Thiền Vipassana

Thiền Vipassana

Mục lục

Thiền Vipassana
Những bài giảng về Thiền Minh Sát

Sayadaw U Janakabhivamsa
Thiền viện Chanmyay Yeiktha
Yangon, Mianma

Diệu Tâm Phan Minh Nguyệt dịch Việt

Sayadaw U Janakabhiamsa là một giảng viên tích cực về thiền vipassanà và hiện nay là viện trưởng thiền viện Chanmyay Yeiktha tại thủ đô Yangon, Mianma.

Thiền Vipassana là một phương pháp phát triển tuệ minh sát thấu biết sự thật.

Bằng cách theo dõi các tiến trình thân và tâm của chúng ta với sự tỉnh thức trong sáng, chúng ta phát triển sự hiểu biết đúng đắn về bản chất thật của chúng và do đó xoá bỏ vô minh. Thông qua sự nuôi dưỡng không ngừng trí tuệ minh sát, tâm trí được giữ trong sự cân bằng hoàn hảo và sẽ thoát khỏi mọi ô nhiễm.

Cuốn sách này được viết dựa trên những bài giảng và hướng dẫn của Sayadaw U Janakàbhivamsa cho các thiền sinh tại thiền viện. Sau khi phân định rõ mục đích, lợi ích và phương pháp thiền Vipassana, quyển sách này tập trung vào quá trình để đạt được sự thanh tịnh của tâm. Người tìm kiếm chân lý nghiêm túc mà mong muốn tập thiền minh sát sẽ thấy quyển sách này là lời hướng dẫn không thể thiếu.

Biên soạn:
Đại đức Sujiva
Viện trưởng Santisukharama Hermilage tại Kota Tinggi.

-ooOoo-

Lời nói đầu

Sudassam vajjamannesam
Attano pana duddasam

Lỗi người khác dễ thấy
Lỗi mình khó nhận ra
(Pháp cú, câu số 252)

Câu kệ trên cũng rất xác đáng với các thiền giả (yogi). Một thiền sinh có thể cứ mắc mãi những lỗi lầm giống nhau và cứ mù mờ về chúng cho đến khi có ai đó đủ kinh nghiệm và sắc bén đến và chỉ ra chúng. Sau một thời gian nào đó, chúng ta có thể lại quên và cần được nhắc nhở.

Từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 8 tháng 4 năm 1983 chúng tôi đã rất may mắn được một vị thầy đầy kinh nghiệm về thiền Vipassana tổ chức một khoá chuyên tu tại Penang, trung tâm thiền Phật giáo Malaysia, hướng dẫn, dạy bảo, sữa chữa và nhắc nhở chúng tôi về thiền minh sát. Chúng tôi đã được lợi lạc to lớn từ những lời hướng dẫn chính xác, kỷ luật nghiêm khắc và những lời khích lệ của ngài.

Ở đây chúng tôi sưu tập, biên soạn những lời dạy của ngài mong đem lại lợi ích cho những người tìm kiếm sự an lành tối thắng khỏi những ràng buộc khổ đau. Đó là những bài giảng vào buổi tối của Sayadaw U Janakabhivamsa cho các thiền sinh. Một số là những lời hướng dẫn chủ yếu căn cứ trên những buổi pháp đàm giữa Đại Đức (Sayàdaw) với các thiền sinh. Chúng được sắp xếp theo nhiều mục để làm thành một cuốn sách nhỏ. Một số lời dạy chỉ nên được áp dụng trong những tình huống đặc thù có liên quan mà không nên được áp dụng trong những trường hợp thông thường khác.

Chúng tôi xin đặc biệt cảm ơn Đại Đức (Sayadaw) đã cho phép chúng tôi in cuốn sách này và sửa bản in thử.

Chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ tất cả những ai đã giúp cuốn sách này ra đời.

Đại đức Sujiva
Tháng 6, 1985.

-ooOoo-

Lời cảm tạ

Tôi vô cùng hoan hỷ vì chúng tôi đã xuất bản được cuốn sách Thiền Vipassana này mà cho đến nay đã được in ba lần ở Malaysia và Mianma. Chúng tôi xin cảm tạ sâu sắc Đại đức Sujiva vì những nỗ lực không mệt mỏi cho việc sưu tầm và biên tập những bài giảng và hướng dẫn của tôi cho các thiền sinh trong khoá chuyên tu tôi hướng dẫn tại Penang, Malaysia, tháng 4 năm 1983.

Ấn phẩm mới này được in trong khi tôi đang hành pháp tại Tây Âu vào năm 1992. Thầy Pesala ở Burmese Vihara, Luân Đôn đã cho tôi sự trợ giúp vô giá trong công việc này. Royce Wiles, một thiền sinh của tôi đã sửa sang lại câu chữ trong bản thảo đã được U Dhammasubha - một Đại Đức người Malaysia, Maung AungGyi và Maung Zaw Myint Oo đánh vào máy tính. Tôi xin vô cùng cảm tạ họ.

Ngày 5 tháng 11 năm 1992
Ashin Janakabhivamsa, Chanmyay Sayadaw.

-ooOoo-

Namo tassa bhagavato arahato sammasambuddhassa

CHƯƠNG 1. HẠNH PHÚC NHỜ SỰ HIỂU BIẾT ĐÚNG ĐẮN

Tất cả mọi người trên thế giới đều muốn hạnh phúc và hoà bình. Đây là lý do tại sao con người đang tìm kiếm con đường chân thật dẫn họ tới sự chấm dứt khổ đau. Tất cả tôn giáo trên thế giới ra đời đều vì cuộc tìm kiếm này. Một tôn giáo lớn trên thế giới là Đạo Phật, nó dẫn con người tới sự chấm dứt khổ đau.

Nguyên nhân của khổ

Đức Phật Tổ đã tìm ra nguyên nhân của khổ (dukkha). Theo lời dạy của Ngài, tất cả mọi sự vật ra đời đều phụ thuộc vào các điều kiện (nhân duyên). Tất cả mọi sự vật trên thế giới này đều có nguyên nhân của nó; không có gì xuất hiện mà lại không có một nguyên nhân. Khi Đức Phật muốn thoát khỏi khổ đau (dukkha), Ngài phải tìm ra nguyên nhân của nó. Khi nguyên nhân của khổ đã bị xoá bỏ thì sẽ không còn một quả khổ nào nữa. Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ, Ngài phát hiện ra nguyên nhân của khổ là tham ái, vướng mắc (tanha - tập đế). Từ "tanha" có nghĩa là tham lam, dục vọng, khao khát, ham muốn và những thứ giống như thế. Các học giả đạo Phật đã dịch từ ‘tanha" thành từ attachment (tham ái, dính mắc) do đó từ này bao hàm tất cả các hình thức của lòng khao khát. Vì thế trong tiếng Anh, chúng ta sử dụng từ ‘attachment’ để dịch từ ‘tanha"vốn là tiếng Pali.

Tanha hay tham ái là nguyên nhân của khổ. Khi có tham ái thì có khổ. Khi một người có thể diệt trừ được tham ái người đó chắn chắc sẽ thoát khỏi khổ. Lòng tham ái này xuất hiện cũng phụ thuộc vào nguyên nhân. Không có nguyên nhân thì tham ái sẽ không xuất hiện. Tham ái (Tanha) là một trạng thái của tâm thức và là quá trình diễn biến của tâm có nhân duyên của nó. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phát hiện ra nguyên nhân của tham ái là quan niệm sai lầm, ví dụ quan niệm sai lầm về một linh hồn, một bản ngã, về "tôi" hay "anh" về tính cách, về cá nhân (nghĩa là sakkàya-ditthi hay atta-ditthi). Do đó sakkàya-ditthi hay atta-ditthi là nguyên nhân của tanha mà gây ra quả khổ. Thế thì cái gì là nguyên nhân của quan niệm sai lầm này (sakkàya-ditthi hay atta-ditthi)?

Đức Phật Thích Ca đã chỉ ra rằng sự vô minh, thiếu hiểu biết (moha hay avijjà trong tiếng Pali) về các quá trình diễn biến chân thật của thân và tâm là nguyên nhân của quan niệm sai lầm về một linh hồn hay một bản ngã. Do đó nhờ nhận ra và hiểu biết đúng đắn về quá trình thân tâm này theo đúng bản chất thực sự của nó, chúng ta có thể xoá bỏ sự vô minh. Tiếp đó chúng ta sẽ nhận biết được Luật nhân quả. Chúng ta có thể tóm tắt chuỗi nhân qủa như sau: Vô minh là nguyên nhân, quan niệm sai lầm là kết qủa. Quan niệm sai lầm là nguyên nhân, tham ái là kết qủa. Tham ái là nguyên nhân, đau khổ là kết quả.

Bây giờ thì chúng ta biết được rằng: nếu các quá trình của thân và tâm được hiểu biết đúng đắn, thì sự hiểu biết đúng đắn đó sẽ diệt trừ vô minh. Khi vô minh đã bị xoá bỏ, thì sẽ không còn một quan niệm sai lầm nào về một linh hồn, một bản ngã, một con người hay một sinh vật. Khi quan niệm sai lầm này đã bị phá vỡ thì không còn một tham ái nào xuất hiện. Khi tham ái đã bị diệt trừ thì sẽ không còn một đau khổ nào nữa. Do đó chúng ta tiến đến một giai đoạn mà ở đó tất cả khổ đau đều không tồn tại - tức là đạt được diệt đế (Nirodha-sacca).

Nguyên nhân của quan niệm sai lầm

Chúng ta nên xem xét sự không hiểu biết (vô minh) về các quá trình thân-tâm gây ra quan niệm sai lầm về một linh hồn hay một bản ngã, một con người hay một sinh vật, về "ta" hay "người" như thế nào; và quan niệm sai lầm này đã làm tham ái, dính mắc xuất hiện như thế nào. Chính vì chúng ta không hiểu biết đúng quá trình kép này theo bản chất thực sự của chúng nên chúng ta đã xem nó như một con người hay một sinh vật, một linh hồn hay một bản ngã. Tiếp theo con người đó, sinh vật đó, cái “tôi” đó hay “anh” đó khát khao được giàu có, hay được làm vua , làm hoàng hậu, làm một thủ tướng hay một nhà triệu phú. Niềm mong ước được làm một hoàng hậu hay là một tổng thống v.v.v...là tham ái. Nó phát sinh do một ý tưởng sai lầm về một con người hay một sinh vật, một linh hồn hay một bản ngã, "tôi" và "anh".

Nếu chúng ta muốn xoá bỏ sự ham muốn hay tham ái này, chúng ta phải diệt trừ nguyên nhân của nó. Nguyên nhân đó là gì? Nguyên nhân của ham muốn hay tham ái, như tôi đã trình bày ở trước, là quan niệm sai lầm hay khái niệm sai lầm về một con người hay một vật hữu tình, về một linh hồn hay một bản ngã. Vì thế, khi quan niệm sai lầm đã bị phá bỏ, sẽ không còn một tham ái nào muốn trở thành một người giàu, một ông vua, một tổng thống... xuất hiện. Sự khát khao được là, được lấy, được có một cái gì đó phát sinh từ quan niệm hay khái niệm sai lầm về một con người hay một sinh vật, “tôi” và "anh". Khi lòng khát khao hay tham ái đó xuất hiện trong chúng ta, nó mang lại muôn vàn thứ khổ đau.

Khi chúng ta tham luyến ngôi nhà của chúng ta, một thứ đồ vật bất động, chúng ta lo lắng cho nó. Nếu nhà của chúng ta bị cháy chúng ta sẽ cảm thấy buồn phiền. Buồn là một trong những loại hình chủ yếu của đau khổ. Nỗi đau khổ đó là do lòng tham ái của chúng ta đối với ngôi nhà. Và lại giống như thế, khi chúng ta tham ái, dính mắc vào họ hàng, bạn bè, con cái, hay cha mẹ của chúng ta; lòng tham ái này cũng lại gây cho chúng ta đau khổ. Khi chúng ta bị dính mắc vào con cái, chúng ta lo lắng về sức khoẻ, học tập của con cái chúng ta và những thứ tương tự. Nếu con chúng ta thi trượt, chúng ta lo lắng, cảm thấy buồn và tiếc. Đau khổ này là thứ đau khổ tinh thần hay dukkha tinh thần, và nó bị gây ra bởi lòng tham ái, dính mắc của chúng ta đối với con cái. Vì thế, tham ái là nguyên nhân của đau khổ. Tham ái này đến từ đâu? Tham ái này phát sinh từ khái niệm sai lầm về các quá trình của thân và tâm, xem đó như là một con người hay một sinh vật, một linh hồn hay một bản ngã, một cái "tôi" hay "anh". Khi khái niệm này về cá tính hay cá nhân đã bị phá bỏ thì sẽ không còn bất kỳ một tham ái nào. Khi không còn tham ái thì sẽ không còn một đau khổ nào nữa.

Nhận diện mọi pháp như chúng đang là

Đức Phật Thích Ca chỉ ra rằng bằng cách lưu tâm đến quá trình kép này xem nó như nó thực sự là, chúng ta sẽ có khả năng hiểu đúng bản chất bên trong của nó. Khi chúng ta muốn hiểu một cái gì đó như nó thực sự là, chúng ta nên theo dõi nó, nhìn nó, tỉnh thức nhận biết khi nó thực sự xuất hiện mà không phân tích nó, không suy luận logic, không tư duy triết học và không định kiến. Chúng ta nên rất tập trung và tỉnh thức thấy nó như nó thực sự là.

Ví dụ nhìn vào một cái đồng hồ. Khi chúng ta không quan sát cái đồng hồ một cách rất chăm chú và cẩn thận chúng ta không thể hiểu nó như nó là. Khi chúng ta quan sát nó một cách chăm chú và kĩ lưỡng, chúng ta sẽ thấy nhãn hiệu, kiểu dáng của nó, và những con số trên đồng hồ. Chúng ta sẽ hiểu ra đây là cái đồng hồ; nhãn hiệu của nó là Seiko; nó có một bản đồ thời gian quốc tế v.v... Tuy nhiên, nếu chúng ta không quan sát nó như nó là, hoặc sự quan sát của chúng ta gắn với ý kiến định sẵn là "Tôi đã nhìn thấy cái đồng hồ như thế này và nhãn hiệu của nó là Omega", thế là ngay khi chúng ta nhìn thấy cái đồng hồ này chúng ta sẽ coi nó là đồng hồ Omega. Tại sao? Bởi vì chúng ta không quan sát nó một cách tập trung và cẩn thận. Chúng ta đã dùng định kiến khi nhìn nó, vì thế thành kiến này đã dẫn chúng ta đến một kết luận sai về cái đồng hồ. Nếu chúng ta gác thành kiến sang một bên và quan sát chăm chú, tỉ mỉ cái đồng hồ, chúng ta sẽ hiểu nó như nó là - đây là đồng hồ Seiko, được làm ở Nhật và nó cũng có một biểu đồ thời gian quốc tế. Chúng ta sẽ hiểu nó như nó đang là bởi vì chúng ta đã bỏ sang một bên ý kiến định sẵn về đồng hồ Omega khi chúng ta quan sát nó.

Cũng theo cách đó, khi chúng ta muốn hiểu đúng quá trình thân-tâm theo bản chất thực sự của chúng hay như chúng thực sự là, chúng ta không được phân tích chúng hay nghĩ về chúng. Chúng ta không được suy luận hay dùng bất kỳ một tri thức hiểu biết hoặc thành kiến nào. Chúng ta phải bỏ chúng sang bên và chỉ để ý vào cái gì đang xảy ra với hiện tượng thân-tâm như chúng thực sự là. Chúng ta sẽ nhận thấy các quá trình thân-tâm như chúng đúng là. Khi thân chúng ta cảm thấy nóng, chúng ta nên ghi nhận cảm giác đó về cái nóng là nóng. Khi thân cảm thấy lạnh, chúng ta nên ghi nhận nó là lạnh. Khi chúng ta cảm thấy đau, chúng ta nên ghi nhận nó là đau. Khi chúng ta cảm thấy hạnh phúc, chúng ta nên ghi nhận hạnh phúc đó. Khi chúng ta cảm thấy giận dữ, chúng ta nên ghi nhận cái giận dữ đó là giận dữ. Khi chúng ta cảm thấy thất vọng, chúng ta nên tỉnh thức ghi nhận nó là thất vọng. Khi chúng ta cảm thấy buồn chán hay thất vọng, chúng ta nên nhận thức trạng thái cảm xúc buồn hay thất vọng như nó thực sự là.

Mỗi quá trình thân, tâm cần được quan sát như nó thực sự xuất hiện để chúng ta có thể hiểu đúng nó theo bản chất thực sự của nó. Sự hiểu biết chân xác đó sẽ dẫn chúng ta đến chỗ xoá bỏ vô minh. Khi vô minh đã bị xoá bỏ, chúng ta sẽ không coi các quá trình thân tâm này là một con người, một sinh vật, một linh hồn hay một bản ngã. Nếu chúng ta coi các quá trình thân-tâm này chỉ là các quá trình tự nhiên thì sẽ không có một tham ái nào phát sinh. Khi tham ái đã bị phá bỏ, chúng ta giải thoát mọi khổ đau và đạt được diệt đế. Vì thế, tỉnh táo nhận thức các quá trình diễn biến của thân-tâm theo bản chất chân thực của chúng là con đường dẫn đến diệt đế. Đó là con đường mà Đức Phật Thích Ca đã thuyết giảng trong kinh "Tứ niệm xứ".

Trong bài pháp này, Đức Phật Thích Ca dạy chúng ta phải nhận thức được rõ ràng các hiện tượng thân tâm như chúng thực sự là. Có rất nhiều phương pháp mà thông qua đó chúng ta có thể tỉnh thức về các quá trình diễn biến thân tâm, nhưng có thể tóm tắt chúng như sau:

- Tỉnh thức về quá trình thân (Kàyanupassanà Satipatthàna).
- Tỉnh thức đối với cảm giác hay cảm xúc (Vedanànupassanà Satipatthàna).
- Tỉnh thức đối với ý thức (Cittànupasanà Satpatthànà).
- Tỉnh thức đối với các đối tượng của tâm (Dhammànunpasanà Satipatthàna).

Sự nhận thức không chọn lựa

Khi chúng ta lưu tâm đến các quá trình thân-tâm, chúng ta không cần chọn bất kỳ một quá trình thân hay tâm nào làm đối tượng thiền. Tâm sẽ tự nó chọn đối tượng. Nếu chúng ta chọn bất kỳ một quá trình thân hay tâm nào làm đối tượng thiền thì có nghĩa là chúng ta đã bị dính mắc vào nó. Trong khi thiền, "tâm ghi nhận" hay "tâm quan sát" sẽ tự chọn đối tượng; có thể là một cảm giác hạnh phúc về sự thành công của chúng ta, hoặc cảm giác đau, hoặc chuyển động của bụng. Mặc dù chúng ta cố gắng chú tâm vào chuyển động của bụng, tâm sẽ không trụ ở đó nếu cái đau nổi bật hơn hoặc dễ nhận thấy hơn. “Tâm ghi nhận” sẽ đi đến cái đau và quan sát nó bởi vì cảm giác nổi bật hơn đã kéo mạnh tâm về phía nó. Vì thế chúng ta không cần chọn đối tượng nhưng chúng ta nên theo dõi đối tượng mà tâm chọn. Khi cái đau biến mất nhờ sự nhận biết kỹ lưỡng và tập trung, tâm sẽ chọn một đối tượng khác nổi bật hơn. Nếu cảm giác ngứa ở lưng nổi trội hơn hay rõ rệt hơn chuyển động ở bụng, tâm sẽ đi đến cảm giác ngứa và quan sát nó là "ngứa, ngứa, ngứa". Khi cảm giác ngứa biến mất nhờ định sâu và tỉnh thức cao, tâm sẽ chọn (ví dụ) chuyển động ở bụng làm đối tượng bởi vì nó dễ nhận thấy hơn các đối tượng khác. Nếu niềm hạnh phúc dễ nhận thấy hơn chuyển động ở bụng, tâm sẽ chọn cảm giác hạnh phúc làm đối tượng và theo dõi nó là "hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc". Do đó nguyên tắc của thiền Vipassanà hay thiền minh sát là quan sát, nhìn, hay ý thức rõ ràng tất cả các hiện tượng thân hay tâm như chúng thực sự là. Thiền minh sát này không chỉ rất đơn giản và dễ mà còn rất hiệu quả để đạt được mục đích của chúng ta - chấm dứt khổ đau.

Khi chúng ta lấy thức ăn, chúng ta nên nhận thức rõ từng động tác, từng hành động liên quan đến việc ăn. Khi chúng ta duỗi cánh tay ra, chúng ta phải ý thức rõ chuyển động duỗi. Khi bàn tay chạm vào thìa hay cơm, cảm giác xúc chạm cần được theo dõi. Khi chúng ta cầm cái thìa, cảm giác cầm nắm cần phải được quan sát. Khi chúng ta nhúng thìa vào cari, chuyển động nhúng đó phải được quan sát. Khi chúng ta múc cari bằng thìa, chuyển động đó phải được quan sát. Theo cách này, mỗi một và tất cả hành động liên quan đến việc ăn phải được quan sát như thật bởi vì mỗi quá trình thân phải được nhận biết toàn diện để xoá bỏ vô minh là nguyên nhân của quan niệm sai lầm. Cũng theo cách đó, trong khi chúng ta tắm; trong khi chúng ta làm việc ở nhà hay ở công sở, chúng ta phải nhận thức rõ ràng tất cả các hành động hay chuyển động liên quan. Khi kinh hành trong thiền viện, chuyển động của bàn chân như chuyển động nhấc, chuyển động bước và chuyển động đạp phải được quan sát tỉ mỉ và chính xác như chúng thật là.

Đặt tên

Chúng ta có thể cần đặt tên hay gán cho nó một nhãn hiệu khi chúng ta ý thức về một đối tượng nào đó. Khi chúng ta nhấc bàn chân để đi, chúng ta có thể gọi hành động đó là "nhấc". Khi chúng ta bước về phía trước, chúng ta lại gán cho nó là "bước". Khi chúng ta đạp xuống, chúng ta gán cho nó là "đạp”. Cứ thế, ta gọi chúng là "nhấc, bước, đạp; nhấc, bước, đạp”. Việc gán cho hay việc đặt tên có thể dẫn tâm tiếp cận gần hơn và chính xác hơn đến đối tượng của thiền hành. Nó cũng rất hữu ích trong việc giúp thiền giả tập trung tâm vào đối tượng của thiền. Tuy nhiên, có thể có những thiền giả không cần đặt tên hay gán tên cho đối tượng của thiền. Họ chỉ cần quan sát sự chuyển động của bàn chân - từ khi mới bắt đầu chuyển động nhấc lên đến khi kết thúc chuyển động đạp xuống. Tâm phải theo dõi chuyển động của bàn chân rất kĩ lưỡng như nó là mà không suy nghĩ hay phân tích. Theo cách này, một người có thể phát triển định sâu hơn bao giờ hết.

Khi mới bắt đầu thực hành, tâm thường xuyên lăng xăng. Bất kỳ khi nào tâm lăng xăng, bạn nên theo tâm đó và quan sát nó. Nếu bạn đang suy nghĩ về công việc gia đình, suy nghĩ đó phải được quan sát như thật, tạo nên một ghi nhận của tâm, "nghĩ, nghĩ, nghĩ". Sau khi suy nghĩ ban đầu đã biến mất, bạn nên trở lại việc kinh hành và ghi nhận như bình thường "nhấc, bước, đạp”.

Samatha và Vipassana (Thiền chỉ và thiền quán)

Ở đây, chúng ta nên phân biệt sự khác nhau giữa thiền Samatha và thiền Vipassana. Samatha có nghĩa là tập trung (định), bình yên, tĩnh lặng. Khi tâm được tập trung sâu vào đối tượng của thiền, tâm trở nên tĩnh lặng và bình an. Mục đích của thiền Samatha là đạt được định sâu của tâm vào một đối tượng đơn nhất. Do đó, kết quả của thiền Samatha là đạt được định sâu như trạng thái an chỉ định (appana-samadhi, jhana) hay trạng thái cận định (upacara-samadhi). Khi tâm được định sâu vào đối tượng của thiền, tất cả những nhiễm ô như tham sắc, tham ăn, thù hận, khát khao, ngã mạn, vô minh và những thứ tương tự bị xóa bỏ khỏi cái tâm vốn đang được thu hút tập trung vào đối tượng. Khi tâm được giải thoát khỏi mọi sự nhiễm ô hay trở ngại (triền cái), chúng ta cảm thấy tĩnh lặng, bình an, hạnh phúc và thanh bình. Vì thế kết quả của thiền Samatha là một cấp độ nào đó của hạnh phúc nhờ đạt được định sâu như an chỉ định (appana-samadhi, jhana) hay cận định (yoacara-samadhi) nhưng nó không cho chúng ta khả năng hiểu được đúng hiện tượng thân và tâm như chúng đang thực sự là.

Một thiền giả thiền Samatha phải tạo ra một công cụ hay kasina nào đó để làm đối tượng của thiền. Ví dụ, theo lời chú giải Visuddhimagga (Thanh tịnh đạo), để làm một kasina màu sắc, anh ta phải làm một vòng tròn đỏ trên tường cách mặt đất khoảng 60 cm. Anh ta phải làm vòng tròn đỏ khoảng bằng kích cỡ của một cái đĩa và màu sắc phải là màu đỏ hoàn toàn, đều và nhẵn. Khi công cụ đã được làm xong, anh ta phải ngồi xuống sàn cách tường khoảng 60 cm, nhìn vào vòng tròn đỏ và tập trung vào nó. Nếu như tâm lăng xăng, anh ta không được theo tâm đó mà phải đưa nó trở về đối tượng của thiền, nghĩa là cái vòng tròn đỏ. Anh ta phải tập trung tâm vào vòng tròn đỏ và quán sát nó là "đỏ, đỏ, đỏ”. Đây là tóm tắt phương pháp thiền Samatha.

Đối với thiền Vipassana, mục đích là đạt được sự chấm dứt khổ đau nhờ hiểu biết đúng các quá trình thân và tâm theo bản chất thực sự của chúng. Để làm được điều này, chúng ta cần đạt được một trình độ định tâm nhất định. Định này có thể đạt được nhờ sự tỉnh thức luôn luôn không gián đoạn đối với quá trình thân tâm. Vì vậy, chúng ta có nhiều đối tượng khác nhau của thiền: hạnh phúc là một đối tượng của thiền và giận dữ, buồn, cảm giác đau, cứng, tê và những thứ tương tự cũng là đối tượng của thiền. Bất kỳ một quá trình thân hay tâm nào cũng có thể là đối tượng của thiền.

Mục đích và kết quả của thiền Samatha và thiền Vipassanà là khác nhau, phương pháp cũng khác nhau.

Chúng ta trở lại vấn đề mà tôi đã giảng lúc trước. Khi thiền hành, chúng ta theo dõi chuyển động của bàn chân - nhấc, bước, và đạp. Khi mới bắt đầu tập, tâm chúng ta không tập trung tốt vào bàn chân. Khi tâm lăng xăng, chúng ta nên theo nó và quan sát nó như thật cho đến khi tâm lăng xăng đó biến mất. Chỉ sau khi nó đã biến mất, chúng ta lại ghi nhận chuyển động của bàn chân như bình thường. Khi tâm trở nên tập trung tốt vào chuyển động của bàn chân, cái mà chúng ta ghi nhận là chuyển động nhấc, bước, đạp và chúng ta không cần phải ý thức về hình dáng của bàn chân hay của cơ thể trong khi thiền hành. Khi bàn chân được nhấc lên, tâm ghi nhận nó là nhấc, khi bàn chân được đẩy về phía trước, tâm ghi nhận nó là bước, khi bàn chân được đạp xuống, tâm ghi nhận nó là đạp. Khi chúng ta nhận thấy chúng là các quá trình chuyển động tự nhiên, chúng ta cũng nhận biết được cái tâm ghi nhận chúng. Chuyển động nhấc là một quá trình và cái tâm mà ghi nhận nó là một quá trình khác. Chuyển động bước là một quá trình và cái tâm ghi nhận nó là một quá trình khác. Theo cách này, chúng ta hoàn toàn nhận biết hai quá trình của các hiện tượng tâm và hiện tượng thân. Chúng ta hiểu biết một cách đúng đắn rằng quá trình kép này chỉ là các quá trình tự nhiên của các hiện tượng thân và tâm. Chúng ta không xem nó là một con người, một sinh vật, một "cái tôi" hay "anh". Do đó sẽ không nảy sinh một khái niệm sai lầm về cá tính, cá nhân, linh hồn, hay bản ngã. Khi khái niệm sai lầm này đã bị xoá bỏ, sẽ không nảy sinh bất kỳ một tham ái hay mong ước nào vốn là nguyên nhân của khổ (dukkha). Bởi vì tham ái không nảy sinh, nên sẽ không phát sinh một khổ quả nào của tham ái. Chúng ta đạt được chấm dứt khổ đau ngay tại thời điểm kinh nghiệm được quá trình chuyển động nhấc, bước, và đạp - chỉ như một quá trình tự nhiên.

Khi chúng ta tiếp tục thiền hành, sự tỉnh thức của chúng ta trở nên liên tục hơn, không gián đoạn và mạnh mẽ hơn. Khi sự tỉnh thức trở nên miên mật và mạnh mẽ, sức định sẽ trở nên sâu hơn và vững chắc hơn. Khi định trở nên sâu và kiên cố, sự nhận diện hay sự hồi quang phản tỉnh của chúng ta vào trong các quá trình diễn biến của tâm và thân trở nên rõ ràng. Từ đó, chúng ta tiến đến nhận diện hàng loạt các chuyển động nhấc phát sinh và chấm dứt, chuyển động này nối tiếp chuyển động kia, hàng loạt chuyển động bước, sinh diệt, cái này sau cái khác và hàng loạt chuyển động đạp, sinh và diệt, cái này sau cái khác. Trong khi kinh nghiệm như vậy, chúng ta tiến đến hiểu rằng không một phần nào của quá trình này là lâu dài hay vĩnh hằng. Mỗi quá trình chuyển động đều vô thường (anicca)- sinh và diệt rất nhanh, do đó nó không phải là một quá trình tốt; nó là xấu. Chúng ta tiến đến nhận biết một trong ba đặc tính của quá trình thân và tâm, nghĩa là khổ. Khi chúng ta nhận thấy bản chất vô thường và khổ của quá trình chuyển động của thân này, chúng ta sẽ không xem nó là một thực thể vĩnh hằng - một con người, một sinh vật, một linh hồn hay một cái ta. Đây là sự nhận thức về anatta, bản chất vô ngã, không có cái ta, không linh hồn của các quá trình thân và tâm. Vì thế chúng ta nhận biết được ba đặc tính của các hiện tượng thân và tâm, vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta).

Sự thực chứng Tứ Diệu Đế

Theo cách này, một thiền giả lần lượt đi qua tất cả các cấp độ hiểu biết sâu sắc các quá trình thân và tâm (các cấp độ của tuệ minh sát). Sau khi đạt đến giai đoạn cuối cùng, anh ta sẽ đạt được sự giác ngộ Quả vị thứ nhất, Sotàpatti-magga. Tại thời điểm đạt được quả vị thứ nhất, thiền giả thực chứng được Tứ Diệu Đế:

Dukkha-sacca: Khổ Đế
Samudaya-sacca: Tập Đế
Nirodha-sacca: Diệt Đế
Magga-sacca: Đạo Đế

Khi thiền giả nhận biết được từng hiện tượng đổi dời của thân và tâm, có nghĩa là anh ta đã nhận thức được Khổ đế. Kết quả là, tham ái, mà là nguyên nhân của khổ, bị xoá bỏ và thiền giả tiến đến một giai đoạn mà ở đó khổ đau không còn tồn tại.

Bát chính đạo

Tại thời điểm đó thiền giả đã phát triển hoàn toàn bát chánh đạo:

Samma-ditthi - Chính kiến
Samma-sankappa - Chính tư duy
Samma-vaca - Chính ngữ
Samma-kammanta - Chính nghiệp
Samma-ajiva - Chính mạng
Samma-vayama - Chính tinh tiến
Samma-sati - Chính niệm
Samma-samadhi - Chính định

Từ khi thiền giả có thể định tâm ở mức độ cao trên đối tượng thiền minh sát, tức là các quá trình thân-tâm, anh ta đang phát triển Bát chánh đạo (mặc dù chưa phải là hoàn toàn). Nghĩa là thế nào? Khi anh ta tập trung tâm vào chuyển động của bàn chân, anh ta phải nỗ lực tâm; nỗ lực tâm đó là "Chính tinh tiến" (Samma-vayama). Nhờ nỗ lực tâm đó, anh ta có thể tập trung tâm để anh ta có thể tỉnh thức đối với chuyển động của bàn chân. Sự tỉnh thức đó là "Chính niệm" (Samma-sati) bởi vì nó dẫn anh ta đến sự hiểu biết đúng đắn, chân thực các quá trình thân và tâm. Khi tâm anh ta được tập trung vào chuyển động của bàn chân, nó được định vào bàn chân trong giây lát nhưng khi định này trở nên liên tục và không dứt, mạnh hơn và sâu hơn, sự định tâm đó là "Chính định” (Samma-samadhi). Khi mới bắt đầu tập thì tâm lăng xăng là điều tự nhiên. Mặc cho thiền giả nỗ lực bao nhiêu, lúc đầu tâm cũng không chú ý vào chuyển động của bàn chân. Sau đó một trong những trạng thái của tâm phát sinh cùng với sự tỉnh thức chính niệm đối với chuyển động của bàn chân sẽ dẫn tâm hướng đến đối tượng của thiền, có nghĩa là chuyển động của bàn chân. Trạng thái tâm mà dẫn tâm đến đối tượng của thiền là "Chính tư duy" (Sammà-sankappa). Đặc tính của “Chính tư duy” là hướng tâm đến đối tượng của thiền. Cứ thế, tâm trở nên tập trung tốt hơn vào đối tượng của thiền - chuyển động của bàn chân. Sau đó, nó thâm hiểu bản chất thực của quá trình chuyển động thuộc về thân - biết nó như là một quá trình tự nhiên. Cái biết hay cái hiểu đó về chuyển động của thân như là một quá trình tự nhiên là "Chính kiến"(Sammà-ditthi). Do đó chúng ta đã phát triển năm yếu tố thuộc tâm của Bát chính đạo khi chúng ta tỉnh thức đối với chuyển động của bàn chân. Chúng là:

Samma-vayama - Chính tinh tiến
Samma-sati - Chính niệm
Samma-samadhi - Chính định
Samma-sankappa - Chính tư duy
Samma-ditthi - Chính kiến

Năm yếu tố thuộc tâm này được bao hàm trong sự ý thức rõ ràng các quá trình thân-tâm như chúng là. Trong khi thực hành thiền tỉnh thức, chúng ta kiềm chế được tà ngữ, tà nghiệp và tà mạng. Sự tiết chế tà ngữ có nghĩa là "Chính ngữ" (Samma-vaca), tiết chế tà nghiệp có nghĩa là "Chính nghiệp" (Samma-kammanta); tiết chế tà mạng là "Chính mạng" (Samma-ajiva). Vì thế chúng ta có tất cả tám yếu tố thuộc tâm của Bát chính đạo trong khi chúng ta ý thức rõ ràng bất kỳ một quá trình thân hay tâm nào. Khi chúng ta phát triển Bát Chính Đạo, chúng ta có thể xóa bỏ được những quan niệm sai lầm (sakkàya-ditthi hay atta-ditthi) nhờ sức mạnh của Chính kiến (Samma-ditthi), một trong những yếu tố của Bát Chính Đạo. Do đó, khi một thiền giả bước vào Con Đường Thứ Nhất, Sotapatti-magga, anh ta đã phát triển hoàn toàn Bát Chính Đạo - Magga-sacca, con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau. Đây là phương pháp anh ta nhận biết Tứ Diệu Đế bằng cách nuôi dưỡng sự tỉnh thức chính niệm đối với các quá trình thân và tâm theo đúng bản chất thực sự của chúng.

-ooOoo-

CHƯƠNG 2. NHỮNG CHỈ DẪN BAN ĐẦU CHO CÁC THIỀN GIẢ

Trong các giáo pháp của Đức Phật, có ba pháp tu:

- Tu giới (sila),
- Tu định (samadhi), và
- Tu tuệ hay giác ngộ.

Khi chúng ta thực hành giới, có nghĩa là phải giữ gìn lời nói và hành động, tức phải tuân giữ ít nhất năm giới hay tám giới đối với người tại gia, 227 giới hay giới luật (tức là Patimokkha) đối với Tăng Già (cộng đồng các vị Tăng sĩ). Khi chúng ta tiết chế những lời nói và hành động độc hại, tức là chúng ta hoàn toàn giữ được những giới này.

Khi chúng ta giữ năm giới, chúng ta phải kiêng giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối và sử dụng bất kỳ một chất làm say nào.

Giới thứ nhất, không giết hại, có nghĩa là ngăn giữ những hành động độc hại. Giới thứ hai, không ăn trộm và sở hữu bất hợp pháp những thứ mà người chủ sở hữu không cho, có nghĩa là ngăn giữ những hành động độc hại. Giới thứ ba và giới thứ năm cũng như vậy, có nghĩa là không tà dâm và kiêng các chất làm say. Giới thứ tư, không nói dối là kiềm chế những lời nói sai và độc hại. Vì thế, nếu chúng ta ngăn giữ những lời nói và hành động độc hại, giới của chúng ta được giữ trọn.

Trong khoá tu thiền, bạn phải giữ tám giới để bạn có thể có nhiều thời gian hơn cho thiền.

Giới thứ sáu là không được ăn sau buổi trưa (cho đến bình minh sáng hôm sau). Mặc dù bạn phải kiêng ăn bất kỳ một loại thức ăn nào trong khoảng thời gian này, nhưng bạn vẫn có thể dùng mật ong và một loại nước hoa quả nào đó như nước cam và chanh.

Để giữ giới thứ bảy, bạn không được nhảy, h