Đạo Bụt nguyên chất

Đạo Bụt nguyên chất

Mục lục

Lời tựa sách

Đạo Bụt Nguyên Chất là một cuốn sách gồm có 16 bài kinh rất nguyên chất, rất cổ xưa về văn và về nghĩa, được Bụt nói vào những năm đầu khi Ngài mới thành đạo. Những kinh này được dịch từ kinh Nghĩa Túc phẩm thứ tư của kinh tập (Sutta- Nipàta).

Nghĩa là ý nghĩa. Ý nghĩa ở đây là ý nghĩa của giáo lý Bụt dạy. Túc nghĩa là bàn chân, bước chân hay những câu thi kệ. Tiếng Phạn là Arthapada. Artha (Pali: Attha) là nghĩa. Pada (Pali cũng là Pada) là bàn chân, bước chân, hay câu thi kệ. Ta có thể định nghĩa: Nghĩa Túc là bước chân giáo nghĩa hoặc những câu thi kệ chuyên chở giáo nghĩa.

Kinh Nghĩa Túc hiện có mặt trong tạng kinh Pali và cũng có mặt trong tạng Hán. Năm 1916, một học giả tên A.F. Rudolf Hoernk khai quật được năm tờ kinh bằng tiếng Phạn của kinh Nghĩa Túc. Nơi mà giáo sư Hoernk khám phá được năm tờ kinh Nghĩa Túc bằng tiếng Phạn ấy là di tích một kiến trúc ở Khadalik bị chôn vùi trong cát của miền Đông Thổ Nhĩ Kỳ (Eastern Turkestan). Các kinh điển lưu truyền dưới dạng thi kệ như kinh Pháp Cú và kinh Nghĩa Túc thường ngắn gọn súc tích, đòi hỏi công phu học hỏi và nghiên cứu. Vì muốn cho các kinh này bớt vẻ khô khan, các nhà dịch giả đã dịch và đưa vào những tài liệu và kinh điển xuất hiện sau đó để dựng nên bối cảnh cho các bài thi kệ. Những câu chuyện tiền thân hoặc những câu chuyện liên hệ tới cuộc đời Bụt đã được sử dụng dưới hình thức văn trường hàng (văn xuôi) để tạo thêm sự thích thú về phía người đọc kinh. Trong cả hai truyền thống Nam Tông và Bắc Tông, chuyện này đều đã xảy ra. Đó là trường hợp của các kinh Pháp Cú Thí Dụ và kinh Nghĩa Túc. Khi nghiên cứu và học hỏi ta phải thấy được sự ráp nối này thì ta mới tiếp thu được nghĩa lý của phần thi kệ mà không bị màu sắc truyền thuyết và tôn giáo của phần trường hàng ảnh hưởng. Có thể bản tiếng Phạn đã được dịch từ bản tiếng Prakrit. Và kinh Nghĩa Túc chữ Hán mà ta hiện có có thể đã được dịch từ bản tiếng Phạn này.

Bản dịch chữ Hán là công trình của một vị Phật tử cư sĩ tên là Chi Khiêm, thực hiện trong nửa đầu của thế kỷ thứ ba, có thể là tại chùa Kiến Sơ ở Kiến Nghiệp, tức là Nam Kinh ngày nay. Chùa Kiến Sơ là ngôi chùa Phật giáo đầu tiên được thiết lập tại nước Ngô, do một vị thiền sư người Việt tên là Tăng Hội. Thầy Tăng Hội sinh ở Giao Châu, cha là thương gia gốc nước Khương Cư miền bắc Ấn Độ, mẹ là người Việt. Đi xuất gia từ hồi 11 tuổi. Thành tài, thầy Tăng Hội đã tổ chức dịch kinh và hoằng pháp ở Luy Lâu (Giao Châu) trước khi qua nước Ngô để truyền bá chánh pháp. Thầy qua tới kinh đô Kiến Nghiệp năm 247.

Chùa Kiến Sơ được thiết lập với sự yểm trợ của vua Ngô Tôn Quyền. Khi thầy Tăng Hội qua tới thì chưa có vị xuất gia nào ở nước Ngô cả, và thầy là vị xuất gia đầu tiên xuất hiện ở nước Ngô. Cư sĩ Chi Khiêm lúc đó đang được vua Ngô Tôn Quyền mời làm thầy dạy học của Thái tử. Chi Khiêm là người gốc nước Nhục Chi (Indo-Scythe). Thầy Tăng Hội chắc chắn đã được vua Ngô Tôn Quyền giới thiệu với cư sĩ Chi Khiêm và hai người chắc hẳn đã làm việc tương đắc với nhau tại chùa Kiến Sơ, vì cả hai đều có ý nguyện dịch thêm kinh tiếng Phạn ra tiếng Hán. Trong kinh Lục Độ Tập của thầy Tăng Hội, có một chương của kinh Nghĩa Túc do cư sĩ Chi Khiêm dịch. Đây là một trong những bằng cớ về sự cộng tác thân thiết giữa hai người. Và ngôi chùa Kiến Sơ đã có thể là nơi mà hai người đã để rất nhiều thì giờ để đàm đạo và làm công việc dịch thuật.

Hồi ấy, bốn bộ kinh A Hàm còn chưa được dịch ra chữ Hán. Thầy Tăng Hội đến Kiến Nghiệp vào năm 247 mà mãi đến năm 397 nghĩa là 128 năm sau thầy Tăng Già Đề Bà (Sanghadeva) mới dịch các kinh Trung A Hàm và Tăng Nhất A Hàm. Sau đó đến năm 413 thì hai thầy Phật Đà Gia Xá (Buddhayasas) và Trúc Phật Niệm (Buddhasmrti) mới dịch kinh Trường A Hàm, và đến năm 435 thầy Cầu Na Bạt Đà La (Gunabhadra) mới dịch kinh Tạp A Hàm.

Bốn bộ A Hàm dịch xong thì từ ngữ mới bắt đầu được chuẩn định. Nhưng trước đó, khi dịch các kinh như Lục Độ Tập và Nghĩa Túc, hai vị Khương Tăng Hội và Chi Khiêm chắc phải bàn luận với nhau nhiều về cách thức dùng chữ để dịch. Trước đó hai vị đã từng dịch kinh, nhưng trong thời gian làm việc với nhau, cả hai vị đều đã thay đổi cách dịch, và bắt đầu dịch nghĩa nhiều danh từ chung cũng như riêng chứ không dịch bằng cách phiên âm nhiều như trước. Cả hai vị đều thoải mái sử dụng những danh từ tôn giáo và triết học có sẵn từ đời Hán để dịch những danh từ Phật học bằng tiếng Phạn, vì vậy cho nên lời văn của cả hai người đều đã trở nên tự nhiên và điển nhã hơn trước đó rất nhiều.

Kinh Nghĩa Túc có một phần rất cổ và một phần mới biên tập sau đó nhiều trăm năm. Phần rất cổ ấy tương đương với phẩm Attha Vagga, phẩm thứ tư của Kinh Tập (Sutta-Nipàta) trong văn hệ Pali, được lưu truyền dưới hình thức các câu thi kệ, cho nên mới gọi là Túc (pada). Phần mới biên tập là phần trường hàng (văn xuôi) có mục đích là dựng lên khung cảnh cho phần thi kệ. Kinh điển truyền khẩu được bảo tồn dễ dàng hơn dưới dạng thi kệ (pada) vì dễ thuộc, dễ nhớ. Cho nên phần thi kệ trong các kinh thường là phần cổ nhất. Theo các công phu nghiên cứu cận đại thì kinh Nghĩa Túc là một kinh thuộc loại xưa nhất trong các kinh, đứng về phương diện văn cú cũng như đứng về phương diện giáo lý và hành trì. Đây là những giáo nghĩa Bụt dạy trong những năm đầu của sự nghiệp hoằng pháp của Ngài, khi Tăng đoàn còn thuần túy là những vị du sĩ không có chỗ ở nhất định. Sau đó nhiều năm mới bắt đầu có các tu viện Trúc Lâm, Kỳ Viên, v.v. Tuy Bụt và các thầy vẫn tiếp tục du hành để hóa độ và chỉ về cư trú tại các tu viện này mỗi năm ba tháng mùa mưa. Các học giả thường hay phân lịch sử Phật giáo thành ba thời kỳ: Phật Giáo Nguyên Thủy, Phật Giáo Bộ Phái và Phật Giáo Đại Thừa. Phật Giáo Nguyên Thủy bắt đầu từ khi Bụt thành đạo cho đến khi Tăng đoàn phân chia thành nhiều bộ phái. Chuyện này xảy ra vào khoảng dưới hai trăm năm sau ngày Bụt nhập diệt. Kinh Nghĩa Túc được nói ra trong những năm đầu sau khi Bụt thành đạo, có thể nói rằng kinh ấy đại diện cho giai đoạn đầu của đạo Bụt Nguyên Thủy, ta có thể gọi đó là Nguyên Thủy của Nguyên Thủy.

Những bài thi kệ của kinh Nghĩa Túc chữ Hán có số lượng và nghĩa lý tương đương với Attha Vagga, phẩm thứ tư của kinh Tập (Sutta Nipàta). Bản Hán văn này có thể đã được dịch từ một bản tiếng Phạn của bộ phái Sarvastivada (Hữu Bộ) hay một bản tiếng Pali của bộ phái Tamrasatiya (Xích Đồng Diệp Bộ). Xích Đồng Diệp Bộ là bộ phái đã gửi một phái đoàn hoằng pháp xuống tận Tích Lan, sau này không sử dụng tên Đồng Diệp Bộ nữa mà lấy lại tên gốc ngày xưa là Thượng Tọa Bộ (Theravada). Ngoài kinh Nghĩa Túc, cư sĩ Chi Khiêm cũng còn dịch kinh Pháp Cú của Xích Đồng Diệp Bộ, một ít kinh trong các bộ A Hàm, và một số kinh Đại Thừa như kinh Duy Ma Cật, kinh Quán Vô Lượng Thọ và kinh Tiểu Phẩm Bát Nhã.

Đạo Bụt của kinh Nghĩa Túc, nghĩa là thời Nguyên Thủy của Nguyên Thủy, không phải là một tôn giáo, không mang tính chất tín mộ, không vướng vào nghi lễ và giới cấm, tuy nhiên sự hành trì rất nghiêm túc. Đây là đạo lý của sự buông bỏ: buông bỏ ái dục, buông bỏ giáo điều, buông bỏ lý luận, buông bỏ tranh chấp, buông bỏ nhận thức lưỡng nguyên, buông bỏ lễ nghi và cấm giới, buông bỏ mọi kiến thức, mọi chủ nghĩa, mọi ý thức hệ, buông bỏ mọi tìm cầu và mọi dự án. Buông bỏ như vậy để đạt tới thảnh thơi và an lạc.

Đức Phật của kinh Nghĩa Túc không phải là một vị giáo chủ, một vị thần linh, mà chỉ là một bậc đạo sĩ tĩnh lặng, gọi là mâu ni. Mâu ni có nghĩa là một ông thầy tu tĩnh lặng, không có cơ sở, không có sự nghiệp, không có tổ chức, không có giáo quyền. Nếu có ai muốn theo học với vị ấy có thể thấy nơi vị mâu ni ấy một người anh, một người thầy trên con đường tu tập, trên con đường tâm linh. Nếu nói đến quyền lực thì vị mâu ni không có quyền lực gì cả, hiểu theo nghĩa cơ sở, sự nghiệp và giáo quyền. Nếu có quyền lực thì đó là đức độ, đó là từ bi, là trí tuệ tỏa chiếu từ vị mâu ni. Đó là thứ quyền lực xuất thế gian, một quyền lực thuần túy tâm linh. Kinh Nghĩa Túc có rất nhiều bài thi kệ nói về bản chất, giá trị và cách hành trì của một vị mâu ni, một người xuất sĩ tĩnh lặng. Một vị xuất sĩ là một người đã từ bỏ nếp sống thế gian, nếp sống gia đình để trở thành một vị đạo sư tĩnh lặng.

Kinh Nghĩa Túc dạy về sự thực tập chánh niệm, về sự thực tập giới định và tuệ nhưng luôn luôn nhắc ta đừng bị vướng vào lễ nghi, giới cấm, cái thấy cái hiểu của mình và nhất là cái nhìn lưỡng nguyên về tâm và vật, về thế giới và con người. Kinh Nghĩa Túc có nói tới Niết Bàn, nhưng chưa phân biệt Niết Bàn hữu dư y và vô dư y. Kinh Nghĩa Túc có nói tới Bờ Bên Kia, nhưng chưa nói tới lục Ba La Mật hay thập Ba La Mật. Kinh Nghĩa Túc nói tới nhân duyên, danh sắc, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, nhưng chỉ đề cập tới sáu nhân duyên chứ chưa đi tới mười hai nhân duyên.

Kinh Nghĩa Túc đã bắt đầu dạy về không, vô tướng, vô nguyện và bất khả đắc. Kinh Nghĩa Túc có những hình ảnh rất đẹp về một vị mâu ni thành đạt. Một bông sen không dính bùn, một con thiên nga bay cao, một dòng nước trong sáng, một làn gió không bị bất cứ một chiếc lưới nào bắt giữ được, một con sư tử không biết sợ hãi một âm thanh nào. Kinh Nghĩa Túc có những hình ảnh rất cụ thể về tình trạng của những người đang bị hệ lụy: hình ảnh của ái dục như một cơn lũ lụt có thể kéo ta đi, hình ảnh của hận thù như một mũi dao nhọn nằm sâu trong tâm ý, hình ảnh của khổ đau ràng buộc như một con cá sống trong tình trạng càng ngày nước càng khô cạn, hình ảnh của tai nạn do ái dục đem tới như một chiếc thuyền vỡ trên đại dương.

Giáo nghĩa của kinh Nghĩa Túc có lúc đi tới chỗ rất uyên thâm, uyên thâm đến độ có những học giả đã nói tới tính cách thần bí (mysterious) trong kinh Nghĩa Túc. Nếu ta biết bỏ cái nhìn nhị nguyên, nếu ta tập nhìn theo cái thấy phá chấp, phi giáo điều, bất khả đắc và bất nhị, nếu ta thấy được sự nối kết liên tục giữa thế tục đế và đệ nhất nghĩa đế, nếu ta không bị kẹt vào khái niệm và chữ nghĩa thì ta có thể đi vào những chỗ thâm uyên ấy không khó khăn gì. Chính trong kinh Nghĩa Túc Bụt đã nói: giáo pháp này không có gì là bí hiểm, không có gì là sứt mẻ… Không sứt mẻ có nghĩa là toàn vẹn, không mâu thuẫn, nhưng đi sâu vào thì ta sẽ thấy được tính cách nhất trí. Giữ giới mà không bị kẹt vào giới điều là một ví dụ. Hành cái vô hành là một ví dụ khác. Mong cầu cái không mong cầu lại là một ví dụ khác nữa.

Kinh Nghĩa Túc được nói trong thời gian Bụt còn dưới 40 tuổi. Những người theo học với Bụt hồi đó đã khá đông, mà phần lớn là những người trẻ. Chỉ có vài người lớn tuổi hơn Bụt, đó là ba anh em thầy Ca Diếp. Năm vị đã từng tu khổ hạnh với Bụt trong đó có thầy Kiều Trần Như và thầy Mã Thắng tuổi suýt soát của Bụt. Hai thầy Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cũng còn dưới tuổi 40. Tất cả còn lại đều là những người trẻ. Họ đều có ước muốn làm những vị mâu ni, những người xuất sĩ tĩnh lặng. Họ có niềm vui khi sống đời du hóa, ăn mỗi ngày một bữa, bước đi những bước chân tĩnh lặng, chỉ giữ có ba y và một bát, có thể nghỉ đêm bất cứ ở nơi nào.

Đọc kinh Nghĩa Túc, ta có cơ hội thở được không khí lành mạnh và thông thoáng của nếp sống tâm linh không giáo điều, không cấm giới, không tế lễ, không phù chú, không pháp thuật, không giáo quyền, không giáo phẩm. Chỉ có tình thầy trò, chỉ có tình huynh đệ, chỉ có sự thực tập bi trí, chỉ có chí nguyện giúp đời bằng sự thực tập và giáo hóa của mình. Không có dự án tổ chức, xây cất, lập hội, gây vây cánh, tạo ảnh hưởng. Trong sách Đường Xưa Mây Trắng, ta thở được một phần nào cái không khí lành mạnh đó. Đây chính là đạo Bụt thuần túy, là tình yêu đầu, là nước đầu của thang thuốc bổ mới sắc, là nước rượu đầu mới cất, là nước mắm nhĩ, là nước trà được rót ra chén trà lần đầu. Giáo lý của kinh Nghĩa Túc đủ để cho ta thực tập cả đời. Và ta có thể tiếp tục đọc thiên kinh vạn quyển khác mà vẫn thấy tất cả đều là những dòng sông bắt nguồn từ con suối Nghĩa Túc.

Kinh Nghĩa Túc được truyền thừa bởi cả hai dòng Bắc Tông và Nam Tông, và trong thời gian truyền thừa, trước là khẩu tụng sau là nghi chép, thế nào cũng có sự rơi rụng và sai sót. So sánh hai bản Pali và Hán, ta thấy mỗi truyền thống đều có rơi rụng và sai sót. Một số những rơi rụng của truyền thống này lại không bị rơi rụng trong truyền thống kia, đó là một sự may mắn, và nhờ đó ta có cơ hội tái tạo được một văn bản gần với văn bản nguyên thủy nhất. Đó là niềm vui mà sự so sánh nghiên cứu hai văn bản có thể đem lại cho ta.

Ngay trong việc sao chép cũng đã có những rơi rụng đáng kể. Trong Bộ Lục Độ Tập kinh của thiền sư Tăng Hội, có một chương của kinh Nghĩa Túc, đó là kinh Kính Diện Vương. Trong tạng Pali, đó là kinh Chân Đế (Paramatthaka Sutta). Đó là kinh thứ năm của Nghĩa Túc kinh chữ Hán và cũng là kinh thứ năm của phẩm Atthakavagga, phần thứ tư của Kinh Tập (Sutta-Nipàta) chữ Pali. Cả hai truyền bản, mỗi truyền bản đều có tám bài kệ. Trong tạng kinh chữ Hán, như vậy là có hai bản kinh Kính Diện Vương, một bản trong kinh Nghĩa Túc, một bản trong kinh Lục Độ Tập. Đem so sánh hai bản chữ Hán, ta thấy bản của Nghĩa Túc Kinh có nhiều chữ chép sai hơn bản của Lục Độ Tập kinh. Có thể là các đệ tử của thiền sư Tăng Hội sao chép cẩn thận hơn những người sao chép kinh Nghĩa Túc. Chỉ có tám bài thi kệ mà đã có tới trên mười chữ chép sai. Như chữ ý (意) thì chép thành chữ cảnh (境), chữ chúng (衆) thì chép thành chữ chung (终), chữ trì (持) thì chép thành chữ đãi (待), chữ vọng (望) thì chép thành chữ dâm (婬), v.v. Đã thế cách dùng chữ lại rất xưa và rất vắn tắt, thành ra nếu không tham cứu kinh bản Pali thì có nhiều lúc không biết làm sao mà dịch cho đúng chân nghĩa của kinh.

Như ta đã biết, kinh Nghĩa Túc có phần thi kệ rất cổ và phần trường hàng biên tập sau đó nhiều trăm năm để tạo ra một bối cảnh cho phần thi kệ. Phần trường hàng, có nhiều màu sắc tôn giáo và thần thoại, bởi vì đã được trích dẫn từ những kinh nghiệm xuất hiện sau đó có thể là nhiều trăm năm. Sự khác biệt của hai phần được nhận thức dễ dàng. Có khi phần trường hàng có vẻ ăn khớp với phần thi kệ, nhưng có khi cũng có vẻ rời rạc và giả tạo. Điều này không làm hại đến nghĩa lý của kinh văn nếu ta đã có ý thức lịch sử về kinh văn. Ta đừng để cho phần trường hàng bao phủ lấy phần thi kệ, vốn là tinh yếu của kinh.

Các kinh điển lưu truyền dưới dạng thi kệ như kinh Pháp Cú vì kinh Nghĩa Túc thường ngắn gọn súc tích, đòi hỏi công phu học hỏi và nghiên cứu. Vì muốn cho các kinh này bớt vẻ khô khan, các nhà dịch giả đã dịch và đưa vào những tài liệu và kinh điển xuất hiện sau đó để dựng nên bối cảnh cho các bài thi kệ. Những câu chuyện tiền thân hoặc những câu chuyện liên hệ tới cuộc đời Bụt đã được sử dụng dưới hình thức văn trường hàng để tạo thêm sự thích thú về phía người đọc kinh. Trong cả hai truyền thống Nam Tông và Bắc Tông, chuyện này đều có xảy ra. Đó là trường hợp của các kinh Pháp Cú Thí Dụ và kinh Nghĩa Túc. Khi nghiên cứu và học hỏi ta phải thấy được sự ráp nối này, thì ta mới tiếp thu được nghĩa lý của phần thi kệ mà không bị màu sắc truyền thuyết và tôn giáo của phần trường hàng ảnh hưởng. Tuy gọi là phần trường hàng, nhưng kỳ thực ngoài những bài thi kệ của kinh Nghĩa Túc, phần trường hàng kia cũng có trích dẫn một số thi kệ khác từ các nguồn Pháp Cú, Vô Vấn Tự Thuyết, Như Thi Ngữ, Bản Sinh v.v. Những truyện tích trong kinh Lục Độ Tập của thầy Tăng Hội cũng lấy từ cùng một nguồn tài liệu ấy. Ở đây chúng ta chỉ có bản dịch đầy đủ của các thi kệ thuộc kinh Nghĩa Túc, tương đương với phẩm Attha Vagga của Kinh Tập (Sutta-Nipàta).

Trong sách này, phần trường hàng chỉ được tóm tắt, chỉ có phần thi kệ là được dịch đầy đủ. Phần thi kệ là trái tim của kinh. Vì vậy ta có thể đặt tên kinh này là Trái Tim Nghĩa Túc. Hoặc kinh Đạo Bụt Nguyên Chất. Đọc kinh, xin nhớ là phần trường hàng đã được thêm vào nhiều trăm năm sau. Chúng ta cũng có thể dịch Arthapada Sutra (Nghĩa Túc Kinh) bằng những cái tên khác. Artha (Attha) nghĩa chính là ý nghĩa, (the meaning). Nhưng Artha cũng có nghĩa là lợi ích, là nhu yếu, và có khi cũng có nghĩa là quê nhà. Như mặt trời ban ngày đi ngang không gian bao la nhưng buổi chiều lúc nào cũng về ngủ ở chân trời phương Tây. Phương Tây là nhà của mặt trời. Vậy ta cũng có thể dịch Arthapada là Kinh Về Nhà cũng được.

Thiền sư Nhất Hạnh

Kinh Nhiếp phục tham dục

Kinh Nhiếp Phục Tham Dục
(Kiệt Tham Vương Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ nhất, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Kàma Sutta, Sutta-Nipàta 766-771


Bối Cảnh
Kinh này tên là Kinh Kiệt Tham Vương. Kiệt Tham Vương là ông vua có nhiều tham dục. Phần trường hàng kể một chuyện tiền thân: hồi ấy Bụt là một người trai trẻ tên là Uất Đa (có thể dịch từ Uttara hay Utto) đã có khả năng giảng giải một bài kệ cho vị vua đã từng khổ đau vì nhiều tham dục. Vua hài lòng và ban cho người trẻ tước hiệu là đại đức (bhadanta). Rồi Bụt dạy kinh này.

1. Tâm còn đeo đuổi ham muốn thì dù có đạt tới cái đối tượng ham muốn rồi, mình vẫn càng ngày càng muốn có thêm nữa, vẫn chưa được hài lòng.
2. Chạy theo dục lạc trong cuộc đời, là kẻ đang bị vướng vào tham đắm và si mê. Còn mang dục ý trong lòng thì cũng như một người đang bị trúng tên độc.
3. Nên tránh tham dục như tránh dẫm lên đầu một con rắn độc. Phải thực tập thiền quán mới buông bỏ được những gì mà người đời thường ham muốn.
4. Vướng vào sự tham cầu châu báu, ruộng đất, hạt giống, trâu bò, tôi tớ và thê thiếp, kẻ ngu si làm tiêu hao cuộc đời và thân thể mình.
5. Đang khỏe mạnh cường tráng, người chạy theo dục lạc trở nên gầy gò hư hao, lại gây thêm nhiều oán hận. Trong u mê, người ấy phải gánh chịu nhiều đau nhức, giống như kẻ đang đi trên biển mà thuyền bị vỡ.
6. Vì vậy ta phải biết nhiếp phục tâm ý, xa lìa tham dục, đừng vướng vào chúng, tinh tiến đi tới, một lòng mong cầu đưa chiếc thuyền của mình đi sang tới bờ bên kia.

Đại Ý
Kinh tuy chỉ có sáu bài kệ, nhưng rất hay và rất đầy đủ. Đối tượng của tham dục là giàu sang, quyền lực, danh vọng và sắc dục. Chạy theo những đối tượng ấy ta có thể làm cho thân và tâm bệ rạc. Có ba hình ảnh tuyệt đẹp trong kinh này: Mang dục ý trong lòng thì cũng như một người đang trúng tên độc, không thể nào có an lạc. Phải tránh tham dục như tránh dẫm lên đầu một con rắn độc, bởi tham dục rất nguy hiểm. U mê vì tham dục phải gánh chịu nhiều đau nhức, như người đi trên biển cả bị vỡ thuyền. Kinh dạy phải thực tập thiền quán mới buông bỏ tham dục được một cách dễ dàng. Kinh cũng đưa ra ý niệm “bờ bên kia” tức là bờ giải thoát, bờ tự do.


Bài kệ 1
Tăng niệm tùy dục                          增  念  隨  欲
Dĩ hữu phục nguyện                       已  有  復  願
Nhật tăng vi hỷ                               日  增  為  喜
Tùng đắc tự tại                               從  得  自  在

Bài kệ 2
Hữu tham thế dục                          有  貪  世  欲
Tọa tham si nhân                           坐  貪  癡  人
Ký vong dục nguyện                       既  亡  欲  願
Độc tiễn trước thân                        毒  箭  著  身

Bài kệ 3
Thị dục đương viễn                        是  欲  當 遠
Như phụ xà đầu                             如  附  蛇  頭
Vi thế sở lạc                                 違  世  所  樂
Đương định hành thiền                   當  定  行  禪

Bài kệ 4
Điền chủng trân bảo                        田  種  珍  寶
Ngưu mã dưỡng giả                        牛  馬  養  者
Tọa nữ hệ dục                                坐  女  繫  欲
Si hành phạm thân                          癡  行  犯  身

Bài kệ 5
Đảo luy vi cường                           倒  羸  為  強
Tọa phục thậm oán                        坐  服  甚  怨
Thứ minh thọ thống                        次  冥  受  痛
Thuyền phá hải trung                      船  破  海  中

Bài kệ 6
Cố thuyết nhiếp ý                            故  說  攝  意
Viễn dục vật phạm                          遠  欲  勿  犯
Tinh tấn cầu độ                            精  進  求  度
Tải thuyền chí ngạn                         載  船  至  岸

Kinh Hang Động Ái Dục

Kinh Hang Động Ái Dục
(Ưu Điền Vương Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ nhì, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Guhatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 772-779

Bối Cảnh

Kinh này tên là kinh Ưu Điền Vương (Phạn dịch là Udayana hay Udena). Khung cảnh dựng lên: Vua này đi chơi núi với các cung nữ. Trên núi có một vị khất sĩ sống khổ hạnh trong một cái động đá, tóc tai ra dài, áo quần tơi tả. Một cô cung nữ thấy thế sợ hãi la lên rằng có quỷ. Vua giận dữ muốn trừng phạt vị khất sĩ. Có một vị thiên giả muốn cứu mạng cho vị khất sĩ mới biến thành một con gấu lớn đi tới, vua phải bỏ chạy. Vị khất sĩ thoát chết về bạch lại với Bụt. Bụt kể chuyện tiền thân: trong kiếp trước vị khất sĩ đã làm gì đó cho nên nay mới suýt bị nạn và Bụt dạy kinh này.

1. Bị nhốt vào cái hang động của đủ thứ ham muốn, bị tri giác sai lầm của mình che lấp, người ta đi tách ra khỏi con đường chánh đạo. Cái nhớ tưởng về dục vọng của mình làm cho mình khó có cơ hội thành tựu được tuệ giác.

2. Vướng vào vòng sắc dục là vướng vào vòng sinh tử. Một khi sợi dây sắc dục đã cột vào kiên cố quá thì khó có thể tháo gỡ ra. Nếu không biết quán chiếu cái tới và cái đi của các pháp, nếu không thành tựu được tuệ giác thì không thể nào chặt đứt được gốc rễ của tham dục.

3. Tham dục được phát sinh từ mù quáng và si mê. Người ta không biết rằng chạy theo tham dục thì cái mê lầm của mình càng ngày càng lớn, rằng sống trong tham dục thì phải gánh chịu nhiều thống khổ và bi ai, và trong khi chịu đựng, người ta chẳng biết phải nương tựa vào đâu cho bớt khổ.

4. Con người phải thức tỉnh và trở về với giây phút hiện tại. Phải thấy rằng thế gian đang sống trong mê lầm, ta không thể nương tựa vào cấu trúc của thế gian và đi theo cái đà của nó. Phải quán niệm về buông bỏ, về sự trở về với con đường chính, về sự thoát ly vướng mắc. Phải nhớ mạng sống là ngắn ngủi và quán chiếu cái chết gần kề.

5. Cuộc đời đi từ khổ đau này đến khổ đau khác, cái ham muốn trong cõi sinh tử đang lan tràn như một cơn lũ lụt. Khi cái chết đến, oán thù và sợ hãi phát sinh, và năng lượng của cái dục ấy sẽ kéo ta đi luân hồi.

6. Người đang nhận chịu khổ đau cảm thấy mình như một con cá thiếu nước, dòng nước chảy vào hồ đã bị cắt đứt. Thấy như thế là có thể dừng lại được và sẽ không còn có khuynh hướng muốn đi về trong ba cõi.

7. Đừng bị kẹt vào một trong hai cực đoan. Những gì mà ta tiếp xúc nếu biết là chúng có tính cách nguy hại thì ta phải quyết tâm buông bỏ, đừng vướng víu. Đừng làm một điều gì để sau này ta sẽ oán trách chính ta. Phải biết từ khước nhìn và nghe những gì có thể làm cho tự thân ta ô nhiễm.

8. Phải sử dụng những giáo pháp của đạo giác ngộ để quán chiếu và vượt qua biển khổ. Vị mâu ni buông bỏ những lo toan, trau chuốt cho cái ngã và tu tập tinh chuyên để nhổ cho được mũi tên tham dục ra khỏi thân mình. Làm như thế vị ấy đạt được tới chỗ không còn nghi nan.


Đại Ý

Kinh Hang Động Ái Dục tiếp nối chủ đề mà kinh thứ nhất đưa ra. Kinh này cũng chỉ có tám bài kệ. Bị nhốt vào hang động ngũ dục, con người không tìm ra được con đường chánh đạo thênh thang. Ham muốn là hang động giam hãm con người và cũng là những sợi giây trói buộc  làm cho con người mất hết tự do. Nguồn gốc của tham dục là si mê, chỉ có quán chiếu mới buông bỏ được. Ham muốn là gốc của luân hồi sinh tử. Có ba hình ảnh rất sống động trong kinh này: đó là hình ảnh của một cơn lũ lụt, tượng trưng cho tham dục, kéo ta đi; hình ảnh của một con cá thiếu nước, tượng trưng cho khổ đau và hệ lụy; và hình ảnh của một mũi tên cắm vào thân thể, tượng trưng cho tham dục.

Một trong những phương pháp thực tập là tránh nhìn và nghe những gì có thể tưới tẩm hạt giống tham dục trong ta. Phương pháp khác là quán chiếu cái tới và cái đi của các pháp. Phương pháp thứ ba là thực tập con đường trung đạo, đừng bị kẹt vào một trong hai cực đoan: hoặc kham khổ quá, hoặc hưởng thụ nhiều. Trong bài kệ thứ tám, có một chữ chép sai. Đó là chữ tiêm (尖) có nghĩa là mũi nhọn, chép nhầm thành chữ vị (未), làm cho câu kinh mất nghĩa. Hai chữ viết na ná như nhau cho nên có sự nhầm lẫn.


Bài kệ 1
Hệ xá đa sở nguyện                       繫 舍 多 所 願
Trú kỳ tà sở giá                             住 其 邪 所 遮
Dĩ già viễn chánh đạo                     以 遮 遠 正 道
Dục niệm nan khả tuệ                     欲 念 難 可 慧
Bài kệ 2
Tọa khả hệ bào thai                        坐 可 繫 胞 胎
Hệ sắc kiên tuy giải                        繫 色 堅 雖 解
Bất quán  khứ lai pháp                    不 觀 去 來 法
Tuệ  thị diệc đoạn bổn                     慧 是 亦 斷 本

Bài kệ 3
Tham dục dĩ si manh                      貪 欲 以 癡 盲
Bất tri tà lợi tăng                            不 知 邪 利 增
Tọa dục bị thống bi                         坐 欲 被 痛 悲
Tùng thị đương hà y                       從 是 當 何 依
Bài kệ 4
Nhân sanh đương giác thị                 人 生 當 覺 是
Thế tà nan khả y                               世 邪 難 可 依
Xả chánh bất trước niệm                    捨 正 不 著 念
Mạng đoản tử thậm cận                     命 短 死 甚 近
Bài kệ 5
Triển chuyển thị thế khổ                    展 轉 是 世 苦
Sanh tử dục khê lưu                         生 死 欲 溪 流
Tử thời nãi niệm oán                         死 時 乃 念 怨
Tùng dục để thai cực                        從 欲 詆 胎 極
Bài kệ 6
Tự khả thọ thống thân                        自 可 受 痛 身
Lưu đoạn thiểu thủy ngư                   流 斷 少 水 魚
Dĩ  kiến đoạn thân khả                       以 見 斷 身 可
Tam thế phục hà tăng                         三 世 復 何 增

Bài kệ 7
Lực dục ư lưỡng diện                         力 欲 於 兩 面
Bỉ khả giác mạc trước                         彼 可 覺 莫 著
Mạc hành sở tự oán                            莫 行 所 自 怨
Kiến văn mạc tự ô                               見 聞 莫 自 污
Bài kệ 8
Giác tưởng quán độ hải                      覺 想 觀 度 海
Hữu ngã tôn bất kế                             有 我 尊 不 計
Lực hành bạt tiêm xuất                       力 行 拔 尖  出
Trí sử nãi vô nghi                                 致 使 乃 無 疑

Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ

Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ
(Tu Đà Lợi Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ ba, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Dutthatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 780-787

Bối Cảnh

Kinh này tên là kinh Tu Đà Lợi. Tu Đà Lợi (Sundari) là tên một cô gái trẻ đẹp, được một nhóm đạo sĩ Bà La Môn sai phái lui tới tu viện Kỳ Viên nơi Bụt và các thầy cư trú. Nhóm đạo sĩ này ganh tức với giáo đoàn của Bụt vì họ không còn được vua Ba Tư Nặc trọng đãi như trước. Sau đó, Tu Đà Lợi bị giết và thi thể được chôn giấu ở tu viện Kỳ Viên. Người ta vu oan là Bụt và các thầy đã giết cô gái và tạo dư luận là giáo đoàn của Bụt tu tập giả dối. Có nhiều thầy đi vào thành Xá Vệ khất thực bị tẩy chay. Bụt bảo trong bảy hôm sự thực sẽ bung ra và dân chúng sẽ thấy rõ là giáo đoàn của Bụt luôn luôn thanh tịnh. Quả nhiên bảy hôm sau thám tử của vua Ba Tư Nặc khám phá ra được âm mưu giết người và vu khống.

1. Mình còn mang theo tà niệm mà cứ lo chỉ trích người khác (về những sai lầm thiếu sót của họ). Mình chỉ ham đề cao cái thấy của mình về sự thật. Khi gặp được một vị chân tu đích thực, thì mình thấy rằng vị ấy chẳng quan tâm gì tới chuyện thị phi và hơn thua cả.

2. Làm sao sử dụng được công phu hành trì của mình để buông bỏ tham dục trong cuộc đời? Làm sao đạt tới được cái đức hạnh cao quý và vượt thoát mọi nhu yếu tranh cãi? Làm sao chế ngự được tham dục? Người ta sẽ đặt cho mình những câu hỏi (thực tế) như thế.

3. Giả dụ có người, không ai hỏi mà tự khoe là mình giữ giới và thực tập giỏi, người ta sẽ nghi rằng người này không nói thật và không đi đúng vào con đường của đạo pháp. Vì vậy những ai muốn học hạnh sa môn phải biết lo tự tịnh hóa mình trước.

4. Đã thực sự dừng lại rồi, và để không còn bị kẹt vào cuộc đời thế tục thì phải thường tự nhắc nhở là mình phải nắm giữ giới luật cho vững chắc. Phải có đức tin nơi đạo pháp, không nên chỉ ba hoa lo dạy đời.

5. Giáo pháp nói lên không có gì bí hiểm mà cũng không bị hư nát. Khi giảng dạy đừng đưa cái ngã của mình lên, không nên vì vui mà dạy, vì giận mà không dạy. Phải thấy được trong sự hành trì của mình không có gì sai lạc và rơi rụng. Nếu mình không bị kẹt vào cái ý riêng của mình thì còn gì để mừng hoặc để giận?

6. Những cái gì ta đã ngỡ là của ta, cần được buông bỏ. Những giáo pháp minh sát cần phải nắm lấy để hành trì. Nếu tha thiết muốn có lợi ích chân thực thì mình sẽ đạt được tuệ giác về không, bởi vì nhìn vào các pháp và thấy được tướng không của chúng cho nên mình biết tất cả vốn là không.

7. Không nên vướng vào bất cứ một xứ nào (của bốn thiền về sắc giới), trong đó có vô sở hữu xứ. Hành trì mà không có ý định sinh về một trong ba cõi. Nếu tất cả những gì vô minh và điên đảo đã được đoạn trừ thì làm sao cái hành của mình lại còn mang tính cách xứ sở?

8. Ý niệm về “có” được phá vỡ tan tành; ngôn ngữ để sử dụng giải bày cũng không còn bị vướng mắc. Đã không bị vướng mắc, đã có khả năng buông bỏ (mọi ý niệm) thì cái hành của mình sẽ có công năng đưa mình tới cái tuyệt đối không kỳ thị.

Đại Ý

Kinh này tuy cũng chỉ có tám bài kệ nhưng ý tứ rất sâu sắc. Câu nói: giáo pháp không có gì bí mật (che giấu) và không có gì hư nát là từ kinh này. Một vị mâu ni chân thực không quan tâm đến chuyện thị phi và đắc thất. Vị ấy không có nhu yếu tranh cãi và gặt hái tiếng khen. Vị ấy lo tự tu tự độ để có giải thoát trước, chứ không ba hoa lo dạy đời. Vị ấy có khả năng buông bỏ sở tri của mình, cho nên khi được khen không mừng mà khi bị chê cũng không giận.

Kinh này đã nói tới tuệ giác không. Nhìn vào tướng trạng các pháp, thấy được tướng không của các pháp cho nên vị mâu ni vượt thoát được ý niệm về có và đồng thời cũng vượt được ý niệm về không như là ý niệm vô sở hữu xứ.

Kinh này cũng đã nói tới sự phá vỡ các khái niệm trong đó có khái niệm có và khái niệm không, và nhất là đã đề cập tới ý niệm ngôn ngữ đạo đoạn, ta không nên bị kẹt vào ngôn từ.

Cuối cùng kinh này cũng đã nói tới sự buông bỏ (xả) để đạt tới cái không còn kỳ thị.


Bài kệ 1
Tà  niệm thuyết bỉ đoản                  邪  念  說  彼  短
Giải ý đế  thuyết thiện                    解  意  諦  說  善
Khẩu trực thứ cập tôn                    口  直  次  及  尊
Thiện ác xả bất ưu                         善  惡  捨  不  憂


Bài kệ 2
Dĩ hành đương na xả                       以  行  當  那  捨
Khí thế dục tự tại                             棄  世  欲  自  在
Bão chí đức bất loạn                        抱  至  德  不  亂
Chế dục nhân sở cật                        制  欲  人  所  詰


Bài kệ 3
Như hữu thủ giới hành nhân              如  有  守  戒  行  人
Vấn bất cập tiên cụ diễn                    問  不  及  先  具  演
Hữu nghi chánh phi pháp đạo             有  疑  正  非  法  道
Dục lai học thả tự tịnh                       欲  來  學  且  自  淨



Bài kệ 4
Dĩ chỉ bất câu thị thế                           以  止  不  拘  是  世
Thường tự thuyết trước giới kiên         常  自  說  著  戒  堅
Thị đạo pháp hiệt sở tín                       是  道  法  黠  所  信
Bất trước ỷ hành giáo thế                    不  著  綺  行  教  世



Bài kệ 5
Pháp bất nặc bất hủ ngôn                   法  不  匿  不  朽  言
Hủy tôn ngã bất hỉ khủng                    毀  尊  我  不  喜  恐
Tự kiến hành vô tà lậu                        自  見  行  無  邪  漏
Bất trước tưởng hà sân hí                  不  著  想  何  瞋  憙



Bài kệ 6
Sở ngã hữu dĩ chuyển xả                       所  我  有  以  轉  捨
Tiên minh pháp chánh trước trì               鱻  明  法  正  著  持
Cầu chánh lợi đắc tất không                   求  正  利  得  必  空
Dĩ  tưởng không pháp bản không            以  想  空  法  本  空



Bài kệ 7
Bất trước dư vô sở hữu                        不  著  餘  無  所  有
Hành bất nguyện tam giới sanh              行  不  願  三  界  生
Khả minh minh tất dĩ đoạn                     可  瞑  冥  悉  已  斷
Vân hà hành hữu xứ sở                         云  何  行  有  處 所





Bài kệ 8
Sở đương hữu tất liệt khứ                    所  當  有  悉  裂  去
Sở đạo thuyết vô ái trước                     所  道  說  無  愛  著
Dĩ  bất trước diệc khả ly                       已  不  著  亦  可  離
Tùng hành bạt tất xả khứ                      從  行  拔  悉  捨  去

Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh

Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh
(Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ tư, Đại Tạng Tân Tu 198
(tương đương với Suddhatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 788-795)



Bối Cảnh

Kinh này là kinh Ma Kiệt Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên: Có một vị phạm chí tên là Ma Kiệt (Màgadha) qua đời trong khi giảng dạy. Đệ tử làm tang lễ cho vị ấy, rước thi hài vị phạm chí qua các ngả đường thành phố Xá Vệ. Người ta tin rằng ai thấy được hình hài vị phạm chí ấy thì được giải thoát, dù là chỉ thấy được hình hài ấy sau khi ông ta chết. Các thầy khất sĩ của Bụt về báo cáo lại chuyện này và Bụt đã dạy kinh Ma Kiệt Phạm Chí.



1. “Tôi đã được chuyển hóa và trị liệu.” Có kẻ tin rằng hễ thấy được (bốn) sự thật thì mình tự nhiên được tịnh hóa. Những kẻ tin rằng cái kiến thức mình có chính là cái chuyển hóa và trị liệu, những kẻ ấy chưa thực sự chứng nhập được khổ đế và tập đế.

2. Có kẻ mới gặp được một bậc hảo nhân mà nghĩ là mình đã được tịnh hóa, đã có tuệ giác, đã hành trì xong, đã lìa xa được khổ nạn, đã trừ bỏ được xấu ác, đã thấy được con đường thanh tịnh, những người như thế cần phải đoạn trừ cái sở kiến của mình thì mới có thể thực sự đi vào được sự tịnh hóa chân chính.

3. Giải thoát không phải là do mình tiếp nhận được một cái gì từ người khác, hoặc từ những cái mình thấy, mình nghe hoặc những giới cấm và nghi lễ mà mình tiếp thọ. Vị sa môn chân chính không bị kẹt vào ý niệm tội và phước, vị ấy đã đoạn trừ được tất cả mọi ý niệm và không bao giờ tự khen mình.

4. Buông bỏ cái đã qua, không tưởng nhớ đến cái sắp tới. Bước đi trong hiện tại, vượt qua bốn dòng lũ lụt: dục hải, hữu hải, kiến hải và vô minh hải. Vị sa môn cứ một đường thẳng mà đi tới, không bị kẹt vào ý niệm khổ. Bởi vì biết rằng còn có sở niệm thì tâm mình còn bị ràng buộc!

5. Vị ấy luôn đề cao cảnh giác, nắm vững giới luật mà đi, và trong khi đi, nếu ý niệm về khổ kia phát sinh thì nên lập tức buông bỏ và từ từ đi vào công phu hành trì. Hành trì ở đây có nghĩa là thực sự quán chiếu và thẩm sát, và không có nhu yếu thuyết giảng bằng những lời kiểu cách.

6. Vị ấy đối với tất cả các pháp, không còn có nghi ngờ gì nữa. Với những gì thấy và nghe, vị ấy thường làm phát khởi chánh niệm để nhận diện. Vị ấy là kẻ đã thực sự nghe và thấy được (bốn) sự thật, là kẻ có nền tảng và năng lượng của sự hành trì, là kẻ không còn tạo tác nghiệp thế gian và không còn bị kéo theo sáu đối tượng của giác quan nữa.

7. Không thắc mắc về những tiện nghi cho riêng mình, không thắc mắc về việc nguời ta có tôn kính mình hay không, cũng không cần thắc mắc là mình đã có sự tịnh hóa hoàn toàn hay chưa, người đạt đạo cắt đứt được mọi ý niệm về ân và về oán, không còn vướng mắc vào một chủ thuyết nào và cũng không còn theo đuổi một dự án nào nữa trong thế gian.

8. Một người như thế là một bậc chân tu, không còn nắm giữ gì cho mình nữa cả. Những gì người ấy thấy và nghe, người ấy đều không bị vướng mắc. Người ấy không còn thấy có gì là ô nhiễm hoặc không ô nhiễm, không còn thấy có gì là tịnh hay bất tịnh.


Đại Ý

Kinh này cũng chỉ có tám bài kệ. Bụt dạy ta phải buông bỏ không những mọi chủ thuyết, mọi ý thức hệ mà phải buông bỏ luôn các ý niệm về khổ vui, tội phúc, ân oán và nhiễm tịnh. Kinh này nối tiếp được kinh thứ ba trước đây một cách rất liên tục và nhất trí.

Có người mới gặp được một bậc minh sư hay nghe được giáo lý mầu nhiệm của vị ấy thì đã có cảm giác là cuộc đời mình đã thay đổi, mình đã được trị liệu và chuyển hóa. Sự thực là mình chỉ mới đi tới giai đoạn thấy đạo (kiến đạo). Mình phải đi qua các giai đoạn tu đạo và chứng đạo nữa thì mình mới thực sự có chuyển hóa và trị liệu. Nếu không mình chỉ bám lấy cái ý tưởng là mình đã có thầy, đã có con đường, và cho như vậy là đủ.

Có những người sau khi nghe về diệu đế thứ nhất là khổ thì bị vướng vào đấy và nghĩ rằng khổ là chân lý tuyệt đối, mình phải tự nhắc đi nhắc lại “đời là khổ”. Thái độ giáo điều ấy khiến cho họ không đi tới được. Diệu đế thứ ba là diệt, nghĩa là sự vắng mặt của khổ đau, đồng thời cũng có nghĩa là sự có mặt của hạnh phúc, người ấy không thấy được như thế. Theo đúng tinh thần của kinh, không những ta phải buông bỏ ý niệm về khổ mà cũng phải buông bỏ ý niệm về hết khổ. Cái hết khổ không còn ám ảnh ta được thì cái khổ cũng không thể nào ám ảnh ta.

Giải thoát là cái tự do mình đạt được khi có khả năng buông bỏ. Không phải là cái mình tiếp nhận từ bên ngoài hay từ một vị đạo sư. Cái thấy cái hiểu của mình về giáo lý, cả những giới cấm và nghi lễ mình đang hành trì cũng không phải là giải thoát. Và vì vậy các ý niệm tội phúc, nhiễm tịnh, ân oán mình cũng buông bỏ được. Đây đã là sự hình thành của giáo lý Bát Nhã: không nhơ không sạch, không thêm không bớt, không khổ không lạc, không tội không phước.



Bài kệ 1
Ngã kiến tịnh vô hữu bệnh                           我  見  淨  無  有  病
Tín  kiến đế  cập tự tịnh                              信  見  諦  及  自  淨
Hữu tri thị tất  khả độ                                  有  知  是  悉  可  度
khổ đoạn tập chứng tiền phục                      苦  斷  習  證  前  服


Bài kệ 2
Kiến hảo nhân dĩ vi tịnh                              見  好  人  以  為  淨
Hữu tuệ hành cập ly khổ                            有  慧  行  及  離  苦
Hiệt trừ hung kiến tịnh kính                         黠  除  凶  見  淨  徑
Đoạn sở kiến chứng chí tịnh                       斷  所  見  證  至  淨


Bài kệ 3
Tùng dị đạo vô đắc thoát                              從  異  道  無  得  脫
Kiến văn trì giới hạnh độ                              見  聞  持  戒  行  度
Thân bất ô tội diệc phước                            身  不  污  罪  亦  福
Tất dĩ đoạn bất tự dự                                   悉  已  斷  不  自  譽


Bài kệ 4
Tất khí thượng mạc niệm hậu                       悉  棄  上  莫  念  後
Hữu thị hành độ tứ hải                                  有  是  行  度  四  海
Trực hành khứ mạc niệm khổ                        直  行  去  莫  念  苦
Hữu sở niệm ý tiện phược                            有  所  念  意  便  縛


Bài kệ 5
Thường giác ý thủ giới hạnh                         常  覺  意  守  戒  行
Tại thượng hành tưởng bỉ khổ                      在  上  行  想  彼  苦
Niệm bổn niệm sảo nhập hành                     念  本  念  稍  入  行
Bất kiểu ngôn thẩm hữu hiệt                        不  矯  言  審  有  黠



Bài kệ 6
Nhất thiết pháp vô hữu nghi                        一  切  法  無  有  疑
Chí kiến văn diệc sở niệm                           至  見  聞  亦  所  念
Đế kiến văn hành lực căn                            諦  見  聞  行  力  根
Thùy tác thế thị lục suy                               誰  作  世  是  六  衰


Bài kệ 7
Bất niệm thân bất niệm tôn                           不  念  身  不  念  尊
Diệc bất nguyện hành chí tịnh                       亦  不  願  行  至  淨
Ân oán đoạn vô sở trước                              恩  怨  斷  無  所  著
Đoạn thế nguyện vô sở trước                        斷  世  願  無  所  著



Bài kệ 8
Vô sở hữu vi phạm chí                                無  所  有  為  梵  志
Kiến văn pháp tiện trực thủ                          見  聞  法  便  直 取
Dâm bất dâm trước ô dâm                           婬  不  婬  著  污  婬
Dĩ vô thị đương trước tịnh                            已  無  是  當  著  淨

Kinh Sự Thật Đích Thực

Kinh Sự Thật Đích Thực
(Kính Diện Vương Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ năm, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Paramatthaka Sutta,Sutta-Nipàta 796-803

Bối Cảnh

Các thầy khất sĩ của Bụt trước giờ khất thực có ghé qua thăm một hội trường nơi đó có nhiều giáo sĩ Bà La Môn đang tranh luận. Họ chê bai nhau, họ chỉ trích nhau, ai cũng cho cái thấy của mình là cao nhất, đúng nhất. Lời nói của họ không ái ngữ mà có tính cách độc hại và mũi nhọn. Các thầy chán quá, về thuật lại với Bụt. Bụt kể chuyện tiền thân. Kiếp đó Ngài là vua Kính Diện Vương. Một hôm vua cho mời những người mù từ khi mới lọt lòng mẹ trong vương quốc tới chơi. Trước sân điện, với sự có mặt của các nhà trí thức và đạo sĩ trong nước, vua cho dẫn ra một con voi rồi mời những người mù đến sờ voi và nói ra cái thấy của họ. Người sờ chân voi thì nói voi giống một cái cột nhà, người sờ đuôi voi thì nói voi giống một cái chổi, người sờ tai voi thì nói voi giống như một cái quạt v.v… Cố nhiên là họ không đồng ý với nhau về cái thấy của họ. Rồi Bụt dạy kinh này để khuyên các vị đệ tử buông bỏ những quan niệm của mình sẵn có về thực tại.


1. Mình còn mờ mịt mà cứ nói rằng kẻ kia chẳng bằng mình. Vướng víu si mê, cứ để tháng ngày trôi qua, bao giờ mới có cơ hội thấy rõ chân lý? Chưa có pháp môn tu đạo mà cứ nói mình đã thực tập xong xuôi. Tâm còn loạn động, chưa biết hành trì, bao giờ mình mới có được kiến giải thực sự?

2. Cứ nghĩ rằng người khác phải hành trì theo cái hành trì của mình. Tự cho rằng cái thấy, cái nghe và cái thực tập của mình là không ai bằng được. Chính mình đang bị sa đọa và ràng buộc vào trong năm cái hang động dục lạc của cuộc đời mà mình vẫn cứ ba hoa nói mình hơn người.

3. Còn ôm chặt si mê và vọng tưởng mà cứ tưởng rằng mình đã đạt tới chỗ chí thiện. Cái học hỏi và sự thực tập của mình còn sai lạc mà mình lại cứ ham muốn độ đời. Những gì thấy, nghe, suy nghĩ, và cả những nghi lễ và cấm giới mà mình hành trì, mình vẫn còn bị kẹt vào đấy, chưa thoát ra khỏi.

4. Bậc thức giả thấy người thế gian đi theo con đường ấy thì nhất quyết không chịu đi theo. Ta chỉ nên hành trì theo chánh niệm và trong khi hành trì phải hết sức thận trọng. Đừng cho rằng mình bằng người, hơn người hoặc thua người.

5. Cái bây giờ mình không nắm bắt, cái sau này cũng tuyệt đối không làm mình vướng bận. Buông bỏ mọi chủ thuyết, mọi ý tưởng, một mình đi trong tự do. Tuy vẫn có cái biết và cái thấy, nhưng thường quán chiếu để không bị kẹt vào chúng.

6. Không kẹt vào cái nhìn lưỡng nguyên, không kẹt vào ý niệm thọ mạng, ý niệm về đời này và đời sau, kẻ trí giả đi theo con đường trung đạo, quán chiếu các pháp để đạt tới thiền định chân chính.

7. Phải quán chiếu về những gì thấy, nghe và cảm nhận để đừng khởi lên tà niệm và bị kẹt vào tri giác sai lầm. Dùng trí tuệ để quán chiếu tâm ý và đối tượng tâm ý để buông bỏ được tất cả, không còn bị vướng vào một pháp nào trong thế gian.

8. Nếu các pháp đều không thực sự hiện hữu, thì còn pháp hành trì nào nữa để cho ta kẹt vào? Phải biết tìm trong pháp hành trì của mình cái đệ nhất nghĩa đế, cái sự thật đích thực. Không bị kẹt vào nghi lễ và giới cấm, không cho đó là chân lý, nhờ đó mà vượt qua được bờ bên kia, không bao giờ còn trở lại chốn sinh tử.


Đại Ý

Kinh này cũng chỉ có tám bài thi kệ, và cũng nối tiếp được giáo nghĩa của các kinh đi trước một cách liên tục. Khi mình ôm ấp một cái thấy, một chủ thuyết rồi cho đó là chân lý tuyệt đối thì mình sẽ có thái độ khinh mạn đối với những người khác và những cái thấy của họ. Mình không chịu tu tập mà chỉ muốn đi truyền bá cái lý thuyết của mình. Một vị khất sĩ chân chính, một vị phạm chí chân chính không thể đi theo con đường ấy. Phải buông bỏ sở tri, phải thực tập để thoát ra khỏi hang động của ham muốn, và phải đạt tới tuệ giác vô ngã để phá tan cả ba thứ mặc cảm là hơn người, thua người và bằng người.

Còn chấp vào một cái ngã thì còn so sánh, còn so sánh thì còn mặc cảm. Những mặc cảm ấy gây khổ đau và bệnh hoạn. Theo đạo Bụt, không những mặc cảm thua người đưa tới bệnh tật và khổ đau, mà mặc cảm hơn người và bằng người cũng chứng tỏ rằng ta chưa thoát ra khỏi khổ đau và bệnh tật.

Ta có những cái biết và cái thấy, nhưng ta không cần phải bị kẹt vào những cái ấy, thì ta mới có tự do và mới có cơ hội đi lên. Đó là giáo lý buông bỏ sở tri; sở tri là cái thấy, cái thấy ấy nếu ta bị kẹt vào là ta mất tự do, là ta không còn cơ hội đi lên.

Bài kệ thứ sáu nói tới con đường trung đạo, vượt qua cái nhìn lưỡng nguyên (sinh diệt, có không v.v...), vượt qua ý niệm thọ mạng (kiếp này và kiếp sau) và mở cửa cho giáo lý của kinh Kim Cương Bát Nhã sau này. Bài kệ thứ tám nói về cái không của các pháp (các pháp không thực sự hiện hữu) và cái sự thật đích thực tức là đệ nhất nghĩa đế. Đây chính là hạt giống của giáo lý trí tuệ vượt qua bờ bên kia (cầu vi đế, độ vô cực chúng bất hoàn). Vị đạo sĩ đạt được cái thấy bất nhị rồi thì không còn nắm bắt cái bây giờ và vướng bận vào cái sau này, vị âý sẽ có thong dong thật sự.

Vì kinh này có hơi hướng của Bát Nhã Ba La Mật cho nên thầy Tăng Hội đã đưa nó vào trong phần Minh Độ Vô Cực của kinh Lục Độ Tập do thầy biên dịch. Ta có thể đọc kinh này trong quyển thứ tám của Lục Độ Tập Kinh, kinh thứ 89.

Kinh Kính Diện Vương ở Lục Độ Tập Kinh được sao chép kỹ lưỡng nên có ít sai sót hơn, và nhờ thế dễ dịch hơn. Xin mời các vị độc giả so sánh hai bản đã được giữ lại trong Hán tạng của kinh này.


Bài kệ 1
Tự minh ngôn thị bỉ bất cập                           自 冥 言 是 彼 不 及
Trước si nhật lậu hà thời minh                       著 癡 日 漏 何 時 明
Tự vô đạo vị học tất nhĩ                                 自 無 道 謂 學 悉 爾
Đản loạn vô hành hà thời giải                        但 亂 無 行 何 時 解


Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
Tự minh ngôn thị bỉ bất cập                          自  冥  言  是  彼  不  及
Trước si nhật lậu hà thời minh                      著  癡  日  漏  何  時  明
Tự vô đạo vị học tất nhĩ                                自  無  道  謂  學  悉  爾
Đảo loạn vô hành hà thời giải                       倒  亂  無  行  何  時  解



Bài kệ 2
Thường tự giác đắc tôn hành                        常  自  覺  得  尊  行
Tự văn kiến hành vô tỉ                                   自  聞  見  行  無  比
Dĩ đọa hệ thế ngũ trạch                                 已  墮  繫  世  五  宅
Tự khả kỳ hành thắng bỉ                                自  可  奇  行  勝  彼


Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
Thường tự giác đắc tuân hành                      常  自  覺  得  恂  行
Tự văn kiến hành vô tỉ                                   自  聞  見  行  無  比
Bỉ đọa hệ thế ngũ trạch                                已  墮  繫  世  五  s宅
Tự khả ỷ hành thắng bỉ                                 自  可  綺  行  勝  彼



Bài kệ 3
Bão si trú vọng trí thiện                                 抱  癡  住  妄  致  善
Dĩ tà học mông đắc độ                                  以  邪  學  蒙  得  度
Sở kiến văn đế thọ tư                                    所  見  聞  諦  受  思
Tuy trì giới mạc vị khả                                    雖  持  戒  莫  謂 可


Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
Bão si trú vọng trí thiện                                   抱  癡  住  妄  致  善
Dĩ tà học mông đắc độ                                    以  邪  學  蒙  得  度
Sở kiến văn đế thọ tư                                      所  見  聞  諦  受  思
Tuy trì giới mạc vị khả                                      雖  持  戒  莫  謂  可



Bài kệ 4
Kiến thế hành mạc tất tu                                 見  世  行  莫  悉  修
Duy hiệt niệm diệc bỉ hành                              惟  黠  念  亦  彼  行
Dữ hành đẳng diệc kính đãi                            與  行  等  亦  敬  待
Mạc sanh tưởng bất cập quá                          莫  生  想  不  及  過


Trong Lục Độ Tập Kinh c ủa thầy Tăng Hội:
Kiến thế hành mạc tất tùy                               見  世  行  莫  悉  隨
Duy hiệt niệm diệc bỉ hành                              惟  黠  念  亦  彼  行
Dữ hành đẳng diệc kính trì                             與  行  等  亦  敬  持
Mạc sanh tưởng bất cập quá                          莫  生  想  不  及  過



Bài kệ 5
Thị dĩ đoạn hậu diệc tận                                 是  已  斷  後  亦  盡
Diệc khí tưởng độc hành đắc                         亦  棄  想  獨  行  得
Mạc tự tri dĩ trí hiệt                                        莫  自  知  以  致  黠
Tuy kiến văn đãn hành quán                         雖  見  聞  但  行  觀


Trong Lục Độ Tập Kinh c ủa thầy Tăng Hội:
Thị dĩ đoạn hậu diệc tận                                 是  已  斷  後  亦  盡
Diệc khí tưởng độc hành đắc                          亦  棄  想  獨  行  得
Mạc tự tri dĩ trí hiệt                                           莫  自  知  以  致  黠
Tuy kiến văn đãn hành quán                           雖  見  聞  但  行  觀



Bài kệ 6
Tất vô nguyện ư lưỡng diện                           悉  無  願  於  兩  面
Thai diệc thai xả viễn ly                                  胎  亦  胎  捨  遠  離
Diệc lưỡng xứ vô sở trú                                  亦  兩  處 無  所  住
Tất quán pháp đắc chánh chỉ                          悉  觀  法  得  正  止


Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
Tất vô nguyện ư lưỡng diện                              悉  無  願  於  兩  面
Thai diệc thai hợp viễn ly                                   胎  亦  胎  合  遠  離
Diệc lưỡng xứ vô sở trú                                     亦  兩  處  無  所  住
Tất quán pháp đắc chánh chỉ                            悉  觀  法  得  正  止



Bài kệ 7
Ý thọ hành sở kiến văn                                  意  受  行  所  見  聞
Sở tà niệm tiểu bất tưởng                               所  邪  念  小 不  想
Tuệ quán pháp ý kiến ý                                  慧  觀  法  意  見  意
Tùng thị đắc xả thế không                             從  是  得  捨  世  空


Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
Ý thọ hành sở kiến văn                                  意  受  行  所  見  聞
Sở tà niệm tiểu bất tưởng                              所  邪  念  小  不  想
Tuệ quán pháp ý kiến ý                                  慧  觀  法  意  見  意
Tùng thị đắc xả thế không                              從  是  得  捨  世  空



Bài kệ 8
Tự vô hữu hà pháp hành                                自  無  有  何  法 行
Bổn hành pháp cầu nghĩa đế                         本  行  法  求  義  諦
Đãn thủ giới cầu vi đế                                    但  守  戒  求  為  諦
Độ vô cực chúng bất hoàn                             度  無  極  眾 不  還


Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
Tự vô hữu hà sở đắc                                       自  無  有  何  所  得
Bồn hành pháp cầu nghĩa đế                          本  行  法  求  義  諦
Đãn thủ giới cầu vi tuệ                                    但  守  戒  求  為  慧
Độ vô cực chung bất hoàn                              度  無  極  終  不  還

Kinh Buông Bỏ Ân Ái

Kinh Buông Bỏ Ân Ái
(Lão Thiếu Câu Tử Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ sáu, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Jarà Sutta, Sutta-Nipàta 804-813

Bối Cảnh

Đây là kinh Lão Thiếu Câu Tử. Lão Thiếu Câu Tử nghĩa là già cũng chết trẻ cũng chết. Khung cảnh dựng lên: Bụt đang ở nước Vatsa (cũng là Kiều Thường Di, Kausambi). Một hôm cùng với thầy A Nan vào thành phố khất thực, Bụt thấy nhiều phụ nữ xõa tóc khóc than vì người thân của họ mới qua đời. Có người một trăm hai mươi tuổi mới chết. Nhưng có em lại mới lên bảy tuổi mà đã chết. Thấy sự xót thương ấy Bụt nói kinh này.

1.    Kiếp người rất ngắn ngủi
Chưa tới một trăm năm
Dù có hơn trăm năm
Cũng không sao khỏi chết.

2.   Lạc thú sinh lo lắng
Ân ái sợ vô thường
Yêu nhau hay ghét nhau, rốt cuộc rồi cũng phải xa nhau.
Thấy vậy cho nên có người không còn ưa thích sống đời lứa đôi.

3.   Không có gì mà cơn lũ của cái chết không cuốn theo nó. Những gì ta ham muốn ngày xưa, những gì mà ta trân quý như một cái ta, nếu lấy trí tuệ quán chiếu để tìm ra sự thật ta sẽ thấy rằng cái này không phải là ta, và ta không phải là cái này.

4.   Những lạc thú của cuộc đời cũng giống như những gì ta thấy trong một giấc mơ. Thức dậy rồi thì không còn thấy gì nữa. Những gì mà người đời đang tham cầu cũng thế. Một khi tâm thức hết biểu hiện thì còn có gì nữa đâu?

5.   Tên tuổi người ấy ta còn nghe, nhưng người ấy đã đi rồi. Người ấy dễ thương hay không dễ thương, bây giờ ta cũng không trông thấy nữa. Người ấy đã rời bỏ cuộc đời, người ấy đã đi về đâu? Thần thức đã đi, chỉ có cái tên còn ở lại.

6.   Buồn giận nhau, yêu thương nhau, rồi ghen ghét nhau. Người ta không buông bỏ được cái vướng mắc vào tham ái. Bậc trí giả biết vậy cho nên buông bỏ ân ái. Lìa xa được sự sợ hãi và đạt tới cõi an lành.

7.   Vị khất sĩ phải sống với sự thực, đừng đánh mất chánh niệm. Phải xa lìa ái dục, biết rằng hình hài này thế nào cũng có ngày hủy diệt. Phải thực tập đừng đuổi theo những đối tượng sắc dục. Phải quán chiếu tâm ý trong tâm ý. Trên con đường tìm cầu chân lý, đừng dừng lại bất cứ ở đâu.

8.   Không dừng lại cũng là pháp môn hành trì của các bậc tôn đức. Cái thương, cái ghét, cái tỵ hiềm, cái buồn và cái lo không động được tới mình. Như những giọt nước rơi xuống không giọt nào dính vào được đóa sen.

9.   Không vướng mắc, cũng không trông cầu. Những gì thấy và nghe có tính cách bất chính ta không ái trước. Cả đến cái giải thoát mà ta cũng không tìm cầu thì ta còn tìm cầu gì những cái ô nhiễm?

10. Không vướng vào tham ái, (trong sáng) như một đóa sen. Tuy mọc lên từ bùn nhưng bùn không động tới được. Bậc tôn quý trên đời cũng hành xử như thế. Những gì nghe và thấy cũng giống như những gì chưa bao giờ thấy, chưa bao giờ nghe.


Đại Ý

Kinh này nói tới cái lo và cái sợ. Dù mình đang hưởng thọ lạc thú, mình cũng nơm nớp lo sợ không biết ngày mai mình còn giữ được cái ngày hôm nay không. Dù mình đang có ân ái, mình cũng nơm nớp lo sợ không biết ngày mai người thương của mình có còn hay không. Nhìn cho kỹ thì đối tượng của lạc thú cũng như đối tượng của yêu thương đều là vô thường, còn đó rồi mất đó như một giấc mơ. Khi người mà ta thương yêu không còn đó nữa, thì dù ta có khóc thương cách mấy người ấy cũng không sống lại được.

Các vị khất sĩ phải buông bỏ ân ái, đi như một con người tự do, đừng để bất cứ một hình ảnh hay một âm thanh làm vướng bận. Đừng đuổi theo một đối tượng ái dục. Trên con đường đi tới giải thoát không nên dừng lại vì một đối tượng ân ái, dù chỉ là trong khoảnh khắc. Đừng để cái thương, cái ghét, cái buồn, cái lo đụng tới mình. Chính cái giải thoát mà ta cũng không bị vướng mắc vào thì tại sao ta để cho ta vướng mắc vào những cái ô nhiễm?

Bài kệ 1
Thị thân mạng thậm đoản                             是  身  命  甚  短
Giảm bách niên diệc tử                                減  百  年  亦  死
Tuy hữu quá bách niên                                  雖  有  過  百  年
Lão tùng hà ly tử                                          老  從  何  離  死


Bài kệ 2
Tọa khả ý sanh ưu                                        坐  可  意  生  憂
Hữu ái  tùng đắc thường                                有  愛  從  得  常
Ái tăng tất đương biệt                                    愛  憎  悉  當  別
Kiến thị mạc lạc gia                                        見  是  莫 樂  家


Bài kệ 3
Tử hải vô sở bất phiêu                                死  海  無  所  不  漂
Túc sở tham ái hữu ngã                              宿  所  貪  愛  有  我
Tuệ nguyện quán đế kế thị                            慧  願  觀  諦  計  是
Thị vô ngã ngã vô thị                                     是  無  我  我  無  是


Bài kệ 4
Thị thế lạc như kiến mộng                            是  世  樂  如  見  夢
Hữu thức ngụ  diệc hà kiến                           有  識  寤  亦  何  見
Hữu tham thế tất diệc nhĩ                              有  貪  世  悉  亦  爾
Thức chuyển diệt diệc hà kiến                      識  轉  滅  亦  何  見


Bài kệ 5
Văn thị bỉ tất dĩ khứ                                       聞  是  彼  悉  已  去
Thiện diệc ác kim bất kiến                             善  亦  惡  今  不  見
Tất xả thế đáo hà sở                                    悉  捨  世  到  何  所
Thức thần khứ đãn danh tại                          識  神  去   但  名 在


Bài kệ 6
Ký bi ưu chuyển tướng tật                            既  悲  憂  轉  相  嫉
Phục bất xả tham trước ái                              復  不  捨  貪  著  愛
Tôn cố đoạn ái khí khả                                   尊  故  斷  愛  棄  可
Viễn khủng bố kiến an xứ                             遠  恐  怖  見  安 處


Bài kệ 7
Tỳ-kheo đế mạc vọng niệm                           比  丘  諦  莫  妄  念
Dục khả viễn thân thả hoại                            欲  可  遠  身  且  壞
Dục hành chỉ ý quán ý                                  欲  行  止  意  觀  意
Dĩ thùy đế vô chỉ xứ                                      已  垂  諦  無  止  處


Bài kệ 8
Vô chỉ giả diệc tôn hành                              無  止  者  亦  尊  行
Ái bất ái diệc tật hành                                  愛  不  愛  亦  嫉  行
Tại bi ưu diệc tật hành                                 在  悲  憂  亦  嫉  行
Vô nhu triêm như liên hoa                            無  濡  沾  如  蓮  華

Bài kệ 9
Dĩ bất trước diệc bất vọng                             已  不  著  亦  不  望
Kiến văn tà ngô bất ái                                    見  聞  邪  吾  不  愛
Diệc bất tùng cầu giải thoát                           亦  不  從  求  解  脫
Bất ô dâm diệc hà tham                                  不  污  婬  亦  何  貪


Bài kệ 10
Bất tướng tham như liên hoa                        不  相  貪  如  蓮  華
Sanh tại  thủy thủy bất ô                                生  在  水  水  不  汙
Tôn cập thế diệc nhĩ hành                              尊  及  世  亦  爾  行
Sở văn kiến như vị sanh                                 所  聞  見  如  未  生

Kinh Xa Lìa Ái Dục

Kinh Xa Lìa Ái Dục

(Di Lặc Nạn Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ bảy, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Tissametteyya Sutta, Sutta-Nipàta 814-823

Bối Cảnh

Đây là kinh Di Lặc Nạn. Câu hỏi của thầy Di Lặc là về đề tài năng lượng tình dục. Đế Tu Di Lặc (Tissa Metteya) là một vị xuất gia trẻ, trước đó là đệ tử của một vị Phạm Chí tên là Bàvari, nhưng sau đó cả hai thầy trò đều trở thành đệ tử xuất gia của Bụt. Thầy Di Lặc đã từng đặt câu hỏi này với một vị cư sĩ trẻ tên là Xá Lợi Phất (không phải thầy Xá Lợi Phất) nhưng vị này đã không trả lời được dù đã từng nghe nhiều thầy lớn đàm luận với nhau. Cuối cùng thầy hỏi thẳng đức Thế Tôn: làm sao một người tu trẻ có thể xử lý được năng lượng tình dục để không bị thối thất trên bước đường tu học?

1. Vướng mắc vào sắc dục là căn nguyên của bao nhiêu si mê lầm lỗi, những si mê lỗi lầm này ngăn không cho mình tiếp tục đi tới trên con đường Đạo rộng thênh thang. Xin đức Thế Tôn giáo giới cho chúng con, để chúng con có thể hành trì và lìa xa được mọi hệ lụy gây nên do sắc dục.

2. Khi tâm ý đã bị ám ảnh bởi hình bóng một đối tượng ái dục thì chúng con thường quên mất lời truyền dạy của đức Thế Tôn. Chúng con đánh mất con đường chánh mà chúng con muốn đi, ngay cả những lúc chúng con ngủ nghỉ. Và chúng con cũng quên mất thứ tự trước sau trong công phu hành trì tu tập.

3. Người xuất gia là người đi một mình với cái tâm ban đầu với chủ đích là khám phá cho ra được Chân Đế, nhưng sau đó một thời gian có thể đi ngược lại với lý tưởng của mình một khi bị vướng vào ái dục. Cũng như cỗ xe kia không còn chịu đi trên con đường thẳng mà bắt đầu lăn xuống hố, người xuất gia ấy không còn khả năng phân biệt được chánh tà.

4. Ngày xưa vị ấy đã từng được tôn kính và yêu mến vì giá trị đạo đức của mình, nhưng bây giờ vị ấy đã đánh mất tất cả những cái tốt đẹp đó. Thấy được sự thật này, ta phải hết lòng tu tập, quyết tâm xa lìa con đường ái dục.

5. Ta hãy nên quán chiếu về cái lợi và cái hại của sắc dục, phải thấy được một khi đã vướng vào sắc dục rồi thì ta sẽ đi về đâu. Phải lắng nghe những lời dạy tuệ giác liên hệ tới vấn đề này để đề cao cảnh giác. Phải thực tập chánh tư duy để thấy được những thống khổ và những hổ thẹn mà sắc dục có thể đem lại cho ta.

6. Cái hành của ta phải đi theo với cái thấy của ta. Phải học phép độc cư, đừng bao giờ để xảy ra sự chung đụng trái phép. Vướng vào sắc dục sẽ sinh ra tà loạn, khiến cho kẻ hành giả đánh mất đi tất cả năng lượng dũng mãnh của chính mình.

7. Kẻ phạm giới luôn luôn mang theo trong lòng sự sợ hãi. Giây phút giao hoan ngắn ngủi, nhưng cái sợ hãi này phải mang lấy lâu dài. Đã trót vướng vào cái lưới rồi, mình phải liên tiếp nói lên những lời gian dối không thật.

8. Thấy được những hệ lụy gây nên do sự phạm giới, ta phải giữ mình và đừng bao giờ tự phụ là mình đã giỏi. Vị mâu ni kiên trì trên con đường sống độc cư của mình, khi đi cũng như khi về. Vị ấy hướng về nẻo sáng mà đi, không bị tập khí si mê lôi kéo.

9. Sống một mình để đi trên con đường hướng thượng tìm cầu chân lý. Ta đã có con đường rồi nhưng ta không nên tự kiêu. Tuy chưa thực chứng được Niết Bàn, nhưng ta đã ở sát ngay bên cạnh Niết Bàn rồi.

10. Nên phát khởi tâm nguyện vượt cao đi xa, không dừng lại ở cõi sắc và cõi vô sắc. Theo lời đức Thiện Thệ chỉ dạy, ta quyết tâm vượt ra ngoài cõi khổ. Được như thế thì bao nhiêu cám dỗ sắc dục của cuộc đời cũng sẽ không làm gì được ta.


Đại Ý

Kinh này gồm mười hai bài kệ. Kinh này cũng nối tiếp đề tài của kinh trước, nói về buông bỏ ân ái. Người xuất gia tuy không còn sống cuộc đời lứa đôi nữa, nhưng vẫn phải đương đầu với vấn đề ái dục, bởi vì năng lượng ái dục là năng lượng tự nhiên của con người, mình vẫn phải đối phó, dù mình đã là người xuất gia.

Bụt dạy thầy Di Lặc phải thực tập vững chãi các giới điều và uy nghi, đừng để xảy ra sự chung đụng trái phép. Đừng tự phụ là mình đã giỏi, không cần tới những “chi tiết nhỏ nhặt” của giới luật và uy nghi. Phải phát đại nguyện vượt cao, đi xa, và tâm Bồ Đề ấy sẽ bảo hộ cho mình. Và phải luôn luôn quán chiếu để thấy những hệ lụy mà sắc dục đem lại. Vướng vào sắc dục rồi, mình sẽ như một cỗ xe không còn đi đường thẳng nữa mà bắt đầu lăn xuống hố, mình không tiếp tục được sự hành trì, mình phải chịu mất đi sự tin tưởng và quý chuộng của các bạn đồng tu, mình bắt buộc phải nói những lời gian dối, chịu đựng rất nhiều thống khổ và những hổ thẹn, tất cả đều là do sắc dục đem đến.


Những người xuất sĩ già hay trẻ phải biết cám ơn thầy Di Lặc, vị xuất sĩ trẻ tuổi thời ấy, vì thầy đã can đảm hỏi những câu hỏi rất thật để Bụt có thể soi sáng cho tất cả những người xuất gia trẻ tuổi khác. Phép thực tập của Bụt gồm có hai điểm chính: Thứ nhất là phải thực tập giới luật và uy nghi cho vững chãi, thứ hai là phải tự nhắc nhở mình, nhắc nhở nhau và quán chiếu về những hệ lụy mà ái dục có thể mang tới.


Bài kệ 1
Dâm dục trước nữ hình                                  婬  欲  著  女  形
Đại đạo giải si căn                                         大  道  解  癡  根
Nguyện thọ tôn sở giới                                  願  受  尊  所  戒
Đắc giáo hành viễn ác                                    得  教  行  遠  惡

Bài kệ 2
Ý trước dâm nữ hình                                   意  著  婬  女  形
Vong tôn  sở giáo lệnh                                 亡  尊  所  教  令
Vong chánh trí thùy ngọa                              亡  正  致  睡  臥
Thị hành thất thứ đệ                                     是  行  失  次  第


Bài kệ 3
Bổn độc hành cầu đế                                      本  獨  行  求  諦
Hậu phản trước sắc loạn                                後  反  著  色  亂
Bôn xa vong chánh đạo                                  犇  車  亡  正  道
Bất tồn xả chánh tà                                        不  存  捨  正  邪

Bài kệ 4
Tọa trị kiến tôn kính                                     坐  值  見  尊  敬
Thất hành vong thiện danh                           失  行  亡  善  名
Kiến thị đế kế học                                       見  是  諦  計  學
Sở dâm viễn xả ly                                       所  婬  遠  捨  離


Bài kệ 5
Thả tư sắc thiện ác                                     且  思  色  善  惡
Dĩ phạm đương hà trí                                   已  犯  當  何  致
Văn tuệ sở tự giới                                       聞  慧  所  自  戒
Thống tàm khước tự tư                               痛  慚  却  自  思


Bài kệ 6
Thường hành dữ tuệ hợp                               常  行  與  慧  合
Ninh độc mạc loạn câu                                  寧  獨  莫  亂  俱
Trước sắc sanh tà loạn                                  著  色  生  邪  亂
Vô thế vong dũng mãnh                                   無  勢  亡  勇  猛

Bài kệ 7
Lậu giới hoài khủng bố                                  漏  戒  懷  恐  怖
Thọ đoản vi bỉ phụ                                          受  短  為  彼  負
Dĩ trước nhập la võng                                    已  著  入  羅  網
Tiện khi xuất gian thanh                               便  欺  出  奸  聲


Bài kệ 8
Kiến phạm nhân duyên  ác                            見  犯  因  緣  惡
Mạc thủ  thân tự  phụ                                   莫  取  身  自  負
Kiên hành độc lai khứ                                   堅  行  獨  來  去
Thủ minh mạc tập si                                      取  明  莫  習  癡

Bài kệ 9
Viễn khả độc tự xứ                                      遠  可  獨  自  處
Đế kiến vi thượng hành                                 諦  見  為  上  行
Hữu hành mạc tự kiêu                                  有  行  莫  自  憍
Vô ỷ nê hoàn thứ                                          無  倚  泥  洹  次

Bài kệ 10
Viễn kế niệm trường hành                            遠  計  念  長  行
Bất dục sắc bất sắc                                     不  欲  色  不  色
Thiện thuyết đắc độ thống                             善  說  得  度  痛
Tất thế dâm tự thực                                      悉  世  婬  自  食

Kinh Buông bỏ ý muốn hơn thua

Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua

(Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ tám, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Pasùra Sutta, Sutta-Nipàta 824-834

Bối cảnh

Đây là kinh Dũng Từ Phạm Chí. Phạm Chí là một đạo sĩ Bà La Môn. Khung cảnh dựng lên: Sau khi an cư ba tháng mùa mưa ở tu viện Cấp Cô Độc, Bụt đi sang nước Đọa Sa (Tỳ Xá Li, Vaisali) để hành đạo. Ở đây có những ông nhà giàu và con cháu của họ thuê một vị Phạm Chí tên là Dũng Từ đứng ra tranh luận với Bụt, đặt những câu hỏi để Bụt không thể trả lời được. Vị Phạm Chí đã chuẩn bị trong ba tháng. Năm trăm người đã tới Cao Quán Điện (Kutagarasala), một phòng hội nghị trên bờ hồ Vườn Khỉ (Markatahrada-tire) để dự cuộc tranh luận. Phạm Chí Dũng Từ thấy Bụt với dáng vẻ uy nghi thì sinh ra sợ hãi, không có can đảm chất vấn Bụt nữa dù đã nghĩ trước sẵn năm trăm câu hỏi hóc búa. Bụt thấy vậy liền nói kinh này.

1.   Tự mình cho là mình đã có pháp thanh tịnh cao nhất, kẻ khác không ai có tuệ giác lớn bằng mình. Kẹt vào cái sở tri của mình và thích thú với cái ý nghĩ là mình đã nắm được chân lý, thái độ ấy đưa người ta đến sự hành trì sai lạc.

2.   Trong những buổi hội họp thường muốn tỏ ra rằng mình hơn người. Ai cũng cứ nói rằng kẻ kia còn là những người u tối. Lòng cứ đinh ninh là mình có chân lý, nhưng mình không thực sự biết là mình đang nói gì. Cứ thế mọi người đặt cho nhau những câu hỏi về chân lý và hy vọng là phía bên kia người ta sẽ không thể trả lời những cật vấn của mình được.

3.   Trong đám đông, họ cật vấn nhau, họ đặt lại những câu hỏi gây khó khăn trong các buổi tranh luận. Khi bị dồn vào thế không trả lời được, người ta nổi cơn giận dữ tại vì đối với những vấn đề gọi là nan giải, ai cũng cho là mình hay nhất.

4.   Lúc bấy giờ, trong sự thực tập của mình, mình bắt đầu có sự nghi ngờ tự cho mình là đã đi sai lạc và bắt đầu có tâm hành hối hận. Trong giọng nói của mình, bắt đầu có sự mất tự tin và không còn tin tưởng vào cái biết của mình nữa. Cuối cùng, cái thao thức muốn đặt những câu vấn nạn kia chẳng giúp ích được gì cho chính mình.

5.   Buồn rầu, lo lắng và khổ đau khi thấy mình thua cuộc. Mình ngồi không vui mà nằm xuống cũng còn ấm ức hoặc hối hận. Cái công phu học hỏi của mình xưa nay vốn là sai lạc cho nên mới đưa tới những lời nói và những ý định như thế. Một khi thấy mình bị lép vế trong cuộc tranh luận rồi thì mình lại rơi vào mặc cảm thua kém.

6.   Thấy điều ấy rồi thì mình ngậm miệng lại, không dám nói nữa bởi vì mình biết nếu gấp gáp nói ra một điều gì nữa thì vấn nạn lại do đó mà phát sinh. Vì có chủ ý vấn nạn cho nên mới phát sinh ra những cuộc tranh chấp, nguyên do cũng chỉ vì mình muốn được khen ngợi, được nổi bật giữa đám đông.

7.   Những lời ngợi khen đẹp đẽ kia làm phát sinh sự thích thú cho nên ai cũng bị kẹt vào. Chính thái độ tự cao tự đại của mình làm cho mình rơi xuống thấp. Không chịu lắng nghe học hỏi thì làm sao ta có thể đi lên?

8.   Nếu quả thực có tâm tu học thì ta sẽ không có nhu yếu tranh luận như thế. Không đi theo con đường (tranh luận) kia thì ta sẽ có cơ hội đi tới giải thoát tốt đẹp. Nếu cứ ỷ vào (cái hay, cái giỏi của mình) thì sẽ có nhu yếu năng nổ đi tìm một đối tượng mà mình muốn nạn vấn hơn thua.

9. Tới và đi với thái độ hùng hổ, kẻ ấy không cảm thấy hổ thẹn, kẻ này bảo rằng: "ai có đủ sức nghị luận được với anh, ngoài tôi? Ôm lấy cái khối si mê của mình, rất muốn la lên rằng: “Chủ trương của quý vị toàn là sai lạc”. Mình đang tự cố thủ lấy cái sai lầm của chính mình.

10. Thật sự là mình chỉ mới đi loanh quanh với cái hoa mà chưa bao giờ đi tới được cái quả. Những lời do chính mình nói ra mình cũng chưa hiểu được cái ý nghĩa của chúng nữa là. Phải (có can đảm) vượt khỏi những sai lầm của mình để tìm cầu sự khai minh. Giáo và nghĩa phải đi đôi với nhau, đừng để chúng chống đối và làm tổn thương nhau.

11. Người đại diện được cái Thiện không còn nhu yếu nói năng gì nữa. Kẻ kia dù đúng hay sai, (tốt hay xấu) ta cũng không cần quan tâm lo lắng. Chủ đích của sự hành trì là tìm được cánh cửa (đi vào giải thoát). Đối tượng nào của tâm ý cũng đều phải để tâm quán chiếu cho tường tận.

12. Cùng với vị chỉ huy trưởng tập họp và đàm luận chiến thuật với ba quân của mình, từ đốm sáng mờ mờ của con đom đóm, ta phát hiện lên ánh hào quang tỏa chiếu khắp nơi rạng rỡ.

Đại ý

Con đường tu đạo là con đường tịnh hóa. Nếu mình cho con đường của mình là cao nhất, nếu cho rằng mình đang đứng trên đỉnh cao trí tuệ thì chính mình đang bị kẹt, và sự hành trì của mình có thể là đang sai lạc. Mình có khuynh hướng muốn tranh luận và chứng tỏ là mình đúng, tất cả những kẻ khác đều sai lầm. Tranh luận mà thắng thì cảm thấy hả hê, nhưng chính cái hả hê đó sẽ làm cho mình rơi xuống hố sâu của mặc cảm. Phần lớn người ta chỉ ham chuộng lời hay ý đẹp và họ nghĩ cái ấy là đã đủ với họ. Họ không biết đó chỉ là đồ trang sức. Đó chỉ là cái thứ hoa không bao giờ kết trái. Đây là hình ảnh rất thiết thực được đưa ra trong bài thi kệ thứ chín. Nếu mình có nhu yếu tu học, nếu mình có khả năng lắng nghe và học hỏi thì mình sẽ không có nhu yếu tranh luận hơn thua.

Trong kinh này Bụt chỉ dẫn những điều ta cần làm. Thứ nhất là phải phát tâm tìm cầu cánh cửa giải thoát. Thứ hai là những gì mình nói ra phải đi theo với pháp môn mình thực tập. Thứ ba là phải tìm cầu ánh sáng: chỉ có ánh sáng mới xua đuổi được bóng tối u minh, xua đuổi được tri giác sai lầm. Mà cách thức tìm cầu ánh sáng hay nhất là quán chiếu tất cả những đối tượng của tâm ý. Điều này được nói tới trong bài thi kệ thứ mười hai. Ánh sáng của con đom đóm không phá tan được màn vô minh, phải có ánh sáng của trí tuệ Ba La Mật.


Bài kệ 1

Tự thuyết tịnh pháp vô thượng                自  說  淨  法  無  上
Dư vô pháp minh cập ngã                          餘  無  法  明  及  我
Trước sở tri cực khoái lạc                      著  所  知  極  快  樂
Nhân duyên đế trú tà học                          因  緣  諦  住  邪  學

Bài kệ 2
Thường tại chúng dục nguyện thắng            常  在  眾  欲  願  勝
Ngu phóng ngôn chuyển tướng thiêu            愚  放  言  轉  相  燒
Ý niệm nghĩa vong bổn ngữ                         意  念  義  忘  本  語
Chuyển thuyết nan tuệ sở ngôn                   轉  說  難  慧  所  言

Bài kệ 3
Ư chúng trung nan hợp nghĩa                        於  眾  中  難  合  義
Dục nan nghĩa đương cánh cú                       欲  難  義  當  竟  句
Tại chúng cùng tiện sân nhuế                        在  眾  窮  便  瞋  恚
Sở nan giải chúng tất thiện                            所  難  解  眾  悉  善


Bài kệ 4
Tự sở hành tiện sanh nghi                               自  所  行  便  生  疑
Tự kế phi hậu ý hối                                         自  計  非  後  意  悔
Ngữ sảo nghi vong ý tưởng                              語  稍  疑  忘  意  想
Dục tà nạn chánh bất trợ                                  欲  邪  難  正  不  助


Bài kệ 5
Bi ưu thống sở ngôn đoản                             悲  憂  痛  所  言  短
Tọa bất lạc ngọa âm trách                             坐  不  樂  臥  喑  咋
Bổn tà học trí từ  ý                                        本  邪  學  致  辭  意
Ngữ bất thắng chuyển hạ ý                            語  不  勝  轉  下  意


Bài kệ 6
Dĩ kiến thị thượng thủ khẩu                         已  見  是  尚  守  口
Cấp khai bế nan tùng sanh                          急  開  閉  難  從 生
Ý tại nạn kiến đối sanh                                意  在  難  見  對  生
Xuất thiện thanh vi chúng quang                   出  善  聲  為  眾 光


Bài kệ 7
Từ duyệt hảo sanh ý hỉ                                   辭  悅  好  生  意  喜
Trước hoan hỉ bỉ tự bỉ                                    著  歡  喜  彼  自  彼
Tự đại khả đọa lậu hành                                自  大  可  墮  漏  行
Bỉ bất học tùng hà tăng                                  彼  不  學  從  何  增


Bài kệ 8
Dĩ học thị mạc không tranh                        已  學  是  莫  空  諍
Bất tùng thị thiện giải thoát                        不  從  是  善  解  脫
Đa ỷ sanh thống hành ti                             多  倚  生  痛  行  司
Hành cầu bối dục dữ nạn                           行  求 輩  欲  與  難


Bài kệ 9
Dũng tùng lai khứ mạc tàm                          勇  從  來  去  莫  慚
Lệnh đương thùy dữ nhữ nghị                     令  當  誰  與  汝  議
Bão minh trụ dục nan viết                             抱  冥  柱  欲  難  曰
Nhữ tà đế tự thủ si                                      汝  邪  諦  自  守  癡


Bài kệ 10
Nhữ hành hoa bất kiến quả                           汝  行  花  不  見  果
Sở xuất ngữ đương cầu nghĩa                       所  出  語  當  求  義
Việt tà độ chuyển cầu minh                           越  邪  度  轉  求  明
Pháp nghĩa đồng tùng tướng thương             法  義  同  從  相  傷

Bài kệ 11
Ư thiện pháp dũng hà ngôn                              於  善  法  勇  何  言
Bỉ thiện ác thọ mạc ưu                                    彼  善  惡  受  莫  憂
Hạnh ức đáo cầu đáo môn                               行  億 到  求  到  門
Ý sở tưởng khứ đế tư                                     意  所  想  去  諦  思

Bài kệ 12
Dữ đại tướng câu nghị quân                         與  大  將  俱  議  軍
Bỉ  huỳnh hỏa thượng biến minh                   比  螢  火  上  遍  明

Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni

Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni
(Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ chín, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Màgandiya Sutta, Sutta-Nipàta 835-847


Bối Cảnh

Đây là kinh Ma Nhân Đề Nữ. Ma Nhân Đề Nữ là cô con gái của một vị Phạm Chí tên là Nhân Đề (Màkandika). Khung cảnh dựng lên: Phạm Chí Ma Nhân Đề có một cô con gái đẹp tuyệt trần, nhiều vị vua chúa và hoàng tử cầu hôn mà ông bố vẫn không chịu, cho rằng chưa ai xứng đáng làm chồng của cô con gái. Câu chuyện xảy ra ở xứ Câu Lưu (Karu). Lần đầu tiên thấy Bụt, ông ta nghĩ rằng đây là người rể lý tưởng của mình, bởi vì dung quang của Bụt đẹp đẽ và uy nghi quá. Ông đem cô con gái đến gặp Bụt và đề nghị gả cô này cho Bụt. Bụt mỉm cười không nhận. Trong khi nói chuyện, hai cha con khám phá ra được nhân cách và giá trị của một bậc mâu ni, của một vị đạo sĩ tĩnh lặng.

1.   Ngày xưa có ba cô con gái (của Ma Vương Ba Tuần) đến cám dỗ nhưng tôi đã chẳng mảy may động lòng. Bây giờ nếu thấy được (đối tượng ái dục chỉ là) những cái túi đựng đầy máu, mỡ, phân và nước tiểu thì mình đâu còn muốn đụng tới, dù là với bàn chân của mình?

2.   Tôi đã từng nói rằng một khi đã bị vướng vào vòng ái dục thì mình không còn tâm ý để hành trì được pháp môn, và để thực tập được nội quán. Tuy có nghe và tuy có biết rằng chạy theo ái dục là chuyện không nên làm nhưng mình vẫn chưa nhàm chán được. Một khi bên trong tâm mình chưa dừng lại được thì bên ngoài mình vẫn đi tới để tiếp tục gây thêm khổ đau.

3.   Cái vẻ xinh tươi mượt mà ấy chỉ có ở ngoài da, bậc trí giả không bị nó lừa dối. Ta phải quán chiếu cả bên trong lẫn bên ngoài. Có một chút thông minh mình sẽ thấy rằng (đắm say như thế) đó là một lối hành xử u mê.

4.   Những gì mình học và mình thấy chưa hẳn đã là tuệ giác. Hành trì giới cấm và lễ nghi chưa hẳn đã làm cho mình thanh tịnh. Dù không học gì, không thấy gì, nhưng mà không khư khư giữ ý riêng của mình và không xao lãng công phu hành trì của mình, thì người ta mới có khả năng tự tịnh.

5.   Những kiến thức bây giờ đang có, nên buông bỏ đi, đừng ôm chặt lấy, mặc người ta có nói ra nói vào gì thì nói, mình cứ im lặng mà đi. Những gì mình nghe và thấy qua năm giác quan có tác dụng gây phiền não thì mình phải biết dẹp qua một bên. Tuy thực tập giới, định và tuệ nhưng đừng nghĩ lầm rằng nghi lễ và cấm giới đủ đem lại cho mình sự thanh tịnh.

6.   Những lý thuyết ngoài đời đừng tiếp thu một cách u mê. Nghi lễ và giới cấm không đem lại sự tịnh hóa như người ta tưởng. Khi còn kẹt vào sự có mặt của một cái ngã thì người ta vẫn còn bị rơi vào chỗ u tối. Những chủ thuyết mà mình được nghe đâu có khả năng làm cho mình thanh tịnh?

7.   Người ta có thể nói rằng những cái mà người ta nghe và thấy về chân lý, nếu nắm bắt được chúng bằng tâm ý thì có thể đạt Đạo. Đi qua tới được bờ chân lý bằng cách ấy, là chuyện khó tưởng tượng được. Và như thế thì làm sao mà khỏi phạm vào cái lỗi xem thường các bậc tôn đức chân chính?

8.  Bằng người, hơn người hoặc thua người, hễ còn có một trong các mặc cảm ấy thì người ta vẫn còn kẹt vào cái phân biệt (chấp ngã). Nếu vượt thoát được cả ba mặc cảm kia thì đâu còn có nhu yếu tranh luận hơn thua? Lúc ấy ta đã đoạn trừ được tất cả mọi tranh luận, thị phi và không còn bị vướng vào những lo toan vô ích.

9.   Người đã đạt được tuệ giác thì không có nhu yếu nói nhiều. Đã biết các pháp đều có bản tính không tịch, thì làm gì cần phải tranh cãi nữa? Đối với bậc ấy, hoàn toàn không còn có chuyện thị phi, tà chính. Làm sao có thể nói rằng một người như thế còn có thiếu sót sai lầm?

10. Rời bỏ cơn lũ ái dục, không còn nghĩ tới các đối tượng ham muốn, kẻ thức giả đi vững chãi và kiên trì trong cuộc đời. Ái dục không còn, tâm ý đã dừng lại, thì những gì tà độc của cuộc đời đều đã bị nhiếp phục, không bao giờ còn sinh khởi trở lại trong ta.

11. Nếu muốn xa lìa thế tục, muốn chiến thắng khổ đau thì ta phải nghe lời các bậc tôn đức, phải biết cách lánh xa đừng chung đụng (với những gì xấu ác). Như đóa sen kia trong sạch mọc lên ở dưới hồ, bùn đất và bụi bặm không làm nhiễm ô và hư hoại nó được.

12. Bậc tôn đức sống an ổn, không ham muốn gì, không còn vướng bận vào bất cứ một cái gì trong trần thế, cũng không bị lay chuyển bởi những đối tượng của ký ức và tri giác. Bậc ấy tuy đang hành động và độ đời nhưng không bị kẹt vào bất cứ một lý thuyết nào.

13. Giữ gìn ba nghiệp thanh tịnh, vị ấy bước đi không còn nhu yếu bàn luận gì về chuyện đời, kể cả chuyện quá khứ, vị lai và hiện tại, không còn bị vướng vào một tư kiến nào nữa. Đi theo tuệ giác vững chãi của mình, vị ấy đạt tới thảnh thơi, nhưng không bao giờ giải đãi. Điều phục được tâm ý, không bị vướng mắc vào các chủ thuyết, trong ba cõi, vị ấy đi từng bước thảnh thơi và không có nhu yếu nói năng gì.

Đại Ý

Kinh này nối tiếp kinh thứ bảy, kinh Xa Lìa Ái Dục, và đưa ta đi xa hơn. Dấu hiệu đầu tiên của một vị xuất gia chân chính là xa lìa ái dục, không bị cái vẻ xinh tươi mặn mà ở ngoài da đánh lừa, không bị cuốn theo ái dục, như thế mới có thể đi tới trên đường sự nghiệp giác ngộ. Dấu hiệu thứ hai là vị ấy không bị kẹt vào giới cấm, lễ nghi và những gì mình đã học hỏi, kể cả giáo thuyết. Những cái ấy có thể là một phần hành trì của mình nhưng chúng chưa phải là tuệ giác, là giải thoát, là sự tịnh hóa đích thực. Qua được bờ chân lý không phải bằng sự thực tập chuyển hóa mà chỉ bằng sự học hỏi lý thuyết, chuyện này không thể xảy ra. Đó là ý của bài thi kệ thứ bảy. Dấu hiệu thứ ba của một vị khất sĩ thành công là vị ấy không còn phân biệt chấp ngã, do đó không còn mặc cảm hơn người, thua người hay bằng người. Dấu hiệu thứ tư là vị ấy không có nhu yếu tranh cãi hơn thua. Dấu hiệu thứ năm là vị ấy tuy sống trong cuộc đời mà không bị những ô nhiễm của cuộc đời động tới, như hoa sen mọc dưới hồ không bị bùn lầy làm ô nhiễm và hư hoại. Hình ảnh này được trình bày trong thi kệ thứ mười một. Dấu hiệu thứ sáu là vị ấy rất thảnh thơi, không vướng bận quá khứ và tương lai ; ba nghiệp thanh tịnh, vị ấy bước đi từng bước thảnh thơi và im lặng tuyệt đối, không có nhu yếu khoe khoang và tranh cãi.

Bài kệ 1
Ngã bổn kiến tà tam  nữ                                我  本  見  邪  三  女
Thượng bất dục trước tà dâm                        尚  不  欲  著  邪  婬
Kim nại hà bão thỉ niệu                                 今  奈  何  抱  屎  尿
Dĩ túc xúc thượng bất khả                             以  足  觸  尚  不  可

Bài kệ 2
Ngã sở thuyết dâm bất dục                            我  所  說  婬  不  欲
Vô pháp hành bất nội quán                             無  法  行  不  內  觀
Tuy văn ác bất thọ yểm                                  雖  聞  惡  不  受  厭
Nội bất chỉ bất kế khổ                                    內  不  止  不  計  苦

Bài kệ 3
Kiến ngoại hảo cân bì khỏa                           見  外  好  筋  皮  裹
Tôn vân hà đương thọ thị                              尊  云  何  當  受  是
Nội ngoại hành giác quán thị                         內  外  行  覺  觀  是
Ư hiệt biên thuyết si hành                             於  黠  邊  說  癡  行

Bài kệ 4
Diệc kiến văn bất vi hiệt                                亦  見  聞  不  為  黠
Giới hành cụ vị vi tịnh                                   戒  行  具  未  為 淨
Bất kiến văn diệc bất si                                不  見  聞  亦  不  癡
Bất ly hành khả tự tịnh                                 不  離  行  可  自  淨

Bài kệ 5
Hữu thị tưởng khí mạc thọ                           有  是  想  棄  莫  受
Hữu mạc thuyết thủ khẩu hành                     有  莫  說  守  口  行
Bỉ ngũ não văn kiến khí                                彼  五  惱  聞  見  棄
Tuệ giới hành mạc dâm tịnh                         慧  戒  行  莫  婬  淨

Bài kệ 6
Thế sở kiến mạc hành si                              世  所  見  莫  行  癡
Vô giới hạnh bỉ tưởng hữu                           無  戒  行  彼  想  有
Khả ngã hữu đọa minh pháp                        可  我  有  墮  冥  法
Dĩ kiến khả thùy hữu tịnh                             以  見  可  誰  有  淨

Bài kệ 7
Đế kiến văn nhĩ khả vị                                   諦  見  聞  爾  可  謂
Đế ý thủ khả hướng đạo                                諦  意  取  可  向  道
Vãng đáo bỉ thiểu bất tưởng                         往  到  彼  少 不  想
Kim nại hà khẩu khi tôn                                今  奈  何  口  欺  尊

Bài kệ 8
Đẳng diệc quá diệc bất cập                           等  亦  過  亦  不  及
Dĩ trước tưởng tiện phân biệt                       已  著  想  便  分  別
Bất đẳng tam đương hà tránh                       不  等  三  當  何  諍
Tất dĩ đoạn bất không kế                               悉  已  斷  不  空  計

Bài kệ 9
Hữu đế nhân đương hà ngôn                       有  諦  人  當  何  言
Dĩ trước không thùy hữu tránh                    已  著  空  誰  有  諍
Tà  diệc chánh tất vô hữu                            邪  亦  正  悉  無  有
Tùng hà ngôn đắc kỳ đoản                          從  何  言  得  其  短


Bài kệ 10
Xả dục hải độ mạc niệm                              捨  欲  海  度 莫 念
Ư phụ huyền nhẫn hành hiệt                        於  婦 縣 忍 行  黠
Dục dĩ không chỉ niệm tưởng                       欲  已  空  止 念 想
Thế tà độc phục bất sanh                            世  邪  毒  伏 不 生


Bài kệ 11
Tất viễn thế cầu bại khổ                                 悉  遠  世  求  敗  苦
Tôn ngôn ly mạc dữ câu                                 尊  言  離  莫  與  俱
Như thủy hoa tịnh vô nê                               如  水  華  淨  無  泥
Trọng trần độ bất vi nuy                                重  塵  土  不  為  萎


Bài kệ 12
Tôn an nhĩ vô sở tham                                    尊  安  爾  無  所  貪
Ư thế tục vô sở trước                                      於  世  俗  無  所  著
Diệc bất chuyển sở niệm tưởng                    亦  不  轉  所  念  想
Hành như độ bất tùy thức                             行  如  度  不  隨  識


Bài kệ 13
Tam bất tác đọa hành khứ                             三  不  作  墮  行  去
Xả bất giáo tam thế sự                                    捨  不  教  三  世  事
Xả bất tưởng vô hữu phược                          捨  不  想  無  有  縛
Tùng hiệt giải chung bất giải                        從  黠  解  終  不  懈
Chế kiến tưởng dư bất thủ                            制  見  想  餘  不  取
Tiện yểm thanh bộ tam giới                          便  厭  聲  步  三  界

Kinh Đạo Lý Duyên Khởi

Kinh Đạo Lý Duyên Khởi
(Dị Học Giác Phi Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ mười, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Kalahavivàda Sutta,

Sutta-Nipàta 862-877

Bối Cảnh

Đây là kinh Dị Học Giác Phi. Dị Học Giác Phi là các giáo phái ngoại đạo muốn thi đua về pháp thuật với Bụt. Khung cảnh dựng lên: Bụt còn trẻ mà được vua Tần Bà Xa La mến mộ, trong khi ấy các vị lãnh đạo trưởng thượng của sáu giáo phái nổi tiếng kia thì bị thất sủng. Họ đề nghị với Vua Tần Bà Xa La tổ chức thi đua pháp thuật xem bên nào đạo lực cao cường hơn. Vua không chấp nhận. Họ sang nước Xá Vệ đề nghị với vua Ba Tư Nặc. Vua Ba Tư Nặc tuy cũng rất sùng mến Bụt, nhưng chấp nhận cho tổ chức cuộc thi tài này. Cuối cùng pháp thuật của Bụt cao cường hơn. Và trong khung cảnh ấy Bụt nói kinh này. Khung cảnh này thật sự không ăn khớp gì nhiều với nội dung.

1. Vì đâu mà có tranh cãi đấu tụng? Vì đâu mà người ta làm khổ nhau, gây sầu thương cho nhau và ganh ghét nhau? Vì lý do gì mà người đời thường sử dụng ác ngữ để hủy báng nhau? Xin Bụt giảng cho chúng con về gốc rễ của vấn đề này.

2. Cái khả ái là nguồn gốc của mọi tranh tụng. Nó gây ra ganh tỵ, tật đố, ưu sầu, khổ não. Vì muốn hủy báng nhau cho nên người ta mới sử dụng vọng ngữ. Chính nó là gốc rễ đưa tới mọi hủy báng chống đối nhau.

3. Nhưng cái khả ái ấy ở đời do đâu mà có? Từ đâu mà ái phát sinh trong cuộc đời? Bỏ cái gì đi thì ái mới không còn và lúc ấy thì con người mới không đau khổ?

4. Chính ham muốn của mình làm cho mình vướng vào cái khả ái của thế gian. Và khi cái ham muốn lớn mạnh sẽ tạo ra nhiều khổ đau. Không buông bỏ được cái hữu cũng là do nó. Và vì có cái hữu này cho nên mới có những cái hữu tới sau.

5. Cái gì làm phát sinh ra cái ham muốn bắt ta chạy theo dục lạc trong cuộc đời? Do đâu mà phân biệt được cái lành, dữ, xấu, tốt? Do đâu mà có cái bắt đầu và cái chung cuộc? Xin bậc đại sa môn chỉ dạy: chúng con phải tuân thủ theo các pháp môn hành trì nào?

6. Cái ham muốn ấy phát sinh từ chuyện mình thích ý hay không thích ý. Dục cũng từ nhân duyên mà sinh khởi. Chỉ khi nào thấy được lý do sắc thân vì sao từ hưng thịnh lại đi đến tàn hoại thì người đời mới bắt đầu biết phân biệt quán chiếu.

7. Khi biết rằng mình đang bị dối gạt (bởi cái vỏ bên ngoài của các pháp) thì con người mới biết hoài nghi. Lúc bấy giờ ta mới nhận diện được hai mặt đối nghịch của các pháp. Thực tập quán niệm như thế nào để khám phá ra được con đường dẫn về tuệ giác. Phải có tâm mong cầu hiểu được giáo pháp ta mới thấy rõ được phép hành trì.

8. Cái có và cái không từ đâu tới? Tại sao người thân và người không thân một ngày kia cũng đều phải chết? Còn vấn đề cái thêm và cái bớt nữa. Xin đức Thế Tôn thuyết giảng cho chúng con về gốc rễ của hiện pháp?

9. Cái ái và cái không ái là do sự xúc chạm mà sinh khởi. Chúng tới rồi chúng đi, chúng sinh rồi chúng diệt, chúng không thể có mặt (nếu không có xúc chạm). Cái có và cái không, cái thịnh và cái suy cũng cùng trong một ý nghĩa đó. Bậc hiền giả giải thích về gốc rễ của hiện pháp một cách tường tận như thế.

10. Nhưng sự xúc chạm kia từ đâu mà đến? Vì nguyên do nào mà người ta lại bị vướng vào sắc dục của thế gian? Phải thực tập quán niệm như thế nào để không còn phân biệt chấp trước? Tại sao lại có sự vướng mắc vào sắc dục?

11. Do có tâm và vật (danh sắc) mà có xúc chạm. Vì có cái có nên danh và sắc mới khởi dậy. Phải vượt qua vô minh mới đạt được giải thoát. Phải thấy được rằng danh và sắc là nền tảng của xúc chạm.

12. Làm thế nào để buông bỏ được sự ham muốn về danh và sắc? Vì lý do gì mà phát sinh các loại tham ái? Làm sao cho tâm đắm trước tham ái được tiêu diệt tận cùng? Phải biết và hành trì theo giáo lý (bốn) sự thật như thế nào mới có thể đạt tới giải thoát?

13. Phải lìa bỏ ý niệm về tưởng, về sắc, về cái vô tưởng và về cái bất hành tưởng. Phải đoạn trừ tất cả và không vướng mắc vào ý niệm nào. Bởi tưởng là gốc rễ của mọi hý luận đem tới nhiều đau khổ.

14. Những điều con thưa hỏi đều đã được giải đáp. Nay xin đức Thế Tôn thuyết giải thêm cho chúng con: hành trì như thế nào để có thể trở nên một bậc toàn thiện? Còn có con đường nào khác hơn con đường mà bậc tôn đức đã chỉ bày hay không?

15. Đã biết là mình đang đi trên con đường (bát) chánh thì còn sợ gì bị sai lạc? Đó là con đường dẫn tới quả vị tuệ giác. Vị mâu ni thiền định dưới một gốc cây trong rừng. Không có con đường nào đẹp hơn thế.

16. Hiểu như thế rồi thì các vị phải một lòng hướng về (sự thực tập). Một bậc tôn đức được giải thoát thì không còn bị ràng buộc vào nghi lễ và giới cấm nữa. Một người như thế có thể vượt qua mọi phiền não một cách mau chóng trong cuộc đời. Vị ấy vượt thoát được thời gian và không còn trở về luân hồi nữa.


Đại Ý

Kinh này là dấu hiệu của sự bắt đầu hình thành giáo lý mười hai nhân duyên. Kinh nói tới tám nhân duyên: thức, danh sắc, xúc, thọ, dục, ái, thủ, hữu. Lúc này dục và ái còn là hai cái khác nhau. Chưa nói tới vô minh, thì đã bắt đầu đề cập tới hành. Khi nói về thức, chưa có sinh và lão tử, nhưng sinh và lão tử đã nằm sẵn trong hữu. “Vì có cái hữu này nên có những cái hữu tới sau.” Câu này nằm trong bài thi kệ thứ tư.

Trong bài thi kệ thứ nhất, thủ là nắm chặt ý kiến của mình. Trong bài kệ thứ ba, sở dĩ mình nắm chặt nó, tại vì nó là đối tượng của sự yêu thích của mình. Nó là cái khả ái. Trong bài thứ tư, dục (ham muốn) là nguyên do của ái, và ái cũng là nguồn gốc của cái hữu bây giờ và những cái hữu tới sau.

Bài thứ sáu đề cập tới thọ, cảm thọ dễ chịu (thích ý) hay khó chịu (không thích ý). Chưa nói đến xả thọ. Cái thích ý làm phát sinh cái dục. Bài thứ chín nói về xúc. Bài thứ mười một nói về danh sắc. Và bài thứ mười ba nói tới tưởng. Tưởng là tri giác, là thức, là chủ thể và đối tượng nhận thức. Vọng tưởng là tri giác sai lầm của thức. Vọng tưởng là vô minh, vọng tưởng làm cho thức là thức, nếu không thì nó đã là trí. Vọng tưởng là gốc rễ của mọi suy tư và ngôn ngữ có công năng đem tới khổ đau. Đây chính là bản chất của hành.

Kinh này không những trình bày được sự liên hệ giữa tâm vật và nguyên do của luân hồi sinh tử mà còn cung cấp được những chỉ dẫn thực tập.

Bài thi kệ thứ bảy và thứ tám đề nghị quán chiếu về hai mặt đối nghịch của các hiện tượng: có và không, tới và đi, thêm và bớt. Tư tưởng này đi tiên phong cho tư tưởng Trung Đạo và Bát Nhã Ba La Mật. Bài thứ 13 cho biết rằng nếu tinh cần quán chiếu về đối tượng tâm ý để đừng bị vướng mắc vào bất cứ ý niệm nào, dù là ý niệm vô tưởng và bất hành tưởng, thì ta có thể đạt tới giải thoát thật sự, chấm dứt mọi vọng tưởng. Bài thứ 15 khuyến khích ta nắm cho được con đường Bát Chánh Đạo mà đi.

Hình ảnh một người ngồi thiền định dưới một gốc cây trong rừng là hình ảnh đẹp nhất. Đó là hình ảnh của một vị mâu ni.

Kinh này là kinh thứ mười trong Nghĩa Túc Kinh, nhưng lại là kinh thứ mười một trong Atthaka Vagga, kinh tương đương trong tạng Pali.


Bài kệ 1
Đấu tụng biến hà tùng khởi                          鬪  訟  變  何  從  起
Trí ưu  thống chuyển tướng tật                    致  憂  痛  轉  相  疾
Khởi vọng ngữ chuyển tướng hủy               起  妄  語  轉  相  毀
Bổn tùng khởi nguyện thuyết Phật              本  從  起  願  說  佛


Bài kệ 2
Tọa ưu khả khởi biến tụng                           坐  憂  可  起  變  訟
Chuyển tướng tật trí ưu thống                     轉  相  嫉  致  憂  痛
Dục tướng hủy khởi vọng ngữ                     欲  相  毀  起  妄  語
Dĩ tướng hủy đấu tụng bổn                          以  相  毀  鬪  訟  本

Bài kệ 3
Thế khả ái hà tùng khởi                                 世  可  愛  何 從 起
Chuyển thế gian hà sở tham                         轉  世  間  何  所 貪
Tùng trí hữu bất phục dục                             從  置  有  不  復 欲
Tùng bất phục chuyển hành thọ                      從 不 復  轉 行 受

Bài kệ 4
Bổn sở dục trước thế ái                               本  所  欲  著  世  愛
Dĩ lợi thị chuyển hành khổ                            以  利  是  轉  行  苦
Bất xả hữu tùng thị khởi                               不  捨  有  從  是  起
Dĩ cố chuyển hậu phục hữu                          以  故  轉  後  復  有


Bài kệ 5
Tùy thế dục bổn hà khởi                                隨  世  欲  本  何  起
Tùng hà đắc biệt thiện ác                               從  何  得  別  善  惡
Tùng hà hữu khởi bản mạt                            從  何  有  起  本  末
Sở chế Pháp Sa Môn thuyết                         所  制  法  沙  門  說

Bài kệ 6
Diệc thị thế sở hữu vô                                    亦  是  世  所  有  無
Thị nhân duyên tiện dục sanh                          是  因  緣  便  欲  生
Kiến thịnh sắc tùng hà tận                              見  盛  色  從  何  盡
Thế nhân tất phân biệt tác                              世  人  悉  分  別  作

Bài kệ 7
Sở tùng khi hữu nghi ý                                  所  從  欺  有  疑  意
Diệc thị pháp vũ diện thọ                               亦  是  法  雨  面  受
Niệm tùng hà học tuệ tích                             念  從  何  學  慧  跡
Nguyện giải pháp minh học thuyết                  願  解  法  明  學  說


Bài kệ 8
Sở hữu vô bổn tùng hà                                   所  有  無  本  從  何
Vô sở thân tùng hà diệt                                  無  所  親  從  何  滅
Thịnh diệc giảm tất nhất nghĩa                         盛  亦  減  悉  一  義
Nguyện thuyết thị giải hiện bổn                       願  說  是  解  現  本

Bài kệ 9
Hữu diệc vô trước tế nhu                               有  亦  無  著  細  濡
Khứ lai diệt vô sở hữu                                   去  來  滅  無  所  有
Thịnh diệc diệt nghĩa tùng thị                          盛  亦  滅  義  從  是
Giải hiện hiền bổn tận thị                               解  現  賢  本  盡  是

Bài kệ 10
Thế tế nhu bổn tùng hà                                  世  細  濡  本  從 何
Trước thế sắc tùng hà  khởi                           著  世  色  從  何  起
Tùng hà niệm bất kế trước                            從  何  念  不  計  著
Hà nhân duyên trước khả sắc                        何  因  緣  著  可  色


Bài kệ 11
Danh sắc thọ trước tế nhu                            名  色  授  著  細  濡
Bản hữu hữu sắc tiện khởi                            本  有  有  色  便  起
Ninh độ si đắc giải thoát                                寧  度  癡  得  解  脫
Nhân duyên sắc trước tế nhu                        因  緣  色  著  細  濡

Bài kệ 12
Tùng hà đắc xả hảo sắc                                  從  何  得  捨  好  色
Tùng chúng ái tùng hà khởi                             從  眾  愛  從  何  起
Sở  trước tâm ninh tất tận                              所  著  心  寧  悉  盡
Đế hành tri như giải thoát                                諦  行  知  如  解  脫

Bài kệ 13
Bất tưởng tưởng bất sắc tưởng                     不  想  想  不  色  想
Phi vô tưởng bất hành tưởng                        非  無  想  不  行  想
Nhất thiết đoạn bất trước giả                        一  切  斷  不  著  者
Nhân tưởng bổn hí  tùy khổ                         因 想 本 戲 隨 苦


Bài kệ 14
Ngã sở vấn tất dĩ giải                                       我 所 問 悉 已 解
Kim cánh vấn nguyện phục thuyết                    今 更 問 願 復 說
Hành địch tất thành cụ túc                               行 糴 悉 成 具 足
Thiết vô bất thắng tôn  đức                               設 無 不 勝 尊 德

Bài kệ 15
Thị cực chánh hữu hà tà                             是  極  正  有  何  邪
Hướng kính thần đắc quả tuệ                       向  徑  神  得  果  慧
Tôn  hành định thụ lâm gian                         尊  行  定  樹  林  間
Vô hữu dư tối thiện thuyết                           無  有  餘  最  善  說

Bài kệ 16
Tri như thị nhất tâm hướng                            知  如  是  一  心  向
Tôn dĩ trước bất giới hạnh                             尊  已  著  不  戒  行
Tật hành vấn độ thế gian                               疾  行  問  度  世  間
Đoạn thế xả thị bỉ thân                                   斷  世 捨  是  彼  身

Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi

Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi
(Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 11, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Cùlaviyùha Sutta, Sutta-Nipàta 878-894

Bối Cảnh

Đây là kinh Mãnh Quán Phạm Chí. Trong một pháp hội có tới năm trăm vị la hán và rất nhiều nhân vật quan trọng, trong đó có bốn vị thiên vương từ bốn phương về nghe pháp. Vị Phạm Chí tên là Mãnh Quán vẫn nghi ngờ rằng không chắc vị đạo sư này (Bụt) là người đã nắm được chân lý tuyệt đối. Do đó Bụt nói kinh này. Khung cảnh dựng lên từ kinh Tạp A Hàm số 11 92 và kinh Trường A Hàm thứ 19.

1. Ai cũng có quan điểm của mình về chân lý, và đối phương cũng thế. Ai cũng nghĩ là mình có cái thấy cao nhất và muốn diễn bày cái thấy ấy ra. Ai có được cái thấy ấy thì người ấy mới thấy được Pháp. Còn những kẻ khác (vì chưa thấy được sự thật này thì) dù đi khắp nơi cũng không thấy được một góc nhỏ nào của sự thật.

2. Vì thiên hạ chấp thủ như vậy nên mới sinh ra tranh cãi loạn xị. Ai cũng nói rằng kẻ kia si mê; ta mới thật sự là người có trí tuệ. Vậy thì trong tất cả các sự thật ấy, cái nào mới thực sự là sự thật? Bởi vì ai cũng nói chỉ có mình là đang nắm được chân lý?

3. Kẻ nào không biết rằng người khác cũng có quan điểm của họ về sự thật thì kẻ ấy vẫn còn mờ ám, vẫn còn thiếu trí tuệ và vẫn còn kẹt vào trong quan điểm của chính mình.

4. Có cái quan điểm rồi thì mới có cái nói và cái làm. Người ta nghĩ rằng nhờ cái thấy đó của họ mà thân họ đã được tịnh hóa và tâm họ được thánh hóa. Nếu ai cũng đúng thì còn có ai sai lầm nữa? Bởi vì ai cũng đang có và cũng đang kẹt vào cái ý của họ?

5. “Đây là sự thật cao nhất, là đỉnh cao trí tuệ.” Người ngu si có thể suy nghĩ và hành xử như thế, và tìm cách dìm kẻ khác xuống. Mình tự cho mình là người duy nhất đã thấy được sự thật. Tự mình còn là kẻ ngu si mà mình cứ nói là người ta ngu si.

6. Hỏi: Ai cũng nói pháp của họ là không ai bằng, rằng kẻ khác vốn chẳng có tuệ giác gì, chỉ biết vay mượn cái thấy của người khác rồi đi vào tranh chấp với người khác. Tại sao bậc đạo sư lại không đưa ra một chân lý duy nhất để tất cả mọi người có thể đi theo?

7. Trả lời: Chân lý chỉ là một, chứ không thể là hai. Nhưng chân lý chỉ có thể tự mình thực chứng. Một khi chứng thực được chân lý ấy rồi thì ta sẽ không còn bị một ai lung lạc được nữa. Nhưng vì đã có bao nhiêu ý tưởng cho nên đã có bấy nhiêu chân lý. Vì vậy bậc sa môn không cần phải nêu ra thêm một học thuyết về chân lý của riêng mình.

8. Có chân lý nào mà người khác chưa nói lên? Nên tin vào ai và vào chủ thuyết nào mà thiên hạ đang rao giảng? Những chủ thuyết được đưa ra là do đâu, hay cũng là chỉ do sự suy nghĩ riêng của từng người mà có?

9. Sự thực là một, nhưng cách diễn bày của tâm ý thì nhiều. Từ những góc độ tri giác khác nhau cho nên có những sự phân biệt lựa chọn khác nhau. Những gì mà con mắt nhận biết, nếu ta bị vướng mắc vào, sẽ làm nẩy sinh ra ý tưởng: cái này đúng và cái này sai.

10. Những gì ta nghe, ta thấy, và cả những giới điều cấm kỵ mà ta đang hành trì cũng đều bắt nguồn từ tâm ý ta. Nếu bị kẹt vào chúng thì ta sẽ dấn thân đi vào vòng tranh luận về những cái thấy khác nhau. Phải chấm dứt lại sự đối chiếu, so sánh, và quán sát xem có chỗ nào sai lầm (nơi tri giác ta) không, nếu không thì sự thực là chính mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm.

11. Mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm, kẻ kia cũng tự cho họ là đẹp là lành và muốn mình đi theo họ. Ai cũng tự khen mình là hay là giỏi, vì vậy cho nên mới sinh ra tranh cãi và oán thù.

12. Giữ chặt tà kiến, chỉ muốn làm thầy thiên hạ, người ta mãn ý tự cho là cái thấy của người ta là chí thiện, tin rằng cái thấy và cái hành của mình là ở ngôi cao nhất, tôi e rằng một người ba hoa như thế tự mình chưa đạt tới đâu cả.

13. Nếu mình cho cái hiểu biết của kẻ kia là sai lạc, là đáng hổ thẹn, thì kẻ kia cũng sẽ cho cái hiểu biết của mình là sai lạc, là đáng hổ thẹn. Nếu tất cả mọi người đều phân biệt và kỳ thị như thế thì trong đời còn ai không phải là kẻ si mê?

14. “Chỉ khi nào bạn chứng nghiệm được chân lý này thì bạn mới có thể nói rằng bạn được tịnh hóa.” Nói như thế thì dễ gây ra biến loạn; đó là nguyên nhân làm phát sinh ra độc đoán, cố chấp và oán hận.

15. Đi theo hành trì một cách khác người, có những kiến giải và những phương pháp thanh lọc khác người, đó không có nghĩa là mình đã đạt tới chân lý tối hậu. Đó là thái độ dẫm chân tại chỗ, làm cho người ta càng ngày càng bị kẹt cứng vào tư kiến của mình.

16. Nếu ai cũng khư khư nắm chặt tư kiến, cho mình là minh triết, thì còn có ai là si mê nữa? Còn có ai để mình chê trách nữa? Nói rằng pháp của kẻ kia không có khả năng tịnh hóa, mình đang sử dụng cái kế đạt của mình để tự cho mình là cao diệu bậc nhất.

17. Kẹt vào cái thấy của mình, tự cho mình là tự tại, kẻ kia dấn thân vào các cuộc tranh chấp loạn xị trong đời. Buông bỏ mọi ý niệm về sở tác, bậc hiền giả đạt tới sự mầu nhiệm của cái vô tác và cái vô sở tác.


Đại Ý

Kinh này nói về thái độ độc quyền về chân lý và những tai hại do thái độ ấy gây ra. Khi ta tin rằng cái thấy của ta là chân lý thì ta cũng tin rằng con đường ta đi là con đường duy nhất đưa tới chân lý. Đây là gốc rễ của độc tài, của bạo động.

Có người đi tìm chân lý bằng cách học hỏi, suy tư, hay đi vay mượn cái thấy của người khác. Cái chân lý ấy không phải là chân lý vì đó chỉ là sản phẩm của trí năng mà không phải là một kinh nghiệm tâm linh  mình đã trực tiếp thân chứng. Có bao nhiêu ý tưởng về chân lý là có bấy nhiêu chân lý. Thực ra chân lý chỉ có thể là một, và không thể có hai chân lý chống đối nhau. Kẹt vào cái thấy của mình, điều đó chứng tỏ mình chưa thực chứng được chân lý. Những chủ thuyết được đưa ra là do sự suy nghĩ riêng của từng người. Bài thi kệ thứ chín nói rõ: sự thật là một, những cái thấy về sự thật thì nhiều. Cái thấy là kiến, là tư kiến của từng người. Còn tư kiến là còn tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi kiến, mọi tư kiến, mọi tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi ý niệm. Ngôn ngữ và ý niệm không có khả năng chuyên chở chân lý. Cho nên người đạt đạo không đưa ra một chủ thuyết về chân lý. Cái quan trọng nhất không phải là một chủ trương về chân lý. Cho nên kẻ thành đạo không có nhu yếu thuyết giảng về chân lý, mà chỉ muốn cung cấp những phương pháp giúp người ta đi tới trên con đường chuyển hóa và tịnh hóa. Nghĩa là diệt trừ vô minh và phiền não. Chân lý không phải là một đối tượng có thể nắm bắt, cho nên người đạt đạo buông bỏ mọi sự nắm bắt và có tự do lớn. Không nắm bắt, bởi vì làm gì có đối tượng nắm bắt, đây là sự hình thành giáo lý vô nguyện, vô đắc, vô sở đắc sau này. Ta có thể thấy được sự khai thị này ở bài thi kệ thứ mười bảy.


Bài kệ 1
Nhân các niệm bỉ diệc tri      人  各  念  彼  亦  知 
Các dục thắng tuệ khả thuyết     各  欲  勝  慧  可  說
Hữu năng tri tận thị pháp     有  能  知  盡  是  法
Biến hành cầu mạc ngung giải      遍  行  求  莫  隅  解

Bài kệ 2
Thủ như thị tiện sanh biến   取  如  是  便  生  變
Si kế bỉ ngã thiện tuệ   癡  計  彼  我  善  慧
Chí thành ngôn vân vi đẳng    至  誠  言  云  為  等
Nhất thiết thị  thiện ngôn thuyết     一  切  是  善  言  說

Bài kệ 3
Bất tri bỉ hữu pháp vô   不  知  彼  有  法  無
Minh vô tuệ tùy bỉ hiệt     冥  無  慧  隨  彼  黠
Minh nhất thiết thống viễn hiệt       冥  一  切  痛  遠  黠
Sở niệm hành tất bỉ hữu       所  念  行  悉  彼  有

Bài kệ 4
Tiên kế niệm khước hành thuyết   先  計  念  却  行  說
Tuệ dĩ tịnh ý thiện niệm     慧  已  淨  意  善  念
Thị tất bất vọng hiệt giảm    是  悉  不  望  黠  減
Tất sở niệm trước ý chỉ        悉  所  念  著  意  止

Bài kệ 5
Ngã  bất cư thị tất thượng    我  不  据  是  悉  上
Ngu  khả hành chuyển tướng khiên   愚  可  行  轉  相  牽
Tự kiến cẩn vị khả đế   自  見  謹  謂  可  諦
Tự kỷ si phục thọ bỉ     自  己  癡  復  受  彼

Bài kệ 6
Tự thuyết pháp độ vô cập    自  說  法  度  無  及
Dĩ  tự không tham lai đạo      以  自  空  貪  來  盜
Dĩ bát minh chuyển tướng minh     已  八  冥  轉  相  冥
Học hà cố nhất bất đạo     學  何  故  一 不  道

Bài kệ 7
Nhất đế tận nhị hữu vô       一  諦  盡  二  有  無
Tri thị đế bất điên đảo     知  是  諦  不  顛  倒
Vị  bất tận đế tùy ý     謂  不  盡  諦  隨  意
Dĩ cố học nhất bất thuyết      以  故  學  一  不  說

Bài kệ 8
Hà đế thị dư bất thuyết     何  諦  是  餘  不  說
Đương tín thùy tận dư thuyết    當  信  誰  盡  餘  說
Nhiêu dư đế đương hà tùng       饒  餘  諦  當  何  從
Tùng hà hữu sanh ý thức        從  何  有  生  意  識

Bài kệ 9
Thức vô dư hà thuyết dư    識  無  餘  何  說  餘
Tùng dị tưởng phân biệt trạch      從  異  想  分  別  擇
Nhãn sở kiến vi trước  khả  眼  所  見  為  著  可
Thức nhược khi tận nhị Pháp     識  若  欺  盡  二  法

Bài kệ 10
Văn kiến giới tại ý hành     聞  見  戒  在  意  行
Trước dục hiệt biến tụng kiến     著  欲 黠  變  訟  見
Chỉ giáo kế quán hà tu     止  校 計  觀  何  羞
Thị dĩ si phục thọ bỉ      是  以  癡  復  授  彼

Bài kệ 11
Si hà tùng thụ dữ bỉ      癡  何  從  授  與  彼
Bỉ ỷ khả thiện hiệt ngã      彼  綺  可  善  黠  我
Tiện tự thự thiện thuyết dĩ       便  自  署  善  說  已
Hữu tụng bỉ tiện sanh oán   有  訟  彼  便  生  怨

Bài kệ 12
Kiên tà kiến vọng sư sự    堅  邪 見  望  師  事
Tà hiệt khốc mãn ỷ cụ      邪  黠  酷  滿  綺 具
Thường tự khủng ngữ bất đáo    常  自  恐  語  不  到
Ngã thường giới kiến thị tịch      我  常  戒  見  是  辟

Bài kệ 13
Kiến bỉ đế tà tàm tạng   見  彼  諦  邪  慚  藏
Bổn tự hữu tàm tạng hiệt       本  自  有  慚  藏  黠
Dĩ tất tri hiệt phân biệt      以  悉  知  黠  分  別
Si tất vô hợp hiệt hành       癡  悉  無  合  黠  行

Bài kệ 14
Thị vi đế trụ nãi thuyết    是  為  諦  住  乃  說
Tất khả  tịnh tự sở Pháp     悉  可  淨  自  所  法
Như thị thủ  tiện loạn biến      如  是  取  便  亂  變
Tự  nhân duyên thống trước ô     自  因  緣  痛  著  污

Bài kệ 15
Tùng dị hành đắc giải tịnh      從  異  行  得  解  淨
Bỉ tuy tịnh bất chí tận    彼  雖  淨  不  至  盡
Thị dị học văn tọa an        是  異  學  聞  坐  安
Tự tham câu ngã kiên thịnh     自  貪  俱  我  堅  盛

Bài kệ 16
Tự kỷ thịnh kiên phòng tham      自  己  盛  堅  防  貪
Hữu hà si vi bỉ thuyết      有  何  癡  為  彼  說
Tuy giáo bỉ Pháp vị tịnh      雖  教  彼  法  未  淨
Sanh kế độ tự cao diệu         生  計  度  自  高  妙


Bài kệ 17
Đế trú thích tự tại tác     諦  住  釋  自  在  作
Tuy thượng thế diệc hữu loạn      雖  上  世  亦  有  亂
Khí nhất thiết sở tác niệm       棄  一  切  所  作  念
Diệu bất tác hữu sở tác          妙  不  作  有  所  作

Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt

Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt
(Pháp Quán Phạm Chí Kinh)

Nghĩa Túc Kinh, Kinh thứ 12, Đại Tạng Tân Tu 198
(tương đương với Mahàviyùha Sutta,Sutta-Nipàta 895-914)

Bối cảnh

Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một: Trong pháp hội lớn tại thành Ca Tỳ La Vệ có 500 vị khất sĩ tham dự, có cả sự có mặt của các thiên thần, địa thần mười phương, và bốn vị thiên vương, vị Phạm Chí Pháp Quán có mặt đang nghi ngờ về đạo lý duyên khởi, cho nên nhân đó Bụt nói kinh này.

1.   Khi đã bị kẹt vào cái thấy của mình rồi thì người ta ưa tuyên bố: “đây mới thật là chân lý.” Cái xảy ra sau đó hoặc là bị mọi người chống đối, hoặc được mọi người khen ngợi.


2.  Ít ai biết hổ thẹn về cái thấy còn thiếu sót của mình. Ít ai thấy rằng tranh cãi thường đưa tới một trong hai hậu quả ấy (một là hơn, một là thua). Vậy ta nên nhổ tận gốc cái ý muốn tranh cãi để thực tập mà đạt cho tới cái bình an, nơi đó không còn (nhu yếu) tranh cãi nữa.


3.  Tất cả các pháp đều có thể tính bình đẳng, giống như mặt đất. Chưa nếm trải được điều đó thì phải tìm cách thực chứng cho được. Nếu không thấy được cái nền tảng bình đẳng ấy thì làm sao có thể sống chung an lạc với nhau? Và làm sao để những gì mình thấy, nghe và nói không đem lại tranh chấp?

4.  Ham được người ta khen ngợi là nguyên nhân khiến cho kẻ khác không ưa thích mình. Kẹt vào những gì mình thấy và nghe, vướng vào nhận thức và lề thói tranh chấp lưỡng nguyên, những kẻ này ai có thể giúp cho họ sáng mắt ra được? Ái dục chưa được đoạn trừ, những kẻ ấy sẽ phải còn tiếp tục trong vòng luân hồi sinh tử.


5.  Nghĩ rằng sử dụng những cấm giới và nghi lễ mà mình đang hành trì sẽ đem lại cho mình sự thanh tịnh, nghĩ rằng mình đã khám phá và nắm được chân lý, người kia chưa thực sự đạt tới tịnh hóa, người ấy chỉ có chủ tâm gặt hái tiếng ngợi khen của thế gian


6.  Không có tuệ giác mà đi tìm sự hành trì, đó là nguyên nhân đưa tới bao lầm lỡ, cũng như đi tìm sự thanh tịnh nơi sự học hỏi các chủ thuyết thì tự mình đánh mất giáo nghĩa chân thật và tiếp tục đi vào cái khổ của sinh tử.

7. Không nỗ lực trong công phu hành trì thật sự, khi mà cái hiểu và cái làm chỉ còn nằm trong phạm vi tư duy, thì người ta không thể chấm dứt được sinh tử luân hồi. Tuệ giác đối với người ấy chỉ là những lý thuyết.

8. Buông bỏ tất cả những lễ nghi và cấm giới, buông bỏ tất cả mọi ý niệm về tội và phúc, thanh tịnh và ô nhiễm, lúc đó vị hành giả mới không còn bị vướng vào những lo lắng u sầu về vấn đề thanh tịnh và nhiễm ô.

9.  Nói rằng tu theo phép này là tốt nhất, và ai không tu tập theo phép này đều là những người đang lầm đường, những người đã đi lạc quá xa, nói như thế thì sẽ gây tranh chấp biến loạn. Ai cũng chỉ nhân danh chân lý để đi tìm kiếm chút lợi danh trong cuộc đời.

10.  Cho giáo lý của mình là toàn hảo, và các giáo lý khác đều còn thô lậu và có nhiều khiếm khuyết, không có giáo lý nào so được với giáo lý của mình, đó là lý do sinh ra tranh chấp và thù oán. Ai cũng có khuynh hướng muốn nói rằng cái thấy và cái hành trì của mình là cách thức duy nhất giữ cho mình không bị sa đọa vào ô nhiễm.


11.  Ai cũng cho chủ thuyết của mình là hay nhất, không có giáo pháp nào có lợi lạc bằng, không có nguồn tuệ giác nào khác có thể đem tới sự tịnh hóa như nguồn tuệ giác của mình. Chính vì thế mà người ta bị kẹt cứng vào cái chủ thuyết của chính mình không thoát ra được.

12.  Mỗi người tự tôn sùng cái chủ thuyết của mình, cho đó là điểm cao nhất của sự học hỏi, đã từng được chính bậc đạo sư đích thân diễn giải. Sự thật là chủ thuyết kia chỉ là một lý thuyết suông, không phải là một pháp môn thực tập. Trong khi đó, sự tịnh hóa chỉ có thể xảy ra khi người ta hết lòng hành trì.


13.  Kẻ này nói sự thật là cái này, kẻ kia nói sự thật là cái kia, và cái thấy nào cũng có thể là đúng, cũng có thể là sai. Nhưng một khi đã bị kẹt vào cái thấy của mình rồi thì người ta dễ gây thù oán với kẻ khác. Lý do là khi mình đã cố chấp cho cái thấy của mình là cao nhất thì mình luôn luôn nói giọng tự cao tự đại.

14.Chấp nhận và vướng vào một chủ thuyết, cho rằng nhờ đó mà mình đã được giải thoát, tâm ý tuy có tin tưởng vào điều này nhưng trên thực tế chẳng có cái giải thoát thực sự nào xảy ra cả. Lý do là tại mình chỉ biết nói cho hay, và cái chủ thuyết kia chưa bao giờ đem lại sự giải thoát cho mình cả.


15.  Hãy quán sát người đời đang kẹt vào tâm (ý niệm) và vật, đang lấy trí năng của họ để tìm hiểu về hai cái ấy. Dù ta có tìm hiểu được bao nhiêu về hai cái ấy thì cũng không phải nhờ thế mà ta được thanh tịnh và chuyển hóa.

16.  Có được một pháp môn thực tập có công năng đưa tới tuệ giác thì mình không còn bị hệ lụy (vào bất cứ một chủ thuyết nào). Cái thấy và cái biết (của mình), mình cũng không bị vướng mắc vào đó. Không đi tìm cái khuyết điểm của người, chỉ lo hành trì cho đúng pháp, người hành giả vượt qua mọi tranh cãi, không chấp nhận tham dự vào bất cứ một cuộc tranh cãi nào.

17.  Thực tập quán chiếu cho đến nơi đến chốn, không đi theo một học thuyết nào, không chấp chặt một ý thức hệ nào, như đóng chặt tất cả các cánh cửa để phòng ngự mọi tham đắm, người hành giả chỉ thực tập quán chiếu mà không đi tìm những lý thuyết hấp dẫn kỳ lạ.  

18.  Bậc Mâu Ni đã buông bỏ được tất cả những gì mà người đời thường hay nắm bắt, không còn lận đận với sở thủ và sở sinh (đối tượng nắm bắt và đối tượng trở thành). Vị ấy không chọn lựa một quan điểm hay đi theo một phe phái nào trong những cuộc tranh chấp và cảm thấy thanh thản tự tại giữa đám quần chúng phàm tục đang buồn khổ và oán ghét nhau.

19.  Đã buông bỏ những ham muốn ngày xưa, và không đang xây dựng một ham muốn mới nào, vị ấy không còn cầu mong gì nữa, và do đó sẽ không còn vướng bận gì nữa. Vị ấy đã thoát ra khỏi mọi tín ngưỡng sai lạc, đã dũng mãnh bước qua, đã vượt thoát thời gian, đi vào kiếp ngoại.

20.  Vị ấy không còn nghi nan gì nữa đối với tất cả các chủ thuyết, không còn bị kẹt vào bất cứ một cái gì đã nghe, đã thấy và đã nghĩ. Sau khi buông bỏ được gánh nặng, vị Mâu Ni đã thực sự giải thoát, không còn mong mỏi một cái gì nữa cả, hoặc cho quá khứ hoặc cho tương lai.


Đại Ý

Kinh này nối tiếp đề tài kinh thứ mười một và cũng nói về những tai hại do sự nắm bắt chân lý gây ra. Nhưng kinh cũng đưa ta đi xa hơn.

Người xuất sĩ phải quyết tâm diệt trừ ái dục, đừng để vướng vào nhận thức lưỡng nguyên và tranh chấp lưỡng nguyên. Đừng để thì giờ đi tìm và gặt hái tiếng khen ngợi của thế gian. Đó là tinh yếu của các bài thi kệ thứ tư và thứ năm của kinh. Muốn vượt thoát cái thấy nhị nguyên, phải quán chiếu về tính bình đẳng của vạn pháp để thấy được ta trong người, người trong ta, cái này trong cái kia, cái kia trong cái này. Chứng nghiệm được thể tính bình đẳng của vạn pháp sẽ không còn nhu yếu tự hào và tranh cãi. Đừng vướng vào bất cứ một chủ thuyết nào, một tư kiến nào, vì tất cả đều là lý thuyết suông, không phải là pháp môn thực tập. Không có công năng giúp ta chuyển hóa và trị liệu. Đó là thông điệp của bài thi kệ thứ mười hai.

Vị mâu ni là người buông bỏ được mọi nắm bắt bởi vì vị ấy thấy được chân lý không phải là một đối tượng có thể nắm bắt. Vị mâu ni cũng không mong cầu trở thành, bởi vì thấy được rằng không có đối tượng trở thành. Cũng như sóng đã là nước, sóng không cần đi tìm để nắm bắt nước, để trở thành nước. Vị mâu ni buông bỏ mọi trông cầu, dù là trông cầu vượt thoát sinh tử. Bởi vì vị ấy đã thoát ra khỏi mọi tín ngưỡng sai lạc, trong đó có ý niệm kiếp này và kiếp sau. Bởi vì vị ấy đã thoát ra được ý niệm thời gian, đi vào kiếp ngoại. Đây là chất liệu của giáo lý buông bỏ bốn ý niệm ngã, nhân, chúng sinh và thọ giả của kinh Kim Cương và giáo lý thọ mạng vô lượng của kinh Pháp Hoa  sau này.

Vị mâu ni là người đã buông bỏ được mọi gánh nặng, nhất là gánh nặng trông cầu.


Bài kệ 1
Như nhân duyên kiến hữu ngôn    如  因  緣  見  有  言
Như dĩ thủ tất thuyết thiện    如  已  取  悉  說  善
Nhất thiết bỉ ngã diệc khinh    一 切 彼 我 亦 輕
Diệc hoặc trí tại thiện duyên    亦 或 致 在 善 緣


Bài kệ 2
Thiểu tự tri hữu tàm tu   少  自  知  有  慚  羞
Tranh biến bổn thuyết lưỡng quả   諍  變  本  說  兩  果
Kiến như thị xả  biến bổn   見 如 是 捨 變 本
Nguyện  quán an  vô biến    xứ 願 觀 安 無 變 處


Bài kệ 3
Nhất thiết bình diệc như địa    一 切 平 亦 如 地
Thị vị thường đương kiến đẳng    是 未 嘗 當 見 等
Bổn bất đẳng tùng hà đồng    本  不  等  從  何  同
Kiến văn thuyết mạc tác biến    見  聞  說  莫  作  變


Bài kệ 4
Ỷ trước thị chúng khả ác    猗 著 是 眾 可 惡
Khả kiến văn diệc sở niệm    可 見 聞 亦 所 念
Vũ xuất tịnh thùy vi minh    雨 出 淨 誰 為 明
Ái vị trừ thân phục thân    愛 未 除 身 復 身


Bài kệ 5
Dĩ giới nhiếp sở phạm tịnh    以 戒 攝 所 犯 淨
Hành đế tường dĩ cụ trú    行  諦  祥  已  具  住
Ư thị ninh kinh chí tịnh    於  是  寧  經  至  淨
Khả khủng thế tại thiện thuyết    可 恐 世 在 善 說


Bài kệ 6
Dĩ ly đế cánh cầu hành    已  離  諦  更  求  行
Tất tùng tội nhân duyên thọ    悉  從  罪  因  緣  受
Diệc như thuyết lực cầu tịnh    亦 如 說 力 求 淨
Tự nghĩa  thất sanh tử khổ    自 義 失 生 死 苦


Bài kệ 7
Hành lực cầu diệc bất thuyết    行 力 求 亦 不 說
Nhãn như hành diệc tư duy    眼 如 行 亦 思 惟
Tử sanh vô tận tùng thị    死 生 無 盡 從 是
Như thị tuệ  diệc như thuyết    如 是 慧 亦 如 說


Bài kệ 8
Giới bỉ hành nhất thiết xả    戒  彼  行  一  切  捨
Tội diệc phước xả viễn khứ    罪 亦 福 捨 遠 去
Tịnh diệc cấu bất niệm giác    淨  亦  垢  不  念  覺
Vô triêm ô tịnh ai  thọ    無 沾 污 淨 哀 受


Bài kệ 9
Tu thị pháp độ bỉ nhất    修  是  法  度  彼  一
Thuyết vô hành vi viễn khi    說  無  行  為  遠  欺
Thọ như thị tiện tăng biến    受  如  是  便  增  變
Các nhân đế thế tà lợi    各 因 諦 世 邪 利


Bài kệ 10
Tự sở Pháp tiện xưng cụ   自  所  法  便  稱  具
Kiến bỉ Pháp cật vi lậu    見  彼  法  詰  為  漏
Vô đẳng hành chuyển tướng oán    無  等 行  轉  相   怨
Tự kiến  hành bất tùy ô    自  見  行  不  隨  污

Bài kệ 11
Phàm sở thuyết hiệt đại khủng    凡 所 說 黠 代 恐
Vô ư pháp hữu sở ích    無 於 法 有 所 益
Vô tuệ chúng  dị thuyết  tịnh    無 慧 眾 異 說 淨
Sở  hệ  trước trú các kiên    所 繫 著 住 各 堅


Bài kệ 12
Các tôn Pháp như văn chỉ    各  尊  法  如  聞  止
Diễn như giải tự sư thuyết    演  如  解  自  師  說
Vô Pháp hành đãn hữu ngôn    無  法  行  但  有  言
Bỉ sở tịnh nhân nhất tâm    彼  所  淨  因  一  心


Bài kệ 13
Ngôn như thị bỉ diệc thuyết    言  如  是  彼  亦  說
Nhất sở kiến tùng tịnh đọa    一  所  見  從  淨  墮
Tiện tự kiến oán sở tác    便 自 見 怨 所 作
Tọa  thắng  tuệ  tự đại thuyết   坐 勝 慧 自 大 說


Bài kệ 14
Sở nhiếp trước cầu tiện thoát     所 攝 著 求 便 脫
Niệm sở tín vô sở trú    念 所 信 無 所 住
Bổn sở nhân  tại  hảo  thuyết    本 所 因 在 好 說
Tịnh hạnh tại  bỉ vị trừ    淨 行 在 彼 未 除


Bài kệ 15
Quán thế nhân kiến danh sắc    觀  世  人  見  名  色
Dĩ kỳ trí như thọ tri    以  其  智  如 受  知
Dục kiến đa thiểu ngã hữu    欲 見 多 少 我 有
Bất tùng thị  thiện tịnh  hữu    不 從 是 善 淨 有


Bài kệ 16
Hữu tuệ hành lụy vô hữu    有 慧 行 累 無 有
Tri diệc kiến chánh dĩ thủ    知  亦  見  正  以  取
Kiến vô quá thị pháp hành    見 無 過 是 法 行
Độ thị loạn bất cánh thọ    度 是 亂 不 更 受


Bài kệ 17
Tuệ ý đáo vô sở chí    慧 意 到 無 所 至
Bất kiến kiên thức sở giác    不 見 堅 識 所 覺
Như quan bế chế sở trước    如 關 閉 制 所 著
Đãn hành  quán vô thủ dị    但 行 觀 無 取 異


Bài kệ 18
Tôn đoạn thế sở thọ thủ    尊  斷  世  所  受  取
Thủ dữ sanh bất ưng kiên    取  與  生  不  應  堅
Tĩnh diệc loạn tại quán xả    靜 亦 亂 在 觀 捨
Tại thị ác ai phàm  nhân    在 是 惡 哀 凡 人


Bài kệ 19
Khí cố thành tân  bất tạo    棄  故  成  新  不  造
Vô sở dục  hà sở trước    無  所  欲  何  所  著
Thoát tà tín dũng mãnh độ    脫 邪 信 勇 猛 度
Tất dĩ thoát thế phi thế    悉 已 脫 世 非 世

Bài kệ 20
Nhất thiết pháp vô sở nghi    一  切  法  無  所 疑
Tất kiến văn diệc hà niệm    悉  見  聞  亦  何  念
Xả  trọng đảm tôn chánh thoát    捨 重 擔 尊 正 脫
Bất nguyện quá thường lai kiến    不 願 過 常 來 見

Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản

Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản
(Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 13, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Tuvatake Sutta, Sutta-Nipàta 915-934

Bối Cảnh

Đây là kinh Đâu Lặc Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên: Tại thành Xá Vệ, trên đỉnh núi Lê Sơn, có hai vị quỷ vương tên là Thất Đầu Tướng Quân và Ô Ma Việt Tướng Quân, mỗi vị thống lãnh một phần đất đai. Hai vị cam kết với nhau rằng nếu vị nào khám phá ra được một cái gì có thể gọi là trân quý thì phải báo cho vị kia. Ô Ma Việt phát hiện một bông sen ngàn cánh lớn như bánh xe màu hoàng kim. Cùng với năm trăm thuộc hạ, vị này tới báo tin cho Thất Đầu. Trong khi đó Thất Đầu đã phát hiện ra được sự có mặt của Bụt. Ông ta đọc một bài kệ dài trên sáu mươi câu để ca tụng Bụt rồi mời Ô Ma Việt với thuộc hạ cùng đi với mình tới thăm Bụt. Trong khi gặp gỡ, có một vị Phạm Chí tên là Đâu Lặc còn chưa rõ về giáo lý và sự thực tập của Bụt. Bụt liền nói kinh này.

1. Con xin hỏi bậc thiền giả, bậc thầy tâm linh: Một vị khất sĩ làm sao đạt tới sự lặng lẽ? Làm sao để có được sự mãn nguyện và niềm vui lớn?  Vị ấy học hỏi, tu tập như thế nào để chứng nhập được niết bàn và hoàn toàn không còn nắm bắt gì nữa trong cuộc đời?

2.   Người ấy trước hết phải thấy rằng gốc rễ của mọi ham muốn là tin tưởng vào sự hiện hữu của một cái bản ngã. Từ tri giác sai lầm về bản ngã ấy mà biết bao nhiêu loạn động phát sinh. Nếu trong tâm ái dục đang còn thì bên ngoài còn có nhiều đổ vỡ. Phải luôn luôn thực tập cảnh giác chánh niệm về điều này.


3.   Đừng thấy mình hơn người, thua người hoặc bằng người. Mỗi khi được thiên hạ xưng tụng và khen ngợi, đừng để cho tâm ngạo mạn cống cao phát sinh.

4.   Đừng kẹt vào cái sở tri và cái mình đã học hỏi. Phải quán chiếu cả bên trong lẫn bên ngoài. Cần nỗ lực tinh tiến hành trì. Không nắm bắt gì, và không thấy có gì cần nắm bắt.

5.  Phải làm chủ được mình, phải thực hiện cho được sự bình an nội tâm. Cái bình an ấy không thể tiếp nhận được từ kẻ khác. Do sự thực tập quán chiếu bên trong mà tâm ý yên tĩnh lại được. Cái yên tĩnh ấy không tới từ bên ngoài.

6.   Nên an trú trong hiện tại như an trú trong chiều sâu của biển cả. Ở đó có sự bình an, không hề có sóng gió. Sống tĩnh lặng, tất cả năm uẩn đều được làm cho lắng dịu. Đừng để cho tâm ý và các giác quan bị kích động.

7.   Phải phát tâm cầu mong chứng đạt cho được con mắt của trí tuệ lớn. Tự mình chứng đạt và giúp cho kẻ khác chứng đạt. Phải nuôi dưỡng, chế tác đức từ bi và bao dung. Phải thực tập, quán chiếu và tập trung cho tới mức vững chãi.

8.  Con mắt đừng nhìn láo liêng bên này bên kia. Không ham nói nhiều, không mất thì giờ nghe những câu chuyện đàm tiếu. Không chạy theo vị ngọt của tham dục. Không có nhu yếu làm sở hữu chủ của bất cứ một cái gì trong cuộc đời.

9.  Phải có chánh niệm về những xúc tiếp của cảm quan. Đừng để nẩy sinh ra tâm ý đau buồn. Đừng để nẩy sinh ra tâm ý ham muốn. Đừng để nẩy sinh tâm giận hờn và tâm sợ hãi.

10. Khi được cúng dường thức ăn, thức uống và những vật dụng khác như quần áo, thuốc men… phải tiếp nhận vừa đủ nhu cầu của mình, đừng có tâm chất chứa để dành cho mai sau. Phải biết dừng lại, đừng để cho lòng tham kéo đi.

11. Phải siêng năng thực tập thiền định, ưa ngồi trong rừng cây. Đừng đi vào những nơi đám đông tụ họp, vào chốn hý trường tiêu khiển. Khi ngồi cũng như khi nằm, chọn nơi yên tĩnh và đem hết tâm lực mà hành trì.

12. Đừng ngủ nhiều, phải học hỏi và tu tập cho nghiêm túc. Đừng lơ là, cũng không nên bi quan. Không đánh mất thì giờ trong các cuộc vui rộn ràng. Những gì mà kẻ thế gian ưa chuộng và chạy theo, mình đều buông bỏ.

13. Không thực tập phù phép, bùa chú, đoán mộng. Không bói toán, chấm số tử vi, đoán vận mạng, đoán điềm tốt xấu. Không cầu tự, không làm thầy địa lý, không kết nghĩa với người thế gian.

14. Không mua bán, không tạo lãi. Không hùn vốn để kiếm lợi tức. Gặp gỡ người trong xóm làng, đừng đi theo họ với mục đích mưu cầu lợi dưỡng.

15. Đừng vừa đi vừa nói chuyện. Không được nói lưỡi hai chiều. Suốt một đời tu chỉ nhắm tới sự nghiệp tuệ giác. Hành trì giới luật đừng để sơ suất, kể cả những giới điều nhỏ nhặt.

16. Có ai cật vấn, đừng ngại ngùng. Có ai tôn kính, đừng nói lời đại ngôn. Đừng tham lam, đừng tật đố. Đừng nói lưỡi hai chiều, đừng giận dữ hoặc buồn phiền.

17. Không nói những lời thô, lậu, tà vọng. Đừng làm điều gì có thể gây ra thù oán. Những điều sai quấy đừng bắt chước làm theo. Phải biết hổ thẹn, phải đừng tự hào.

18. Khi nghe những lời thô ác, không dễ thương của những bạn đồng tu hoặc của người thế tục nên giữ im lặng. Đừng tham dự vào. Cũng đừng phản ứng bằng những lời nói tương tự.

19. Đã có cơ duyên gặp được chánh pháp của bậc Như Lai thì phải để hết tâm ý hành trì, đừng ham vui nữa. Nên thực tập hết lòng theo lời Gotama chỉ dạy để đạt tới cái yên tĩnh của niết bàn.

20. Nuôi lớn tuệ giác, chánh pháp không bao giờ lãng quên. Phải tập thấy được chân lý bằng con mắt của chính mình. Vị khất sĩ luôn luôn thực tập theo tuệ giác của đức Như Lai mà không chạy theo những cái hào nhoáng bên ngoài của thế gian nữa.


Đại Ý

Kinh này là một kinh rất quý đối với người xuất gia vì trong kinh Bụt chỉ dạy rất cặn kẽ và rất thiết thực về công phu thực tập hằng ngày của một vị xuất gia chân chính. Mỗi bài thi kệ là một viên ngọc bích. Có cả thảy là hai mươi bài thi kệ. Kinh này đáng để cho tất cả mọi người xuất gia học thuộc lòng. Kinh này đích thực là cẩm nang của người xuất gia.

  • Bài thi kệ thứ nhất là câu hỏi. Tu tập như thế nào để buông bỏ được mọi nắm bắt và thực chứng được niết bàn?
  • Bài thứ hai: Phải thực tập chánh niệm để thực chứng được vô ngã, và do đó mới nhổ được gốc rễ của ái dục.
  • Bài thứ ba: Đã thấy được vô ngã thì ba loại mặc cảm hơn người thua người và bằng người sẽ được tiêu tán.
  • Bài thứ tư: Vượt sở tri chướng, đừng ôm chặt kiến thức mình có.
  • Bài thứ năm: Phải có an mới có lạc. Bình an thật sự đến từ bên trong.
  • Bài thứ sáu: Phải an trú trong hiện tại mới thật sự có bình an. Phải biết cách thực tập chỉ và quán để làm lắng dịu thân và tâm.
  • Bài thứ bảy: Trái tim của sự thực tập là giới, định và tuệ. Tam học chế tác và nuôi dưỡng tình thương.
  • Bài thứ tám: Mắt đừng nhìn láo liêng, miệng đừng ham nói nhiều, không chạy theo vị ngọt của tham dục, đừng tìm cách làm sở hữu chủ của bất cứ một cái gì (như một cái hội hay một cái chùa).
  • Bài thứ chín: Hộ trì sáu căn, đừng để phát sinh tâm hành đau buồn, đam mê và sợ hãi.
  • Bài thứ mười: Tiêu thụ vừa đủ, có chừng mực.
  • Bài thứ mười một: Đừng tìm tới những đám đông, những nơi náo nhiệt.
  • Bài thứ mười hai: Đừng ngủ nhiều, để thì giờ mà học hỏi tu tập. Đừng đánh mất thì giờ trong những cuộc vui rộn ràng.
  • Bài thứ mười ba và mười bốn: Không sống bằng tà mạng.
  • Bài thứ mười lăm: Phải thực tập chánh ngữ, ái ngữ.
  • Bài thứ mười sáu, mười bảy và mười tám: Phải thực tập khiêm cung, tàm quý.
  • Bài thứ mười chín và hai mươi: Phải tiếp cận chân lý bằng kinh nghiệm của mình chứ không nên vay mượn kiến thức của kẻ khác.


Bài kệ 1
Nguyện vấn hiền Thần du viết   願問賢  神  俞曰
Viễn khả tĩnh đại  hỉ túc    遠可靖大喜足
Tùng hà kiến học đắc diệt   從何見學得滅
Tất bất thọ thế sở hữu   悉不受世所有

Bài kệ 2
Bổn thị dục đa hiện ngã     本  是  欲  多  現  我
Tùng nhất ỷ tiện tất loạn     從  一  綺  便  悉  亂
Sở khả hữu nội ái dục        所  可  有  內  愛  欲
Tùng hóa  hoại  thường giác thức    從  化  壞  常  覺  識

Bài kệ 3
Mạc dụng thị tiện tự kiến     莫用是便自見
Bất cập giảm nhược dữ đẳng   不及減若與等
Tuy kiến dự chúng sở xưng      雖見譽眾所稱
Mạc cống cao quyết bỉ trú      莫貢高蹶彼住

Bài kệ 4
Như sở Pháp vi dĩ tri      如所法為已知
Nhược tại nội nhược tại ngoại      若在內若在外
Cường lực tiến sở tại tác     強力進所在作
Vô sở đắc thủ vô hữu    無所得取無有

Bài kệ 5
Thả tự thủ hành cầu diệt   且  自  守  行  求  滅
Học mạc tùng bỉ cầu diệt    學  莫  從  彼  求  滅
Dĩ nội hành ý trước diệt      以  內  行  意  著  滅
Diệc bất nhập tùng hà hữu   亦  不  入  從  何  有

Bài kệ 6
Tại xứ như hải trung ương   在  處  如  海  中  央
Vô triều ba an bình chánh      無  潮  波  安平  正
Nhất thiết chỉ trụ diệc nhĩ    一  切  止  住  亦  爾
Giác mạc tăng thức dữ  ý      覺  莫  增  識  與  意

Bài kệ 7
Nguyện tác Đại Tuệ nhãn thị    願作大慧眼視
Dĩ chứng Pháp phục hiện bỉ     已證法復現彼
Nguyện tác quang nhân thiện  thứ   願作光仁善恕
Chư kiểm thức tùng trí định    諸撿式從致定

Bài kệ 8
Thả  nhiếp nhãn tả hữu trước    且攝眼左右著
Bất thọ ngôn quan bế thính   不受言關閉聽
Giới sở vị  mạc tham trước    戒所味莫貪著
Ngã vô sở thế sở hữu     我無所世所有

Bài kệ 9
Thân sở hữu nhược thô tế    身所有若麤細
Mạc hoàn niệm tác bi tư      莫還念作悲思
Sở khả niệm tiện sanh nguyện     所可念便生願
Hữu lai khủng tuệ mạc úy      有來恐慧莫畏


Bài kệ 10
Sở đắc lương cập ẩm  tương    所得糧及飲漿
Sở đương dụng nhược y bị     所當用若衣被
Thủ túc chỉ mạc lự hậu       取足止莫慮後
Tùng thị chỉ dư mạc tham     從是止餘莫貪

Bài kệ 11
Thường hành định lạc thọ gian   常行定樂樹間
Xả thị lý vô hí phạm    捨是理無戲犯
Nhược tại tọa nhược tại ngọa     若在坐若在臥
Nhàn tĩnh xứ học lực hành     閑靜處學力行

Bài kệ 12
Mạc tự oán quyên thùy ngọa    莫自怨捐睡臥
Tại  học hành thường nghiêm sự   在學行常嚴事
Khí ám hốt cập hí hư  棄晻忽及戲譃
Dục thế hảo tất viễn ly     欲世好悉遠離

Bài kệ 13
Xả binh tạc hiểu giải mộng    捨  兵  鑿  曉  解  夢
Mạc quán túc thiện ác hiện   莫  觀  宿  善  惡  現
Mạc hiện tuệ ư bào thai      莫  現  慧  於  胞  胎
Tất mạc tạc khả thiên thân   悉  莫  鑿  可  天  親

Bài kệ 14
Mạc tạo tác ư mại  mãi    莫造作於賣買
Mạc ư bỉ hành khi lợi    莫於彼行欺利
Mạc tác tham chỉ huyền quốc  莫作貪止縣國
Mạc tùng bỉ cầu dục lợi   莫從彼求欲利

Bài kệ 15
Mạc lạc hành bất thành thuyết   莫樂行不誠說
Tất mạc hành lưỡng diện từ    悉莫行兩面辭
Tận thọ cầu tuệ sở hành   盡壽求慧所行
Cụ trì giới mạc khinh lậu    具持戒莫輕漏

Bài kệ 16
Hoành lai cật mạc khởi khủng   橫來詰莫起恐
Kiến tôn kính mạc đại  ngữ   見尊敬莫大語
Sở tham khí bất khả tật       所貪棄不可嫉
Xả lưỡng thiệt nhuế bi Pháp    捨兩舌恚悲法

Bài kệ 17
Sở dục ngôn học tham trước   所欲言學貪著
Mạc xuất thanh thô tà lậu     莫出聲麤邪漏
Vô tu tàm mạc tùng học     無羞慚莫從學
Sở thí hành mạc thủ oán    所施行莫取怨

Bài kệ 18
Văn thô ác bất thiện thanh     聞麤惡不善聲
Tùng đồng học nhược phàm nhân     從同學若凡人
Thiện quan bế mạc dữ đồng     善關閉莫與同
Tuệ phản ưng bất quá thân         慧反應不過身

Bài kệ 19
Tri Như Lai đế dĩ chánh   知如來諦已正
Bất hí tác trước ý tác     不戲作著意作
Tùng yến tịnh kiến dĩ diệt    從宴淨見已滅
Bất hí nghi Cồ Đàm giáo      不戲疑瞿曇教

Bài kệ 20
Tự trí tuệ bất vong Pháp  自致慧不忘法
Chứng Pháp vô số dĩ kiến  證法無數已見
Thường tùng tuệ Như Lai học 常從慧如來學
Hảo bất trước tùng thị tuệ   好不著從是慧

Kinh Phòng Hộ

Kinh Phòng Hộ
(Tỳ Khưu Ni Liên Hoa Sắc Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 14, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Sàriputta Sutta, Sutta-Nipàta 955-975


Bối Cảnh

Đây là kinh Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni. Tỳ Khưu Ni Liên Hoa Sắc là một sư cô đã tu chứng, đã đắc quả a la hán và đã có thần thông. Khung cảnh dựng lên: Bụt lên cung trời Đao Lợi để thăm mẹ là phu nhân Mahamaya và dạy đạo cho Ngài. Chư thiên nhân dịp này được thừa hưởng sự giáo hóa của Bụt đầy đủ. Bụt ở trên ấy ba tháng. Dưới này thầy Mục Kiền Liên hướng dẫn tứ chúng tu tập. Sau ba tháng, thầy Mục Kiền Liên được tứ chúng khẩn cầu đi mời Bụt về. Bụt về đại chúng đi đón tiếp rất đông đảo. Hai giới trời và người quy tụ lại để được nghe Bụt giảng dạy và hướng dẫn thực tập. Sư cô Liên Hoa Sắc cũng có mặt tại đây. Cùng các vị hiền giả khác, sư cô đọc lên những lời tán thán đức Thế Tôn. Thầy Xá Lợi Phất cũng có dịp tán dương Bụt và sau đó đặt những câu hỏi về những khó khăn và hiểm nguy mà một vị xuất gia có thể gặp phải trên bước đường tu học. Và Bụt đã trả lời bằng kinh này.

1.   Chưa từng thấy ai (sáng rỡ) như Bụt. Chưa từng nghe ai nói lời (tuyệt diệu) như Ngài. Từ cung trời Đao Lợi đi xuống, Đức Thế Tôn là bậc có uy lực tuyệt vời.

2.   Được cả hai cõi thiên và nhân ngưỡng mộ, Ngài là hiện thân của một cái thấy có khả năng soi sáng cho cõi đời đầy tục lụy và tham đắm này. Cái bình an vĩ đại của Ngài không có gì có thể lay chuyển được. Mang niềm vui, một mình Ngài đi giữa cõi thế gian.

3.   Con đã may mắn tìm tới được với Ngài, bậc giác ngộ, bậc vô ưu. Bậc đã lên tới đỉnh cao của sự giác ngộ và đã trở về cõi trần thế để giáo hóa. Ngài là người đã để ra bao nhiêu công phu tâm ý để đạt tới giải thoát. Đã đánh tan được dục vọng, đã thoát ra khỏi được cuộc đời ác trược. Xin Ngài ban cho chúng con một ít những giáo nghĩa tốt đẹp của Ngài.

4, 5.   Nếu một vị khất sĩ quyết tâm từ bỏ cuộc sống trần lụy, can đảm đi tìm tới một chỗ vắng người, dưới một gốc cây, một vùng khoáng dã, nơi rừng sâu, hoặc trong một am thất. Hoặc ở trên núi cao, tìm một chỗ để ngồi và để nghỉ lưng thì vị ấy sẽ có thể gặp những tai nạn hiểm nguy nào? Làm sao để vị ấy đừng có sợ hãi? Làm sao để vị ấy có thể thực tập mà đạt tới chỗ thoát ly sinh tử?

6.   Có bao nhiêu loại tai nạn và hiểm nguy của cuộc đời đang chờ đợi vị ấy? Có những dấu hiệu và âm thanh nào báo cho vị ấy biết những tai nạn và hiểm nguy kia?
Làm sao khi qua lại, khi nghỉ ngơi vị khất sĩ được vắng yên, không bị xáo động bởi những âm thanh vọng tới?

7.   Vị khất sĩ muốn đạt tới an lành cần phải nói gì? Phải làm gì cho đúng?
Phải trì giới như thế nào? Phải thực tập làm sao để đừng nửa chừng đánh mất sự hành trì của mình?

8.   Tu tập như thế nào để giới thân không bị sứt mẻ? Làm sao để khi đi thì đi một mình, không đàn đúm với ai? Làm sao để có ý chí gột sạch được u mê, để tìm cầu tuệ nhãn, giống như một người thợ rèn luyện thép, loại ra được những chất quặng dơ bên trong?

9.   Bụt dạy có năm cái hiểm nguy: ác thú bốn chân, sâu, muỗi, rắn rết và những con người có ý đồ không tốt. Nhưng nếu biết sống có chánh niệm và tinh cần thì vị khất sĩ sẽ không bị những thứ ấy làm hại. Vị ấy phải hết lòng tu tập, quyết tâm đừng chạy theo những cái khả ái.

10. Thấy những người ngoại đạo đừng để tâm tới họ. Đừng xuất hiện, đừng nói nhiều, đừng phô trương hình thức. Nếu biết quán chiếu lý vô ngã một cách sâu sắc thì có thể nhẫn xả được tất cả. Đừng ham tới lui chốn phố xá đông người.

11.  Đau nhức, bệnh tật, đói lạnh, những cái ấy hãy học cách chịu đựng cho quen, đừng sợ hãi chúng. Hãy sử dụng chánh tinh tiến để chống cự lại và để tự bảo hộ mình.

12.  Đừng chạy theo những cái vỏ quyến rũ bên ngoài. Diệt tận gốc những mầm mống của cái ác, đừng cho chúng tiếp tục. Đừng nắm bắt những cái không thể nắm bắt và cả những cái có thể nắm bắt. Đừng vướng mắc vào quá khứ, đừng trông ngóng về tương lai.

13.  Duy trì tâm bồ đề, nuôi lớn thiện tâm. Vượt qua hàng rào thị phi, không bao giờ nói lời thô ác. Nhẫn nhịn được những điều bất như ý. Khi đi cũng như khi ngồi thực tập bốn phép nhẫn nhục để vượt qua nhu yếu than trách.

14.  “Đêm nay ta sẽ ngủ ở đâu? Sáng nay ta sẽ đi khất thực ở xóm nào? Khi trong người có bệnh, làm sao cho hết bệnh, hết đau nhức?” Nếu cả ngày chỉ cứ suy nghĩ về những chuyện như thế thì thật là đáng thương. Phải biết học hỏi cách thức buông bỏ, phải biết hành trì để có thể đạt tới viễn ly.

15.  (Khi được cúng dường thức ăn và y dược), đừng nghĩ tới chuyện ngon hay dở, nhiều hay ít. Phải biết tiếp nhận có điều độ. Phải biết dừng lại khi nên dừng lại. Trong khi bước đi giữa thôn làng nếu nghe tiếng người chửi bới thì hãy giữ im lặng, đừng nói lời thô ác để đáp lại.

16.  Vị khất sĩ bước đi, hai mắt nhìn xuống, không láo liêng. Dùng thì giờ mà thực tập thiền quán, đừng ham ngủ. Quán duyên khởi, làm cho tâm ý an lành. Đình chỉ vọng niệm, đoạn trừ mọi mối nghi ngờ.

17.  Đừng nhận những gì không đáng nhận. Không cho những gì không đáng cho. Phải biết nhìn kẻ khác bằng con mắt từ bi, đừng nạt nộ ai. Nếu có xảy ra chuyện tranh chấp, thì biết đối xử với tâm bình đẳng. Đừng quan trọng hóa chuyện ai đúng ai sai.

18.  Mỗi khi bị chửi mắng, đừng nổi cơn thịnh nộ. Đừng nói nặng lời với các bạn đồng tu. Lời nói dịu dàng sẽ thấm dần vào được như nước. Đừng có ý tìm cách dìm người khác xuống.

19.  Nếu có ai muốn tỏ bày sự cung kính phải thực tập để đừng bị sự tôn kính ấy chạm đến mình. Sắc đẹp, tiếng hay, vị ngọt, hương thơm, cảm xúc dễ chịu, đừng để cho những cái ấy làm tổn hại đến tự thân.

20.  Đối với những cám dỗ, đừng để bị đắm trước. Phải biết điều phục tâm ý mới không bị vướng vào chúng. Vị khất sĩ biết sử dụng giới pháp và thiền quán để đạt tới minh tuệ. Đưa tâm chuyên về một mối để phá cho vỡ được khối vô minh đã được chứa chất từ lâu đời.


Đại Ý

Kinh này bổ túc cho kinh đi trước, nói thêm về Công Phu Thực Tập Căn Bản của người xuất sĩ. Ta thấy rất rõ ràng là thầy Xá Lợi Phất đang đặt những câu hỏi để Bụt trả lời không phải là cho thầy mà cho tất cả các vị khất sĩ đang có mặt trong lúc ấy. Ngay chính những câu hỏi này đã là những lời dạy dỗ của một vị huynh trưởng cho đàn em rồi. Ví dụ những câu hỏi trong các bài thi kệ thứ bảy và thứ tám: vị khất sĩ muốn được an ổn, cần phải nói gì? Không nên nói gì? Phải làm gì cho đúng? Phải trì giới thế nào? Làm sao để đừng bỏ cuộc nửa chừng? Làm thế nào cho giới thân không bị sứt mẻ? Làm sao để mỗi khi bước đi thì đi một mình, đừng đàn đúm với ai? Làm thế nào để loại trừ các chất độc phiền não nội tâm?

Những câu trả lời của Bụt rất thiết thực. Cố nhiên các loài dã thú bốn chân, rắn, rết, sâu, muỗi v.v... có thể làm hại mình, nhưng nếu có chánh niệm thì mình sẽ không bị những thứ ấy làm hại. Nhưng còn một hiểm nguy khác: đó là loài người hai chân. Có những người có ý đồ không tốt, họ không muốn cho mình tu học. Lại có những người cũng ở trong giới tu tập nhưng vì ganh tỵ, vì sợ hãi cũng muốn loại trừ mình. Đối với những tai nạn do giới “hai chân” này gây ra, thì cách thức hay nhất là đừng tranh dành với họ, “Đừng xuất hiện, đừng nói nhiều, đừng phô trương hình thức. Đừng ham tới lui chốn phố xá đông người.” Đó là lời dặn dò của Bụt trong bài thi kệ thứ mười.

Đã đi xuất gia thì đừng lo lắng về chuyện tối nay ngủ ở đâu, sáng mai ăn ở đâu, khi có bệnh thì ai săn sóc cho mình, khi đói lạnh thì ai lo lắng cho mình. Nếu nương vào Tăng thân và hết lòng tu tập thì mọi việc sẽ được sắp xếp, mình không cần lo lắng về những thứ ấy.

Đừng nắm bắt những cái không thể nắm bắt và ngay cả những thứ có thể nắm bắt. Đừng tiếc thương quá khứ, đừng trông ngóng tương lai. Đừng chạy theo cái vỏ hào nhoáng bên ngoài. Nội lời nhắn nhủ này trong bài thi kệ thứ mười hai cũng đã làm kim chỉ nam cho sự thực tập suốt đời của một vị khất sĩ.

Bài kệ thứ mười lăm dặn ta tiêu thụ cho có chừng mực. Phải biết dừng lại khi cần dừng lại. Gặp người chửi bới thì giữ im lặng đừng đáp lại. Như vậy sẽ có an ninh.

Bài kệ thứ mười sáu dặn vị khất sĩ khi bước đi hai mắt phải nhìn xuống, đừng láo liêng.

Bài kệ thứ bảy dạy về cách cho và cách nhận. Chỉ nhận những gì đáng nhận, cho những gì đáng cho. Phải đối xử bình đẳng, không thiên vị. Phải tập nhìn bằng mắt từ bi. Từ nhãn thị chúng sanh.

Bài kệ thứ mười chín dạy ta thực tập khiêm cung đừng để sự cung kính của người khác làm hại đến pháp thân của mình. Phải phòng hộ sáu căn, đừng để sắc đẹp, tiếng hay, vị ngọt, hương thơm, lạc xúc và tiếng khen kéo mình đi về nẻo hưởng thụ.

Cuối cùng bài kệ thứ hai mươi nhắc ta phải thực tập thiền quán để đạt tới minh tuệ, phá vỡ vô minh.


Bài kệ 1
Vị thường kiến hữu thị giả      未嘗見有是者
Vị thường văn hữu thuyết giả     未嘗聞有說者
Tôn như thị uy thần Thiên          尊如是威神天
Tùng đâu thuật lai chí thị         從兜術來至是

Bài kệ 2
Thiên Nhân thế tất ủng hộ        天人世悉擁護
Trọng ái tục như thân nhãn     重愛俗如身眼
Nhất thiết an bất vi chuyển        一切安不為轉
Lạc độc hành trước trung ương    樂獨行著中央

Bài kệ 3
Vô ưu giác ngã thiện hành       無憂覺我善行
Đáo thượng giáo phục hoàn thế    到上教復還世
Nhiêu tâm giải hoại dục thân      饒心解壞欲身
Ác hành xuất hữu thiện nghĩa       惡行出有善義

Bài kệ 4
Nhược Tỳ-kheo hữu yểm tâm     若比丘有厭心
Hành hữu bại  hữu không sanh      行有敗有空  生
Tại thụ hạ nhược khoáng dã      在樹下若曠野
Tại thâm sơn vu thất trung       在深山于室中

Bài kệ 5
Nhược cao xứ hạ sàng ngọa     若高處下床臥
Lai  khủng bố phàm kỷ bối     來恐怖凡幾輩
Hành hà tùng chí  bất úy     行何從志不畏
Hoặc cửu hậu sở hành xứ     或久後所行處

Bài kệ 6
Thế kỷ bối bỉ lai thanh    世幾輩彼來聲
Nhược vãng lai tại phương diện      若往來在方面
Tỳ-kheo xứ bất trước ý      比丘處不著意
Sở chỉ xứ  tịch vô hướng      所止處寂無嚮

Bài kệ 7
Khẩu dĩ xuất thiện ác hưởng     口已出善惡響
Tại  hành xứ đương hà tác   在行處當何作
Trì giới trú hành bất xả       持戒住行不捨
Tỳ-kheo học cầu an tường      比丘學求安祥

Bài kệ 8
Vân hà học giới bất lậu     云何學戒不漏
Độc tại hành thường vô bạn     獨在行常無伴
Dục tẩy minh  cầu  minh  mục    欲洗冥求明  目
Dục  cổ  mân xuy nội cấu     欲鼓岷吹內垢

Bài kệ 9
Ngũ khủng bố tuệ bất úy     五恐怖慧不畏
Chí tâm  học viễn khả dục    至心學遠可欲
Cần trách mãnh diệc thuế trùng    勤蚱蜢亦蛻蟲
Nhân ác thanh tứ túc thú   人惡聲四足獸

Bài kệ 10
Phi thân Pháp ý mạc thức    非身法意莫識
Vô sắc thanh  quang vô hình    無色聲光無形
Tất phi ngã tất nhẫn xả   悉非我悉忍捨
Mạc văn thiện tham phụ huyền   莫  聞善貪婦縣

Bài kệ 11
Sở bị thống bất khả thân    所被痛不可身
Khủng nhược các tất thọ hành     恐若各悉受行
Thị  tào khổ thống nan nhẫn     是曹苦痛難忍
Dĩ tinh tấn tác cự  hãn    以精進作拒扞


Bài kệ 12
Nguyện ỷ tưởng niệm mạc tùy    願綺想念莫隨
Quật ác tài căn bạt chỉ    掘惡栽根拔止
Trước ái khả nhược bất khả     著愛可若不可
Hữu dĩ quá hậu mạc vọng     有已過後莫望

Bài kệ 13
Tồn hiệt tưởng thục thành thiện     存  黠  想  熟  成  善
Việt thị khứ tị thô thanh    越  是  去  避  麤  聲
Nhẫn bất lạc tọa tại hành   忍  不  樂  坐  在  行
Tứ khả nhẫn ai bi pháp   四  可  忍  哀  悲  法

Bài kệ 14
Thường hà chỉ  tại hà thực    常何止在何食
Khủng hữu thống vân hà chỉ      恐有痛云何止
Hữu thị tưởng thậm khả bi      有是想甚可悲
Học tạo khí hành viễn khả      學造棄行遠可

Bài kệ 15
Hữu vị hữu khổ lạc khổ   有未有苦樂苦
Tri kỳ độ thủ  khả chỉ        知其度取可止
Văn quan bế huyền quốc hành   聞關閉縣國行
Thô ác thanh ưng mạc nguyện     麤惡聲應莫願

Bài kệ 16
Cử  nhãn nhân mạc vọng chiêm      舉眼人莫妄瞻
Dữ thiền hội đa mạc ngọa      與禪會多莫臥
Quán nhân duyên ý an tường    觀因緣意安祥
Chỉ an niệm nghi tưởng đoạn     止安念疑想斷

Bài kệ 17
Thủ  mạc tà dữ vô khi  取莫邪與無欺
Từ ai thị  mạc khủng khí       慈哀視莫恐氣
Như đối kiến đẳng tâm hành      如對見等心行
Minh vô minh tùng cầu  tiên    冥無明從求鮮

Bài kệ 18
Bị ác ngữ mạc tăng ý   被惡語莫增意
Cố oán ngữ ư đồng học     故怨語於同  學
Phóng thanh ngôn nhu nhược thủy     放聲言濡若水
Quý tàm pháp thức mạc tưởng      媿慚法識莫想

Bài kệ 19
Nhược vi bỉ kiến tôn  kính     若為彼見尊敬
Hữu  hành ý ly mạc thọ      有行意離莫受
Nhược sắc thanh nhược hảo vị   若色聲若好味
Hương tế hoạt thị dục quyên    香細滑是欲捐

Bài kệ 20
Ư thị pháp mạc tiết trước    於是法莫媟著
Học chế ý thiện khả thoát    學制意善可脫
Giới biến quán đẳng minh pháp  戒遍觀等明法
Hành hữu nhất cựu khí minh      行有一舊棄冥

Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt

Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt

(Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 15, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Puràbheda Sutta, Sutta-Nipàta 848-861

Bối Cảnh

Đây là kinh Phụ Tử Cọng Hội. Phụ Tử Cọng Hội nghĩa là cha con gặp nhau. Khung cảnh dựng lên: Thái tử Tất Đạt Đa thuộc bộ tộc Thích Ca sau khi thành đạo, dựng lên Tăng đoàn, đã về thăm gia đình và có dịp giáo hóa cho hoàng gia cũng như cho dân chúng trong nước Ca Tỳ La. Bụt độ được cho vua Tịnh Phạn. Vua Tịnh Phạn tỏ thái độ rất cung kính đối với Bụt. Dân chúng lấy làm ngạc nhiên tại sao vua cha lại phải cung kính đứa con mình đến mức ấy. Vua mới nói cho mọi người biết nhân cách vĩ đại của con mình, ngay từ khi còn bé. Giới phụ nữ thuộc dòng họ Thích Ca tới quy y học đạo rất đông. Sau khi mọi người tiếp nhận giới pháp, Bụt dạy kinh này.

1. Đã tiếp nhận đầy đủ giới pháp, chúng con phải nhận diện như thế nào và phải nói như thế nào cho đúng về bậc có chánh kiến, bậc đã được sinh ra như một vị anh hùng trên thế gian, bậc đã vượt thoát mọi ràng buộc khổ nạn? Xin đức Gotam chỉ dạy.

2. Đó là người đã buông bỏ được mọi hiềm hận về quá khứ, mọi thắc mắc lo âu về tương lai. Trong giây phút hiện tại, người ấy cũng không bị hệ lụy vào bất cứ gì, cũng không bị kẹt vào hư danh và sự tôn kính của kẻ khác.

3. Không tham đắm vào tương lai, không ưu sầu về quá khứ, người ấy trên đường mình đi đã buông bỏ mọi tham cầu, mọi tà kiến, không giữ lại một tư kiến nào.

4. Đã buông bỏ mọi sợ hãi, đã trở nên vững chãi, nuôi dưỡng được chánh tín, người ấy diệt trừ được mọi nghi nan, không tật đố, lòng hoan hỷ với những gì đang có và yêu nếp sống thảnh thơi.

5. Có khả năng tiết chế, không tham vọng, có nhiều tuệ giác, không ganh ghét ai, không nói xấu ai, không trau chuốt bên ngoài, không nói lưỡi hai chiều, người ấy buông bỏ mọi hý luận và nghi ngờ.

6. Tâm ý giải thoát, không đắm trước, lìa tư kiến, không thêu dệt hư vọng, bước đi an tường, người ấy có khả năng giải tỏa được mọi tranh chấp, không bị dục kéo đi, và đoạn trừ được mọi dục tưởng.

7. Không mưu toan để đạt tới một cái gì mình muốn, cũng không lo lắng khi mình không có cái kia, người ấy không oán giận, không bị vị ngọt của ái dục sai sử.

8. Không tự cao, thấy được tự tánh bình đẳng và vô ngã, không có mặc cảm thua người hay bằng người, biết quán chiếu, biết đình chỉ tâm ý, người ấy thấy được cái gì là thiện cái gì là ác và buông bỏ được những vọng cầu về tương lai.

9. Không kẹt vào cái đang xảy ra, không bị cột chân lại bất cứ ở đâu, người ấy biết quán chiếu, nhìn thẳng vào các pháp và không còn bị vướng mắc vào gì nữa. Dù trong cõi dục, cõi sắc hay cõi vô sắc cũng thế, người ấy luôn luôn sử dụng thông tuệ của mình, do đó không có gì mà không vượt thoát được.

10. Ái đã diệt, tâm đã tĩnh, người ấy đã vượt qua những cơn lũ lụt sầu khổ để tới bến bờ vô ưu, không còn theo đuổi tìm cầu lạc thú gì nữa trong ba cõi. Đã cởi trói, đã buông bỏ tất cả, người ấy không còn có gì để gọi là sở đắc.

11. Không cần con trai, không cần ruộng đất, không cần trâu bò, không cần của cải, người ấy không còn gì để nắm bắt hoặc để đuổi xua.

12. Dù bị đám đông công kích, phỉ báng, xúc phạm, dù có bị các vị phạm chí và sa môn chê bai, người ấy vẫn ngồi yên bất động, vẫn cứ đường mình mình đi.

13. Không tật đố, không xan tham, dù có được thế gian tôn kính người ấy cũng không bị vướng mắc. Người ấy không tự tôn, không tự ti, không đòi bằng người, cái gì đúng pháp thì làm, phi pháp thì bỏ.

14. Thấy được tự tính không, đạt tới vô cầu, vô đắc, không còn vui cái vui phàm tục của thế gian, tâm ý đã thực sự dừng lại, vị mâu ni vượt thoát thời gian, đạt tới bản môn, đi vào kiếp ngoại.

Đại Ý

Kinh này nói về một con người xuất gia lý tưởng. Đây là một vị mâu ni, một người thành đạt trên con đường tâm linh và trở thành một bậc thầy, một người gương mẫu cho tất cả những ai muốn sống một cuộc đời xuất trần thượng sĩ. Mâu Ni có nghĩa là người tĩnh lặng (tịch mịch), người đã đạt tới bình an, không còn nắm bắt, không còn trông ngóng, hoàn toàn thảnh thơi, không có nhu yếu phô trương.

  • Bài kệ đầu là câu hỏi về hạnh đức của một vị mâu ni.
  • Bài kệ thứ hai: Người ấy không bị kẹt vào hư danh.
  • Bài kệ thứ ba: Người ấy đã buông bỏ được mọi tham cầu.
  • Bài kệ thứ tư: Người ấy biết sống tri túc, hạnh phúc, không còn sợ hãi, không còn tật đố; có khả năng sống thảnh thơi.
  • Bài kệ thứ năm: Người ấy đã hết nghi ngờ, không còn nhu yếu lý luận.
  • Bài kệ thứ sáu: Người ấy tâm ý giải thoát, không còn kẹt vào tư kiến, không bị ái dục lôi kéo.
  • Bài kệ thứ bảy: Không còn trông cầu mong ước.
  • Bài kệ thứ tám: Nắm vững được chỉ và quán, thấy được bình đẳng và vô ngã. Không còn mặc cảm.
  • Bài kệ thứ chín: Không bị vướng vào hiện tại, không bị kẹt vào trong tam giới.
  • Bài kệ thứ mười: Đạt tới chỗ vô ưu, giải thoát, viễn ly.
  • Bài kệ thứ mười một: Không có nhu yếu làm sở hữu chủ của bất cứ một cơ sở nào, dù là chùa hay tu viện.
  • Bài kệ thứ mười hai: Bất động trước mọi công kích và phỉ báng.
  • Bài kệ thứ mười ba: Không bị sự cung kính của thế gian làm lay chuyển tâm ý.
  • Bài kệ thứ mười bốn: Thấy được tự tính không, đã thực sự dừng lại, đã đạt tới vô đắc, đã vượt thoát thời gian, đi vào kiếp ngoại.


Bài kệ 1
Hữu giới cụ đương hà kiến                         有  戒  具  當  何  見
Vân thuyết ngôn tùng ấm khổ                      云  說  言  從  陰  苦
Nguyện Cồ Đàm giải thuyết thử                 願  瞿  曇  解  說  此
Vấn chánh ý thế hùng sanh                           問  正  意  世  雄  生

Bài kệ 2
Tiên dĩ hành khí trọng nhuế                         先  已  行  棄  重  恚
Diệc bất trước hậu lai nguyện                       亦  不  著  後  來  願
Lai hiện tại diệc bất thủ                                  來  現  在  亦  不  取
Diệc bất thọ tôn kính không                            亦  不  受  尊  敬  空

Bài kệ 3
Vị lai tưởng bất trước ái                                    未  來  想  不  著  愛
Cửu viễn tưởng diệc bất ưu                              久  遠  想  亦  不  憂
Hành viễn khả xả tế nhuyễn                             行  遠  可  捨  細  軟
Tà kiến tận thiểu vô hữu                                    邪  見  盡  少  無  有

Bài kệ 4
Dĩ khứ khủng vô úy bố                                      已  去  恐  無  畏  怖
Bất khả động tín vô nghi                                   不  可  動  信  無  疑
Vô tật tâm lạc bỉ dữ                                            無  嫉  心  樂  彼  與
Hành như thị ái tôn mạng                                 行  如  是  愛  尊  命

Bài kệ 5
Năng tự thủ bất đa vọng                                    能  自  守  不  多  望
Tự đa đắc tuệ vô tật                                          自  多  得  慧  無  嫉
Bất ác xú bất mô dã                                           不  惡   醜  不嫫  冶
Bất lưỡng thiệt xả hí nghi                              不  兩  舌  捨  戲   疑

Bài kệ 6
Ý tất thoát vô sở trước                                    意  悉  脫  無  所  著
Khí tự kiến vô ỷ vọng                                    棄  自  見  無  綺  妄
An tường hành năng giải đối                        安  庠  行  能  解  對
Diệc bất dục đoạn dục tưởng                         亦  不欲  斷  欲  想

Bài kệ 7
Bất học cầu sở lạc dục                                      不  學   求  所  樂  欲
Tất vô hữu diệc bất ưu                                   悉  無  有  亦  不  憂
Vô oán nhuế xả ái dục                                    無  怨  恚  捨  愛  欲
Bất vi vị sở khả sử                                           不  為  味  所  可  使

Bài kệ 8
Bất tự cao ngã vô đẳng                                   不自  高  我  無  等
Đắc đối hủy hoành thủ kính                          得  對毀  橫  取  敬
Đương hành quán chỉ ý niệm                           當  行  觀  止  意  念
Kiến thiện ác phi thứ vọng                                見  善  惡  非  次  望

Bài kệ 9
Khứ sở tại vô sở chỉ                                            去  所  在  無  所  止
Quán hướng pháp đương hà trước                  觀  向  法  當  何  著
Dục sắc không diệc vô sắc                                  欲  色  空  亦  無  色
Tùng hiệt kế bất dục thoát                                 從  黠  計  不  欲  脫


Bài kệ 10
Ái dĩ diệt nãi dĩ tức                                             愛  已  滅  乃  已  息
Tam giới không vô lạc ý                                    三  界  空  無  樂  意
Tất giải ly hà tùng đắc                                        悉  解  離  何  從  得
Đa tùng hải độ vô ưu                                          多  從  海  度  無  憂

Bài kệ 11
Bất nguyện sinh kiến hữu tử                             不  願  生  見  有  子
Liệt địa hành nguyện bảo tăng                         列  地  行  願  寶  增
Lai bất sinh khứ bất đáo                                    來  不  生  去  不  到
Dục hà sách tùng hà đắc                                     欲  何  索  從  何  得

Bài kệ 12
Tất vô năng thuyết đáo xứ                             悉  無  能  說  到  處
Chúng học sa môn du tâm                             眾  學  沙  門  遊  心
Tất lệnh cầu sở tại xứ                                      悉  令  求  所  在  處
Như xúc mạo tri như khứ                              如  觸  冒  知  如  去

Bài kệ 13
Diệc bất tật diệc vô tham                               亦  不  嫉  亦  無  貪
Tuy tại cao tôn bất lạc                                     雖  在  高  尊  不  樂
Bất lạc trung hạ bất lạc                                   不  樂  中  下  不  樂
Tùng pháp sinh phi pháp xả                          從  法  生  非  法  捨

Bài kệ 14
Thị tất không diệc vô hữu                             是  悉  空  亦  無  有
Tùng bất đắc diệc bất cầu                               從  不  得  亦  不  求
Mạc dục thế tà lạc nhân                                  莫  欲  世  邪  樂  人
Ý dĩ chỉ tiện đáo tận                                        意  已  止  便  到  盡

Kinh Chuyển Hóa Bạo Động và Sợ Hãi

Kinh Chuyển Hóa Bạo Động và Sợ Hãi

(Duy Lâu Lạc Vương Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 16, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Attadanda Sutta, Sutta-Nipàta 935-954

Bối Cảnh

Đây là kinh Duy Lâu Lặc Vương. Duy Lâu Lặc Vương là tên của vua Tỳ Lưu Ly (Virudhaka), người kế vị vua Ba Tư Nặc. Khung cảnh dựng lên: Vua Tỳ Lưu Ly đem quân đánh Ca Tỳ La Vệ và tàn sát dòng họ Thích Ca vì hận thù. Ngày xưa vua Ba Tư Nặc đã rước một tỳ nữ xinh đẹp của vua Mahanam, người kế vị vua Tịnh Phạn, về làm cung phi. Vị này thuộc giai cấp thấp của xã hội. Hồi còn trẻ, Thái tử Tỳ Lưu Ly đã được gửi qua Ca Tỳ La để học về nghệ thuật bắn cung. Lúc ấy dòng họ Thích mới xây dựng được một hội trường rất đẹp để mỗi lần Bụt tới thì đón tiếp và giảng dạy ở đấy. Luật lệ đặt ra là Bụt và chư vị xuất sĩ được rước vào trước, sau đó mới tới giới chức chính quyền và các tầng lớp dân chúng. Tỳ Lưu Ly tự ý đi vào đấy với các bạn và không tôn trọng luật lệ kia. Sau khi Tỳ Lưu Ly về nước, dân chúng làm lễ tẩy tịnh hội trường cho hội trường thanh tịnh trở lại, vì nghĩ rằng Tỳ Lưu Ly, dòng dõi của một nữ tỳ, đã làm ô uế chỗ linh thiêng. Sau này Tỳ Lưu Ly biết được chuyện ấy, rất căm phẫn, nuôi ý một ngày đem quân tới trả thù.

Cuộc tàn sát đẫm máu của Vua Tỳ Lưu Ly đã gây bao nhiêu tang tóc và thảm thương. Bụt đã tìm mọi cách để ngăn cản nhưng cuối cùng cũng không ngăn cản được. Bụt nói kinh này về hận thù, bạo động và sợ hãi.

1. Hãy lắng nghe và quán sát để thấy tại sao mà từ trạng thái an lành người ta đã đưa xã hội tới tình trạng đầy khủng bố bạo động như hiện nay? Các thế hệ vừa qua đã hành xử như thế nào để tình trạng trở thành như thế? Tôi muốn nói với các vị về chuyện đau thương này và kể cho quý vị nghe làm thế nào mà tôi đã buông bỏ được tâm trạng sợ hãi của tôi.

2. Người đời trải nghiệm từ cái khổ này đến cái khổ khác, như con cá sống trong một nơi mà ở đó càng ngày nước càng khô cạn. Trong hoàn cảnh khổ đau, ý tưởng bạo động dễ nẩy sinh và con người vì u mê cứ đi tìm sự bớt khổ bằng những phương tiện khủng bố và trừng phạt.

3. Cả thế giới đều đang bốc cháy vì bạo lực, mười phương loạn lạc cả mười phương, không có nơi nào thực sự còn an ổn. Ai cũng cho mình là hơn người, ít ai biết buông bỏ cái đam mê của mình. Vì không thấy được sự thực ấy, cho nên con người cứ ấp ủ mãi cái tri giác sai lầm của mình.

4. Tự trói buộc mình bằng những tri giác sai lầm ấy, người ta chỉ đem lại thêm cho mình nhiều tối tăm và thống khổ. Tôi đã nhìn sâu vào trong tâm ý của những người không có hạnh phúc và tôi đã thấy một mũi dao nhọn được che giấu dưới những niềm thống khổ của họ. Vì chính họ không trông thấy mũi dao nhọn ấy trong tâm, cho nên họ khó có khả năng chịu đựng được niềm đau.

5. Cái niềm đau gây ra do mũi dao nhọn ấy kéo dài, không thay đổi, và vì cứ tiếp tục ôm lấy mũi dao nhọn ấy mà đi cho nên họ đã làm cho niềm đau trong họ tràn ngập thế giới. Chỉ khi nào có cơ hội nhận diện được nó và lấy nó ra khỏi trái tim thì khổ đau mới không còn và mình mới có cơ hội dừng lại.

6. Trong số những hệ lụy của cuộc đời, mình đừng để cho tự thân vương vấn vào bất cứ một hệ lụy nào. Những gốc rễ của tà loạn phải biết cắt đứt. Phải buông bỏ đừng nương vào chúng nữa. Nếu buông bỏ được tà dục thì ta có thể vượt qua mọi khổ nạn. Kẻ hành giả phải vượt ra khỏi cái vòng khổ nạn thì mới thành tựu được sự nghiệp giải thoát cho chính mình.

7. Kẻ hành giả chân chính phải có tâm dạ chí thành, đừng tự hành động dựa trên vọng tưởng, cứ đường thẳng mà đi, không nói lưỡi hai chiều. Phải biết cách dập tắt ngọn lửa của sự hờn giận, phải biết cách làm tan vỡ khối tham vọng của mình. Nếu biết cởi bỏ được những ràng buộc của phiền não thì mình có thể bắt đầu thấy được bến bờ giải thoát.

8. Nên buông bỏ sự tự hào, đừng ham ngủ, đừng để chìm vào trạng thái hôn trầm. Biết sống và làm việc cho có chừng mực, đừng đánh mất mình trong đám đông. Đừng vướng vào những cái bề ngoài hào nhoáng. Phải biết từ khước chúng. Phải quán chiếu thường xuyên tự tánh không của vạn pháp để đạt tới Niết Bàn tĩnh lặng.

9. Đừng nhục mạ ai, cũng đừng để mình bị níu kéo và vướng mắc vào những hình sắc dối gạt bên ngoài. Đừng dấn mình trong những cuộc vui mà quên đi mục đích của sự hành trì là giải cứu khổ nạn.

10. Những gì thuộc về quá khứ, đừng nghĩ tới chúng nữa. Những gì thuộc về tương lai, đừng vọng tưởng đến chúng. Những gì đang xảy ra trong hiện tại phải được nhận diện để đừng bị vương vấn vào. Cứ như thế thênh thang bước một mình khắp năm châu bốn biển mà không còn bị ai ganh ghét.

11. Tôi nói rằng tham dục là mãnh lực gây ra tàn hại nhiều nhất. Đó là cơn lũ lụt làm tràn ngập cả thế gian. Thấy được điều đó thì mới chế phục được mọi nghi ngờ. Cần để tâm quán chiếu về lý duyên khởi. Phải thấy được rằng nếu không thoát ra được cái ô nhiễm của tham dục thì ta khó mà chấm dứt được khổ đau.

12. Trong đám đông, số người có năng lực buông bỏ tham dục rất ít, thời đại nào cũng thế. Nhưng một khi đã buông bỏ được rồi thì kẻ hành giả lại không cảm thấy mất mát gì, cũng không có nhu yếu di chuyển tới một nơi nào khác: cơn lũ lụt kia tự nó sẽ cáo chung và không có gì còn ràng buộc được ta nữa.

13. Nương vào sức mạnh của tuệ giác làm cỗ xe, vị mâu ni vượt tới bờ bên kia. Nhờ có tuệ giác, vị ấy không còn lo lắng và thấy mình đang được bảo hộ. Sinh tử, tai ách và sự ganh ghét không còn xâm phạm tới vị ấy được. Do sức mạnh của tinh tiến, vị ấy đạt được bình an thật sự.

14. Đã xa lìa được (tham dục) thì khổ đau không còn tồn tại, người hành giả quán chiếu về tự tánh không của vạn pháp, không còn vướng bận vào bất cứ một pháp nào. Đã trực tiếp thấy được con đường lớn đưa tới an bình rồi, người ấy không còn vướng vào bất cứ một quan điểm nào của thế gian nữa.

15. Khi hành giả không còn chấp rằng thân này là mình, thấy được tính cách không thể nắm bắt và không thật sự tồn tại của một cái ngã thì vị ấy không còn gì để lo lắng nữa.

16. Khi gốc rễ của si mê đã được nhổ lên và khi những cây non của si mê mới mọc lên cũng đã bị nhổ sạch không còn có cơ hội lớn lên, thì trong hoàn cảnh hiện tại, người hành giả không còn nắm bắt một cái gì nữa và không còn có nhu yếu phân biệt ai là đồng minh ai là kẻ thù.

17. Khi đã không còn bị kẹt vào các khái niệm tâm và vật (như những gì tồn tại ngoài nhau), khi đã không còn bị kẹt vào các ý niệm, khi đã không thấy có gì có thể nắm bắt, khi đã thấy được rằng không gian và vật thể là không, thì không có gì trong thế gian còn có thể làm cho vị ấy oán than buồn giận nữa.

18. Đã vượt được hoàn toàn cái ý niệm về tất cả trong đó có ý niệm về vật thể thì trong tất cả các pháp hành, không pháp nào mà mình không đạt được. Đã được học hỏi, thực tập và thuyết giảng thông thạo được giáo lý vô dục thì dù có bị bất cứ ai đến chất vấn, vị ấy cũng không còn cảm thấy e ngại trong việc ứng đối.

19. Đã đạt được tuệ giác rồi, vị ấy không cần lệ thuộc vào ai nữa cả. Vì không còn mong cầu gì nữa và cũng không còn ghét bỏ gì nữa cho nên vị ấy đạt được sự bình an trong tâm hồn và thực chứng được Niết Bàn tịch tĩnh.

20. Nhìn xuống không thấy hãnh diện, nhìn lên không thấy sợ hãi, vị Mâu ni an trú nơi tự tính bình đẳng, không còn bị vướng vào một kiến chấp nào. Bấy giờ tất cả mọi tranh chấp đều đã được ngưng lại, oán thù và tật đố không còn có mặt, vị ấy tuy đứng trên tuệ giác mà chẳng thấy mảy may tự hào.

Đại Ý

Kinh này cung cấp những câu trả lời thiết thực cho tình trạng thế giới hiện tại, đầy hận thù, bạo động, sợ hãi và khủng bố. Kinh này rất có tính cách hiện đại. Chúng ta sống trong một thời đại có quá nhiều bạo lực và hận thù, không gian thảnh thơi an lành càng ngày càng bị thu hẹp, giống như tình trạng của một con cá càng lúc càng thiếu nước. Đó là hình ảnh đưa ra trong bài thi kệ thứ hai. Bụt đã nói kinh này từ kinh nghiệm bản thân của Ngài. Ngài nói ra sự thật muôn đời mà bây giờ ai cũng thấy: trong hoàn cảnh khổ đau bức xúc, ý tưởng bạo động dễ nẩy sinh, và con người u mê cứ đi tìm sự bớt khổ bằng những phương tiện khủng bố trừng phạt.

“Cả thế giới đang bốc cháy vì bạo lực, mười phương loạn lạc cả mười phương, không có nơi nào thực sự còn an ổn.” Bài kệ thứ ba nói tới hận thù, đam mê và vô minh như những yếu tố căn bản làm phát sinh bạo động.

Cái ham muốn và cái sợ hãi đi đôi với nhau. Ngay từ lúc lọt lòng mẹ ta đã có sự sợ hãi về cái ham muốn ấy: sợ chết, sợ bỏ rơi, sợ không ai chăm sóc, và ham sống, ham có người để nương tựa, ham có đủ những phương tiện để sống còn, để khỏi chết. Tất cả những ham muốn và sợ hãi sau này đều đã phát sinh trên cái ham muốn và sợ hãi nguyên thủy ấy. Tham vọng, hận thù và sợ hãi là con dao nhọn trong tâm người. Chừng nào chưa lấy được con dao nhọn ấy ra thì chừng đó con người còn lo sợ, còn khổ đau và làm cho thế giới tràn ngập khổ đau. Hình ảnh lưỡi dao nhọn trong trái tim cất giấu dưới những lớp khổ đau và tham vọng là hình ảnh nổi bật nhất trong kinh. Hình ảnh ấy nằm ở bài thi kệ thứ tư và thứ năm.

Các bài thi kệ thứ tám và thứ chín nhấn mạnh về sự thực tập đừng lên án ai, đừng nhục mạ ai và khi bị lên án hay nhục mạ thì phải quán chiếu để đừng bị tổn thương. Bị tổn thương thì lập tức con dao nhọn sẽ phát sinh trong tâm, đưa đến hành động hận thù và trách phạt.

Muốn lấy con dao nhọn trong tâm ra, ta phải thực tập nhìn sâu. Bài thi kệ thứ mười lăm nói đến tuệ giác vô ngã như yếu tố căn bản đưa tới buông bỏ lo lắng và hận thù: Tri giác sai lầm (vô minh) là gốc rễ của mọi hiềm hận. Chứng được vô ngã thì buông bỏ được mọi mặc cảm, mọi tư kiến, do đó mọi hiềm hận sẽ bị tiêu tan. Những kẻ khủng bố không sợ chết, sẵn sàng chết là vì hai lý do: thứ nhất là họ cho họ có chân lý, và chết vì chân lý là một cái chết đẹp, thứ hai là họ rất muốn trừng phạt những kẻ đã kỳ thị họ, đã xem thường họ, những kẻ này đã làm tổn thương tự ái của họ. Buông bỏ tư kiến và tự hào là sự thực tập căn bản của kinh này, giúp ta lấy đi con dao nhọn trong trái tim ta.

Tự độ xong rồi, mình mới có thể giúp được kẻ khác. Sau khi mình đã lấy được con dao nhọn trong trái tim của mình ra rồi thì mình mới có khả năng giúp kẻ khác làm như thế. Có tuệ giác, có tình thương ta mới làm được việc này. Mà khi ta đã có tuệ giác và tình thương, ta sẽ áp dụng các pháp môn ái ngữ và lắng nghe để giúp cho kẻ kia điều chỉnh những tri giác sai lầm trong họ, để họ hết bị tổn thương và tự ái, để họ không còn ý chí muốn trừng phạt, để họ lấy ra được con dao nhọn trong tâm của họ. Diệt trừ khủng bố ta không thể sử dụng đe dọa, trừng phạt và bạo động. Còn sử dụng những phương tiện ấy thì ta còn làm cho hận thù và bạo động tăng trưởng, và thế giới càng ngày càng trở nên khó sống như con cá càng ngày càng thiếu nước. Chỉ với các phương tiện ái ngữ và lắng nghe bằng tâm từ bi ta mới có thể giải trừ hận thù và bạo động.

Kinh này là một pháp bảo vô giá cần được phổ biến và đem ra thực tập trong môi trường gia đình, học đường, sở làm và trên lĩnh vực ngoại giao quốc tế.


Bài kệ 1
Tùng vô ai trí khủng bố   從  無  哀  致  恐  怖
Nhân thế thế tùng hiệt thính   人  世  世  從  黠  聽
Kim dục thuyết nghĩa khả thương   今  欲  說  義  可  傷
Ngã sở tùng xả uý bố    我  所  從  捨  畏  怖

Bài kệ 2
Triển chuyển khổ giai thế nhân    展  轉  苦  皆  世  人
Như càn thủy đoạn lưu ngư     如  乾  水  斷  流  魚
Tại khổ sinh dục hại ý   在  苦  生  欲  害  意
Đại bỉ khủng si minh lạc     代  彼  恐  癡  冥  樂

Bài kệ 3
Nhất thiết thế tất nhiên thiêu  一  切  世  悉  然  燒
Tất thập phương loạn vô an    悉  十  方  亂  無  安
Tự cống cao bất xả ái   自  貢  高  不  捨  愛
Bất kiến cố trì si ý   不  見  故  持  癡  意

Bài kệ 4
Mạc tác phược cầu minh khổ 莫  作  縛  求  冥  苦
Ngã tất quán ý bất lạc  我  悉  觀  意  不  樂
Bỉ trí khổ thống kiến thích  彼  致  苦  痛  見  刺
Dĩ chỉ kiến nan khả nhẫn   以  止見  難  可  忍

Bài kệ 5
Tùng thích thống kiên bất di   從  刺  痛  堅  不  遺
Hoài thích tẩu tất biến thế    懷  刺  走  悉遍  世
Tôn thích kiến bạt thống thích  尊  適  見  拔  痛  刺
Khổ bất niệm bất phục tẩu   苦  不  念不  復  走

Bài kệ 6
Thế diệc hữu tất mạc thọ   世  亦  有  悉  莫  受
Tà loạn bổn xả mạc y      邪  亂  本  捨  莫  依
Dục khả yểm nhất thiết độ   欲  可  厭一  切  度
Học tị khổ việt tự thành      學  避  苦  越  自  成

Bài kệ 7
Trú chí thành mạc vọng cử   住  至  誠  莫  妄  舉
Trì trực hành không lưỡng thiệt   持  直  行  空  兩  舌
Diệt nhuế hỏa hoại tán tham  滅  恚  火  壞  散  貪
Xả não giải hiệt kiến độ   捨  惱  解  黠  見  度

Bài kệ 8
Xả mông mông mạc thùy ngọa     捨  瞢  瞢  莫  睡  臥
Viễn vô độ mạc dữ câu   遠  無  度  莫  與  俱
Kỷ khả ố mạc thủ trú    奇  可  惡  莫  取  住
Trước không niệm đương tận diệt   著  空  念  當  盡  滅

Bài kệ 9
Mạc vi khi khả k