Con đường mở rộng

Mục lục

Lời giới thiệu

Tôi thường học hỏi được rất nhiều từ những học trò của tôi. Với tôi, học trò cũng là thầy. Sư cô Chân Không là một trong những người ưu tú nhất trong số những học trò như vậy. Để tôi kể cho quí vị nghe một trong những bài học quan trọng mà tôi đã học được từ sư cô. Đó là vào năm 1966. Cuộc chiến tại Việt Nam đang càng ngày càng khốc liệt. Tôi mải miết nghĩ cách để vận động nhiều vị tôn đức trong Giáo Hội chịu cùng đứng ra kêu gọi chấm dứt chiến tranh, và nhiều khi không thể nuốt trôi miếng cơm nào mỗi khi nghe tin một trận chiến khốc liệt vừa xảy ra. Bữa đó, tại chùa Pháp Vân ở Phú Thọ Hòa, sư cô Chân Không, đang chuẩn bị một dĩa rau thơm cho món phở, sư cô quay qua hỏi tôi: “Bạch Thầy, Thầy có thể cho con biết những loại rau thơm này ở miền Bắc gọi là gì không?” Nhìn sư cô đang cẩn trọng đặt những nhánh rau vào chiếc dĩa lớn với tất cả sự chú tâm, tôi bỗng bừng tỉnh. Sư cô có khả năng duy trì sự chú tâm vào những cọng rau thơm. Và tôi nhận ra rằng tôi cũng nên học để tâm tới những nhánh rau, chứ không phải chỉ nghĩ về chiến tranh mà thôi. Thầy trò chúng tôi trao đổi với nhau mười phút về những loại rau thơm ở miền Nam, Trung và Bắc. Tâm trí tôi thoát khỏi những suy nghĩ về cuộc chiến trong khoảng thời gian đó đủ giúp tôi lấy lại được sự cân bằng mà tôi đang rất cần. Năm 1968, khi sống ở miền Nam nước Pháp, tôi đã phát hiện ra những loại rau thơm của vùng Provence với tất cả sự chú tâm và thích thú.

Nhiều năm sau, một người bạn Hoa Kỳ hỏi tôi: “Thưa Thầy, Thầy trồng rau xà lách làm gì cho mất thời gian. Thầy dành thời gian đó để làm thơ có hơn không? Ai mà không trồng được rau xà lách, nhưng ít ai có thể sáng tác những bài thơ sâu sắc như thơ của Thầy.” Tôi mỉm cười đáp: “Bạn ơi, nếu tôi không trồng những cây xà lách thật chánh niệm như vậy thì tôi không làm ra những bài thơ như vậy được.” Tôi đã không tiết lộ rằng câu trả lời của tôi có xuất xứ từ bài học với sư cô Chân Không mười hai năm trước. Cho đến hôm nay, tôi vẫn tiếp tục học từ sư cô. Một vị thầy luôn nên có khả năng làm học trò và một đệ tử cũng luôn phải cùng lúc làm thầy. Nhớ được điều này, cả thầy và trò sẽ cùng lợi lạc.

Điều khiến tôi khâm phục nhất ở sư cô là khả năng sống an lạc và hạnh phúc. Niềm tin vững chắc của sư cô đối với giáo pháp ngày càng được củng cố khi sự tu tập không ngừng mang lại cho sư cô hoa trái của chuyển hóa, chữa trị và niềm vui. Sự vững chãi, an lạc và hạnh phúc của sư cô là nguồn động viên nhiệm màu cho rất nhiều các bạn ở Làng Mai cũng như trong đại gia đình tăng thân. Nguồn vui của sư cô là làm việc giúp người và giúp chuyển hóa xã hội. Nằm sâu bên trong những công tác của sư cô là một tình thương lớn và sự quan tâm sâu sắc. Chân Không cũng có nghĩa là tình thương đích thực. Câu chuyện cuộc đời sư cô vượt xa những gì ngôn từ có thể diễn tả, đó là cả một bài Pháp sống.

Thật tiếc là cuốn sách này còn quá ngắn, không chuyển tải hết sự sâu sắc và sống động những gì sư cô đã đi qua. Sư cô còn rất nhiều chuyệnđể kể cho chúng ta, có thể dài gấp 10 lần cuốn sách này. Nhưng sư cô là một nhà hoạt động xã hội hơn là một nhà văn, và hiện tại chúng ta phải bằng lòng với tác phẩm này thôi. Nếu có cơ hội tiếp xúc với sư cô, quí vị đừng quên xin sư cô chia sẻ cho nghe những kinh nghiệm của sư cô. Quí vị sẽ học hỏi được rất nhiều. Sư cô đích thực là một vị bồ tát.

Thích Nhất Hạnh Làng Mai, Pháp Quốc - Tháng 5, 1993

Chương 1: Gốc rễ

Phước đức, hạt giống thương yêu

Tôi sinh vào năm Cọp, 1938, tại xã An Hội tỉnh Bến Tre, người con áp út trong gia đình, bảy gái, hai trai. Gia đình bên nội tôi, di cư vào Nam từ xứ Quảng (Quảng Nam hay Quảng Ngãi chi đó), đã tám đời làm nghề nông ở làng An Định, huyện Mỏ Cày. Ruộng đồng trên châu thổ sông Cửu Long rất màu mỡ, cây trái nào trồng ở đây cũng trĩu nặng quả thật to mà không cần phân bón. Vừa rời phà Rạch Miễu, bước chân lên bờ là bạn sẽ thấy xanh mướt những dừa là dừa, những cây chuối, bụi chuối, và những vườn chuối nhiều như rừng. Cây chuối, cây dừa nào cũng mập, bụ bẫm, chứ không khẳng khiu như các thân chuối ở đèo chuối Tây Nguyên. Thôn làng nam Việt Nam thời xưa được chăm sóc bởi Ban Hội Tề gồm mười hai vị, ông nội tôi được bầu làm thủ bổn Ban Hội Tề suốt cả đời ông, vì ở xã An Định, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre ông nổi tiếng là rạch ròi về tiền bạc, liêm khiết và đức hạnh. Mỗi khi có lụt lội hay hạn hán Nội tôi thường yêu cầu Ban Hội Tề cho xuất quỹ làng nộp thuế đinh cho nhà nước thay cho những người dân nghèo không đủ ăn và không đủ tiền nộp thuế.

Riêng phần Nội tôi, khi có thiên tai thì đã không lấy thóc của người tá điền mướn đất làm thuê của mình, mà còn chia cho họ thêm lúa gạo của nhà khi nhà họ đói, số gạo mà chính Nội tôi và các bác tôi trồng, cấy và gặt, cũng còn là gạo thừa của các năm trước. Nội tôi thường nói với các bác, với ba tôi và với chúng tôi rằng: “Nội không nhiều ruộng vườn và tiền bạc như những nhà giàu ở An Định Mỏ Cày, Bến Tre, nhưng Nội để dành cho các con và các cháu của Nội nhiều phước đức. Các con cháu ráng mà sống cho có phước đức như Nội, ăn nhiều đời cũng không hết, ráng sống xứng đáng như Nội đối với gia đình đã đành và nhất là đối với đồng bào và đất nước mình”. Có thể vì thế mà con cháu của Nội hưởng nhiều phước đức của người. Đứa nào cũng có rất nhiều duyên may.

Gia đình bên ngoại tôi có một siêu thị lớn ở thị xã Bến Tre. Nghe má tôi nói rằng ông ngoại nhờ trí nhớ tài tình - Ngoại thuộc lòng cả cuốn tự điển Pháp Việt thời đó - nên tự biên thư sang Pháp đặt và nhập cảng những mặt hàng của Âu Châu như xoa (soie) Pháp, giày Bata, nón Tây và nhiều loại hàng hóa như một siêu thị của Pháp, nhờ thế gia đình cũng khá giả. Bà ngoại tôi chết sớm khi má tôi mới bảy tuổi và má tôi có người chị thứ sáu đảm đang, đứng ra lo chăm sóc siêu thị và dạy dỗ cậu Bảy tôi, má tôi và dì Chín. Mùa đông nào ông ngoại tôi cũng dạy các dì tôi đi mua chiếu để phát cho những người không nhà, nằm co ro ngủ trong các chợ trời hay các vỉa hè. Cậu tôi cũng đem tặng quà cho tù nhân hai lần mỗi năm.

Ba tôi

Ba tôi tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Gia Định về ngành vẽ truyền thần – trên tường nhà chúng tôi có hình ông bà nội, ông bà ngoại thật to 1mx1,50m do ba tôi vẽ thật sống động, như là người thật vậy. Vì nghề hội họa không đủ nuôi chín đứa con nên ba tôi chuyển sang ngành vẽ nhà cửa, vẽ công sở, đường sá, trường học cho Sở Công Chánh. Mỗi khi vẽ xong một trường học cho xã nào đó, ba tôi biết tính toán giúp luôn cho chương trình. Ví dụ như muốn hoàn thành xây một trường học thì công trình cần bao nhiêu bao xi măng, bao nhiêu thước cát, thước sạn, bao nhiêu kí sắt và bao nhiêu viên gạch, bao nhiêu miếng ngói. Ông kỹ sư Trưởng Ty Công Chánh, người Pháp, rất phục ba tôi vì ông thấy xây cất xong, công trình chỉ dư nửa bao xi măng và vài viên gạch bể mà thôi. Ông kỹ sư tự thú là không tính được như vậy nên rất quý mến ba tôi. Nhiều người giàu có trong tỉnh nghe tài ba tôi nên hay nhờ ba tôi vẽ giúp ngôi nhà tương lai của họ, tính toán vật liệu xây cất giúp... (thời đó ở quê tôi chưa có ông kiến trúc sư nào hết). Vẽ nhà, xây cất, làm ngoài giờ làm việc nên ba tôi cũng có dư chút tiền. Dư đồng nào ba tôi hay mua ruộng và giao cho mươi người tá điền chăm lo.

Mỗi năm họ đem tới cho ba tôi tiền bán lúa phần mướn đất của ba. Khi nào lụt lội hay hạn hán, ba cho miễn luôn việc trả lúa, nhưng khi được mùa ba tôi luôn khuyên họ nên để dành tiền, đưa cho ba tôi giữ và khi trả đủ tiền mua đất, ba làm giấy sang tên để họ được làm chủ đất của mình. Hơn mười hai người tá điền nhờ sự giúp đỡ của ba tôi mà trở thành chủ đất. Họ thương ba tôi còn hơn người thân của họ, vì thế khi Việt Minh đảo chánh Nhật và Pháp, bần cố nông lên nắm chính quyền, Việt Minh đã bắt tất cả những người làm việc trong chánh quyền thuộc địa trong đó có ba tôi. Nhưng chỉ vài tuần sau là ba tôi được trả tự do với một số ít người, số còn lại gần một trăm người bị thủ tiêu nơi nào mà gia đình cũng không tìm được tung tích. Ba tôi hay căn dặn: “Đi chợ trời, nếu các con thấy những người đứng bán vài bó bông súng, rau dừa, rau muống… giữa trời, cả buổi sáng để kiếm vài đồng nuôi gia đình, các con không được quyền trả giá nghe chưa? Vài đồng đối với họ là lớn lắm, đủ mua thêm gạo nuôi con họ.” Và tôi đã đem trái tim thương người nông dân của ba đi về tương lai. Tôi đang sống điều ước mơ của Nội: ráng sống xứng đáng với đồng bào và đất nước.

Má tôi

Má tôi cũng làm ra nhiều tiền nhờ nghề dạy nữ công gia chánh cho con gái nhà nề nếp. Họ tới nhà chúng tôi ở vài ngày hay vài tuần học thêu thùa, cắt may hay nấu những món khéo léo trước khi đi lấy chồng. Tiền công dạy học, má tôi mua cho mỗi con một ít nữ trang (một loại quỹ tiết kiệm) và giúp cho những người hàng xóm nghèo gầy vốn làm ăn sinh sống. Giúp một gia đình nghèo này mở quán cơm sáng cho dân lao động, giúp một chị chồng chết một ít tiền làm vốn đi bán chè xôi… Nếu làm ra tiền họ sẽ trả lại cho má tôi, nếu vì lý do nào thua lỗ thì má tôi cho luôn, không đòi nợ họ. Và họ đều trở thành con cháu trong nhà, xem má tôi là bà ngoại bà nội của họ.

Ba má tôi giống như hai cây sồi to lớn che chở không biết bao nhiêu sinh vật quay về nương tựa. Trong đại gia đình ở xã An Định, chỉ có ba tôi là người duy nhất có nhà ở thành phố Bến Tre. Toàn tỉnh này thời đó, chỉ ở thị xã Bến Tre mới có trường tiểu học. Nhỏ nhất là lớp Năm vỡ lòng rồi đến lớp Năm biết chữ, lớp Tư, lớp Ba. Sau năm lớp Ba sẽ được thi bằng Sơ Học Certificat d’Etudes Elémentaires. Xong mới lên lớp Nhì Một (Cours Moyen Premiere Année) và lớp Nhì Hai (Cours Moyen deuxième année) rồi lớp Nhất. Cuối năm lớp Nhất sẽ được thi bằng cấp cao nhất tỉnh Bến Tre là Certificat d’Etudes Primaires. Mỗi khi tới mùa thi Certificat d’Etudes Primaires là thành phố Bến Tre bỗng vui nhộn vì rất đông học trò từ các huyện về thi Tốt Nghiệp Tiểu Học: học sinh từ Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri và Tân Thuận... đều về trường tỉnh mới được thi. Thi đậu xong mà muốn học lên Trung Học phải đi Mỹ Tho (Tiền Giang bây giờ) để dự cuộc thi tuyển, không phải người có tiền muốn đi học trung học là được.

Mỗi năm Collège de Mỹ Tho chỉ chọn hai trăm học trò cho cả ba tỉnh Bến Tre, Mỹ Tho và Trà Vinh. Dân Bến Tre thường nổi tiếng chiếm sáu bảy vị trí đầu tiên vào Collège de Mỹ Tho. Các nhà khá giả hơn mới cho con lên Sài Gòn thi tuyển vào Collège Petrus Ký (cho nam học sinh) hay Gia Long (cho nữ học sinh). Học trường tiểu học cho tới lớp nhất là cao nhất, vì thế nên các con của bác Hai, bác Ba, bác Tư, bác Sáu, bác Chín và cô Út đều sang nhà của ba má tôi mà ở, ăn cơm và đi học tiểu học. Khi tôi 5 tuổi thì ba má tôi nuôi đến 22 “người con” vốn là các con của bác Hai, bác Ba, bác Tư, bác Sáu, bác Chín, cô Nhứt và có khi cả các con nhà chú nhà bác anh em họ của ba tôi nữa. Hai mươi hai miệng ăn toàn là con các chú cô của tôi nhưng nhà lại có thêm một cô bé lớn hơn tôi hai tuổi, chị Bê từ Huế vào. Dì Sáu tôi có chồng người Huế, dượng tôi là ông hoàng Ưng Lê thuộc phủ An Hiệp. Mỗi khi ngoài ấy có thiên tai, dì hay nhờ má tôi nuôi giúp vài trẻ nhỏ cha mẹ nghèo nuôi không nổi sau những trận lụt lội lớn và đói kém. Ba má tôi nuôi các cháu, cho ăn học và tới 18 tuổi thì cho phép các vị đó được trở về quê làm việc nuôi gia đình.

Khi tôi ba tuổi thì nhà đã có chị Bê, chị mới năm tuổi, được dì tôi gửi từ Huế vào. Má tôi cũng hứa khi được 18 tuổi sẽ cho chị về lại nuôi gia đình chị. Nuôi hai mươi hai miệng ăn không phải là chuyện dễ. Tới giờ ăn, đứa trẻ nào cũng ưa dành phần mình miếng thịt nướng hay phiến cá to và không bao giờ hài lòng với phần được chia. Vì thế chị Hai (cả) tôi phải chọn 22 miếng thịt hay 22 phiến cá, để thành vòng trên một chiếc mâm to, trước mỗi phần là một vài hạt cơm làm dấu. Chị đậy các phần lại bằng chiếc mâm thứ hai hay chiếc lồng bàn. Chị xoay mâm một vòng và dừng lại, các trẻ xúm nhau bốc một phần. Đôi khi miếng cơm làm dấu bên ngoài khá to mà miếng cá bên trong nhỏ xíu! Nhưng mà mình đã lỡ bắt thì phải chịu thôi.

Thanh quản của má

Má tôi hay làm thơ và ưa hát nên mấy anh chị em chúng tôi đều hát được. Sau này hai người con của má hay ca hát cho mọi người nghe là anh Sáu tôi và tôi, mặc dù chị Năm, chị Bảy và em Mười tôi cũng hát rất hay. Ngày xưa anh Năm yêu chị Năm cũng vì anh đàn guitare và chị Năm hát, anh Bảy yêu chị Bảy vì cũng đệm đàn và cùng nhau hát. Anh Bảy cũng rất nghệ sĩ, đàn và hát hay lắm, mà vì chiến tranh nên phải vào trường Võ Bị Đà Lạt và sau này chết ở chiến trường. Em Mười tôi cũng hát rất hay trong Ðoàn Sinh Viên Phật Tử và tôi nhớ nhiều cháu con của chị Ba tôi như Gaby, Danielle, con chị Bảy tôi là Thúy đều có giọng hát rất hay. Di thể ưa hát của má đã truyền đến anh Sáu tôi, biến thành những thanh quản kỳ diệu. Ca sĩ Cao Thái là anh thứ sáu của tôi đã làm bao nhiêu khán giả từ Âu sang Á say mê. Tôi thì không cho chuyện ca hát là quan trọng mặc dù miệng tôi lúc nào cũng ưa hát. Tôi ham làm một trăm việc khác, cũng từ những di thể từ bi của ba má và nội ngoại nên không bao giờ đi hát chuyên nghiệp như anh Sáu Cao Thái của tôi. Không ngờ trong mấy mươi năm gần đây, tôi theo Thầy đi dạy thiền quán, khi dạy về Niệm thân trong thân, tôi hướng dẫn thiền sinh nằm buông thư để phục hồi sự an bình và tôi khe khẽ hát. Tôi phổ nhạc những bài thơ của thầy Nhất Hạnh như bài Những Viên Ngọc Quý, Đây Là Tịnh Độ, Con Cá Dung Thông...

Tôi dựa theo các bản dân ca như Lý Con Sáo rồi tự sáng tác thêm lời thành Lý Ngồi Thiền, Cơn Giận Thành Hồ Sen để giúp người tu học. Các bài dân ca như Lý Giang Nam, Lý Đan Đệm đều được tôi viết lời mới và tự hát giúp thiên hạ nằm buông thư... Bài dân ca Qua Cầu Gió Bay được anh Chân Sinh đổi thành lời tu học cũng được tôi sử dụng để dạy cho thiền sinh Việt Nam, ai cũng thích... Une chanson Douce của Henri Salvador, nhạc Lullaby của Schwartz tặng con của Mozart, tôi đặt lời Pháp, Anh và Việt... Hàng ngàn thiền sinh Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Hòa Lan và Việt Nam bỗng yêu thích giọng hát nhẹ nhàng của tôi vô cùng. Không định làm ca sĩ mà có thể đĩa hát của tôi được phổ biến hàng chục ngàn bản rồi, hơn đĩa của Ca Sĩ Cao Thái nhiều lắm. Tôi hay nói thầm: Má ơi, má có biết là những thanh quản của má lên đường đi rất xa không? Có những thanh thiếu niên Hòa Lan, Pháp, Hoa Kỳ và Đức, được mẹ đưa tới chào tôi: Vì sư cô đã ru cháu ngủ bốn năm nay rồi..! hay ba năm nay rồi..! Trước đó cháu bị chứng bệnh trầm cảm nặng, sư cô đã cứu cháu!

Nhiều người Đức, Hòa Lan, Hoa Kỳ cứ tới khóa tu của Sư Ông thì đi tìm tôi để cám ơn: Nhờ sự hướng dẫn Thiền Buông Thư của sư cô mà tôi hết bệnh mất ngủ. Mới hôm tháng 9 năm 2007, có ba vị nữ Phật tử Việt Nam đến Tu Viện Lộc Uyển xin chụp một tấm hình với sư cô Chân Không, vì “nhờ nghe bài Con Cá Dung Thông sư cô hát mà chúng con ăn chay trường luôn!” Tôi về Việt Nam 2005, ghé qua miền Bắc mấy ngày, có chia sẻ thiền buông thư. Không ngờ hai năm sau trở về tôi bỗng “nổi tiếng” không chờ đợi. Hôm Trai Đàn Chẩn Tế ở Chùa Non, mỗi lần tôi đi qua đám đông (ở các chùa khác như Đình Quán hay Bồ Đề cũng vậy) thì có tiếng xì xào: Sư Cô Chân Không đấy con, ra chào sư cô đi và sau đó vị đó nói Mẹ con ngủ được nhờ sư cô dạy”, hay là “Cháu nó cứ đòi đi gặp sư cô thôi vì nó yêu tiếng hát sư cô rồi, cháu nghe đĩa của sư cô hoài!”, hay “Ô kìa, sư cô Chân Không mẹ ơi, ra xin chụp một tấm ảnh với sư cô đi mẹ. Thì ra họ đã chuyền nhau băng CD tôi dạy Thiền Buông Thư! Hàng chục nghìn băng đĩa ấy đã từ Mỹ sang Âu Châu, Á Châu, Úc Châu... và tới tận những hang cùng ngõ hẻm của Việt Nam. Thanh quản của má tôi đã đưa hai mẹ con tôi đi thật xa trong sự nghiệp giúp người buông xả, hướng về đường thánh thiện. Con cám ơn má. Cám ơn thanh quản của bà ngoại và má...

Má ơi, con muốn đi học

Có thể tôi có được cái di thể trí nhớ dai của ông ngoại nên năm mới lên ba, tôi đã thuộc lòng hết các bài tập đọc trong ba cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà các anh chị ruột và anh chị họ đi học về hay đọc to lên. Tôi chưa biết dù là một chữ a, b, c nào hết nhưng phải mở đúng trang đó tôi mới chịu đọc bài đó. Mỗi khi khách đến chơi, người lớn trong nhà hay “khoe”: Cháu mới ba tuổi mà đã biết đọc rồi. Mời cô dạy cháu đọc bài nào đi. Người khách mở trang nào tôi cũng nhận ra hình vẽ đó là của bài văn đó nên đọc vanh vách trọn bài khiến khách rất “nể”. Tôi cũng rất ưa đi học. Mới ba tuổi rưỡi vừa tập nói thì tôi đòi đi học: “Má ơi, con dài bằng cái gối dài này rồi, sao con chưa được đi học?”

Một bữa khác lượm được cái chổi lông gà để quét giường, (trong Nam gọi giường ngủ bằng gỗ là bộ ván hay bộ ngựa gồm ba hay bốn tấm gỗ to dài và dẹp. Gỗ bào rất láng, màu mun đen, kê trên hai “chân ngựa” dài ở hai đầu miếng gỗ. Có lẽ vì thế mà gọi là bộ ván vì gồm bốn tấm ván lớn, hay bộ ngựa vì kê trên hai đòn dài gọi là chân ngựa) tôi đứng so mình với cây chổi lông gà rồi phàn nàn là: “Con cao bằng cây chổi lông gà rồi mà chưa được đi học!” Trường tiểu học thời đó chỉ nhận trẻ em từ sáu tuổi. Từ khi tôi ba tuổi rưỡi đến bốn tuổi, người lớn trong nhà tôi cứ nghe tôi lải nhải đòi đi học và vì thấy tôi cũng thuộc hết cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư nên phải tìm những cô giáo mở lớp dạy học riêng tại nhà để gửi tôi đến “trường”. Lớp cô Hai Tài ở Phú Khương, cách nhà cả hơn một cây số. Thế là chị Bê được công tác vừa đi học, vừa đưa tôi tới lớp, hai chị em đi bộ. Lớp học đông và vui lắm, tôi hạnh phúc lắm. Nhưng nhìn qua nhìn lại, tôi tự thấy mình bé quá, không giống các anh chị học trò lớn ôm cặp to, áo quần lem luốc mực, trông thật “oai” như học trò thứ thiệt! Tôi cũng cẩn thận cắp sách đến trường mỗi ngày, cũng ôm bình mực tím có sợi giây đen tòng teng trên ngón tay mà chẳng ai thấy cả! Hôm ấy tôi “làm gan” cố ý tự đổ nhiều giọt mực trên áo, vài vết mực trên quần cho... giống học trò lớn! Tôi cũng biết trước là về nhà sẽ bị chị Hai khẻ tay nhưng không sao.

Chị Hai tôi như một bà mẹ nhỏ, chị chăm sóc tắm rửa cắt móng tay móng chân cho chúng tôi vì mẹ tôi có đông con quá mà còn dạy nữ công cho các thiếu nữ đến học nên ít giờ chăm sóc cho con. Chiều nào chị cũng tắm và bắt chúng tôi mang guốc cho sạch sẽ, nhưng tôi thì rất thoải mái khi đi chân không! Vì thế mà chiều nào cũng bị khẻ chân. Có lẽ tôi là người “ăn đòn” của chị Hai nhiều nhất vì áo quần thốc thếch. Em Mười, em út của tôi thật xinh, da mịn mềm, có nhiều áo lụa hoa đủ màu, lúc nào cũng sạch sẽ. Riêng tôi thì ngay cả sợi dây lưng quần cũng rơi đâu mất hoài nên tôi chỉ vận quần trái ổi cho mau! Ai cũng gọi em Mười là “cưng”, tôi cũng gọi em là cưng và cũng ưa hôn vào gò má mịn và thơm của em. Em ưa chơi búp bê, còn tôi thì không cần các thứ ấy. Lúc tản cư ở nhờ nhà cô dượng Hai trong vườn dừa và chuối, tôi lượm các trái dừa con, chơi cũng đủ vui.

Niềm vui bé nhỏ

Sau hơn một năm di tản về quê nội, gia đình tôi về lại nhà ở Bến Tre, tôi có niềm vui chọn một góc vườn nhỏ để gieo hạt các loại hoa trồng vào dịp Tết như bông vạn thọ, bông nở ngày, bông mồng gà, bông cúc và bông móng tay... Mỗi ngày tôi tưới nước và quán sát từng thời điểm các hạt vạn thọ nứtmầm, hạt cho hai lá con, rồi ba lá rồi bốn lá... Đây rồi, hôm nay là mồng bảy tháng Chạp, những cây vạn thọ con của tôi đã cao lên mười hai phân, rồi ba mươi phân. Lá xanh bụ bẫm... Tới 23 Tết, các nụ hoa to và xanh rờn hôm tuần trước nay đã ửng vàng, hứa hẹn sẽ cho những đóa vạn thọ vàng óng ả, sẽ nở đúng ngày 28, 29 hay 30 tháng Chạp. Có thể đem bán ra chợ hay trưng bày trên các bàn thờ. Đó, “công trình” đầu tiên của cô bé 7 tuổi ưa lêu lổng, không ưa làm thiếu nữ thùy mị. Hoa nở ngày, hoa mồng gà của tôi cũng làm đẹp vườn nhà. Nhưng ít ai để ý. Đó là niềm vui thầm lặng của tôi.

Mới 4 tuổi đã được đi học, nên khi vào tiểu học, lúc nào tôi cũng đứng đầu lớp và cũng làm bài giúp cho các bạn cùng lớp và... sẵn sàng nhận quà của họ: có khi là trái ổi, có khi là chuối nướng... Bây giờ đi tu, nhìn sâu, tôi thấy giống như đó cũng là một loại... “tham nhũng”!

Tập khí láu ăn, ở dơ và coi thường bề ngoài

Em Mười vì là “cưng” nên có quà người này người kia cho. Tôi thuyết phục suốt buổi, em Mười mới cho tôi cắn chút xíu chiếc bánh của Mười. Vì thế nên khi có bánh, tôi nhớ lại những lúc phải năn nỉ cô bé suốt thời gian năm bảy phút - thật dài! - chờ rất lâu (nhưng “quên” giây phút được Mười, cuối cùng thì cũng chia một miếng bánh nhỏ cho tôi) nên tôi không cho em ăn bánh của tôi mà còn kể tội... lia lịa và cuối cùng cũng không cho em miếng nào! Láu ăn, ở dơ, coi thường bề ngoài là tập khí có từ khi ấu thơ và… mãi đến bây giờ. Tu chánh niệm, tập nhìn sâu và quán sát từng tập khí, thỉnh thoảng tôi vẫn nhận diện được tánh láu ăn biểu hiện vi tế qua những cái sáng mắt khất thực ngay món tàu hũ chiên ưng ý (chắc sợ người khác thỉnh trước mình!).

Ba mẹ tôi nuôi chín đứa con và cưu mang nhiều cháu quá nên không thể cho mỗi đứa nhiều hơn một xu làm quà sáng (khoảng năm 1943). Một xu thì chỉ mua được một củ khoai lang, khoai từ hoặc khoai môn thôi. Tôi nhìn các bạn đi học, được năm xu ăn bánh mì cặp xíu mại hay ăn tô hủ tiếu, tô bún bì mà tủi thân. Tôi phát nguyện là ngày sau lớn lên, làm việc có tiền, sẽ ăn bánh mì xíu mại và bún bì, hủ tiếu, sáng, trưa và chiều mỗi ngày, không thèm ăn cơm! Mỗi bữa đến trường, khi đến giờ ra chơi, thấy các bạn ăn bún bì, gỏi cuốn, bì cuốn... tôi cũng thèm có món gì mặn mà hơn là củ khoai lang nên nhất định gói theo thức ăn mặn vào lớp để ăn vào giờ đó. Mỗi khi nhà có ăn trứng luộc xắm nước mắm chấm bầu luộc, tôi chỉ ăn bầu chấm nước mắm và gói kỹ cái trứng luộc với chút muối tiêu, để dành đem vào trường học mà ăn vào giờ ra chơi. Tới giờ ra chơi, tôi đập chiếc trứng đã luộc, bóc vỏ trứng ra, tách từng lớp mỏng lòng trắng trứng, chấm vào muối tiêu và thưởng thức vị đậm đà của lòng trắng trứng với muối tiêu! Ôi là thiên đường! Sau năm bảy lớp lòng trắng trứng mỏng, người thưởng thức đã đi vào đến “mặt trời hồng ửng chín”, tức là lòng đỏ trứng - ôi, là ngon! Tôi tách từng phiến lòng đỏ trứng và bỏ vào miệng để cho nó tan vào lưỡi, ngon vô cùng. Sau này sang Tây Phương, tôi thấy các cháu Tây Phương không trân quý trứng, cứ tìm thịt cá mà ăn.

Tôi đã dạy các cháu cách ăn trứng có ý thức, nếm chầm chậm, từng lớp rồi từng lớp trứng. Các bạn tôi gọi đùa: Này các con, hôm nay chúng ta sẽ ăn trứng theo lối cô Phượng dạy nhé! Đó chỉ là một cách ăn chánh niệm. Nhưng từ năm 2006 khi đọc những báo cáo của Liên Hiệp Quốc về những hóa chất bốc lên từ phân thú vật của những nông trại chăn nuôi khổng lồ để làm ra thịt, sữa bò và trứng gà nuôi kỹ nghệ nên Thầy dạy các đệ tử của Thầy ở các trung tâm vốn không ăn thịt cá xưa nay, giờ cũng ngưng uống sữa bò và ăn yaourt sữa bò (thay vào là sữa và yaourt đậu nành rất ngon mà thanh), ngưng luôn ăn cheese (fromage) và trứng mà ai cũng khoẻ.

Tết của tuổi thơ

Dù đang chiến tranh, Tết của tuổi thơ tôi cũng có những ngày thật ngọt ngào. Tôi nhớ lắm những Tết ở quê nội. Sáng sớm tinh sương ngày mồng Một, các cô bé chú bé chúng tôi chạy ra sân, dùng chiếc gáo dừa nhỏ múc nước trong bể xi măng, súc miệng và cười ríu rít. Đất quê thơm lừng mùi rơm rạ. Vườn mai đã nở rộ ngoài sân, vàng rực. Bà nội cười hả hê vì hai tuần trước Nội đã cẩn thận trảy hết lá để hôm nay, mồng một Tết, mai nở kịp ngày. Chúng tôi chải răng cho nhanh để rồi còn vào mặc áo dài mới mà đi lạy và mừng tuổi ông nội bà nội trước nhất, rồi đến phần mừng tuổi các bác các cô, rồi mới mừng tuổi ba và má. Sáng sớm ông bà nội đã ngồi uống trà bên nhau. Ông mang một xâu tiền đồng, để khi con cháu đảnh lễ lạy mừng tuổi thì ông sẽ cho.

Chúng tôi chờ hai bác Hai tới. Bác Hai lên đèn trên bàn thờ Cố, chân đèn, lư hương bằng đồng sáng chói. Mấy tuần trước cả nhà đã nấu một nồi me và khế để chùi tất cả các lư hương, các chân đèn bằng đồng của năm chiếc bàn thờ trong phòng khách cho sáng choang. Chân đèn nào cũng có một chiếc đèn sáp đỏ to, tròn, cao, bóng láng, tuyệt sạch có ba chữ Phước, Lộc, Thọ. Bàn thờ nào cũng có cặp dưa hấu tròn có dán hai miếng chả đỏ có chữ Phước và Đức. Trên mỗi bàn thờ đều có chưng một cành mai sáng rực và một đĩa trái cây có đủ xoài, cam, quýt, vải, đu đủ.... Lên đèn, thắp nhang, khấn vái và lạy ông bà cố xong, hai bác Hai quay sang đảnh lễ nội. Bác Hai khóc vì thấy nội đã già, sợ không sống lâu với con cháu, nhưng khóc còn vì vui thấy hai nội còn được ăn Tết năm nay.

Kế đến hai bác Ba, bác Tư gái, hai bác Sáu, cô Bảy, hai bác Chín và ba má tôi (ba tôi là chú Mười con trai út của nội), cô Nhất là con gái út và tất cả các anh chị con các bác đều thay phiên đến mừng tuổi nội, rồi mới đến chúng tôi, đứa nào cũng rất hạnh phúc được nội cho một đồng xu sáng loáng. Bác Hai, rồi bác Ba lại ngồi lên bộ ngựa giữa nhà để chờ con cháu đến đảnh lễ và mừng tuổi. Người lớn thường cho người nhỏ tiền, còn người nhỏ thì chỉ cho người nhỏ hơn mình. Tôi là con áp út của người con trai út của nội tôi, nên túi của tôi, tha hồ mà đầy ắp tiền lì xì của ông bà cô bác ba má anh chị... Tôi chỉ phải ngồi lên cho em Mười mừng tuổi và lì xì cho em tôi một ít tiền của tôi thôi. Tiếng nô đùa ngoài sân của mấy người anh chị họ cùng tuổi như tôi khiến chúng tôi vui nức lòng, họ reo hò giữa những tiếng pháo lách tách... đùng, kéo chúng tôi chạy nhanh ra cổng. Vườn mai nhà nội rực sáng một rừng hoa. Và những giàn trầu màu xanh ửng vàng óng ả, những giàn trầu nhà nội, ôi quê hương tuổi nhỏ của tôi! Bây giờ, nhìn sâu tôi mới hiểu vì sao trong thời gian chiến tranh, lúc ấy tôi đã lớn, đã đi dạy học rồi mà mỗi lần đi cứu trợ hay đi đến đâu, khi nào mà nhìn thấy một vườn trầu là trái tim tôi mềm ra, thổn thức và cảm động.

Tới năm 12 tuổi tôi mới được thức khuya theo người lớn, ngồi canh nồi luộc bánh tét, bánh chưng thức đến 12 giờ khuya để chờ bánh chín và nghe người lớn kể chuyện Ma Vương và Bụt trong ngày Tết và để nghe tiếng gọi của đầu năm. Đó là tiếng gà gáy lúc mới rạng mồng một Tết hay tiếng chó sủa, tiếng nói cười... Mỗi âm thanh nghe trước nhất trong ngày đầu năm đều có ý nghĩa riêng của nó. Ví dụ người xông đất năm đầu tôi được thức khuya là chú tư Hiển. Thế là hiển vinh thế nào cũng đến với đại gia đình. Hôm qua là ngày 30 Tết, bữa cơm cúng ông bà ngày 30 Tết năm nào cũng thật thịnh soạn có dưa giá, dưa hành ăn với thịt heo kho với trứng, có nồi cá lóc kho, có canh khổ qua dồn chả, có dưa cải, dưa kiệu, dưa chua, có bánh tét, dưa món, xôi gấc, thịt luộc, chả tôm, có mắm thái, gỏi đu đủ rau thơm, dưa hấu... Tối lại còn đón ông Táo từ Trời về lại nữa, chúng tôi được ăn chè bông cau có nước dừa rất ngon của chị Nhứt con bác Hai. Còn hôm đưa ông Táo ngày 23 tháng Chạp thì ăn chè trôi nước của bác Chín gái. Về đây ăn Tết, người lớn ưa các món kể trên nhưng tôi chỉ “mê” món cơm cháy nhà nội. Khi con cháu về đông bác Sáu nấu cơm bằng chảo thật to. Xúc cơm ra còn miếng cơm cháy thật lớn, cơm cháy dòn to nguyên một lòng chảo 60 phân đường kính vừa mỏng vừa dòn.

Chị Ba Đổng chế vào dầu hành và rắc chút muối, chút đường, bẻ cho mỗi đứa một miếng, ăn vừa dòn vừa thơm! Mấy ngày trước Tết về quê nội chúng tôi có không biết bao nhiêu là cơ hội để quán sát. Gạo mới ngâm một đêm, đổ lên cối đá xay cho nhuyễn để làm bột bánh ít. Nếp mới, thơm, ngâm cả đêm, đậu xanh thơm mềm, hành phi dầu nêm muối tiêu bột nêm để làm nhân bánh tét, bánh chưng. Lá chuối xanh tươi mới chọn ngoài vườn, đem vào lau sạch để gói bánh chưng, bánh tét, bánh ít. Bánh nào cũng sẽ có một lớp diệp lục tố màu xanh phơn phớt trên nếp hay bột nếp mới.

Nhưng quê nội bị dội bom, nhà bác Chín, bác Tư, bác Sáu tức là nhà của nội và nhà bác Hai cũng đều cháy tiêu tan. Các chú bác bà con đều di cư ra tỉnh thành và tìm cách sinh sống ở phố chợ. Thiên đường tuổi thơ đã mất khi nhà nội bị dội bom. Đám tang bà nội linh đình bao nhiêu (vì lúc đó chưa có chiến tranh) thì khi ông nội mất, đám tang của ông tiêu điều bấy nhiêu. Khi ấy chúng tôi đang ở tỉnh lỵ Bến Tre không về An Định làm đám tang cho nội được vì chiến tranh đang hồi kịch liệt. Các bác Hai, Ba, Sáu và Chín lúc đó còn sống tại An Định cũng lo chu đáo cho ông nội tôi. Ba tôi rất đau buồn về điều ấy.

Chương 2: Hạt giống nhìn sâu

Con gái không được học cao, và người lớn được quyền đánh người nhỏ!

Chị Bê tuy lớn hơn tôi hai tuổi nhưng học yếu hơn bé Chín (là tôi) nhiều, bé Chín phải dạy kèm lại chị. Đến năm 18 tuổi chị Bê và anh Nhã, anh chàng hàng xóm nhà tôi yêu nhau và ba má tôi đã làm lễ vu quy cho chị, tặng chị nữ trang làm của hồi môn như là lo cho con gái của mình. Lên trung học, tôi may mắn được nhận vào trường Marie Curie và rời thành phố Bến Tre hiền lành lên Sài Gòn ở nhà người chị ruột là chị Ba. Noi gương ba mẹ, chị Ba và anh Ba đã cho tôi nương náu tại nhà anh chị để đi học mà ba má không phải trả đồng nào. Tôi may mắn được học lên trung học trong khi chị Cả là chị Hai của tôi - đảm đang và gương mẫu nhất trong gia đình, vốn là học sinh xuất sắc nhất lớp mà không được tiếp tục học lên trung học, tiếp tục con đường học vấn. Gia đình tôi và cả xã hội hồi đó bị ảnh hưởng Khổng giáo rất nặng. Hai điều mà Khổng giáo cho là “tiêu chuẩn mẫu mực” thì tôi đều không phục và bất tuân.

Tiêu chuẩn thứ nhất là: Phụ nữ phải tòng chồng, không cần học hành chữ nghĩa chi cho nhiều. Phụ nữ đi học vô ích. Đi học là để có nghề nuôi thân và nuôi con, phụ nữ chỉ học công dung ngôn hạnh thôi, tất cả việc còn lại thì để chồng lo và nuôi! Vì thế ba má tôi tính toán kỹ, với số lương của ba, chắc là chỉ đủ tiền cho hai người con trai đi học lên cao là anh Tư và anh Sáu thôi. Bảy người con gái chỉ nên học để biết viết, biết đọc, và làm toán, biết tính sổ sách cho gia đình, xong Certificat d’Etudes Primaires là đủ. Vì thế học xong tiểu học, tuy là chị Hai tôi đứng đầu lớp, ba má vẫn giữ chị ở nhà. Chị đã khóc rất nhiều nhưng cũng phải ở nhà thôi. Tiêu chuẩn Khổng giáo thứ hai là: Thượng áp hạ. Người sinh ra trước khôn ngoan hơn, người nhỏ phải tuân theo, không có quyền cãi lại. Tôi không tin đều đó là đúng. Bởi vì rõ ràng, chị Tám tôi, hơn tôi ba tuổi thật đấy, nhưng đâu có giỏi gì hơn tôi, có khi còn làm sai lầm lớn, bị má và chị Hai phạt nữa. Thế mà mỗi lần có sự bất đồng ý kiến giữa chị và tôi, chị đều nói: Em im miệng, thượng áp hạ, em phải nghe lời chị, không nghe chị đánh. Tôi nói: Chị nói sai, em mới đúng, em không im. Chị bảo: Em phải làm theo, hoặc là em im cái miệng của em lại, không nghe chị sẽ đánh. Tôi nói: Em đúng, em không làm theo chị, em không im. Thế là chị Tám tát vào mặt tôi một cái đau điếng, tôi không đánh lại nhưng tôi nói: Ỷ lớn ăn hiếp người nhỏ, em không phục, em không làm theo, em không im. Thế là chị tát vào mặt tôi thêm lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, lần thứ năm.

Tuy tôi không đánh lại nhưng lần nào tôi cũng nói: Không phục, không sợ, không im. Chị cứ đánh túi bụi, tôi không đánh trả, nhưng cứ nói một cách hùng tráng: Em không phục, không sợ, không im. Cho tới khi bị đánh đau quá, tôi chịu hết nổi, bỏ chạy vừa la lớn: Em không phục, không sợ, không im! Câu chuyện đến tai má và chị Hai. Ai cũng theo đúng tiêu chuẩn Thượng Áp Hạ nên tôi vẫn thua, nhưng trong lòng tôi không phục cái khuôn thước nào đó mà cả nhà tuân theo như khuôn vàng thước ngọc. Và tôi vẫn tin là mình có cái thấy sâu sắc, mình đi đúng đường. Rất nhiều lần tôi bị đánh như thế bởi vài người lớn khác, tuy không cãi lại nhưng tôi vẫn tin là mình đúng. Hai mươi năm sau, cả nhà mới biết là tôi đi đúng đường. Và cả đại gia đình đều thừa hưởng cái sâu sắc bao dung đẹp đẽ của con đường tôi đi. Chắc chắn là trước khi biểu hiện trong bụng má, tôi đã mang theo tàng thức của ông bà nhiều kiếp trước, có những tính khí khác tám người con khác của ba má. Chắc chắn là tôi nhận được rất nhiều hạt giống cách mạng và hạt giống tu học.

Nhìn sâu và tại sao?

Các chị khác như chị Ba, chị Năm, chị Bảy, chị Tám cũng không được ba má cho học lên trung học nhưng bù lại thì ba tôi cho các chị đi Sài Gòn, theo một trường tư nhân, học nói tiếng Pháp - chỉ sáu tháng thôi. Riêng tôi, được trường Marie Curie chấp nhận sau khi xem học bạ tốt bên trường Tiểu Học Bến Tre. Ở Trung Học Marie Curie, tôi đã luôn luôn là một trong năm người đứng đầu lớp. Mỗi tháng bà hiệu trưởng người Pháp mặc áo costume-tailleur thật sang trọng, đi giày cao gót cộp cộp thật oai vệ, theo sau là ông giám học và một vài phụ tá đem “tableau d’honneur” màu đỏ chói đến gọi tên năm học trò học giỏi nhất lớp lên nhận. Không tháng nào là tôi không có tableau d’honneur. Trường này không phải đóng tiền học như các trường tư thục khác và chỉ gồm những người con nhà giàu. Tôi cũng không có tiền túi ăn quà nhiều như các cô gái sang trọng kia, và đã đứng nhìn các cô gái nhà giàu ăn kem Eskimo - kem sữa trắng bọc một lớp sô cô la mỏng và dòn - 5 đồng một cây - xem họ như thuộc thế giới khác. Mỗi sáng tôi chỉ xin 2 đồng mua bánh mì cặp chả mà ăn. Mì nước, phở, hủ tiếu hay kem Eskimo giá đến 5 đồng mới có ăn. Tôi không muốn xài tiền của ba tôi nhiều hơn số tiền ăn sáng tối thiểu của một học trò nhà nghèo (như là mỗi sáng một củ khoai lang ngày xưa). Xa nhà, có dịp tiếp xúc nhiều và đủ tuổi để quán chiếu, nhìn sâu hơn, tôi đã bắt đầu manh nha trong tâm nhiều tư tưởng “cách mạng” từ lúc mười hai mười ba tuổi ấy. Vì tôi ở xa mà học giỏi nên ba tôi dặn chị Ba giữ một số tiền để tùy tôi sử dụng khi cần. Ba tôi tin tôi đủ tinh thần trách nhiệm sẽ không phí phạm, có thể sử dụng đúng mức những số tiền cần xài cho việc đi học trung học của tôi. Và tôi đã xứng đáng với niềm tin ấy, không bao giờ lấy tiền đó ăn sáng, mua bì bún hay hủ tiếu ăn như ngày xưa tôi đã từng ước mơ! Những giấc mơ ăn ngon đó tôi muốn cống hiến cho các em bé nhà nghèo, chưa bao giờ được ăn nguyên một đĩa mì, một tô hủ tiếu ngon, ở các hiệu ăn nổi tiếng mà các em chạy quanh tìm cách xin đánh giày để có tiền đem về cho mẹ.

Ba tôi thường đi Sài Gòn do sở Công Chánh đặc cử để mua xi măng, gạch ngói cho các công trình xây cất của sở cho tỉnh nhà. Mỗi lần từ Bến Tre lên Sài Gòn như thế, ba tôi hay ở lại đêm, sáng hôm sau mới về lại Bến Tre, tối đến ba tôi rủ cả nhà đi chơi. Những tối như thế ba tôi hay mời cả nhà đi ăn nhà hàng, ăn mì xào dòn hay xào mềm, mì nước, hoành thánh ở đường Nguyễn Tri Phương hay hủ tiếu Nam Vang ở Chợ Cũ... Có khi thì cả nhà kéo nhau đi ăn chả giò ở đường Chaigneau, ăn phở chín ở đường Turcq, phở tái ở số 79 đường Võ Tánh, khi thì ăn cơm gà luộc ở chợ An Đông... Sau đó ghé vào chơi ở Đại Thế Giới, có ngồi loại xe điện để trẻ con ngồi lái, chạy đụng nhau cho vui... Đi một vài lần cho ba vui nhưng tôi không cảm thấy thoải mái trong không khí ăn chơi đó. Trong cái đầu nhỏ bé của tôi, tôi thấy có cái gì bất công trong cách sống của mọi người. Tôi không muốn bị cuốn vào guồng máy đó. Những câu hỏi như: Tại sao tôi lại được đi học, có cơm ăn, có tiền xài trong khi nhiều em bé còn nhỏ đã bị đánh đập, bắt đi làm thuê, bán báo, đánh giày, ở đợ và không được đến trường? Có khi thiếu ăn quá, đói, các em phải ăn cắp, bị bắt và đi tù. Tại sao? Tại sao?

Kèm trẻ để có tiền tự túc

Tôi bắt đầu im lặng từ chối theo ba và các anh chị lớn đi ăn tiệm mỗi tối khi ba lên Sài Gòn, tôi viện cớ bận làm bài thi v.v.., nhưng thật ra tôi đã làm xong bài từ buổi trưa. Buổi chiều tôi tìm cách xin đi kèm trẻ về toán và văn để có thêm tiền túi. Tiền làm ra tôi mời các cháu đánh giày vào tiệm, đãi chúng ăn thỏa thích, một tô mì nước, một đĩa mì xào dòn có tôm, mực, thịt bò v.v... và dĩ nhiên, tôi cũng ngồi thưởng thức chung với các em các đĩa mì ước mơ bằng tiền tôi làm ra, bằng lao tác kèm trẻ. Mỗi em được đãi hai món mà em thích. Một hôm tôi có ý định đi thăm nhà các em, tôi hỏi: tại sao em không được đi học? - Tại mẹ em nghèo không đủ nuôi thân làm sao nuôi em và các em em. Ba em đâu? - Ba bỏ mẹ rồi v.v... Tại sao tôi thương được mấy bé này mà ba nó bỏ nó? Cái đầu của tôi có nhiều câu hỏi không được giải đáp. Tôi vẫn đi học - điểm khá cao - vẫn đi kèm trẻ để có tiền cho các em đánh giày đi ăn tiệm mà chưa tìm ra được giải pháp.

Những áng mây màu

Tôi đã đến tuổi mộng mơ. Mỗi lần nghỉ hè về quê, nhân dịp anh Bảy hay anh Năm đàn cho hai chị hát, có anh Phú ở gần nhà anh Năm, cũng hay đến nhà chơi. Có khi anh Phú rủ cả nhóm trẻ đạp xe đạp đi cùng khắp các vùng quê quanh thị xã. Tôi rất ưa những cuộc du ngoạn bằng xe đạp ấy. Anh Phú rất yêu tiếng hát của tôi vì anh đàn Mandoline thật tuyệt. Đợi khi không có ai đứng gần anh nói khẽ vào tai tôi: Tiếng Phượng hát mỏng như tơ, rung nhè nhẹ... thật dịu dàng, anh muốn được nghe Phượng hát suốt đời... Mỗi khi nhà có dịp họp mặt người trẻ thì lúc nào anh Phú cũng nhìn tôi tha thiết năn nỉ tôi hát. Một hôm anh viết thư cho tôi, xin tôi cho phép được thương tôi như người bạn đời, và muốn xin cha mẹ anh đi tới xin làm đám hỏi thôi, rồi khi nào tôi lớn hơn và học xong mới làm đám cưới. Trời! 16 tuổi mà đeo nhẫn hỏi... Sao lạ vậy? Tôi làm như chẳng nhận được thư và luống cuống tìm cách tránh mặt anh ấy luôn.

Trong nhóm bạn trẻ đến chơi nhà tôi vào mùa hè có Tuấn con bác sĩ Mãnh ở Bến Tre cũng thương tôi. Tuấn tuyên bố khiến nhiều bạn trẻ trong tỉnh đều biết là Tuấn thương tôi. Ngày nào chàng cũng tìm cách tới nhà, nói chuyện tầm phào và rủ tôi hát vì Tuấn đàn guitare espagnole hay lắm, nhưng tôi thì chỉ thích đạp xe đi chơi, nên Tuấn cũng phải đạp xe đi theo thôi. Tuấn, Phú, anh Rép, anh Nhứt, anh Nhì, chị Tám, em Mười và tôi… có khi đạp xe đạp đi vào một chùa quê xa tận Cầu Gò Đàn, có khi đi về phía bắc Hàm Luông về tận Mỏ Cày vào mỗi dịp hè, khi tôi về Bến Tre chơi hai tháng. Lên lại Sài Gòn, nhiều lần Tuấn tìm cách đến thăm tôi ở Sài Gòn nhưng tôi xin lỗi vì quá bận học và không tiếp. Sơn - Hoàng Xuân Sơn - em nuôi chị Tám, bạn anh Rép cũng hay tới chơi ở Sài Gòn. Sơn có viết nhiều bài thơ tặng tôi. Nhưng khi bước chân lên Sài Gòn, thì giờ của tôi là để học, để xứng đáng lòng tin cậy của ba má. Ham học và có nhiều ưu tư khác trong cuộc đời nên tôi tránh Sơn mãi, làm như chưa bao giờ nhận được bức thư nào của Sơn cả.

Hay tin quê nội đã bị bom đạn hoang tàn tôi thương nhớ và tập tành viết văn tiếng Việt, lúc này tôi học Marie Curie, nói tiếng Pháp cả ngày, nên thèm viết tiếng Việt. Mỗi tuần tôi viết một bức thư cho Hồ Hải Trân là để có dịp tả cảnh quê An Định của nội tôi cho các bạn người miền Bắc mới di cư vào Nam nghe. Hồ Hải Trân nhỏ hơn tôi hai tuổi, em họ của Yên và Thoại là bạn cùng lớp ở Marie Curie và xin làm em nuôi của tôi. Trân thương tôi như chị ruột. Hai chị em trao đổi thư từ bằng cách viết văn tả cảnh thật mượt mà đồng quê miền Nam và miền Bắc - tôi rất tiếc đánh mất những mẩu văn tả cảnh quê này, hình như hay lắm. Lúc này tôi bị ảnh hưởng văn của nhà văn Lưu Thị Hạnh, đọc bài văn mà nghe như có âm nhạc. Sau này khi liên lạc để giúp văn nghệ sĩ miền Bắc tôi mới biết Lưu Thị Hạnh là Hồ Dzếnh, nhà thơ làm những bài thơ lãng mạn như Chiều và những bài đượm tình quê hương như Người Con Gái Việt Nam, mặc dù ông là người Minh Hương - lai Trung Hoa. Tôi tả cho Hồ Hải Trân nghe cảnh sông nước An Định, nhánh bần gie trên sông, đom đóm đậu chớp chớp thâu đêm, tả những vườn dừa xanh um, những ruộng lúa vàng ươm, mặt trời lặn trên cánh đồng thơm mùi lúa chín.

Còn Trân thì tả cho tôi nghe con sông Thương nước chảy đôi dòng, sông Tô Lịch, sông Hồng. Mùa Hè có khi Trân về Bến Tre thăm tôi và ở chơi cuối tuần với một người bạn cùng tuổi tên Bùi Ngọc Đường, tôi cũng xem Đường như em. Không ngờ Đường làm ba chục trang thơ tặng tôi, vừa vẽ vừa viết và hay ôm đàn hát cho tôi bản nhạc: Em đến thăm anh một chiều mưa. Tôi vô tình chẳng để ý. Một hôm Yến, Thoại, Yên và Dung ở Marie Curie, cười phá lên khi đọc 30 trang thơ mà Bùi Ngọc Đường tặng tôi vì trong đó nói rõ Đường đã tương tư Như Kiều. Khi đọc 30 trang thơ đó, tôi tưởng cậu ta cũng “viết tiểu thuyết” theo lối hai chị em tôi và Trân viết cho nhau, tả Như Kiều ngọt ngào ngây thơ ra sao. Đầu trang lưu bút thì Đường chỉ biên: Bùi N. Đường thân tặng người chị thân thương NKCNP. Tôi bỏ vào một xó vì quả thực là không có thì giờ để mà đọc. Năm đó tôi thi Tú Tài và vì sắp rời trung học Marie Curie nên tôi trao tập Lưu Bút cho các bạn cùng trường viết lưu niệm. Vì thế nên các bạn mới khám phá ra điều ấy. Thoại cười lớn: NKCNP là Như Kiều Cao Ngọc Phượng! “Toi”(bồ) ngu quá! Tôi đem ra phàn nàn với Trân, em Hồ Hải Trân và tôi giận Đường quá, nghỉ chơi với Đường luôn.

Dì Sáu tôi đã ly dị với dượng tôi vì ông hoàng Ưng Lê có nhiều vợ lẽ, nhiều cô hầu quá. Dì dọn nhà về ở Nha Trang, nhưng mỗi khi vào Sài Gòn thì hay đi thăm chị chồng, bà công chúa Công Nữ Dung Thơ. Bà có ba người con trai, người nào cũng thích mấy chị em chúng tôi. Anh Tùng rất yêu chị Tám, nhưng chị Tám đã chọn anh Ngôn rồi và ba má chúng tôi đều thương quý anh Ngôn nên anh Tùng không cưới được chị Tám. Anh buồn lắm nhưng tôi không muốn giúp anh vì tôi cũng không thích anh Tùng; nghe nói anh thường đi tiệc tùng khiêu vũ luôn. Em trai anh Tùng là Khá. Khá rất hiền, rất tốt, rất hiếu đễ với mẹ. Trong khi các anh khác đi khiêu vũ hết party này đến party kia thì anh Khá sau khi đi học về, chỉ ở nhà với mẹ.

Từ khi quen tôi Khá ưa đem sách tới nhà tôi để tặng, hoặc cho tôi mượn sách hay. Khá không tỏ tình yêu tôi bằng lời mà chỉ bằng ánh mắt và cử chỉ. Ví dụ như biết tôi siêng học, Khá đã mua cho tôi tất cả những sách giải toán, lý và hóa và mỗi chiều thứ năm hay đến tận trường đón tôi cùng về nhà, rồi vào nhà của cậu tôi (tôi được cậu Bảy cưu mang cho ở miễn phí từ năm sắp thi Brevet d’Etudes du Second Cycle) để cùng làm bài giải toán. Khá ngồi cả buổi chiều giải chung những bài lý rồi hóa. Nếu làm không ra thì đem bài giải của sách ra mà xem. Chuyện học hành thì Khá đã ủng hộ tôi hết lòng. Khá còn đòi đi học Dược - dùm tôi - vì ba tôi rất mong có một người con làm dược sĩ mà tôi thì không thích học Dược chút nào. Nhưng Khá rất lơ là những ưu tư của tôi về những bất công xã hội, những câu hỏi đã xoay nhiều đêm nhiều ngày trong cái đầu bé nhỏ khá cứng của tôi. Tại sao? Tại sao mình được sinh ra như vầy, người kiabị sinh ra như kia v.v.. Mỗi chiều thứ năm, Khá đón tôi đi học về, có khi Khá rủ tôi đạp xe xa hơn, vòng quanh những con đường im mát, dưới những hàng me xanh sau trận mưa hè. Có khi Khá mời tôi ghé ăn một đĩa bánh nậm và bánh bột lọc ở một tiệm “các món ăn Huế’’ ở Tân Định. Sau đó mới đưa tôi về nhà, vào nhà làm toán chung, giải năm ba bài toán hay lý hay hóa rồi về. Chiều thứ bảy tôi lên xe lửa về Bến Tre thăm gia đình, Khá đưa tôi ra tận bến xe lửa để về quê.

Tuần thứ hai đưa tôi ra ga, anh chàng theo lên tàu hỏa luôn và đưa tôi về tận Mỹ Tho, đưa qua phà Rạch Miễu rồi mới trở về lại Sài Gòn. Chẳng bao giờ chúng tôi nói yêu nhau, nhưng cả hai nhà đều biết. Tình yêu rất trong sáng và lễ độ trong sự quý mến nhau. Thỉnh thoảng, sau khi đi thăm các trẻ em đường phố nghèo gần nhà Khá, tôi có ghé lại nhà Khá thăm mẹ của Khá - gọi theo chị Công Tôn Nữ Diệu Minh là chị con dì Sáu của tôi - xin uống miếng nước và… thăm Khá. Bà cụ mẹ chàng rất thương và nhất định bắt tôi ăn trưa với bà và Khá. Lần đầu tiên tôi quán sát các thức ăn truyền thống theo lối Huế. Món nào cũng có chút xíu thôi, rất khéo. Một mâm cơm có hai mẹ con mà đến sáu món: một đĩa rau thơm và ớt xanh, một đĩa tôm tươi kho rim mặn, măng xào thịt bò, một đĩa su xào, một đĩa gỏi xúc bánh tráng nướng và một tô canh cải nấu gừng... Đĩa tô nào cũng nhỏ xíu, mới gắp một đũa (theo lối Nam) là đã hết!

Khi học triết học với giáo sư triết, Madame Simon, bà cứ giảng sự tiến hóa của tư tưởng triết học Tây phương và cuối cùng chấm dứt bằng tư tưởng của Karl Max là hay nhất. Trong cái đầu nhỏ bé của tôi, tôi nghĩ: Chắc là thuyết Marxisme mới giải quyết được những cái thấy bất công mà tôi chưa nghĩ ra được lời giải. Tôi đem hỏi Khá nghĩ sao? Khá không tha thiết, không màng gì đến những ưu tư bất công xã hội của tôi. Sau này khi học Phật tôi mới biếtThương mà không Hiểu thì tình thương sẽ không bền. Khá yêu tôi nhưng suốt thời gian yêu chỉ chiều chuộng mà không thật sự hiểu tôi. Tình yêu đó không được nuôi dưỡng bằng lý tưởng thì cây tình yêu trước sau gì cũng sẽ chết. Vì lẽ đó mà cuối cùng thì chúng tôi cũng phải chia tay thôi. May mắn là chưa đi tới hôn nhân nên chưa phải làm khổ đến họ hàng và con cái. Tôi quán chiếu thấy rằng, Khá có đẹp trai thật, khá hiếu đễ và đang học dược để làm vui lòng ba tôi thật, mẹ Khá và cả gia đình cũng thương quý tôi thật, Khá chiều chuộng tôi hầu hết những gì vật chất mà tôi thích, nhưng Khá không ngó ngàng gì đến niềm thao thức của tôi thì tình yêu sẽ chết dần thôi. Sau này học Phật tôi được Bụt nhắc quán chiếu để thấy mọi sự mọi vật đều vô thường, đều đổi thay từng phút từng giây, thì tình yêu cũng vô thường cũng đổi thay. Nhưng có những cặp vợ chồng mà tình yêu họ đổi thay nhưng càng ngày càng sâu thêm, bền thêm, quý mến thêm. Nếu tình yêu không lớn thêm thì tình sẽ dừng lại rồi sẽ chết.

Gặp Thầy, gặp Bụt, tìm ra con đường

Năm đó tôi vừa đậu xong Tú Tài 2, tốt nghiệp Trung Học Marie Curie và chuẩn bị vào Đại Học. Vừa về tới Bến Tre, tôi hết sức ngượng khi nghe ba má báo tin đã đặt một con heo quay để đãi xóm giềng về cô Tú đầu tiên của gia đình họ Cao! Hôm đậu bằng Brevet Ba đã mua nguyên một con heo con quay rồi! Ba nói: Chuyến này con về Bến Tre, ba muốn con đi quy y với thầy Huyền Vi. Thầy giỏi lắm, không phải như mấy ông “thầy cúng” dưới quê mình đâu con. Hai thầy - thầy Huyền Vi và thầy gì đó, ba quên tên, tốt nghiệp Phật Học Đường Ấn Quang, giỏi vô cùng. Nhà mình đạo Phật mà không biết gì về Phật hết. Hồi này tôi chưa biết giáo lý của Phật nên chưa biết là ba tôi làm ngược lời Phật dạy: giết nguyên một con heo chỉ vì con gái mình đậu Tú Tài! Thời nay, người trẻ đậu tú tài rất đông, có gì lạ đâu, nhưng hồi thời của tôi thì trong tỉnh chỉ có mình tôi là con gái mà đậu tú tài! Nhà có xe hơi để đón tôi mỗi tuần từ phà Rạch Miễu về nhà nhưng ba tôi rất thích đi xe đạp, đạp đi đâu ba tôi cũng khoe: Con gái thứ chín của tôi mới đậu tú tài hai, sắp lên Đại Học! Ba nói với bác Đốc Trinh, bác sĩ Trần Quế Tử, cụ giáo Mạnh, cụ giáo Tròn, thầy giáo Dân, cô giáo Điềm, cô Lan... mời anh hay mời cô đến nhà chúng tôi mừng cho cháu! Tôi mắc cỡ chạy trốn mất ngày các cô bác tới ăn tiệc.

Tối nay cơm nước xong, mà cũng là ngày thứ bảy, có hai vị sư từ Phật Học Đường Ấn Quang về giảng đạo, ba muốn cả nhà cùng đi nghe. Ba má nói: “Thầy Huyền Vi là đệ nhứt giảng sư miền Nam đó con. Thầy chỉ mới nói vài câu là thiên hạ cười rộ, thích thầy lắm!” Tôi đến nghe và thấy thầy giảng cũng được được, hơn các ông thầy cúng ngày xưa nhiều. Cuối buổi giảng ba đem tôi lên giới thiệu con gái đỗ tú tài của ba với thầy! Tôi đặt vài câu hỏi về những ưu tư của tôi về bất công xã hội. Thầy Huyền Vi trả lời suông qua những điều Bụt dạy nhưng không làm tôi hài lòng, tôi hỏi tiếp những câu khác, thầy nói: Thầy bận, con đi vào hỏi ông thầy kia. Xem cách thầy chỉ “ông thầy kia” thì có vẻ như ông kia là “thị giả” của thầy để trả lời cho bọn con nít như tôi. “Ông kia” là thầy Thanh Từ, khoảng ba mươi lăm tuổi, dáng điệu khiêm cung, hiền lành, có vẻ “đàn em” của thầy Huyền Vi. Nhưng những câu hỏi hóc búa của tôi, thầy đều trả lời sâu sắc khiến tôi rất thán phục. Trời ơi, đạo Phật hay như vậy mà mình ngu quá, tưởng chỉ có Max, Hegel, Nietzche mới hay. Cái lạ là thầy Thanh Từ không hề biết triết học Tây Phương nhưng sự lão thông của thầy về Phật học đủ đánh ngã hết những triết thuyết Tây Phương.

Tôi bỗng thương Phật vô vàn. Tội nghiệp đức bổn sư Phật Thích Ca! Ngài bị các ông thầy cúng, chẳng biết gì giáo lý của Ngài, làm đại diện, cúng kiếng kiếm ăn, sống trên những đám ma chay... vợ con luộm thuộm chẳng diễn tả được gì phẩm hạnh của Ngài. Tôi phát bồ đề tâm từ hôm đó và muốn sống đẹp như Ngài dạy. Tôi muốn thọ năm giới với thầy Thanh Từ thôi - không chịu thọ với ai hết! Thầy cười từ bi nói: Con thọ giới với Phật chứ đâu phải với thầy. Nhưng con ráng học thêm giáo lý rồi hãy thọ năm giới. Hai thầy chỉ ở Bến Tre một tuần rồi đi giảng nơi khác. Tôi say mê suốt tuần cứ chạy theo thầy để hỏi đạo. Từ chuyện có Thượng Đế, có tạo hóa hay không. Chúa có tạo ra heo bò gà vịt cho mình ăn không? Tại sao người này ăn hiền ở lành mà vẫn bị chuyện rủi ro, người kia dữ dằn mà vẫn phây phây giàu có. Thầy giảng lão thông lý nhân quả, luân hồi nghiệp báo khiến tôi mê say. Về tới Sài Gòn tôi kéo Khá đi nghe thầy giảng, Khá thoái thác bảo bận.

Tôi ghi tên vào Đại Học Khoa Học, lớp Sciences Physiques, Chimiques et Naturelles (viết tắt SPCN) và đồng thời ghi luôn lớp MPC (Mathematiques, Physique et Chimie). Học MPC cứ làm toán, cứ cân tạ, thử sức vận tốc những lực centrifuge, centripede Physique và học Chimie thì cứ thí nghiệm những hóa chất..., tôi học cũng được nhưng không thích thú gì mấy. Đi bên Khoa Học Thiên Nhiên, lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với những núi đá, biết tuổi đá mấy trăm triệu năm thuộc Ere primaire, secondaire hay tertiaire rất là thích thú. Tôi được lội xuống biển xem san hô to như những lâu đài đủ màu sắc, tôi được vào rừng khám phá từng bụi cỏ từng lá cây, tiến trình của các sinh vật... thật mầu nhiệm. Cùng lúc ấy tôi cũng say mê đi tìm hiểu đạo Phật. Thầy Thanh Từ bận dạy ở Phật Học Đường

Lưỡng Xuyên Trà Vinh, xa quá tôi không đi được nhưng thầy Huyền Vi ở chùa Ấn Quang tại Sài Gòn. Tuy không thỏa đáng khi nghe thầy Huyền Vi và nhiều thầy khác giảng nhưng tôi vẫn không bỏ sót một buổi giảng nào của quý thầy tại chùa Ấn Quang mỗi tuần ít nhất là ba ngày: Thứ tư nghe thượng tọa Thiện Hoa giảng Đại Thừa Khởi Tín Luận, thứ sáu nghe thầy Huyền Vi giảng Phật pháp căn bản, vào Dược Sư nghe ké với Ni viện bài giảng của thượng tọa Từ Thông kinh Pháp Hoa. Thầy Từ Thông giảng tới đâu hay phác họa, vẽ hình trên bảng rất đẹp, đó là tiểu xảo, cũng vui vui. Chỉ có thầy Thiền Định và thầy Hộ Giác... là giảng yếu nhất, đã không sâu mà hai thầy dùng danh từ hơi... đời nên tôi không ưa đi nghe, nghe thầy Hộ Giác một lần ở chùa Kỳ Viên, thầy Thiền Định ba lần ở Chùa Ấn Quang nhưng sau tôi không đi nữa. “Ngã mạn ngầm” là điểm dở nhất của tôi. Sau một năm tính sổ tu học, tôi quyết định chỉ quy y với thầy Thanh Từ thôi, không quy y ai hết! Nhưng khổ nỗi, khi truyền giới thì luôn có ba thầy: thầy Huyền Vi, Thanh Từ và Thiện Tín.

Thầy Thiện Tín là thầy trú trì chùa Phật Quang ở Bến Tre quê tôi, thầy Thiện Tín đã mời hai vị đại giảng sư Huyền Vi và Thanh Từ về giảng. Thầy Thiện Tín hiền từ và khiêm cung nên tôi cũng rất trân quý hạnh của thầy. Trước khi quy y, tôi cứ hỏi Thầy Thanh Từ Diệu Không là sao? Sau này thầy tiết lộ là thầy định cho tôi tên Diệu Vân vì thầy thấy tôi ưa lo cho trẻ em nhà nghèo như đám mây lành che chở cho tụi nhỏ nhưng vì thầy biết tôi ưa tên Diệu Không nên cho luôn tên đó. Trong phái quy y Năm Giới của tôi có tên ba thầy Huyền Vi, Thanh Từ và Thiện Tín. Tôi có duyên may được đọc quyển Ánh Đạo Vàng, đời của Phật Thích Ca do anh Võ Đình Cường viết nên càng yêu quý Phật vô cùng. Những năm ở Đại Học là những năm tôi mê đạo Phật một cách cuồng tín! Ai nói đụng tới Phật là tôi ăn ngủ không yên, đem những thắc mắc đó đi hỏi từng thầy. Cuối cùng thì chỉ có mình thầy Thanh Từ là giải đáp thỏa đáng nhất những thắc mắc của tôi, mà thầy lại rất từ bi, không ăn thua đủ với mọi người như tôi. Cứ có giờ rảnh rang mà ngồi nói chuyện chân lý với các bạn Công giáo là tôi cãi say sưa với các anh chị bạn đó và... lúc nào thì tôi cũng thắng.

Các bạn Công giáo ở Việt Nam thời này cũng rất là kiêu ngạo. Họ nói đạo Chúa là đạo văn minh vì chính người Tây Phương văn minh mà cũng là đạo của họ. Nhưng mỗi lần bị tôi bắt bí thì họ nói: C’est le mystère de Dieu! (Đó là bí mật của Thượng Đế). Như là khi tôi hỏi: Nếu Chúa là Tạo Hóa, là Tình Yêu sao Chúa tạo ra những cơn bão tố, lụt lội, sóng thần, giết chết hàng chục ngàn người bên Bangladesh, Chúa tạo bệnh dịch hạch cho con người chết như rơm rạ bên Phi Châu, và toàn là những người nghèo khổ, v.v… Các bạn Công giáo nói đó là Chúa muốn thử, tôi không đồng ý cách giải thích đó. Sao Chúa không thử cái ông nhà giàu kia phây phây làm ác lại cứ thử những người lương thiện? Các bạn Công giáo đã kiêu ngạo khinh khi đạo Phật thì tôi cũng đã kiêu ngạo và khó chịu vô cùng với các bạn Công giáo. Chắc là điều này không phải là điều Phật và Chúa dạy cho chúng tôi. Chúng tôi (những người Phật tử lý thuyết và những người Thiên Chúa Giáo kiêu ngạo) mới theo đạo ngoài da!

Tu phước và tu huệ

Tôi đã hỏi thầy Thanh Từ rằng vì sao đạo Chúa là thiểu số mà họ có viện nuôi trẻ mồ côi còn đạo Phật thì không làm gì giúp người nghèo hết. Thầy Thanh Từ nói: Đạo Phật giúp người thêm từ bi và nếu mình có cháu mồ côi cha mẹ thì mình nuôi chứ không bỏ vào viện mồ côi. Tôi rất thích lối giải thích này nhưng vẫn thấy người Phật tử không xứng đáng lắm với kỳ vọng của đức Thích Ca. Tôi phát nguyện sẽ làm việc hết lòng giúp người nghèo khổ để xứng đáng với kỳ vọng của đức Từ Phụ. Tôi bắt đầu phát tâm xuất gia tu học để dành hết thì giờ sống theo lời Phật dạy. Chiều thứ năm đi chơi với Khá cũng vui, nhưng đi tu thì sướng hơn nhiều. Suốt ngày tôi chỉ làm việc Phật thôi! Tôi thuật hết cho thầy Thanh Từ nghe hoài vọng của tôi nghĩa là tôi muốn xuất gia tu học và chỉ để thì giờ lo cho người khổ như việc tôi đang làm ở các xóm nghèo thôi. Tôi trình để thầy rõ là ngay hồi chưa biết Phật mà tôi đã đem các cháu đánh giày, móc túi… đến trường bằng cách đi xin bạn bè, cô bác quen thân mỗi ngày dành cho tôi một nắm gạo, cuối tháng tôi đi thâu gạo và đem cho mỗi cháu 15 ký như là học bổng để ba mẹ cháu cho cháu đến trường. Tôi cũng đã đi lo làm giấy khai sinh cho các cháu thì trường mới nhận cháu vào lớp… Thầy cười thương hại nói: Con làm việc phước thiện nhiều quá. Đó là tu phước. Người theo Phật phải phát tâm tu huệ mới được.

Tu phước thì thế nào sau này cũng được tái sanh vào gia đình giàu có nhưng không giác ngộ thành Phật được. Phật là đấng tối cao duy nhất, Ngài đã nói: Ta là Phật đã thành và mọi người là Phật sẽ thành! Con phải theo gót Ngài để tu thành Phật. Thành Phật rồi con muốn độ bao nhiêu con mồ côi, giúp bao nhiêu trẻ nghèo đều được hết. Tôi đồng ý 100% và quyết chí chuẩn bị xuất gia để ráng tu thành Phật sau khi thi xong cử nhân! Tôi bắt đầu tới thăm các Ni viện vùng Sài Gòn Chợ Lớn. Ni sư Vĩnh Bửu là người Bến Tre thân cận với gia đình tôi nhiều. Ni sư cũng rất thương tôi nên mới khen tôi và nói: Con ráng tu cho giỏi thế nào kiếp sau cũng sẽ thành nam nhi. Thân phụ nữ nặng nề lắm con ơi. Đàn ông họ đâu có kinh nguyệt như mình, và cứ ráng tu đi, mươi mười lăm kiếp sau thế nào cũng thành Phật! Tôi hết sức ngạc nhiên. Tại sao phải thành nam nhi? Kinh nguyệt là tại vì mình là người nữ chuẩn bị làm mẹ mỗi tháng, không chịu làm mẹ thì thải chất dư đó ra thành kinh nguyệt, không chịu sinh đẻ thì đi tu làm mẹ tinh thần của các cháu cực khổ của các xóm nghèo, thân phụ nữ rất đẹp, có gì mà nặng nề, mà khổ đau? Tôi phải “méc” thầy Thanh Từ mới được, giải thích điệu này thì làm sao lý luận lại với các bạn Thiên Chúa giáo hay các bạn vô thần của tôi đây?

Khi tôi đem việc ni sư dạy, và hỏi thầy Thanh Từ nghĩ sao thì thầy chỉ cười hiền: “Bên các ni viện các sư cô nghiệp nặng lắm con à. Thầy cứ đến giải quyết hoài.” Cái đầu khá cứng của tôi không hài lòng với cách giải thích này nhưng vị thầy quý kính nhất của tôi đã nói như vậy thì tôi còn biết chia sẻ với ai? Nhìn sâu, tôi không hề thấy có nhu yếu kiếp sau thành con trai. Đối với tôi, con trai có nhiều người còn yếu đuối hơn tôi là con gái mà tính khí khá cang cường. Tôi tự kết luận, con trai hay con gái gì cũng như nhau. Tùy di thể của ông bà tổ tiên và tùy môi trường lớn lên mà mình như thế này hay như thế khác. Hai người anh hùng đầu tiên của Việt Nam đánh đuổi quân đô hộ Tàu là hai Bà Trưng, rồi cô thiếu nữ nhà họ Triệu đứng lên tập họp binh sĩ đi đánh giặc Tàu, đâu phải đàn ông ít nghiệp mới làm được việc, mới mau thành Phật hơn phụ nữ? Nếu nói tôi đi cứu giúp các em nghèo đói sống trên vỉa hè là để kiếp sau sẽ thành con gái nhà giàu thì tôi lại bực hơn nữa.

Tôi muốn thưa với thầy: Con giúp chúng nó vì chúng nó cần con. Thế thôi! Con không cần làm công chúa hay con nhà giàu gì hết. Tôi cũng muốn thưa với ni sư Vĩnh Bửu là con muốn đi tu và có nhiều khả năng như Phật để cứu người được nhiều hơn, nhưng con không cần làm con trai để hết nghiệp phụ nữ. Nhưng... tôi đã giữ năm giới rồi, đã là Diệu Không rồi… đâu có ăn nói ngang tàng với thầy bổn sư và ni sư lớn như vậy được? Tôi tự nhủ: Chắc mình phải lập một ni viện để chính mình tu thôi, sẽ rủ em Mười nè và vài bạn khác đi tu chơi. Lập một cư xá nuôi nữ sinh nhà ở xa đến ở trọ và mình sẽ cảm hóa các em bằng sự tu hành của mìnhmà thôi. Rồi thế nào cũng có các em đi theo mình xuất gia tu học. Tôi sẽ có nhiều chương trình rất hay cho các em nghèo đói. Ni sư Tịnh Nguyện, người Miền Bắc di cư vào Nam là người có chí khí lớn. Ni sư cất chùa xong làm thêm một số phòng để dành cho các thiếu nữ xa nhà có chỗ trọ. Nghe tôi đã xong cử nhân và đang làm giảng nghiệm viên tại Đại Học Khoa Học nên ni sư có ý nhờ tôi tới chơi với các em nữ sinh viên vì bên Thiên chúa giáo có cư xá Thanh Quan đã thu hút các em và đã kéo khá nhiều các em con nhà đạo Phật vào đạo Chúa rồi. Tôi có đến giúp đỡ ni sư và chơi với các em, nhưng chưa được mấy tháng làm việc với ni sư thì một hôm ni sư đi Huế về và khóc nghẹn ngào thuật chuyện tám em Gia Đình Phật Tử bị xe tăng chính quyền Ngô Đình Diệm cán nát đầu tại Đài Phát Thanh Huế hôm Phật Đản…

Chương 3: Con trai hay con gái đều đẹp ra

Xóm Mả Lạng sau rạp hát Quốc Thanh

Từ khi thấy con đường lý tưởng, tôi đã là người con gái hạnh phúc nhất đời. Tôi có nhiều sáng kiến đi vào những khu nghèo cực nhất của Sài Gòn: Xóm Mả Lạng - nghĩa địa cũ của Pháp - sau rạp hát Quốc Thanh, xóm Bàn Cờ, xóm Cầu Bông… Tôi rủ hết các bạn gái, bạn trai quen tôi đi xin mỗi nhà một nắm gạo trước khi họ nấu cơm ăn và mỗi hai tuần chúng tôi đi từng gia đình thu số gạo đã hứa, và chủ nhật họp nhau ở Chùa Xá Lợi rồi chia nhau đi chăm sóc trẻ con nhà nghèo từng xóm. Chúng tôi đổ hàng chục bao gạo nhỏ góp nhặt suốt hai tuần ra rồi chia đều cho hơn ba mươi phần như là học bổng cho hơn ba mươi trẻ em đường phố. Tôi dạy các bạn tôi nên ăn mặc nghèo nghèo khi đi vào các xóm để người ta không tính chuyện bóc lột mình. Phải hành xử như tôi khi bước vào xóm Mả Lạng lần đầu tiên. Lần đầu tiên tôi được biết xóm này là nhờ bắt được một chú bé sắp móc túi tôi, tôi nắm chặt tay em và thay vì đưa em cho Cảnh Sát tôi dịu dàng hỏi: “Sao em làm như vậy? Em có thể bị ở tù, bị đòn đau lắm và ghê lắm, em biết không?” Em nói nếu không đem tiền về em còn bị đòn nhiều hơn, và em bảo em ở trong xóm này đây. Hôm đó ba em không có nhà.

Ngày hôm sau, tôi mặc áo xấu hơn, khóa xe gắn máy để ngoài cổng và đi vào như một cô học sinh nghèo. Tôi vờ hỏi có ai biết nhà chú Tư Rô đạp xích lô ở đâu không? Tôi nói chú Tư Rô là chú của tôi, chú tôi nói là có nhà ở đây! Thế rồi tôi ngồi sà xuống trên ngôi mộ bằng phẳng 1,5mét x 2mét, trên đầu là một tấm bạt rách tươm. Một thiếu phụ khoảng ba mươi hai tuổi mà cô nói đã có hai con rồi, đang ngủ trưa, ngồi dậy tiếp tôi. Tôi hỏi thăm về ba các cháu thì cô nói ba nó bỏ tôi rồi. Tôi hỏi chị làm nghề gì nuôi thân thì chị nói “mượn hàng xóm để mua cơm ăn nhưng nợ này lãi rất cao, tôi hy vọng hôm nào ông ấy về thấy vợ con như thế thì cho tiền để tôi trả lại người ta! Tôi đề nghị chị đi bán bánh cuốn thì tôi sẽ tìm cách mượn vốn dùm chị. Tôi hỏi hai đứa nhỏ đâu thì chị nói thằng lớn đi bán báo và đánh giày, chị phải giữ con nên không đi làm được. Cháu nhỏ mới 3 tuổi. Thật ra chị đang ngủ trưa, đứa nhỏ đã bò xuống đất, đó là một con đường nhầy nhụa dơ không thể tưởng. Tất cả xóm này gồm hơn một trăm cái mả nằm san sát nhau, chia cách bởi một số đường đất nhầy nhụa nhớp nhúa, đầy rong rêu xanh. Để không bị nhớp chân, người ta thảy trên những đường nhỏ độ 80 cm bề ngang đó một vỏ xe hơi cũ, vài cục gạch chồng lên nhau để thiên hạ có thể bước lên trên đó mà đi. Vậy mà đứa bé vẫn chơi được với nước bùn nhớp nhúa ấy, chị vẫn tỉnh bơ và ôm đầu nói chị bị nhức đầu hoài không đi làm gì được, chị cũng than đau bụng. Tôi đề nghị chở chị đi bác sĩ ở bệnh viện Bình Dân sẽ không tốn tiền.

Được biết hai ba người thiếu phụ ở gần đó cũng có con còn nhỏ không đi làm việc được, tôi đề nghị một bà giữ bốn đứa nhỏ, để ba bà kia đi làm việc và cứ thay phiên nhau mà giữ con và đi làm. Tôi nói: “Chị nào không vốn em đi mượn giúp, nhưng nếu chị không trả là chết em, chắc họ sẽ “cạo” đầu em đó chị”. Thế là sáng sớm tôi đưa chị Ngọ đi bệnh viện Bình Dân, tìm bác sĩ trị bệnh và tìm thuốc cho chị ấy luôn. Chiều lại, tôi đi xe thổ mộ đưa hai chị đi chợ Cầu Ông Lãnh để sắm sửa gióng gánh, nồi nấu bún măng, chị kia thì mua sắm các thứ để bán bánh cuốn chả lụa. Chị thứ ba đã có sẵn nghề bán bánh cam. Sáng hôm sau tôi tới thật sớm để đưa chị Ngọ đi đếm bánh cuốn và lấy chả lụa do chính tay tôi bỏ tiền ra. Tôi không dám giao tiền cho chị, sợ chị ấy đánh bài hay xài mất. Chị Sang cũng thế, tôi đem chị đi chợ mua các thứ chị cần cho nồi măng vịt nấu gừng, xong tôi lại chở chị đi tận nơi lấy bún tươi. Khi hai chị lên đường bán bánh cuốn và bún măng thì tôi mới đi vào Đại Học.

Trong số hơn một ngàn sinh viên năm dự bị Cử Nhân SPCN cuối năm ấy, không hiểu sao mà tôi lại đậu được hạng nhì trong số chỉ có năm người thi đậu của SPCN năm đó, bởi vì mỗi ngày của tôi là của bé Sĩ, bé Tài… Tôi phải đi nộp đơn lo làm thế vì khai sinh cho các bé. Thì giờ của tôi là cho chị Ngọ, chị Sang, anh Tuất… trong xóm Mả sau rạp Quốc Thanh. Tôi còn nhớ nét mặt anh Tuất rất “anh chị” trong xóm này. Khi tôi vào thăm thì anh đang đánh bài với mấy người nữa, tôi nghe nói anh là ba của bé Tài, chú bé móc túi mà bị tôi chụp kịp tay khi mới thò tay vào giỏ xách của tôi. Tới nhà bé Tài, sau khi thuật mọi sự, tôi đề nghị anh Tuất nên đi bán cà rem để nuôi các cháu nhỏ, còn thằng Tài cho nó đi học thì tôi sẽ gắng xin 15 ký gạo hằng tháng cho nó. Anh nói không có tiền mua thùng cách nhiệt để giữ kem cho mát thì làm sao mà đi bán được. Tôi cũng biết nếu tôi đưa tiền thì anh sẽ đánh bạc tiếp thôi ! Tôi mời anh cùng đi xe thổ mộ vào tận Chợ Lớn mua được một cái thùng vuông to, đựng cả ba chục cây cà rem. Ngày hôm sau, tôi trở lại đưa anh đi đếm cà rem cây ở hãng kem Ngọc Lan và tự tay đặt tiền cọc cho anh. Nếu ngày đó bán hơn ba chục cây thì anh có thể trở lại trả tiền bớt và đếm thêm. Chiều cùng ngày tôi ghé lại chờ lấy bớt tiền lời bán bánh cuốn của chị Ngọ, bán bún măng của chị Sang và bán cà rem của anh Tuất - tôi nói là để trả nợ cho người cho mình mượn vốn mà không lấy lời. Tôi chỉ lấy 2 đồng trong số 37 đồng hay 41 đồng tiền lời của họ chiều hôm đó. Tôi cho mỗi người một cái ống con heo (piggy bank) nhỏ để bỏ một đồng vào ống tiết kiệm. 24 đồng để làm vốn ngày hôm sau đi đếm bánh cuốn và mua chả lụa, hay đếm cà rem, v.v… 10 đồng để mua thức ăn cho cả nhà.

Gieo hạt giống từ bi trong tàng thức những người chưa hề biết cách chia sẻ cho người thiếu

Sở dĩ tôi có tiền xài thoải mái trong việc cho mượn vốn này là vì mấy tháng nay tôi mới có sáng kiến, ngoài chuyện gõ cửa những nhà quen, xin mỗi ngày hai nắm gạo trước khi họ nấu cơm, xem tôi như chim chóc vét những hạt cơm sót trong nồi của họ. Sáng kiến mới là đề nghị các bác cho tôi thêm một đồng một tháng cho người nghèo. (Một đồng là ít lắm, chỉ đủ mua một khúc bánh mì không có gì bên trong). Bác Năm tôi chẳng khi nào cho ai một xu. Bác nổi tiếng xài tiền kỹ! Tôi quyết chí gieo hạt giống từ bi nơi bác nên bắt đầu bằng cách xin một nắm gạo mỗi bữa bác nấu cơm. Bác cho ngay. Bác là người chịu khó nắm từng nắm gạo trước khi nấu, không như chị Ba On rất rộng rãi và bận rộn. Chẳng khi nào chị nhớ nắm gạo, nhưng khi thấy tôi tới nhà thì chị đi ngay vào xúc luôn ba bốn lít gạo, đổ vô bịch đem cho tôi. Tôi xin bác Năm một đồng mỗi tháng, bác chê ít, định cho tôi tới 3 đồng! Tôi không chịu, tôi chỉ lấy một đồng thôi vì tôi muốn xin anh Ba, anh Năm, chị Sáu và anh Bảy con của bác, mỗi người làm phước cho người nghèo bằng cách cho tôi mỗi người, mỗi tháng một đồng thôi. Chị nấu ăn nghe thế cũng cho tôi một đồng, anh Ba, anh Năm, chị Sáu, anh Bảy đều hoan hỷ, cả các bà hàng xóm của Bác Năm nữa. Thế là rời nhà bác Năm tôi có 9 đồng nhưng là tiền của chín tấm lòng từ bi đang tập nghĩ đến những người thiếu thốn.

Cứ thế mà tôi xin, tất cả thành viên của mỗi gia đình đều cho tôi một đồng mỗi tháng, và khi tôi tới mỗi nhà thì tôi kể đủ thứ chuyện vui. Chuyện tôi tóm tay thằng bé Tài móc túi ra sao, bắt nó đưa tôi về ngôi nhà trên Mả Lạng sau rạp hát Quốc Thanh ra sao, rồi tôi rủ ba nó đi mua thùng bán cà rem ra sao. Cái cách tôi làm quen chị Ngọ, chị Sang, đề nghị họ giữ con dùm cho nhau, tôi giúp vốn và đưa họ đi chợ Cầu Muối mua thúng, nồi, thau rửa chén cho gánh bánh cuốn, gánh bún măng gừng ra sao. Ai cũng nghe say sưa và thích thú. Anh Năm Phó nói em Chín độ rày đẹp ra, dễ thương quá. Ai cũng khen tôi đẹp ra! Và có anh đại úy hải quân Thanh, bạn anh Năm hay tới nhà tôi ở, tặng tôi hải sản mỗi khi đi biển về… và một chậu hoa. Anh ấy ngồi hoài ở phòng khách nhà cậu Bảy, chẳng chịu về mà cũng không nói gì hết. Cậu Bảy thấy ông đại úy mặc quân phục đẹp quá đành phải ra tiếp khách hộ tôi vì tôi trốn trong bếp. Cuối cùng tôi phải lấy cớ đi đâu có việc anh ấy mới chịu về. Trung úy hải quân Phụng, bạn chị Diệu Minh và đại úy hải quân Thanh cứ tặng tôi hoa và hải sản như yến khô, yến sào đã vào lọ...

Tôi xin các anh đừng tặng quà nữa mà cho tôi xin mỗi tháng một đồng. Và tôi lại say sưa kể chuyện ngày Phật Đản tôi rủ các bạn sinh viên cùng trường đưa các em bé các xóm nghèo của chúng tôi đi Sở Thú (Zoo) thăm thú vật và mỗi em sẽ có một người chị, người anh dễ thương sẽ đưa em đi ăn cơm tiệm ra sao. Trung úy hải quân Võ Thành Công là người con trai rất thán phục lý tưởng đạo Bụt của tôi. Anh là trung úy hải quân, nhưng khi đơn vị anh đóng ở Nha Trang thì ngày giờ rảnh anh đã (theo gương tôi - anh nói vậy) đến chùa dạy học cho các chú tiểu ở Phật Học Viện Nha Trang và làm tất cả những công tác nào Chùa nhờ và anh đã “hồi hướng công đức cho tôi” nghĩa là anh ấy nói với quý thầy rằng, anh làm vì đã thương quý một cô Phật tử rất khiêm cung và sùng kính đức Thế Tôn - cô CNP. Các chú điệu ở Chùa Hải Đức đã báo cáo với tôi rằng trung úy nói nếu làm được gì cho đạo Phật và để cho tôi vui thì anh cũng sẽ làm hết. Anh tuyên bố với Phúc, cháu rể tôi và với rất nhiều người rằng… tôi là người đẹp lý tưởng nhất đời anh, và anh lạy Phật cho một ngày nào đó... anh được cái diễm phúc cưới tôi. Tôi đã cười buồn và tự nhủ rằng: Sẽ không bao giờ tôi còn can đảm nghĩ đến chuyện bó mình vào một gia đình bé nhỏ nữa. Tôi đã lặng lẽ chia tay với Khá rồi, với người con trai hiền lành, hiếu đễ, đã hiểu tôi khá nhiều về việc học hành, về việc tôi có hiếu với ba tôi, muốn thay tôi đi học Dược cho ba tôi vui… thì làm sao tôi có thể yêu ai được nữa? Một buổi chiều thứ năm trời đẹp,

Khá và tôi đã hẹn nhau từ tuần trước rằng Khá sẽ đưa tôi đi ăn một món Huế thật đặc biệt: Món dấm nuốc. Khá đợi tôi cả buổi chiều ở nhà cậu Bảy (nhà cậu ruột đã cho tôi ở nhờ) để cùng đi. Nhưng ngày hôm đó gặp chuyện quá cấp bách - tôi phải đi tìm nhà cho một cô bé lỡ có thai không dám về nhà sợ ô danh cha mẹ, cô này sắp tự tử thì có người báo tin và nhờ tôi giúp đỡ - tôi khuyên chị ráng chịu khó nuôi đứa bé sáu tháng nữa, tôi sẽ đem gạo tiền cho chị, rồi tôi sẽ tìm người nhận bé làm con nuôi khi chị sinh bé ra. Lo xong cho chị Tuyết, về tới nhà cậu, tôi mới nhớ ra là mình đã quên mất cái hẹn đi ăn dấm nuốc với Khá rồi! Mợ tôi nói Khá chờ tôi đến gần tối mới về. Tôi chỉ hối hận đã bắt Khá chờ mà không kịp báo tin sẽ vắng mặt - hồi đó nhà tư nhân chưa có điện thoại - nhưng tôi không hối hận mất buổi thưởng thức dấm nuốc, đặc sản Huế. Tuần sau, lại một chuyện cấp bách khác, tôi lại quên đến chỗ hẹn với Khá. Tuần sau nữa tôi đã ở nhà chờ Khá, nhưng chàng không còn tới thăm nữa. Hai đứa là bạn học, cùng giải chung những bài toán lý hóa, thương nhau hồi nào không hay, bốn năm, rồi chia tay lặng lẽ không một lời giã từ.

Tôi không tìm cách liên lạc lại hay xin lỗi Khá vì lỡ hẹn. Tôi đã trót dấn thân với lý tưởng từ bi rồi. Có mấy lần tôi trách Khá không chia sẻ những ưu tư của tôi về bất công xã hội, về tư tưởng cách mạng thâm sâu của Phật Thích Ca, không đi chùa học đạo với tôi. Khá cười buồn: “Anh tưởng là anh đã chiều Phượng nhiều lắm rồi chứ, ngày xưa mỗi lần gặp nhau, em đâu có bắt anh nghe những thứ đó!” Khá ơi, tình yêu như một cái cây, cây tình yêu mình tăng trưởng hay héo mòn là do thức ăn có đúng phân, đúng nước, đúng chất khoáng hay không. Cây sợ nắng mà mình để phơi ngoài nắng chói chang quá cây cũng chết. Cây ưa nắng mà mình cứ giữ mãi trong nhà thì cây cũng chết thôi. Tôi thương con đường của đức Thế Tôn đã làm đẹp cuộc đời cho bao nhiêu là thế hệ. Chàng không có hứng thú gì khi nghe những gíáo lý thâm diệu đó. Tôi làm sao chôn mình trở lại trong tình yêu nhỏ hẹp kia, chỉ đưa nhau đi dưới những hàng me xanh mát, ngồi nhìn nhau và chia nhau ăn chiếc bánh nậm, bánh bột lọc, để bên ngoài ai sống chết mặc ai?

Những áng mây màu trong đời tôi ơi, những người bạn hải quân thân mến, tôi đã giã từ cuộc sống lứa đôi nhỏ hẹp từ lâu rồi. Các bạn đến để làm chi cho buồn lòng nhau!

Chương 4: Khoa học và lý tưởng phụng sự người khổ

Như đã nói trên, không hiểu sao mà mùa hè năm 1959, trong số hơn 1.000 thí sinh SPCN mà chỉ có năm người thi đậu và tôi đứng hạng thứ hai.

Tôi may mắn có được di thể nhớ dai của ông ngoại nên chừng non hai tháng trước khi thi, tôi bắt đầu nghĩ là nếu mà tôi thi rớt chắc là ba tôi sẽ buồn lắm! Nhớ gương mặt hớn hở của ba tôi đi báo tin từ làng trên đến xóm dưới mỗi khi tôi giựt được một mảnh bằng, nên tôi phải lên kế hoạch gấp để học bài thi. Tuần thứ nhất tôi dò khoảng 1.000 trang những bài Sinh Động Vật Học, tuần thứ hai dò cũng từng ấy trang các bài Sinh Thực Vật Học, tuần thứ ba tôi lại vùi đầu trong một ngàn trang về Địa Chất Học và tuần thứ tư về lý và hóa học. Hai môn này thường có ít bài học nhưng phải làm nhiều lý giải. Tôi đâu có giờ ngồi làm lý giải và cũng không có Khá ngồi làm bài với tôi. Tuần thứ năm tôi ôn lại vừa Sinh Thực Vật vừa Sinh Động Vật lần thứ hai, tuần thứ sáu vừa Địa Chất vừa Hóa lần thứ hai, tuần thứ bảy tôi ôn lại tất cả các môn lần thứ ba và tuần thứ tám tất cả các môn lần thứ tư. Tôi say mê thiên nhiên nhất là những tuổi đá của địa chất, cách cấu trúc của từng loại đá nên nghe nói bài của tôi về địa chất trong kỳ thi đó được 19 trên 20 điểm. Nhờ thế tôi được là người cao điểm thứ hai. Cũng nhờ thế tôi được tuyển ngay vào làm trong phòng thí nghiệm Sinh Thực Vật sau mùa hè năm đó.

Khoa học thiên nhiên và đạo Phật

Song song với hạnh phúc sống trọn trong các xóm nghèo, tôi cũng hạnh phúc khi có dịp đi nghe thuyết pháp hay được nghe giảng Phật pháp nơi này nơi kia. Được làm phụ tá phòng thí nghiệm (chế nghiệm viên) Sinh Thực Vật, tôi được theo giáo sư Phạm Hoàng Hộ đi cùng với sinh viên toàn ban Sinh Vật Học đi du khảo cây cỏ vùng Suối Lồ Ô, cây cỏ vùng đèo Chuối, Bảo Lộc, Di Linh, đèo Prenn, cả vùng Đà Lạt, đèo Ngoạn Mục, Phan Rang Phan Rí, Nha Trang, Đại Lãnh, Rừng Lá, Vũng Tàu... Đi nơi nào cũng là niềm vui lớn được nhìn sâu vào cây cỏ, sự tương tức, tồn vong, sinh thái của từng vùng. Giáo sư Hộ thích đưa tôi đi theo vì nhờ có trí nhớ tốt, tôi thuộc ngay các tên La Tinh, thuộc từng gia đình thực vật cây cỏ nào mà giáo sư đọc lên phân tách. Tôi cho vào “đĩa cứng” trong đầu tôi rồi sau đó tôi giải thích lại rành rọt cho các sinh viên, rất đỡ việc cho thầy Hộ. Nhưng song song với việc được đi học về cỏ cây hoa lá tôi còn có dịp đi thăm các chùa mỗi nơi tôi đến. Tại Đà Lạt tôi được gặp vị trú trì ngôi chùa Linh Sơn trên đỉnh đồi thành phố: thầy Mãn Giác. Khi thầy Mãn Giác mà cười trông thật vui mắt, vì toàn người thầy đều cười theo! Tôi đến để hỏi đạo nhưng thầy thì rất lười trả lời theo lối thầy Thanh Từ. Tôi hỏi về tự biến cộng biến. Thầy không trả lời mà đi vào mở tủ sách đem tặng cho tôi một bài báo của thầy Nhất Hạnh viết trong nguyệt san Liên Hoa xuất bản tại Đà Lạt và bảo: “Đọc xong, con sẽ có đủ câu trả lời hết trong ấy trong đó dĩ nhiên là có bài Tự Biến Cộng Biến”. Tôi lại hỏi về những từ ngữ khác của đạo Phật mà khi đọc sách Phật pháp tôi không hiểu. Ví dụ như chánh kiến khác với chánh tư duy ra sao? Thầy Mãn Giác lại cũng không trả lời mà đi vào lấy cho tôi thêm quyển Để Hiểu Đạo Phật của Phương Bối (sau này tôi mới biết cũng là của thầy Nhất Hạnh). Tôi chia sẻ những ưu tư của tôi về Thiên chúa, Cộng sản, Phật giáo... thầy lại đi tìm cho tôi quyển sách thứ ba: Đạo Phật Qua Nhận Thức Mới của Thạc Đức (sau này tôi mới biết, lại cũng là thầy Nhất Hạnh). Tôi hơi chán cái ông thầy không trả lời cho mình mà chỉ tặng sách của người khác! Thầy hỏi và được biết tôi từ Bến Tre, thầy bèn cho tôi địa chỉ chị Thu Hà cũng là người Bến Tre và học kỹ sư ở Trường Nông Lâm Bảo Lộc.

Khi chào thầy ra về, tôi thấy vui vui vì sắp được làm quen với một người bạn đạo. Chị Thu Hà vốn là bạn học cùng lớp với chị Bảy tôi, hơn tôi đến sáu tuổi. Mấy chị của tôi có khi nào thích cái chuyện đi chùa tìm hiểu đạo của tôi đâu. Về Sài Gòn tôi liên lạc ngay với chị Hà và được chị báo tin là sắp có một lớp học giáo lý 10 tuần liên tiếp do thầy Nhất Hạnh dạy tại chùa Xá Lợi, dành riêng cho sinh viên các phân khoa. Chùa Xá Lợi rất gần nhà cậu Bảy của tôi mà tôi được cưu mang từ ba năm nay, vì lúc đó chị Ba của tôi giận anh Ba và đưa các cháu về Bến Tre nên tôi không thể ở một mình với anh Ba. Tượng Phật chùa Xá Lợi - hồi đó - là tượng Phật mà tôi thích nhất trong đời. Tượng đức Bổn Sư ngồi thật yên, chiếm hết cả bức tường trên chánh điện, bằng thạch cao màu da người. Không phải là những tượng Phật mặt sơn trắng, môi sơn son đỏ, áo sơn màu vàng ròng, ngồi trên hoa sen cũng bằng vàng màu mè quá sặc sỡ, không tỏa rạng sự bình an. Tới chùa Xá Lợi, tôi chỉ không thích các sinh hoạt của Gia Đình Phật Tử tại đây, rất ồn ào, thổi tu huýt hoét hoét như cảnh sát la các bà bán hàng rong, nhiều người tuổi đã lớn mà nắm tay chạy quanh, quây một vòng, nhảy mà chơi. Nhưng chúng tôi cũng nhờ chùa này mà họp bạn bảo trợ các xóm nghèo, đổ gạo xin được từng bao nhỏ ra, đong lại thành bao 15 ký để phân phát học bổng cho các em đường phố có dịp cắp sách đến trường.

Bài thuyết pháp rúng động tâm can

Sáng chủ nhật ngày 15 tháng 11 năm 1959, tôi đến chùa Xá Lợi dự lớp học đầu tiên với thầy Nhất Hạnh trong giảng đường nhỏ bên hông phải giảng đường lớn chùa này. Nghe chị Thu Hà nói thầy này giỏi lắm, rất nhiều sinh viên thích đi học với thầy nên tôi rủ được hai người sinh viên bạn là Đái Thị Minh và Võ thị Cưu cùng đến nghe thầy giảng. Cưu là bạn hàng xóm cùng tỉnh Bến Tre với tôi, từ khi Cưu lên Sài Gòn học Đại Học Văn Khoa, Cưu không còn dùng tên Võ thị Cưu nữa mà lấy tên lại là Võ Thư Cưu trích từ một bài thơ cổ: Quan quan thư cưu, tại hà chi chu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu... Thầy này sẽ giảng hay hay không, đối với tôi không quan trọng, vì tôi đã có thầy hay là thầy Thanh Từ rồi. Nhưng thầy tôi ở tận Trà Vinh. Tôi muốn cho các cô bạn vô thần của tôi là Minh và Cưu có dịp yêu đạo Phật.

Suốt trọn buổi giảng của thầy Nhất Hạnh, tôi cứ bồi hồi cảm động, chưa bao giờ tôi nghe một giảng sư Phật học nào mà nói về Phật pháp một cách thâm sâu như vậy, như đi vào tận chiều sâu nhất của tâm. Tôi nghe mà rúng động cả tâm can. Trời ơi, sao Phật có thể hay như thế, những điều Phật dạy đi vào thực tế gần gũi thế sao? Vậy mà lâu nay tôi chỉ nghe giảng được một loại đạo Phật quá lý thuyết. Tôi liếc nhìn Cưu và Minh. Hai cô cũng gục gật đầu thích thú. Nhưng hình như họ không có tàng thức tu học như của tôi nên tuy gật đầu thích thú, tuần sau Minh và Cưu bận học nên chẳng bao giờ trở lại học với thầy nữa. Còn thầy giảng sư thì cứ tưởng tôi tên là Võ Thư Cưu vì sau buổi giảng thầy có dạy mỗi người sinh viên ghi tên họ và vài hàng về phân khoa mình đang theo học và trao hết để thầy biết về người đến học khóa này. Tôi quá cảm động về bài giảng của thầy, nên về nhà có ngồi viết lại từ những ghi chú của mình, thành một bài Phật pháp hẳn hoi.

Tôi vẫn làm như thế mỗi khi nghe một bài giảng quá hay của thầy Thanh Từ và có khi thầy sử dụng bài tôi viết để đăng báo Từ Quang, xem như của thầy viết. Chủ nhật tuần sau, tôi đến sớm, trước giờ giảng, tôi có lên thưa với thầy Nhất Hạnh là bài thầy giảng tuần qua quá hay, con có viết lại, thành một bài giảng và nếu thầy thích con xin trình để thầy chữa lại và sử dụng tùy nghi. Thầy nhìn tôi gật đầu, và quay sang nói chuyện với anh Võ Đình Cường. Suốt buổi giảng và sau buổi giảng, không nghe thầy nói gì về bài tôi viết nên tôi nghĩ rằng thầy chẳng cần, nên bỏ qua. Sau này tôi mới biết thầy đã là nhà văn viết bao nhiêu cuốn sách rồi, quả thực là tôi như người “điếc không sợ súng”. Ba tuần sau, một hôm trong phòng giảng nhỏ bên hông giảng đường to chùa Xá Lợi, tôi đang ngồi dò bài Sinh Thực Vật trong khi chờ đến giờ thầy giảng, thầy đã đến gần tôi và nhỏ nhẹ hỏi: Bài con viết và hứa đưa cho thầy đâu? Tôi giật mình cười tươi: A, dạ thưa... để con đem trình thầy tuần sau, con tưởng thầy không thích. Sau giờ giảng thầy bảo chị Thu Hà đưa các bạn tới giới thiệu thầy. Chị Hà giới thiệu: Dạ đây là Phượng, thầy hơi ngạc nhiên, sau này thầy có nói là trong lòng thầy cứ đinh ninh tôi là Võ Thư Cưu. Tôi có một lời cầu xin: Bạch thầy, bạn con tại đại học Khoa Học, toàn là người vô thần hay đạo Thiên Chúa. Họ nhìn đạo Phật rất cạn, con mong thầy cho chúng con được gặp sau mùa thi, vì mùa này chúng con phải học thi. Con xin gặp thầy vào thứ bảy cuối tháng ba, khi chúng con đã thi xong rồi mà chưa đi nghỉ hè, tại chùa này, được không bạch thầy? Thầy gật đầu. Tôi không bỏ sót một buổi giảng nào của thầy nhưng giảng xong là tôi chạy nhanh về để học thi, để lo việc của xóm nghèo của tôi. Tôi phải thi đậu để ba tôi vui lòng và tôi phải theo dõi sự làm ăn lương thiện của các bạn có khuynh hướng cờ bạc nhậu nhẹt ở xóm nghèo Quốc Thanh, vì thế ngày nào tôi cũng ghé qua xóm, hỏi thăm các bạn buôn bán ra sao và đi thu tiền “nợ” một hay hai đồng mỗi ngày để các bà con không ỷ lại. Tiền này, tôi đã dùng cho người khác làm vốn buôn bán hàng rong nho nhỏ, hay trả lại cho họ khi họ thua lỗ. Bây giờ khi nghĩ lại tôi cũng vui, đúng là tôi đã tiếp nối sự nghiệp giúp đất cho những người tá điền của ba tôi. Tôi đã phụng sự đồng bào như nội tôi căn dặn.

Gặp vị thầy mong đợi

Cuối tháng ba 1960, thi đậu xong chứng chỉ Sinh Thực Vật, tôi đưa các bạn Duy, Tân Anh, Minh, Georgette, Đào… tới gặp thầy Nhất Hạnh ở Xá Lợi (Tôi nghĩ đơn giản, thầy thì phải ở chùa này vì mình học thầy ở đây, mới chấm dứt khóa học mười buổi chủ nhật vào đầu tháng hai dương lịch thì nay là cuối tháng ba thầy ở đây chứ đâu nữa?) Tôi tới trước hỏi thăm thì thiên hạ ở chùa cho biết thầy Nhất Hạnh đâu có ở đây. Hiện tại chỉ có thầy Thiện Châu cũng là giảng sư nổi tiếng miền Trung đang ở chùa Xá Lợi lúc này. Tôi đành lấy hẹn để đưa các bạn vào hỏi đạo. Thầy Thiện Châu giảng cũng hấp dẫn như thầy Huyền Vi, nhưng không sâu như thầy Nhất Hạnh. Thầy Thiện Châu trả lời cho các bạn của tôi cũng tàm tạm. Thôi kệ, có còn hơn không. Tháng Bảy tôi được tin thầy Thanh Từ sắp lên Sài Gòn khám bệnh, tôi vào thăm thầy ở chùa Ấn Quang. Đi ngang phòng tổ, tôi gặp được thầy Nhất Hạnh, tôi đến xá thầy và cũng để trách thầy đã không giữ lời hứa sẽ gặp tôi và các bạn tại Chùa Xá Lợi sau khi chúng tôi thi xong. Thầy giương mắt ngạc nhiên vì quên hẳn. Rồi thầy bảo tôi ghi địa chỉ thường trú của thầy là Phương Bối Am ở Bảo Lộc. Am ở trong rừng, thư không đưa tới nên phải gửi qua thầy Thanh Tuệ ở trường Bồ Đề Bảo Lộc. Thầy cũng bảo tôi cho thầy địa chỉ. Tôi giữ địa chỉ của thầy nhưng chẳng có bao nhiêu giờ để viết cho thầy. Sau khi tôi thi đậu Chứng Chỉ Sinh Thực Vật Học, giáo sư Phạm Hoàng Hộ khuyến khích tôi nên nghiên cứu ngay một công trình khảo cứu về rong nước ngọt. Trường đại học cho tôi số tiền hằng tháng, không phải để làm nhân viên sáng đi tối về mà để cho tiện việc tôi khảo cứu về khoa học. Giáo sư Hộ chuyên môn về rong biển và Việt Nam hiện nay đang thiếu chuyên môn về rong nước ngọt. Giáo sư sẵn sàng làm thầy bảo trợ và hướng dẫn cho tôi về công trình khảo cứu này. Tôi dạ dạ cho giáo sư Hộ vui nhưng tâm tôi đang ở xóm Mả Lạng Quốc Thanh và tôi cũng đang dành dụm tiền để lập một ni viện riêng cho chính mình sau khi thi xong cử nhân (cho ba tôi vui lòng). Xong cử nhân là tôi sẽ cạo đầu làm sư cô và giúp người đói khổ! Quê ơi là quê, tôi dốt nát về lễ nghi đạo Phật nên nghĩ thật đơn giản là muốn làm ni cô thì cứ tự cạo đầu là được!

Phước và Huệ hai sự thực tập cần thiết trên đường tu

Bỗng một hôm vào khoảng tháng Mười có một bức thư gửi cho tôi, nét chữ thật đặc biệt, tôi chưa từng thấy ai có nét chữ thanh tú và lạ lẫm rất đặc biệt như thế. Người gửi: Thầy, Phương Bối Am, Bảo Lộc. Tôi mở ra, trong thư chỉ có vài dòng ngắn ngủi: “Con, trời Phương Bối Am trên núi này đã trở lạnh, thầy đang bửa ci để nấu nước và nấu ăn. Đốt củi ướt có khá nhiều khói, nhưng rất dễ chịu khi bên trong am, lửa nổ lách tách và bên ngoài gió hú từng hồi.” Tôi cảm động và hối hận... Thầy đã dạy viết thư cho thầy mà tôi đã không viết gì hết, lại để cho thầy phải tự viết cho mình! Tôi bèn biên một thư thật dài trút hết ruột gan mà tôi “ấm ức” bấy lâu nay. Tôi thuật những chuyện tôi làm cho trẻ em đường phố, tôi tìm công ăn việc làm cho cô bác ở xóm Mả Lạng Quốc Thanh, tôi viết: Con thấy có cái gì bất công trong việc con có cơm ăn áo mặc, mà các đứa trẻ vô tội kia lại bị cái nghiệp quả gì mà khổ sở như kia. Giải thích về nghiệp báo cũng là một cách giải thích thôi, nhưng con phải làm ngay một việc gì cho các em đỡ khổ thì trái tim con mới bình an được. Nhiều thầy nhiều ni sư nói nếu con đi làm việc cứu kẻ sa cơ hoạn nạn là chỉ tu phước thôi. Không tu huệ, không thành Phật được. Con thì cảm thấy ngược lại, những điều kia, càng làm chuyện hữu ích nào cho ai thì con thấy mình gần Phật hơn và có bình an hơn. Con không cần tu phước tu huệ gì hết. Sự khổ đau vật chất và tinh thần của đồng bào con ở xóm lao động kia là có thật, con chỉ muốn chia sớt gánh nặng cho họ. Con không cần kiếp sau được sinh ra làm con gái nhà giàu, không cần làm công chúa giàu sang kiếp sau... Con không có thì giờ viết cho thầy chỉ để thăm hỏi. Con rất cần gặp thầy để hỏi vì sao Phật thì giỏi như vậy mà con Phật chẳng làm gì hết ?

Thầy đã trả lời thật dễ thương cho tôi, nói rằng: “Cái nhìn mà chia ra tu phước khác với tu huệ là còn nhị nguyên. Con cứ làm việc mà con ưu tư thao thức nhất. Con làm việc với tất cả tâm con trong chánh niệm, con sẽ luyện được định tâm trong từng hành động, có niệm có định rồi thì cái thấy sâu sắc sẽ xuất hiện, đó là bước đầu của tuệ giác, của giác ngộ. Ngày xưa có một vị tu sĩ chỉ phát nguyện vá lại hết những áo cũ của các bạn tu, nhưng thầy vừa vá áo vừa định tâm trong khi vá áo, không để tâm suy nghĩ thất tán trong khi vá cho tới một ngày, khi tâm định của thầy thật lớn thì thầy đã ngộ ra những công án sâu sắc mà thầy dày công tìm kiếm mà chưa tìm ra khi ngồi thiền. Và cứ thế thầy đạt được đến đại ngộ khi vá liên tiếp sáu mũi kim.’’

Ðược thầy soi sáng như thế tôi quá hạnh phúc, đây đúng là công án để tôi tu tập suy gẫm và hành trì suốt đời. Tôi suy gẫm thêm: Phước và huệ không thể tách rời, khi ta làm việc gì rất đẹp rất lành, sẽ có nhiều năng lượng lành bao trùm lấy người hành giả đó. Ta tạm gọi là làm phước, là có phước. Cái năng lượng đó tuy mắt không thấy nhưng đó là một loại năng lượng vô hình có thể che chở cho người đó trong những khi nguy biến. Nhưng nếu làm việc đó mà rất định tâm khi làm, nhờ định tâm nên nhìn sâu thấy kỹ, thật ý tứ, thấy thật rốt ráo từng hành động, làm như mình là tay mặt cần phải đến với người kia là tay trái để kéo tay trái ra khỏi tình huống khó khăn mà không cần tay trái phải cám ơn tay mặt! Vì có người khổ và mình đang ở trong thế giúp được thì cứ làm, không vì lợi, vì danh, không vì sẽ được phước báo chi hết, làm việc với tình thương, làm thật rốt ráo như làm cho chính mình, như tay mặt lo cho tay trái. Khi hành động, nhờ có định tâm nên thấy rất rõ nguyên nhân và hậu quả của hành động này, nên không để cho ai lợi dụng. Hành động có tình thương, có từ, có bi, có hỷ và có xả thì người hành giả cũng đang trau dồi huệ. Chúng ta chỉ cần làm những việc gì ta ưa thích nhất, ta có thể dần dần đi đến giác ngộ trên con đường hành động đó nếu ta luôn luôn nuôi dưỡng định trong từng hành động. Khi làm việc đó mình nên nhìn sâu để tự hỏi “hành động này có đủ từ bi không? có đủ hỷ và xả không? Hành động vì việc làm đó và vì lý tưởng làm lợi lạc cho người khác đó hay vì danh và vì lợi cho chính mình? Quán chiếu như vậy suốt ngày trong mọi công tác, mọi lời nói và mọi tư duy thì chúng ta vừa tu phước mà cũng vừa tu huệ.

Sau này tôi khám phá ra trong chúng tu học mà tôi được gần gũi, có người dù đã cạo đầu làm người xuất gia nhưng cách làm việc không có niệm và có định thì đó cũng chỉ là tu phước thôi, cũng nấu được mấy món chay đãi ba bốn trăm người đến tu học nhưng vừa nấu mà vừa trách người này làm không hay, bực người kia xắt miếng cà rốt quá dày… Tuy có thức ăn cho người ta thì chắc chắn là có phước nhưng vừa nấu vừa trách người này chê người kia thì không có tuệ. Nhưng nếu vừa nấu mà vừa chú tâm khi xắt gọt, quyết tâm đem tài khéo léo của mình học được mà làm cho món ăn ngon; vừa hạnh phúc vì được có thì giờ nấu cúng dường đại chúng, suốt buổi nấu ăn giữ tâm định trong từng hành động thì công phu của định càng lớn và cô ấy vừa tu phước mà cũng tu huệ. Vì làm xong ba nồi thức ăn to đãi khách (phước) mà cũng nuôi dưỡng được ba bốn giờ trong định tâm.

Trong nhiều tu viện Phật Giáo và ngay cả trong tu viện Làng Mai cũng có người chỉ tu phước và cũng có người vừa tu phước vừa tu huệ. Ví dụ một sư cô hay một sư chú chỉ mong làm sao cho được nhiều việc nhất cho chúng, nào nấu ăn, quét nhà, làm vườn, rửa dọn, làm thật nhanh cho mau, cho được việc nhưng khi làm không có niệm (tâm KHÔNG an trú trong phút giây làm việc ấy vì mong làm cho mau để làm tiếp việc khác...) Như thế thì dù đang ở chùa, sư cô hay sư chú ấy cũng chỉ tu phước thôi. Còn một sư chú hay một sư cô khác thì làm việc nào cũng an trú thảnh thơi định tâm trong phút giây hiện tại, tập luyện định tâm suốt ngày thì dù chỉ quét và lau nhà, lau cầu vệ sinh thì sư chú ấy, sư cô ấy cũng tu huệ.

Nhờ sự dạy dỗ của thầy ngay từ lúc mới được gặp thầy nên tôi hạnh phúc quá! Thế thì ngày nào khi đi xe máy vào xóm nghèo mà trong khi ngồi trên xe, tâm tôi định trong phút giây hiện tại, nhìn trước nhìn sau để không đụng ai, lái cho đẹp cho đúng luật, không tính toán trước. Tới xóm nghèo nếu tình trạng không như ý, nếu mọi việc trở nên khó khăn, tôi sẽ tập định tâm, nhìn sâu hơn công việc ấy, khi bực mình sắp trách móc thì tôi sẽ tập dừng lại, cho thêm vào vài giọt nước từ bi thanh lương cho lòng tôi mát lại và nhờ thế cách nói năng hành xử của tôi cũng nhẹ nhàng hơn. Có khi cần nghiêm nghị để các bạn nghèo không lợi dụng, không lờn thì tôi cũng phải làm nghiêm nhưng không làm thương tổn người ta. Làm mặt nghiêm mà trong tâm thì thương, không giận hờn, và nếu cần làm mạnh như trừng phạt thì cũng làm trong tinh thần để giúp họ gắng sửa đổi chứ không phải để trừng phạt cho họ khổ cho hả dạ mình. Tôi tập trình bày sao để cho người lầm lỡ hối hận thật tình và cố gắng sửa đổi vì thương tôi, sợ tôi buồn mà họ sửa tánh chứ không phải vì sợ tôi trừng phạt. Như vậy thì làm việc ở Xóm Nghèo, tôi vừa tu phước mà đương nhiên cũng là tu huệ.

Thầy có dạy là nhóm Phật tử lo cho các bạn nghèo của tôi không phải là nhóm Phật tử duy nhất làm chuyện này đâu. Có rất nhiều tấm lòng thương Phật, thương người khổ như chúng tôi đang âm thầm làm rải rác nơi này nơi kia. Thầy đang có một số dự án cần thực hiện nên thầy chưa giúp chúng tôi được lúc này, nhưng năm tới, khi làm xong chương trình khảo cứu tôn giáo tỷ giáo ở đại học Princeton về, thầy sẽ giúp chúng tôi làm một cuộc cách mạng xã hội theo tinh thần và những nguyên tắc Bụt dạy. Thầy sẽ đem các nhóm lại với nhau.

Tự tìm lấy câu trả lời bằng sự quán chiếu

Còn một việc mà cách thầy Nhất Hạnh dạy rất khác thầy Thanh Từ là mỗi khi tôi hỏi thầy Thanh Từ câu gì thì thầy đều trả lời thông suốt và thỏa đáng. Nhưng thầy Nhất Hạnh thì không. Thầy không bao giờ trả lời những câu hỏi của tôi cả. Thầy dạy tôi nhìn sâu hơn và quán chiếu kỹ hơn. Nếu là câu trả lời do chính tôi khám phá ra thì nó có thực chất hơn, và tôi sẽ tu tập cái khám phá đó kỹ hơn và thuyết phục được người nghe bằng cách hành xử của tôi hơn. Ví dụ thay vì nói: Phật dạy ai cũng có Phật tánh, cũng thành Phật được dù con người hay thú vật. Vì thế ta không ăn thịt thú vật vì con thú đó cũng khổ đau sợ bị giết như mình. Thì thầy Nhất Hạnh dạy tôi tự quán chiếu và nhìn sâu hơn để tự khám phá lấy xem con vật có phải do tạo hóa sinh ra cho mình ăn thịt không. Nhìn vào miếng thịt gà vừa luộc với lá chanh, thơm ngon... tôi tập nhìn sâu hơn để nhớ rõ chị người làm phải dùng chân của chị, đạp hai cẳng con gà lại, cầm cái đầu nó kéo ra, và tay kia thì cầm con dao thật bén kéo cổ con gà ra để khứa cổ nó. Nó giãy giụa thật tội nghiệp và lăn ra chết. Thương ơi là thương. Nhìn sâu và thấy được từng ấy khổ đau của con gà thì làm sao ta có can đảm ăn thịt con gà. Tôi chỉ cần mời các bạn Công giáo nhìn kỹ như tôi và phát lòng thương thì chị em đâu có cần cãi cọ chi. Chúa là tình yêu, Chúa là ánh sáng, chắc Chúa không muốn mình trói gô bốn chân con heo và cầm con dao nhọn thật dài thọc vào yết hầu con heo để máu nó phun vọt ra nhiều đến phải đem nguyên một cái thau to mà hứng, nó nằm chết chèo queo. Xác to gần bằng xác người, thấy thương đứt ruột, rồi mình xẻ thịt nó mà ăn. Ăn làm sao nổi, những bạn con của Chúa Tình Yêu ơi. Tôi chỉ cần chia sẻ như thế thì các bạn Công Giáo kia sẽ thương liền và không cãi cọ nữa.

Bánh chưng gửi từ Phương Bối Am vào dịp Tết

Mồng ba Tết năm 1961, có một sư chú độ 17 tuổi đem đến tận nhà trọ của tôi một chiếc bánh chưng, gói vuông vắn thật đẹp, sư chú Thanh Hiện. Sư chú tả cho tôi nghe Tết ở Phương Bối Am vui như thế nào, chỉ có những sư chú thân thương với thầy, thầy trò gói bánh chưng ban ngày và cùng đốt lửa giữa rừng để nấu bánh chưng và nói chuyện thi văn đêm giao thừa. Sư chú quá thương thầy nên kể đủ thứ chuyện về thầy cho tôi nghe, rằng thầy rất tài ba (thầy đậu thủ khoa tất cả những chứng chỉ ở Ðại Học Văn Khoa), thầy có tâm làm mới đạo Bụt nhưng rất là cô đơn trên con đường cải cách trình bày những điều Bụt dạy, thầy rất cô đơn trên con đường muốn tổ chức lại cơ cấu giáo hội cho đúng theo lục hòa, trên con đường muốn làm cách mạng đạo Phật. Quý vị lớn thay vì nâng đỡ thầy thì chỉ chê bai. Sư chú nói thầy là chủ bút tờ nguyệt san Phật Giáo Việt Nam, cơ quan văn hóa của Tổng Hội PGVN cho Phật tử toàn quốc, hay vô cùng! Trong đó thầy lấy bút hiệu Tâm Quán để viết những kinh nghiệm tu học của một chú sa di tại chùa tổ của thầy là tu viện Từ Hiếu, thầy lấy bút hiệu Dã Thảo để phê bình văn học Tây phương dưới cái nhìn của Phật giáo, thầy lấy bút hiệu Thạc Đức để nói về thời sự, về chỗ đứng của Phật giáo trong lòng dân tộc thuộc hai miền đất nước, về vai trò hiện tại của Phật giáo, thầy lấy bút hiệu Phương Bối để viết về những bài Phật học căn bản như Bát Chánh đạo, Tứ Diệu Đế, Tứ Chánh Cần, thầy chỉ để tên Nhất Hạnh khi thầy ký tên những bài thơ như “Hãy nguyện cầu cho bóng tối thêm sâu hỡi ngàn sao lấp lánh“:

Đã không nguyện cầu cho trời êm bể lặng

Nhưng nguyện cầu cho chân cứng đá mềm.

Thầy soạn một số bài Phật học dùm cho Thượng Tọa Đốc Giáo chùa Ấn Quang trong bộ Phật Pháp Phổ Thông, thầy nhuận thơ cho một thượng tọa thi sĩ mà không ai biết và rất phục thi sĩ, thầy có nhiều mật hạnh (hạnh làm âm thầm yên lặng), và nhờ là thị giả của thầy nên sư chú thấy hết chứ thầy không nói đâu. Rất ít ai biết tất cả những hạnh mà thầy làm lắm. Thầy không nói cho các sư chú biết nhưng sư chú nào cũng thương thầy. Khi thầy đi chơi chung với các sư chú không ai biết là thầy đã là giáo thọ. Học tăng nào cũng thương thầy. Phòng thầy không có các ông bà nhà giàu đến cúng dường, nhưng lúc nào cũng đầy các chú học tăng trẻ, thương thầy như anh, như cha, như thầy. Có nhiều khi thầy sốt mà không có một đồng bạc mua thuốc, chỉ trông nhờ các sư chú cạo gió xoa bóp cho thầy thôi. Sư chú nói thầy cùng với thầy Trí Hữu lập Chùa Ứng Quang sau đổi thành Ấn Quang, thầy giúp các vị lớn như thầy Thiện Hòa, Thiện Hoa lập giáo trình để thành lập Phật học đường Nam Việt. Thầy dạy các sư chú như Trí Không, Minh Cảnh, Chơn Lễ, Đức Niệm, Hồng Huệ... về Phật pháp, thầy cũng dạy các thầy giảng sư lớn về triết học Tây Phương và Phật Giáo - trong những vị này có những vị như thầy Huyền Vi, thầy Thanh Từ… nữa. Nhưng trong chùa có nhiều vị không hiểu thầy nên một hôm thầy đi dạy ở Đà Lạt về thì tên thầy bị xóa trong hộ khẩu chùa Ấn Quang. Thời này còn Pháp thuộc, nếu tên mình không có trong chùa cũng sẽ bị khó khăn lắm. Chắc là thầy có buồn nhưng những lúc như vậy thầy không bao giờ phản ứng mà chỉ rút lui về Phương Bối Am để đi rừng chơi, đọc thơ và ngồi thiền, đi thiền… Tôi ngồi lắng nghe say sưa những hạnh nguyện của thầy và từ đó tôi tìm đọc tất cả sách của thầy viết. Tôi cũng tìm cách làm quen với các thầy khác, các sư chú khác như Chơn Lễ, Trí Không, Hồng Huệ, Minh Cảnh, Thiện Tánh... có được biết thầy để nghe lại xem có thật những điều sư chú Thanh Hiện nói là đúng không, kẻo chú Thanh Hiện vì thương thầy quá nói không thật thì sao?

Những cây tùng cây bá cho ngôi nhà mới của đạo Phật

Tháng Hai năm 1961 thầy lại về Sài Gòn và đề nghị thầy Quảng Liên, thầy Thiện Châu mỗi vị giảng một chủ nhật cho sinh viên học sinh trong vòng ba tháng tại chùa Ấn Quang. Sau buổi thuyết pháp đầu của thầy tại chùa Ấn Quang, bỗng có hai nam sinh viên nói giọng hơi hơi Bắc đến mời tôi và em Cao Ngọc Thanh, em Mười của tôi, lên hầu chuyện với thầy Nhất Hạnh cùng với một số bạn sinh viên đại học Sài Gòn khác. Hôm đó chỉ có những sinh viên sau đây: anh Huỳnh Bá Dương, anh Huỳnh Bá Huệ Dương (em ruột của anh Huỳnh Bá Dương), anh Tôn Thất Chiểu, chị Nguyễn Thị Thu Hà, chị Phạm Thị Ngọc Liên, chị Cao Ngọc Phượng, chị Cao Ngọc Thanh, chị Lê Kim Chi, chị Trương Thị Nhiên, anh Ðỗ Tuấn Khanh (hai chị Nguyễn Ngọc Điệp, Nguyễn Ngọc Bích và anh Đặng Ngọc Cương đến sau vài tuần). Thầy thuật cho chúng tôi nghe là thầy có niềm tin nơi đạo Bụt, vốn đã rất thành công trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước và đưa đất nước vượt khỏi ách ngoại xâm suốt 300 năm trong thời Lý Trần. Giờ đây nếu ta tu học và hành đạo đúng đắn, ta cũng sẽ làm được như tổ tiên đã làm. Thầy nhớ phong trào canh tân Phật Giáo những năm 1930 - 1945 chỉ bắt đầu bằng một nhóm thanh niên theo học với đạo hữu Lê Ðình Thám. Sau khóa Phật học Ðức Dục với hai vị này (là cụ Thám và thầy Tri Do) cả phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung được hưng thịnh nhờ mỗi học viên sau đó đã trở thành những cán bộ nòng cốt, những cây tùng cây bá của phong trào. Thầy mong đào tạo các con thành những cây tùng cây bá nâng đỡ cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, làm mới lại những điều Phật dạy cho khế cơ. Thầy nói khế cơ phải đi đôi với khế lý để không được đi trật điều Phật dạy. Khi thầy giảng trên bục đã hay rồi mà khi ngồi nghe thầy chia sẻ chúng tôi như được đưa vào khung trời tâm linh của thầy thật im mát mà thật thâm sâu. Mười ba anh chị sinh viên ngồi như bị thôi miên không nói được lời nào. Chúng tôi cứ nói riêng với nhau là sao khi thầy nói chuyện với một nhóm nhỏ tụi mình thì như tất cả mọi người đều được đưa vào khung trời thân thương thâm sâu và đầy ánh sáng của lý tưởng phụng sự. Không còn gì để lý luận và bàn cãi. Thầy với mình là một, thầy với lý tưởng là một. Thầy và trò cùng đi thôi, không cần bàn cãi. Thiếu chỗ này mình thưa thì thầy làm, sai chỗ kia thầy dạy thì mình nghe và vì quá đúng ý mình nên mình làm thôi chứ không phải bị buộc làm theo vì mù quáng vâng lệnh.

Bốn chục năm sau tôi mới thấy đúng là ngay từ lúc ấy, thầy đã đưa chúng tôi đi vào dòng sông lý tưởng. Thầy trò cùng đi như một dòng sông. Mọi người có một niềm tin tuyệt đối nơi thầy. Thầy nói mỗi ba tuần thầy sẽ giảng tại Chùa Ấn Quang một lần cho đại đa số quần chúng, vì có thầy Quảng Liên và Thiện Châu sẽ giảng hai chủ nhật kế tiếp, nhưng mỗi chiều chủ nhật thầy mời các con tới đây học giáo lý với thầy cho có những hiểu biết căn bản về những điều Bụt dạy. Chúng ta tiếp tục việc làm của đạo hữu Lê Đình Thám cho nhóm Thanh Niên Phật Học Đức Dục tại Huế những năm 1930 -1940 vậy.

Chúng tôi đã không phụ lòng thầy, sau này mỗi anh chị em học trò của lớp này mỗi người đi phụng sự một cách khác nhau, nhưng cùng chung một hướng lý tưởng, trở thành những cây tùng cây bá của ngôi nhà Phật Giáo Việt Nam. Anh Huỳnh Bá Huệ Dương trở nên cánh tay tổ chức hạ tầng cơ sở Phật tử thật tài tình để giúp thật hữu hiệu cuộc tranh đấu chống chánh quyền độc tài Ngô Ðình Diệm, sau đó anh lãnh đạo Vụ Trưởng Vụ Thanh Niên Phật Tử trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất năm 1964. Anh Tôn Thất Chiểu cũng là đoàn viên xuất sắc của đoàn Sinh Viên Phật Tử sau này, chị Thu Hà (sau này là sư cô Thuần Đức) và em Cao Ngọc Thanh lập nhà xuất bản Lá Bối cùng với thầy Thanh Tuệ, chị Trương Thị Nhiên, phu quân là anh Phạm Văn Điến, chị Lê Kim Chi và phu quân là anh Nguyễn Văn Tiếng (cả hai vị bác sĩ này chăm sóc sức khỏe cho tất cả tu sĩ ở tu viện Lộc Uyển thật hết lòng).

Tôi và em Mười Cao Ngọc Thanh rất nghịch (nhưng nghịch ngầm nên chỉ có hai chị em biết). Hai chị em đặt đủ thứ tên nhỏ cho từng nhân vật trong vòng đệ tử của thầy tại Sài Gòn. Anh Huỳnh Bá Dương lúc nào cũng mang tượng Bụt bằng sợi dây nhung đen trên cổ nên chị em tôi gọi anh là “chàng sợi dây nhung đen”, anh Huỳnh Bá Huệ Dương cao lớn nhưng hơi tròn trịa nên chị em nhà này gọi “huệ Đà Lạt” vì huệ Đà Lạt (tức là bông lys đó) to hơn huệ thường cúng Phật, tròn trịa như anh Huệ Dương thì chỉ có thể là huệ Đà Lạt thôi! Chị Thu Hà là “triết gia” vì chị hay có những tư tưởng thâm trầm và sâu sắc. Có một anh trong Gia Đình Phật Tử Chùa Xá Lợi thấy hai chị em nhà này không chịu vào GĐPT mà cứ đứng nhìn cười hoài như chế giễu (vì thấy cái anh chàng đó lớn quá, già rồi mà cứ quây một vòng nhảy mà chơi, nhảy tưng tưng như trẻ con, thổi tu huýt toe toe như lấy le). Thấy chúng tôi cười, anh ấy giận lắm cứ nhìn chúng tôi vừa bậm môi vừa trợn mắt dọa dẫm. Thế là chúng tôi cho anh đó tên “chàng bậm môi trợn mắt”. Lê Kim Chi rất xinh, nũng nịu, nhõng nhẽo với đại đức Narada và với quý thầy hoài nên chúng tôi gọi là “tiểu thư”, Trương Thị Nhiên rất là im lặng và đảm đang. Trong khi chúng tôi ngồi nghe thầy giảng dạy say mê, chẳng đứa nào biết làm chi cúng dường cho thầy hết thì Nhiên lẳng lặng đi pha trà cho thầy nên chúng tôi gọi thầm là “mẹ Việt Nam”.

Con có còn chiếc áo nào đẹp hơn cái áo này không ?

Hôm đó là buổi giảng thứ hai của thầy ở chùa Ấn Quang, giảng xong thầy nhờ một sư chú gọi tôi vào phòng khách cho thầy gặp. Tôi hớn hở được thầy cho gặp riêng, ai dè vừa vào thì thầy hỏi: Con còn chiếc áo dài nào đẹp hơn chiếc áo con đang mặc này không? Tôi nhìn xuống chiếc áo dài nâu rộng thùng thình (theo lối áo các em tập sự xuất gia ở Làng Mai) và bỗng tủi thân khóc! Ở nhà ai cũng chê tôi ăn mặc lôi thôi thì kệ họ, nhưng mà chính thầy, vị thầy quý kính mà tôi nghĩ đã hiểu tôi rất nhiều, cũng chê thì không tủi thân sao được? Thầy phải tự hiểu rằng vì tôi dành tất cả thì giờ trong đời mình cho người nghèo khổ thì tôi phải ăn mặc thật nghèo cho giống họ chớ?

Thầy tỏ vẻ lúng túng khi thấy tôi khóc, nhưng rồi thầy dịu dàng nói: Cái đẹp của một người cần được thể hiện từ trong ra ngoài. Con không cần mua áo sang trọng đắt tiền để mặc. Tâm hồn đẹp của con phải được thể hiện bằng cách đi đứng nói năng và chiếc áo, dù rằng rẻ tiền nhưng trang nhã. Mai này khi đi tu con sẽ cạo đầu, con sẽ mặc chiếc áo sư cô, nhưng cũng thật trang nhã. Còn bây giờ, con còn là một cư sĩ, con phải ăn mặc bình thường nhưng trang nhã để khuyến khích các bạn muốn sống đời thánh thiện như con cũng ăn mặc như con và đi làm đẹp cuộc đời như con.

Trung học miễn phí dạy mỗi tối tại chùa Giác Ngộ

Chỉ còn một tháng nữa là thầy đi Hoa Kỳ, chúng tôi tranh thủ đi thăm thầy ở Chùa Trúc Lâm ở Bà Quẹo (thuộc tỉnh Gia Định), mỗi chiều sau giờ học. Mười mấy đứa “bè lũ” ngồi trong chiếc cốc nhỏ xíu của thầy, nghe thầy đọc thơ, bình thơ đạo, thơ Đường, dạy Phật học tối tối… Khuya 11 giờ mới chở nhau về. Anh chị em chở nhau, bảy xe máy đi hàng ngang, ngang tàng giữa đường khuya Sài Gòn rất là vui.

Sau khi thầy đi Hoa Kỳ, chúng tôi quyết định lập một trường trung học tư miễn phí cho người nghèo, những người phải đi làm thuê cả ngày chỉ có tối mới có giờ đi học. Trường lập tại chùa Giác Ngộ. Tôi dạy Hóa, anh Huệ Dương dạy Toán, anh Khanh dạy Lý, Tôn Thất Chiểu dạy Anh văn, Chị Hà dạy Văn chương, Chi và Nhiên dạy Pháp văn. Dạy xong “bè lũ” cũng về khuya và cũng đi xe máy hàng ngang ngang tàng như hồi đi Chùa Trúc Lâm ở Bà Quẹo thăm thầy tối tối. Ôi những cây tùng thân thương năm 1960 của thầy sao mà đẹp quá!

Chương 5: Cuộc đấu tranh bất bạo động chống độc tài

Đoàn Sinh Viên Phật Tử Việt Nam đầu tiên tại Sài Gòn

Thầy đi rồi chúng tôi cũng có ý định theo học giáo lý với thầy Quảng Liên tại chùa Ấn Quang. Nhưng do dự bàn tính xong thì không hăng say lắm. Lý do là vì thấy có một sự khác biệt giữa thầy Quảng Liên và thầy Nhất Hạnh. Ngày xưa, tới giờ pháp đàm, chúng tôi mỗi đứa một ý, ý nào cũng có lý, cũng hay (!) theo hướng thấy của mình, nhưng mười ba đứa thì mười ba ý. Tới khi thầy Nhất Hạnh nói, vì thầy lắng nghe rất kỹ và rất sâu ý của từng người nên khi đưa ý thầy ra thì ý thầy bao trùm từng mảnh tuệ giác của ý mỗi chúng tôi, mỗi đứa mỗi khác. Xong thầy cộng thêm cái thấy thâm sâu của thầy trùm lên trên, nên ai cũng thỏa mãn. Nhưng khi học với thầy Quảng Liên thì khi nghe xong ý chúng tôi, thầy cho thêm ý của thầy và không đứa nào đồng ý với thầy hết. Vì ý của thầy chỉ là một ý thứ 14 khác với 13 ý của 13 đứa chúng tôi. Ý thầy không vượt lên trên nên chúng tôi không hài lòng, không nghe theo. Có khi thầy giận. Rồi chúng tôi lẳng lặng rút lui và không xin theo học với thầy nữa. Khi thầy Nhất Hạnh còn ở nhà thì thầy tưởng thầy Nhất Hạnh xúi chúng tôi cứng đầu, nhưng thầy Nhất Hạnh đã đi thì chúng tôi cũng không còn dịp học với thầy nữa. Rồi khi thầy Thiện Minh từ Huế vào Sài Gòn (lúc này thầy Nhất Hạnh đã ở Princeton, Hoa Kỳ) bảo phải lập ngay Đoàn Sinh Viên Phật Tử thì thầy Quảng Liên rất đồng ý với chúng tôi là phải học giáo lý cho vững trước đã rồi hãy mở rộng ra. Nhưng rồi chiều ý các thầy lớn nên cuối cùng chúng tôi lập ngay Đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn đầu năm 1962. Khi mở lớn chúng tôi mới thấy là sinh viên theo đạo Phật khá đông ở Sài Gòn và làm như thế chúng tôi có dịp làm lớn những hoạt động phụng sự của chúng tôi hơn. Nhờ thế mà 13 cây tùng trở thành một trăm cây rồi ba trăm cây tức là ba trăm đoàn sinh Đoàn Sinh Viên Phật Tử. Lúc đó tôi có bạn mới là Lê Khắc Phương Thảo, Nguyễn Thị Trà Mi, Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng, Lê Hữu Bôi, Tôn Thất Tuệ, Trương Văn Niên, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - người đẹp của Đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn, Nguyễn Thị Bích (Đà Lạt), chị Thanh Cam, Phạm Thúy Uyên, Phạm Thị Thục, Phạm Mạnh Hương…

Bảy mươi người bạn lo cho các xóm nghèo

Công tác ở xóm nghèo của tôi trước đó có trên dưới hai mươi người, sau này nhờ được thầy khuyến khích và tác động chúng tôi đã lập thành một nhóm lớn hơn, nhưng khi có Đoàn Sinh Viên Phật tử mà tôi là Trưởng Ban Từ Thiện Xã Hội thì chúng tôi có được 70 người đi vào các xóm nghèo của thành phố Sài Gòn làm việc rất có phương pháp. Ngày xưa chúng tôi chỉ làm việc ở xóm Mả Lạng thôi nhưng bây giờ có các bạn, tôi đã chia ra làm năm nhóm đi vào năm xóm ổ chuột của thành phố: xóm Mả Lạng sau rạp hát Quốc Thanh, xóm Bàn Cờ, xóm Cầu Bông, xóm Chợ Ông Tạ và xóm gần chợ Bà Chiểu. Phùng Thăng, Trà Mi và Ngọc Thanh... đều là những nữ kiệt trong Ban Từ Thiện của chúng tôi nên mỗi người chăm sóc nguyên một xóm cùng với các bạn khác.

Mỗi tháng một lần, chúng tôi tổ chức để mỗi sinh viên bạn chúng tôi có dịp đưa một cháu thiếu nhi nghèo đi Sở Thú, đi ăn kem, đi xem xi nê và đi ăn mì, hủ tiếu ở các hiệu ăn bình dân mà chưa cháu nào có diễm phúc được vào. Sau khi cấp học bổng bằng 15 ký gạo cho gia đình mỗi cháu, các bạn đặc trách xóm nào còn phải chạy lo làm giấy khai sinh cho từng cháu thì mới ghi tên cho các cháu vào trường học gần nhà được. Đối với chúng tôi thì việc này thật dễ dàng, chỉ cần ra phường làm đơn xin lập thế vì khai sinh cho các cháu vì hồi sinh cháu ra bố mẹ không đi làm khai sinh. Phường sẽ gửi lên quận, rồi quận gửi lên tòa án. Một thời gian sau, tòa án sẽ mời ba mẹ các cháu đến, và hai người chứng lên tuyên thệ là cháu đã sinh đúng ngày đó và có hai người làm nhân chứng. Thế là xong. Nhưng đối với dân nghèo làm như thế quá rắc rối và khó khăn. Ở xóm Mả Lạng tôi tổ chức cho bốn bà có con mọn, giữ con dùm cho nhau để ba bà kia đi buôn bán, và cứ như thế vần công ba ngày bán một ngày nghỉ giữ con cho nhau, đi bán tới chiều mới đón con về.

Mỗi bạn chăm sóc xóm của mình như là lo cho chính gia đình mình, đưa chị này đi bệnh viện, đưa cháu kia đi chữa mắt, tìm nghề buôn bán dạo, như tôi đang làm cho xóm Mả Lạng cho những người thất nghiệp ngồi không cờ bạc, nhậu nhẹt, móc túi hay làm những việc tiêu cực khác. Ở xóm Bàn Cờ, Phùng Thăng và Trà Mi mở lớp dạy đêm cho trẻ em lớn, suốt ngày phải đi bán dạo hay đánh giày để nuôi gia đình. Xóm Cầu Bông của em Thanh thì có rất nhiều người bị lao phổi, chúng tôi vào ra bệnh viện Hồng Bàng của người lao hoài. Nhờ có học chung với các bạn Y Khoa hồi năm thứ nhất PBC (Physique, Biologie, Chimie), lớp này học chung Sciences Naturelles, Physiques et Chimiques với tôi, nên khi chở bệnh nhân đi tới bệnh viện nào, chúng tôi đều có các bạn đang học y khoa giúp.

Khơi màu kỳ thị

Một ngày tháng Tư năm 1963 một người phụ tá của bà Ngô Đình Nhu lên phòng làm việc của tôi tại Đại Học Khoa Học và mời tôi vào đảng Phụ Nữ Cộng Hòa. Họ hứa khi tôi trở thành đảng viên thì họ sẽ đưa tôi lên làm trưởng ngành Phụ Nữ Cộng Hòa vùng Sài Gòn Gia Định. Ông Nhu là em ruột Tổng Thống Ngô Đình Diệm đương thời, ông bà Nhu lập ra đảng Thanh Niên và Phụ Nữ Cộng Hòa như là một đảng thuộc chính quyền và họ mời hết những nhân viên năng nổ của chính phủ vào đảng ấy. Tôi từ chối, nói rằng vì công việc lo cho Đoàn Sinh Viên Phật Tử và lo cho năm xóm nghèo của chúng tôi đã lấy hết giờ của tôi rồi. Đoàn Sinh Viên Phật Tử lúc này làm việc giỏi lắm. Có nhóm chỉ lo về hội thảo do anh Lê Hữu Bôi làm trưởng nhóm. Nhóm tu học và pháp đàm giáo lý do anh Huệ Dương làm trưởng nhóm. Nhóm báo chí có ra tờ Tin Tưởng như là tiếng nói của đoàn do anh Lê Hữu Bôi làm chủ bút. Khi nghe tôi từ chối “ân huệ “ như thế của bà Ngô Đình Nhu, bà liên lạc viên có nói: Sự từ chối của cô có thể bị xem như là một thách thức với bà “cố “ (ông bà Ngô Đình Nhu có tên là ông bà Cố Vấn cho tổng thống, thiên hạ gọi là “ông Cố bà Cố “), một thái độ chống đối chính quyền đương thời. Xin cô suy nghĩ lại. Bà ấy có đưa cho tôi tấm danh thiếp và căn dặn tôi liên lạc khi đổi ý chịu hợp tác. Ở Đại Học Khoa Học nơi tôi làm giảng nghiệm viên ai cũng biết tôi dấn thân vào các xóm nghèo và câu chuyện với người phụ tá bà Ngô Đình Nhu. Có người nói: Cô mà làm việc cho người nghèo là đã bị xem như là “thân cộng” rồi, nay mà cô từ chối vào Phụ Nữ Cộng Hòa là nguy hiểm cho cô lắm đấy. Tôi vẫn mỉm cười im lặng và không bao giờ gọi cho bà ấy cả.

Tôi có báo cáo lại chuyện đó cho các bạn biết trong buổi họp Đoàn thì mới biết ra là trên cùng khắp đất nước, những người Phật tử đã quá bực vì sự đàn áp ngấm ngầm của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ai xứng đáng làm trưởng ty, hay giám đốc một chương trình, một bộ trưởng đều phải đi rửa tội, vô đạo Chúa thì mới được lên chức đó được. Nghe nói ở các tỉnh Phú Yên, Bình Định, Kontum, Ban Mê Thuột, Quảng Ngãi, Quảng Nam, sự đàn áp âm thầm thương tâm lắm. Không theo đạo là bị kết tội cộng sản. Bao nhiêu Phật tử đã chết oan, thà trốn nhà vào chiến khu còn hơn là ở lại mà không theo đạo Chúa thì bị vào tù.

Sau này, khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, người ta mời dân chúng đến xem nhiều hầm bí mật ở Phú Yên, ở Quảng Ngãi, mà các vị tỉnh trưởng hay quận trưởng Công giáo cho đào dưới đất để nhốt những người Phật tử không theo đạo Chúa nhưng cũng không phải là Cộng Sản nên không có cớ đem ra xử trị họ. Các bạn đi xem cho biết, có những hầm trên vách có viết những dòng chữ viết bằng máu “Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm“ rất thương tâm.

Chùa Lá Vằng hay nhà thờ La Vang?

Ở Quảng Trị, huyện Cam Lộ, từ thế kỷ trước đã có những xuất hiện linh thiêng của một người phụ nữ mặc áo trắng cứu một cháu bé trai rơi xuống giếng mà không chết chìm cho tới khi người làng tới cứu kịp. Cháu nói thấy một người phụ nữ giống như hình Phật Quan Âm trên bàn thờ, kéo cháu lên khi cháu ngộp. Cuối cùng cháu víu được một khối đá bên vách giếng chờ người tới cứu. Một thôn với mấy mươi nóc nhà sát bên giếng bị một cơn trốt nổi lên nhưng có một phụ nữ mặc áo trắng đi qua đi lại rồi cơn cuồng phong bị đưa ra đồng cuốn một cái chòi bỏ trống lên không. Riêng mấy mươi căn nhà sát bên cơn cuồng phong vẫn bình yên. Dân trong thôn quyết định lập nên ngôi chùa có tên là chùa Lá Vằng. Chùa đã hiện diện cả trăm năm, bỗng nhiên anh của tổng thống là Ngô Đình Thục nói người phụ nữ mặc áo trắng là Đức Mẹ Đồng Trinh, mẹ chúa Giê Su, và ra lệnh lập nơi đó làm nơi thánh địa và sẽ xây thành Vương Cung Thánh Đường La Vang. Khi xây nhà thờ La Vang, các công nhân viên nhà nước đều được “mời” đóng góp. Ngay tại Trường Đại Học Khoa Học, khi tôi đi lãnh lương, anh kế toán viên có đưa sổ xin tiền đóng góp cho nhà thờ La Vang. Tôi từ chối nhưng tôi biết ở các vùng xa, với một giám đốc là người mới vào đạo Thiên chúa để lên chức, nếu nhân viên từ chối đóng tiền xây cất theo lệnh rất cao bên trên thì sẽ không dễ cho họ!

Cờ Phật giáo bị cấm treo trong ngày Phật Đản. Tám thiếu niên Phật tử bị xe tăng cán chết

Một tuần lễ trước Phật Đản vào tháng Năm năm 1963, chính phủ Ngô Đình Diệm ban ra một sắc lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Phật Đản, và ngày này không còn được xem là ngày Quốc Lễ nữa. Phật tử 12 tỉnh miền Trung rất thuần thành, tin Phật. Ngày Phật Đản ở Huế thì chợ không bao giờ bán cá thịt, các hàng quán các tiệm cơm nấu cá thịt đều đóng, chỉ có các quầy bán thức ăn chay. Ai cũng có thể đi chùa và cũng có thể ăn cơm chay tại chùa. Chùa nào cũng treo cờ vui như ngày hội lớn. Phật tử từng khuôn hội, tỉnh hội đều có xe hoa mừng Phật ra đời. Ngay cả quân nhân Phật tử vùng một chiến thuật cũng có xe hoa. Khi nghe tin cấm treo cờ, cấm mừng Phật Đản, Phật tử rất bức xúc, họ trông tới ngày Rằm để nghe thượng tọa Trí Quang dạy dỗ gì. Năm nào thượng tọa Trí Quang cũng thuyết pháp cho đồng bào trên đài phát thanh Huế. Bài thuyết pháp năm nay đã thu thanh và đưa lên đài nhưng đến sáu giờ chiều, Phật tử quy tụ quanh đài phát thanh để nghe pháp thì chỉ nghe lệnh công an cảnh sát nói trên loa là phải giải tán ngay. Đồng bào tới ngày càng đông, không ai muốn ra về. Bỗng nhiên mấy chiếc xe tăng ầm ầm tiến tới, mọi người hoảng hốt nhưng muốn chạy cũng không dễ, vì người đông nghẹt. Xe tăng tiến tới cán nát tám em oanh vũ và thiếu niên Gia Đình Phật Tử Thừa Thiên. Máu chảy, tiếng người khóc. 10.000 người đi biểu tình đòi tự do tôn giáo ngay rạng ngày mồng mười tháng Năm năm 1963. Tổng thống Diệm hoàn toàn không đếm xỉa gì tới lời kêu gọi của Phật tử, trái lại còn ra lệnh bắt những “tên Cộng Sản” quấy rối an ninh quốc gia. Các thanh niên sinh viên Phật tử Thừa Thiên bị bắt rất nhiều.

Sài Gòn tỉnh dậy kêu gọi tự do tôn giáo

Sau khi thu thập những hình ảnh, tên tuổi các cháu bị cán chết, các dữ kiện do Phật tử đưa vào từ Thừa Thiên và những chứng nhân bị đàn áp ở Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Phú Yên..., đoàn Sinh Viên Phật Tử chúng tôi quyết định gia nhập phong trào đòi hỏi bình đẳng tôn giáo của Phật tử Thừa Thiên. Quý thầy tập họp tại chùa Ấn Quang yêu cầu chính quyền thực thi năm điểm của người Phật tử. Chúng tôi đi phổ biến năm điểm đòi hỏi của Phật tử Việt Nam:

1/ Chính quyền phải thu hồi lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Phật Đản.

2/ Mỗi công dân Việt Nam phải có quyền bình đẳng hưởng tự do tôn giáo như chính quyền đô hộ Pháp đã dành riêng cho người Công giáo nhất là quyền tự do tập họp. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam phải được hưởng quy chế tự do tôn giáo như Giáo Hội Công Giáo chứ không bị giới hạn, chỉ được xem như một hội đoàn nhỏ của các hiệp hội nhỏ thiết lập bởi dụ số 10 do người đô hộ Pháp lập ra.

3/ Phải chấm dứt sự bắt bớ người Phật tử.

4/ Người Phật tử phải có tự do thực tập những điều Phật dạy.

5/ Phải bồi thường cho những nạn nhân bị cán chết tại Huế và những kẻ giết người phải được đưa ra tòa xét xử.

Hòa thượng hội chủ Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc cũng gửi đến chính quyền và toàn thể tín đồ Phật giáo những điểm sau đây:

1/ Người Phật tử không bao giờ có chủ tâm muốn lật đổ chính quyền. Chúng tôi chỉ mong chính quyền thay đổi chính sách kỳ thị người Phật tử.

2/ Người Phật tử không có kẻ thù, sự đấu tranh của chúng tôi hoàn toàn không nhằm chống đối đồng bào Công giáo mà chỉ chống sự kỳ thị. Người Phật tử không bao giờ muốn chống đối các tôn giáo bạn.

3/ Người Phật tử tranh đấu cho một chính sách công bằng như là một phần của sự tranh đấu cho công bằng xã hội trên toàn cõi Việt Nam.

4/ Suốt quá trình đấu tranh, người Phật tử nguyện đi con đường bất bạo động mà đức Phật đã dạy. Vì quyết tâm đi con đường bất bạo động nên người Phật tử sẵn sàng hy sinh cho lý tưởng hiểu biết và thương yêu. Chúng tôi mong rằng hành động của chúng tôi chẳng những khiến cho chính quyền đổi thay chính sách mà còn cầu mong sao cho tình thương và trí tuệ thể hiện qua hành động của chúng tôi có thể gây niềm tin và chuyển hóa tâm tư của toàn dân và cả những người đang cầm quyền.

5/ Người Phật tử nhất định không cho các thế lực chánh trị lợi dụng sự đấu tranh này.

Bản tường trình 45 trang về đàn áp Phật Giáo

Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo

Báo chí hoàn toàn bị kiểm duyệt hoặc bị bắt buộc đăng những tin nhà nước bóp méo đưa ra

Ngày 15 tháng 05 năm 1963, phái đoàn Phật Giáo đã trao lên cho chính quyền và báo chí một Bản tường trình 45 trang về những bằng cớ đàn áp những người Phật tử có tên tuổi ghi rõ nơi nào chính quyền địa phương tỉnh đó, huyện đó, xã đó đã bắt bớ, bỏ tù oan ức những người nọ, tên họ nọ đã từ chối không theo đạo của chính quyền. Báo chí và chính quyền vẫn im lặng không trả lời, không đăng tin đàn áp; và sự bắt bớ những Phật tử tích cực, giỏi giắn vẫn tiếp tục âm thầm diễn ra khắp nước.

Ngày 21 tháng 05 năm 1963, một nghìn người xuất gia đã tập họp tại Chùa Ấn Quang nhịn ăn để cầu nguyện cho các Phật tử đã bị cán chết trước đài phát thanh Huế. Hàng ngàn Phật tử cư sĩ cũng tập họp chung quanh chùa để cùng cầu nguyện. Cảnh sát của ông Ngô Đình Diệm đã dùng dây kẽm gai để ngăn đường, dùng lựu đạn cay để giải tán. Ngày 23 tháng 05, năm trăm người xuất gia khoác y vàng xuất hiện trước chợ Bến Thành đòi hỏi tự do tôn giáo và yêu cầu chính quyền trả lời những thỉnh nguyện của Phật Giáo. Lựu đạn cay, gậy gộc của cảnh sát không giải tán được họ nên công an cho mười xe bít bùng đến bắt, kéo níu thô bạo các tăng ni bỏ lên xe tải chở về chùa.

Ngày 25 tháng 05 năm 1963 Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo đã được thành lập, trụ sở đặt tại chùa Xá Lợi và một phái đoàn của Ủy Ban xin gặp chính quyền để lắng nghe chính quyền trả lời về yêu sách của Phật tử Việt Nam. Nhà nước vẫn không đếm xỉa gì đến nguyện vọng của người dân. Cuộc đấu tranh tiếp tục, sự bắt bớ tiếp tục, biểu tình đột xuất chỗ này, tuyệt thực của tăng ni chỗ kia. Báo chí hoàn toàn bị kiểm duyệt nên chúng tôi phải dùng hệ thống thông tin truyền miệng và phân phát những bản tin quay ronéo tại chùa Xá Lợi, thông báo cho đồng bào biết thế giới đã chú ý đến chúng ta như thế nào, cho đồng bào biết ngày nào có biểu tình ở đâu, tuyệt thực ở đâu, v.v…

Ủy Ban Liên Phái là một nhóm quý thượng tọa thật tài ba. Thượng tọa Tâm Châu nói năng mềm mỏng khéo léo, nhưng thượng tọa Thiện Minh mới thật là nhà ngoại giao đại tài, cuộc thương thuyết nào mà thầy đi thì đối phương là phó thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ luôn bị thầy khéo léo đưa đến sự hoàn toàn đồng ý tất cả những điều kiện Phật giáo yêu cầu. Nhưng sau đó thì chính quyền (nghe lời ông bà Ngô Đình Nhu) lại phủ nhận, lại nuốt lời hứa, lại làm ngược hết những điều đã thỏa thuận. Thầy Quảng Độ, rất giỏi sinh ngữ, thầy nói được tiếng Quan Thoại, Quảng Đông, Thái, Lào, Miên và Anh văn nên đã nghe các đài phát thanh ngoại quốc, rồi dịch ra Việt và viết xuống để cho thầy Châu Toàn quay Ronéo phân phát cho toàn quốc. Đoàn Sinh Viên Phật Tử chúng tôi làm việc sát cánh với thầy Châu Toàn vốn là văn phòng trưởng Phòng Thông Tin của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật giáo tại chùa Xá Lợi, đem tin tức tới từng trường trung học, từng chợ, từng công sở. Anh Huệ Dương như đầu não của bọn Sinh Viên Phật Tử chúng tôi lúc ấy đã lên hơn 1000 người. Anh đi lập Thanh Niên Phật Tử tại các trường trung học, tiểu thương Phật tử tại các chợ… để tiện bề phân phát và phổ biến tin tức vào hạ tầng cơ sở, bẻ gẫy lập luận tuyên truyền bóp méo của nhà nước về phong trào Phật giáo. Chùa Xá Lợi bị bao vây, anh Huỳnh Bá Huệ Dương có chiếc máy ronéo lưu động, lấy tin từ Xá Lợi và chúng tôi về tự lắng nghe đài BBC, VOA rồi thảo tin và quay ra phân phát cùng khắp. Chúng tôi lập ngay một gia đình đặt tên anh Huệ Dương là anh Hai, tôi là chị Ba, chị Thảo là chị Tư… như mật mã để trao đổi tin tức. Nếu công an bắt được chiếc máy Ronéo thì chúng tôi đi tù rục xương nên chiếc máy cứ chuyền từ nhà này sang nhà khác khi rục rịch có tin sắp bị phát hiện. Chị Thảo rất gan dạ, can đảm sát cánh làm việc in ấn phát truyền đơn của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật giáo cùng anh Huệ Dương nên khi hai người bị cảnh sát ông Diệm bắt, cai tù đã tra tấn thật dã man chị Thảo để bắt bí anh Huệ Dương. Họ buộc anh phải khai hết tên những anh em nào đã sát cánh với anh. Họ để điện vào âm hộ chị Thảo cho điện giựt trước mắt anh Dương, chị Thảo chết đi sống lại nhiều lần nhưng vẫn khai là chỉ có một mình chị mà thôi, anh Dương không làm gì hết! Anh Dương cũng bị đánh hộc máu, bị treo chổng ngược đầu, bất tỉnh nhiều lần... tàn ác vô cùng. Vì ân tình đó mà sau khi ra tù và sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm đổ, anh Huệ Dương quyết định lấy chị Thảo làm vợ dù trước đó anh đã có người yêu là một người bạn khác của chúng tôi. Biết tin đó nhiều bạn trong chúng tôi ai cũng muốn “nghỉ chơi” với anh Hai Huệ Đà Lạt vì coi anh là người phụ bạc. Chỉ có mình tôi là hiểu và thương tất cả ba người! Tôi khuyên các bạn đừng trách anh Dương vì ân tình nghĩa nặng với người con gái, biết mình đang có người yêu mà vẫn yêu mình và hy sinh cho mình! Tôi với anh Huệ Dương là đồng chí, đồng minh lớn. Có khi nào tôi nhớ mình là phụ nữ đâu? Nhưng hạt giống âm nhạc nhận được từ mẹ đã khiến tôi hát nho nhỏ khi tôi họp các bạn đổ gạo và chia từng phần cho trẻ em nghèo khiến các bạn giật mình: Trời! Chị Phượng mà cũng biết hát nhạc tình Histoire d’un Amour nữa sao? Ý muốn nói tôi như con trai, như đại tướng chỉ biết chỉ huy và ra trận, đâu có biết nhạc tình như các tiểu thư. Tôi cười tủm tỉm hơi mắc cỡ vì vào chùa mà hát nhạc tình. Tại vì cái đầu tôi sao mà đầy âm nhạc, hễ để trống không suy tư là có một đoạn nhạc hiện ra khiến miệng tôi ca nho nhỏ hết bài này đến bài khác vì nghe loáng thoáng các đài phát thanh chớ không phải sống chết vì bài nhạc đó bao giờ. Công tác giúp các thiếu nhi nghèo vẫn tiếp tục, trong khi đấu tranh kịch liệt với ông Ngô Đình Diệm, nên cũng giúp được chúng tôi rất nhiều. Cứ mỗi lần bị công an chìm của ông Diệm rượt theo bắt, chúng tôi cứ chui hút vào các hẻm các xóm ổ chuột của chúng tôi thì công an không tài nào tìm ra. Nhà các cháu nghèo sẵn sàng che chở, nói láo chỉ đường sai để Công An không rượt theo chúng tôi được.

Ngọn lửa thiêng từ bi

Ngày 11 tháng 06 năm 1963, tôi mới ra khỏi nhà cậu của tôi ở đường Trần Quý Cáp, vừa tới gần ngã tư Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng thì thấy nhiều áo vàng tập họp rồi chợt thấy ngọn lửa bừng cháy xa xa. Tôi chạy xe đến sát ngã tư thì thấy một nhà sư đang ngồi yên, uy nghi và bình an trong lửa đỏ thật bi hùng và đứt ruột. Thương quá là thương thầy ơi, con quỳ xuống lạy và phát nguyện sẽ không bao giờ quên ngọn lửa từ bi này và quyết tâm chỉ có thể đi theo con đường từ bi này để tranh đấu cho nhân quyền mà thôi. May mắn là một đài truyền hình đã thu được cảnh Hòa Thượng Thích Quảng Đức ngồi yên trong lửa đỏ nên lúc đó toàn thế giới mới giật mình. Dù cho bà Ngô Đình Nhu có nói thô tháo là: Bọn Phật giáo đồ đang làm thịt nướng sư sãi, thì thế giới cũng không thể để cho anh em ông Ngô Đình Diệm làm mắt ngơ tai điếc được. Lòng dân cả nước Việt Nam lúc bấy giờ thật căng thẳng, ai cũng muốn đập phá nổ tung cả quả địa cầu! Ngay hai giờ trưa ngày 16 tháng 06, ngày làm tang lễ cho Hòa Thượng, chính quyền và Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo mới đi đến thỏa thuận năm điểm để chấm dứt cuộc tranh chấp. Nhà nước yêu cầu hoãn ngày tang lễ lại bốn ngày cho lòng dân êm dịu lại. Thượng tọa Tâm Giác đứng trên một chiếc ô tô chạy dài theo đoàn người đi dự tang lễ báo tin nhà nước thỏa thuận năm điểm yêu sách của Phật tử, nhưng vì nhà nước Diệm đã nhiều lần thỏa thuận rồi nuốt lời nên rất đông Phật tử không tin là thật. Ngày 20 tháng 6, sau sáu giờ thiêu, tất cả nhục thân Hòa Thượng đã ra tro nhưng thật mầu nhiệm là trái tim Hòa Thượng vẫn còn nguyên màu nâu đỏ mà không bị cháy. Lò thiêu lại bỏ trái tim vào lò 1.000 độ C, nung thêm hai giờ nữa nhưng trái tim chỉ sẫm màu hơn một chút chứ không biến thành tro. Văn phòng ông Ngô Đình Nhu lại âm thầm ra một công lệnh cho nhân viên âm thầm chuẩn bị một cuốc tấn công Phật giáo. Khi bắt được tài liệu trên, Ủy Ban Liên Phái đã công bố và yêu cầu nhà nước phải giữ lời hứa thực thi năm điểm yêu sách của Phật tử. Cùng ngày đó nhà nước Diệm cho lập một Giáo Hội Phật Giáo giả chỉ gồm những sư sãi Cổ Sơn Môn. Nhóm người này cũng cạo đầu, cũng tụng kinh cầu siêu cho người chết được, nhưng họ ăn thịt cá và có vợ mà trong nước ai cũng gọi là “thầy cúng” để đứng bên chính quyền. Với mạng lưới báo chí bóp méo sự thật, nhà nước muốn chứng tỏ cả phong trào Phật Giáo đang đấu tranh là nhóm Cộng sản giả danh Phật tử.

Cách làm việc tráo trở gian lận như thế của chính quyền Ngô Đình Diệm khiến cho lòng dân thật nản, chỉ muốn đi hết về phía Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của chính quyền cộng sản Bắc Việt mà thôi. Một số lớn tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa vì thấy nguy cơ đó nên đã muốn lật đổ chính quyền Diệm, nhưng họ sợ Hoa Thịnh Đốn sẽ ngưng viên trợ thì rất nguy cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa miền Nam. Miền Bắc có viện trợ của Nga và Trung Quốc nên nếu Miền Nam không còn viện trợ của Hoa Kỳ thì e Miền Nam sẽ thua ngay quân đội miền Bắc. Nhưng Tổng Thống Kennedy vẫn chưa chấp nhận buông chỗ đứng của ông Ngô Đình Diệm. Phẫn uất quá, thầy Nguyên Hương đã theo gương Hòa Thượng Quảng Đức ngồi yên trong lửa đỏ ở Phan Thiết ngày 04 tháng 08. Ni sư Diệu Quang cũng tự thiêu cùng ngày ở Nha Trang, còn thầy Thanh Tuệ hy sinh ngày 13 tháng 08 ở Huế và Đào Thị Yến Phi ở Khánh Hòa. Nhiều bạn Tây phương đã hỏi tại sao người Việt Nam dám làm hành động tự thiêu giống như là bạo động với chính mình vậy.

Tự thiêu có phải là tự sát không?

Theo cái nhìn của tôi, dựa theo tuệ giác mà tôi học được từ Bụt Thích Ca thì mạng sống của người chỉ là những biểu hiện trong một giai đoạn trên đại dương của sự sống mênh mông. Sự biểu hiện đó tùy thuộc vào những kết quả của hành động của mình, kết quả hành động của cha mẹ và tổ tiên (nghiệp báo của tổ tiên huyết thống, tổ tiên đất đai và tổ tiên tâm linh) của mình. Mình có thể xoay chiều sự biểu hiện từ xấu thành khá hơn, đỡ hơn rồi tốt hơn nhờ bắt đầu tu sửa ngay cách tư duy, nói năng và hành động về hướng tốt đẹp hơn. Khi tình trạng chung của xã hội đi về hướng độc ác xấu xa, người học hạnh tỉnh thức sẽ gắng tạo một hành động nào có tính cách đánh mạnh vào lòng từ bi của mọi người, đánh thức mọi người tỉnh dậy trước bao nhiêu tình huống mê mờ.

Hàng ngàn tăng ni Việt Nam lúc ấy đã thực hiện chung bao nhiêu lần nhịn ăn cầu nguyện… Tại chợ Bến Thành, trước cửa chùa Xá Lợi, trên đường Bà Huyện Thanh Quan,… cả trăm tu sĩ ngồi im thở giữa đường khi đoàn binh sĩ chĩa súng vào mình. Có những thầy trong đoàn biểu tình khi bị thảy lựu đạn cay vẫn cố gắng đi đến người cảnh sát để tặng hoa cho người thảy lựu đạn cay ấy, tặng hoa cho người đang cầm gậy gộc đánh mình… Tu tập bất bạo động từng ấy, tăng ni Việt Nam vẫn chưa cảm hóa được chính quyền Ngô Đình Diệm nên Hòa Thượng Quảng Đức phải dùng hành động kêu gọi thống thiết nhất, bi thương nhất nhưng vẫn không mất bớt lòng từ bi. Thư để lại của ngài Quảng Đức không một tiếng nặng lời với những người đối xử tệ với Phật tử Việt Nam. Một mình Hòa Thượng Quảng Đức đốt lên ngọn lửa thiêng như thế chắc cũng đủ. Nhưng đối với các bạn Tây Phương chưa hiểu nhiều về văn hóa Á Đông, tôi hay giải thích một cách đơn giản hơn. Tôi nói: khi ta cần mua vật gì ta phải trả bằng một giá. Mà giá cả cao nhất mà ta có thể trả là mạng sống của chính mình. Người Việt chúng tôi thấy không phải chết là hết. Niềm tin, tình thương lớn của Hòa Thượng Quảng Đức đang bừng cháy nơi bao con tim Việt Nam và thế giới. Ngài cũng như Gandhi, vẫn còn sống, còn đang biểu hiện trong nhiều người chúng ta. Người tự thiêu đã không chết mà còn tái sinh ngay trong những người chứng kiến, hay nghe đến sự hiến tặng sự sống kia, bằng một loại năng lượng vô cùng tỉnh táo và tràn đầy thương yêu.

Bắt hơn hai nghìn tăng ni và sinh viên Phật tử

Ngày 20 tháng 08 năm 1963, lúc hai giờ sáng, cảnh sát công an đánh úp tất cả những chùa lớn vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và các thành phố lớn của Việt Nam, nơi có phong trào Phật tử đấu tranh. Họ đánh úp các chùa và bắt hết tất cả những ai có mặt trong chùa Xá Lợi, Ấn Quang, Từ Nghiêm, Dược Sư (Sài Gòn), Từ Đàm, Báo Quốc (Huế), Linh Sơn (Đà Lạt), v.v… Hơn 2.000 tăng ni cư trú trong các ngôi chùa lớn này bị còng tay bỏ lên xe bít bùng đưa đi đâu mất. Cùng ngày ấy, tất cả những ai có tên trong danh sách Đoàn Sinh Viên Phật Tử đều có công an đến tận nhà còng tay bắt đi. Mười hai người công an bao vây nhà tôi ở tại đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Từ năm 1962, sau khi ba tôi chết, má tôi lên Sài Gòn ở với em Mười và tôi tại nhà anh chị Tám. Khi họ đập cửa và anh Tám tôi ra đón họ thì họ cho biết cần vào đây bắt thằng Cao Ngọc Phượng gian tặc phá rối an ninh quốc gia. Anh Tám tôi nói: Ở đây không có thằng gian tặc nào tên Cao Ngọc Phương nhưng có cô Cao Ngọc Phượng, nữ giảng nghiệm viên Đại Học Khoa Học, là em vợ tôi. Tôi là Nguyễn Trung Ngôn, tổng giám đốc Nha Hàng Không Dân Sự của chính phủ, anh ruột của anh Nguyễn Trung Trương làm việc ở Bộ Nội Vụ, Trưởng Nha Thanh Tra Cảnh Sát Công An trên toàn quốc. Hai anh thanh tra công an nhìn nhau và nói nhỏ “Sếp của mình”. Thế là họ đứng dậy xin lỗi chào giã từ. Khi anh Tám đưa sáu người ra cửa thì thấy bốn người khác đi ra từ bốn góc vườn nhà và hai người nhảy từ trên nóc nhà xuống. Thì ra quyết định bắt cho được gian tặc nên từng đó người họ phải chia ra, người vào nhà, người leo lên nóc, cố tóm cho được con người ghê gớm... là tôi! Chiều ngày hôm đó khi bắt các bạn tôi lên tra tấn, công an đã nói với các bạn tôi rằng chính tôi giao hết hồ sơ và điểm chỉ cho họ bắt hết các bạn. Thử tưởng tượng các bạn tôi khổ đau dường nào khi nghĩ lầm rằng chính tôi - người mà họ đặt hết niềm tin - lại phản phúc họ! Sau này nhiều bạn có thuật cho thầy Nhất Hạnh nghe về sự kiện đó và nói, họ không tin là tôi tố cáo họ nhưng có thể là các anh chị tôi đã làm điều đó. Nghe vậy tôi rất đau và chắc chắn 100% không hề có chuyện đó. Thứ nhất là anh Nguyễn Trung Trương, Trưởng Nha Thanh Tra Bộ Nội Vụ chưa bao giờ tới nhà anh chị Tám tôi chơi và không hề biết tôi rất năng nổ trong phong trào Phật giáo. Các anh chị khác của tôi thì hết lòng ủng hộ phong trào, cũng đi biểu tình, tuyệt thực cầu nguyện và tôi cũng chưa lần nào làm danh sách các bạn trong Đoàn Sinh Viên Phật Tử dù là để làm tài liệu.

Sáng đó vừa nghe tin quý thầy ở chùa Xá Lợi và Ấn Quang bị bắt mà còn nghe tiếp tất cả các bạn tôi đều vào tù, tôi điên tiết chỉ muốn tự thiêu như ngài Quảng Đức, chỉ muốn la hét hay đi vào tù như các bạn. Trưa đó vào trường đại học tôi thưa với giáo sư Phạm Hoàng Hộ là tôi chỉ muốn xé bỏ hết công trình nghiên cứu về rong nước ngọt của tôi, chỉ muốn tự thiêu hay đi vào tù thôi. Giáo sư Hộ là một khoa học gia mẫu mực, suốt ngày giáo sư chỉ vùi đầu vào nghiên cứu. Nhưng giáo sư ngồi lắng nghe tôi vừa nói vừa khóc xong thì giáo sư tự ngồi xuống thảo một thỉnh nguyện thư yêu cầu chánh quyền ngưng đàn áp tôn giáo và chính giáo sư là người ký tên đầu tiên vào danh sách. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ là một khoa học gia lớn thuần túy ưu tư về khoa học nên chữ ký của người rất có giá trị. Trong một buổi sáng tôi đã xin được 79 chữ ký của thành phần giảng huấn các đại học. Ngày 21 tháng 08 năm 1963 chúng tôi đã họp báo công bố danh sách này rồi gửi ngay cho chính quyền Ngô Đình Diệm và sẵn sàng vào tù ngồi khi cần. Cùng ngày này, bộ trưởng Bộ Ngoại Giao chính phủ Ngô Đình Diệm là ông Vũ Văn Mẫu đã cạo đầu, đệ đơn từ chức và đứng ra họp báo tố cáo sự dã man của chính quyền Diệm.

Phong trào thanh niên và học sinh các trường trung học tranh đấu cho tự do tín ngưỡng

Vì các vị xuất gia đã bị bắt và những vị lãnh đạo tinh thần của sinh viên cũng bị bắt nên học sinh các trường trung học và thanh niên các chợ, các công sở quyết định đứng ra tranh đấu. Ngày 25 tháng 08 năm 1963 hàng ngàn học sinh Phật tử các trường trung học Trưng Vương, Chu Văn An, và các trường tư thục tập họp tại chợ Bến Thành để biểu tình đòi tự do tôn giáo. Cảnh sát đã nổ súng vào đoàn người trẻ biểu tình, nhiều em bị thương và một nữ sinh trường Trưng Vương mười sáu tuổi tên Quách Thị Trang đã chết ngay tại công trường chợ. Thù hận và phẫn uất ngút ngàn, nhiều thanh niên, dù gia đình đã từng là nạn nhân của cộng sản từ miền Bắc vào cũng phải giã từ bạn bè đi vào chiến khu của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thôi.

Ngày 09 tháng 09 năm 1963, sinh viên, học sinh lại đổ xuống đường biểu tình đòi tự do tín ngưỡng nữa khi vừa hay tin nữ sinh Mai Tuyết An ngã quỵ tại cổng chùa Xá Lợi vì cô bé tự lấy búa chặt nguyên bàn tay của cô để cúng dường tổng thống Ngô Đình Diệm và ông bà Ngô Đình Nhu, cầu mong họ tỉnh dậy, đừng làm khổ dân lành nữa.

Khi hay tin Mai Tuyết An chặt tay, giáo sư Phạm Hoàng Hộ nhìn tôi thật buồn và hỏi: Cô Phượng có muốn đi Pháp để hoàn tất luận án của cô không? Tôi sẽ lo giấy tờ giới thiệu cô như nhân viên của nhà nước (trường đại học) để đi công tác khoa học, giấy tờ sẽ đi rất nhanh, đi ngả ngoại giao, không qua đường bộ Nội Vụ thông thường. Qua đấy tôi sẽ gửi gắm cô cho giáo sư Bourrelly vốn là chuyên viên rong nước ngọt để tiếp tục hướng dẫn cô và cả giáo sư đỡ đầu luận án tiến sĩ của tôi là giáo sư Feldmann để chánh thức đỡ đầu luận án luôn cho cô. Tôi im lặng xin chờ vài ngày để suy nghĩ lại. Vài giờ sau tôi đã có ý mới, vì không còn làm gì ở đây được để tranh đấu cho quyền làm người Phật tử nữa, chi bằng tôi đi Pháp để họp báo nói rõ những gì xảy ra ở Việt Nam cho thế giới biết và làm áp lực với chánh quyền Ngô Đình Diệm. Tuy tôi không tự thiêu nhưng tôi cũng sẽ làm một hành động rất xúc động lòng người: tôi sẽ cạo mái tóc đen dài óng mượt của tôi mà gửi tặng tổng thống Diệm cầu xin ông nghe được tiếng nói đau thương của dân tộc mà sống cho xứng đáng với kỳ vọng của toàn dân. Nghĩ đến đây tôi có nhiều hy vọng và quyết định trở vào xin giáo sư Hộ cho phép tôi được đi Pháp trình luận án. Nghe tin này và nghe ý định của tôi, mẹ tôi phát tâm đan ngay cho tôi chiếc mũ len để che đầu trong cơn gió rét mùa đông Paris.

Giáo Hội Phật Giáo giả hiệu

Ngày tôi sắp ra đi chợt nghe nhiều Phật tử điên lên vì giận khi hay tin nhà nước Ngô Ðình Diệm lập ra một Giáo Hội Phật Giáo giả hiệu, quy tụ các ông thầy cúng thuộc Phái Cổ Sơn Môn không biết kinh điển, không biết những điều Phật dạy gì hết, cũng có vợ, cũng ăn thịt cá như mọi người cư sĩ. Song song với việc đó, lại nghe nhà nước thuyết phục được thầy Thích Thiện Hòa là vị thầy rất đạo cao đức trọng, người đứng ra bảo lãnh cho 2.000 tăng ni mới bị nhà nước hốt, bỏ tù và tra tấn, những người được xem là cốt cán... Sự phẫn uất càng cao chừng nào thì thanh niên Phật tử lại càng có ý ngả theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chừng ấy. Nhiều thanh niên sinh viên trong đường đại học tôi dạy đã đến chào tôi đi vào chiến khu. Em đi cứu nước khỏi chế độ độc tài này trước, rồi sau này sẽ giải quyết chuyện chống cộng sau.

Thầy Nhất Hạnh nhịn ăn và cầu nguyện tại Liên Hiệp Quốc

Trong thời gian này, thầy Nhất Hạnh đang ở Hoa Kỳ, thầy nhận được tập tài liệu 45 trang về sự vi phạm nhân quyền do Giáo Hội gửi qua. Thầy đã dịch ra tiếng Anh, lập 111 tập hồ sơ để gửi cho 111 thành viên LHQ và đã trình lên Hội Đồng Liên Hiệp Quốc yêu cầu cứu xét gấp. Để được sự chú tâm của Hội Đồng LHQ, thầy đã nhịn ăn cầu nguyện cho Việt Nam tại một ngôi chùa gần đấy và có mời báo chí tới nói chuyện. Thầy cũng đã đi gặp riêng một số nhân vật quan trọng trong Hội Đồng LHQ để nói chuyện riêng, yêu cầu họ đưa ra bàn cãi gấp trong Hội Đồng.

Tôi đến Paris

Tôi đến Paris ngày 24 tháng 10 năm 1963. Tôi gặp được một số bạn Phật tử hứa sẽ cùng tổ chức cho tôi cuộc họp báo nói về sự vi phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam vào ngày 04 tháng 11 năm 1963, và cắt mái tóc dài của tôi mà tặng cho ông Ngô Đình Diệm. Tuy ở Pháp nhưng tôi vẫn giữ chiếc áo dài Việt Nam, vẫn giữ mái tóc dài nên có thể khi họp báo, cắt mái tóc dài cũng đánh động được dư luận.

Ngày 01 tháng 11 năm 1963, chỉ bốn ngày trước ngày tôi định họp báo, thì quân đội Việt Nam Cộng Hòa đảo chính được chính quyền Ngô Đình Diệm. Nghe nói hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị một sĩ quan được lệnh lái xe cho hai anh em nhà Ngô đi trốn, đã quay súng lại bắn chết hai vị này ngay trên xe. Tôi đến nhà thờ quận Latin Paris để dự lễ cầu hồn cho hai ông. Lòng tôi bình an không một chút oán thù. Tôi thương cho hai người là nạn nhân của cái thấy sai lầm về đất nước và dân tộc Việt Nam, bị cái nhìn sai lệch kia đưa họ đi quá xa trên con đường tội lỗi. Thảm kịch nhà Ngô Đình Diệm đã qua nhưng bài học đau thương còn đó cho những vị lãnh đạo hàng triệu người dân Việt. Ta phải rất khiêm cung về cái thấy của mình về tình trạng đất nước, về văn hóa, về lịch sử và về tín ngưỡng của toàn dân. Phải lắng nghe, phải quán chiếu lại thường xuyên cách hành xử của mình, phải hỏi thăm thường xuyên xem cách hành xử của mình có đúng tâm tư nguyện vọng của đại đa số không.

Sau này tài liệu bí mật về Ngũ Giác Đài được phanh phui, và người ta đọc được những dòng như là: Ngũ Giác Đài đã ra lệnh cho tướng lãnh Việt Nam lật đổ Ngô Đình Diệm. Đó chỉ là cái thấy đứng về phía Ngũ Giác Đài. Thật ra chúng tôi được biết khi chính sách đàn áp dã man tráo trở của anh em nhà Ngô đối với Phật giáo xảy ra, nhiều người yêu nước thấy chỉ có một con đường thoát là theo cộng sản, làm cho một số tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa thấy tình trạng quá nguy kịch. Bên cộng sản thì được sự ủng hộ vũ khí của Nga và Trung Quốc, còn bên quốc gia chống cộng thì ít nhất phải có sự ủng hộ vũ khí của Hoa Kỳ, nên các tướng lãnh có lời đề nghị chính quyền Hoa Kỳ nên tiếp tục ủng hộ miền Nam nếu họ lật đổ Ngô Đình Diệm. Hoa Kỳ đã nhiều lần không đồng ý cho tới khi tình trạng quá tệ, cả thế giới đều thấy toàn dân Việt Nam quá đau khổ vì sự tàn ác của nhà họ Ngô nên mới “đồng ý” để tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đảo chính ông Diệm. Thật ra không ai ra lệnh lật đổ ai, chính gia đình Ông Ngô Đình Diệm tự lật đổ mình bằng cái thấy hẹp hòi của chính mình, bằng cách làm việc độc tài, muốn biến một nền văn hóa dân tộc thành một nền văn hóa lai căng phương Tây.

Biết rằng chế độ độc tài đã chấm dứt, tôi hủy cuộc họp báo tặng mái tóc cho nhà họ Ngô và để hết thì giờ lo việc làm cho xong luận án rong nước ngọt của tôi. Bỗng một tối kia tôi nhận được cú điện thoại liên Đại Tây Dương do thầy Nhất Hạnh gọi sang. Khi vừa đặt chân lên đất Pháp ngày 24 tháng 10 năm 1963, tôi đã viết ngay cho thầy một bức thư thuật đầy đủ những đàn áp xảy ra mà ở Việt Nam tôi không thể viết, e bị kiểm duyệt và có thể nguy hiểm cho những người trong nước quanh tôi. Tôi cũng báo tin là tôi sẽ họp báo và cúng dường mái tóc cho nhà Ngô. Vì mới tới, chưa biết cách, tôi đã gửi thư đi Hoa Kỳ mà chỉ dán con tem dành gửi thư trong nước Pháp nên ba tuần sau thư mới tới!

Ði New York lần đầu

Câu đầu tiên mà thầy hỏi tôi: Con đã cạo mái tóc chưa? - Dạ thưa chưa! Thầy có vẻ vui và cố thuyết phục tôi đi thăm thầy một tuần thôi ở Nữu Ước. Thầy bảo thầy cần sự góp ý của tôi vì tôi đại diện cho thế hệ trẻ tin tưởng nơi thầy, quyết chí đi theo con đường làm mới Phật giáo của thầy để xây dựng đất nước dân tộc. Thầy mới được ông viện trưởng Viện Đại Học Columbia Nữu Ước Hoa Kỳ mời làm khoa trưởng Khoa Việt Học mà trong đó thầy có thể lập nhiều ban ngành như văn chương, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian… để dạy cho thế giới biết về văn minh Việt Nam. Ông viện trưởng nói rằng trong tình trạng Việt Nam hiện tại, rất khó cho những người trí thức sống đời trung thực như thầy sống sót ở đất nước đó. Ở đây, làm Phân Khoa Việt Học cho Viện Đại Học nổi tiếng này cũng là một cách phụng sự cho đất nước Việt Nam. Thầy không nói tiếp nhưng tôi cũng “nghe” được tiếng thở dài của thầy là sẽ không về vì những ông thầy tu quá thủ cựu kia cứ ngăn chặn những cố gắng của thầy và làm khó dễ với thầy trăm cách! Tôi quyết định xin nghỉ hai tuần để đi New York gặp thầy, bàn bạc kỹ về cách làm mới đạo Phật và thiết lập những cơ cấu xây nền cho một cuộc xây dựng công bằng xã hội cho Việt Nam. Mục đích chuyến đi này là nhất định thuyết phục thầy bỏ cái chương trình ở lại Hoa Kỳ lập Phân Khoa về Việt Học tại Columbia, một trong những đại học lớn nhất ở đây. Tôi chưa biết rõ tầm quan trọng của chương trình này nhưng tôi biết rất rõ là Việt Nam cần thầy. Chúng tôi, những người trẻ thao thức về tương lai Phật giáo, về sự làm mới đạo Phật để làm cái gì cấp thiết giúp cho đồng bào đau khổ Việt Nam, đang và sẽ rất cần thầy. Mặt khác thì tôi cũng quá vui vì sắp gặp lại vị thầy quý kính của tôi.

Khi đến Nữu Ước ngày 15 tháng 11 năm 1963, tôi chờ đợi sẽ tiếp tục phải ăn những món ăn Tây phương như là khoai tây tán, yaourt, fromage... như những món tôi thường dùng trong các quán cơm cho sinh viên ở Paris. Nhưng tôi đã vô cùng ngạc nhiên khi bước vào appartment nơi thầy và anh Steve, một sinh viên làm luận án tiến sĩ đã chia tiền mướn ở số 306 W đường 109 trung tâm Mahattan. Không khí căn nhà thật Việt Nam với cơm trắng, với rau luộc và món đậu hũ rim mặn với nấm đông cô thật đậm đà đang chờ ba thầy trò. Suốt thời gian tôi ở Nữu Ước thầy đã dạy tôi nấu nhiều món ăn chay thật ngon và thật khéo. Thầy, Steve và tôi đêm nào cũng ngồi hát chung vài bản nhạc Pháp, Anh hay Việt. Khi Steve đi ngủ, tôi lại kể cho thầy nghe từng chi tiết những diễn trình tranh đấu bên nhà. Thầy trò thức thật khuya. Nên về hay không nên về? Ai xây dựng công bằng xã hội đây thưa thầy? Thầy sẽ thỏa chí phụng sự văn minh Việt Nam trên công trình nghiên cứu và dạy dỗ thế giới, còn tại Việt Nam ai sẽ xây dựng công bằng xã hội đây thưa thầy? Chúng con ở nhà sẽ tiếp tục tự mình đi thôi dù không có thầy, nhưng liệu chúng con có đủ tuệ giác và đủ uy tín khi không có thầy hướng dẫn không? Cuộc tranh đấu vừa qua chứng tỏ chúng con cũng không tệ lắm! Nhưng tuệ giác của thầy bằng một trăm lần tuệ giác của mấy chục đứa con nhập lại ngày xưa ở chùa Ấn Quang khi có pháp đàm thầy nhớ không? Thầy cười tươi vì thấy niềm tin của chúng tôi nơi thầy không suy giảm. Ông Ngô Đình Diệm đổ, các bạn tới tấp gửi thư khẩn khoản thầy về. Mục đích tôi đi New York cũng chỉ từng ấy nguyện vọng: Thầy phải về. Dạy văn minh Việt Nam cho thế giới làm gì? Khi mà Việt Nam ngày nay vẫn chưa đủ văn minh. Khi tôi vừa tới New York, thầy có viết tặng chúng tôi, thế hệ trẻ có niềm tin nơi thầy bài Bướm Bay Vườn Cải Hoa Vàng. Bài này thầy dặn đem ra đọc khi làm việc nhiều quá mệt nhọc và căng thẳng. Đọc để tiếp xúc lại với những hình ảnh ngọt ngào tươi mát của bản môn rồi lại tiếp tục công tác dấn thân:

Mười năm vườn xưa xanh tốt

Hai mươi năm nắng dọi lều tranh

Mẹ tôi gọi tôi về

Bên bếp nước rửa chân

Hơ tay trên bếp lửa hồng,

Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống.

Tôi không bao giờ khôn lớn,

Kể gì mười năm hai mươi năm ba mươi năm

Mới hôm qua đây, tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng

Mẹ và em còn đó

Gió chiều như hơi thở

Mơ gì một mảnh tương lai xa xôi?

Gió mang tiếng ca. Ngày ra đi em dặn:

“Nếu ngày về thấy khung trời đổ nát,

Thì tìm tôi trong tận đáy hồn anh!

Tôi đã về, có tiếng hát ca, bàn tay trên liếp cửa

Hỏi rằng:Có tôi hôm nay đây, tôi giúp được gì?

Gió thì thầm: em nên hát ca

Bởi vì hiện hữu nhiệm mầu.

Hãy là đóa hoa, hãy là nụ cười

Hạnh phúc có bao giờ được dựng xây bằng vôi với gạch?

Hãy thôi là nguồn khổ đau cho nhau

Tôi tìm em.

(Như đêm giống tố loạn cuồng

Rừng sâu đen tối

Những cành cây sờ soạng,

Đợi ánh chớp loè ngắn ngủi

Thấy cần được hiện hữu bên nhau, tìm nhau)

Em hãy là đóa hoa đứng yên bên hàng dậu

Hãy là nụ cười, là một phần của hiện hữu nhiệm mầu.

Tôi đứng đây. Chúng ta không cần khởi hành

Quê hương chúng tôi đẹp như quê hương của tuổi thơ,

Xin đừng ai xâm phạm - tôi vẫn còn hát ca.

Đầu còn gối trên thánh kinh,

sáng nay tôi nghe xôn xao trong nắng mai vũ trụ

đang được những con ong vàng siêng năng bắt đầu khởi công tạo dựng

Công trình xây dựng ngàn đời

Nhưng công trình, em xem, đã được ngàn đời hoàn tất.

Bánh xe nhiệm mầu chuyển hoài đưa chúng ta đi tới

Nắm lấy tay tôi em sẽ thấy chúng ta đã cùng có mặt từ ngàn xưa trong hiện hữu nhiệm mầu.

Tóc mẹ tôi còn xanh và dài chấm gót

Áo em tôi phơi còn phất phơ bay trước dậu

Nắng ấm mùa thu

Tôi ở đây. Chính thực là vườn xưa

Những cây ổi trái chín thơm

Những lá bàng khô thắm

Đẹp

Rụng

Còn chạy chơi la cà trên sân gạch

Tiêng hát vẳng bên sông

Những gánh rơm thơm vàng óng ả

Trăng lên quây quần trước ngõ

Vườn cải hoa vàng, chính mắt tôi vừa thấy sáng qua

Tôi không ngủ mơ đâu,

Ngày hôm nay đẹp lắm thật mà

Em không về chơi trò bắt tìm nơi quá khứ

Chúng mình còn đây, hôm nay, và ngày mai nữa,

Đến đây

Khi khát ta cùng uống ở một giếng nước thơm trong.

Ai nói cho em nghe rằng Thượng Đế đã bằng lòng cho con người khổ đau đứng dậy hợp tác cùng người?

Chúng ta đã từng nắm tay nhau từ muôn vạn kiếp,

Khổ đau vì không tự biết là lá là hoa

Em hát ca đi. Bông cúc cười theo em bên hàng dậu

Đừng bắt chúng tôi nhúng hai tay vào vôi cát,

Những ngôi sao trời không bao giờ xây ngục thất cho chính mình

Để cho chúng tôi hát ca. Để cho chúng tôi là những đóa hoa.

Chúng tôi đang ở trong cuộc đời - mắt chúng tôi chứng minh cho điều ấy.

Bàn tay cũng là hoa. Đừng biến bàn tay em thành dây chằng

Thành khớp rằng cưa

Thành móc sắt.

Hiện hữu không kêu gọi tình thương.

Hiện hữu không cần ai phải thương ai

Nhưng em phải là em, là đóa hoa, là bình minh hát ca, không đắn đo suy tính

Xin ghi vào đây một tân ước nữa của tất cả chúng ta

Và xin vẫn nghe lời tôi như nghe suối reo, như nhìn trăng sáng

Em về, đưa Mẹ về cho tôi thăm

Cho tôi hát em nghe, để tóc em sẽ dài xanh như tóc Mẹ.

Một tuần sau khi tôi đến Nữu Ước, thầy nhận được điện tín của thầy Trí Quang viết: Nhất Hạnh phải về gấp, Phật giáo và đất nước đang cần thầy. Tôi thấy được nỗi cảm động của thầy khi cầm điện tín trong tay. Thật là vô thường! Mới hôm nào thầy khổ đau vì cấp lãnh đạo không bao giờ nâng đỡ những cố gắng của thầy trong công trình làm mới đạo Phật, nhất là thầy Trí Quang bậc trưởng thượng mà thầy trông đợi. Mấy hôm sau, một bức thư gửi qua bưu điện do chính tay thầy Trí Quang viết gửi những dòng sau đây: Nhất Hạnh nên về lo Phật sự, tôi già rồi không lo nổi trách vụ lớn lao này.

Bức thư thầy Trí Quang là giọt nước cuối, thúc đẩy thầy quyết định về thôi. Hy vọng lần này có sự yểm trợ của thầy Trí Quang, chuyện làm mới đạo Bụt sẽ hanh thông hơn.

Tôi hứa trở lại Paris trình thật sớm luận án rong nước ngọt để trả nợ ơn nghĩa với giáo sư Phạm Hoàng Hộ, sau đó sẽ về nước ngay để hợp tác cùng thầy trong công trình làm mới đạo Bụt và xây dựng công bình xã hội cho Việt Nam.

Trên đường về nước vào tháng 12, thầy ghé lại Paris cùng với chị Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, chị của Phùng Thăng. Sau này xuất gia chị trở thành ni sư Trí Hải.

Thầy có thuyết pháp cho đồng bào tại Paris và ngày 16 tháng 12 năm 1963 thầy bay về Việt Nam.

Chương 6: Làng Tình Thương

52 năm theo thầy học đạo và phụng sự - Hồi kí của Sư cô Chân Không

Bài thơ của thầy mà tôi thuộc lòng mãi là Đừng biến mảnh vườn xanh xưa thành mồi ngon lửa dữ. Khi đọc đến câu :

Những đêm bên ướt mẹ nằm Bên ráo con lăn, Từng miếng cơm nhai, Từng bầu sữa cạn, Bao nhiêu ngày Bao nhiêu tháng Bao nhiêu năm Lo lắng cho con nên hình nên vóc, Sáng nay một viên đạn đồng làm anh ngã gục Một viên đạn đồng ghim vào giữa tim, thân em lăn lóc Mẹ sống làm sao được nữa, con ơi? Chị làm sao sống được nữa, em ơi? Đau thương chừng nào vơi, bên cạnh dĩa dầu hao xóm cũ?

Hay là :

Ngực tôi đây anh bắn đi. Mạch máu của mẹ truyền cho đây, em cắt đi để mà xây dựng lâu đài em mơ ước. Tôi không thể nào cầm được nước mắt vì tin tức chiến trường tới tấp mỗi ngày.

Ba điều thỉnh nguyện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Khi về tới Việt Nam thầy đã đi gặp nhiều thành phần dân tộc trong giới trí thức, giới bình dân, giới không Phật giáo và lắng nghe tiếng nói của giới tăng ni trẻ. Sinh viên học sinh rất quý kính thầy. Sau nhiều ngày thiền quán thầy đã trình lên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (viết tắt GHPGVNTN) ba điều thỉnh nguyện, xin Giáo Hội cố gắng thực hiện để giữ lại niềm tin cho toàn dân. Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm đổ, toàn dân đã quy ngưỡng thật nhiều nơi Giáo Hội, nhưng chư tôn đức chưa có dịp ngồi lại để chuẩn bị những chương trình về lâu về dài.

Thứ nhất:

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nên đứng lên kêu gọi anh em miền Nam và miền Bắc Việt Nam ngồi lại tìm giải pháp chung để chấm dứt chiến tranh cốt nhục tương tàn.

Lúc này, quân đội Hoa Kỳ chưa có mặt tại Việt Nam, mới chỉ có những nhóm cố vấn nhỏ mà thôi. Thế quân bình của Nam và Bắc còn cân nhau. Giáo Hội Phật Giáo còn uy tín lớn, hai bên lâm chiến có thể lắng nghe.

Thứ hai:

Giáo Hội xây dựng gấp Viện Cao Đẳng Phật Học để xây dựng lớp trí thức mới có tu có học rành mạch những điều Phật dạy hầu hướng dẫn đất nước đi về hướng đại trí đại bi, khoan dung, và biết lắng nghe tiếng nói của toàn dân.

Thầy nhắc hoài là trong thời đại Lý và Trần, con em những vị lãnh đạo đất nước, cả những vua chúa đều đến học tại Quốc Tử Giám, ở đó họ được học ba nguồn tuệ giác lớn của dân tộc là đạo Phật, đạo Khổng và đạo Lão. Học đạo Khổng để trị nước, đạo Phật để phá chấp và từ bi, nắm quyền bính trong tay mà không bị kẹt vào danh lợi; đừng làm như các trường học gần đây chỉ bàn cãi quanh quanh chuyện nên học theo giáo dục Pháp hay giáo dục Hoa Kỳ.

Thứ ba:

Giáo Hội thành lập ngay một trung tâm đào tạo Tác Viên Xã Hội đi về nông thôn chăm sóc cho đại đa số quần chúng nghèo thiếu ăn thiếu học và thiếu cách tổ chức. Nói một cách khác là xây dựng cơ cấu hạ tầng xã hội cho công bằng, căn cứ trên nhiều điều Phật dạy.

Ý của thầy không phải bảo GHPGTN chỉ làm chuyện từ thiện đi giúp đỡ người nghèo. Ý của thầy là Giáo Hội huấn luyện người có học có kiến thức về y tế, giáo dục, kinh tế và tổ chức để giúp người dân quê tự đứng lên làm cách mạng thay đổi cho chính cuộc đời mình. Người trí thức về nhà quê giúp nông dân, nhưng không nghĩ mình là “người giúp đỡ” và người dân là người “được giúp”, cả hai bên tương tức như cánh tay mặt và cánh tay trái, cùng đứng lên, cùng trách nhiệm, cùng tự nguyện thay đổi cuộc sống chung.

Những vị lãnh đạo trong Giáo Hội chỉ ủng hộ cho thầy mục thứ hai là lập Viện Cao Đẳng Phật Học. Điểm thứ nhất kêu gọi chấm dứt cốt nhục tương tàn, quý vị không đồng ý. Quý vị bảo miền Nam chưa có cơ cấu dân chủ, cần có quốc hội rồi quốc hội sẽ lập hiến pháp trước. Lập hiến pháp xong rồi thì ta mới kêu gọi chấm dứt chiến tranh được. Mới nghe qua dường như đúng về phần lý luận và lý thuyết nhưng nhìn kỹ lại thì các tướng lãnh quân đội đang nắm quyền, đến khi nào họ mới chịu đứng ra tổ chức quốc hội lập hiến đây? Thầy có thưa với Viện Hóa Đạo rằng chuyện Quốc Hội Lập Hiến là chuyện của các chính trị gia. Chúng ta là người tu, khi anh em một nhà - miền Bắc và miền Nam - đang chém giết nhau, hay bị đẩy vào thế chém giết nhau, lấy vũ khí người ngoài - chủ nghĩa Mác Lê và chủ Nghĩa Chống Cộng theo thế cờ Domino của Hoa Kỳ - cả hai đều là ý thức hệ ngoại lai, chúng ta kêu gọi họ ngừng chém giết nhau tức khắc thôi. Chuyện Quốc Hội Lập Hiến và ngưng chiến tranh như thế nào thì các chính trị gia sẽ biết cách tự đề nghị, tự giải quyết tuần tự như thế nào cho hợp lý. Ông thầy tu chỉ làm việc ông thầy tu là kêu gọi ngưng chém giết. Chuyện chính trị để hai bên lâm chiến lo. Ngày tháng qua mau, niềm tin đối với Giáo Hội Phật Giáo càng ngày càng xuống vì thiếu cán bộ lãnh đạo có uy tín, có đủ đạo đức và tài ba. Nếu để quá lâu khi Phật giáo lên tiếng kêu gọi, e chẳng còn ai nghe. Mà thật thế, không bao lâu sau đó, GHPGVNTN bị chia thành hai khối, uy tín xuống trầm trọng.

Điểm thứ ba quý thầy cũng không chấp nhận vì Phật Giáo làm sao mà làm cách mạng xã hội được? Trong khi bên khối quốc gia chống cộng thì có sự ủng hộ của Hoa Kỳ, bên Cộng Sản thì có khối Trung Quốc và Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết đứng phía sau. Còn nếu Phật giáo chúng ta muốn làm cách mạng xã hội thì phải có khối Phật giáo như Thái Lan, Sri Lanka, Miến Điện, Đại Hàn, Nhật Bản ủng hộ mà khối này thì… yếu xìu… Quý thầy còn nói: Thầy Nhất Hạnh thì làm thơ hay lắm nhưng quá lý tưởng. Đừng nói chuyện cách mạng, không thể nào thành đâu.

Bốn chục năm sau tôi càng thấy rõ hơn là nếu hồi ấy Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đứng ra kêu gọi chấm dứt cốt nhục tương tàn, chấm dứt chiến tranh thì sẽ không có quân đội Hoa Kỳ vào nước, không có mấy triệu người dân chết oan. Lúc ấy cả hai miền Nam Bắc đều chỉ có những ông cố vấn Hoa Kỳ, Nga Xô và Trung Quốc. Bên Quốc Gia đủ mạnh để thương thuyết với miền Bắc chấm dứt chiến tranh. Tình trạng điển hình là anh Bùi Thanh Thủy, chồng chị thứ Bảy của tôi. Anh là đại úy quận trưởng Giá Rai tỉnh Bạc Liêu. Chị tôi thì theo truyền thống ông bà họ Cao và họ Bùi, hay đi vào các thôn làng nghèo khó mà giúp đỡ người dân. Khi bên “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” (hồi này không có quân đội Hoa Kỳ nên những khẩu hiệu này không có giá trị) lùa cả làng ở vùng sâu vùng xa đi ra quận Giá Rai biểu tình “đòi hòa bình” thì bên cảnh sát an ninh quốc gia lùa mấy trăm người vào sân vận động bắt họ phơi nắng, nhịn đói tới chiều mới tha về. Chị Bảy tôi là bà quận trưởng nên tự do đi vào sân vận động có lính canh gác, đem nước cho mấy trăm người “bị“ đi biểu tình uống, và trưa thấy họ đói bụng thì đi mua xôi, bắp hay nấu cơm vắt vào phát cho họ ăn. Dân chúng rất thương ông bà quận trưởng nên mỗi khi bên du kích kháng chiến về thì họ tự động, âm thầm, đến báo tin cho ông quận trưởng và ông đại úy quận trưởng đã đến dẹp rất nhanh. Quận Giá Rai bình an, số người biểu tình không còn nữa. Nhưng anh Bảy của tôi có than là bên du kích sao mà súng của họ tốt quá. Còn bên quốc gia thì chỉ có cấp “úy” (thiếu úy, trung úy, đại úy) mới có tiểu liên. Binh sĩ chỉ có súng cũ của Pháp, bắn từng viên rất tồi. Nếu anh giữ bình yên quận Gia Rai là vì dân thương, họ tình báo ngay khi bên kia về. Nhưng từ khi Hoa Kỳ cung cấp súng tốt thì các ông cố vấn Hoa Kỳ ngày càng đông và vì thế bên quốc gia mất chính nghĩa, anh tôi bị bắn chết trong một trận đánh có vài người cố vấn Mỹ. Có lẽ dân chúng ngày càng mất niềm tin nơi giới lãnh đạo có người nước ngoài (Hoa Kỳ) giúp đỡ vì người dân Việt Nam nào cũng biết thành ngữ “cõng rắn cắn gà nhà”. Việt Nam Cộng Hòa của miền Nam từ từ mất chính nghĩa khi cố vấn Hoa Kỳ đến rất đông và cuối cùng thì cóđến hàng chục ngàn, trăm ngàn binh sĩ Hoa Kỳ.

Khi các thầy lớn trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nói rằng mình phải có Quốc Hội Lập Hiến mới kêu gọi hòa bình được thì thầy Nhất Hạnh im lặng không cãi lại, nhưng sau đó thầy dạy chúng tôi rằng mình cứ tự thắp đuốc lên mà đi thôi. Tổ tiên ta ngày xưa chỉ có tấm lòng thương dân, thương nhân loại mà dựng quốc, giữ nước, xây dần từng nấc thang đạo đức và văn hóa dân tộc. Ta cũng cứ thế mà làm, chúng ta cứ y theo như lời Phật dạy, chúng ta tự thắp đuốc lên mà đi. Nếu chúng ta làm đúng thì sẽ có nhiều tấm lòng ủng hộ. Tháng 3 năm 1965 thầy đã viết bài kêu gọi ngưng chém giết nhau giữa hai miền Nam Bắc thành một bài Editorial đăng nguyên trang đầu trên tuần báo Hải Triều Âm, tiếng nói chính thức của Viện Hóa Đạo mà thầy là chủ bút. Mỗi tuần tờ báo ra năm mươi nghìn số. Nhà nước chưa nói gì thì thượng tọa Tâm Châu và nhiều vị lớn trong Viện Hóa Đạo bắt tuần báo Hải Triều Âm đóng cửa. Thầy Châu Toàn, tổng thư ký Hải Triều Âm đã đau khổ như người mất hồn khi tuần báo bị Giáo Hội cho ngưng hoạt động.

Viện Cao Đẳng Phật Học, tiền thân của Đại Học Phật Giáo đầu tiên, Viện Vạn Hạnh.

GHPGVNTN nói sẽ ủng hộ điểm thứ hai là lập Viện Cao Đẳng Phật Học, nhưng quý tôn túc trong Giáo Hội cũng quá bận bịu nên chẳng giúp được gì. Thầy Nhất Hạnh, tuy phải làm tất cả từ đầu đến cuối, nhưng thầy có rất nhiều thanh niên trí thức và nhiều sinh viên các trường Đại Học Sài Gòn hết lòng ủng hộ. Thầy mượn được chùa Pháp Hội mới xây, khá khang trang làm văn phòng và làm những lớp học các chứng chỉ đầu. Thầy mời hòa thượng Thích Trí Thủ làm viện trưởng, kỹ sư Trịnh Sâm làm tổng thư ký, thầy Thích Thanh Văn đệ tử của thầy làm trưởng văn phòng. Bác Trịnh Sâm rất thương quý thầy nên chuyện gì cũng đem tới bàn bạc rất kỹ với thầy. Thầy viết thư mời thầy Minh Châu đang ở Ấn Độ, thầy Thiên Ân và thầy Mãn Giác ở Nhật về để cùng chuyển Viện Cao Đẳng thành Viện Đại Học Phật Giáo Vạn Hạnh.

Ngày khai giảng Viện Cao Đẳng Phật Học tháng Tư năm 1964, chỉ bốn tháng sau khi về nước, thầy đã chiếm được hết cảm tình của các nhân sĩ trí thức Sài Gòn. Viện chưa có ngân sách để làm lại con đường trước chùa đầy những vũng lầy trước cổng, nhưng bác Trịnh Sâm cười hả hê sau buổi lễ, bảo rằng trong bài diễn văn khiêm cung và khéo léo thầy đã lấp được vũng nước trước chùa thật là dễ thương. Ai nghe cũng muốn tìm cách giúp ngay.

Thầy xin được khu đất sát cầu Trương Minh Giảng và xin giấy phép thành lập ngay Viện Đại Học Vạn Hạnh, thầy sắp xếp để thượng tọa Thích Minh Châu, khi về nước sẽ được mời làm viện trưởng, thượng tọa Thích Thiên Ân sẽ làm khoa trưởng Khoa Nhân Văn và thượng tọa Thích Mãn Giác khoa trưởng Khoa Sinh Ngữ. Riêng trung tâm đào tạo tác viên đi làm cuộc cách mạng xã hội bằng con đường tự nguyện và tình thương thì thầy phải đứng ra thôi. Thầy chỉ nhận làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị còn đại đức Thích Thanh Văn sẽ làm giám đốc điều hành.

Nhà xuất bản Lá Bối xuất hiện

Cũng trong năm này thầy dạy thầy Thanh Tuệ, chị Nguyễn Thu Hà và em Cao Ngọc Thanh đứng lên làm nhà xuất bản Lá Bối. Thầy Thanh Tuệ trình bày sách, chị Hà đứng thủ quỹ và Ngọc Thanh lo sổ sách. Tiền vốn bỏ ra là 20.000 đồng do bà bác sĩ Ngô Văn Hiệu cúng dường. Bà Hiệu là người Phật tử duy nhất trong số các Phật tử giàu có đến chùa Ấn Quang thấy được giá trị của thầy. Chính bà đưa thầy đi bác sĩ khi thầy nóng sốt nằm vùi. Cuốn sách đầu tiên của Lá Bối là Bông Hồng Cài ÁoĐạo Phật đi vào cuộc đời. Sách bán rất chạy và nhờ thế có đủ tiền tiếp tục in các cuốn sách khác.

Làng Tình Thương, tiền thân của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội

Tháng 9 năm 1965 trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mới chính thức thành lập như một phân khoa của Đại Học Vạn Hạnh. Nhưng ngay những ngày đầu về tới Việt Nam ngày 18 tháng 12 năm 1963 thầy đã cho một số anh chị em trong Ban Xã Hội của đoàn Sinh Viên Phật Tử đi điều nghiên một số thí điểm để làm Làng Tình Thương thí nghiệm gọi là làng hoa tiêu.

Ngày 17 tháng 6 năm 1964, tôi trình xong luận án đệ tam cấp về rong nước ngọt với hạng Ưu. Viện Đại Học Paris V cấp cho tôi một chỗ làm tại Muséum d’Histoire Naturelle và một học bổng khá cao để làm tiếp luận án Tiến Sĩ Quốc Gia. Nhưng tôi đành từ chối tấm lòng ưu ái của các giáo sư Bourrelly và Feldmann và xin phép về nước ngày 18 tháng 06 năm 1964 để có mặt ngay ở Việt Nam ngày 19 tháng 06 năm 1964.

Bước chân vào Làng Tình Thương hoa tiêu Cầu Kinh tôi như cá gặp nước. Việc nào cũng làm thật dễ dàng không khó khăn như ở xóm ổ chuột ngày xưa. Thiên hạ ở nông thôn chí thú làm ăn, không ai tính lường gạt chúng tôi để đi đánh bài, ăn cắp. Các cháu ham học, các bác nông dân hợp tác tất cả những dự án chúng tôi đề xướng.

Không có trường học cho trẻ con? Thì mình phải tự đứng lên lập lấy cái trường của chính mình. Mới bước chân vào Làng Cầu Kinh, đếm được 77 thiếu nhi từ 5 đến 12 tuổi mà không đứa nào biết đọc, biết viết hết. Chúng tôi đi gặp ông quận trưởng để yêu cầu nhà nước cất trường học cho các cháu. Ông quận trưởng nói, theo ngân sách của Bộ Quốc Gia Giáo Dục thì nơi nào có ít nhất là 200 thiếu nhi mới được cho mở trường học. Chúng tôi áp dụng ngay ba phương châm thầy dạy là TRÁCH NHIỆM, TỰ NGUYỆN và TÌNH THƯƠNG. Chúng tôi tới chơi nhà bác Ba là người lớn tuổi nhất trong làng và thưa rằng: Bác ba ơi, vì chúng cháu thấy 77 đứa bé ở làng mình không có trường học, chúng cháu có tới xin nhà nước, nhưng ông quận trưởng nói không đủ ngân sách, chúng cháu thấy trách nhiệm đối với các em nhỏ nên tự nguyện đứng lên kêu gọi mọi người giúp một tay. Vì tình thương mà làng Cầu Kinh mình phải lập ngay trường học cho con em mình bác Ba đồng ý không? Mình đã không biết đọc biết viết rồi, các con trai con gái mình cũng dốt, mà bây giờ tới đời cháu nội cháu ngoại cũng dốt thì tội nghiệp quá. Thôi chưa có trường cho chúng cháu dạy, các cháu học dưới gốc cây vậy. Thưa bác Ba, thưa cô Bảy, cô bác hy sinh bớt việc nhà để các cháu có thể đến trường nhé. Việc nhà của phần đông các cháu là đi câu cá để có chút thức ăn cho bữa cơm.

Có khi câu được con cá to thì đem đi đổi thêm gạo cho gia đình. Chúng tôi dạy ngoài trời chừng mươi ngày thì gặp hôm trời mưa phải đem cả lớp học chạy xin trú ẩn trong nhà bác Hai, nhà nóc ngói, khá giả nhất trong làng. Bác Hai thấy các cháu lóp ngóp dưới mưa thì thương, nhân đó hôm sau chúng tôi đi mời cả làng tới để trình bày là cần sự góp sức cả làng mới thành tựu được một trường học. Bác Hai cho ba thiên lá dừa nước, bác Ba cho bốn chục cây tre to. Cô bác khác hứa sẽ góp công góp sức. Thế là vài tuần sau chúng tôi có được ngôi trường nóc lá vách đất và tre với ba lớp học và một phòng làm trạm y tế. Chị Trà Mi mới tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm nhưng bị bổ đi dạy ở Trung Học Bến Tre, Phùng Thăng có việc nhà phải về Huế, anh Tôn Thất Chiểu cũng thế. Chị Lê Kim Chi tốt nghiệp trường Dược phải về Cao Lãnh mở hiệu thuốc tây. Chú Nhất Trí, em Tâm Thái và Tâm Quang đều quá trẻ, còn thầy thì lúc sau này phải ở luôn chùa Pháp Hội để lo các lớp Phật học vừa khai giảng.

Tôi được các bạn giao hết mọi việc điều động Làng Tình Thương. Đầy nhiệt huyết mới về nước, tôi kéo các bạn bè mới cũ vào hết trong ban điều động. Lê Khắc Phương Thảo ăn nói mềm mỏng và đầy nhiệt huyết, nên để chị nằm trong Ban Phổ Triển, ngoại giao để tìm người tham gia. Chính Phương Thảo đã mời được ba anh nội trú vừa tốt nghiệp Y Khoa bác sĩ là Trần Tấn Trâm, Hồ Văn Quyền và Nguyễn Thành Nguyên đó mà. Người đứng tên trường tiểu học của làng đáng lý là chị Trà Mi vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm nhưng vì chị bị đi dạy ở Bến Tre nên làng nhờ chị Cao Ngọc Thanh, đang học Dược, đứng tên làm hiệu trưởng và xin phép cho trường Tiểu Học Chim Sơn Ca chính thức hoạt động. Trường có tất cả năm lớp. Thế thì mỗi ngày chúng tôi cần 5 người tình nguyện ngồi chơi và dạy các cháu học từ lớp năm (tức lớp 1 bây giờ) đến lớp tư, lớp ba, lớp nhì và lớp nhất. Cao Ngọc Thanh, Phạm Thúy Uyên và tôi là ba người có bổn phận điều động 30 anh chị sinh viên, mỗi bạn dạy một ngày, dạy sáng và dạy luôn buổi chiều một trong năm lớp. Vì trường dạy 6 ngày trong tuần thành ra phải cần đến 30 người tình nguyện là vậy.

Đó là dịp rất hay để quy tụ hết các bạn cũ trở về xây dựng tăng thân: dược sỹ Mỹ Hạnh - hoa khôi của đoàn sinh viên Phật tử, dược sỹ Lê Kim Chi, dược sỹ Lê Khắc Phương Thảo, dược sỹ Phạm Thị Thục và các bạn các ban ngành khác như thẩm phán Bùi Văn Thanh, tiến sĩ toán Lê Khắc Tích, chị Trương Thị Nhiên đang làm luận án tiến sĩ sinh học, chị Nghiêm Thị Kim Chi, giáo viên, chị Nghiêm Thị Bạch Tuyết, học Dược, chị Phan Thị Mai, giáo viên, anh Lương Hữu Định, luật sư, anh Đỗ Văn Khôn, anh Ngô Vĩnh Thành, anh Ngô Lương Phú, v.v… Mỗi người nhận dạy một buổi hay trọn ngày tùy tâm. Chỗ nào trống thì tôi, Thanh và Thúy Uyên đều tự nguyện lãnh hết những chỗ thiếu người ấy. Bên Y Tế thì đã có các anh bác sĩ Trâm, Quyền, Nguyên, Đỗ Tuấn Khanh và Đặng Ngọc Cương cùng dược sỹ Nguyễn Văn Bảy rồi. Nhưng trùm lên trên mọi người bằng tình thương và sự ưu ái là bác sĩ Ngô Văn Hiệu và chị dược sĩ Đỗ Thị Nga. Hai vị này cúng cho làng những vật dụng thiết yếu mà dân làng dù đầy lòng tự nguyện cũng không có tiền mua là thuốc tây và trọn bộ bàn ghế cho học sinh, những dụng cụ cần thiết bên y khoa cho một trạm xá nhỏ.

Nếu cháu sốt là vì bị ông bà quở

Khi tôi về thăm Làng Cầu Kinh lần đầu, lòng tôi rất bất nhẫn, Cầu Kinh chỉ cách Sài Gòn có 7 cây số mà dân ở đây sống như thuộc về thế kỷ trước. Con thím Năm sốt nặng, thím nhất định là tại bà bắt, tại vì nó đi câu cá xa quá, tận trên gần Miếu Bà, bây giờ phải cúng Bà thôi. Anh bác sĩ Trâm nhìn tôi cười khi nghe tôi nói tỉnh bơ: “Bác nói đúng quá, vậy để cháu sẽ đi mua nải chuối về cúng Bà nhưng bác cho em Trung uống viên thuốc này cũng giúp cho bớt sốt”. Anh Trâm nói nhỏ với tôi: “Sốt cao quá có thể bị thương hàn, nhưng để xem”. May quá là hôm sau, bé Trung đã hết sốt và ăn được cháo. Tôi quên mua nải chuối nhưng thấy Trung hết bịnh dân làng bắt đầu tin thầy Tư (Trâm). Trâm, Nguyên và Quyền cũng không xưng là bác sĩ, chỉ xem mạch rồi phát vài viên thuốc trắng trắng xanh xanh là người bệnh hết bệnh khiến dân làng cứ khen thầy Tư, thầy Bảy, thầy Tám mát tay! Thầy Quyền và thầy Nguyên cũng thay phiên nhau tới xem mạch và cho thuốc. Đồng bào bắt đầu tin tưởng ba cái “chú biết chữa bệnh” của Làng.

Rã bành tô

Một bữa khi đi xe máy về lại Sài Gòn sau một ngày làm việc vất vả, bác sỹ Quyền đi song song và hỏi tôi: Chị Phượng đã có người yêu chưa? Tôi hỏi dùm một người bạn chứ tôi đã có fiancée rồi, xin chị đừng hiểu lầm tôi. Tôi mỉm cười nhẹ nhàng nói: “Dạ có rồi, thưa anh”. Trong tâm tôi nghĩ là tôi nói thiệt vì tôi nhớ tới Khá, tôi đã phụ tấm lòng trung hậu đó thì tôi chỉ có một người yêu bất diệt duy nhất là lý tưởng phụng sự người nghèo khổ của tôi thôi. Nếu tôi ưng ai tức là tôi phụ lòng người con trai hiền lành trung hậu ấy, tôi phụ người yêu bất diệt là lý tưởng phụng sự của tôi. Tôi có thuật điều này cho bạn tôi là Lê Kim Chi nghe. Nghe điều ấy Chi bèn đi mách với thầy Nhất Hạnh khiến thầy thấy tội nghiệp tôi quá. Chiều đó thầy gửi các bạn đem cho tôi một bức thư và căn dặn khi nào buồn lắm thì mở bức thư “cấp cứu”của thầy ra mà đọc. Tôi rất can đảm và không cần mở bức thư cấp cứu đó ra, sau này có dịp, tôi đem trả lại thầy, thầy bảo tôi mở ra xem. Thì ra chỉ có mấy câu thầy dạy tôi cách đi thiền hành để ôm ấp niềm xót xa trong lòng!

Ngày hôm sau, các bạn trong giới y khoa (bạn của Trâm) Sài Gòn, nhiều người được anh Trâm hỏi: Có biết cô Cao Ngọc Phượng bên Đại Học Khoa Học không? Các bạn hỏi lại: Biết, thì sao? Trâm nói: Tui “rã bành tô” rồi bồ ơi, tôi buồn quá, cô ấy đã có người yêu. “Bành tô” là tiếng người bình dân miền Nam gọi trại chữ manteau của Pháp tức là áo khoác dày bên ngoài khi trời lạnh. Nếu bành tô của mình mà rã thì tả tơi lắm. Đúng ra phải nói: Tôi tả tơi quá bạn ơi.

Với một bạn khác của làng thì anh chia sẻ: Bạn biết không. Vừa gặp Phượng thì tôi biết đây là người mà tôi chờ đợi từ lâu rồi, lâu lắm rồi. Đúng là người con gái có cái dáng ốm ốm thanh thanh đó, đúng là cái người thiếu nữ tóc dài có nước da xanh mét đó… Buồn quá, bạn nghĩ có thật cô ấy đã có hôn phu rồi không?

Trâm buồn được vài tuần thì bỗng nhiên vui vẻ trở lại và lại tiếp tục đi cùng tôi thăm từng gia đình dân làng Cầu Kinh và Thảo Điền, xem mạch, cho thuốc và bàn bạc với tôi về những việc chung của làng. Tôi cũng vui vì nghĩ rằng anh ấy đã bình thường hóa lại cái tình đồng chí với tôi trong công tác làm mới xã hội nghèo khó này.

Vài tháng sau tôi nghe nguồn tin là Phương Thảo đã bật mí cho anh ấy biết tôi chẳng có anh chàng nào hết, trừ chàng Nguyễn Khá, cố nhân rồi! Thế là anh ấy lại hy vọng. Nhưng hôm đó tại nhà Phương Thảo tôi nhất định cho Trâm biết người yêu của tôi là lý tưởng phụng sự đồng bào nghèo khổ, xin đừng hy vọng bỏ tôi vào lại cung điện của tình yêu thường tình. Mấy hôm sau tôi bị các bạn của anh Trâm “tấn công” khá kỹ. Họ nói: Cái chị Phượng đó hả? Thà cạo đầu đi tu làm ni cô cho người ta không mơ tưởng. Ai kêu chị ấy để tóc dài mơ mộng quá để cho người khác bể trái tim, tội chết! Không biết chị ấy có biết không? Tôi cười buồn, cũng muốn cạo đầu quách cho rồi nhưng không có chùa thì làm sao mà tu được? Tôi đâu muốn vào chùa của ni sư Vĩnh Bửu, vì tôi không cho nghiệp phụ nữ là nặng và không cần tu để kiếp sau thành con trai cho nhẹ nghiệp. Con trai mà cứ vướng mắc tình cảm như anh Trâm thì còn nặng nghiệp hơn. Gia đình tôi đa số đều chấm Trâm thi đậu làm rể, ai cũng bàn vào đề nghị tôi đồng ý cho rồi, nhưng cái đầu cứng của cô cọp con này ai mà bóp cho mềm được. Sáng sớm tôi đã mất hút vào làng, khi thì làng Cầu Kinh, khi thì làng Thảo Điền, và tối khuya mới về lại nhà. Má tôi trách: Hồi ở Pháp, con nói con nhớ má, thương má, vậy mà khi về tới đây, sáng sớm là con đi mất, tối khuya con mới về, con đi đâu mà đi dữ vậy? Tôi nằm kề bên ôm chặt má và nói: Con thương má lắm nên mới không lấy chồng, nếu con lấy chồng thì bụng mang con, tay này lo cho chồng, tay kia lo cho cả giang san gia đình bên chồng, còn đâu thì giờ ngồi ôm má ban đêm như vầy đâu?

Nghe thế má tôi cười vui trở lại. Má tôi thật dễ thương, dễ nghe lời con gái quá à! Tôi ôm hôn má thật ngon, rúc đầu vào má mà ngủ, hai mẹ con hạnh phúc nằm bên nhau. Hôm sau tôi lại phải đi sớm và má vẫn vui.

Khi nào thì tôi mới gửi thiếp mời mọi người đi dự lễ xuất gia của tôi đây?

Bảy tháng sau, tôi nghe nói Trâm thật tình hiểu là tôi quyết đi tu nên anh không theo đuổi nữa và quyết định trở lại với người con gái rất xinh đẹp đã thương anh từ lâu. Lòng tôi rất vui mừng cho anh ấy vì làm sao mà tôi vui nổi khi có người khổ vì mình mà mình thì nhất định không thể ưng anh ta được. Tôi hỏi các bạn sao không rủ chị ấy đi làng mình cùng với anh Trâm. Chị Nhiên ở chung cùng cư xá Trần Quý Cáp với cô kia nói: Trời ơi, chị Phượng ơi, tội nghiệp cô kia lắm! Cô cứ khóc với tụi tui hoài hà. Cứ mỗi lần anh Trâm gặp cô ấy thì hay đề nghị em nên để tóc dài như chị Phượng, em nên mặc áo trắng như chị Phượng… Mấy tháng sau nữa chúng tôi nhận được thiệp cưới của Trâm. Bỗng nhiên tôi thấy thật buồn!

Lạ quá, tại sao từ chối người ta khi người ta hai lần cầu hôn rồi bây giờ được thiếp cưới của người ta thì buồn, tôi yêu Trâm ư? Nhìn sâu lại tâm mình tôi mới nhận ra một sự thật rất bình thường là: Người con gái nào cũng xem ngày cưới của mình là trọng đại, là ngày đi lập cuộc đời mới với người con trai mình thương yêu và gửi gắm niềm tin. Nhưng con đường của tôi, không phải là con đường đó. Tôi đã chọn lý tưởng làm người xuất gia theo Phật. Lấy sự dấn thân phụng sự cho người nghèo khổ làm tương lai cho mình. Vậy thì khi nào tôi mới mời được bạn bè đến dự ngày xuất gia của tôi đây? Tôi buồn là phải! Đất nước đầy khổ đau, nội chiến lăm le cùng khắp nước, một ngôi chùa ni theo lối tu mới, dấn thân theo lối tôi mơ ước, chẳng biết khi nào lập được. Thế thì chẳng bao giờ tôi có được cái hạnh phúc gửi thiệp cho ai hết để mời đến dự ngày tôi xuất... gia. Tôi buồn không phải năm phút mà... gần cả ngày!

Ngày hôm sau tôi lấy xe mobylette chạy tới hỏi chị Hà: Tiền tụi mình dành dụm để cất chùa ni được bao nhiêu rồi hả chị ? Chị Hà cười: “Còn chờ lâu lắm Phượng ơi! Nhưng nếu cất chùa lá chắc là đủ. Tôi nghĩ: Tại sao không? Một ngôi chùa bằng lá? Cách mạng lắm chứ! Tôi nghĩ đến ngày cất chùa xong tôi mời thầy tới xuống tóc cho mấy chị em tôi. Thiệp mời sẽ làm thật đẹp. Thế nào cũng gửi cho vợ chồng anh Trâm, anh Quyền và Xuân Lan, anh Nguyên, Phương Thảo, Bích, Kim Chi, Nhiên… Thiệp xuất gia của bảy tám chị em chúng tôi cùng một lúc. Vui quá! Người xuất gia chắc chắn sẽ có chị Hà, Phượng, Thanh, Uyên, Trà Mi, Phùng Thăng, chị Liên, chị Điệp... Chắc chắn là vui hơn đám cưới nhiều!

Tránh kịp một vụ Mỹ Lai

Sáng đó tôi vào đến làng Thảo Điền bỗng thấy không khí có vẻ kỳ lạ quá. Cái làng hiền lành của tôi hôm nay đầy lính Mỹ. Anh Mỹ nào cũng nhìn tôi với ánh mắt vừa sợ hãi, vừa ngây thơ. Tuy cao lớn dềnh dàng - có anh cao bằng hai tôi - nhưng mặt anh nào cũng non choẹt. Tôi nhìn vào mắt một anh và hỏi: Các anh định làm gì ở đây? Anh ta hơi giật mình! Có người biết tiếng Mỹ! Ngập ngừng một chút anh ta nói: Chúng tôi đến tìm cộng sản. Với ánh mắt thật trong sáng và chân thật, tôi trả lời ngay là ở đây không có Cộng Sản đâu. Cách đây ba hôm, có một toán du kích vào trói gô ông xã trưởng lại và nói: Mày làm việc cho ngụy, ta phải đốt nhà mày. Dân làng lạy lục năn nỉ họ đừng đốt nhà ông xã trưởng vì ở đây nhà nào cũng bằng lá. Đốt một nhà là đốt hết cả làng. Họ do dự... rồi sau đó bỏ đi. Mừng quá, thế là chúng tôi yên tâm mấy ngày nay. Thế các anh tới đây làm gì? Tại sao trước đây không tới mà bây giờ đến? Họ nói: Cái cầu dài ngoài kia suýt bị mìn nổ vì có du kích đem mìn tới. A thì ra thế! Một lát sau, một người sĩ quan Hoa Kỳ hình như là trưởng nhóm lại đến hỏi tôi lần thứ hai. Sau đó, toán lính Mỹ này có đi lùng soát rất kỹ và hình như thấy đúng như lời tôi khai báo, không có súng, vỏ đạn, không có gì khả nghi. Nhờ thế nên khoảng một giờ sau thì họ rút đi. Tôi chợt nghĩ nếu sáng hôm đó mà tôi không tới kịp, nếu có chú bé nào dại dột vác hèo tới đập anh lính Mỹ nào đó thì sự cố có thể rất tệ. Cái ánh mắt sợ sệt kia sẽ nhanh chóng biến thành hoảng hốt và những loạt súng bắn bừa vì sợ hãi sẽ kéo theo một vụ Mỹ Lai