáo pháp, chẳng y theo theo người. Theo cách giải thích thông thường, Phật pháp là chân lý, quý giá và khó gặp, vì thế không nên đối chiếu, tỵ hiềm nơi tư cách người nói pháp để rồi bỏ lỡ cơ hội nghe pháp, tự thân mất sự lợi lạc. Cứ y theo giáo pháp của Phật mà tu hành, người nói ra giáo pháp ấy tốt hay xấu không quan trọng. Tuy nhiên, kinh Đại Bát Niết Bàn nói cụ thể hơn về vấn đề này, y pháp bất y nhân có nghĩa là y chỉ vào Pháp tánh tức Phật tánh, Như Lai vì pháp tánh thường trụ, không y chỉ vào người (nhân) vì là hữu vi tức vô thường, sanh diệt.

Y nghĩa bất y ngữ, tạm dịch là y theo nghĩa lý, không y theo ngôn ngữ văn tự. Phật thuyết pháp với ý nghĩa sâu xa nhằm biểu đạt và thể nhập chân lý. Ngôn ngữ, văn tự chỉ là công cụ diễn đạt Trung đạo đệ nhất nghĩa, giúp người tu nhận ra chân lý để hành trì và thân chứng, bởi thế không nên bám víu và quá cố chấp vào văn tự.

Y trí bất y thức, nghĩa là y theo trí tuệ, không y theo vọng thức phân biệt. Chỉ có trí tuệ mới nhận chân được chân lý, thực tại còn vọng thức là thấy biết theo nghiệp, có tính tương đối và đa phần sai lầm. Chỉ có trí tuệ mới đầy đủ công năng quét sạch phiền não, thanh tịnh ba nghiệp. Còn thức dẫu thông minh, nhạy bén và lanh lợi đến đâu đi nữa cũng là sanh diệt, hư vọng và không đủ sức giác quán để chuyển hóa, diệt trừ phiền não. Vì vậy, “duy tuệ thị nghiệp” chính là phương châm tu học của hàng đệ tử Phật.

Y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh, có nghĩa là y theo các kinh điển liễu nghĩa, chẳng y theo các kinh điển không liễu nghĩa. Kinh điển được Phật tuyên thuyết tùy căn cơ chúng sanh nên có cao thấp, khác biệt. Dù mục tiêu cứu cánh vẫn là giải thoát sanh tử, song trên tinh thần phương tiện thì những kinh điển thuyết minh về con đường thể nhập Nhân thừa, Thiên thừa v.v… được gọi là kinh bất liễu nghĩa (chưa nói hết ý nghĩa thâm diệu, toàn triệt của giáo pháp). Những kinh điển chỉ thẳng đến quả vị giải thoát viên mãn (Phật quả) là kinh liễu nghĩa. Người tu hướng về Vô thượng Bồ đề, tất nhiên phải y cứ vào kinh liễu nghĩa để hành trì nhằm thành tựu giác ngộ rốt ráo, thành Phật.

Khi nghe pháp, Bạn đã hiểu và thực hành về “tứ y pháp” chắc chắn các bạn không còn nghi ngờ chánh tà nữa đó các Bạn.

HT Thích Giác Quang

CON ĂN CHAY TRƯỜNG Nhưng Bác Sĩ Bảo Ăn Mặn Để Chữa Bệnh, Nên Làm Như Thế Nào?

VẤN: Con ăn chay trường đã hơn hai mươi năm và sức khỏe rất tốt. Tuy nhiên gần đây con bị một chứng bệnh và phải điều trị phẫu thuật nên người khá yếu. Thêm vào đó con còn bị thêm chứng bệnh viêm xoang chữa trị khá nhiều thuốc tây y không hết. Từ khi ở trong bệnh viện cho đến khi ra viện, các bác sĩ bảo với con là muốn khỏe mạnh nhanh chóng thì phải nên ăn mặn, không ít thì nhiều mới mau lại sức. Thêm vào đó, một người thân mách bảo cho con biết là bệnh viêm xoang của con có thể sẽ được chữa trị khỏi với một bài thuốc đông y và cần phải giết một con rắn lục. Nghe đến việc sát sanh con đã hoảng loạn từ chối. Thế nhưng họ hàng gia đình làm áp lực bắt con phải ăn mặn bảo như vậy mới có sức khỏe tốt. Thêm vào đó nếu không dùng thuốc đông y với rắn lục đốt lên xông mũi thì phải uống rượu rắn ngâm với nhân sâm để bệnh mau thuyên giảm. Mọi người bảo đây là vì bệnh nên phải như thế thôi và hứa khi hết bệnh sẽ cho con ăn chay trở lại. Con không muốn làm như vậy nhưng không biết phải làm sao? Xin Sư cho con biết con nên làm gì cho đúng và nếu con dùng thực phẩm mặn hay dùng thuốc như họ chỉ dạy thì con có mang tội không?

ĐÁP: Đối với người xuất gia có quyết tâm và hướng thượng thì dù có chết bao nhiêu thân xác nầy cũng không phá giới, chuyển từ ăn chay trường đến ăn mặn để trị bệnh theo lời Bác sĩ điều trị hướng dẫn.

Năm 2012, lúc bệnh nằm ở Bệnh viện, Sư có nghe kể chuyện một bạn tu: Thượng tọa Thích Thông Quả, Trụ trì chùa Phước Hoa, Long Thành, Đồng Nai tu thấp hơn Sư cả hai bậc, mang bệnh tiểu đường, lại có vết thương chữa mãi không lành, Bác sĩ yêu cầu ăn mặn để điều trị và cho “tháo khớp”, Thầy nói: “tôi thà chịu chết chứ không ăn mặn và không cho tháo khớp”!

Mọi người nghe Thầy nói như vậy thương kính quá, vì Thầy phải mang trong mình vết thương không bao giờ lành, mà còn nguy hiểm đến tánh mạng. Có vị nữ tu sĩ đến thăm, cúng dường ủng hộ cho Thầy một túi trái khổ qua rừng xắt mõng phơi khô để dành pha uống như uống trà. Trải qua một thời gian uống nước khổ qua rừng, lần hồi vết thương Thầy khô ráo và lành hẳn cho đến hôm nay đã hai mươi năm tu hành, Thầy trở thành vị Thượng tọa lành lặn, không bị tháo khớp mà cũng không phá giới ăn mặn.

Ở Việt Nam có ba loại Thầy Thuốc, một vị Thầy Thuốc khi chữa bệnh nhân ăn chay thì khuyên nên ăn mặn mới chữa trị, không ăn mặn không trị - một vị Thầy Thuốc không bàn đến việc ăn chay hay ăn mặn mà Thầy vẫn trị cho bệnh nhân - một vị Thầy Thuốc vẫn giữ nguyên việc ăn chay của bệnh nhân mà vẫn chữa trị cho bệnh nhân. Cả ba Thầy Thuốc nầy đều chữa lành bệnh cho bệnh nhân, đôi khi cũng không lành bệnh dẫn đến tử vong, hoặc bệnh nhân phải chuyển Thầy khác.

Theo Sư thì các Thầy Thuốc không nên xen vào việc ăn chay hay ăn mặn của bệnh nhân, mà vẫn chữa trị cho bệnh nhân, chỉ nên khuyến khích bệnh nhân ăn uống theo chế độ, theo lệnh điều trị của Thầy Thuốc thôi, như vậy mới đúng nghĩa Thầy Thuốc giỏi.

Khi chữa trị, Thầy Thuốc phải giết thú vật để làm thuốc điều trị cho bệnh nhận, trách nhiệm thuộc về Thầy Thuốc, có tội lỗi bao nhiêu thuộc về Thầy Thuốc, không xuất phát từ bệnh nhân. Làm Thầy Thuốc chữa bệnh, nên tìm phương thuốc tối ưu, phù hợp với hoàn cảnh của bệnh nhân là Thầy Thuốc đại tài. Với người tu sĩ Phật thì Thầy Thuốc tìm thuốc phù hợp với tu sĩ, với người ở ngoài thế tục thì Thầy Thuốc tìm phương thuốc theo thế tục mà chữa trị.

Với người ăn chay thì Thầy Thuốc tìm loại thuốc chữa trị cho người bệnh thuộc diện ăn chay, với người ăn mặn thì Thầy Thuốc tìm loại thuốc chữa trị cho người bệnh thuộc diện ăn mặn… đó là đức tánh của một đại lương dược xưa nay hiếm.

Ngày nay, thế lực văn minh khoa học xâm lăng vào lẽ sống và chết của con người, nói chung là vạn vật. Họ muốn cho con người và vạn vật sống thì được sống, muốn cho con người và vạn vật chết thì phải chết. Nhưng đối với người tu sĩ Phật chánh chân sẽ không phục tùng thế lực nầy và họ chiến thắng. Người tu sĩ Phật sống ngoài vòng sanh diệt của thế cuộc mới đúng là tu sĩ chánh chân, tu sĩ Phật bị lệ thuộc thế cuộc là tu sĩ sa đọa. Lẽ sống chết đối với tu sĩ Phật là thường tình, như thay áo cũ, mặc vào áo mới rồi tiếp tục đi về cố hương, đạt mục đích cứu cánh an vui tự tại, thế thôi.

Trên đây là một số ý hướng thượng cho Phật tử, các Bạn có cương quyết thì việc gì cũng thành công, cho dù các Bạn là bệnh nhân nhưng phải có ý chí tự quyết. Còn việc trị bệnh của Thầy Thuốc không liên quan đến việc ăn chay, ăn mặn của bệnh nhân, không nên khuyến giáo bệnh nhân ăn chay hay ăn mặn, mà chỉ lo trị bệnh cho bệnh nhân.

Cuối cùng, Sư có lời khuyến giáo: “khi Bạn là bệnh nhân thì Bạn là của Thầy Thuốc, Bạn là tu sĩ Phật khi Bạn hết bệnh…”. Chúc các Bạn an lạc.

HT Thích Giác Quang

TÍNH KHÔNG LÀ GÌ? Pháp Môn Niệm Phật Và Kinh Điển Đại Thừa Có Phải Do Đức Phật Thuyết Giảng Không?

HT. Thích Giác Quang

Câu 1:

VẤN: Con nghe mọi người thường hay nói đạo Phật là ở tánh không và tính không? Vậy tánh không là gì và tính không là gì? Có người lại nói với con Phật giáo là “sắc sắc không không, không không sắc sắc.” Vậy câu này có nghĩa là gì ạ và con nên tu như thế nào ạ?

ĐÁP: Tánh không và Tính không cùng một ý nghĩa, một pháp không hai; từ ngữ Phật học “Tánh không” do người miền Nam Việt Nam thuyết giảng biên soạn; còn “Tính không” do người miền Bắc Việt Nam thuyết giảng biên soạn. Cả hai có ý nghĩa:

1/. Nói đến tính chân như thực tướng của các pháp: ví dụ người Phật tử không khởi tâm sát sanh, nên không khởi tâm giữ giới sát sanh, đó mới chính là giữ giới sát sanh.

2/. Các pháp là hư huyển, không thật có: ví dụ nghe tiếng nhạc bên tai, cùng một lúc nghe tiếng kèn xe, cùng một lúc nghe tiếng nói của bố mẹ v.v… Khi tai nghe cái nầy thì cái kia diệt, nghe cái kia thì cái nầy phải diệt… nhưng cùng một lúc nghe các tiếng sanh diệt, diệt sanh liên tục đến với ta nên gọi các pháp là hư huyển.

3/. Các pháp vốn không tự tánh mà có: như nói Phật thị hiện cứu đời là vì có chúng sanh trần luân nên nói có Phật thị hiện; vả như không có chúng sanh trần luân thì cũng không có Phật thị hiện cứu đời.

4/. Các pháp vốn giả danh do đặt tên mà có: ví dụ như “ban ngày” đối với “ban đêm”, “sáng” đối với “tối”, “tội” đối với “phước”, do mình đặt tên mà có. Các pháp ngày, đêm, sáng, tối, tội, phước tự nó không có.

5/. Hư cấu bời các duyên hợp mà có, nên không thật: như 1 tách trà ngon thơm, xuất phát từ người công nhân lấy đất làm cao lanh, người nắn, người vẽ vời, người nun thành 1 cái tách; người chế trà, người pha trà, rót trà… cộng lại thành “tách trà ngon thơm”. Tách trà thơm ngon do các duyên mà có, chứ tự nó không thật có.

Trong phẩm kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, Phật dạy: “…Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, Sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị…”

“Sắc sắc, không không”, nghĩa là cũng có đó rồi cũng không đó, tuy có mà không; trong quá trình pháp giới duyên khởi, thân tâm ta tuy có mà không; các pháp thế gian như gia đình, xã hội, giàu sang, quý phái, nghèo hèn, địa vị, danh vọng, quyền cao, tước trọng, tên tuổi, tiền bạc tuy có nhưng giả, không thật có, thế giới nầy hợp để rồi tan, ánh trăng vũ trụ có khi tròn khi khuyết v.v… Người tu hiểu được lý nầy thì không còn tham sân si, ví dụ: khi ta đang có niệm buồn (sắc), có người đến an ủi, tức là niệm vui đến, niệm buồn vụt tắt (không), buồn tuy có nhưng nó nào có thật đâu. Trong một niệm của ta có 4.900.000.000 lần sanh diệt (trích Phật Học Tinh Hoa – Nguyễn Duy Cần), sinh là có, diệt là không, quá trình sinh diệt đó gọi là mộng huyển, mộng ảo, giấc mộng, phù du, ảo giác, cuộc đời chẳng có chi bền chắc, Phật tử quán chiếu như thế thì cuộc đời của ta không còn bị tung hứng theo thế sự buồn vui nữa.

“Không không, sắc sắc”, các pháp vốn không (chân không), nhưng không phải là không có (diệu hữu); tự tánh các pháp vốn không sanh không diệt (tự tính chơn như), các pháp có sanh thì có diệt và có diệt thì có sanh (mộng huyển), với nhãn quan nầy các bậc đại tổ sư như Bồ Đề Đạt Ma, Lục Tổ Huệ Năng đã từng chứng đắc.

Tâm Phật vốn chơn như nên nhìn các pháp bất sanh, bất diệt không còn gì phải có tu, có chứng, có đắc (chơn không), tâm chúng sanh là tâm sanh diệt, nên khi tu hành thấy các pháp như mộng huyển, bào ảnh, như lộ, như điện mà chứng đắc nên thấy có tu, có chứng, có đắc (diệu hữu). Phật tử quán chiếu như thế mà tu hành.

Câu 2:

VẤN: Con thích niệm Phật và thích tu nguyện vãng sanh Tịnh Độ. Tuy nhiên, nhiều bạn tu của con, nhất là các bạn tu thiền thường hay nói với con rằng kinh điển đại thừa và nhiều pháp tu sau này không phải là pháp Phật vì theo kinh điển Pali không có nói đến. Những kinh pháp sau này khi truyền sang Trung Hoa rồi do người Trung Hoa họ theo tôn giáo tín ngưỡng bản địa họ tạo ra sinh ra rất nhiều pháp khác nhau rồi cho là của pháp Phật. Việc tu hành niệm Phật nguyện vãng sanh giống như là của ngoại đạo, mong sự cứu rỗi tâm hồn ở một cảnh giới khác như các đấng cứu thế của các tôn giáo hứa hẹn cho đệ tử của mình. Bạn con còn bảo những pháp tu đó ngày xưa thời Đức Phật trong kinh điển Pali đâu có nói đến đâu. Con thật sự bối rối vì khi niệm Phật con thấy bình an. Mong Sư chỉ dạy thêm cho con ạ. A Di Đà Phật!

ĐÁP: Phật có tám muôn bốn ngàn pháp môn, pháp môn tu nào cũng là của ba đời chư Phật, nếu pháp đó giúp ta tiến đến an tâm và giải thoát, dù pháp đó là Thiền, Tịnh, Luật hay Mật cũng đều là của ba đời chư Phật nói ra.

Người có duyên với tu Thiền thì nói pháp môn Thiền là của Phật, các pháp môn khác không phải của Phật ở xứ khác chế biến chứ không phải xuất sanh từ Ấn Độ; người có duyên với Tịnh độ thì nói pháp tu Thiền là của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma sáng chế dạy cho dân Đông Độ (Trung Hoa) tu hành chớ Phật không có dạy thiền “Đốn giáo” bao giờ ! Rốt rồi tu đâu chấp đó, đem pháp giải thoát của Phật đấu lý chê bay, thật là đời mạt pháp ngông cuồng !

Phật thì chẳng nói Thiền, nói Tịnh, mà vịn vào căn duyên của đệ tử để giáo hóa. Như buổi ban đầu thuyết giáo, Phật dạy đệ tử quán chiếu đề mục đất, đề mục hoa sen… (tất cả đều nắn từ đất sét) để chánh niệm rồi tiến dần lên từng bậc chánh định (tam muội); từ đó trí tuệ sanh, trí tuệ sanh tức là cứu cánh giải thoát, lúc bấy giờ không có niệm danh hiệu Phật nào cả. Tuy nhiên khoảng 20 năm sau đó, dân trí lên cao, các Tôn giả thông suốt giáo pháp Phật, Đức Phật tiếp tục mở rộng tầm nhìn của đệ tử, nên ngài thuyết các bộ kinh giới thiệu về các thế giới “Tịnh độ”, bên ngoài thế giới “Ta Bà khổ đau” nầy, để các vị giữ vững niềm tin mà nguyện sanh về thế giới đó, nhằm có cơ sở giáo hóa chúng sanh trong khắp mười phương. Đây là ý tứ của Pháp Phật có nhiều pháp môn tu, chớ không chỉ có pháp môn “Thiền” hay “Tịnh”.

Việc nói Thiền chê Tịnh là việc xưa, lạc hậu lắm rồi, Phật tử chưa thấy đó thôi, chúng ta là những đoàn người bị cuộc rượt đuổi của “thời gian vô thường” tới tấp cận kề bên ta, không mau xuống thuyền qua sông thoát nạn, ở đó mà đem Thiền với Tịnh chê nhau.

Pháp Phật lưu truyền là vô biên giới, không có Ấn Độ, Trung Hoa gì cả, ai duyên tu pháp môn nào thì tu pháp môn đó, ai khéo tu thì giải thoát, ai vụng tu thì mê lầm. Người đem Thiền chê Tịnh là người vụng tu, sau không tự chê mình còn ở bên bờ vực thẳm mê lầm nơi bến tử sanh, mà lại chê khen giáo pháp Phật.

Lẽ ra thì Sư không phân trần làm gì, nhưng vì sự kém hiểu biết của những người chê bai Tịnh độ, Sư sẽ trích một vài đoạn kinh trong kinh điển Pali nói đến pháp tu Niệm Phật, để quý vị nghiên cứu tu hành.

Cõi Tịnh Độ qua các kinh nói về Phật Di Đà từ Hán Tạng, vốn được phiên dịch từ kinh điển Sanskrit. Ở đó, cõi Tịnh Độ hay Cực Lạc được mô tả là một cảnh giới tuyệt vời với tất cả những thứ du dương, mát mẻ, thơm ngát và không có chuyện đói lạnh. Con đường dẫn đến cõi này có thể chỉ gói gọn trong công phu trì niệm hồng danh Phật Di Đà.

Chúng ta thử tìm hiểu vấn đề qua kinh điển Pàli, nguồn giáo lý căn bản của Phật Giáo Nam phương xem sao. Dĩ nhiên, trong Tam Tạng Pàli cũng có khái niệm Tịnh Độ với những trình bày thật rõ ràng về cảnh giới này, những bậc thiện tri thức ở đó và con đường dẫn đến cảnh giới Tịnh Độ, tức phép cầu vãng sanh theo kinh điển Nam Truyền.

Thời Đức Phật tại thế, chư Tôn giả thường thường hướng về nơi ngài xưng niệm danh hiệu của Như Lai, đầy đủ thập hiệu, để tỏ lòng cung kính tri ân và cầu nguyện, chư Tôn giả cản thấy được an lạc nhiều lắm.

Trong kinh An Hàm và các kinh cho thấy niệm Phật, tức là sự cung kính đảnh lễ vâng lời, tán thán, nhớ nghĩ Đức Thích Tôn, các tâm bất thiện từ đó không phát sanh.

Niệm Phật theo kinh tạng Pali có 3 cách: một là nhớ nghĩ, hai là quán tưởng tướng hảo của Phật, ba là xưng niệm danh hiệu Phật.

Kinh Tăng Nhất A Hàm, Phật dạy các Thầy Tỳ kheo: “Hãy tu hành một pháp, hãy quảng bá một pháp. Đã tu hành một pháp rồi, liền có danh dự, thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trừ các loạn tưởng, được quả Sa môn, tự đến Niết Bàn. Một pháp ấy là gì? Đó là niệm Phật” (Đại chính 2, trang 532).

Đức Phật giải thích thế nào là niệm Phật: “Nếu có Tỳ kheo nào chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân,chuyên tinh niệm Phật, không có niệm tưởng nào khác. Quán hình của Như Lai, mắt không hề rời, trong khi mắt không hề rời, niệm tưởng công đức Như Lai”. (Đại chính 2, trang 554).

Ở thời gian khác, Đức Phật dạy: “Có một pháp, nầy các Tỳ kheo, được tu tập, được làm sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, niết bàn. Một pháp ấy là gì?Chính là niệm Phật, Chính một pháp nầy, này các Tỳ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn,đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, niết bàn” (Tăng chi bộ I.16. HT Minh Châu dịch).

Xin trích một vài lời kinh ngắn để dẫn, xem pháp môn niệm Phật xuất xứ từ Đức Phật hay người Trung Hoa?

Thân chào các Phật Tử

HT Thích Giác Quang

HỎI ĐÁP PHẬT PHÁP: ỨNG DỤNG TU TẬP

Phật pháp tại thế gian, Phật pháp bất ly sinh hoạt, với chùm Hỏi đáp Phật pháp Chủ đề " Ứng dụng tu tập" sẽ giúp Phật tử giải đáp những thắc mắc phát sinh trong quá trình tu tập thực tiễn.

Câu hỏi 1: Phật tử hiểu và thực hành trong cuộc sống đời thường như thế nào qua bốn câu kệ sau nay trong kinh A Hàm:
"Người hơn thì thêm oán
Kẻ thua ngủ không yên
Hơn thua hai đều xả
Ấy được an ổn ngủ”

Trả lời: Hơn người thì bị người oán ghét, thù hận. Thua người thì phiền muộn, đau khổ. Người không dính mắc vào chuyện hơn thua sẽ luôn được an ổn.Hơn thua là nguyên nhân gây khổ đau và phiền não. Người Phật tử phải tu tập hạnh Hỷ Xả để luôn được sống an vui.

Câu hỏi 2:
Con người ta đem theo được gì sau khi chết? Vậy Phật tử đã chuẩn bị cho mình những gì cho đời sau ?
Trả lời:
- Sau khi chết mọi người không thể mang theo mình bất cứ vật gì ngoài những nghiệp thiện và ác mà người ấy đã tạo tác lúc sinh thời.
- Để chuẩn bị cho đời sau người Phật tử phải không làm tất cả các việc ác, vâng làm các việc lành.
- Làm tất cả các việc lành mà không có tâm chấp trước vào việc mình đang làm. Vượt qua được sự đối đãi thiện ác.

Câu hỏi 3:
Căn cứ vào giáo lý của Đạo Phật, người Phật tử tu tập như thế nào để tâm không bị dao động trước những thuận, nghịch của cuộc đời?
Trả lời:
Để tâm không bị dao động trước những thuận nghịch của cuộc đời, người Phật tử cần phải:
- Tin sâu Nhân quả (nhân quả ba đời)
- Giác ngộ lý Vô thường.
- Chứng nhập lý Vô Ngã

Câu hỏi 4:
Phật tử khi toạ thiền do mắc phải những lỗi gì khiến cho vị ấy không được chánh niệm tỉnh giác ? Bản thân Phật tử khi toạ thiền đã thực hành phương pháp nào để được chánh niệm tỉnh giác?
Trả lời:
- Do bị năm món ngăn che nên người Phật tử không được chánh niệm tỉnh giác khi tọa thiền, đó là Ngũ triền cái gồm: Tham, Sân, Hôn trầm, Trạo hối và Nghi. Nhưng phổ biến hơn cả là do ba món: Hôn trầm, Loạn tưởng và Vô ký.
- Phật tử áp dụng một trong các phương pháp tọa thiền do Hòa thượng chỉ dạy: Sổ tức, Tùy tức, Tri vọng hay “Biết có chân tâm”

Câu hỏi 5: Phật tử hiểu bài thơ “ Mộng” của Hoà Thượng Ân Sư như thế nào?
“Gá thân mộng, dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi, cười vỡ mộng.
Ghi lời mộng, nhắn khách mộng
Biết được mộng, tỉnh cơn mộng”
Trả lời: Hòa thượng là người đã giác ngộ, nhận ra được chân tâm hằng hữu. Thấy thân là hư vọng, giả tạm, vạn pháp đều là mộng huyễn nên đạt được hạnh phúc chân thật. Hòa thượng nhắc nhở để mọi người đều được tỉnh mộng như Ngài. Và những lời dạy của Người cũng chỉ là phương tiện “dĩ huyễn độ huyễn” (dùng lời huyễn để cứu độ cúng sinh như huyễn) mà thôi.

Câu hỏi 6: Qua 4 câu kệ cuối bài phú “Cư trần lạc đạo” của thượng hoàng Trần Nhân Tông, Phật tử hiểu và ứng dụng tu tập như thế nào?
“Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền” Trả lời: Giữa cuộc đời vô thường, hư vọng, muốn đạt được sự an lạc chân thật thì người tu Phật phải biết:
- Tùy thuận với pháp tướng nhưng luôn sống với tự tánh.
- Tin nhận ở ngay nơi mình sẵn có chân tâm thanh tịnh (kho báu trong nhà), không cần phải tìm cầu bên ngoài.
- Đối với các cảnh chỉ cần không để Tâm dính mắc thì không cần phải hỏi đến Thiền.

Câu hỏi 7:
Niềm vui chân thật của người tu Thiền là gì ? Phật tử ứng dụng phương pháp nào tu tập để được niềm vui đó trong mọi hoàn cảnh?
Trả lời:
- Nhận ra được chân tâm và hằng sống với chân tâm thanh tịnh của chính mình.
- Các phương pháp tu tập theo sự chỉ dạy của HT Tôn sư: 1. Biết vọng không theo.
2. Không kẹt hai bên.
3. Đối cảnh vô tâm.
4. Hằng sống với cái chân thật sẵn có.

Câu hỏi 8:
“Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” Phật tử hiểu và thực hành lời dạy trên như thế nào trong đời sống tu tập ?
Trả lời:
- Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc. Chẳng từ nơi khác mà được nghĩa là: Bổn phận chính của người Phật tử là không cần phóng tâm ra tìm kiếm sự giác ngộ giải thoát từ bên ngoài mà phải trở về để sống với bản tâm thanh tịnh của chính mình.
- Phương pháp soi sáng lại chính mình là trọng tâm của người tu Thiền, là cốt tủy của đạo Phật. Tất cả các pháp tu của đạo Phật đều bắt chúng ta phải soi lại mình. Từ Phật giáo nguyên thủy đến Phật giáo phát triển đều ứng dụng pháp phản quan.
Tùy theo căn cơ của mỗi người mà sự ứng dụng có khác nhau: 1. Pháp quán Tứ Niệm xứ để ngăn ngừa sự dính mắc nơi thân, thọ, tâm, pháp.
2. Dùng trí Bát nhã để chiếu phá sự dính mắc nơi thân, tâm và ngoại cảnh. 3. Pháp quán của Thiền tông là người tu thiền dùng trí để nhìn lại tâm mình, thấy vọng tưởng dấy khởi liền biết không theo, vọng tưởng tự lặng. Khi vọng tưởng lặng yên, thì ngay nơi thân tâm sanh diệt, chúng ta nhận ra cái không sanh diệt. Bấy giờ thấy rõ tất cả Tướng sanh diệt của thân tâm, của cảnh vật đều là hư dối không thật, chỉ có Thể không sanh diệt mới là chân thật. Sống thẳng với tính giác nên không còn dính mắc các pháp hư vọng.

Câu hỏi 9: Phật tử hiểu và thực hành trong cuộc sống đời thường như thế nào qua bốn câu kệ sau đây:
“Nhân ác xem kỹ,
Nghiệp thiện coi khinh.
Lầm nhận hoa giả,
Quên ngắm trăng thật”.
Trả lời: - Đối với điều lành điều tốt thì xem thường dễ quên, còn đối với điều dữ điều xấu lại chăm chú nhớ dai.
- Hoa giả là tất cả những gì có hình sắc trên thế gian, đó đều là những tướng vô thường tạm bợ, có rồi mất, không lâu bền nhưng chúng ta lại mê đắm và chạy theo giả tướng nên quên ngắm trăng thật. Trăng thật là chỉ cho thể chân thật sẵn có nơi con người cũng như ở ngoại cảnh. Nếu thấy rõ muôn pháp đều là duyên hợp, không có pháp nào thật thì chúng ta không mê đắm theo cảnh tức là không nhận lầm hoa giả mà nhận ra được bản thể chân thật của chính mình hay cái bản tính thật của ngoại cảnh.

Câu hỏi 10:
Phật tử hiểu và thực hành trong cuộc sống đời thường như thế nào qua bốn câu kệ sau đây:
“Ghét nghe chánh pháp, thích lắng lời tà.
Mê mất gốc chân, đuổi theo ngoại vọng.”
Trả lời: - Nghe những lời kinh Phật dạy để diệt trừ mầm đau khổ thì lại ngủ gục, nhàm chán không muốn nghe, nhưng nếu có ai ca hát hoặc nói đùa chơi thì lại chú tâm lắng nghe không biết chán và có khi còn nhớ kỷ nữa. Chỉ muốn nghe những lời làm tăng thêm dục nhiễm, thuận theo nghiệp xấu ác, khổ đau.
- Vì thích lời tà nên quên mất gốc chân. Mê đây là quên cái hân thật của chính mình. Đuổi theo ngoại vọng là đuổi theo những vọng tưởng điên đảo và các pháp hư huyễn bên ngoài.

Câu hỏi 11:
Phật tử hiểu và thực hành trong cuộc sống đời thường như thế nào qua bốn câu kệ sau đây:
“Thường tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào.
Chẳng thích chân hương, năm phần thanh tịnh.”
Trả lời: - Chỉ thích ngửi những mùi hương hoa thơm bay thoảng bên ngoài mà quên những loại hương thơm chân thật, hương thơm của giới đức đó là: Hương giới, hương định, hương tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến. Mùi thơm của giới đức không phải ngửi bằng mũi mà nghe bằng tai. Giới đức hay định tuệ của người hiền được mọi người hay biết và quí kính thì gọi là ngửi được mùi thơm. Hương của đạo đức không bị biến hoại mà tồn tại mãi mãi nên gọi là chân hương.
- Hai câu này nói lên sự mê lầm của con người, luôn chạy theo những gì tạm bợ mà không biết được điều quí báu, thanh tịnh lâu bền.

Câu hỏi 12:
Phật tử hiểu và thực hành trong cuộc sống đời thường như thế nào qua bốn câu thơ sau đây:
“Một nguyện ăn no vị vô thượng,
Hai nguyện nhả hết vị trần tanh.
Ba nguyện biện tài trừ các hoặc
Bốn nguyện thích nói độ quần sanh.”
Trả lời:
- Nghe kinh học đạo đầy đủ là ăn no vị vô thượng.
- Nhả sạch những vị hôi hám của trần tục, đó là: nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói lời ác độc, khinh chê cha mẹ, hủy báng Tam bảo ….
- Nguyện được biện tài vô ngại để trừ các mê lầm cho chúng sanh.
- Nguyện thích tuyên dương Phật pháp để rộng độ cho chúng sanh.

Câu hỏi 13: Phật tử hiểu và thực hành như thế nào trong cuộc sống đời thường qua bốn câu thơ sau đây:
“Tinh cha huyết mẹ, chung hợp nên hình.
Năm tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp.
Chấp cho là thật, quên mất pháp thân.
Sanh dâm sát trộm, bèn thành ba nghiệp”. Trả lời: - Thân hình chúng ta là do tinh cha huyết mẹ hợp thành, trong đó năm tạng trăm hài kết lại cùng nhau.Năm tạng là: Tim, gan, lá lách, phổi, thận. Trăm hài là chỉ các đốt xương.
- Thân người chỉ là sự kết hợp giả tạm như vậy nhưng chúng ta lại chấp cho là thật mà quên mất pháp thân thanh tịnh. Vì chấp thân là thật nên sinh ra các tội lỗi tạo thành ba nghiệp như sát sinh, trộm cắp, tà dâm.

Câu hỏi 14:
Phật tử hiểu và thực hành như thế nào trong cuộc sống đời thường qua bốn câu thơ sau đây:
“Chúng con từ vô thuỷ kiếp đến nay.
Bỏ mất bản tâm, quên mất chánh đạo” . . .
“Nghĩ vơ nghĩ vẩn không lúc nào dừng Mắc mứu tình trần kẹt tâm chấp tướng” Trả lời: - Vô thủy hay vô thỉ là không có ban đầu. Chúng ta được sinh ra do nhân duyên trùng trùng điệp điệp kết hợp nhau không có đầu mối nên nói là vô thủy.
- Bỏ quên bản tâm chân thật của mình nên không biết đạo chân chánh. Ai ai cũng có bản tâm chân thật nhưng quên đi không biết nên mới mê lầm chạy theo đường ác, tạo nghiệp luân hồi.
- Ta có thể dùng câu “Tâm viên, Ý mã” để giải thích câu này. Tâm ý chúng ta luôn loạn động, không ngừng suy nghĩ hết việc này đến việc nọ. Có khi những chuyện không đâu cũng làm cho chúng ta phải bận tâm suy nghĩ.
- Đã dính kẹt với sáu trần lại thêm chấp tướng. Chấp tướng là kẹt về hình thức bên ngoài, chỉ bám chặt vào hình thức mà không nhận được ý nghĩa thâm trầm bên trong. Chỉ căn cứ trên hình thức để khen chê, thương ghét đều là chấp tướng nên đều là khổ. Nếu không chấp tướng thì hết cả khen chê, thương ghét và cũng hết khổ.

Câu hỏi 15:
Triệu Châu: “Thế nào là Đạo”.
Nam Tuyền: “Tâm bình thường là đạo”
Phật tử hiểu và thực hành lời dạy trên như thế nào trong đời sống tu tập? (TS Trung Hoa tập 1)
Trả lời:
- Tâm bình thường là tâm không dính mắc hai bên, không kẹt vào các đối đãi: Hơn thua, phải quấy, yêu ghét, buồn vui …
- Để thực hành lời dạy trên người Phật tử cần phải biết tu tập thiền định, tỉnh giác trong mọi hoàn cảnh. Ngoài không dính mắc các pháp, trong giữ tâm không loạn động. Và luôn thực hiện phương châm: “Đối cảnh không sinh tâm”.

Câu hỏi 16:
Phật có tam thân vậy chúng ta có tam thân không? Nếu có, Phật tử hãy nêu lên cụ thể cho chúng hội cùng hiểu biết?
Trả lời: (Theo kinh Pháp Bảo đàn – phẩm Sám Hối)
Mỗi người chúng ta ai cũng có đủ ba thân Phật: Thanh tịnh Pháp thân, Viên mãn Báo thân, Thiên bá ức Hóa thân.
- Thanh tịnh Pháp thân Phật chỉ cho mỗi người chúng ta đều có sẵn bản tánh thanh tịnh. Từ bản tánh đó dấy niệm lành thì làm lành, dấy niệm dữ thì làm dữ. Khi niệm dấy lên, chúng ta mãi chạy theo niệm mà quên mất tự tánh như mây mù che mất mặt trăng. Khi mây mù vọng tưởng tan thì tự tánh Thanh tịnh Pháp thân hiện.
- Viên mãn Báo thân Phật là ở trong thật tánh không nhiễm thiện ác. Khi hai niệm thiện ác lặng thì chỉ còn một tánh giác thanh tịnh tròn đầy, đó là Viên mãn Báo thân Phật. Ngay nơi mỗi người đều có Báo thân Phật, vì chúng ta không lặng được niệm thiện ác cho nên không nhận được, nếu lặng được niệm thiện ác thì ngay nơi tâm mình đã đầy đủ Báo thân Phật.
- Thiên bá ức hóa thân Phật: Nếu mình không khởi duyên với muôn pháp thì tánh mình lặng lẽ như hư không, không có tướng mạo. Dấy niệm suy nghĩ liền biến hóa. Dấy niệm ác bị dẫn đi trong các đường ác, niệm lành dẫn đi trong các cõi lành. Dù cho có trăm ngàn muôn ức niệm ác mà mình biết xoay trở về thiện tức là liền trở về với tự tánh mình, xoay muôn ngàn ức niệm trở về tự tánh, tức là chuyển cái biến hóa trở về cái thật. đó là Hóa thân Phật.

Câu hỏi 17:
“Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”.
Phật tử hiểu và thực hành lời dạy trên như thế nào trong đời sống tu tập?
Trả lời:
- Bồ tát luôn cân nhắc khi làm mọi việc nên không bao giờ gây tạo nhân xấu ác. Chúng sinh thì ngược lại. Khi quả báo xấu đến thì lo lắng sợ hãi nhưng lại không quan tâm đến những việc làm xấu ác mà mình đang tạo tác.
- Người Phật tử phải tin sâu nhân quảp phải luôn luôn gây tạo nhân lành trong hiện tại để có quả báo tốt đẹp trong tương lai. Nếu đã tạo nhân xấu ác thì chắc chắn sẽ nhận lãnh quả báo dữ không thể nào trốn tránh.

Câu hỏi 18:
“Thắng một vạn quân không bằng thắng chính bản thân mình.Thắng chính bản thân mình là chiến công oanh liệt nhất”. Phật tử hiểu và thực hành lời dạy trên như thế nào trong đời sống tu tập?
(PC. 103- Phẩm Ngàn)
Trả lời:
Những gì chinh phục được ở bên ngoài đếu chỉ là tương đối, không đem lại cho người chiến thắng niền an vui hạnh phúc thật sự. Chỉ khi nào khắc phục được những thói hư tật xấu, làm chủ được những tập khí nơi nội tâm thì đó mới chính là chiến thắng thật sự và mới đem lại cho người chiến thắng niền an lạc, hạnh phúc vĩnh cửu.

Câu hỏi 19:
Bát phong là gì? Phật tử phải tu tập như thế nào để trong cuộc sống đời thường luôn đứng vững trước bát phong?
Trả lời:
- Bát phong là tám ngọn gió: Lợi (lợi lộc), Suy (hư hao), Hủy (bị khinh chê), Dự (được khen), Xưng (được ca ngợi), Cơ (chế diễu), Khổ (đau khổ), Lạc (sung sướng).
- Để luôn đứng vững trước “tám gió” này người Phật tử phải: Tin sâu nhân quả, hiểu rõ duyên sinh và chứng ngộ lý vô thường.

Câu hỏi 20:
“Khôn trong thế pháp là khôn dại
Dại để tu hành dại hoá khôn”
Phật tử hiểu và thực hành lời dạy trên như thế nào trong đời sống tu tập?
Trả lời:
- Khôn ngoan lanh lợi để được các pháp thế gian càng làm cho con người đắm chìm trong tham dục, chưa phải là người có trí tuệ.
- Không tham chấp các pháp thế gian, bề ngoài thấy dường như ngây ngô dại dột nhưng đó lại chính là nền tảng của bình an và hạnh phúc chân thật, của sự giác ngộ, giải thoát.

Câu hỏi 21:
Phật tử hiểu và thực hành trong đời sống tu tập như thế nào qua đoạn thơ sau đây:
“Có chi là khổ có chi vui?
Vui trong tham dục vui là khổ,
Khổ để tu hành khổ hoá vui.
Nếu biết có vui là có khổ,
Thà rằng đừng khổ cũng đừng vui.”

Trả lời:
- Vui khổ đều là vô thường, hư vọng. Tất cả rồi sẽ qua đi.
- Người thế gian xem ngũ dục lạc là niềm vui, là hạnh phúc nên luôn mong muốn đạt được nhưng không biết rằng trong đó đã ẩn tàng mầm đau khổ.
- Không tham chấp ngũ dục, sống ít muốn biết đủ để tu hành là nhân của niềm an vui hạnh phúc lâu dài.
- Vì biết rằng vui khổ đều là vô thường sanh diệt nên người tu luôn được tự tại trước khổ vui.

Câu hỏi 22:
Phật tử hiểu và thực hành trong cuộc sống đời thường như thế nào qua đoạn thơ sau đây:
“Người khôn nói ít nghe nhiều
Khéo lời đối đáp lựa điều hỏi han
Trước người hiền ngỏ khôn ngoan
Nhường trên một bước rộng đàng dễ đi
Chuyện người mình biết làm chi?
Chuyện mình mình biết vậy thì mới khôn”
(HT. Thiện Hòa) Trả lời:
- Nghe nhiều, nói ít. Lắng nghe là một nghệ thuật trong giao tiếp và cũng là một phương pháp tu tập.
- Thực hành hạnh ái ngữ. Nhường nhịn, khiêm cung với mọi người.
- Luôn nhìn lại mình, không chấp lỗi người.

Câu hỏi 23:
Phật tử hiểu và thực hành trong khi tọa thiền như thế nào qua lời dạy sau đây:
Tỉnh tỉnh lặng lặng phải,
Vô ký lặng lặng sai;
Lặng lặng tỉnh tỉnh phải,
Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.
(Thiền tông Vĩnh Gia tập – Bài tụng Xa Ma Tha) Trả lời:
- Tỉnh tỉnh lặng lặng hay lặng lặng tỉnh tỉnh là: Tâm luôn vắng lặng nhưng vẫn thấy nghe, hay biết mọi chuyện. Thấy nghe hay biết nhưng không dính mắc vào thấy vào nghe…
- Vô ký là trạng thái lơ mơ, bất định, không thể phân biệt được thiệc ác, nằm giữa hai trạng thái hôn trầm và loạn tưởng. Trong nhà thiền gọi là lọt vào hang quỷ.
- Tỉnh táo nhưng tâm luôn lăng xăng, loạn động tức là bị vọng tưởng dẫn dắt.
- Tỉnh tỉnh là Tuệ, lặng lặng là Định. Lúc nào cũng phải có Định Tuệ song hành, hay nói cách khác trong Định có Tuệ và trong Tuệ có Định.

Câu hỏi 24:
Phật tử hiểu và thực hành trong cuộc sống đời thường như thế nào qua lời dạy sau đây:
“Muốn biết nhân đời trước,
Nên nhìn quả hiện tại.
Muốn biết quả vị lai,
Hãy xem nhân hiện tại.”
Trả lời: - Những gì chúng ta thọ lãnh trong hiện tại là kết quả của việc làm mà chúng ta đã gây tạo trong quá khứ.
- Những gì chúng ta đang tạo tác khi nhân duyên sẽ cho kết quả trong tương lai.
- Chúng ta có thể quyết định được tương lai tốt đẹp cho chính bản thân mình bằng cách cố gắng tu tập, làm lành lánh dữ ngay trong hiện tại.

Câu hỏi 25:
Phật tử hiểu và thực hành trong đời sống tu tập như thế nào qua bài kệ của Ngài Thần Tú:
“Thân là cây Bồ Đề
Tâm là đài gương sáng
Hằng ngày phải lau chùi
Chớ để dính bụi bặm.”
Trả lời:
- Ngài Thần Tú nói “Thân là cây bồ đề, tâm là đài gương sáng”, ý nói tánh giác sẵn có nơi mỗi người nhưng bị vọng tình che lấp. Nếu muốn tánh giác được hiển lộ cần phải dụng công tu tập để dẹp trừ mê chấp vọng tình. Đó là phương pháp tiệm tu.
- Người Phật tử phải tin nơi thân tâm mình có sẵn tánh giác, luôn nhắc mình sống tỉnh giác đừng lầm chấp những vọng tưởng sinh diệt.

Câu hỏi 26:
Phật tử có khái niệm như thế nào qua bài kệ của Tổ Huệ Năng:
“Bồ Đề vốn không cây
Gương sáng cũng chẳng đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính bụi bặm”
Trả lời: Qua bài kệ này chúng ta được Tổ chỉ dạy:
- Tánh giác vốn không hình tướng nên không thể dùng bất cứ pháp gì để so sánh hay ví dụ. - Vì không hình tướng nên không có chỗ dính mắc, cần gì phải lau chùi. Đây chính là Thật tánh, nơi phàm không thiếu, nơi Thánh không dư, chỉ ngay tự tánh đó mà sống, còn khở niệm lau chùi (Tu) liền sai.

Câu hỏi 27:
Phật Tử hiểu và thực hành trong đời sống tu tập như thế nào qua lời Phật dạy dưới đây: “ Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ ý tạo
Nếu với ý ô nhiễm
Nói năng hay hành động
Khổ não bước theo sau
Như xe chân vật kéo.”
(Pháp cú 01 – Tâm)
Trả lời:
- Trong ba nghiệp thân, khẩu, ý thì ý là quan trọng hơn cả. Tất cả các ác nghiệp mà chúng ta gây tạo đều phát xuất từ tâm ý không thanh tịnh. - Người Phật tử phải luôn kiểm soát tâm ý mình. Người Phật tử tu thiền luôn xem tâm ý mình như con trâu hoang cần phải được chăn dắt cẩn thận, không cho phạm vào lúa mạ của người. Luôn suy nghĩ chín chắn, cẩn thận trước khi nói năng hay hành động để tránh những quả báo khổ đau.

Câu hỏi 28:
Phật Tử hiểu và thực hành trong đời sống tu tập như thế nào qua lời Phật dạy dưới đây: “ Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ ý tạo
Nếu với ý thanh tịnh
Nói năng hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng không rời hình.”
(Pháp cú 02 – Tâm)

Trả lời:
- Trong ba nghiệp thân, khẩu, ý thì ý là quan trọng hơn cả. Tất cả những nghiệp lành mà chúng ta tạo được đều phát xuất từ tâm ý hiền thiện, thanh tịnh. - Người Phật tử phải siêng tu thiền định, sống tỉnh giác, biết giữ tâm ý luôn luôn được thanh tịnh. Với tâm ý thanh tịnh thì sự an lạc sẽ đến ngay với mỗi chúng ta trong từng lời nói hay việc làm.

Câu hỏi 29:
Phật tử hiểu và thực hành như thế nào trong đời sống tu tập qua các câu kệ sau đây: “Tà đến phiền não sanh Chánh đến phiền não dứt
Tà chánh đều không dùng
Thanh tịnh mới hoàn toàn”
(Pháp Bảo đàn – Phẩm Bát nhã)
Trả lời: Đoạn này trích trong bài tụng Vô tướng của lục tổ Huệ Năng, phẩm Bát nhã: Tà lai phiền não chí, Chánh lai phiền não trừ, Tà chánh câu bất dụng,
Thanh tịnh chí vô dư.
- Một niệm tà vừa khởi lên là bao nhiêu phiền não liền kéo đến với chúng ta. Trong kinh thường nói “Nhất ba tài động, vạn ba tùy” tức là một lượn sóng vừa nổi lên thì muôn lượn sóng khác kéo theo. Một niệm sai lầm khởi lên là bao nhiêu niệm xấu khác dẫn, cho nên vừa có một niệm sai lầm là phải dẹp bỏ ngay thì phiền não cũng theo đó mà dứt. Như vậy là lấy Chánh độ Tà.
- Trong tương đối phải như thế nhưng đến chỗ cứu kính thì cả Tà lẫn Chánh đều không dùng, mới hoàn toàn thanh tịnh, không còn thừa gì nữa. Hiện nay chúng ta ở giai đoạn ứng dụng tu trong cái đối đãi, rồi lần lần đến chỗ hết đối đãi. Tóm lại Ngài chỉ cho chúng ta tu từ cái đối đãi sau đó tiến sâu dần, nghĩa là đầu tiên dùng pháp Chánh đối trị Tà, sau đó xả luôn pháp đối trị thì mới đạt được tâm thanh tịnh hoàn toàn.

Câu hỏi 30:
Phật tử hiểu và thực hành như thế nào trong đời sống tu tập qua các câu kệ sau đây:“Người chơn chánh tu hành
Không thấy lỗi thế gian
Nếu thấy lỗi người khác
Lỗi mình đã đến bên.”
(Pháp Bảo đàn – Phẩm Bát nhã)
Trả lời:
- Người tu hành chân chánh phải không thấy lỗi của thế gian, nếu thấy lỗi của người khác, lỗi mình đã đến bên cạnh rồi. Nếu cứ thấy lỗi người này người kia, đến đâu cũng kể lỗi người tức mình đã có lỗi.
- Vì thấy người có lỗi nên xem ai cũng thua mình, còn lỗi mình thì giấu mất nên thấy mình cao hơn thiên hạ, đó là ngã mạn. Trái lại, chúng ta thấy lỗi mình thì đâu có tự cao, đâu dám tự xưng ta hơn người; không thấy lỗi người thì đâu dám xem người thấp, đâu biết ai dỡ mà dám khinh, ngã mạn theo đó mà hết. Như thế là tu hành.


Biên tập: Thầy Thích Trúc Thông Tánh
Thiền Viện Sùng Phúc, Hà Nội

Nghiệp Câu Cá

HỎI:

Tôi là Phật tử đã về hưu, tôi luôn tâm niệm sống thế nào cho tốt, góp phần bảo vệ thiên nhiên, nuôi dưỡng từ tâm theo Phật dạy. Tôi có mấy ông bạn già thích đi câu, có người là đại gia giàu nhất nhì ở địa phương, việc ăn mặc ở không thiếu cái gì. Nhưng rồi ngày ngày các bạn tôi phải ngồi một góc khuất nào đó, kiên trì chờ cá cắn câu. Nắng cũng như mưa, ngồi bên mép nước, chờ niềm hứng khởi. Không đi câu là không được, không thấy cá cắn câu là không vui. Đó có phải là nghiệp không? Cái nghiệp vui sướng trên sự khổ đau của chúng sinh.

(NGUYỄN TRANH, thaihoa1508@gmail.com)

ĐÁP:

Bạn Nguyễn Tranh thân mến!

Trong dân gian hay nói “nghề chơi cũng lắm công phu”. Câu cá cũng được xem là một trò chơi, thú tiêu khiển khá công phu của một số người nhàn rỗi, khá giả. Nhưng trong vô số trò tiêu khiển, thú vui của tuổi già thì câu cá (hay săn bắn) không phải là trò hiền lành mà gắn liền với nghiệp sát hại chúng sanh. Người Phật tử có thể xem đây là một trò chơi ác, một thú vui bất thiện, có hại cho đời này và cả đời sau, không nên tham dự vào.

Bạn là Phật tử và đã có quan điểm rất đúng đắn “luôn tâm niệm sống thế nào cho tốt, góp phần bảo vệ thiên nhiên, nuôi dưỡng từ tâm theo Phật dạy”. Ngoài ra còn rất nhiều hoạt động khác, có lợi ích cho thân tâm, cho đời này và cả đời sau hơn câu cá rất nhiều như tập dưỡng sinh, tập thiền, đi bộ, trồng cây… và các hoạt động xã hội bổ ích khác.

Mỗi người đều có nghiệp riêng, chọn thú tiêu khiển câu cá cũng do nghiệp của họ. Nếu có dịp, bạn cũng nên chia sẻ tâm sự để những người bạn thích đi câu nhận thức được hành vi câu cá để tiêu khiển là không tốt, vì tạo nghiệp giết chóc, tàn hại môi trường nhằm giúp họ chuyển nghiệp xấu câu cá sang một hoạt động giải trí khác bổ ích hơn.

Chúc các bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN
(tuvangiacngo@yahoo.com)

CÚNG CHAY, ĐÃI MẶN

HỎI: Sắp đến là ngày cúng giáp năm cho ngoại của tôi. Tất cả các cậu, các dì đều có ý muốn cúng chay cho ngoại và làm tiệc mặn để đãi khách. Duy chỉ có mẹ và tôi là có ý làm chay tất cả để không phải gây tạo nghiệp báo sát sanh.

Từ ngày ngoại qua đời đến nay gia đình tôi đều cúng chay để hồi hướng cho ngoại được sanh về cõi an lành. Có thể hiện nay ngoại tôi đã được vãng sanh hay tái sanh ở một cảnh giới nào đó, nhưng tôi lo sợ rằng liệu việc sát sanh hại mạng này có gây ảnh hưởng xấu gì cho ngoại tôi không? Ngoại tôi có bị cộng nghiệp không? Kính mong quý Báo hoan hỷ cho tôi một lời khuyên.

(PHAN NGỌC THANH, phanngocthanh48@yahoo.com.vn)

ĐÁP:

Bạn Phan Ngọc Thanh thân mến!

Dĩ nhiên là cúng chay và làm tiệc chay đãi khách trong các ngày giỗ (lễ) sẽ tốt hơn nhưng khi đối diện với thực tiễn thì không phải gia đình Phật tử nào cũng làm được. Bởi lẽ, giỗ quảy thường là việc chung của các con cháu vốn dĩ “chín người mười ý”, cộng thêm khách mời cùng bà con lối xóm cũng không nhiều người quen và cảm nhận hết giá trị của các món chay.

Do đó, người Phật tử nên vận dụng tinh thần “tùy duyên”, cúng chay và đãi chay là rất tốt, trong những trường hợp khác thiếu duyên hơn thì vẫn cúng chay còn đãi khách thì tùy thực tiễn, chay hoặc mặn đều được. Miễn sao vào những dịp giỗ quảy mọi người trong gia đình hòa hợp và hiếu thuận, khách bạn hoan hỷ. Các Phật tử hãy nêu cao tinh thần hòa hiếu, không nên vì vấn đề “chay-mặn” mà dẫn đến căng thẳng, xung đột, bất hòa trong ngày giỗ. Nếu đãi tiệc mặn thì việc cần lưu ý nhất là tránh trực tiếp giết hại chúng sanh.

Có một điều rất quan trọng khác mà chúng ta ít để ý đó là việc cúng và đãi tiệc mặn (có trực tiếp giết thịt chúng sanh) chẳng những ảnh hưởng không tốt đến người mất mà còn liên quan ảnh hưởng xấu đến con cháu hiện đang tạo nghiệp.

Khi người thân mới mất, trong vòng dưới 49 ngày, việc tổ chức tang lễ của thân nhân có liên quan đến sát sanh, thì ngoài việc thân nhân tạo ác nghiệp, nghiệp xấu ấy còn tác động và ảnh hưởng khá lớn đến xu hướng tái sanh của hương linh. Nhưng sau 49 ngày khi thần thức hầu hết đã tái sanh, vào những dịp giỗ quảy họ nếu thân nhân tổ chức cúng và đãi mặn có trực tiếp giết thịt thì người bị tội nghiệp nặng nề không phải hương linh mà chính là con cháu hiện tiền. 

Vì thế, những bận tâm cho hương linh, sợ họ cộng nghiệp giết hại là điều tốt nhưng lo lắng về vấn đề tạo ác nghiệp của chính mình mới là điều cần thiết và quan trọng nhất. Nên không chỉ trong những dịp tang lễ hay giỗ quảy mà mọi lúc mọi nơi trong đời sống hàng ngày, người Phật tử luôn chú tâm tỉnh giác để không tạo nghiệp sát sanh. Đối với những người chưa ăn chay được nhiều ngày trong một tháng thì cứ ăn uống bình thường nhưng quyết không chính tay mình tạo nghiệp giết hại.

Chúc bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN

Buddhist Hybrid Sanskrit

Lời BBT: Để trả lời cho một câu hỏi của một độc giả về ngôn ngữ trong kinh điển Phật Giáo liên quan đến dạng ngôn ngữ Indic miền Trung Ấn, “Buddhist hybrid Sanskrit”, chúng tôi biên tập bài dưới đây dựa theo Tự Điển Bách Khoa Wikipedia và bài viết của tác gỉa Lê Tự Hỷ:

BUDDHIST HYBRID SANSKRIT

Thời đức Phật Thích Ca tại thế (563-483 trước dương lịch) thì Phật pháp được giảng giải và trao truyền bằng lời nói, chứ chưa được ghi lại dưới dạng văn tự. Trong lần kết tập thứ ba, theo lệnh của vua A Dục (Aśoka : 268-233 tr. dl), tức khoảng 218 năm sau khi Đức Phật Niết Bàn, Kinh Phật mới được ghi lại thành văn bản trên những miếng đồng để lưu trữ. Vào thời kỳ nầy thì tiếng Phạn đã được học giả Pānini chuẩn hóa thành tiếng Phạn mà các học giả Tây phương gọi là tiếng Phạn Cổ điển (Classical Sanskrit) để phân biệt với tiếng Phạn thời trước đó trong kinh Vệ Đà, gọi là Phạn Vệ Đà (Vedic Sanskrit).

“Theo Giáo sư Franklin Edgerton [1], các văn bản Phật giáo đã được lưu giữ trong ít nhất là 4 ngôn ngữ Indic (1) Phạn Cổ Điển (Classical Sanskrit) : Tiếng Phạn chuẩn tức tiếng Phạn đã được chuẩn hóa bởi Pānini, phân biệt với tiếng Phạn trong kinh Vệ Đà là Vedic Sanskrit. (2) Pāli, còn gọi là Nam Phạn, một ngôn ngữ Indic miền Trung Ấn (Middle Indic). Đây là ngôn ngữ chuyển tải phần lớn nhất của tác phẩm Phật giáo mà ngày nay được bảo lưu trong bất kỳ ngôn ngữ Indic nào , đó là ngôn ngữ của Phật Giáo Miền Nam (Nam truyền, Nam tông, Nguyên thủy, Tiểu thừa). Ngày nay, hầu hết các học giả đều tin rằng Pāli chủ yếu là dựa trên một phương ngữ Middle Indic thuộc miền Tây hay Trung tây. (3) Prakrit Dharmapada : là phương ngữ dựa trên một Middle Indic miền Tây bắc. (4) Buddhist Hybrid Sanskrit : Ngôn ngữ mà Giáo sư Franklin Edgerton goi là Buddhist Hybrid Sanskrit (viết tắt là BHS). Hầu hết các tác phẩm Phật Giáo Bắc Ấn Độ (Bắc truyền, Bắc tông, Đại thừa) được viết bằng BHS. Chẳng hạn, toàn bộ các kinh trong bộ Đại Bát Nhã được viết bằng BHS. Ngôn ngữ nầy chủ yếu dựa trên một phương ngữ Middle Indic cổ xưa mà vẫn chưa xác định rõ, đồng thời chứa nhiều tiếng địa phương của các Middle Indic khác. Nhưng BHS cũng chịu ảnh hưởng sâu xa bởi tiếng Phạn khiến cho nhiều tác phẩm viết bằng BHS vẫn được gọi một cách đơn giản là “tiếng Phạn”.

Giáo sư Franklin Edgerton, trong bài viết “ Tiếng Prakrit Làm Nền Tảng Cho Buddhistic Hybrid Sanskrit” [02], cho biết rằng những tác giả Phật giáo sử dụng tiếng Phạn chuẩn hóa hay Tiếng Phạn Cổ điển (Classical Sanskrit), hay Brahmanical Sanskrit, do Pānini và các vị tiền bối chuẩn hóa chỉ là một số nhỏ. Nhóm nầy dường như là đã được đào tạo trong truyền thống tăng lữ Bà La Môn chính thống (orthodox Brahmanical training) vào thời trẻ nên họ rành tiếng Phạn chuẩn, rồi sau họ mới chuyển qua đạo Phật, chẳng hạn như Aśvaghosa (Mã Minh), do đó họ dùng tiếng Phạn chuẩn hóa để viết kinh sách Phật giáo. Đa số tác phẩm Phật giáo viết bằng tiếng Phạn, chính là bằng Buddhist Hybrid Sanskrit . Vì vậy Buddhist Hybrit Sanskrit cũng còn gọi là Tiếng Phạn Phật Giáo (Buddhist Sanskrit) hay Tiếng Phạn Hỗn Hợp (Mixed Sanskrit).

Các tác phẩm Phật giáo viết bằng Buddhist Hybrid Sanskrit xuất hiện sau khi Pānini đã hoàn thành việc chuẩn hóa tiếng Phạn vào khoảng đầu thế kỷ thứ 4 trước dương lịch. Sau công trình của Pānini thì tiếng Phạn đã trở thành ngôn ngữ vượt trội trong văn học và triết học ở Ấn Độ. Cho nên các nhà sư Phật giáo bắt đầu thích nghi ngôn ngữ họ đã dùng (tiếng địa phương của họ) với tiếng Phạn trong khi vẫn còn ảnh hưởng của truyền thống ngôn ngữ thoát thai từ một dạng tiếng Prakrit dùng chính thức trong tôn giáo của truyền thống truyền khẩu vào thời kỳ đầu của việc trao truyền Phật pháp. Có lẽ chính vì dưới sự ảnh hưởng đa phương ngữ như thế, mà các tác phẩm Phật giáo được viết bằng Buddhist Hybrid Sanskrit đã ra đời.

Trong khi có nhiều lý thuyết khá khác biệt nhau về mối liên hệ của Buddhist Hybrid Sanskrit với Pāli, thì điều chắc chắn là Pāli thì gần với ngôn ngữ nầy hơn là Sanskrit [3]. Theo K.R. Norman, thì Pāli cũng nên được xem như một dạng của Buddhist Hybrid Sanskrit [04]. Franklin Edgerton lại cho rằng Pāli về cơ bản là một loại tiếng Prakit [05]. Ở những nơi mà BHS khác biệt với Sanskrit thì nó lại gần giống hay y hệt như Pāli. Tuy nhiên, hầu hết những tác phẩm viết bằng BHS hiện còn tới nay thì nguyên thủy được viết bằng BHS chứ không phải được viết lại hay dịch lại từ các tác phẩm đã viết bằng Pāli hay các ngôn ngữ khác [06]…”

Theo thầy Nhất Hạnh, khi giảng kinh Pháp Hoa cho biết “Prakrit và Sanskrit là hai thứ tiếng gần giống nhau, nhưng hình thái văn pháp và chữ nghĩa của Sanskrit rất khác với Prakrit. Cho nên, đứng về phương diện trường hàng tức là văn xuôi, thì việc nhuận văn rất dễ dàng, nhưng đứng về phương diện trùng tụng thì rất khó dịch. Vì vậy mà có nhiều đoạn trùng tụng đã không sửa lại được thành Sanskrit, nên vẫn phải để nguyên chữ Prakrit. Thành ra tiếng Phạn trong kinh Pháp Hoa cũng như trong một số kinh điển khác là tiếng Phạn lai, nghĩa là một ngôn ngữ trộn lẫn giữa Sanskrit và Prakrit. Các học giả vào thế kỷ 19 và 20 thường gọi tiếng Phạn trong kinh điển đạo Bụt là Buddhist Hybrid Sanskrit, tức là tiếng Phạn lai của đạo Bụt.” (Sen Nở Trời Phương Ngoại, Lá Bối xuất bản).

 BBT

[01] Franklin Edgerton, “Buddhist Hybrid Sanskrit, vol. I Grammar, Motilal Banarsidass, 1998, tr.1
[02] Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No. 2/3, tr. 504. 
[03]. Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No. 2/3, tr. 502. 
[04]. Jagajjyoti, Buddha Jayanti Annual, 1984, tr. 4, được in lại trong K.R. Norman, Collected Papers, vol. III,1992, Pāli Text Society, tr. 37
[05]. Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No. 2/3, tr. 503.
[06]. Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No. 2/3, tr. 502.
Trích từ: TIẾNG PHẠN TRONG PHẬT GIÁO, Lê Tự Hỷ (đoạn 2)

Tri Túc Và Làm Giàu Có Mâu Thuẫn Không?

Huyền Ngu - Quảng Tánh

HỎI: Chúng tôi là những Phật tử rất thích đi nghe pháp. Chúng tôi đã nghe pháp tại các giảng đường ở TP.Hồ Chí Minh gần 10 năm nay. Một lần, chúng tôi được quí thầy dạy ... “phải biết sống tri túc”. Chúng tôi chưa hiểu thật đầy đủ thế nào là tri túc, nếu “sống tri túc” thì có được buôn bán làm giàu không? Nếu cuộc sống có nhiều phương tiện, của cải thì có đi ngược lại tinh thần “tri túc” hay không?

ĐÁP:

Tri túc là biết đủ, biết an trú vào những gì mà mình hiện có, không vọng tưởng mong cầu. Một đời sống tri túc đúng nghĩa là một đời sống an lạc, thanh cao vì không còn bị khổ đau do sự chi phối của dục vọng. Thế nên, trong kinh Di Giáo, Phật đã dạy: “Người biết sống tri túc, tuy nằm trên đất cũng an lạc, người không biết sống tri túc, tuy ở trên các cõi trời nhưng lòng cũng không an ổn”.

Cần phải thấy rằng, cứu cánh đích thực mà giáo lý Phật đà nhắm đến là diệt hết mọi khổ đau trong cuộc sống. Muốn thoát khỏi khổ đau thì điều kiện tiên quyết đầu tiên là phải vượt thoát khỏi mọi dục vọng. Bởi lẽ, mầm mống cội nguồn của tất cả các nỗi khổ đau trong cuộc sống này đều bắt nguồn từ những tham muốn của con người. Còn tham muốn là còn đau khổ, đó là chuỗi nhân quả tương liên tất yếu. Cho nên, việc loại bỏ dần những tham muốn trong cuộc sống đời người đồng nghĩa với việc thực hành một đời sống tri túc. Ở đây, tri túc là một pháp hành, trợ lực cho hành giả trên con đường thăng tiến tâm linh và giải thoát khổ đau.

Tuy nhiên, trên bình diện hiện thực của một chúng sanh với nhiều nghiệp duyên ràng buộc nhưng đang hướng về Thánh đạo; lẽ cố nhiên ta phải tự xác định vị trí cũng như phải lựa chọn một con đường phù hợp, ngõ hầu gặp nhiều thuận duyên trên hành trình tìm về Bảo sở của chính mình. Vì lẽ, Phật giáo là một tôn giáo xây dựng trên cơ sở hiện thực, dựa vào những điều kiện thiết thân của mỗi chúng sanh mà đưa ra những phương thuốc thích ứng.

Khi đã xác định là một người Phật tử ở trong giai đoạn đầu của tiến trình học Phật, lẽ dĩ nhiên mỗi chúng ta còn phải đối diện với nhiều vấn đề phức tạp khác của cuộc sống. Chẳng hạn như phải lập nghiệp, mưu sinh, quan hệ xã hội, bạn bè, dựng vợ gã chồng cho con cái... tất cả những vấn đề đó đòi hỏi những cơ sở để tồn tại mà đời sống vật chất là một điều kiện cần không thể thiếu. Vấn đề ở đây chính là khi tạo ra và sử dụng những phương tiện vật chất ấy, ta phải có thái độ như thế nào để phù hợp với tinh thần tri túc.

Ở đây, theo chúng tôi tri túc không phải là một giáo lý khuyến khích sự tự mãn, tự bằng lòng với những gì ít ỏi mà mình có mà chính là một thái độ biểu lộ sự thao thức của mình đối với những nỗi khổ đau của tha nhân. Chính vì thông cảm với những nỗi khổ đau ấy mà người Phật tử chân chính không an tâm thâu góp riêng cho mình những tài lợi, những tiện nghi mà mình có thể sở hữu và có quyền thâu góp. Chính vì thông cảm với nỗi khổ đau ấy mà người Phật tử quên bớt mình đi và nghĩ đến người, luôn luôn tâm niệm rằng những điều kiện vật chất mà mình đang có là có thể tạm đủ cho mình rồi và dành thời giờ, tâm lực để lo lắng cho kẻ khác. Chính nhờ sự tự nguyện tri túc như vậy mà người Phật tử biết hạn chế sử dụng những xa xỉ phẩm, những phí tổn vô ích khác và có thể dành dụm những sở hữu vật chất nhất định để giúp đỡ cho tha thân. Có thêm vài mẫu ruộng để mở mang canh tác, có thêm một chiếc xe để thuận tiện việc đi lại, có được một cái máy điện toán, điện thoại để tiện việc thông tin... điều đó không có gì chống trái với giáo lý đạo Phật cả, không hề đi ngược lại giáo lý tri túc. Trừ phi phương tiện để có được những điều kiện vật chất ấy là phương tiện bất chính và mục tiêu sử dụng là để nhằm thỏa mãn tư dục của cá nhân.

Cho nên có thể thấy, sống tri túc không nhất thiết phải chấp nhận một cuộc sống với điều kiện vật chất tạm bợ và như vậy không hề ngăn cản sự tiến lên hay “làm giàu” của mỗi cá nhân. Việc vận dụng nhiều phương tiện hỗ trợ trong cuộc sống không hề trái với tinh thần tri túc, vì cần phải hiểu tri túc chính là biết đủ đối với bản thân mình để từ đó có thể hy sinh mà phụng sự cho người, cho nhân loại.

(Theo Phật pháp bách vấn, tập I)

TU TỊNH ĐỘ KHÔNG PHẢI CHỈ TỤNG KINH VÔ LƯỢNG THỌ

HỎI: Gần đây tôi nghe nhiều người tu niệm Phật nói về hai việc khiến tôi rất hoang mang. Một là, phải quy y Phật A Di Đà với pháp danh Diệu Âm mới được vãng sanh Tịnh độ. Hai là, thời mạt pháp này chỉ nên niệm Phật A Di Đà và tụng kinh Vô Lượng Thọthôi, không nên tụng những kinh khác. Mong quý Báo giải thích hai vấn đề cho tôi được hiểu để an tâm trong việc tu tập theo pháp môn Tịnh độ truyền thống.

(THIỆN BẢO, qv619@yahoo.com)

ĐÁP:

Bạn Thiện Bảo thân mến!

Vấn đề “phải quy y Phật A Di Đà với pháp danh Diệu Âm mới được vãng sanh Tịnh độ” hiện chúng tôi chưa tìm thấy kinh luận nào trực tiếp đề cập đến. Trong kinh Vô Lượng Thọ (phẩm 48 - Nghe kinh được lợi ích) có nói đến danh hiệu Diệu Âm: “Bốn vạn ức na-do-tha trăm ngàn chúng sanh chưa từng phát nguyện thành Phật, nay mới phát tâm gieo các căn lành, nguyện sanh về Cực lạc, thấy Phật A Di Đà, đều sẽ vãng sanh về cõi Tịnh độ của Phật Vô Lượng Thọ, thảy đều thứ lớp thành Phật khắp các phương cùng một danh hiệu là Diệu Âm Như Lai” nhưng đây là sự thọ ký của Phật A Di Đà, chứ không phải là bắt buộc quy y lại với Ngài.

Mặt khác, khi một người phát tâm quy y Tam bảo, quy y Phật tức vị ấy đã quy y tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, trong đó tất nhiên đã quy y với Đức Phật A Di Đà rồi nên bây giờ quy y thêm lần nữa thì không đúng. Mà quy y với tâm niệm ràng buộc kiểu “phải quy y Phật A Di Đà với pháp danh Diệu Âm mới được vãng sanh Tịnh độ” thì lại càng xa lạ với Chánh pháp, không đúng và không nên. Đành rằng thâm tín với Phật A Di Đà chính là quy mạng, quy y Ngài nhưng sự quy y đó mang ý nghĩa quay về nương tựa vào lời Ngài dạy thực hành tự độ, độ tha cho đến ngày công viên quả mãn; hiển lộ tự tánh Di Đà hằng thanh tịnh và sáng suốt của bản tâm tịch tịnh chứ không phải là quy y lại theo sự tướng bên ngoài.

Tu học theo pháp mônTịnh độ, để thành tựu vãng sanh, theo kinh A Di Dà, hành giả phải thành tựu tín-nguyện-hạnh và nhất là niệm Phật đạt đến nhất tâm bất loạn từ một cho đến bảy ngày. Niệm Phật nhất tâm là chánh hạnh, còn trợ hạnh là làm tất cả các việc lành, chánh hạnh và trợ hạnh phải song hành trong quá trình tu tập. Đây chính là nguyên tắc căn bản nhất, xuyên suốt nhất, là điều kiện cần và đủ để vãng sanh theo tôn chỉ tu tập của Tịnh Độ tông.

Tiếp đến, vấn đề “thời mạt pháp này chỉ nên niệm Phật A Di Đà và trì tụng kinh Vô Lượng Thọ thôi” cũng chưa ổn. Riêng vấn đề “không nên tụng những kinh khác” là hoàn toàn sai với Chánh pháp. Bởi giáo lý Tịnh độ dạy người muốn vãng sanh thì phải: Hiếu kính cha mẹ và sư trưởng, phát Bồ-đề tâm, tu tập thiện nghiệp và đọc tụng kinh điển Đại thừa (Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ).

Nếu đổ thừa cho thời mạt pháp mà chủ trương như vậy lại càng sai. Chính thời mạt pháp, người Phật tử phải phát Bồ-đề tâm, hành theo hạnh Bồ-tát, nỗ lực truyền bá Chánh pháp của Phật. Y theo tôn chỉ “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học/Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”, mới xiển dương Chánh pháp của Phật, sao lại chủ trương quay lưng với kinh điển Phật dạy?

Mặt khác chủ trương “không nên tụng những kinh khác” là mắc tội phá kiến, khiến cho số đông người không hiểu hoặc hiểu sai bản chất của toàn bộ giáo lý Đức Phật; điều này người học Phật nên thận trọng, vô tình phạm vào tội hủy báng Chánh pháp. Tu hành chưa được bao nhiêu công đức, mà phạm tội đó thì đáng tiếc, phải chịu quả báo khổ đau, làm sao mà thành tựu nguyện lực vãng sanh!

Có thể sau quá trình tìm hiểu nhiều kinh điển liên quan đến Tịnh Độ tông, hành giả chọn một vài kinh tiêu biểu như kinh A Di Đà hay kinh Vô Lượng Thọ để hành trì chuyên sâu. Thế nhưng, kêu gọi những hành giả sơ cơ chuyên nhất vào kinh Vô Lượng Thọ mà không tìm hiểu, đọc tụng các kinh sách khác là không nên, nếu điều đó vì dụng ý riêng để dựng tông lập phái thì Phật tử chúng ta phải hết sức cảnh giác.

Hiện nay một số vị hành giả Tịnh tông (ảnh hưởng Phật giáo nước ngoài) đang cổ xúy cho việc chuyên nhất vào kinh Vô Lượng Thọ, tụng kinh thì tốt nhưng kêu gọi Phật tử “không nên tụng những kinh khác” là một sự sai lạc cần được chấn chỉnh. Bởi lẽ, nhân danh tu tập pháp môn Tịnh độ mà kêu gọi Phật tử từ bỏ Phật Thích Ca để quy y với Phật A Di Đà là không thể chấp nhận. Thậm chí có nơi đã xảy ra hiện tượng “phế” Phật Thích Ca để chỉ thờ duy nhất Phật A Di Đà mà thôi. Chúng ta thử hình dung có một tổ chức Phật giáo mà gần như lãng quên Đức Giáo chủ Phật Thích Ca, chỉ biết đến duy nhất niệm Phật A Di Đà và thọ trì kinh Vô Lượng Thọ mà thôi, thì tổ chức ấy có còn là Phật giáo đích thực nữa không? Nhân đây chúng tôi kính đề nghị các ban ngành hữu quan của GHPG Việt Nam quan tâm đến vấn đề này để kịp thời chấn chỉnh.

Đối với những ai đã quen với nếp tu học niệm Phật, tụng kinh, lễ bái và thực hành theo kinh A Di Đàcùng nhiều kinh điển Đại thừa khác như cổ lệ chùa chiền Việt Nam từ trước đến nay thì cứ như vậy mà tu hành, không có gì phải dao động cả. Tu học theo Phật pháp là không nên vội tin bất cứ điều gì mà phải luôn vận dụng tuệ giác soi xét tất cả các pháp trong tinh thần Chánh kiến của đạo Phật.

Chúc bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN

TỘI LỖI - HÌNH PHẠT - SÁM HỐI (Cư sĩ Tuệ Đăng)

Có câu chuyện Thiền trích dịch từ cuốn “Collection of Stone and Sand”, xuất hiện vào thế kỷ 13, do thiền sư Muju viết bằng Nhật ngữ, tên là Shasekishu, dịch giả Paul Reps dịch sang Anh Ngữ, nội dung như sau:

“Trong cuộc hành trình tới tỉnh Edo, Zenkai, con trai của một hiệp sĩ Nhật, trở thành người hầu cận của một quan chức cao cấp tại đó. Zenkai ngoại tình với vợ của quan chức này và bị phát hiện. Để tự vệ, hắn ta giết vị quan rồi chạy trốn cùng với người vợ.

Sau này hai người trở thành những tên ăn trộm. Nhưng người đàn bà quá tham lam khiến cho Zenkai càng ngày càng khinh ghét đến phát ghê tởm. Cuối cùng không còn chịu nổi, Zenkai bỏ người đàn bà lại mà đi tới nơi xa, tận tỉnh Buzen, trở thành một người hành khất lang thang.

Để chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ, Zenkai quyết tâm hoàn thành một vài việc thiện trong cuộc đời. Biết rằng có một con đường nguy hiểm cheo leo trên vách đá từng là nguyên nhân gây ra tai nạn chết và bị thương cho nhiều người, Zenkai quyết tâm mở một con đường hầm xuyên qua núi tại nơi đó.

Ban ngày thì đi xin thực phẩm, ban đêm Zenkai mài miệt đào con đường hầm. Trải qua ba chục năm, con đường hầm dài được 2.280 feet, cao 20 feet và rộng 30 feet.

Hai năm trước khi hoàn tất công trình, người con trai của viên quan mà Zenkai giết khi xưa, nay đã trở thành một kiếm sĩ lão luyện, tìm ra được Zenkai và tới để trả thù nhà. Biết mục đích của khách lạ, Zenkai nói:

- Tôi sẽ sẵn sàng trao mạng sống của tôi cho anh. Chỉ xin hãy để cho tôi làm xong công việc này. Ngay hôm con đường hoàn thành, anh có thể giết tôi.

Người con trai đồng ý đợi tới ngày đó. Nhiều tháng trôi qua, Zenkai cứ miệt mài làm việc. Người con trai càng ngày càng thêm chán nản vì cái cảnh ăn không ngồi rồi, nên bắt đầu phụ giúp công việc đào hầm. Sau khi đã giúp Zenkai trên một năm, anh ta cảm thấy ngưỡng mộ ý chí mãnh liệt và nghị lực của Zenkai.

Cuối cùng thì con đường hầm cũng đào xong và mọi người có thể sử dụng nó để đi lại an toàn. Bây giờ Zenkai mới nói:

- Công việc của tôi đã hoàn tất. Hãy chặt đầu tôi đi.

Với đôi mắt đẫm lệ, người đàn ông trẻ nghẹn ngào:

- Làm sao con có thể cắt đầu vị thầy của chính con được?”

Như quý vị đã thấy, chủ đề chính của câu chuyên Thiền này là vấn đề tội lỗi, hình phạt và sám hối.

Đạo Phật không quan niệm rằng có quỷ thần hai vai hay một dạng thức thần thánh nào đó từ bên ngoài ghi nhận các việc thiện ác của mỗi người ngõ hầu sau khi chết đương sự sẽ phải tới đâu đó để được phán xét coi sẽ phải chịu hình phạt đầy đọa tại một nơi ghê rợn nào đó, hoặc được hưởng gì theo lệnh ban xuống từ các đấng, các bậc gì đó chăng.

Mà nhà Phật cho rằng mỗi hành vi tạo tác trong cuộc đời con người ta đều để lại dấu ấn nơi kho chứa của chính mình, đó là Tàng Thức, là một trong tám Thức, theo tâm lý học của đạo Phật. Những dấu ấn đó sẽ trở thành chủng tử, tức là hạt giống, nảy nở thành thiện quả hoặc ác báo trong đời sống tương lai, có thể là tương lai ngay trong cuộc đời này, hoặc trong những kiếp sau, chi phối bởi luật nhân quả.

Như thế, theo quan điểm của nhà Phật, mỗi cá nhân sẽ nhận sự báo ứng tùy theo hành vi thiện ác của mình trong cuộc đời, nếu gây tội ác thì sẽ nhận lãnh quả báo tương xứng với tội ác mình đã gây ra trong quá khứ, nhưng không do một thế lực nào bên ngoài giáng xuống mà do chính sức bật của quy luật nhân quả mà thôi.

Đến đây, chúng ta cần lưu tâm tới một điều đặc biệt tối quan trọng, đó là vấn đề Tâm của nhà Phật.

Đức Phật là bậc Giác Ngộ. Ngài giác ngộ cái gì? Xin thưa rằng Ngài giác ngộ lại được chính Bản Tâm, điều mà chư Tổ Thiền Tông gọi là Kiến Tánh.

Từ sự giác ngộ, Ngài trực nhận rằng chúng ta trôi lăn vào màng lưới sinh tử này là do một niệm mê từ biển Tâm dấy lên, gọi là khởi niệm huyễn vọng, rồi từ đó tạo Nghiệp, nhận quả báo, dòng đời trôi lăn miên viễn.

Nhưng Chân Tâm vốn là viên mãn, hòan hảo, thanh tịnh, cũng như hoa sen dù mọc trong bùn mà không bị nhuốm mùi bùn. Một niệm Giác Ngộ thì mê vọng tan rã, cũng như người ngủ mê chợt tỉnh, như căn nhà tối hàng ngàn năm, thắp lên ngọn đèn là bóng tối tan biến.

Về điều này, đức Phật đã dạy rõ nơi kinh Viên Giác, hòa thượng Thích Duy Lực dịch như sau:

Huyễn từ bản giác sanh,
Huyễn diệt, giác viên mãn.
Bản giác vốn chẳng động,
Như tất cả Bồ Tát,
Và mạt pháp chúng sanh.
Thường nên xa lìa huyễn,
Các huyễn thảy đều lìa,
Như dùi cây lấy lửa,
Cây hết, lửa cũng diệt.

“Cây hết lửa cũng diệt” chính là ý của câu đức Phật nói khi ngài chứng ngộ, được ghi lại trong kinh Trung A Hàm là:

"... Tâm siêu thoát của ta không thể lay chuyển. Đây là kiếp sống cuối cùng của ta. Từ đây ta sẽ không còn trở thành, không còn tái sanh...”

Trong các cuộc đàm luận Phật pháp, có một câu thường hay được nhắc đến, coi như danh ngôn, đó là “Kẻ cướp buông dao thành Phật”. Vì câu nói quá ngắn gọn, khiến cho một số người hiểu lầm. “Buông dao” trong câu này có hàm ý là buông cái tâm sát nhân, tâm bất thiện, chứ không phải chỉ buông con dao bằng vật chất trong khi tâm còn giữ nguyên những ý niệm xấu ác. Nếu chỉ buông con dao mà tâm ác vẫn còn thì lại có thể cầm kiếm, cầm súng vậy.

Tại các thời kinh của nhà Phật, đều có tụng lên bài kệ:

Tội từ tâm khởi, đem tâm Sám
Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thảy đều Không
Ấy mới thật là Chân Sám Hối.


Tội nói ở đây tức là nghiệp báo.

Như bài kinh Viên Giác trên, chúng ta thấy tất cả pháp giới, tội phước, nghiệp báo, đều chỉ là huyễn, đều“Huyễn từ bản giác sanh”, vốn chỉ do nhân duyên giả hợp mà huyễn hiện thành ra như là có. Nghiệp sẽ là nhân chi phối dòng đời, lặn hụp trong biển sinh tử, nghiệp thiện thì hưởng quả thiện, nghiệp ác thì lãnh quả báo ác, như bóng đi theo hình, không thoát được cái vòng lẩn quẩn.

Nếu biết tỉnh ngộ mà theo các đường lối tu hành để chuyển nghiệp, từ xấu chuyển qua tốt, rồi từ tốt chuyển qua thanh tịnh, thì sẽ tiêu dung được nghiệp, ra khỏi dòng sinh tử triền miên.

Sám Hối là một trong những phương pháp tu để chuyển nghiệp. Sám Hối ở đây là “Tâm Sám”, tức là chuyển Ý nghiệp từ những tư tưởng xấu ác thành những tư tưởng lành thiện, rồi tới Thân nghiệp là thực hiện những việc lành thiện đó.

Kẻ sát nhân trong câu chuyện Thiền trên đã thực hiện trọn vẹn chu kỳ chuyển nghiệp. Trước hết là trong thâm tâm, ông ta Sám Hối chuyện ác đã gây ra trong quá khứ, và muốn chuộc tội bằng cách làm việc thiện.

Suốt ba chục năm trường, ông ta cần cù chỉ làm một việc là đào con đường hầm để giúp mọi người thoát tai nạn, cho đến khi con của nạn nhân tới trả thù, đòi chém đầu, ông ta cũng sẵn sàng chết cho anh này tròn bổn phận làm con, muốn báo thù cha, chỉ xin lưu mạng sống một gian ngắn đủ để hoàn tất con đường. Khi con đường đã xong, ông ta bèn nộp mạng.

Như vậy, kẻ sát nhân đã buông dao, đồng thời buông luôn tâm ác, đó là trường hợp “Buông dao đồ tể thành Phật”.

Sau một thời gian chứng kiến hành trình chuyển hoá của kẻ sát nhân, trước mắt người con, hình bóng kẻ thù tàn ác đã biến mất, mà chỉ còn lại tấm gương sáng của một bậc thày miệt mài trên con đường bồ tát hạnh, quên mình, hy sinh bản thân vì lợi ích của chúng sinh, cứu chúng sinh khỏi bị tai nạn hiểm nguy trên con đường núi hiểm trở, mà thôi.

Nơi phẩm Bát Nhã, kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã dạy:

...”... Thiện tri thức, khi chưa ngộ thì Phật tức chúng sanh, lúc một niệm khai ngộ, chúng sanh tức Phật."

Tâm chúng sinh thì vô thường, không cố định. Con đường giải thoát của nhà Phật rộng mở thênh thang, bất cứ ai phạm tội mà biết hối cải, chuyển hóa Tâm ác trở thành lành thiện, thì nghiệp dữ cũng theo đó mà hoán chuyển, khi“tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”.

Bản hoài của đức Đại Giác Bổn Sư Thế Tôn là dạy chúng sinh các pháp môn tu để tới được đích cuối cùng là:

“Tội tiêu Tâm tịnh thảy đều Không”.

Không ở đây là Tánh Không, là Bản Thể Chân Tâm Giác Tánh, là Niết Bàn, là vĩnh viễn giải thoát, là Tận Diệt tất cả Khổ vậy.

Cư sĩ Tuệ Đăng

LÀM SAO ĐỂ KIẾM TÌM VỊ THẦY TÂM LINH?

Rudy Harderwijk

Quảng Trí lược dịch

“Dựa trên những lời giáo huấn để đánh giá một vị thầy: Đừng tin một cách mù quáng, nhưng cũng đừng phê bình mù quáng”. Đức Đạt Lai Lạt Ma

Chúng ta cần sự hỗ trợ trên con đường tâm linh để giúp tìm ra con đường đúng đắn. Rõ ràng, một người tốt nhất để chúng ta đi theo có thể xem như là một hướng dẫn viên du lịch giỏi, người đã đi qua con đường đó một cách thành công. Người ấy có thể giúp ta rút ngắn lộ trình của mình và tránh những chướng ngại trên đường.

Ở phương Tây, vai trò của vị thầy tâm linh thường bị hiểu nhầm, bởi vì người phương Tây đã không còn giữ hệ thống giáo dục cổ điển, học sinh học với một vị thầy giáo trong nhiều năm, chẳng hạn như việc học các ngành nghề thủ công.

Có nhiều sự hiểu nhầm về các bậc thầy tâm linh. Một số người có thể nghĩ rằng, một vị thầy tâm linh sẽ nhận lãnh toàn bộ trách nhiệm đối với đời sống của một người đệ tử, và xem người đệ tử như là một kẻ biết vâng lời, một đứa trẻ vô tâm. Như Scott Mandelker nhận định: “Dường như rằng, hầu hết những người đệ tử đều thật sự muốn giữ lại một chút tính trẻ con, và thần tượng hóa người cha, người mẹ tâm linh thiêng linh của mình”.

Tuy nhiên, không ai có thể nhận lãnh trách nhiệm thay cho chính ta, cho lối sống của ta và cho những hạnh nghiệp mà ta đã làm. Thậm chí, ngay cả khi nhường việc đưa ra một số quyết định lại cho người khác, chúng ta vẫn chịu trách nhiệm về những hành động của mình, kể cả khi chúng ta chuyển các quyết định ấy cho người khác.

Chúng ta cần có cái nhìn thiết thực về những vị thầy tâm linh. Nếu muốn học điều gì đó, chúng ta cần một vị thầy, hoặc ít ra sẽ rất hữu ích khi có một vị thầy chỉ dẫn. Làm sao chúng ta có thể tiến bộ trong việc tập đọc, tập viết khi không có thầy dạy, không có người hướng dẫn? Ngài Zasep Tulku Rinpoche đã dạy: “Nếu bạn học Phật chỉ vì mục đích nghiên cứu, vì muốn phát triển sự hiểu biết của mình về Phật pháp, nếu bạn chỉ học Phật pháp mang tính học thuật, chỉ ở mức độ tri thức thì tôi nghĩ bạn không cần đến mối quan hệ thầy-trò. Và bạn cũng có thể học với tất cả mọi vị thầy. Việc này cũng giống như bạn đến học tại một trường đại học vậy, bạn học với những vị thầy khác nhau, những giáo sư khác nhau và cứ thế bạn tiến về phía trước. Nhưng nếu bạn muốn dấn thân tu theo Phật pháp thì cần phải có vị thầy dẫn dắt, bởi vì chúng ta cần phải biết làm sao để đạt đến sự giải thoát, làm sao để thực tập Chánh pháp”.

Trong đạo Phật, chúng ta cần phải nhận thấy được rằng, vai trò của người thầy tâm linh là vô cùng quan trọng, bởi người thầy có thể dẫn dắt chúng ta tìm thấy được trí tuệ và “vị thầy bên trong” của mình. Chúng ta cần phải phát triển trí tuệ và sự thấu hiểu để trở thành một bậc thầy, và cuối cùng là chính ta trở thành một vị Phật. Trong ý nghĩa đó, một vị thầy như là "một người mẹ tâm linh"; ở giai đoạn khởi đầu, chúng ta dường như không có khả năng tự lập, nên cần nhiều sự giúp đỡ, chỉ dẫn; nhưng cuối cùng thì chúng ta cần phải đứng bằng chính đôi chân của mình và có khả năng tự lập. Ngài Lama Thubten Yeshe từng dạy: “Một vị thầy tâm linh là một người thật sự có thể chỉ cho bạn thấy Phật tánh trong tâm bạn và là người biết những phương thuốc tuyệt hảo để chữa trị những tâm bệnh của bạn. Một người mà không biết tâm của chính họ thì sẽ không bao giờ biết được tâm của người khác, do vậy họ không thể nào làm một vị thầy tâm linh”.

Trước khi quyết đinh đi theo một vị thầy tâm linh, chúng ta cần phải tìm hiểu về vị đó, đây là điều hết sức quan trọng. Có không ít những điều dối trá ở xung quanh ta. Trong truyền thống Ấn Độ cổ, các vị thầy thường được kiểm tra trong vòng 12 năm hoặc hơn trước khi họ được hoàn toàn tin tưởng và giao phó nhiệm vụ làm vị thầy hướng dẫn tâm linh cho học trò. Người ta rất dễ đi theo người khác một cách mù quáng, đặc biệt là với “những người nói rất êm tai” và “những người bán hàng giỏi”. Lý do khiến các vị thầy tâm linh được gọi với những danh từ xấu đó là vì nhiều người đã bị lừa bởi những thứ hào nhoáng bên ngoài. Không nên tin tưởng một cách mù quáng vào các vị thầy như thế để rồi đi theo họ.

Bạn cần phải có trách nhiệm kiểm tra những cảm nhận của mình một cách nghiêm túc, ngay cả trong những mối quan hệ cá nhân: Kiểm chứng xem những hành vi của họ có hợp với những gì họ nói không? Phải chăng họ thường nhấn mạnh đến những vấn đề đời thường hơn so với con đường tâm linh của họ? Hãy xem những gì mà các vị đệ tử khác nói về thầy của họ; và đương nhiên là cả những điều mà các vị thầy khác nghĩ.

Làm sao để một người có thể chọn cho mình một vị thầy để giảng dạy cho họ các vấn đề tâm linh hoặc nhận biết một vị thầy đáng tin cậy? Đối với câu hỏi này, Đức Dalai Lama đã dạy: “Điều này nên được tiến hành một cách tương ứng với tính tình và mối quan tâm của bạn, nhưng bạn phải phân tích kỹ lưỡng. Bạn phải kiểm tra trước khi nhận một vị thầy tâm linh để xem vị đó có thật sự có khả năng hay không. Trong kinh điển có dạy rằng, một con cá ẩn nấp dưới nước có thể được nhìn thấy thông qua sự chuyển động của những gợn sóng lăn tăn trên mặt nước, cũng vậy, những phẩm chất bên trong của một vị thầy, qua thời gian, có thể nhìn thấy một ít thông qua những hành vi của vị đó. Chúng ta cần nhìn vào sự uyên thâm của vị thầy - khả năng giải thích các chủ đề - và xem vị đó có thực hiện những lời họ dạy trong tư cách đạo đức và lối sống của bản thân hay không.

Theo ngài Jamgon Kongtrul Lodro Thaye, thật khó để nhận ra một vị thầy chân thực, bởi vì những phẩm chất của một vị thầy đích thực thường nằm ở bên trong. Chúng ta không thể dựa vào những yếu tố bên ngoài được, nhưng những yếu tố bên ngoài là những gì chúng ta có thể thấy. Rất khó nhìn thấy được những phẩm chất bên trong của người khác. Một người kinh doanh có thể thân thiện với chúng ta hơn cả người bạn thân nhất của mình, trong khi động cơ bên trong của anh ta là chỉ để bán được sản phẩm. Tương tự như thế, một vị thầy hành xử với chúng ta bằng một thái độ rất tử tế và đầy yêu thương, nhưng điều đó không hẳn là vị ấy có tâm thương yêu và vị tha, tại vì chúng ta không thể nhìn thấy được động cơ bên trong của người đó. Chúng ta cũng không thể xác định những phẩm chất của một vị thầy dựa trên danh tiếng của họ, hay là dựa trên số lượng đệ tử, học trò của họ.

Không có một giải pháp đơn giản cho vấn đề này, nhưng có một vài điều mà chúng ta có thể áp dụng trong việc tìm kiếm cho mình một vị thầy tâm linh. Trước hết, chúng ta cần làm quen với những phẩm chất của một vị thầy tâm linh, đó là: 1. Một vị thầy tâm linh phải có hành vi đạo đức phù hợp, không làm tổn hại người khác mà ngược lại còn giúp đỡ họ; 2. Có khả năng định tĩnh; 3. Không chấp ngã và không có những ý niệm về tự ngã; 4. Giảng dạy mọi người với tâm thương yêu, không vụ lợi; 5. Có sự hiểu biết, có tri thức phù hợp; 6. Chuyên tâm giảng dạy không biết mệt mỏi; 7. Thông thạo nhiều kinh điển; 8. Nghiên cứu sâu và thực chứng nhiều hơn học trò; 9. Khéo thuyết giảng; và 10. Không thất vọng và bỏ rơi học trò khi họ có những biểu hiện chưa tốt. Nếu được thì nên tìm những vị thầy tâm linh hội đủ 10 phẩm chất nói trên, hoặc ít nhất là 5 phẩm chất đầu. Tiếp đến, chúng ta phải duy trì sự tỉnh giác đối với động cơ của chính mình trong quá trình tìm kiếm vị thầy tâm linh. Chúng ta phải luôn tự vấn rằng: Phải chăng tôi đang tìm kiếm một vị thầy để giúp tôi đạt được sự giác ngộ để rồi làm lợi ích cho chúng sanh, hay là tôi tìm kiếm một vị thầy để thỏa mãn nhu cầu của tôi là có được uy tín khi được ở bên cạnh một vị thầy nổi tiếng, hay chỉ đơn giản là tôi bị thu hút bởi không gian tu tập đẹp đẽ của vị thầy, hoặc là bị cuốn hút bởi hình ảnh của cộng đồng tu sĩ tân thời…?

Những động cơ của chúng ta rất quan trọng, góp phần giúp ta tìm được một bậc thầy minh triết thực sự. Bởi vì, vị thầy mà ta tìm thấy có liên hệ với nghiệp của ta, và nghiệp của ta thì lại gắn kết mật thiết với động cơ của mình. May mắn cho chúng ta là còn có những phương pháp giúp ta thanh lọc động cơ của bản thân và tạo ra những điều kiện tương hợp cho việc tìm kiến một vị thầy minh triết. Những phương pháp ấy là: dùng sự tỉnh giác của mình để soi rọi vào những động cơ của bản thân càng nhiều càng tốt, thực tập thiền mỗi ngày, và cầu nguyện Tam bảo gia hộ… Những phương pháp này sẽ giúp ta gặp và nhận ra một vị thầy minh triết thực thụ.

Trong truyền thống tu tập của Phật giáo, Đức Phật ví những giáo pháp mà Ngài đã giảng dạy như những vị thuốc, và người thầy tâm linh thực thụ như là những vị bác sĩ giỏi, có khả năng chẩn đoán đúng tâm bệnh của đệ tử để rồi đưa ra những phương thuốc phù hợp giúp chữa lành căn bệnh cho họ. Vì thế, trên con đường tu học, nếu ta gặp được một vị thầy tâm linh thực thụ, một vị thầy với đầy đủ sự minh triết và lòng thương yêu để dẫn dắt chúng ta tu học thì đấy là một diễm phúc lớn, một phước báo lớn của ta.

Rudy Harderwijk - Quảng Trí lược dịch

CÓ NÊN TIN VÀO DUYÊN SỐ?

Huyền Ngu - Quảng Tánh

HỎI: Tôi có xem sách bói toán nói về tuổi tác nam nữ khi lập gia đình, rồi nghiệm bản thân cùng bốn người bạn bị phạm vào tháng “Cô thần”, “Cô quả” hiện tại đều gặp trục trặc trong đời sống hôn nhân. Dù rằng, họ là những người có nhân cách tốt, là giảng viên giỏi, nhà quản lý tài năng và có đời sống vật chất khá đầy đủ. Vậy có phải do tuổi tác của họ không hợp? Hay là do trong quá khứ họ đã tạo nghiệp nên trong hiện tại chịu quả báo cô đơn? Đây có phải là định nghiệp? Có thể chuyển nghiệp được không và chuyển bằng cách nào?

ĐÁP:

Về vấn đề bói toán, trước hết, xin nói rõ cho bạn biết rằng đạo Phật không có chủ trương bói toán, xem tuổi tác và ngày giờ tốt xấu để phán xét, đoán định vận mạng nơi quá khứ, hiện tại, vị lai. Đạo Phật chủ trương nhân quả và nghiệp báo, với mục đích tìm ra những nguyên nhân hình thành ác nghiệp rồi khắc phục, cải tạo nhân xấu thành nhân tốt và chuyển hoá ác nghiệp thành thiện nghiệp để hoàn thiện nhân cách và đời sống của chúng sanh. Do đó, theo Đạo Phật, những bất hạnh và đổ vỡ trong đời sống hôn nhân của bạn và nhiều người khác không phải là do tuổi tác xung khắc hoặc phạm vào Cô thần, Cô quả như bạn nói. Đó chính là kết quả của Nghiệp do tự thân bạn tạo ra rồi trở lại chi phối, tác động làm tan vỡ đời sống hôn nhân của chính bạn.

Nghiệp là một năng lực được tạo ra do những suy nghĩ, lời nói và hành động có chủ ý. Có nhiều Nghiệp được tạo ra trong quá khứ, quyết định một phần tính cách, hình dáng và hoàn cảnh của một cá nhân. Tuy nhiên, ảnh hưởng và chi phối phần lớn đời sống chúng ta là những Nghiệp được tạo ra trong hiện tại. Như vậy, sự đổ vỡ trong hôn nhân của các bạn ắt hẵn có một phần nguyên nhân của những nghiệp duyên quá khứ nhưng những nghiệp duyên do các bạn tạo ra trong hiện tại giữ vai trò rất quan trọng, gần như quyết định. Những người có học vấn cao, thành đạt trong nghề nghiệp nhưng không phải ai cũng có khả năng chuyển hoá để phù hợp, hòa thuận, sống hạnh phúc với người bạn đời của mình. Sự tổn thương và rạn nứt trong tình cảm vợ chồng, nếu không biết hàn gắn theo thời gian sẽ dẫn đến đổ vỡ. Tiến trình đi đến phá sản hạnh phúc hôn nhân là cả một quá trình tạo nghiệp theo chiều hướng tan vỡ. Nếu nghiệp nhân được tạo ra không mang tính chất cảm thông, thương yêu, chia sẻ và gắn bó thì làm sao tránh khỏi nghiệp quả ly tan.

Tính chất cơ bản của nghiệp là bất định tính. Nghiệp luôn luôn chuyển biến theo hướng thiện hoặc ác tuỳ theo sự tạo nghiệp của thân, khẩu và ý trong đời sống hiện tại của cá nhân. Vì thế, sự đổ vỡ trong hôn nhân tuy có sự tham gia của nghiệp nhân quá khứ nhưng chỉ mang tính tiền đề. Nếu biết cải tạo nghiệp cũ và xây dựng nghiệp mới, tức biết thông cảm, hiểu và thương nhau thật sự, thì “nghiệp cũ đổ vỡ” sẽ bị nghiệp mới là “chia sẻ và thương yêu” triệt tiêu. Vì nghiệp không có định tính cho nên không có định nghiệp. Càng không có định nghiệp theo kiểu số mạng như là “chúng tôi phải chia tay vì duyên số của chúng tôi như vậy”. Đây chính là sự yếu hèn và thiếu sáng suốt của khá nhiều người. Đúng ra, trách nhiệm phải quy về tự thân vì chính cá nhân đó không nỗ lực cải tạo và xây dựng thiện nghiệp của chính mình, lại đem tất cả đổ lỗi cho duyên số, số phận và định mệnh.

Tu tập để chuyển hóa, sửa đổi và thăng hoa nghiệp lực của chính mình là mục đích sống của người Phật tử. Trong đời sống hôn nhân và gia đình thì sự thực tập Chánh pháp để xây dựng hạnh phúc lại càng được chú ý hơn. Hạnh phúc hay khổ đau là do chúng ta tự tạo dựng và quyết định. Không ai có quyền và có thể chi phối đời sống của chúng ta.

Trong kinh tạng, Đức Phật đã dành cho hàng đệ tử tại gia không ít những lời dạy, những phương pháp thực tập để xây dựng đời sống hôn nhân và gia đình hạnh phúc. Cốt lõi của của những lời dạy này không ngoài sự chuyển hoá ba nghiệp của thân, khẩu và ý. Muốn chuyển hoá tốt, trước hết phải tu tập chánh niệm. Phải ý thức một cách rõ ràng về những suy nghĩ, lời nói, hành động của mình đang và sắp xảy ra. Nếu đó là những suy nghĩ, lời nói và hành động đem đến chia rẽ, hận thù và đổ vỡ… thì ngay lập tức chủ thể phải nỗ lực diệt trừ chúng khi còn trong ý niệm. Ngược lại, những suy nghĩ, lời nói và hành động mang đến cảm thông, hiểu biết, yêu thương… thì cần phát huy đến chỗ hoàn thiện. Phải biết lắng nghe những tâm tư, hoài bão và những uẩn khúc của người bạn đời của mình thật sâu sắc để hiểu được họ. Không những thế, phải lắng nghe những tâm sự của chính mình để hiểu mình. Hiểu được mới thương được. Hiểu nhau là cơ sở của thương yêu đồng thời thương yêu là chất liệu để nuôi dưỡng, là nhịp cầu nối liền cảm thông để hiểu nhau thêm trọn vẹn. Chuyển hóa ba nghiệp, thiết lập được hiểu biết và thương yêu là phương pháp xây dựng đời sống hôn nhân và gia đình hạnh phúc theo lời Phật dạy.

ĐỊA NGỤC LÀ GÌ?

Thưa quý thính giả,

Tuần này chúng tôi xin trả lời bức thư sau đây của một vị thính giả gửi về Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen:

Thưa quý Ban Biên Tập,
Năm nay tôi đã trên sáu chục tuổi, ở cái tuổi mà hằng ngày tìm tên bạn bè trên những mục cáo phó, phân ưu trong các nhật báo và tuần báo. Biết rằng giờ phút ra đi của mình cũng chẳng còn bao xa, cho nên đêm đêm nằm trằn trọc, tôi băn khoăn không biết tương lai sau khi tắt hơi, mình sẽ về đâu.
Thuở nhỏ, mỗi khi làm điều lỗi, tôi thường được nghe người lớn hù dọa về Thập Điện Diêm Vương, về các loại địa ngục ở dưới đất, vân vân, nhưng tôi không quan tâm. Đến nay gần đất xa trời, nhiều lúc tôi mơ hồ cảm thấy một nỗi sợ hãi mênh mông, nên gửi thư này xin thỉnh ý quý vị về vấn đề địa ngục.

Thưa quý thính giả,

Không riêng vị thính giả gửi là thư này, mà nhiều người trong chúng ta, dù có niềm tin về một tôn giáo nào đó, hoặc không tin thần thánh gì cả, cũng có đôi chút ấn tượng trong đầu về một cảnh giới được đặt tên là địa ngục.

Ý niệm về địa ngục được hình thành từ thời cổ xưa, xuất hiện cùng với ý niệm về ông Trời, về Thượng Đế, về các loại Thánh Thần vân vân. Hầu hết các tôn giáo đều nói đến những sự thưởng phạt sau khi chết, được thưởng thì được sinh lên thiên đường hưởng phước, bị phạt thì bị đầy xuống địa ngục chịu tội. Thời trước người ta tin là trái đất vuông, mặt đất bằng phẳng, cho nên thiên đường được giới thiệu là ở cao tít trên mây, và địa ngục ở dưới sâu trong lòng đất. Lý do để được thưởng hay bị phạt thì tùy theo luật lệ của mỗi tôn giáo quy định.

Suốt chiều dài của lịch sử loài người, hình ảnh về thiên đường và địa ngục đã giúp những bậc trưởng thượng trong các bộ lạc, làng mạc, thôn xóm, gia đình, như là một trợ huấn cụ đắc lực để răn đe con cháu khỏi làm điều sai trái.

Sau này, khi các tổ chức tôn giáo hình thành, thì vai trò thiên đường và địa ngục lại càng đắc lực hơn, trong việc tạo ấn tượng về thưởng phạt, về nỗi khiếp sợ sẽ bị đầy xuống địa ngục nếu trái lệnh, hoặc sự cứu rỗi nếu người tín đồ vâng lời, khiến cho từ trong tiềm thức, người ta tin chắc rằng cần phải có một nơi để bấu víu, để nương tựa sau khi chết, nếu không sẽ phải chịu muôn vàn khốn khổ, thiêu đốt vĩnh viễn trong địa ngục.

Có niềm tin cho là sau khi con người chết đi, linh hồn xuống tới âm phủ, thì “quỷ thần hai vai” của người ấy sẽ đem tất cả công và tội của họ tâu lên vua Diêm Vương để ông ta quyết định sự thưởng phạt, hoặc cho lên trời hưởng phước, hoặc đầy vào các loại địa ngục mà tên gọi thường là rất rùng rợn, tùy theo sáng kiến của người phát minh.

Đạo Phật không tin chuyện quỷ thần hai vai và ông Diêm Vương nào đó lại có thể quyết định vận mạng của ai được. Nền đạo đức Phật giáo không xây dựng trên sự thưởng phạt ở thiên đường hoặc địa ngục, do các Thần Linh áp đặt, mà lấy quy luật nhân quả làm căn bản.

Tâm lý học của đạo Phật cho rằng tất cả những việc mà mỗi dòng đời tạo ra, trải dài theo cuộc hành trình trong thế giới hiện tượng tương đối này, là những hạt giống, hay còn gọi là chủng tử thiện hoặc ác, trong tương lai khi hội đủ cơ duyên, sẽ nẩy nở thành những thiện quả hoặc ác báo, đều chứa tại Thức Thứ Tám, còn gọi là Tàng Thức hoặc A Lại Da Thức, của chính dòng sinh mạng đó. Thức này là lớp Vọng, cũng mênh mông như Chân Tâm, tạm ví như làn sóng điện trong không gian.

Những chủng tử thiện hoặc ác này sẽ xuất hiện vào giây phút lâm chung, để quyết định cảnh giới tái sinh của đương sự, nhà Phật gọi là “gió Nghiệp cuốn đi tái sinh”. Một số người có kinh nghiệm về cận tử (near death experience) kể lại đại khái rằng vào cái lúc họ cảm thấy muốn ngừng thở, bỗng nhiên trước mắt nổi lên một cảnh tượng tràn ngập không gian, cả quãng đời quá khứ, những việc làm khiến cho họ rất sung sướng hoặc rất đau khổ, xuất hiện như là đồng thời. Họ cảm thấy như trong giấc mơ, như là hình ảnh của ký ức. Đối với quan điểm của nhà Phật thì đó là giây phút mà một người có thể nhìn thấy được chính cái kho chứa các nghiệp nhân, tức là Tàng Thức của mình.

Chiếu theo thành quả tự tu, tự giác ngộ lại Bản Thể của đức Phật, người Phật tử không tin vào sự cứu rỗi do bên ngoài mang đến, mà tin vào chính mình, theo gương sáng của đức Bổn Sư. Trong đời sống, người Phật tử từng bước chuyển hóa tâm, từ xấu ác trở thành lành thiện, đó là giai đoạn chuyển hóa tương đối. Sau đó sẽ bước qua giai đoạn cốt tủy của quá trình tu chứng là “thanh tịnh hóa tâm”, vượt lên trên những khái niệm thiện và ác tương đối, chỉ còn lại tâm Từ Bi và Trí Tuệ Bình Đẳng, hóa giải tam độc Tham Sân Si, vốn là căn bản trói buộc con người vào vòng sinh tử. Từ đây dòng sinh mệnh được hoàn toàn giải phóng, đạt được mục tiêu tối cao của con đường tu Phật, là Toàn Giác.

Có câu chuyện ẩn dụ về sự tự tu, tự độ như sau:

“Trong khu vườn kia có một nhóm thiền sinh đang đứng chung quanh vị thiền sư. Góc vườn là một con cọp bị trói. Thiền sư hỏi đám học trò:
- Có ai biết cách cởi trói cho con cọp không?
Đám thiền sinh góp ý, người thì bàn “lấy tấm lưới chụp nó”, người thì bảo ”xông thuốc mê cho nó”. Cuối cùng, một thiền sinh ung dung:
- Cứ bảo người nào đã trói được nó, thì chính người đó mở trói cho nó là xong.

Câu chuyện nói lên tính chất của quy luật nhân quả, người nào tạo nhân thì người đó lãnh quả, người nào ăn thì người đó no, người nào tu hành thanh tịnh hóa tâm thì người đó giác ngộ.

Như thế về căn bản, đạo Phật không tin vào sự cứu rỗi, mà tin lời Phật tuyên bố khi mới thành đạo: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, và câu di huấn khi Ngài sắp nhập cảnh giới Niết Bàn: “Mọi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi”. Đuốc ở đây là đuốc Tuệ, là ngọn đèn trí tuệ mà đức Phật đã giơ cao, nay còn nằm trong kinh điển, mỗi người đều cần phải “tự học, tự tu, tự giác thành Phật”.

Tuy nhiên, trên con đường giáo hóa chúng sinh từng bước, đạo Phật đi trong nhân gian thường dùng những phương tiện đã sẵn có của người dân địa phương để truyền bá tư tưởng nhà Phật, theo tôn chỉ “tùy duyên mà bất biến”, dùng bình địa phương đựng thuốc Phật giáo, khiến cho mọi người đều được thấm nhuần tư tưởng từ bi hỷ xả mà không cảm thấy nền văn hóa truyền thống của họ bị xúc phạm. Thí dụ tượng ảnh đức Phật khi ở Ấn Độ thì gầy gò, nghiêm túc, đúng là hình ảnh người tu khổ hạnh. Sang tới Mỹ, tại tu viện Shasta trên sườn núi Shasta, nơi có trên sáu chục vị sư người Tây Phương từ các tôn giáo khác chuyển qua đạo Phật đang tu hành, thì tượng Bồ Tát Quán Thế Âm lại giống hệt tượng Đức Mẹ. Trong khi đó, tượng ảnh Phật và chư Bồ Tát bên Trung Hoa thì lại mập mạp, hơi mỉm cười, đượm vẻ từ bi, cảm thông với chúng sinh, theo truyền thống hiếu khách của người Á Đông là “đem lại niềm vui cho nhau”.

Tóm lại, đạo Phật cũng nói về thiên đường và địa ngục, nhưng với ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Từ quan điểm “nhất thiết duy tâm tạo” trong kinh Hoa Nghiêm, thiên đường và địa ngục dưới mắt người Phật tử chính là những cảnh giới tâm thức, mà mỗi người đều trải qua hằng ngày. Nếu con người không chế ngự được ba thói xấu là tham lam, sân hận và si mê, để cho bản thân rong ruổi trong sự bon chen, tính toán lợi mình hại người, thì tâm hồn không được an lạc, mà phiền não triền miên, ăn không ngon, ngủ không yên, thường thấy ác mộng do những bực bội bất mãn gặp phải hằng ngày, đó cũng đã được coi là cảnh giới địa ngục của tâm thức rồi.

Trong kinh Địa Tạng, chúng ta cũng thấy nói đến những cảnh giới địa ngục. Vì “nhất thiết duy tâm tạo” nên những cảnh giới trong kinh Địa Tạng cũng là những cảnh giới tâm thức. Địa Tạng cũng có nghĩa là Tâm Địa, là Đất Tâm. Nhà Thiền có câu “Đất Tâm nếu trống không thì mặt trời Trí Tuệ tự chiếu”. Người nào có thể “thanh tịnh hóa tâm”, khiến cho Đất Tâm trống không, thí Trí Tuệ Bình Đẳng tự hiện, cũng có nghĩa là Bồ Tát Địa Tạng đã phá xong cửa ngục tâm thức cho người đó rồi. Còn như nếu Đất Tâm mà ô nhiễm quá, thì vào giờ phút lâm chung, do nghiệp thiện hoặc ác trong quá khứ, mà thần thức người đó sẽ bị chiêu cảm vào cảnh giới tương ưng.

Quan điểm của nhà Phật về tất cả hiện hữu trên thế gian là vô thường. Tâm cũng vô thường, khi tâm chuyển thì tất cả mọi thứ do tâm tạo cũng chuyển theo tâm. Cho nên, đối với nhà Phật, không có cảnh giới địa ngục vĩnh viễn. Mỗi người đều có thể tự ra khỏi địa ngục bằng sự “thanh tịnh hóa tâm” của họ. Đó là niềm hy vọng về giải thoát của tất cả mọi người.

Nhà Phật có câu: “ Buông dao đồ tể là thành Phật” hoặc “Biển khổ mênh mông quay đầu là bến”. “Buông dao” và “quay đầu” ở đây có nghĩa là buông bỏ đời sống ô nhiễm, bước vào con đường thực hành các phương pháp để “thanh tịnh hóa tâm” như Mật Tông, Thiền Bắc Tông, Thiền Nam Tông, Tịnh Độ Tông, vân vân ...

Trên đây chúng tôi đã trình bày vài khái niệm về địa ngục. Nay xin nói về nỗi sợ hãi mênh mông của vị thính giả gửi về câu hỏi.

Thưa quý thính giả,

Tất cả loài người chúng ta, mà có lẽ luôn cả các loài sinh vật nữa, kể từ thời tiền sử, đều đã mang sẵn một nỗi sợ hãi mênh mông. Ngay khi vừa mới lọt lòng mẹ, đứa bé đã khóc thét lên vì sợ, tay chân quờ quạng, chới với. Nó đang được nằm trong bào thai, được bảo bọc chặt chẽ, ấm áp trong lòng mẹ nó, nay bỗng nhiên rơi tõm vào một khoảng không gian trống rỗng, nên nó thất kinh hồn vía. Rồi theo với thời gian, càng ngày con người càng có thêm nhiều nỗi sợ hãi, từ những nỗi sợ nhỏ nhít linh tinh như sợ bị đòn, cho tới nỗi sợ mất mát người thân yêu, mất nước, vân vân. Vì nỗi sợ hãi triền miên này mà tinh thần con người bị giam hãm, không khai phóng nổi.

Chúng tôi xin trích dịch một đoạn bình luận về sự sợ hãi do tư tưởng gia Krishnamurti trình bày trong cuốn On Fear, ông viết:

“Đầu tiên chúng ta hãy tự hỏi "sợ là gì" và "nỗi sợ hãi nổi lên như thế nào"?
Đối với chúng ta, bản thân từ ngữ "sợ" nghĩa là gì? Tôi đang tự hỏi "sợ là cái gì", chứ không phải là "tôi sợ cái gì".

Hiện tại, ngay lúc tôi đang ngồi đây, tôi không sợ. Lúc này tôi không sợ, chẳng có chuyện gì xẩy ra cho tôi, chẳng ai đe dọa hoặc lấy cái gì của tôi. Nhưng ngoài cái thời gian đang hiện hữu này, trong tâm thức tôi còn có một lớp sâu hơn, đó là vùng ý thức hoặc vô thức, đâu đó, manh nha tới điều gì đó có thể xảy ra cho tôi trong tương lai, hoặc e ngại về một cái gì đó từ thời quá khứ đột nhiên ụp xuống đầu tôi. Cho nên tôi sợ cả quá khứ lẫn tương lai. Thế là tôi đã chia thời gian ra thành quá khứ và tương lai. Đến đây thì sự suy nghĩ nhẩy vào lên giọng: "Coi chừng, sẽ không gặp được điều đó một lần nữa đâu", hoặc "Sửa soạn sẵn cho tương lai đi. Tương lai anh có thể sẽ nguy khốn. Bây giờ tuy là anh đã có chút đỉnh, nhưng rồi ra có thể là anh sẽ bị mất hết. Biết đâu chừng ngày mai anh sẽ chết, vợ anh có thể bỏ anh, có thể anh sẽ mất công ăn việc làm. Anh có thể chẳng bao giờ trở thành người có danh vọng. Có thể anh sẽ cô đơn... "

Bây giờ chúng ta hãy thử xét tới cái dạng sợ hãi của chính bạn. Nhìn coi. Quan sát kỹ phản ứng của bạn đi. Bạn có thể nhìn nỗi sợ hãi đó mà không nhấp nhổm muốn bỏ chạy, không nẩy ra chút ý muốn bào chữa, kết án hoặc kiềm chế chăng? Bạn có thể trực diện nỗi sợ đó mà không có trong tâm cái từ ngữ đã làm thức dậy nỗi sợ chăng? Bạn có thể trực diện sự chết, thí dụ thế, mà không có từ ngữ đã đánh thức nỗi sợ chết chăng? Bản thân từ ngữ đã đem tới sự chấn động, cũng như từ ngữ "yêu" có sự rung động của chính nó, có ấn tượng của chính nó, phải vậy không?

Bây giờ hãy coi có phải là những hình ảnh trong tâm trí bạn về sự chết, ký ức về biết bao nhiêu cái chết mà bạn đã nhìn thấy, cùng với sự bạn tự liên tưởng chính bản thân với những chuyện đã xẩy ra còn giữ trong tiềm thức đó, -- phải chăng đó chính là hình ảnh đã tạo ra sự sợ hãi trong lòng bạn? Hay là quả thật bạn sợ sự chết sẽ đến chứ không phải là bạn sợ những hình tượng trong tâm đã tạo ra sự chết. Có phải là từ ngữ "chết" làm cho bạn sợ hay là sự chết thật? Nếu chỉ là từ ngữ hoặc ký ức là lý do để bạn sợ thì chẳng có gì đáng sợ hết ráo.

Giả dụ như hai năm trước bạn bị bệnh, ký ức về sự đau đớn, về cơn bệnh vẫn còn tồn tại trong trí nhớ, nay nó trỗi dậy nhắc nhở "Coi chừng, đừng để bị bệnh lại như lần trước nữa đấy nhé". Thế rồi ký ức cùng với bè đảng của nó là guồng máy suy tư bèn tạo nên sự sợ hãi, mà thật ra thì chẳng có cái gì đáng để mà sợ hết ráo, vì lẽ lúc đó bạn đang rất là khoẻ mạnh.

Tư tưởng, vốn là cái luôn luôn cũ mèm, bởi vì tư tưởng thoát thai từ ký ức, mà ký ức thì dĩ nhiên là luôn luôn cũ mèm -- tư tưởng, vào lúc đó, tạo ra cái cảm giác là bạn đang sợ hãi, nhưng đó chỉ là cảm giác, không có trong thực tế. Thực tế là bạn đang khỏe mạnh. Nhưng cái kinh nghiệm về sự đau ốm, vốn đã khắc ghi trong tâm trí, trỗi lên nỗi sợ "Cẩn thận, đừng để bị bệnh lại nữa đấy nhé!"

Như thế chúng ta thấy rằng chính suy nghĩ gây ra một loại sợ hãi.”

Thưa quý thính giả,

Như Krishnamurti nói “... chính suy nghĩ gây ra một loại sợ hãi”, đạo Phật từ hai ngàn năm trăm năm trước cũng đã khuyên mọi người nên “thanh tịnh hoá tâm”, nghĩa là đừng để cho tâm chạy nhẩy như con vượn, con ngựa (tâm viên ý mã), thì sẽ được hưởng một đời sống giải thoát từng bước, rồi sẽ tới giải thoát triệt để.
Không cần phải đi tới đích mới được hưởng hoa trái, mà ngay khi quyết định bước lên con đường thanh tịnh hóa tâm là đã bắt đầu được hưởng kết quả, tâm hồn đã thấy thơ thới hân hoan rồi.

Có bài kệ trong kinh Phật như sau:

Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thẩy đều không
Ấy mới thật là chân sám hối.

Sám hối ở đây là “thanh tịnh hoá tâm”, làm cho “tâm tịnh”, chứ không phải là đem nải chuối tới chùa cúng Phật, hứa hẹn và cầu xin lung tung.

Nhà Phật cho rằng con người ta vì vô minh mà tạo nghiệp, thọ báo, cũng ví như một người đang đi trong căn nhà tối. Khi tâm được tịnh rồi “Trí Tuệ Bình Đẳng tự chiếu”, thì cũng ví như bật ngọn đèn bừng sáng lên, bóng tối biến mất, màn vô minh bỗng tan rã, là lúc con người giác ngộ giải thoát vậy.

Ban Biên Tập/ TVHS
(Bài này đã được phát thanh tại Nam California

và tại Houston Texas trên các làn sóng phát thanh của Đài Liittle Saigon Radio)

MA LÀ GÌ NÓ Ở ĐÂU VÀ LÀM CÁCH NÀO ĐỂ TRỪ MA

Ma hay Mâra là một biểu tượng trong Phật giáo và cả trong Ấn Độ giáo, dùng để chỉ một vị trời hay vị thần linh đứng vào hàng đầu, cao siêu và mạnh hơn hết, giống như định nghĩa của chữ Ma Phạm trên đây. Tên của ma có nghĩa là thần chết. Ma là chúa tể của mọi dục vọng, thèm khát, ham muốn, mọi thứ khoái lạc do thân xác. Đó là chủ nhân ông của thế giới vật chất và mọi hiện tượng. Trọng trách và bổn phận của vị chủ nhân ông này là phải điều khiển và canh chừng sự vận hành của thế giới đang diễn biến chung quanh ta.

Ma không những tượng trưng cho những biểu hiện của dục vọng như vừa kể mà còn tượng trưng cho những thèm khát, những xung năng tiềm ẩn thật sâu kín bên trong tâm thức ta. Do đó ma nằm trong da thịt ta, trong tâm thức ta, tức trong sự vận hành chung của ngũ uẩn. Tuy con ma ẩn nấp trong ngũ uẩn của ta rất tinh ranh thế nhưng nếu ta thật chú tâm thì đôi khi cũng có thể trông thấy nó được hay bất chợt chạm trán với nó. Thí dụ vì nóng giận, vì một phút thiếu suy nghĩ, vì thèm muốn khích động quá độ mà ta phạm vào một hành động thật đáng trách, sau đó thì hối hận và ta tự nghĩ rằng không ngờ mình lại có thể phạm vào một hành động tồi tệ đến như thế. Ta có cảm giác hình như "ma quỷ xúi khiến" ta phạm vào việc ấy chứ thật ra ta nào có tồi tệ đến thế. Như thế là ta đã thấy ma rồi đấy, sự hối hận là một trong các cách giúp mình trông thấy con ma đang ẩn nấp trong thân xác và tâm thức của chính mình.

Ma còn mang một cái tên nữa mà kinh sách ít nói đến, đó là con ma Ái dục (kâma, xin đừng lầm lộn với karma), đó là sự yêu mến, lòng yêu thương, nôm na là con ma tình yêu. Ái dục hay con ma tình yêu là một thứ bản năng, tinh anh của sự sống, luôn luôn "canh chừng" và "chăm lo" cho ta rất cẩn thận. Con ma này hiển hiện một cách tuyệt vời, thật đẹp, hoặc thật thanh tú, nó làm phát sinh ra mọi hình tướng, màu sắc và âm thanh đủ loại. Con ma đó hiến dâng cho ta những ảo giác biến động như vừa kể do chính nó tạo ra, mang lại mọi thứ lạc thú và mọi cảnh giới tuyệt đẹp thuộc vào thế giới luân hồi, và tạo ra mọi thứ hạnh phúc của thế tục.

Vấn đề rắc rối và gay go là con ma tình yêu không bao giờ chú ý đến hậu quả của những thứ do nó tạo ra. Nó rất hào phóng, cho không tiếc tay, "tham" bao nhiêu nó cũng cho, "yêu" bao nhiêu nó cũng khuyến khích thêm, "bám víu" bao nhiêu nó cũng sẵn sàng tiếp tay. Thế nhưng hậu quả của những ảo giác ấy mà nó đem tặng cho ta thật ra chỉ là khổ đau mà thôi : "lạc thú", "hạnh phúc lứa đôi", "sinh ra thêm một đám khổ đau", hay đấy chỉ là mưu mô, lường gạt, tự ái, thất tình, tự tử, đâm chém… Những khổ đau ấy ma không cần biết. Ma cho ta lạc thú, nhưng đồng thời cũng tập cho ta thèm khát lạc thú. Điều này có nghĩa là ngũ uẩn quen dần với lạc thú, lệ thuộc vào lạc thú và bị kích động bởi lạc thú, hậu quả rất phức tạp và đa dạng kể ra không hết được. Ma vừa là kẻ sáng tạo và đồng thời cũng vừa là kẻ phá hoại là như thế đó.

Tóm lại khi nhìn ma qua các khía cạnh như liệt kê trên đây, thì ta sẽ hiểu ngay là ma ngự trị ở đâu: trong đầu của chúng ta. Nó nằm sẵn trong tâm thức ta, trong da thịt ta, trong sự vận hành của thân xác và tâm trí ta. Nói cách khác là ma không phải là một thực thể bên ngoài, có nghĩa là không có ta thì cũng không có ma, cái "ta" càng mạnh và càng phức tạp thì "ma" cũng càng đông và càng hung dữ. Ma quân hay những đạo binh ma chính là sự thèm khát, thất vọng, buồn bực, đói khát, bám víu, tham lam, lười biếng, đờ đẫn, sợ hãi, nghi ngờ, hận thù, tiện nghi, kiêu căng, tự phụ, yêu thương một cách ích kỷ, tự mãn với cái "tôi" của chính mình v.v. và v.v... Nếu cứ tiếp tục suy luận theo chiều hướng đó thì ta sẽ thấy ma còn đông đảo và đa dạng hơn nhiều so với những gì do kinh sách liệt kê, chúng hiển hiện cùng khắp trong thế giới luân hồi này.

Tuy nhiên người đọc biết đâu cũng có thể lấy làm lạ là phần trình bày trên đây dựa vào kinh sách đã mô tả và liệt kê ra đủ mọi thứ ma, thế nhưng vẫn không thấy đề cập gì đến các loại ma có thể làm cho ta dựng tóc gáy, hét lên và phóng chạy, hoặc làm cho người ngủ mê kêu ú ớ, tay chân lạnh ngắt và toát mồ hôi đầm đìa. Vậy ta cứ thử lấy thêm một chút can đảm nữa để tìm hiểu loại ma này xem sao.

Một thí dụ cụ thể về Ma

Để tránh cách trình bày tổng quát, siêu hình và ẩn dụ như trên đây, ta thử đưa ra một vài thí dụ cụ thể và đơn giản hơn vể những con ma thường hiện ra để dọa nạt những con người bình dị như chúng ta đây, kể cả trẻ con cho đến người lớn. Chẳng hạn khi ta bước vào một gian phòng tối, ta thấy trong một góc phòng có một con ma, tóc xõa, mặt xanh mét, đang nhe răng trợn mắt… và cười với ta một cách thật rùng rợn.

Nếu ta bình thản, từ tốn, không khiếp sợ, tiến thẳng đến con ma, thì ta sẽ không thấy nó khi ta đến gần. Vì thật ra đấy chỉ là những ảo giác do ta tạo ra trong đầu và do bóng tối mờ ảo nuôi thêm trí tưởng tượng của ta. Nếu như ta vẫn "không dám" tiến đến gần "nó" thì ta cứ bật đèn lên, thì con ma cũng sẽ biến mất. Ngược lại, nếu ta hét lên một tiếng, "vắt giò lên cổ" mà phóng chạy, thì nhất định con ma sẽ đuổi theo, và nhất định là ta sẽ không thể nào chạy nhanh hơn nó được, vì chính ta cõng nó mà chạy. Nó ở trong đầu ta, trong thân xác đang "nổi da gà" của ta.

Tệ hơn nữa, có thể sau đó ta lại đem chuyện "thấy ma" ấy mà vừa thở hổn hển, vừa kể lại với đầy đủ chi tiết cho một người khác nghe. Đấy là cách mà ta giới thiệu con ma mà ta trông thấy cho một người thứ hai, có thể người này cũng hơi sợ thế nhưng vẫn cứ đón rước nó với sự thích thú và đem cất nó vào trong đầu mình, sau đó lại đem nó ra để kể cho người thứ ba nghe, người thứ ba lại kể cho người thứ tư. Cứ mỗi lần chuyển sang đầu một người khác thì con ma lại trở nên hung tợn hơn và khiếp đảm hơn một chút, mắt nó trợn to hơn, răng nó dài hơn, và nó cười rùng rợn hơn. Biết đâu sau một vòng chu du hết người này sang người khác thì con ma ấy lại được người nghe sau cùng thuật lại cho chính ta nghe, và có thể là ta sẽ còn sợ con ma đó hơn cả con ma mà chính ta đã từng trông thấy tận mắt trước đây.

Đức Phật có đưa ra một thí dụ dễ hiểu. Khi bước ngang ngưỡng cửa lúc nhá nhem tối, ta thấy một con rắn. Ta hoảng hốt và giật lùi lại. Thế nhưng khi nhìn kỹ lại thì đấy chỉ là một cuộn dây thừng. Con rắn ở trong đầu ta, con ma cũng ở trong đầu ta là như vậy. Vì thế nếu trông thấy có con ma trong góc phòng thì nên bật đèn lên hay tiến đến gần "nó" để xem thực hư ra sao mà không nên thét lên một tiếng rồi cõng nó mà chạy.

Khi ta ngủ mê, đôi khi ta "thấy ma", ta hét lên hoặc la ú ớ… Giật mình thức giấc, ta không thấy con ma nào cả. Khi ngủ, ta nhắm mắt, nằm trên giường và trong gian phòng tối om, làm gì ta có thế dùng mắt mà thấy được. Cái thấy ấy là do tâm thức của ta thấy, hình ảnh con ma hiện lên từ nơi tiềm thức của ta, sinh khởi từ những xúc cảm bấn loạn tiềm ẩn trong ta, từ những nghiệp sâu kín của ta, từ những ám ảnh bịnh hoạn của ta, từ những đam mê, tham dục của ta, từ những bám víu vào ảo giác, sân hận của ta…Đối với những người tu tập cao, nhất là các vị đại sư tu tập theo các phép thiền định của Phật Giáo Tây Tạng, thì ít khi họ chiêm bao, hoặc nếu có chiêm bao thì họ cũng chỉ "thấy" những phản ứng thấm đượm lòng từ bi, yêu thương, khoan dung và độ lương của họ trước những cảnh xảy ra trong giấc mơ, thế nhưng tuyệt nhiên họ không còn thấy ma hoăc những gì làm cho họ khiếp sợ nữa.

Tóm lại, ma nằm trong tâm trí ta, trong tâm thức ta. Nó là chủ nhân ông của mọi tư duy và tác ý của ta. Vị chủ nhân ông ấy khích động và tiếp tay cho sự vận hành của nghiệp. Ngũ uẩn (skandha) tức tổng hợp thân xác và tâm thức ta là cơ sở chống đỡ cho sự vận hành ấy để tác động với ngoại cảnh - tức cơ duyên - để giúp cho nghiệp biến thành quả. Vậy con ma, hay vị chủ nhân ông của ta chính là cái "ta", cái "ngã", cái "tôi" đang ẩn nấp trong ta, đang điểu khiển ta. Nói cách khác đơn giản hơn thì con ma ấy chính là ta. Con ma đó đại diện cho vô minh, tức các bản năng thú tính, dục vọng, thèm khát, bám víu, hận thù, ảo giác… kích động và xúi dục ta tìm mọi cách làm thoả mãn những đòi hỏi đó của nó. Hậu quả đưa đến là khổ đau. Trong đầu ta, ma luôn luôn nhắc nhở ta phải bảo vệ cái "tôi", cái "ngã" của ta. Nó rất khôn ngoan và khéo léo, vì tùy theo từng người, từng bối cảnh và từng trường hợp mà nó sẽ dùng cách quát nạt, ra lệnh hay vỗ về bằng những tiếng êm ái, dễ thương, hoặc hét lên the thé…, mục đích là để in đậm trong tâm trí ta sự hiện diện của cái "ngã".

Ma là cái "ngã" đang thống trị ta, dạy ta tham lam, ích kỷ, xúi giục ta, nịnh hót ta để biến ta trở thành đốn mạt, quỷ quyệt và lừa dối. Đấy là cách mà ma đã làm phát sinh ra cả cái thế giới luân hồi này, ma nào phải chỉ biết có dọa nạt suông đâu. Cái thế giới của chúng ta nằm trong sự kiềm tỏa của nó, đồng thời nó lại nằm trong tâm thức ta. Ma là hiện thân của sự sợ hãi, đọa đày, già nua và cái chết trong thế giới này. Nó đội lốt của vô minh để tung hoành trong tâm thức ta, tạo ra u mê và lầm lẫn, kích động ta tạo nghiệp, buộc chặt ta vào cảnh giới của Ta-bà. Đánh đuổi con ma ấy ra khỏi tâm thức tức có nghĩa là xoá bỏ cả thế giới luân hồi.

Tóm lại sự vận hành của bánh xe luân hồi hay chu kỳ của sự sống sở dĩ quay đều là nhờ vào bộ máy vận chuyển do ma điều khiển và lèo lái. Bộ máy đó được thiết kế bởi sự tương tác của vô số nghiệp. Chỉ có sự tu tập nhằm đạt được những thể dạng tâm thức trong sáng, an bình và tinh khiết mới có thể giúp ta tháo gỡ và phá bỏ cấu trúc của bộ máy đó và đuổi con ma ra khỏi đầu. Sử dụng bùa chú, phù phép hay nghi lễ để đuổi ma thì chẳng những chỉ làm trò hề cho trẻ con xem mà còn làm cho ta thêm hoang mang và khiếp sợ. Lý do thật hết sức đơn giản, nếu muốn đuổi ma trong gian phòng thì nào có con ma nào đâu trong đó để mà đuổi, còn nếu muốn đuổi con ma trong đầu ta thì nó lại quá sức tinh ranh để mà có thể đuổi nó, bởi vì nó biết sử dụng tấm màn vô minh dầy đặc của ta để nấp.

Trừ Ma theo Phật giáo Tây tạng

Trong mục đích "cụ thể hóa" những gì trình bày trên đây, cũng xin mạn phép mượn câu chuyện trừ ma hay trị ma của một vị thánh nhân Tây tạng là Mật-lặc Nhật-ba (Milarepa, thế kỷ XI-XII) do một đại sư Tây tạng khác là Kalou Rinpoché (1904-1989) thuật lại trong một quyển sách của ông như sau:

Mật-lặc-Nhật-ba ẩn cư trong một hang động trên Hy-mã Lạp-sơn. Một hôm, khi ông quay trở về hang thì bất ngờ bắt gặp một đàn ma rất hung tợn đang chờ đợi ông trong hang. Chúng nhe răng và trợn hai mắt to như hai cái đĩa, hò hét thật khiếp đảm, dậm chân làm rung chuyển cả mặt đất để dọa nạt ông. Mật-lặc Nhật-ba bèn chắp tay khấn nguyện vị thầy của mình là Lạt-ma Mã-nhĩ-ba và các vị Thần linh phù trợ hãy dùng thần lực để tiếp tay với ông, thế nhưng vẫn không thấy hiệu quả gì, đàn ma quỷ vẫn cứ tiếp tục hò hét và vung khí giới để dọa nạt. Ông đổi chiến lược, tỏ vẻ giận dữ, trợn mắt, vung tay và hăm dọa trở lại chúng. Thế nhưng chẳng những chúng không sợ mà còn chế nhạo lại ông:

- Nhìn thấy mi múa may như thế, chúng ta thừa biết mi hoảng sợ lắm rồi. Mi mất hết trầm tĩnh và sự an bình rồi. Ha ! ha !

Mật-lặc Nhật-ba liền tự nhủ :

- Thầy ta là Mã-nhĩ-ba có dạy rằng những biểu hiện bên ngoài chỉ là những phóng ảnh của tâm thức, bản chất của tâm thức thật ra là trống không và trong sáng. Xem ma quỷ thuộc bên ngoài tâm thức để mà đánh đuổi chúng thì quả đấy chỉ là chuyện hão huyền, chúng là những ảo giác phát sinh từ bên trong tâm thức.

Mật-lặc-Nhật-ba liền hiểu rằng ông không được phép để cho tâm thức bị ám ảnh bởi những biểu hiện bên ngoài ấy, mà phải giữ cho tâm thức vững vàng trước các đàn ma quỷ dù cho chúng hung tợn đến đâu cũng thế. Ông cũng quán nhận được rằng ma quỷ chỉ là những bám víu, và những tư duy nhị nguyên phát sinh từ trong tâm thức mình. Tức thời ông hết sợ, chấp nhận sự đối diện với ma quỷ, đồng thời phát lộ lòng từ bi vô biên với chúng. Ông thầm nghĩ: "Nếu chúng nó muốn ăn thịt ta, thì ta cứ hiến dâng cái thân xác cấu hợp này cho chúng ngấu nghiến hầu giúp chúng bớt cơn đói khát. Sự sống là tạm bợ, đây là một dịp tốt giúp ta sử dụng thân xác trống không này để làm một việc thiện". Thật bất ngờ, thái độ từ bi sâu xa và sự quán thấy tánh không và vô thường của Mật-lặc-Nhật-ba đã làm nguôi cơn thịnh nộ của đám ma quỷ mà vừa mới đây còn đang hung hăng và dữ tợn. Tên cầm đầu liền nói với Mật-lặc Nhật-ba như sau:

- "Chúng ta cứ ngỡ là mi khiếp sợ chúng ta, thế nhưng những ý nghĩ về ma quỷ chẳng hiển hiện được trong đầu mi, vậy mi chẳng có gì để sợ hãi cả".

Dứt lời, tất cả đám ma quỷ đều biến mất.

Ma sử dụng tấm màn vô minh trong tâm thức ta để ẩn nấp, chúng chỉ hiện hữu trong đầu của ta mà thôi. Những con ma mà chúng ta trông thấy trong góc phòng hay trong giấc mơ là những phóng tưởng của tâm thức. Nếu ánh sáng của từ bi và trí tuệ tỏa rộng thì sẽ không có bóng dáng của một con ma nào có thể hiển hiện ra trong gian phòng hay trong tâm thức của ta được.

Hoang Phong, 14.12.06

Phật giáo giải thích thế nào về ý thức trong cây, trong đá

Hỏi đáp

Phật giáo giải thích thế nào về ý thức của những sinh vật như sâu bọ và vi trùng ? Mọi sinh vật đều có ý thức không ? Thế thì nói đến ý thức trong cây, trong đá, những vật có vẻ như vô tri vô giác dưới mắt chúng ta như vậy, có được không ? Cây cối có Phật tính không ?

(Nguyễn Như Ý, P.5,TX. Đông Hà, Quảng Trị)

Những câu hỏi của bạn cũng chính là thắc mắc của những người Đạo Phật quan niệm chúng sinh có hai loại hiện hữu : có tình thức và không có tình thức. Có lẽ các nhà khoa học và tất cả chúng ta đều đồng ý phần nào sự kiện là ý thức, trí tuệ, đi theo tất cả những gì di động, trong nghĩa là tự mình có thể di chuyển, đây là khả năng mà cây cối không có. Dĩ nhiên, rễ cây có xê xích lúc lớn lên. Nhưng rễ không di động thực sự, ngoại trừ sự nhúc nhích để tăng trưởng. Người ta không thể nói cây là một sinh vật, nghĩa là có một trí tuệ. Nhưng chúng tôi đã kết luận rằng những tế bào sơ đẳng nhất như trùng a míp có thể xem như một sinh vật vì nó có thể tự mình di chuyển.

Vì không thể xem là sinh vật, các loài thảo mộc như cỏ v v… chúng ta cho rằng chúng nó không có Phật tánh. Còn những loài cây ăn thịt tôi không dám quả quyết việc bắt một con mồi là do một tác động hỗ tương thuần túy hóa học, hay là những cây này có một ý thức. Vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người ta có thể nêu lên những nghi vấn, chẳng hạn như với cây hoa này : nó là cây cỏ vô hồn – không ý thức – hay là một sinh vật ? Đôi khi người ta có thể hồ nghi vì có những bài kinh trong Phật giáo đề cập đến những hạng sinh vật có thể biểu hiện dưới hình thức vật vô tri, cây cỏ v v …Vì như thế, người ta không thể đoán chắc hoa kia là sinh vật hay không. Phật giáo nhắc nhở nhiều đến bảo vệ thiên nhiên, cây cối, thảo mộc, không phải vì những loài thảo mộc có linh hồn, nên phải được xót thương, nhưng vì thiên nhiên giúp cho bao nhiêu sinh vật sống còn và ẩn náu. Nếu đốt phá một thành phố, người ta tiêu hủy nơi cư trú của nhiều người phải không ? Đối với sự tàn phá thiên nhiên cũng vậy, nó khiến cho một số động các sinh vật không còn có thể ăn, ở và sống còn.

Còn những con vật phải thấy bằng kính hiển vi, thì theo những đoạn kinh Phật giáo, chúng có rất nhiều trong cơ thể con người. Con số đưa ra vượt quá tám mươi nghỉn, biểu hiện cho một số rất lớn. Phải to lớn đến chừng nào, phải tiến hóa đến mức nào, những sinh vật đơn giản này mới được xem là những sinh vật ? Tôi không thể nói gì về vấn đề này, trừ sự kiện là nói đến loài vật, dù nhỏ bao nhiêu, có vẻ như nói đến một hình thức đời sống thực sự, như vậy có linh hồn.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 32 | Bàng Ẩn

Về thần thông, biến hóa trong đạo Phật

Xin được hỏi về thần thông, biến hóa trong Phật giáo.

Nguyễn Hữu Hưng- p.4 , Q.3, TP. Hồ Chí Minh

Thần thông (Abhijina-Abhinna) nguyên nghĩa là trí tuệ siêu nhiên, được hiểu là năng lực siêu phàm do tu tập Thiền định mà có được (nói chung, không riêng chỉ Phật giáo). Các vị đạt thần thông được gọi là thành tựu giả (Siddha). Vào thế kỷ XII, một vị cao tăng Ấn Độ có viết một cuốn sách về hành trạng của 84 vị có thần thông từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XII, nhan đề là Carturraciti-Siddha-Pravitti (Keith Dowman và H. W. Shumann dịch ra Anh ngữ). Đặc biệt , ở Tây Tạng có rất nhiều truyền thuyết và sách nói về thần thông của nhiều vị tu sĩ và người bình thường thuộc nhiều giới khác nhau. Theo quan điểm Phât giáo, những vị có thần thông không hẳn là những vị đạt ngộ và những vị đạt ngộ không hẳn là những vị có thần thông.

Kinh điển Phật giáo thường nói đến sáu loại thần thông (lục thông – Sad-abhijnah) là: 1) Thần túc thông (năng lực hiện thân tùy ý tại bất cứ nơi đâu), 2) Thiên nhãn thông (năng lực thấy cảnh huống vui khổ của tất cả chúng sinh), 3) Thiên nhĩ thông (năng lực nghe được mọi âm thanh của chúng sinh), 4) Tha tâm thông (năng lực biết được tâm ý của chúng sinh), 5) Túc mạng thông (năng lực biết được thọ mạng của mình và của chúng sinh từ muôn nghìn kiếp) và 6) Lậu tận thông (năng lực đoạn trừ phiền não, sinh tử). Những vị không tu thiền định Phật giáo cũng có thể đạt được năm thần thông đầu, ngoại trừ thần thông thứ sáu là Lậu tận thông. Thần túc thông, Thiên nhãn thông và Lậu tận thông còn được gọi là Tam minh (Trisno Vidyah – Tisso Vijja), nhằm trỏ khả năng giáo hóa, cứu độ của Đức Phật và các Thánh đệ tử của Ngài.

Do có thần thông nên có thể thực hiện các phép biến hóa. Kinh điển Phật giáo thường dựa theo tín ngưỡng dân gian của Ấn Độ thời xưa , thường miêu tả năng lực của các vị đạt ngộ (Phật, Bồ tát, A la hán) bằng các phép biến hóa gì là thần biến (Virkurvana). Các bộ Du già Sư Địa Luận, Pháp Hoa Huyền Tán, Giáo Thừa Pháp Số, Đại Tạng Pháp Số, Chân Ngôn Quảng Minh Mục…liệt kê 18 phép biến hóa, tuy nội dung đôi chỗ khác nhau nhưng tựu trung gồm việc hóa thân phía trên bốc lửa, phía dưới tuôn nước, biến nước thành lửa,lửa biến thành nước, hóa thân khắp nơi, đi đứng, ngồi trên hư không, phóng ánh sáng, an tâm chúng sinh khiến tiêu trừ bệnh tật, tai họa…

Cần nhớ rằng kinh điển mô tả các phép biến hóa trên như là một phương tiện để ca ngợi khả năng siêu việt của các bậc chứng ngộ, nhưlà một miêu tả ước lệ, tượng trưng cho sự diệu dụng của trí tuệ siêu phàm. Đức Phật từng phê phán bác các thần thông và khuyên các đệ tử không nên thể hiện thần thông. Ngài khẳng định thần thông cao nhất là thần thông hiểu pháp và truyền đạt pháp. Đạo Phật nhằm đưa con người đến trí giải thoát, đến cứu cánh Đại giải thoát khỏi khổ đau của sinh tử luân hồi, chứ không phải nhằm khiến một số ít người mù được thấy, người què được đi, người chết được sống lại, biến đá thành cơm, biến nước thành rượu…Đức Phật vàcác Thánh đệ tử thường đến thăm người bệnh , người sắp mất để truyền cảm ứng tâm linh giúp những vị này qua đi sự đau đớn khiến tâm rối loạn. Một phụ nữ đau khổ gần như điên loạn vì đứa con vừa chết đến cầu cứu Đức Phật, Ngài giúp bà hiểu rõ luật vô thường mà vơi đi sự đau khổ, chứ không làm cho đứa bé sống lại. Ngài chế ngự con voi dữ, chế ngự kẻ hung bạo bằng sự thể hiện năng lực từ bi tự tại của Ngài chứ không phải Ngài biến mất đi hay phóng thân lên không trung hay thực hiện những biến hóa khác.

Sự biểu hiện cụ thể thần thông Phật giáo là đem sức cảm ứng, đem giáo pháp mà an tâm và tạo niềm tin cho người ta, từ đó người ta vơi đi hay dứt đi cái khổ nhất thời trên bước đường tu tập tìm về Đại giải thoát.

(Bàng Ẩn)

Tự Tử Có Tội Và Có Phạm Giới Sát Sinh Không?

HỎI: Thưa quý ban biên tập. Tôi được biết có người là Phật tử, không biết vì lý do gì lại tự kết liễu đời mình bằng cách treo cổ, vậy cho tôi hỏi như giới luật Phật dạy sát sinh là có tội, là phạm giới điều thứ nhất của nhà Phật, nhưng người này không có giết hại sinh mệnh người khác hay chúng sinh khác mà tự mình giết mình, vậy có tội hay không?

ĐÁP: Chúng tôi xin mượn lời của Pháp sư Thông Kham, nguyên văn như sau:

Nói về vấn đề tự sát, ta hãy tìm nguyên nhân của sự hành động đó. Khái quát ta phải hiểu ba lý do là:

- Tự tử để trốn cái khổ mà chính mình không còn chịu đựng nổi.
- Tự tử để phản đối việc làm của người khác.
- Tự tử để tỏ ra lòng cương quyết của mình.

Nếu đem ba nguyên nhân trên để so sánh với mạng sống của con người là vật vô giá thì sinh mạng của con người còn quý hơn nhiều. Trên đời này không có vật gì quý bằng sinh mạng. Vì vậy chúng ta không nên cẩu thả nhất thời thiếu suy nghĩ mà tự tử hay hủy hoại nó.

Nếu theo giáo lý của Đức Phật thì tự sát cũng có tội. Vì khi người tự sát là người đang ở trong trạng thái của tâm Si mê, không còn sáng suốt nhận định được phải quấy lành dữ, người chết trong trạng thái như vậy chỉ bỏ cái xác thân vô dụng này. Chủng tử là mầm của tâm si mê sẽ đưa người đi tái sinh vào cảnh tối tăm tương xứng với tâm si mê và cũng tiếp tục hứng chịu tất cả hậu quả mà đã tạo. Đã nói là nghiệp thì không khi nào chúng ta trốn nó được, vì vậy nên Đức Phật có dạy: Nghiệp là nơi sinh ta ra - Kammasakomhi... người Phật tử chân chính không nên làm chuyện quá si mê như thế.” (GIẢI ĐÁP THẮC MẮC NGƯỜI CƯ SĨ, Pháp sư Thông Kham - Nhà xuất bản Tôn Giáo 2000)

LÀM NGHỀ TRỒNG LÚA VÀ CÂY ĂN TRÁI SỬ DỤNG THUỐC GIẾT SÂU BỌ VÀ DIỆT CỎ DẠI CÓ PHẠM GIỚI SÁT SANH VÀ GÁNH CHỊU QUẢ BÁO KHÔNG?

HỎI : Tôi là một Phật tử đã thọ tam quy và ngũ giới, hiện đang làm nghề trồng lúa và trồng cây ăn trái. Do nhu cầu công việc tôi phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để giết sâu bọ và cỏ dại có hại cho cây trồng. Việc này tôi cảm thấy không được an tâm vì nghĩ rằng mình đang phạm giới sát sanh. Tôi xin hỏi quý ban biên tập, tôi có phạm giới sát không và có chịu quả báo không? Và những người sản xuất ra thuốc hoặc những người được thuê có trả tiền làm công việc xịt thuốc thay tôi và ngay cả người ăn lúa gạo, hoa quả do tôi sản xuất có liên đới lãnh quả báo không? (Quốc Cường)

ĐÁP: Trước tiên phải nói ngay rằng Đức Phật luôn luôn tôn trọng sự sống của muôn loài chúng sinh, vì vậy trong năm giới cấm của một người Phật tử tại gia hay mười giới cấm của Sa-Di giới "không được sát sanh" đã được Đức Phật đưa lên hàng đầu.

“Người Phật tử không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại mọi loài có mạng sống”. Đó là giới văn khi chúng ta thọ nhận.

Trong Kinh Ưu Bà Tắc, Đức Phật dạy các đệ tử (bạch y) của Ngài là “xa lìa sát sanh, vứt bỏ dao gậy, có tâm tàm quý, tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả, cho đến loài côn trùng, người ấy đối với sự sát sanh, tâm đã tịnh trừ. Đó là pháp thứ nhất mà bạch y Thánh đệ tử đã giữ gìn và thực hành một cách hoàn hảo”. [1]

Đối tượng chúng sinh trong giới cấm thứ nhất của đạo Phật là mọi dạng sống, chứ không phải chỉ riêng dạng sống loài Người mà trong kinh sách thường nhắc tới là hữu tình chúng sinh, tức là những chúng sinh có hệ thần kinh, có tình cảm, biết cảm giác, biết đau đớn và vui sướng.. Sâu bọ, côn trùng đến con giun con dế cũng biết đau đớn. Chúng ta trồng lúa, trồng cây có sử dụng thuốc giết sâu bọ, tức là chúng ta đã chủ động trong việc này, chắc chắn là có tạo nghiệp và vi phạm vào giới sát sanh. Tuy nhiên, do nhu cầu của thị trường tiêu thụ, tức những người mua nông phẩm, nên bạn là người sản xuất, chỉ lãnh một phần quả mà thôi. Cả một dây chuyền từ người cấy trồng, người được thuê làm công tác giết sâu bọ côn trùng, người gặt hái cho đến người lái buôn và sau cùng là người tiêu dùng đều liên đới trách nhiệm. Thật khó mà cầu toàn trong thế giới tương đối này. Chúng ta có thể làm hết sức mình để hạn chế mức độ tổn hại đến chỗ tối đa và làm tăng trưởng lòng từ bi, trân quý và tôn trọng sự sống của muôn loài, trong đó có con người, súc vật, cầm thú, và cỏ cây được nhiều chừng nào hay chừng ấy mà thôi.

Một tin mừng cho bạn và các nhà trồng lúa và cây trái, các nhà nghiên cứu khoa học phương Tây cho hay việc dùng hàng loạt thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân hóa học để bảo vệ mùa màng, tăng sản lượng nông nghiệp đã gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, làm đất bị cằn cỗi, nước bị ô nhiễm, đánh mất sự sống; nên họ khuyến cáo các nhà canh tác nên dùng phân bón sinh học, cấm không dùng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ nhằm cân bằng hệ sinh thái, thân thiện với môi trường.

Trong đời sống tương đối này, nhất là chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa, mọi ngươi đều có liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau. Một người sinh sống ở Mỹ đi chợ Costco mua trái chôm chôm trồng tại Bến Tre hay mua cá basa nuôi ở An Giang về ăn cũng liên đới lãnh trách nhiệm về việc họ giết sâu trùng và giết cá. Vì thế, chúng ta ai ai cũng bị chi phối bởi luật nhân quả, không nhiều thì ít, không nặng thì nhẹ. Không nhân nào mà không ra quả, chỉ chờ đủ duyên thôi. Cho nên nếu bất đắc dĩ bạn phải làm những nghề liên quan đến sát sinh dù là trực tiếp hay gián tiếp như làm nghề chài lưới, săn bắn, giết heo, mổ gà, mổ bò, bán súng, thì chắc chắn sẽ có ngày lãnh hậu quả, có thể đời nay, hay những kiếp sau. Đức Phật chế giới không sát sanh là Ngài muốn mọi người cố gắng ngăn chặn tâm ác, phát triển tâm từ bi và Ngài dạy chúng ta hãy chọn một nghề sinh sống không làm tổn hại đến chúng sinh (Bát Chánh Đạo). Đức Phật thương xót đến cả côn trùng không nỡ dẫm lên chúng. Nếu như chúng ta có vì vô tình hay vì nhu cầu phải sinh sống để tồn tại mà không tránh được việc giết các con vật nhỏ bé thì chúng ta cũng nên tránh các nghề sát hại chúng sinh như nói ở trên.

Ban Biên Tập TVHS

[1] Kinh số 26 Trung A Hàm - Kinh Ưu Bà Tắc (128) Hán dịch: Phật Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm, Việt dịch và hiệu chú: Thích Tuệ Sỹ]

SAU KHI CHẾT "NGHIỆP" ĐI ĐÂU?

Thích Phước Thái

Hỏi: Kính thưa thầy, sau khi mình chết rồi nghiệp còn hay mất? Con chưa hiểu rõ vấn đề này, xin thầy từ bi chỉ dạy.

Đáp: Tôi xin thưa ngay, con người sau khi chết, nghiệp không bao giờ mất. Trừ phi, những người hiện đời đã dứt sạch ý nghiệp. Nói rõ ra, là những người đã đạt đạo, thì mới thấy được: “nghiệp tính bổn lai không”.Tuy nhiên, nghiệp nhân đã gây, tất nhiên phải có nghiệp quả. Dù người đó đã ngộ đạo. Trường hợp như đức Phật vẫn còn phải trả quả. Ngài còn phải trả quả báo “kim thương mã mạch”. Và như trường hợp Tổ Huệ Khả phải bị ngồi tù, hay Ngài Mục Kiền Liên bị đám côn đồ đánh chết. Tuy nhiên, đối với các Ngài khi trả nghiệp thì khác hơn chúng ta. Chúng ta trả nghiệp trong sự thống khổ kêu khóc rên la. Còn đối với các Ngài không có gì là khổ đau cả. Vì sao? Vì các Ngài đã thấy rõ “ngũ uẩn giai không”. Đã thế, thì nói gì trả hay không trả. Cho nên, sự trả nghiệp của các Ngài như trò chơi, không có gì phải lo âu sợ hãi.

Nói thế, để chúng ta thấy rằng, một khi nghiệp nhân đã gây, thì sẽ không bao giờ mất. Nếu nói như vậy, thì nghiệp không có thể chuyển được sao? Dĩ nhiên, là chuyển được. Nếu không chuyển được, thì chúng ta tu làm gì. Nên nhớ, chuyển là chúng ta chuyển nặng thành nhẹ. Chớ không thể nào chuyển cái có, hoàn toàn trở thành cái không được. Kinh nói :

“Giả sử bá thiên kiếp

Sở tác nghiệp bất vong

Nhân duyên hội ngộ thời

Quả báo hoàn tự thọ”.

Tạm dịch :

Dù trải qua trăm ngàn kiếp

Chỗ tạo nghiệp không mất

Khi nhân duyên đến rồi

Quả báo tự chịu lấy.

Như thế, thì làm sao hoàn toàn mất được. Chúng tôi xin nhắc lại, để Phật tử khỏi phải nghi ngờ, nghiệp tuy không mất, nhưng nếu chúng ta biết tu, ăn năn sám hối, thì có thể chuyển nghiệp quả nặng thành nghiệp quả nhẹ.

Thí như anh A vì nóng giận đánh anh B bị trọng thương, lẽ ra, thì anh B và thân nhân của anh B sẽ tìm cách đánh trả thù anh A cho hả giận, nhưng anh A, sau đó, biết lỗi lầm sai quấy mà anh ta đã gây ra, anh liền đến anh B để năn nỉ, xin anh B tha lỗi. Thế là, anh B thay vì đánh anh A để trả thù, nhưng nay, thấy anh A đã tỏ lòng ăn năn hối cải lỗi lầm, nên anh B tha thứ. Thay vì đánh anh A, anh B chỉ dùng những lời lẽ nặng nề trách móc anh A mà thôi. Anh B nói để cho hả cơn giận, chớ không đến nỗi phải đánh anh A trả thù. Đó là anh A đã chuyển được cái nghiệp quả nặng thành ra cái nghiệp quả nhẹ rồi. Chuyển nghiệp là như thế. Còn hành động anh A đánh anh B bị trọng thương, không bao giờ mất ở trong lòng anh B. Bởi hành động đánh đập (nghiệp) đó không bao giờ mất. Tuy anh B đã tha thứ, nhưng trong lòng anh không bao giờ quên.

Xin nêu thêm một thí dụ nữa, như có 3 gia đình cùng tọa lạc trên một đường phố. Trong 3 gia đình đó, ông A làm nghề thầy giáo, ông B làm nghề bác sĩ, ông C làm nghề kỹ sư. Bỗng một hôm, cả 3 căn nhà đều bị cháy sạch hết, tất cả đồ đạc, của cải trong nhà đều bị thiêu hủy, chỉ có những người trong 3 gia đình đó còn sống. Như vậy, nhà cửa của cải tuy cháy hết, nhưng nghề nghiệp của 3 ông đó có cháy mất không? Ông thầy giáo vẫn tiếp tục hành nghề dạy học. Ông bác sĩ vẫn tiếp tục hành nghề chữa bệnh và ông kỹ sư cũng vẫn tiếp tục hành nghề như cũ.

Như thế, để chứng minh rằng, cái gì có hình tướng đều bị hư hoại, thiêu hủy, nhưng còn cái nghề nghiệp không hình tướng kia không hề bị mất. Qua ví dụ nầy cho chúng ta thấy, ngày mai khi thân chúng ta chết, nhưng nghiệp chúng ta đã gây, thì không bao giờ mất, nó sẽ theo sát chúng ta như hình với bóng. Chúng ta tu Tịnh nghiệp, thì được vãng sinh về cõi Tịnh, vì còn nghiệp, nên nói là vãng sinh, mà không nói là Vô sinh. Do đó, nhân và quả không bao giờ sai chạy vậy.

Đến đây, chúng tôi cũng xin nói rõ thêm, nếu không, thì khi quý vị đọc hoặc nghe trong Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác nói: “Sát na diệt khước A tỳ nghiệp”. Nghĩa là, Ngài nói cái nghiệp A tỳ, tức là Vô gián địa ngục, chỉ diệt đi trong một sát na thôi. Nếu không hiểu chỗ nầy, quý vị sẽ đâm ra hoang mang nghi ngờ và cho rằng, có sự mâu thuẫn với nhau. Nên nhớ, Ngài Huyền Giác nói, là Ngài đứng trên lập trường của giáo lý tối Thượng thừa, thuộc Kinh Liểu Nghĩa. Người ta đọc câu đó mà quên câu đầu của bài Ca nói: “Chứng thật tướng vô nhơn pháp”. Nghĩa là, người chứng được Thật Tướng, tức Vô Tướng, thì còn gì là Nghiệp A Tỳ ? Bởi vì, đến đây là người chứng đạo, sống trọn vẹn với cái chân lý Tuyệt Đối, nên thấy rất rõ : "Nhân Không và Pháp Không", như vậy, thì có gì là nghiệp với không nghiệp ? Đó là cái thấy cùng tột, vượt ngoài đối đãi của người chứng đạo.

Như trên đã nói, đối với các Ngài thì không thấy có, nhưng không phải là không có địa ngục A tỳ. Có là có, đối với những ai còn si mê vọng chấp. Còn không là không, đối với những ai đã tròn chứng Pháp thân, nghĩa là không còn vô minh vọng chấp. Hiểu như vậy, thì chúng ta sẽ không còn nghi ngờ và cho là mâu thuẫn với nhau nữa.

Tóm lại, vì biết rõ nghiệp quả không mất, nên người Phật tử mới gia công nỗ lực tu tạo phước lành, để mai sau sinh về cõi lành, hưởng quả báo tốt đẹp, chớ nếu mất đi, thì ai tu tạo điều lành làm gì. Người không tin nhân quả nghiệp báo, đối với tự thân và xã hội đều là họa hại lớn, vì họ mãi gây tạo nghiệp ác. Một khi đã gây tạo nghiệp ác, thì vĩnh kiếp trầm luân trong bể khổ. Thật là đau xót lắm thay!

Thích Phước Thái

CÓ NÊN CA HÁT KHÔNG?

Bình Anson

Trong các phòng thảo luận Phật giáo của Paltalk , thỉnh thoảng thấy có các tranh luận về vấn đề ca hát của hàng tu sĩ lẫn cư sĩ. Xin có vài dòng góp ý dưới đây.

*

1) Cư sĩ tại gia

Đối với người cư sĩ tại gia nguyện giữ 5 giới căn bản, ca hát không là vấn đề. Đức Phật không ngăn cấm người cư sĩ ca hát, sử dụng âm nhạc. Điều quan trọng là gìn giữ tâm ý, không để lôi cuốn, loạn động bởi âm thanh qua bài ca, tiếng hát, nhạc điệu. Âm nhạc và ca hát – đối với hàng cư sĩ – nếu biết sử dụng khéo léo, đúng thời, đúng mục đích, là một phương tiện truyền thông tốt trong các sinh hoạt Phật giáo.

Tuy nhiên, nếu người cư sĩ nguyện giữ 8 giới (bát quan trai giới) – thông thường trong các khóa thiền hay những ngày bố-tát tịnh tu – không ca hát là điều giới thứ 7 cần phải tuân giữ:

– Trong đêm nay và ngày nay, ta nguyện sống tránh xa không xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang (Tăng chi bộ, chương Tám pháp).

2) Sa-di, sa-di-ni xuất gia

Không ca hát là giới thứ 7 trong 10 giới căn bản của hàng sa-di, sa-di-ni:

– Đệ tử thực hành giới tránh múa, hát, nhạc, kịch (Tiểu bộ, Tiểu tụng).

3) Tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni xuất gia

Riêng giới không múa hát, thổi kèn, đàn, xem múa hát, nghe đàn kèn tuy không ghi rõ trong giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa nhưng có ghi trong các điều liên quan đến tội Tác ác (dukkata) [*], thuộc Tiểu phẩm (Chương V), của Luật tạng. Duyên sự như sau (dựa theo bản Việt dịch của Tỳ-khưu Indacanda):

... Một lần nọ, tại thành Rājagaha (Vương xá) có lễ hội ở trên đỉnh núi. Các tỳ-khưu nhóm Lục sư (lục quần tỳ-khưu) đã đi xem lễ hội ở trên đỉnh núi. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Tại sao các sa-môn Thích tử lại đi xem vũ, ca, luôn cả tấu nhạc, giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy?

Các tỳ-khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ-khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, đến trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Ngài khiển trách nhóm Lục sư ấy, rồi bảo các tỳ-khưu rằng:

– Này các tỳ-khưu, không nên đi xem vũ, ca, hoặc tấu nhạc; vị nào đi thì phạm tội dukkata (tác ác). [*]

––––––––––
[*] Theo Gs Rhys Davids (Vinaya Texts – bản dịch Anh ngữ Luật tạng), "dukkata" dịch là "wrong doing" (làm xấu, tác ác) là những lỗi nhẹ, chỉ cần tự sám hối là đủ.

4) Ngâm nga theo âm điệu ca hát

Ngay cả đến việc ngâm nga các bài kệ, bài pháp với các âm điệu trầm bổng du dương cũng bị Đức Phật khiển trách và ngăn cấm. Một lần nọ, các tỳ-khưu nhóm Lục sư ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Các sa-môn Thích tử này ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài giống y như chúng ta ca hát vậy.

Các tỳ-khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ-khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, đến trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Ngài khiển trách nhóm Lục sư ấy, rồi bảo các tỳ-khưu rằng:

– Này các tỳ-khưu, đây là năm điều bất lợi khi ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài:

  • bản thân vị ấy bị say đắm trong âm điệu,
  • khiến cho những kẻ khác cũng bị ảnh hưởng say đắm trong âm điệu,
  • hàng cư sĩ tại gia phàn nàn, chê cười vị ấy,
  • trong khi ra sức thể hiện âm điệu, thiền định của vị ấy bị phân tán,
  • điều cuối cùng là vị ấy khiến dân chúng thực hành theo đường lối sai trái.

Này các tỳ-khưu, đây là năm điều bất lợi khi ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài. Này các tỳ-khưu, không nên ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài; vị nào ngâm nga thì phạm tội dukkata (tác ác) – (Luật tạng, Tiểu phẩm).

Thần thức sẽ trụ nơi nào sau khi chết

Tiến sĩ Thích Gíac Hoàng

Hỏi: Sau khi một người bị chết rồi, phần tâm thức sẽ trụ ở nơi nào? Và làm sao để biết chắc có sự tái sanh? Tôi đã có lần gặp ma rồi, vậy họ là hạng chúng sanh gì? (Giác Hy)

1) Sau khi một người từ giã cõi đời, tâm thức của người đó không trụ ở một nơi nào, tùy theo khuynh hướng của tâm (nghiệp) mà thần thức đi tái sanh ở cõi tương ứng. Ngay khi còn sống tâm thức của người đó cũng không trụ ở nơi nào, vì nó hằng tuôn chảy như thác nước (hằng chuyển như bộc lưu) như Duy Thức Tam Thập Tụng đã nêu rõ, thì làm sao khi chết thần thức của người đó tồn tại, hay kết ngưng ở một điểm nào. Khi thần thức nằm trong bụng mẹ thì nó sẽ nằm một chỗ trong suốt thời gian mang thai.

Theo Luận Tạng (Abhidhamma Pitaka) của Phật giáo Nam truyền, tâm tử (cuti citta) cũng chính là tâm sanh (patisandhi citta), nghĩa là khi con người lìa bỏ thân tứ đại này lập tức đi tái sanh, tìm kiếm một thân mới dưới hình thức khác.

2) Làm sao để biết chắc có sự tái sinh? Theo kinh Sa-môn Quả thuộc Trường Bộ kinh, nhiều học thuyết thời đức Phật đã chủ trương rằng sau khi chết là hết, không có đời sau. Kinh này ghi lại tư tưởng của ngoại đạo Ajita Kesakambali cho rằng sau khi chết là hết, không hề có tái sanh luân hồi. Học thuyết này cho đến thời cận đại cũng còn có nhiều tư tưởng gia cổ xúy. Theo đức Phật học thuyết không có đời sau có khả năng đưa con người đến đọa xứ và ác thú, vì tính tác hại đạo đức của nó.

Lại nữa, kinh Tệ Túc 23, cũng thuộc Trường Bộ kinh trình bày cuộc trao đổi giữa một vị vua minh triết Pàyàsi và Thánh đệ tử đa văn Kumàra Kassapa của đức Thế Tôn là làm thế nào để biết có luân hồi. 12 thí dụ của tôn giả Pàyàsi Kassapa đã minh chứng hùng hồn về sự tái sanh của tất cả hữu tình, mà vua Pàyàsi đã cố tình đưa đẩy không chấp nhận. Cuối cùng nhà vua đã thâm tín lời giảng dạy của tôn giả Kumàra Kassapa và quy y Tam bảo.

Cũng nên xem thêm kinh Na-tiên Tỳ kheo để thấy ngài Na-tiên (Nagasena) chứng minh cho vua Mi-lin-đà (Milinda) biết rằng tái sanh là chuyện có thật và nhà vua đã hoàn toàn bị thuyết phục trước những lập luận khoa học của ngài Nagasena.

3) Về khái niệm “ma”. Các dịch giả Trung Quốc và Việt Nam đều chuyển ngữ chữ Peta trong Pàli hoặc Preta trong Sanskrit thành “ngạ quỷ” (quỷ đói) như tiếng Hán Việt, chứ không dịch chữ này thành “ma”, “quỷ” như người Việt Nam thường gọi.

Khái niệm “ma” và “quỷ”, Việt Nam và Trung Quốc phân biệt khá rõ ràng. Những hạng chúng sanh sau khi chết mà không đi đầu thai ở cõi người hoặc các cõi khác mà phải đọa vào hạng chúng sanh vất vưởng đói khát, nhưng không phá phách nhiều thì gọi là ma, còn cùng một loại trên mà có năng lực mạnh hơn và chuyên tâm hại người thì gọi là quỷ. Còn những hạng có công với quốc gia, với xã tắc, bỏ mình vì chiến trận, và hộ quốc an dân, hoặc trong đời sống có làm phước thiện, nếu không được đi đầu thai làm người hoặc trời, thì được phong làm “thần”. Trong Phật giáo, theo cách phân chia tổng quát, thì cả 3 hạng trên đều thuộc về Peta cả. Trong Ngạ Quỷ Sự (Petavathu) hoặc còn được dịch là Chuyện Ngạ Quỷ, có mô tả nỗi khổ của loài quỷ đói, đồng thời đề cập đến các nguyên nhân bị đọa vào loài Peta của cả 3 hạng này.

Cách phân loại chúng sanh ở cảnh giới nào cũng mang tính khái quát thôi. Hạng thần ở cõi trần, vì tạo được một vài thiện sự nên cũng ở cõi trần mà hưởng phước dưới dạng một chúng sanh không phải cõi người và vì nghiệp thức chiêu cảm nên cấu trúc xác thân và có những đặc điểm y như loài quỷ vậy, ví dụ biết được tâm niệm của người, mà họ khác loài quỷ ở chỗ phước đức mà thôi, do đó cũng xếp vào hạng Peta.

Do đó, nếu ta dịch chữ Peta hoặc Preta thành ngạ quỷ (quỷ đói), e rằng không lột tả được hết nghĩa của của nó. Và, có người sẽ đặt vấn đề vậy thần sẽ được xếp vào hạng nào? Theo Pali-English Dictionary của T.W. Rhys Davids và William Stede, Peta các nghĩa sau: 1. Thần hồn của những người đã mất (souls of the departed); 2. Loài ma quỷ đau khổ (unhappy ghosts) và 3. Loài ma quỷ hạnh phúc (happy ghost). Trong đó, còn liệt kê nhiều kinh liên hệ đến cả 3 loại này. Do đó, nếu ta theo sát từ điển nói trên thì peta chỉ có nghĩa là thần hồn của người đã mất, quá cố (dead, departed, the departed spirit) để chỉ chung cho các hạng sau khi chết không bị đọa vào địa ngục (niraya) hoặc không được tái sanh vào cõi A-tu-la (Asura), người (manussa) hoặc chư thiên (deva).

Từ Điển Phật Học Hán Việt trình bày các hạng ma quái, quỷ mị, địa thần cũng xếp vào Peta hoặc Preta. Luận Thuận Chính Lý, quyển 31, có 3 loại quỷ: 1. Vô tài quỷ; 2. Thiểu tài quỷ; 3. Đa tài quỷ. Mỗi loại quỷ lại chia 3 hạng nữa thành cả thảy 9 loại. Trong kinh Chánh Pháp Niệm, quyển 16, nêu ra 36 loại quỷ.

Kinh Địa Tạng cũng liệt kê nhiều loại quỷ khác nhau, như Ác Mục quỷ vuơng (chúa quỷ mắt dữ), Đạm Huyết quỷ vuơng (chúa quỷ ăn huyết), Đạm Tinh Huyết quỷ vương (chúa quỷ ăn tinh chất), Đạm Thai Noãn quỷ vương (chúa quỷ ăn thai trứng), Hành Bịnh quỷ vương (chúa quỷ gây bịnh tật), Nhiếp Độc quỷ vương (chúa quỷ trừ độc). (Phẩm một: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi).

Như vậy, trường hợp gặp “ma”, người viết cũng không thể xác định rằng đó là thuộc hạng Peta 1, 2 hoặc 3 như Pali-English Dictionary trình bày. Giác Hy tự mình có thể đoán họ là hạng nào, vì bạn là người gặp và trong trường hợp nào. Dĩ nhiên chúng cũng không ngoài hạng ma, quỷ, thần như chúng ta vừa đề cập ở trên.

Viết đến đây, chúng tôi nhớ đến câu chuyện của Khổng Tử, khi Quý Lộ (Tử Lộ) hỏi Khổng Tử về đạo thờ quỷ thần, Khổng Tử đáp “chưa biết đạo thờ người, sao biết được đạo thờ quỷ thần” (Vị năng sự nhân, yên năng sự quỷ). Khi đó, Tử Lộ hỏi tiếp về trạng thái sau khi chết, Khổng Tử cũng đáp “sự sống còn chưa biết, làm sao biết được sự chết?” (vị tri sinh, yên tri tử ), (Luận Ngữ : Tiên Tần đệ thập nhất: 11).

Thế giới quỷ thần là có thật, đôi khi xung quanh chung ta. Tồn tại dưới dạng quỷ thần là một bất hạnh, mà người bị vướng vào trường hợp này nên rũ bỏ sự chấp trước để sớm được siêu thoát. Hãy cầu siêu các loại ma quỷ để họ sớm được tái sinh.

(Nguyệt san Đạo Phật Ngày Nay số 3)

KHÔNG GIẢI ĐÓAN ĐIỀM LÀNH ĐIỀM DỮ

Trích Tiểu phẩm, tạng Luật:

Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư học tập việc giải đoán điềm lành dữ. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Tại sao các sa-môn Thích tử lại học tập việc giải đoán điềm lành dữ giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy?

Các tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai như thế, đến trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các vị tỳ khưu rằng:

- Này các tỳ khưu, kẻ chuyên chú trong việc giải đoán điềm lành dữ có thể đạt được sự tiến triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh trong Pháp và Luật này không?
- Bạch Ngài, không có điều ấy.
- Hoặc vị chuyên chú trong Pháp và Luật này có thể học tập việc giải đoán điềm lành dữ không?
- Bạch Ngài, không có điều ấy.
- Này các tỳ khưu, không nên học tập việc giải đoán điềm lành dữ; vị nào học tập thì phạm tội dukkata (tác ác).

*


Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư dạy việc giải đoán điềm lành dữ. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Tại sao các sa-môn Thích tử lại dạy việc giải đoán điềm lành dữ giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy?

Các tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai như thế, đến trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các vị tỳ khưu rằng:

- Này các tỳ khưu, kẻ chuyên chú dạy việc giải đoán điềm lành dữ có thể đạt được sự tiến triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh trong Pháp và Luật này không?
- Bạch Ngài, không có điều ấy.
- Hoặc vị chuyên chú trong Pháp và Luật này có thể dạy việc giải đoán điềm lành dữ không?
- Bạch Ngài, không có điều ấy.
- Này các tỳ khưu, không nên dạy việc giải đoán điềm lành dữ; vị nào dạy việc ấy thì phạm tội dukkata (tác ác).
(Nguồn: http://budsas.blogspot.com/2009/12/khong-giai-oan-iem-lanh-iem-du.html)

LÀM SAO BIẾT MỘT VỊ A LA HÁN?

(Kinh Jatila, Phật tự thuyết - Udana, 6.2)

Vua Pasenadi hỏi Đức Phật về bảy vị Ni-kiền-tử lõa thể bện tóc:

- Bạch Thế Tôn, có phải những Tôn giả ấy là những vị A-la-hán trên đời này, hay là những vị đang đi trên con đường hướng đến đạo quả A-la-hán?

Đức Phật trả lời:

- Thưa Đại vương, khi Đại vương còn là cư sĩ trong khi còn sống với gia đình, thọ hưởng dục lạc, bị vợ con trói buộc, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, thọ hưởng vàng và bạc, thời Đại vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến đạo quả A-la-hán.

Thưa Đại vương, chính phải cộng trú mới biết được giới đức của một người, và như vậy, phải trong một thời gian dài, không thể ít ngày được; phải có tác ý, không phải không có tác ý; phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

Thưa Đại vương, chính phải có giao tiếp mới biết được sự thanh liêm của một người, và như vậy, phải trong một thời gian dài, không thể ít ngày được; phải có tác ý, không phải không có tác ý; phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

Thưa Đại vương, chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, và như vậy, phải trong một thời gian dài, không thể ít ngày được; phải có tác ý, không phải không tác ý; phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

Thưa Đại vương, chính phải đàm luận mới biết được trí tuệ của một người, và như vậy, phải trong một thời gian dài, không thể ít ngày được; phải có tác ý, không phải không tác ý; phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
(HT Thích Minh Châu dịch)
(http://budsas.blogspot.com/2010/12/lam-sao-e-biet-mot-vi-la-han.html)

PHI THÂN THỊ CHƠN THÂN PHI THUYẾT THỊ CHƠN THUYẾT

Nhuận-Bảo

Một số bạn đạo thân thiết đã trực tiếp cũng như gián tiếp biên thư hỏi, nhằm vào hai ý chính, xin lược kê sau đây.

Thứ nhất, đức Phật lấy thân nào để thuyết pháp?.

Thứ hai, tại sao đức Phật lại phủ nhận việc thuyết pháp của Ngài, khi tuyên bố: ”Trong suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp, ta chưa h