Kinh Tụng Hằng Ngày (trọn bộ)

Kinh Tụng Hằng Ngày (trọn bộ)

Download ebookMục lục

KINH TỤNG HẰNG NGÀY
TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
biên soạn

---o0o---

LỜI GIỚI THIỆU

Từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XX, Tăng, Ni và Phật tử nước ta đều đọc tụng Kinh điển bằng chữ Hán. Nhờ có phong trào chấn hưng Phật giáo trong các thập niên 30 và 40 của thế kỷ này, các nghi thức bằng chữ Hán dần dần được thay thế bằng các nghi thức phiên âm Hán Việt. Theo bộ Nhật Tụng hai tập thượng và hạ, viết bằng Hán tự, do hội Việt Nam Phật Giáo chủ biên và trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội ấn hành, một ngày đêm được chia thành sáu thời tu niệm. Mỗi thời đều có khóa lễ riêng biệt: khóa sáng vào lúc 4 giờ, đại chúng vân tập tại chính điện tụng Thủ-lăng-nghiêmThập Chú;khoá trưa tụng Kinh Tứ Thập Bát Nguyện; khóa tối tụng Kinh A-di-đà, và ba thời niệm Phật: Buổi sáng khoảng 5 giờ 30’, chiều 18 giờ và buổi tối, trước khi đi ngủ (lâm thụy), lúc 21 giờ. Đấy là theo nghi thức tu trì ngoài Bắc. Còn Trung, Nam bộ, các nghi thức tụng niệm phần lớn mô phỏng theo nghi thức Hai Thời Khóa Tụngcủa các Tổ Trung Hoa. Thần chú Thủ-lăng-nghiêmMười Thần Chúcăn bản khác được tụng vào thời Kinh khuya. Kinh A-di-đà và Kinh Phổ Môn thường được tụng niệm trong các khoá lễbuổi chiều. Thỉnh thoảng các Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện, Kinh Địa Tạng, Kinh Pháp Hoa, Kinh Đại Bát Niết-bàn và Kinh Kim Cương Bát-nhã cũng được đọc tụng trong những ngày đại lễ Phật giáo. Các Kinh điển Đại thừa bằng âm Hán Việt đó nếu không được vị pháp sư phân tích và giảng giải tường tận thì người đọc tụng khó mà lĩnh hội được hết những nghĩa lý sâu xa huyền diệu chứa đựng trong đó. Các nghi thức tụng niệm của Phật giáo Việt Nam do vì chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, được biên soạn theo âm Hán Việt, nên tinh thần giáo lý cao siêu của đức Phật khó có thể lan truyền rộng rãi trong khắp giới bình dân, một thành phần chiếm đại đa số trong các thời đại.

Bộ Kinh Tụng Hằng Ngàymà quý vị hiện có trong tay là một tuyển tập 49 bài Kinh căn bản trong hai kho tàng Kinh điển Pali và Đại thừa, được đại đức Thích Nhật Từ chọn lọc, biên soạn và ấn tống lần đầu vào năm 1994. Hơn hai phần ba số Kinh được trích dịch từ Kinh tạng Pali trong khi chỉ có một phần ba còn lại từ Kinh điển Đại thừa, Hán tạng. Tỷ lệ cũng như nội dung của các bài Kinh trong nghi thức này cho thấy được tính nhất quán và bổ sung lẫn nhau về giáo nghĩa và pháp thức hành trì trong hai truyền thống lớn của Phật giáo là Nguyên thuỷ và Đại thừa.

Bộ Kinh được biên soạn, theo chủ ý ban đầu, để đọc tụng trong khoá lễ buổi tối tại các chùa, trên thực tế chúng ta có thể đọc tụng trong các khoá lễ buổi sáng và buổi chiều. Một trong các đặc điểm của nghi thức này là tính chất thuần Việt được thể hiện trong từng bài Kinh, và ngay cả hai phần nghi thức dẫn nhập và hồi hướng. Nhờ đó, người đọc tụng có thể dễ dàng hiểu được tôn chỉ của Kinh mà ứng dụng vào cuộc sống hằng ngày. Vậy, khi đọc tụng bộ Kinh này, người thụ trì không cần phải tra khảo các từ điển Phật học mà vẫn có thể tự mình trực tiếp hiểu được lời Phật dạy, nhờ đó tăng thêm tín tâm với chính pháp, áp dụng vào đời sống, đem lại an lạc và hạnh phúc cho bản thân. Điểm đặc biệt khác là bộ Kinh chứa đựng nhiều bài Kinh với nhiều nội dung tu tập khác nhau, được sắp xếp theo một thứ tự từ căn bản đến chuyên sâu, nhờ vậy, người đọc tụng hằng ngày không cảm thấy nhàm chán như trong trường hợp phải đọc đi đọc lại một bài Kinh quanh năm suốt tháng, như các nghi thức tụng niệm trước đây.

Ngoài những bài Kinh căn bản của Đại thừa ra, các nghi thức của Việt Nam trước nay đều được biên soạn trên tinh thần của pháp môn Tịnh Độ, phối hợp với Mật tông, yếu tố thiền định là nền tảng chính của cánh cửa giải thoát cũng được chú ý một cách đặc biệt.

Bộ Kinh Tụng Hằng Ngày trình bày nội dung giáo pháp của đức Phật, giới thiệu các phương pháp tu tâm dưỡng tính, các nghệ thuật xây dựng hạnh phúc cá nhân, gia đình và xã hội, các pháp tu niệm Phật, niệm pháp và thiền định cần thiết cho sự phát triển đời sống tâm linh. Nói chung, các giáo pháp căn bản cho việc thiết kế một mô hình xã hội nhân đạo chân chính và hướng đến sự chứng đắc giải thoát đều được trình bày trong bộ Kinh này. Việc đọc tụng và thụ trì bộ Kinh này, do vậy, trở nên rất cần thiết đối với người con Phật, bất luận trong thời đại nào.

Trong truyền thống đặc thù của Phật giáo Việt Nam, các vị Tổ Sư tiền bối đã khéo dung hợp ba pháp môn Tịnh, Mật và Thiền hòa quyện trong cùng một thời khóa tu niệm, tạo cho người thụ trì, đọc tụng thanh tịnh được thân, khẩu, ý một cách dễ dàng mà không thấy có gì là ngăn ngại cả.

Một nỗ lực khác đáng chú ý là, soạn giả đã mạnh dạn đặt lại tên của các bài Kinh, mà tựa nguyên thuỷ của nó không phản ánh được chủ đề chính mà chúng muốn mô tả. Không những thế, soạn giả cũng đã thêm các tiêu đề phụ ở những bài Kinh chưa có tiêu đề, hầu giúp cho người đọc tụng dễ nắm bắt được đại ý của các Kinh.

Ở đây, tôi cũng cần nhắc người thụ trì, hãy tránh thái độ tụng Kinh để kể công với Phật, hay để tiêu khiển thời gian, hoặc biến thời Kinh thành một buổi nhạc lễ. Không nên tụng Kinh vì mục đích cầu phúc báo danh lợi nhân gian. Đọc tụng Kinh điển trước để hiểu rõ và sau là hành trì. Hiểu rõ để thực hành khỏi sai. Hành trì để bản thân và tha nhân được an lạc.

Nói cách khác, để hiểu rõ và hiểu sâu lời Phật dạy, trước nhất, người thụ trì cần phải siêng năng đọc tụng, nghiền ngẫm nghĩa lý. Sau khi nắm vững được chính pháp, người đọc tụng phải đích thân ứng dụng và thực hành. Có như vậy thì việc đọc tụng mới có nhiều ý nghĩa thiết thực.

Người đọc tụng cần phải lưu ý rằng lời Phật dạy được trình bày trong Kinh điển chỉ là tấm bản đồ hướng dẫn chúng ta tu tập. Bản thân tấm bản đồ cũng như các con đường không phải cứu cánh của việc tu tập. Nương vào sự hướng dẫn của Kinh điển để tu tập cũng như nương vào ngón tay để nhìn thấy được mặt trăng, hay nương vào thuyền bè để sang sông. Khi thấy được mặt trăng chân tâm hay khi đến được bờ giải thoát bên kia, người thụ trì coi như phần nào đã chứng ngộ rồi vậy.

Đã từ lâu, tôi hằng mong ước biên soạn một nghi thức tụng niệm thuần Việt, để giúp cho người Phật tử Việt Nam dễ dàng hiểu và thực hành, hoài bão đó đến nay vẫn chưa đủ duyên để thực hiện. Nay đại đức Thích Nhật Từ phát tâm soạn bộ Kinh Tụng Hằng Ngày, tôi vô cùng hoan hỷ, và mong rằng trong tương lai gần, chư tôn đức giáo phẩm sẽ ngồi lại cùng biên soạn một nghi thức tiêu chuẩn cho toàn quốc. Trong khi chờ đợi một nghi thức hoàn chỉnh, bộ Kinh Tụng Hằng Ngày này sẽ mang lại nhiều lợi ích không nhỏ cho người đọc tụng và thụ trì Kinh điển bằng tiếng Việt Nam.

Cầu chúc tất cả những ai có duyên đọc tụng bộ Kinh này đều tăng trưởng tâm bồ-đề, gặt hái được nhiều an lạc ở hiện tại và tương lai, đồng thời gặp được nhiều thắng duyên trên con đường tu tập giải thoát.

Viết tại chùa Giác Minh, Sài Gòn, ngày 10-1-2002

Sa-môn Thích Đức Nhuận

LỜI TỰA

Quyển Kinh Tụng Hằng Ngày này là một tuyển tập 48 bài Kinh quen thuộc trong hai truyền thống Phật giáo Nam tông và Bắc tông, và bài Thi Kệ về Cuộc Đời Đức Phật. Tuyển tập này giới thiệu các giáo pháp nền tảng cũng như các phương pháp hành trì căn bản trong Phật giáo, nhằm góp phần tạo dựng an lạc và hạnh phúc cho người đọc tụng và thọ trì ngay hiện tại cũng như tương lai. Phần lớn các bài Kinh được chư tôn đức cao tăng Việt Nam phiên dịch như: HT. Thích Trí Tịnh, HT. Thích Hành Trụ, HT. Thích Huệ Hưng, HT. Thích Trí Quang, HT. Thích Nhất Hạnh, HT. Thích Minh Châu, HT. Thích Từ Thông, HT. Thích Duy Lực và HT. Hộ Tông, v.v…

Bộ Kinh được phiên dịch và biên soạn theo một văn phong thuần Việt, nhằm giúp cho người đọc trực tiếp cảm nhận lời vàng của đức Phật bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, để hiểu sâu lời Phật hơn, nhờ đó, dễ dàng áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Trong bộ Kinh này, ngoài thần chú Bát-nhã Tâm Kinhlà thần chú duy nhất còn giữ lại để trì tụng, tất cả các thần chú khác đều được tỉnh lược. Nghi thức này chủ yếu nhấn mạnh đến tinh thần “niệm pháp” và “hành thiền,” đồng thời phát huy tinh thần “tụng niệm, tư duy và thực hành” lời Phật dạy trong các Kinh điển. Các tinh thần này hoàn toàn phù hợp với pháp môn Thiền và Tịnh Độ vốn thịnh hành ở nước ta cùng các nước Phật giáo Đại thừa như Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên, v.v…

Trong khi biên soạn, các đoạn văn trùng lập trong các bản dịch mà sự vắng mặt của chúng không làm ảnh hưởng gì đến nội dung Kinh văn, đều được tỉnh lược. Các cụm từ, thuật ngữ và pháp số Phật học còn nặng cấu trúc Hán Việt trong các bản dịch đều được thay thế bằng các cụm từ thuần Việt hơn. Soạn giả cũng đã thận trọng sửa chữa lại các đại từ xưng hô trong các Kinh, cũng như những chỗ cần thiết trong các bản dịch để giúp cho câu văn được nhẹ nhàng, dễ đọc tụng. Các tiêu đề trong nhiều bài Kinh được thêm vào, và phần lớn tựa các bài Kinh cũng được đặt lại theo chủ đề của chúng, hầu giúp cho người đọc tụng nắm bắt được đại ý của Kinh.

Mặc dù tự biết khó có thể làm toàn hảo Phật sự trọng đại này, nhưng với tâm huyết góp phần Việt hoá nghi thức tụng niệm, và được sự cố vấn và chỉ đạo của cố Hoà thượng Bổn sư Thích thượng Thiệnhạ Huệ(1927-1992), vào mùa Phật đản năm 1992, soạn giả đã mạnh dạn bắt tay vào công việc đọc hai nguồn kinh điển Nguyên thủy và Đại thừa, chọn lọc ra các Kinh căn bản, giới thiệu về các pháp tu của người con Phật. Công trình tiến hành mới hơn được ba tháng thì Hoà thượng Bổn sư của soạn giả đã viên tịch. Do bận rộn với nhiều Phật sự, hai năm sau, soạn giả mới có thể hoàn tất được công trình. Ba ngàn quyển đầu tiên được Tăng Ni và Phật tử chùa Giác Ngộ phát tâm ấn tống để cúng dường và tưởng niệm ngày đản sanh của Đức Phật Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni (PL. 2538, DL. 1994). Chỉ trong vòng hai tuần lễ, toàn bộ các Kinh đã được các chùa ở Sài Gòn và các tỉnh miền Tây thỉnh hết.

Nay được sự khích lệ và yêu cầu của một số chư tôn đức Tăng Ni cũng như Phật tử ở Hoa Kỳ và Úc, ấn bản thứ hai này ra đời với vài thay đổi và bổ sung.

Trước nhất tựa của các Kinh được đổi thành thuần Việt và đi sát với chủ đề của các Kinh hơn: Kinh Pháp Cú đổi thành Kinh Danh Ngôn Chánh Pháp; Kinh Đức Tin đổi thành Kinh Nền Tảng Đức Tin; Kinh Thiện Sanh đổi thành Kinh Nền Tảng Đạo Đức Xã Hội; Kinh Vô Thường - Khổ Não - Vô Ngã đổi thành Kinh Nhận Thức Vô Thường và Đau Khổ; Kinh Tệ Túc đổi thành Kinh Nghiệp Báo Tái Sanh;Kinh Tỳ-kheo Na-tiên đổi thành Kinh Na-tiên Đàm Đạo; Kinh Sống Hoà Hợp đổi thành Kinh Sống và Tu trong Hòa Hợp;Kinh Thiền Giáo Bình Đẳng đổi thành Kinh Tôn Trọng các Pháp Môn; Kinh Bốn Mươi Hai Chương đổi thành Kinh Bốn Mươi Hai Bài; Kinh Pháp Ấn đổi thành Kinh Ba Cánh Cửa Giải Thoát;Kinh Trung Đạo Nhân Duyên đổi thành Kinh Chánh Kiến;Kinh Tám Điều Giác Ngộ của Bậc Đại Nhân đổi thành Kinh Tám Điều Giác Ngộ của Hàng Bồ-tát; Kinh Hạnh Anh Nhi đổi thành Kinh Hạnh Trẻ Thơ; Kinh Lục Độ Tương Nhiếp đổi thành Kinh Lục Độ Dung Thông; Kinh Kim Cang Bát-nhã đổi thành Kinh Trí Tuệ Kim Cương; Kinh Vào Pháp Môn Không Hai đổi thành Kinh Thể Nhập Pháp Môn Không Hai; và Kinh Giáo Huấn Sau Cùng đổi thành Kinh Lời Dạy Sau Cùng.

Kế đến, năm bài Kinh sau đây: Kinh Tiểu Sử Đức Phật, Kinh Tình Thương, Kinh Hôn Phối, Kinh Bốn Thánh Đế,Kinh Bốn Điên Đảođã được thay thế bằng Thi Kệ Cuộc Đời Đức Phật, Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Kinh Mười Pháp Đến Bờ Kia, Kinh Dẫn Nhập Đại ThừaKinh các Pháp Tu Viên Thông. Sự thay đổi các bài Kinh này đã kéo theo sự thay đổi về trật tự của các bài Kinh khác trong toàn bộ nghi thức.

Ngoài ra, bốn phần phụ lục được thêm vào cuối sách: (1) Tóm tắt nội dung 49 bài Kinh, (2) Chú thích một số thuật ngữ và danh từ riêng, (3) Các ngày lễ trong hai truyền thống Phật giáo, và (4) Các ngày ăn chay. Do vì bận rộn với việc phụ trách trang nhà Đạo Phật Ngày Nay(http://www.buddhismtoday.com), soạn giả đã mời Tỳ-kheo Thích Giác Hoàng biên soạn phần phụ lục thứ hai, để giúp cho người đọc tụng và thọ trì Kinh có thể tra khảo ngay tại chỗ các thuật ngữ và danh từ riêng Phật giáo, mà không phải tốn công nghiên cứu đến các bộ từ điển Phật học đồ sộ.

Kinh Tụng Hằng Ngày in lại kỳ này được hoàn thành tốt đẹp là nhờ vào sự giúp đỡ tận tâm của nhiều người. Nhân đây, chúng con chân thành tri ân Thượng toạ Thích Bổn Điền, đồng thời soạn giả cảm ơn và tán thán Đại đức Thích Trí Thể, quý cư sĩ Thanh Tâm, Hải Hạnh, Trần Nguyên Trung, Minh Thông và Chính Trực, v.v… đã góp phần vận động ấn tống; huynh Nhật Hạnh đã phát tâm đánh vi tính, đại đức Thích Thiện Huệ, quý sư cô Thích Nữ Huệ Phúc, Thích Nữ Liên Hiếu và Thích Nữ Liên Hoà đã phát tâm sửa bản in; quý đại đức Thích Thiện Hữu, Thích Lệ Thọ, Manpreet Singh, A. N. Sinha và R.S. Kaushik đã liên hệ nhà in, cùng tất cả quý Tăng Ni và Phật tử trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ cho lần tái bản này.

Soạn giả chân thành tán thán cư sĩ Từ Bi Nguyệt, gia đình Từ Bi Trân Ngọc, Mai Hoàng và tất cả quý vị có tên trong danh sách ấn tống, đã tiết kiệm tối đa phần chi dụng cá nhân và gia đình, phát tâm đóng góp tịnh tài ấn tống, nhằm làm cho Pháp bảo của Phật được lan rộng, mang lại lợi lạc cho những người hữu duyên. Kính chúc quý vị ngày càng tăng trưởng đạo tâm, vững tiến trên con đường phụng sự Phật, Pháp và Tăng.

Xin hồi hướng công đức của lần tái bản này đến tất cả chúng sanh trong ba cõi sáu đường.

Kính nguyện hồng ân Tam Bảo gia hộ cho tất cả được an lạc trong chánh pháp và hanh thông trong cuộc sống!

Ấn Độ, ngày 21-1-2002

Kính khể thủ

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ

Ý Nghĩa của Tụng Kinh

I.Ý Nghĩa của Chữ "Kinh"

Trong suốt cuộc đời hoằng pháp, đức Phật không hề viết sách. Tất cả kim ngôn hay lời dạy của Ngài được truyền thừa lại nhờ vào truyền thống tụng đọc thuộc lòng, của các vị đệ tử Ngài, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, về sau mới được ghi chép lại thành dạng văn bản, gọi là Kinh.


Các nhà Phật học truyền thống Trung Quốc giải thích rằng Kinh là "khế hợp." Khế ở đây bao gồm hai phạm trù khế lý và khế cơ. Khế lý là nội dung ý nghĩa của những lời giảng dạy phải được đặt trên nền tảng Trung đạo, không thiên lệch vào sự chấp mắc nào. Khế cơ là sự thể hợp với từng căn cơ đối tượng. Khế lý và khế cơ có giá trị xuyên suốt thời gian và không gian. Theo nghĩa này, Kinh là chân lý siêu tuyệt của các chân lý mặc ước và công ước.


Tác giả của Luận Phật Địacòn đi xa hơn, khi giải thích: "Khế là phù hợp với tinh thần giáo lý mầu nhiệm của các đức Phật trong ba thời, đồng thời còn đáp ứng một cách sát sao với sự lãnh hội của đương cơ tiếp nhận giáo pháp ấy." Theo đó, sự khế lý mà thiếu khế cơ hay khế cơ mà không khế lý thì chẳng được gọi là Kinh.


Các nhà chú sớ Kinh điển của Trung Quốc không dừng lại tại đó, còn đi sâu vào việc khai thác sự đa dạng về ý nghĩa của Kinh. Theo các nhà sớ giải, Kinh gồm có năm nghĩa: (1) pháp bổn, (2) vi phát hay xuất sanh, (3) tuyền dũng, (4) thằng mặc, (5) kết man, (6) hiển thị. Các cách định nghĩa chữ Kinh như vừa nêu tuy có phần phong phú, đa dạng, nhưng đã đi quá ý nghĩa từ nguyên của chữ Kinh trong Phật giáo, thời kỳ nguyên thủy.


Trong đạo Phật, ý nghĩa chữ Kinh ban đầu rất đơn giản. Kinh, tiếng Sanskrit viết là sūtra, và tiếng Pali viết là sutta, chỉ có nghĩa chính là những lời giảng dạy của đức Phật về đạo đức, chân lý và giải thoát. Nó liên hệ đến sự nghe, nghe những lời dạy của đức Phật. Nói cách khác, Kinh là những lời dạy của Phật hay của các vị Bồ-tát, A-la-hán. Trong ý nghĩa rộng hơn, chữ Kinh còn ám chỉ cho (1) các thể loại văn học Phật giáo, hay (2) Tạng Kinh (Sutta Piaka), hay chỉ chung cho (3) Ba kho tàng văn học Phật giáo (Kinh, Luật, Luận). Kinh là sách ghi chép những lời dạy về chánh pháp, những phương thức hành trì hay các pháp môn được đức Phật và các vị thánh đệ tử của ngài giảng dạy.


Các vị thánh đệ tử đầu tiên của đức Phật là nhóm năm anh em Kiều-trần-như, mười vị đệ tử lớn và 1250 vị tỳ-kheo đều có nhiều cuộc đối đáp về đạo lý và con đường tu tập với các người theo Bà-la-môn giáo và các tôn giáo bấy giờ. Các pháp thoại mang tính cách xiển dương và truyền bá đạo pháp như vậy, có giá trị tương đương với lời Phật dạy trong nhiều trường hợp cụ thể. Nên các pháp thoại đó cũng được xem là kinh, tức một dạng khác của lời Phật dạy. Các bài Kinh loại này có mặt khắp trong các Kinh điển Phật giáo của Nguyên Thuỷ và Đại thừa.


Như vậy, "Kinh" chỉ chung cho các lời dạy đạo lý hoặc là các pháp thoại do đức Phật nói cho các hàng đệ tử hoặc người khác, hoặc các pháp thoại của các vị thánh tăng đối đáp với nhau hay đối với người ngoại đạo. Ý nghĩa ban đầu của Kinh chỉ đơn giản có thế, dù dưới dạng truyền khẩu hay được biên tập thành văn bản về sau.


Mặt khác, “Kinh” là một khái niệm bao quát, chỉ chung các lời dạy của Phật về đạo đức (dhamma) hay con đường tu tập và những phép tắc (vinaya) liên hệ đến đời sống của cộng đồng tu sĩ sống dưới sự bảo hộ và hướng dẫn của Phật. Nó hoàn toàn không mang các ý nghĩa như "pháp bổn," "vi phát," "dũng tuyền," "kết man," "xuất sanh," " hiển thị " hay ý nghĩa "khế cơ" như các nhà sớ giải Trung Quốc đã phát triển về sau. Nói như vậy không có nghĩa phủ định tính chất khế cơ trong lời Phật dạy. Chỉ có con người ứng dụng kinh, giảng dạy Kinh có khế cơ hay không mà thôi. Nói cách khác tính khế cơ tùy thuộc rất nhiều vào vị pháp sư qua sự trình bày pháp thoại đến với quần chúng thính giả hơn là bản thân của pháp thoại đó được biểu hiện dưới hình thức lời nói hay văn tự. Văn tự hay ngôn ngữ có giới hạn, không thể làm chức năng xứng hợp như chính con người của đức Phật và các vị đệ tử thánh của Ngài. Ý nghĩa thâm sâu của Kinh nếu không được vị pháp sư trình bày một cách sáng sủa, chính xác và hợp đối tượng thì người nghe có thể rơi vào các tình trạng ngộ nhận, thoái thất đạo tâm và như vậy là mất hết khế cơ. Đặc tính khế cơ tùy thuộc rất nhiều vào người giảng đạo và người nghe. Thuyết giảng pháp thoại mà không nắm bắt được đối tượng nghe pháp sẽ có thể dẫn đến tình trạng làm suy thoái đức tin chánh pháp của người nghe. Ngược lại thuyết pháp phù hợp đối tượng, làm cho đối tượng thấm nhuần lợi ích và an lạc thì sự thuyết pháp đó đã thành tựu ý nghĩa khế cơ rồi. Như vậy lợi ích hay tác hại của một buổi pháp thoại đối với người nghe tùy thuộc rất nhiều vào phương tiện giảng dạy và phong cách trình bày của vị pháp sư, chứ không phải là bản thân của Kinh điển văn tự.


Nói tóm lại, chữ Kinh trong Phật giáo được dùng để chỉ cho lời Phật dạy dưới hình thức văn tự hay truyền khẩu, có giá trị hướng thượng, phát triển đạo đức, nuôi lớn thiền định, phát sanh trí tuệ, giúp cho người đọc tụng đạt được an lạc và hạnh phúc. Kinh điển là ngón tay để chỉ cho chúng sanh thấy được mặt trăng, là chiếc bè để đưa người sang sông giải thoát. Bản thân Kinh điển không phải là mặt trăng và cũng không phải là bờ giải thoát. Mặt trăng ở đây ám chỉ cho chân tâm, Phật tánh và Niết-bàn. Người đọc tụng và thọ trì cần nương vào lời Kinh để nhận ra được chân tâm, Phật tánh của mình, cũng như nương vào ngón tay để thấy được mặt trăng và nương vào thuyền để sang được bờ bên kia. Sau khi thấy được trăng cần phải biết quên ngón tay. Sau khi qua được bờ rồi, nên thả thuyền xuống sông để nó có thể giúp được nhiều người khác muốn sang sông. Đừng có thái độ chấp thủ và tôn thờ ngón tay đã giúp ta thấy được mặt trăng, cũng như chiếc bè đã giúp ta qua được bờ bên kia!


II. Ý Nghĩa của Tụng Kinh

Có nhiều người khi được hỏi "tại sao phải tụng kinh" liền trả lời rằng "vì tụng Kinh có nhiều phước đức.”Đối với nhiều Phật tử, tụng Kinh là con đường gặt hái phước báu cho bản thân, người thân quyến và gia đình mình. Một số khác thì cho rằng tụng Kinh để được các đức Phật và Bồ-tát phù hộ cho tai qua nạn khỏi, mua may bán đắc, làm ăn phát tài, cửa nhà thịnh vượng. Nói chung, tụng Kinh để mang lại phước lộc và thọ cho bản thân và gia đình. Mặc dù không phản ánh hết ý nghĩa và mục đích của sự tụng Kinh trong Phật giáo nhưng những câu trả lời như vậy đã biểu trưng cho nếp nghĩ của nhiều Phật tử. Như vừa nói, Kinh là lời Phật dạy về đạo đức, chỉ ra các phương thức tu tập, có khả năng chuyển hóa thân tâm, đem lại hạnh phúc cho mình và người ở đời này và đời sau. Do đó, sự tụng Kinh có ý nghĩa đạo đức rất lớn.


Tụng Kinh trước nhất là để ôn lại và tư duy về lời Phật dạy, là cách làm cho pháp âm của Phật lưu truyền mãi trong nhân gian, và để tự nhắc nhở mình bỏ ác làm lành.


Tụng Kinh còn là một dịp tốt giúp chúng ta ngăn ngừa các tội lỗi, trau dồi và phát triển ba nghiệp trong sạch. Trong giờ phút tụng Kinh, do chuyên chú vào lời Kinh, tâm ý của người đọc không có dịp bám víu vào các duyên thế sự và các phiền não trần lao. Tâm ý của người thọ trì, nhờ đó, trở nên an tịnh và thuần khiết. Ngay giờ phút tụng Kinh chuyên nhất đó, người đọc tụng có thể xa lìa được các gốc rễ của khổ đau như tham lam, sân hận, si mê và các tâm lý tiêu cực, có hại cho tâm tư, tình cảm, nhân cách và đạo đức của bản thân. Trong tư thế ngồi như hoa sen khi tụng Kinh, thân thể chúng ta đang từng bước trở nên thanh tịnh, nhờ đó tránh được tất cả các hành vi xấu ác của thân như giết chóc, trộm cướp, ngoại tình v.v... Ngoài ra, do miệng đọc tụng lời Kinh, cho nên các lời nói mang tính chất sai sự thật, lời ác độc, lời thêm bớt và những lời vô nghĩa không có cơ hội để phát triển. Khi đọc Kinh thì miệng của chúng ta xướng lên những lời lẽ đạo đức, trí tuệ, nhờ đó chúng ta có cơ hội vun trồng các hạt giống thiện. Như vậy, trong một hành vi chuyên nhất tụng Kinh, chúng ta xa lìa được mười nghiệp ác, vốn do thân khẩu ý tạo nên. Nói cách khác, trong khi tụng Kinh, chúng ta đã huấn luyện ba nghiệp của mình trở về con đường hiền thiện và đạo đức. Sự tụng Kinh, do đó, đã trở thành một sự tu tập về thân, khẩu và ý trong đạo Phật.


Tụng Kinh còn là một pháp môn tu tâm dưỡng tánh, huân tập vào tâm thức các hạt giống tốt của từ bi, trí tuệ, an vui, thanh tịnh và giải thoát. Tụng Kinh còn là dịp để tham thiền, quán tưởng, trang trải tình thương bao la đến với muôn loài, còn là lúc chúng ta hồi hướng công đức lành đến với tất cả chúng sanh. Tụng Kinh chính là lúc chúng ta một lòng thành kính, đối trước Tam Bảo, sám hối tất cả các nghiệp xấu, ăn năn các lỗi đã qua, phát nguyện làm các việc thiện, để hoàn thiện đời sống đạo đức của bản thân.


Tụng Kinh còn là dịp tốt để chúng ta có thể tìm hiểu, học hỏi, và ứng dụng lời Phật dạy, vào cuộc sống hằng ngày, đem lại lợi lạc cho mình và người.Chính sự áp dụng lời Phật dạy, sau quá trình tư duy và thể nghiệm, giúp người đọc tụng gặt hái được những điều mong muốn trong cuộc sống, như sự an lạc và hạnh phúc. Bản thân của sự tụng Kinh vốn không có phước báu, nếu người đọc tụng không chịu chú tâm vào từng lời Kinh để tìm ra ý đạo sâu xa, mầu nhiệm ẩn chứa trong đó để mà thực hành. Các hình thức và thói quen tụng Kinh như để “trả bài” hay làm công cứ “tính điểm” với Phật, hay tệ hơn là như “máy thâu và phát” lại những lời Phật dạy, rõ ràng không mang lại kết quả hay lợi ích thực tiễn nào, trái lại còn làm mất thời giờ và công sức. Kinh điển của Phật là tấm bản đồ, là kim chỉ nam hướng dẫn chúng ta sống đời chân chánh, để gặt hái kết quả hạnh phúc ở đời này và đời sau. Đọc tấm bản đồ để biết rõ con đường, để đi đúng hướng, để đến đúng nơi cần đến. Con đường đó là con đường trung đạo hay còn gọi là con đường thánh gồm tám yếu tố chân chánh: quan điểm chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành vi chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nỗ lực chân chánh, chánh niệm và thiền định chân chánh. Đây là con đường mà ba đời chư Phật đã đi qua, diệt trừ tận gốc rễ của khổ đau, đạt được an lạc và giải thoát. Người Phật tử cần phải siêng năng nhớ nghĩ, ứng dụng con đường “trung đạo” đó để tự cứu độ chính mình, thông qua sự hướng dẫn của Phật trong Kinh điển. Nói cách khác, tụng Kinh là cách học hỏi chánh pháp của Phật để ứng dụng chánh pháp đó vào đời sống, đem lại an lạc và hạnh phúc cho tự thân.


Nói chung, mục đích tụng Kinh trong đạo Phật không phải để “trả bài” hay “tính công” với Phật, mà là nhằm tìm hiểu chính xác lời Phật dạy, rồi ứng dụng vào đời sống. Tụng Kinh không phải để cầu nguyện Phật và Bồ-tát gia hộ cho mình, gia đình và thân quyến tai qua nạn khỏi, thăng quan tiến chức, làm ăn thịnh vượng, tuổi thọ tăng trưởng, sở nguyện tùy tâm, kiết tường như ý. Tụng Kinh cũng không phải là dịp để cầu cho mua may bán đắc, hay mong Phật và Bồ-tát gia hộ cho mình được đầy đủ phước lộc thọ. Tụng Kinh để trau dồi ba nghiệp thanh tịnh, phát triển các hạnh lành, sống đời đạo đức, vô ngã và vị tha, để mình và người được an lạc và hạnh phúc. Muốn được vậy, khi tụng Kinh, người Phật tử phải chí thành, hướng tâm vào nội dung Kinh, ghi khắc sâu chân lý Phật dạy, ứng dụng vào từng trường hợp cụ thể của cuộc sống, để khắc phục đau khổ, nhổ sạch gốc rễ của khổ đau là tham lam, sân hận, si mê. Tụng Kinh như vậy là một sự tu tập: bỏ ác làm lành, một sự an tịnh ba nghiệp, phát triển các đức tính tốt trong tâm mình. Tụng Kinh có nhiều lợi ích như thế cho nên người Phật tử phải chuyên cần tụng niệm lời Phật dạy.

III. Cách Thức Tụng Kinh

Cách thức tụng Kinh trong Phật giáo rất đa dạng và khác nhau tùy theo từng truyền thống. Thời đức Phật còn sống, tụng Kinh chỉ đơn thuần là sự trùng tuyên lại lời Phật dạy, để nhớ sâu hơn về lời Ngài, và nhất là để ứng dụng vào cuộc sống thường nhật. Dần dà, tụng Kinh đã trở thành một nghi thức. Trong Phật giáo Bắc tông ngày nay, tụng Kinh đã trở thành một nghi lễ hẳn hoi, với sự hỗ trợ của các pháp cụ và nhạc cụ, như chuông, mõ, trống, kiểng, khánh, tang, đẩu v.v… Sự tụng Kinh ở nhiều nơi đã trở thành một khoá lễ nhạc có âm điệu trầm bổng, du dương, gây nhiều cảm hứng tốt ở người nghe.


Dù theo truyền thống nào, điểm quan trọng mà người thọ trì Kinh cần chú ý là tụng Kinh để hiểu và ứng dụng lời Phật dạy vào trong cuộc sống. Do đó, trong khi tụng niệm, không nên quá chú trọng vào các nghệ thuật tán tụng, mặc dù nghệ thuật này có thể giúp cho người tụng lẫn người nghe dễ lắng tâm và phát khởi niềm tin tôn giáo. Một khi thời Kinh trở thành thời khoá tán tụng thì việc tập trung tâm ý vào lời Kinh để tìm hiểu ý đạo sẽ trở nên mờ nhạt, và ý nghĩa của tụng Kinh sẽ không còn nữa. Người đọc tụng cần phải chú trọng vào phần “cốt lõi nhất” của Kinh là nội dungnghĩa lýcủa nó. Không có sự chú tâm thật sâu thì khó có thể lãnh hội được ý nghĩa nhiệm mầu trong Kinh. Nói cách khác, chỉ chú trọng đến “nghệ thuật tụng hay tán giỏi” mà không nắm bắt được ý Kinh thì việc tụng Kinh có thể trở nên vô ích và mất thời giờ.


Người đọc tụng phải giữ ba nghiệp thanh tịnh, chú tâm hoàn toàn vào nghĩa lý của Kinh, tư duy và liên tưởng về nghĩa lý đó, để hiểu rõ lời dạy của Đức Phật, biết cách ứng dụng và hành trì. Bậc cổ đức thường dạy “tụng Kinh giả minh Phật chi lý” là nhằm vào ý này vậy. Chính sự ứng dụng lời Kinh vào cuộc sống mới thật sự đem lại phước báo, an lạc và giải thoát cho chúng ta. Do đó, ta không nên chỉ tụng niệm bằng miệng mà còn phải tụng niệm bằng tâm. Nói cách khác miệng tụng tâm hànhmới chính là tụng Kinh đúng nghĩa.


Nói tóm lại tụng Kinh không phải là dịp để cầu phước, không phải để trả bài, không phải để tán tụng, mà là cơ hội tốt để trau dồi ba nghiệp cho thanh tịnh, an lạc. Tụng Kinh không phải là buổi cầu nguyện, van xin mà là lúc chúng ta nên chuyên chú, lắng tâm, thực hành thiền định và quán tưởng. Tụng Kinh còn là cách học hỏi chánh pháp, phát khởi niềm tin chân chánh về lời Phật dạy. Tụng Kinh để gieo rắc các hạt giống từ bi, trí tuệ vào trong tâm khảm, để gặt hái hoa trái của an lạc và hạnh phúc ở hiện tại và tương lai.


Tụng Kinh mang nhiều ý nghĩa hành trì và đạo đức tích cực như thế, phàm làm đệ tử Phật phải nên siêng năng đọc tụng Kinh điển để ngọn đèn từ bi và trí tuệ của đức Phật tỏa sáng sự sống của chúng ta và tất cả chúng sanh.

Viết tại chùa Giác Ngộ, năm 1991

Hiệu đính tại Ấn Độ, năm 2001

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ

--- o0o ---
Chân thành cảm ơn Thầy Nhật Từ đã gởi tặng bản Kinh điện tử này
( Quang Duc Website 04/2002)
--- o0o ---
Trình bày : Nguyên Hân- Nguyên Phúc

HƯỚNG DẪN HÀNH TRÌ

Đây là Kinh Tụng Hằng Ngàythuần Việt, tổng hợp 48 bài Kinh và bài Thi Kệ Cuộc Đời Đức Phật. Phần chánh kinh chủ yếu chọn lọc các bài kinh căn bản từ hai nguồn kinh điển chính của Phật giáo là nguồn kinh tạng Nam tông (Pali) và nguồn kinh tạng Bắc tông (Hán tạng). Nghi thức tụng niệm này góp phần tạo sự an lạc và chánh nhân giải thoát cho người thọ trì ở hiện tại và tương lai. Do đó, người Phật tử xuất gia và tại gia nên thọ trì hằng ngày để nắm vững tinh hoa, áo nghĩa lời đức Phật dạy, vận dụng vào cuộc sống hành trì.


1. NỘI DUNG TỔNG QUÁT CỦA CÁC KINH

Về mặt xã hội, các kinh này nhắm vào mục đích giáo dục nhân cách bản thân, tạo dựng hạnh phúc gia đình, ổn định các mối quan hệ và đời sống cộng đồng.


Về mặt tu tập, bộ kinh này thể hiện tinh thần nhân bản hoàn hảo nhất, chỉ bày phương pháp tu tập giải thoát, chứng đắc bốn quả Thánh và những phương châm hành đạo của các bậc Bồ-tát.


Về mặt Phật học, bộ kinh được phân bố theo trình tự từ căn bản đến chuyên sâu, từ Nhân thừa đến Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ-tát thừarồi cuối cùng qui về Phật thừa.


Từ góc độ tổng quát nhất, một số kinh đóng vai trò hộ niệm người sống và người mất. Có kinh dạy cách nuôi dưỡng đời sống lứa đôi chung thủy và hạnh phúc. Có kinh dạy về cách làm phước đức, gieo tình thương, sống hòa hợp, xây dựng đức tin chân chánh và các mối tương quan đạo đức xã hội. Có kinh ôn lại cuộc đời của Đức Phật và những di huấn của Ngài. Có kinh chuyên dạy về cách quán chiếu, tu tập thiền định, sống tự tại, giải thoát mọi nơi, mọi lúc. Có kinh giới thiệu về Đại thừa, tu tập các pháp môn viên thông, phát huy trí tuệ, chứng đắc giải thoát. Có kinh dạy về cách nương tựa có khả năng phá chấp, thể nhập chân lý không hai, hiển bày chân tâm và cúng dường chánh pháp. Có kinh chỉ bày phương tiện và cứu cánh, dạy cách tu để dứt bỏ mọi chấp thủ, hướng đến giải thoát trọn vẹn.

2. THỜI KHÓA ỨNG DỤNG

Bộ Kinh Tụng Hằng Ngày này lúc đầu được biên soạn để thọ trì vào Thời Kinh Tối tại các chùa, hay tư gia. Tuy nhiên, tuỳ theo thời gian thích hợp của từng đạo tràng tu tập, người thọ trì có thể đọc tụng Kinh vào các thời điểm thuận tiện khác, có thể mỗi buổi sáng, hoặc mỗi buổi chiều, hoặc thậm chí tụng xuyên suốt trong ba ngày hay một tuần, trong những dịp lễ Phật giáo. Nói chung, tuỳ theo thời gian cho phép và truyền thống tu tập ở từng nơi, bộ Kinh này có thể được ứng dụng khác nhau.


Đặc biệt có một số bài Kinh có thể ứng dụng vào cáckhóa lễ cầu an. Ví dụ, đối với khóa lễ cầu nguyện thế giới hòa bình, nước nhà hưng thạnh, gia đình bình an hay cho các cơ quan, xí nghiệp, hội đoàn và chợ thì nên tụng một trong các Kinh sau đây:Kinh Quốc Gia Cường Thịnh,Kinh Tình Thương,Kinh Phước Đức, Kinh Nền Tảng Đạo Đức Xã Hội, Kinh Mười Pháp Đến Bờ Kia, Kinh Sống và Tu trong Hòa Hợp, hayKinh Hiền Nhân. Đối với khóa lễ cầu an cho bệnh nhânta có thể lần lượt tụng các Kinh sau đây: Kinh Giáo Hóa Người Bệnh, Kinh Mười Pháp Quán Niệm, Kinh Dụ Ngôn Bọt Nước, Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm, Kinh Người Biết Sống Một Mình,Kinh Người Cư Sĩ Tại Gia hay Kinh Danh Ngôn Chánh Pháp.


Các Kinh nêu trên cung cấp cho người đọc tụng những tấm bản đồ tu tập thiền định, an tịnh thân tâm, xây dựng hạnh phúc và an lạc cho mình và người ngay bây giờ và tại đây. Do vậy, các Kinh này không chỉ là phương diệu dược cho người bệnh mà còn là toa thuốc bổ không thể thiếu đối với tất cả những người khỏe mạnh về thể chất nhưng chưa phát triển toàn diện về tinh thần.


Cũng có các bài Kinh có thể dùng trong các khoá lễ cầu siêu, đặc biệt trong các dịp lễ tang, cúng thất, cúng giổ, cúng cô hồn, cúng cầu siêu cho ông bà cha mẹ, cho hương linh chết oan, chết tự vẫn, chết bất đắc kỳ tử… mà chưa thác sanh được do nghiệp chướng và thiếu sự gia trì của Ba Ngôi Báu.


Ví dụ, đối với hương linh đã từng quy y Tam Bảo, tu tập và làm nhiều công đức, ta có thể tụng các kinh như Kinh Tám Điều Giác Ngộ của Hàng Bồ-táthay Kinh Ba Cánh Cửa Giải Thoát. Nếu người quá cố từng tu thiền nhập định thì nên tụng Kinh Quán Niệm Hơi Thởhay Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm. Đối với hương linh và tang quyến chưa quy y Tam Bảo, chưa thấu rõ ba quy luật của mọi sự vật hiện tượng là vô thường, khổ não và vô ngã hay quá bi lụy đau thương về sự sinh ly tử biệt mà trở nên bi quan yếm thế thì ta nên tụng các kinh như Kinh Qui Luật Cái Chết, Kinh Nhổ Mũi Tên Sầu MuộnhayKinh Nhận Thức Vô Thường và Đau Khổ. Đối với hương linh và tang quyến chưa tường tận về giáo lý nghiệp báo và tái sanh của đạo Phật thì ta nên tụng Kinh Cúng Thí Người Mất,Kinh Nghiệp Báo Tái Sanhhay Kinh Na-tiên Đàm Đạo.


Các kinh vừa nêu một mặt khẳng định cái già, bệnh và chết là một quy luật không loại trừ một ai, mặt khác khuyên dạy tất cả mọi người, nhất là thân quyến của người chết nên bình tĩnh, không than khóc, sầu thảm, mà trái lại niệm Phật, tạo nhiều phước lành, hồi hướng cho người quá vãng, để giúp cho người chết một hành trang tốt trong lúc tái sanh. Được như vậy, chắc chắn rằng cuộc đời sẽ bớt đi các tình trạng đau thương, sầu thảm cũng như những hậu quả của nó do cái chết gây ra; thế giới sẽ không còn cảnh bi lụy do không hiểu được quy luật của sanh tử, sống chết chập chùng.


Nói chung, tùy theo trường hợp và đối tượng mà ta nên chọn Kinh nào tụng cho thích hợp với từng khóa lễ.

3. TRÌNH TỰ NGHI THỨC

Trình tự của nghi thức thọ trì kinh này gồm 3 phần: phần Nghi Thức Dẫn Nhập, phần Chánh Kinh và phần Nghi Thức Sám Nguyện và Hồi Hướng.


Phần Nghi Thức Dẫn Nhậpđược biên soạn tổng hợp từ các nghi thức Phật giáo Bắc Tông xưa nay, bao gồm: nguyện hương, ca ngợi Phật và quán tưởng, đảnh lễ Tam Bảo, tán hương, phát nguyện trì Kinh và tán dương giáo pháp.


Phần Chánh Kinhtổng hợp 49 bài Kinh căn bản trong hai truyền thống Phật giáo Nam tông và Bắc tông, bắt đầu từ Thi Kệ Cuộc Đời ĐứcPhậtvà kết thúc bằng Kinh Lời Dạy Sau Cùng. Các bài kinh khác giới thiệu các lời Phật dạy về các phép tu tâm dưỡng tánh, phát triển đạo đức, trau dồi trí tuệ, đáp ứng cho nhiều đối tượng khác nhau. Chiều dài của các bài Kinh này không đồng đều. Có bài Kinh dài 50 trang nhưng cũng có nhiều bài chỉ có hai ba trang. Do đó, đọc mỗi ngày một kinh, hai kinh hay ba kinh, bốn kinh là tuỳ thuộc vào trang dài ngắn của các kinh đó, cũng như thời gian đọc tụng tại các đạo tràng. Trung bình tụng từ 20 đến 25 trang là vừa. Bài Kinh nào dài quá thì có thể tụng trong hai ba thời Kinh liên tiếp. Khi thọ trì hết bài kinh thứ 49, tiếp tục thọ trì lại từ đầu. Cứ vậy, tuần tự thọ trì quanh năm. Tuy nhiên, việc thọ trì Kinh cũng phải linh động. Nếu quý Phật tử tu tại gia, phải đi làm hay bận rộn nhiều việc, có thể chọn thọ trì những kinh nào thích hợp với pháp tu của mình mà không cần phải đọc tụng từ đầu đến cuối.


Phần Sám Nguyện - Hồi Hướngđược biên soạn theo cách thức mà truyền thống Phật giáo Bắc tông hành trì, bắt đầu bằng bài Bát-nhã Tâm Kinh, tóm thâu tinh túy của Kinh Đại Bát-nhã. Mặc dù chỉ có 260 chữ, nhưng bài kinh này tập trung các pháp tu căn bản của Phật giáo đại thừa, giúp hành giả diệt trừ tất cả các khổ đau trong cuộc đời bằng phương pháp quán chiếu năm yếu tố (ngũ uẩn) hình thành nên con người là không có một thực thể hay ngã thể. Từ đó, với trí tuệ duyên khởi, hành giả thấu suốt mọi sự vật hiện tượng theo một cách thức tương tự. Kế đến là niệm Phật. Hành giả tu Tịnh Độ thì niệm Phật A-di-đà, hành giả các pháp môn khác thì niệm Phật Bổn Sư. Các mục còn lại trong phần này bao gồm: xướng lễ Phật và Bồ-tát, mấy điều quán tưởng hoặc quán chiếu thực tại, sám nguyện (có thể chọn một trong tám bài, hoặc luân phiên mỗi bài cho mỗi thời Kinh), hồi hướng công đức (người không tu Tịnh Độ có thể tỉnh lược bốn câu 9-12 phát nguyện sanh Tây Phương), lời nguyện cuối, và đảnh lễ Ba Ngôi Báu, để kết thúc thời Kinh.


Nghi Thức Dẫn NhậpNghi Thức Sám Nguyện-Hồi Hướnglà hai phần cần thiết và không thể thiếu trong mỗi thời Kinh. Mặc dù không phải là chánh văn của Kinh điển, nhưng hai phần nầy được biên soạn dựa trên tinh thần của lời Phật dạy, theo cách thức mà các vị Tổ sư của Trung Quốc và Việt Nam đã làm trong các nghi thức tụng niệm trong quá khứ và hiện tại. Nếu phần đầu chủ yếu tán thán Phật bảo và Pháp bảo để giúp cho hành giả tụng tăng thêm niềm tin đối với Phật và giáo pháp cao thượng của Ngài, trước khi thọ trì, thì phần cuối là phần nhắc nhở người đọc tụng các quy luật vô thường, khổ não, vô ngã của con người và thế giới này, để giúp chúng ta sống một cách an lạc không vướng mắc. Phần này còn bao gồm các cách tu tập như lễ Phật và quán tưởng, chuyên chú tâm và hồi hướng công đức.

4. CÁCH THỨC TỤNG NIỆM

Phần Nghi Thức Dẫn NhậpNghi Thức Sám Nguyện-Hồi Hướngđược tụng giống như các khóa lễ xưa nay, tuỳ theo từng truyền thống.


Riêng phần chánh kinh, để người đọc tụng và người nghe dễ hiểu và được lợi ích, người đọc nên ngừng một hoặc hai nhịpkhông tụng sau mỗi chấm câu hoặc sang hàng hay hết một đoạn, trong khi mõ vẫn được gõ đều đặn. Tụng như vậy thì nghĩa lý của kinh sẽ được rõ ràng, người đọc đỡ mệt sức do quá cố gắng, nhất là, tránh được sự ngắt nhịp tùy tiện. Phần chánh Kinh phải đọc một cách chậm rãi, rõ ràng theo nhịp trường canh của mõ.


Khi miệng đọc tụng, tâm của hành giả phải “niệm” theo lời Kinh, nghĩa là người tụng phải chuyên chú tâmhoàn toàn vào từng câu từng lời Kinh, để hiểu rõ nghĩa lý sâu xa huyền diệu chứa đựng trong từng bài Kinh, rồi ứng dụng vào cuộc sống hằng ngày. Chính sự ứng dụng lời kinh vào cuộc sống mới thật sự đem lại phước báu, an lạc và giải thoát cho người thọ trì.

5. CÁCH ĐÁNH MÕ VÀ ĐIỂM CHUÔNG


a. Ký hiệu được sử dụng


Ký hiệu Ochỉ cho “đánh chuông.” Ký hiệu Cchỉ cho "nhắp chuông" (nhắp dùi chuông vào vành chuông để báo hiệu rằng sẽ có một tiếng chuông được vọng lên). Ký hiệu Mchỉ cho “gõ mõ.”



b. Cách vào chuông mõ

C O O O M M M MM M M


O M


O M


O M MM M C



c. Đánh mõ và điểm chuông

Ngoài mục đích tạo trường canh và nhạc điệu cho các khóa lễ, mõ và chuông còn có tác dụng thức tỉnh người đọc. Để các tác dụng này được phát huy triệt để, mõ phải được đánh đều đặn, nhịp nhàng, chậm rãi; không được đánh quá mạnh hay quá nhẹ để tránh trường hợp tiếng lớn, tiếng nhỏ làm mất trang nghiêm và khó đọc tụng cho đều. Chuông được điểm ngân nga sau các đoạn hay câu có ký hiệu O, đối với phần nghi thức dẫn nhập và hồi hướng. Đối với Chánh Kinh, chuông sẽ được điểm lên ngay sau mỗi đoạn Kinh hay sau mỗi ý Kinh hoàn chỉnh, nhằm đưa người đọc tụng trở về với thực tại, lắng niệm và ghi nhớ sâu lời Phật dạy.

d. Phối hợp chuông, mõ, khánh và lời tụng

Sau tiếng nhắp chuông của vị Duy-na, vị chủ lễ bắt đầu xướng tụng. Chủ lễ xướng hết chữ thứ hai thì đại chúng mới bắt đầu hòa theo và cùng tụng. Chữ đầu và chữ thứ ba của đoạn do chủ lễ khởi xướng thì không có nhịp mõ. Nhịp mõ được gõ vào nhịp chữ thứ hai và thứ tư. Nghĩa là tiếng mõ thứ nhất sẽ đi với chữ (tiếng) kinh thứ hai, tiếng mõ thứ hai sẽ đi với chữ (tiếng) kinh thứ tư. Sau đó, cứ mỗi chữ thì có một nhịp mõ cho đến hết một bài kinh. Riêng chữ (tiếng) kinh áp chót thì gõ hai nhịp mõ liền nhau và chữ (tiếng) kinh cuối thì một tiếng mõ dứt. Cứ như vậy, chúng ta tụng hết thời kinh.


Đối với bài Sám Nguyện trước bài Hồi Hướng, ta có thể phối hợp mõ với khánh. Tiếng mõ đầu sẽ đi với chữ kinh thứ hai, tiếng khánh đầu sẽ đi với chữ kinh thứ ba. Sau đó, một chữ một tiếng mõ, một chữ một tiếng khánh, cứ như vậy phối hợp mõ và khánh tụng cho hết bài sám. Phần kết thúc bài sám như sau: chữ áp chót của bài sám sẽ đi kèm với hai tiếng mõ liền nhau hơi nhanh và chữ cuối sẽ đi kèm với một tiếng mõ; trong khi từ chữ áp chót của bài sám, khánh được đánh theo hồi, từ bảy đến mười nhịp, khoảng cách của các nhịp khít dần đều và âm thanh của các nhịp nhỏ dần đều.

6. LỢI ÍCH CỦA ĐỌC TỤNG VÀ THỌ TRÌ

Người đọc tụng, thọ trì và truyền bá kinh này sẽ gặt hái nhiều lợi ích cho mình và tha nhân:


- Nắm vững yếu nghĩa lời Phật dạy qua hai truyền thống kinh điển Nam tông và Bắc tông. Nhờ đó, người thọ trì xóa bỏ cái nhìn phân cách, ngộ nhận giữa hai truyền thống. Tất cả chỉ có một nguồn chánh pháp, chỉ thuần nhất hương vị: an lạc, giác ngộ, giải thoát.


- Đọc tụng để lời nói, ý nghĩ, việc làm được trong sạch; để từ bỏ các điều ác, thực hành các hạnh lành, sống tùy hỷ, sống theo bi-trí-dũng, thương yêu, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau, để làm hành trang cho cuộc sống, làm hương thơm cho đời.


- Đọc tụng để mở rộng tầm nhìn đúng đắn về con người, về thế giới, về nguyên nhân sai biệt cũng như yếu tố hình thành vũ trụ. Đọc tụng để xóa bỏ mê lầm, trở về chánh pháp, sống chánh tín, chánh mạng và an lạc.


- Đọc tụng để chuyển hóa nhận thức và hành động. Nhờ đó, cá nhân được thuần thiện, gia đình được đầm ấm, xã hội được an vui và nhân loại được thái bình, hạnh phúc trong chánh pháp Phật-đà.


Đọc tụng Kinh Phật có nhiều công đức như thế, kính xin tất cả mọi người hãy tinh tấn hơn nữa, trong việc đọc tụng, thọ trì và truyền bá lời Phật dạy !


Mùa Phật Đản PL. 2538, DL. 1994

Soạn giả

            Tỳ-kheo Thích Nhật Từ

            Kính đề

NGHI THỨC DẪN NHẬP

1. Nguyện Hương

2. Ca Ngợi Phật và Quán Tưởng          

3. Đảnh Lễ Tam Bảo                           

4. Tán Hương                                       

5. Phát Nguyện Trì Kinh                      

6. Tán Dương Giáo Pháp



1. NGUYỆN HƯƠNG

(Chủ lễ quì ngay thẳng, dâng ba nén hương lên ngang trán và xướng bài Nguyện Hương. Đại chúng cùng chắp tay thành kính mặc niệm và quán tưởng theo lời Nguyện)

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni PhậtO

Xin cho khói trầm hương

Kết thành mây năm sắc

Dâng lên khắp mười phương

Cúng dường vô lượng Phật

Vô lượng các Bồ-tát

Cùng các Thánh Hiền Tăng

Nơi pháp giới dung thông

Kết đài sen rực rỡ

Nguyện làm người đồng hành

Trên con đường giác ngộ

Xin mọi loài chúng sanh

Từ bỏ cõi u mê

Theo đường giới định huệ

Quay về trong tỉnh thức

Tu hành Ba-la-mật.      O


Giờ này chúng con dâng hết lòng thành hướng về Ba Ngôi Báu, phát nguyện thọ trì Pháp Bảo. Nguyện cho chánh pháp được lan truyền khắp chốn, kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe, người đau khổ được an vui, tự tại.O


Lại nguyện người người từ bỏ tham giận, si mê; tưới tẩm từ bi, hạnh phúc; làm lành lánh dữ, thương yêu đùm bọc lẫn nhau; thế giới dứt nghiệp binh đao; muôn loài an vui giải thoát. O


Chúng con nguyện đời đời kiếp kiếp thường làm bà con Phật pháp, quyến thuộc từ bi, hộ trì Tam Bảo ở mãi thế gian, sống trọnđời trong an vui tự tại. Từ nay, sạch hết não phiền, thoát vòng mê muội. Nguyện cùng pháp giới chúng sanh đều chứng thành quả Phật. O


Giới định huệ hương

Giải thoát tri kiến quý khôn lường

Ngào ngạt khắp muôn phương

Ba nén tâm hương

Chúng con nguyện cúng dường.          O        

Nam-mô Hương Cúng Dường Bồ-tát.(3 lần) OOO


(Chủ lễ xá 3 xá rồi cắm nhang vào lư hương)


2. CA NGỢI PHẬT VÀ QUÁN TƯỞNG

(Đại chúng đứng chắp tay, hướng về Phật, cùng tụng)


Đấng Pháp Vương vô thượng,

Ba cõi chẳng ai bằng,

Thầy dạy khắp trời người,

Cha lành chung bốn loài.

Nay con nguyện quy y,

Diệt trừ vô lượng tội,

Dâng lên lời tán thán,

Ức kiếp vẫn không cùng.(1 xá)O

Phật, chúng sanh: tánh thường rỗng lặng,

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.

Lưới đế châu ví đạo tràng,

Mười phương Phật bảo, hào quang sáng ngời.

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,

Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. (1 xá) O


3. ĐẢNH LỄ TAM BẢO


(Đại chúng đứng chắp tay, cung kính hướng về Phật, xướng lạy)


Chí tâm đảnh lễ
tất cả Đức Phật ba đời thường trú trong mười phương. (1 lạy)O


Chí tâm đảnh lễ
tất cả Tôn Pháp ba đời thường trú trong mười phương.(1 lạy) O

Chí tâm đảnh lễtất cả Hiền Thánh Tăng ba đời thường trú trong mười
phương. (1 lạy)OOO


4. TÁN HƯƠNG

(Đại chúng ngồi thẳng lưng theo tư thế hoa sen. Duy-na và Duyệt Chúng khai chuông mõ. Từ đây cho đến phần Xướng Lễ, chủ lễ xướng và đại chúng cùng tụng theo)

Lò hương vừa bén chiên đàn

Tỏa xông pháp giới đạo tràng mười phương

Hiện thành mây báu cát tường

Xin Phật chứng giám tâm hương chí thành

Pháp thân các Phật tịnh thanh

Chứng minh hương nguyện, phước lành rưới ban.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ-tát.(3 lần)OOO


5.
PHÁT NGUYỆN TRÌ KINH


Lạy đấng Thầy ba cõi,

Quy mạng Phật mười phương.

Con nay phát nguyện lớn,

Thọ trì tạng Pháp Bảo,

Trên đền bốn ơn nặng,

Dưới cứu khổ ba đường.

Nguyện cho người thấy nghe

Đều phát tâm bồ-đề,

Sống an vui giải thoát.                     O

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (3 lần) OOO


6. TÁN DƯƠNG GIÁO PHÁP


Pháp Phật cao siêu, vi diệu thay!

Trăm ngàn muôn kiếp khó cơ may,

Thực hành con quyết khi nghe gặp,

Nguyện hiểu nghĩa mầu của Như Lai.

Nam-mô Khai Pháp Tạng Bồ-tát.(3 lần) OOO

--- o0o ---

PHẦN CHÁNH KINH

Thi Kệ Cuộc Đời Đức Phật

Thứ nhất

Phật sanh tại Ca-tỳ-la-vệ,
Nay thuộc về lãnh thổ Nê-pal,
Tuyết sơn cao ngất mây ngàn,

Xuân về trong cảnh giang san tươi hồng. O

Khắp cả nước đơm bông kết lá,
Dân chúng hầu như đã thuần lương,
Đức vua Tịnh-phạn đường đường,
Trị vì vương quốc thời đang thái bình.
Cả đất nước yên lành rất đỗi,
Vua thuộc về dòng dõi Thích-ca,
Đức bà hoàng hậu Ma-da,
Thuộc hàng quyền quý trải qua bao đời.
Cả hai vị là người thiện nghiệp,
Có nhân lành, nhiều kiếp tu hành.
Cả hai đức hạnh xứng danh,
Vào hàng cha mẹ muôn nghìn lê dân.
Nhân vào dịp kinh thành có lễ,
Vua tôi cùng hội để vui ca,
Bấy giờ hoàng hậu Ma-da,
Vừa lên dâng lễ hương hoa điện thờ.
Trước ngọ môn xong giờ bố thí,
Hoàng hậu về ngơi nghỉ trong cung,
Bỗng mơ voi trắng trên không,
Sáu ngà trắng toát từ hông đi vào.

Bà đem điều chiêm bao vừa đặng,
Kể thánh hoàng Tịnh-phạn cùng nghe,
Đức vua an ủi vỗ về,

Lệnh truyền gọi kẻ tiên tri luận bàn. O

Rằng: Hoàng hậu sinh hàng con quý,
Tài sức cao đức trí vẹn toàn,
Đức vua mừng rỡ vô vàn,
Vì chưng có kẻ đảm đang ngôi trời.
Rằm tháng tư trăng tròn vừa đến,
Lâm-tỳ-ni thượng uyển xinh tươi,
Trong khi hoàng hậu dạo chơi,
Bỗng nghe hoa ngát hương trời Vô Ưu.
Đưa tay phải nâng niu định ngắt,
Thái tử liền bất giác giáng sinh,
Bấy giờ khắp chốn kinh thành,

Bỗng nhiên khí hậu mát lành hẳn ra. O

Muôn cây cỏ đơm hoa kết trái,
Nước sông nguồn bỗng thấy cao thêm,
Không trung chim hót vang rền,
Hào quang tỏa sáng khắp miền mười

phương.

Vua Tịnh-phạn vô cùng vui sướng,
Mời tiên tri xem tướng kỳ tài,
Đoán dùm vận mệnh tương lai,

Rằng: “Người tướng tốt băm hai đủ đầy O

Đoán thái tử đức tài bậc thánh,
Nhưng đức vua chẳng muốn chút nào,
Chỉ vì như vậy mai sau,
Ai người kế vị vua trao ngôi trời.
Vua Tịnh-phạn muốn dời định mệnh,
Nên Thánh Hoàng ý định đặt tên,
Sĩ-đạt-ta, nghĩa nói lên,

Là người thành đạt ngôi trên vững vàng.

Cái ngôi vị thánh hoàng ám chỉ,
Là ngôi trời cai trị muôn dân,
Đâu ngờ ngôi vị thánh nhân,

Lại là ngôi Phật xuất trần xưa nay. O

Riêng hoàng hậu sau ngày sinh nở,
Chỉ bảy ngày sống ở trần gian,
Nghĩ mình nhiệm vụ chu toàn,
Không còn nghiệp báo buộc ràng trầm luân.
Sau khi trút sắc thân bốn đại,
Bà vãng sanh về lại cõi trời,
Cõi trời Đao-lợi yên vui,

Tâm hồn trong sạch sống đời thanh cao. O

***

Vua Tịnh-phạn liền trao thái tử,
Gô-ta-mi gìn giữ dưỡng nuôi,
Mỗi ngày một lớn khôn rồi,
Thân hình diện mạo ra người khôi ngô.
Tài năng cũng cơ hồ bộc lộ,
Sức khỏe tốt, đức độ hơn người,
Thông minh trí tuệ tuyệt vời,
Nghề văn nghiệp võ học thời tinh thông.
Thời gian ngắn đã hơn thầy dạy,
Nên nhiều thầy e ngại cáo lui,
Dù thầy giỏi nhất được mời,
Chỉ thời gian ngắn là thôi sạch nghề.
Mặc dầu đã cực kỳ quyền quý,
Là đương kim kế vị ngai vàng;
Dù là thái tử cao sang,

Không hề ngạo mạn huênh hoang khinh

người.

Luôn vui vẻ tươi cười nhã nhặn,
Với mọi người bình đẳng vô tư;
Mọi điều bác ái nhân từ,

Tận tình cứu giúp hầu như mọi người. O

Vì lẽ ấy vua tôi yêu quý,
Thần dân đều nể vị tôn vinh;
Càng yêu càng quý con mình,
Vua cha càng thấy sự tình lo âu.
Sợ cái cảnh mai sau Thái tử,
Sẽ thành người tu sĩ xuất gia,
Để thành vị Phật như là,
Những lời tiên đoán của A-tư-đà.
Nhất là thấy dần dà khôn lớn,
Thái tử thường lẳng lặng trầm tư;
Ít khi cười nói vô tư,

Ít khi vui vẻ giống như thiếu thời. O

Lòng lo sợ những lời tiên đoán,
Sẽ đến hồi linh ứng tương lai,
Vua cha dùng kế trong ngoài,
Truyền xây cung điện lâu đài ba nơi.
Để thái tử vui đời tráng lệ,
Tạo tưng bừng như lễ quanh năm,
Bao nhiêu mỹ nữ cung tần,
Chỉ mong thái tử muôn phần thảnh thơi.

Chọn cho con được người nhan sắc,
Con gái vua Thiện Giác nhân hòa,
Nàng là công chúa tiên sa,
Da-du-đà-la hiền hòa đoan trang.
Nàng nổi tiếng ngàn vàng nhân đức,
Vua dọn đường gia thất cho con,
Những mong hạnh phúc hôn nhân,
Vợ con phú quý cầm chân được Ngài.
Sống giữa cảnh vui vầy vương giả,
Sự vinh hoa hơn cả trần đời,
Lòng Ngài nặng trĩu đêm ngày,

Cho rằng hạnh phúc trần ai vô thường. O
***

Nhân dịp hôm “Hạ Điền” lễ lớn,
Thái tử theo vua hướng ra đồng,
Mùa xuân quang cảnh tưng bừng.
Muôn dân vui vẻ tập trung cấy cày.

Nhìn cảnh vật phô bày xanh tốt,
Cảnh xuân về chim hót hoa tươi,
Bầu trời quang đãng rạng ngời,
Gió xuân phơi phới nơi nơi hữu tình.
Giữa khung cảnh thanh bình an lạc,
Với tâm hồn soi xét nhân gian,
Đời đầy cảnh khổ trái ngang,

Vô thường, vô ngã tiềm tàng thương đau. O

Đời chẳng phải đẹp màu tươi sắc,
Như thoảng qua ánh mắt muôn người,
Nông dân lao khổ dưới trời,
Trâu bò quần quật thay người gian lao.
Để đổi lấy bó rau bát gạo,
Đời lắm điều trở tráo bi ai,
Nhìn qua cảnh vật phơi bày:
Chim muông nuốt sống bao loài trùng sâu.
Ngay khi ấy kẻ vào săn bắn,
Tên nỏ còn đang nhắm vô chim,
Bên rừng dày đặc quanh mình,

Thì loài hổ báo đang rình thợ săn… O

Nhìn cảnh vật thương tâm giết chóc,
Nạn tương tàn không lúc nghỉ ngưng,
Miếng ăn, sự sống không ngừng,
Gieo nhân chém giết vô cùng dã man.
Ngài nhận thấy rõ ràng sáng tỏ,
Đời vốn là bể khổ bao la,
Một hôm xin phép vua cha,

Ra thành quanh quẩn dạo qua một vòng. O

Đến cửa Đông thấy người già cả,
Đứng bên đường mệt lả còng lưng,
Mắt lòa tai điếc ngập ngừng,

Chống đi từng bước xem chừng muốn xiêu. O

Đến cửa Nam gặp điều trước mắt,
Thấy một người bệnh tật thương đau,
Nhìn người rên siết lệ trào,

Xót lòng, thái tử mày chau thương tình. O

Ra cửa Tây lại nhìn người chết,
Xác bên đường nhê nhết tanh hôi,
Ruồi bu kiến đậu nặc mùi,

Xác sình gớm ghiếc giữa người lại qua. O

Ba cảnh khổ như già bệnh chết,
Cùng cảnh tình thê thiết tranh nhau,
Mà Ngài được thấy không lâu,

Ghi vào tâm trí, hằn sâu đáy lòng. O

Một hôm khác ra vùng cửa Bắc,
Thấy một người dáng dấp trang nghiêm,
Bên đường cất bước lặng yên,
Sống đời ẩn sĩ an nhiên thanh nhàn.
Ngài bước lại, ôn tồn thăm hỏi,
Rằng: “Tu hành là bởi lẽ chi,
Việc này lợi lạc được gì,
Xin người lượng thứ từ bi đáp lời.”
“Rằng mục đích của người tu tập,
Là mong lìa trói buộc nhân gian;
Diệt tan phiền não buộc ràng,

Khi thành Chánh Giác quyết tâm độ đời.” O

Mấy câu nói đáp lời Thái tử,
Gợi đúng điều ấp ủ lâu nay,
Đúng vào hoài bão đêm ngày,
Như vừa mở mắt nên ngài ung dung.
Về hoàng cung tâu cùng Thánh Thượng.
Xin đức vua ban lượng hải hà,
Cho Ngài được phép xuất gia,

Nhưng vua Tịnh-phạn xót xa chối từ. O

Ngài đề nghị nếu như bốn việc,
Mà Thánh Hoàng giải quyết được cho,
Thì Ngài bỏ ý đi tu,
Vui lòng ở lại nhân từ trị dân.
“Một là được sắc thân trẻ mãi,
Hai là thân không bệnh không đau,
Ba là sự chết không vào,
Bốn là phiền não khổ đau không còn.”
Bốn việc ấy vô cùng gian khó,
Bởi xưa nay đã có bao giờ,
Vua cha bối rối thẫn thờ,

Không sao giải đáp cho vừa lòng con. O

***

Khi biết rõ con mình nghiêm chỉnh,
Nói ra lời ý định xuất trần,
Đức vua tìm cách cản ngăn,
Giữ cho thái tử đừng năng ra ngoài.
Để trong cung cho Ngài vui thỏa,
Nhưng chẳng gì khuây khỏa cho nguôi,
Một khi Ngài quyết chí rồi,

Trên đời không thể có người giữ chân. O

Giữa hoàng thành cung tần mỹ nữ,
Quân lính tuần canh giữ ngoài trong,
Sau cơn vui vẻ tiệc tùng,
Mọi người mê mệt đã cùng ngủ say.
Thái tử quyết ra ngoài cung cấm,
Thoát khỏi vòng vương vấn vợ con,
Giã từ đời sống vàng son,

Cùng hầu Sa-nặc đi chung ra ngoài.O

Đêm mùng tám tháng hai sao kín,
Ngài mới vừa mười chín tuổi xanh,
Thầy trò phi ngựa vượt thành,
Vội vàng giục giã băng mình trong đêm.
Đã xa cảnh phồn vinh vương giả,
Thái tử vào núi thẳm rừng sâu,
Dốc lòng cầu đạo nhiệm mầu,

Tìm đường thoát khỏi khổ đau buộc ràng. O

Giữa rừng núi thênh thang yên vắng,
Sự an bình soi lắng tâm tư,
Cỏ cây muông thú hoang vu,
Khác gì như cảnh tâm tư thanh nhàn.
Sống trong cảnh yên hàn tịch mịch,
Với muôn loài không địch không ta,
Thiên nhiên với vẻ hiền hòa,
Thấy lòng nhân ái bao la vô cùng.

Nhìn cảnh vật dung thông tự tại,
Bỗng an nhiên sảng khoái tinh thần,
Sự đời chẳng chút bận tâm,

Mọi điều vướng mắc thế trần tiêu tan. O

Ngài cầu học hai thiền sắc giới

Không sở hữu, Không cảm giác sáng ra

A-la-ra và Út-đa-ca

Phải đều thừa nhận Thích-ca bằng mình. O

Nhưng thái tử nhận chân ra được

Hai thiền này khó vượt khổ đau.

Quyết từ bỏ, vào rừng sâu,

Sáu năm khổ hạnh dãi dầu tuyết sương.
Ngài nghiền ngẫm con đường giải thoát,
Chẳng một điều chi khác để tâm,
Đêm ngày bỏ ngủ quên ăn,
Một hôm kiệt sức ngã lăn bên rừng.
Người chăn cừu bỗng dưng qua đấy,
Thấy thương tình, sữa lấy hiến dâng,
Tỉnh ra, Ngài tỏ lẽ rằng,
Muốn tu phải giữ sắc thân của mình.
Thân khoẻ mạnh, tinh thần minh mẫn

Thân yếu gầy đạo chẳng thành đâu,
Một khi sức lực dồi dào,

Giúp tâm vượt thoát trần lao muộn phiền. O

Ngài thấy rõ khổ hành vô hiệu,
Khuyên đồng tu nên hiểu dừng đi,
Pháp môn khổ hạnh chấp nê,
Trói chân bao kẻ u mê lầm đường.
Người tu tập phải nương Trung Đạo,
Không lụy dục, không bạo ngược thân

Uống ăn ngơi nghỉ cân phân

Con đường tuệ giác tỏ dần trong tâm. O

***

Thấy Ngài lấy thức ăn dùng lại,
Bạn đồng tu thấy vậy bất bình,
Cho rằng lợi dưỡng thường tình,
Đã làm Ngài phải thoái mình trở lui.
Kiều-trần-như, năm người bỏ cả,
Về Vườn Nai hoang dã tu riêng.
Một mình không chút muộn phiền,

Kiên trì tinh tấn hành thiền không lơi. O

Như mặt gương lau chùi bóng loáng,
Mọi vật rồi soi sáng đâu xa,
Rõ ràng chân lý thật thà,
Ái tham ô nhiễm rồi ra lắng chìm.
Quyết phá bỏ vô minh vô thỉ,
Dưới Bồ-đề quyết chí thiền hành,
Nếu như đạo cả chưa thành,
Xương tan thịt nát mặc tình không đi.
Ngài chuyên nhất hành trì chánh định,
Tánh chân thường thanh tịnh bản tâm,
Đột nhiên đại ngộ cõi lòng,

Bao nhiêu kiếp trước thảy đồng sáng ra. O

Thấy rõ cả đời qua bao cõi,
Quá khứ từng trôi nổi bao nơi,
Nửa đêm sáng được mắt trời,
Tỏ tường muôn sự bao thời gần xa.
Rõ bản thể người, ta, vũ trụ,
Đến đầu hôm chứng “lậu tận thông,”

Diệt trừ ba độc buộc ràng,

Não phiền lậu hoặc tiêu tan hết liền. O

Bốn chân lý hiện tiền tỏ rõ,
Một là đời vốn có khổ đau,
Sinh-già-bệnh-chết bấy lâu,
Đời là bể khổ vây bao trùng trùng.
Hai là hiểu nguyên nhân gây tạo,
Phát sinh điều phiền não nhân gian,
Ba là hết khổ, Niết-bàn,
Bốn là cách thoát buộc ràng khổ đau.
Đường chân chính gồm thâu tám nhánh,
Để viên thành quả thánh vô sanh,
Vô sanh bất diệt đạo thành,

Ra ngoài khổ não tử sanh luân hồi. O

***

Khi thành đạo, Phật ngồi ngẫm nghĩ,
Giáo lý Ngài huyền bí cao thâm,
Ra ngoài lý luận thế trần,
Hẳn là lãnh hội khó khăn vô cùng.
Bỗng Ma Vương trên không thổ lộ,
Giáo lý Ngài chứng ngộ cao siêu,
Loài người tham ái đã nhiều,
Như ngọn lửa lớn đốt thiêu kiếp người.
Giáo pháp ấy ngược dòng tham ái,
Cõi Ta-bà chẳng mấy người tin,
Xin ngài nhập diệt, lặng thinh,

Không cần ban bố pháp âm diệu huyền! O

Liền khi ấy Phạm Thiên lên tiếng,
Cầu Phật thương, phổ biến pháp lành,
Ba lần bày tỏ chân thành,
Xin Người soi xét thương tình chúng sanh.
Dẫu cho họ đã thành mê muội,
Mắt vướng nhiều cát bụi ngăn che,
Nếu không được pháp chưa nghe,
Trầm luân sa đọa trăm bề bi ai!
Dẫu giáo pháp của Ngài cao diệu,
Vẫn có người tin hiểu sâu xa,
Có người ngộ nhập chứng ra,
Những điều chân lý thật là uyên thâm.
Xin Thế Tôn rộng lòng hoan hỉ,
Mở cửa vào bất tử vô sanh.
Xin Ngài chỉ dạy pháp lành,

Để cho ba cõi chúng sanh được nhờ! O

Bậc Toàn Giác như là trên núi,
Nhìn thấy đời bên dưới trầm luân,
Chúng sinh chìm đắm ái tham,
Hận thù ngu muội, phá tan tâm lành.
Phật đản sinh, để hành đại nguyện,
Độ chúng sanh phương tiện, thần thông,
Từ bi trí tuệ không cùng,
Giúp cho tất cả tâm đồng Như Lai.
Bốn ơn nặng ở đời quyết trả,
Dưới ba đường cứu khổ trầm luân,
Như Lai quyết ở trần gian,

Chuyển xe chánh pháp, mở tâm muôn loài! O

***

Về sự nghiệp độ đời của Phật,
Giữa Ta-bà rất mực khó khăn,
Nhờ Ngài trí tuệ uyên thâm,
Từ bi quảng đại, tinh thần vị tha.

Nhờ bình đẳng, nhân hòa dũng mãnh,
Chẳng thoái lùi hoàn cảnh khó khăn,
Nơi nơi ban bố pháp âm,
Tùy duyên giáo hoá muôn ngàn chân Kinh. O

***

Dùng phương tiện, độ sinh trình tự,
Với mỗi người tùy sự căn cơ,
Thoạt tiên độ bạn cùng tu,
Đó là nhóm Kiều-trần-như năm người.
Bốn chân lý rạng ngời công bố,
Năm vị này giác ngộ nhân duyên,
Trở thành đệ tử đầu tiên,
Xa gần khắp nẻo Phật truyền pháp âm.
Bà-la-môn, năm lăm vị ngộ,
Hợp lại cùng năm vị trước tiên,
Trở thành sáu chục thiện hiền,

Đúng theo giới luật giữ gìn không sai. O

Các vị này được Ngài chỉ giáo,
Dấn thân đi truyền đạo nơi nơi,
Đi vào những chốn xa xôi,
Cho người sáng tỏ, cho đời hết mê.

Phật hoá độ anh em Ca-diếp,
Dẫn hơn ngàn đệ tử quy y,
Nhớ lời ước hẹn khi đi,
Ngài về Vương Xá độ trì đức vua.
Sự ước nguyện hôm xưa đã thỏa,
Vua cất liền Tịnh Xá Trúc Lâm,
Xây rồi thỉnh Phật, chư tăng,

Làm nơi thuyết pháp xuất trần độ sanh. O

Lúc Đức Phật thực hành truyền bá,
Tại ngôi chùa: Tịnh Xá Trúc Lâm,
Vua cha Tịnh-phạn mừng thầm,
Liền sai sứ giả đích thân đi mời.
Ưu-đà-di nhận lời xin hứa,
Người cận thần thân tín ra đi,
Đường xa nhất quyết kiên trì,
Đã mời được Phật trở về quê hương.
Từ Vương Xá trên đường về nước,
Phật độ sanh cũng được lắm người,
Bảy ngày ở lại quê thôi,

Ngài cảm hóa được bao người xuất gia.

Cả dòng họ Thích-ca theo Phật,
Nhiều vị đà chứng đắc Vô Sanh,
Sau khi thăm viếng gia đình,

Ngài liền tiếp tục hành trình độ sinh. O

Thành Xá-vệ: lộ trình Đức Phật,
Nơi vua Ba-tư-nặc đương thời,
Nhân duyên hội độ một người,
Là ông Tu-đạt đức ngời, trí cao.

Vốn quyền quý lòng giàu bố thí,
Thường giúp người cùng thế cô đơn,
Nên người hay gọi tên ông,
Là Cấp Cô Độc lồng trong ý này.
Vốn có lòng kính tin trọng Phật,
Chẳng tiếc chi vàng bạc của tiền,
Quyết lòng mua cả khuôn viên,
Kỳ-đà thái tử dâng lên cúng dường:
Phật hoan hỉ tán dương đến ở,
Với ngàn hai trăm rưỡi tỳ-kheo;
Lẽ này chốn ấy thường kêu,
Vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà.
Trúc Lâm ấy Phật-đà cư ngụ,
Nơi chúng tăng làm chỗ tu hành,
Là nơi thuyết pháp độ sanh,

Là nơi chúng thánh thực hành đại bi. O

***
Nghe vua cha đến kỳ bệnh nặng,
Phật xa từ muôn dặm về thăm,
Bên giường thấy mặt phụ thân,
Nét buồn ẩn khuất sắc thần kém xinh.
Phật thuyết giảng bài kinh Bát-nhã,
Lẽ vô thường, vô ngã, khổ đau;
Nghe rồi khổ não sạch làu,
Tâm thông trí giác, ngộ liền Vô Sanh.
Rồi thanh thản bỏ thân đã mục,
Không còn mang một chút vấn vương,
Ngay sau cái chết phụ vương,
Mẹ nuôi Đức Phật vui đường xuất gia.

Sau đó, La-hầu-la con Phật

Cũng quyết tâm theo Phật xuất gia,

Vợ ngài: Da-du-đà-la

Bỏ đời phú quý, làm Tỳ-kheo-ni. O

Phật tiếp tục gần xa truyền đạo,
Độ bao người, rốt ráo không cùng,
Nào là quốc thích, hoàng thân,

Nào là các bậc thường dân xa gần.

Đức Phật đã thực hành phổ độ,
Biết bao người tuần tự căn cơ,
Người thân cùng với kẻ sơ,

Kẻ thì giải thoát, người thì lạc an. O

***

Trên bước đường độ sanh khất thực,
Nhiều cảnh tình rất mực gay go,
Hành trình giáo hoá môn đồ,
Lắm người ganh tỵ bày trò gian manh.
Tùy phương tiện thực hành cảm hóa,
Dẫn dắt người xấu dạ thành ngay,
Tình thương, trí tuệ rộng bày

Người thù kẻ ghét cũng đều độ qua. O

Như Đề-bà-đạt-đa đố kỵ,
Cũng được Ngài thọ ký Phật thân,
Anh chàng Vô Não sát nhân,
Cũng nhờ Phật độ ân cần quy y.
Con voi dại ngu si mê muội,
Cũng nghe lời sám-hối theo chân,
Vua A-xà-thế nhẫn tâm
Giết cha, nhờ Phật ăn năn làm lành.
Phật vận dụng muôn ngàn phương tiện,
Tùy duyên mà ứng biến độ sanh,
Trên đường truyền đạo làm lành,

Căn cơ tâm ý sáng danh đạo đời. O

Phật răn nhắc chớ lầm phương tiện,
Tưởng cho là cứu cánh xưa nay,
Nhớ đừng lầm lẫn ngón tay,
Ngỡ là trăng tỏ bị mây khuất mờ.
Vầng trăng dụ chân như Phật trí,
Ngón tay là giáo lý kinh văn,
Mượn tay để thấy được trăng,
Chớ cho tay trỏ là trăng mà lầm.
Như thầy giỏi rõ nguồn cơn bệnh,
Tùy bệnh tình mà định thuốc thang,
Thông minh ngu độn, nghèo sang,

Pháp môn hóa độ Phật ban chẳng đồng. O

***

Sự bình đẳng; điểm son đáng quý,
Trong tinh thần giáo lý Như Lai;
Giàu nghèo, nam nữ: không hai
Thảy đều bình đẳng tỏ bày sáng trong.
Rằng: máu đỏ đâu phân giai cấp,
Vị mặn thì nước mắt ai hơn,
Mỗi người tánh Phật sẵn mầm,

Khả năng giác ngộ ngang bằng khác chi. O

Giáo hội Ngài không hề phân biệt,
Nhận cả người hạ liệt xuất gia,
Ưu-ba-li trước vốn là,
Thợ cạo, giai cấp nào ra thứ gì.
Nhưng tu tập kiên trì chứng đắc,
Nổi danh về giới đức nghiêm minh,
Lại còn quả thánh viên thành,
Quả là hiếm có thật tình quý thay.
Như sen giữa bùn lầy nước bẩn,
Hoa tươi hồng vẫn thoảng hương thơm,
Giữa đời bể khổ tang thương,

Sang hèn đâu phải tự phương sinh thành. O

***
Năm thời pháp góp phần tu tập,
Căn cơ tùy thứ bậc thấp cao,
Khi vừa thành đạo nhiệm mầu,

Phật ban giáo pháp dẫn vào Hoa Nghiêm. O

Pháp rốt ráo xuất trần đích thật,
Chỉ Phật cùng với Phật rõ thôi,
Tối lòng như điếc, như đui,
Huống chi tà đạo ai người hiểu ra.
Phật chỉ dạy để mà tu luyện,
Pháp tâm mình phải nghiệm phải suy,
Pháp môn chân thật diệu kỳ,
Tự mình soi đuốc mà đi một mình.

Muốn đi xa, từ gần trước nhất,
Muốn lên cao, tự thấp khởi đầu;
Thích-ca, các Phật khác nào,

Tùy duyên thuyết pháp ngõ hầu khai tâm. O

Ngài nói kinh A-hàmđa diện,
Giúp cho người thứ bậc ngộ tâm,
Bao năm đây đó xa gần,
Khiến người cao thấp sáng tâm độ mình.

Để thực hành độ sinh đúng mực,
Giácmình xong, tích cực giác người.
Diễn kinh Phương Đẳngđể đời,

Dùng tâm chuyển hóa tùy người chỉ cho. O

Khi đã thấy căn cơ khả dĩ,
Vững thế rồi có thể đi xa,
Bấy giờ Phật mới nói ra,

Những điều giáo lý sâu xa thượng thừa. O

Thời Bát-nhãtựa hồ giáo pháp,
Phương tiện dùng để đáp qua sông,
Vượt dòng biển khổ mênh mông,
Đến bờ bên ấy, quyết không trở về.

Sự hóa độ muốn cho trọn vẹn,
Chúng sanh cần nhuần nhuyễn căn cơ,
Khả năng dứt được mê mờ,
Như Lai mới nói pháp chưa từng bày.
Phật sinh ở nơi đầy đau khổ,
Nhân duyên vì phổ độ chúng sinh,
Ngộ vào tri kiến Phật tâm,
Để lời phó chúc đạo thành tương lai.
Ngài thọ ký những ai thành Phật,
Bằng những lời chân thật tâm can,
Kinh văn vận dụng luận bàn,

Pháp Hoacùng với Niết-bàngiảng tuyên. O

***

Tám chục tuổi báo thân đã hết,
Nhiệm vụ tròn phó chúc ra đi,
Hoàn thành đại nguyện từ bi,
Xa đời trần lụy đã vì độ sanh.

Gọi A-nan một hôm Phật giảng,
Đạo ta nay viên mãn cả rồi,
Nguyện xưa nay đã tròn lời,

Bốn hàng đệ tử nhiều người “Vô sanh.” O

Họ có thể thực hành giáo hóa,
Đem pháp lành truyền bá nơi nơi,
Vô thường sắp đến nơi rồi,
Thân ta cũng sắp đến hồi tiêu tan.
Giống như cỗ xe tàn già cỗi,
Trước mượn dùng rong ruổi đó đây,
Tạm dùng chở pháp bấy nay,

Xong rồi còn tiếc thân này mà chi. O

Đã đến lúc ra đi thanh thản,
Đã đến hồi hết vướng trần gian,
Tin truyền nhập diệt vừa ban,
Bốn hàng đệ tử bàng hoàng thiết tha.
Có Tu-bạt-đà-la tám chục,
Đến lễ Ngài, xin được xuất gia,
Trước hồi nhập diệt thế mà,

Phật còn hoá độ ông đà “vô sanh.” O

***

Các đệ tử vội về cho kịp,
Chỉ vắng ngài Ca-diếp xa thôi,
Mọi người đông đủ cả rồi,
Phật liền phó chúc, ban lời ra đi.
Rằng: “Y bát trao về Ca-diếp,
Giới luật coi muôn kiếp như Thầy,
Mỗi kinh nêu lại câu này,

"Chính tôi nghe được như vầy"đầu kinh. O

Xá-lợi Phật chia thành tám khối,
Mỗi phần dành gửi tới một vua,
Gọi là nhớ chút duyên xưa,

Tặng đều cho tám vị vua tỏ lòng. O

***
Giáo pháp Phật cũng dường bó đuốc,
Phải chính mình tự thắp mà đi,
Nương theo chánh pháp hành trì,
Tự mình giải thoát xa lìa tử sanh.
Chớ dục vọng hoành hành tâm trí,
Mọi sự đời chẳng quý mảy may,
Sắc thân tan rã có ngày,

Niết-bàn an lạc xưa nay trường tồn. O

Mọi điều đã chúc ngôn chân thật,
Phật an lòng từ biệt nhân gian,
Hoa rừng muôn sắc huy hoàng,
Rải lên trùm kín thân vàng yên hơi.
Chim xao xác lưng trời quên tiếng,
Vạn vật dường lưu luyến Người đi,
Đau buồn thay, phút biệt ly,
Sắc thân cát bụi một khi vô thường.
Bốn chín năm con đường hoằng pháp,
Khắp kinh thành làng mạc từng đi,
Gieo đầy hạt giống từ bi,
Đã thành lẽ sống tâm tri bao người.
Nhờ trí tuệ rạng ngời soi sáng,
Khiến bao người thoát nạn lầm than,
Thấm nhuần khắp cả nhân gian,

Bổn tâm rộng mở, tinh thần sáng ra. O

Pháp Phật nói như sư tử rống,
Thú muôn loài nghe đến sợ oai,
Như là sóng biển đêm ngày,
Vang rền át tiếng bi ai côn trùng.
Phật chỉ rõ con đường hạnh phúc
Phải tự mình thắp đuốc mà đi;
Dạy rành phương thuốc trị vì,
Uống hay không uống vị chi tự mình.
Như biển cả mông mênh vô hạn,
Vốn chỉ thuần vị mặn mà thôi,
Cũng vầy, vị pháp Như Lai,

Một mùi “giải thoát” xa rời tử sinh! O

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật(3 lần, xá 3 xá) OOO

--- o0o ---

Kinh Chuyển Pháp Luân

Thứ hai

Tôi nghe như vầy, sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp đầu tiên tại Vườn Nai. Tại đây, Ngài dạy năm vị Tỳ-kheo đầu tiên rằng: O


- Này các Tỳ-kheo, có hai cực đoan mà người xuất gia phải tránh xa. Một là đắm nhiễm các dục thấp hèn, thô bỉ, phàm tục, không dẫn đến đức hạnh thánh nhân, không liên hệ đến mục đích tu tập. Hai là tự làm khổ mình bằng các lối tu khổ hạnh ép xác, không thích hợp với các phẩm hạnh bậc thánh, không dẫn đến mục đích giải thoát.


- Này các Tỳ-kheo, vị hành giả có chánh trí phải loại bỏ hai cực đoan vô ích này. Hãy đi theo con đường Trung Đạo do Như Lai chứng ngộ, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật, dẫn đến sự an tịnh, thánh trí, giác ngộ và niết-bàn.


- Này các Tỳ-kheo, con đường Trung Đạo, chính là tám đường chánh: quan điểm chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành vi chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nỗ lực chân chánh, ý niệm chân chánh và thiềnđịnh chân chánh.

- Này các Tỳ-kheo, sau đây là bốn chân lý vi diệu của cuộc đời:


Chân lý thứ nhất là thực tại đau khổ. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà phải xa nhau là khổ, thù ghét mà phải gặp nhau là khổ, mong cầu mà không toại nguyện là khổ và chấp vào năm nhóm nhân tính là khổ. O


Chân lý thứ hai là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đó là phiền não nhiễm ô, là tâm ái dục, là sự tham đắm và chấp thủ về cái ta, cái của ta, là dục ái, hữu ái và phi hữu ái.O


Chân lý thứ ba là Niết-bàn, tức là sự trừ diệt hoàn toàn gốc rễ của đau khổ và những nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đó là sự ly tham, sự từ bỏ, sự giải thoát và không còn chấp trước.  O


Chân lý thứ tư là con đường dẫn đến niết-bàn, đó là tám đường chánh, là con đường Trung đạo.  O


- Này các Tỳ-kheo, cần phải liễu tri về thực tại khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật. Này các Tỳ-kheo, cần phải trừ diệt hoàn toàn gốc rễ dẫn đến khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật.Này các Tỳ-kheo, cần phải tu tập trọn vẹn con đường dẫn đến Niết-bàn. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật.  O


Như vậy, này các Tỳ-kheo chỉ khi nào tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn chân lý vi diệu của cuộc đời dưới ba sắc thái, gồm mười hai khía cạnh đã trở nên hoàn toàn sáng tỏ, thì khi ấy Như Lai mới xác nhận với thế gian, gồm chư thiên, ma vương, Phạm Thiên, giữa các đoàn thể Sa-môn, Bà-la-môn, giữa loài trời và loài người rằng Như Lai đã chứng Vô ThượngChánh Đẳng Chánh Giác. Tâm Như Lai đã giải thoát và an tịnh tuyệt đối, đời sống này là cuối cùng, Như Lai không còn bị luân hồi sanh tử nữa.


Khi bánh xe chánh pháp đầu tiên này được Như Lai vận chuyển, tuyên bố, các hàng chư thiên trên địa cầu đều cung kính khen ngợi: “pháp môn này thật là vi diệu ! Không có Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, ma vương hay Phạm thiên nào có thể thuyết giảng được. Đây là chân lý vi diệu vừa được Đấng Giác Ngộ khám phá và truyền bá, đem lại an lạc, hạnh phúc cho loài trời và loài người.”              O


Lúc ấy các chư thiên ở các cõi trời Tứ Đại Thiên vương, trời Đao-lợi, trời Dạ-ma, trời Đâu-suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Chúng, trời Đại Phạm, trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Biến Tịnh, trời Quảng Quả, trời Vô Tưởng, trời Vô Phiền và các chư thiên Phạm thiên cũng đều đồng thanh khen ngợi nhiều lần như vậy. Trong khoảng thời gian ấy, mười ngàn thế giới đều chấn động và vang rền tiếng pháp. Rồi một luồng hào quang rộng lớn, rực rỡ phát chiếu, làm sáng cả vũ trụ. Ngay thời pháp này, tôn giả Kiều-trần-như đã giác ngộ và được Đức Phật xác chứng là A-nhã Kiều-trần-như. O


Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật (3 lần, xá 3 xá)OOO


--- o0o ---

Kinh Người Áo Trắng

Thứ ba

Đây là những điều tôi nghe, Đức Phật vào một thời mà Người còn lưu trú tại tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn cây Kỳ-đà. Hôm ấy cư sĩ Cấp Cô Độc cùng với năm trăm vị cư sĩ khác đã tìm đến nơi cư ngụ của tôn giả Xá-lợi-phất. Các vị cúi đầu làm lễ tôn giả rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Xá-lợi-phất đã sử dụng nhiều phương tiện khéo léo để thuyết pháp cho các vị cư sĩ này, đem lại cho họ niềm vui và làm phát khởi nơi họ niềm khát ngưỡng đối với Tam Bảo và sự hành trì chánh pháp. Sau đó Tôn giả tới viếng và đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi dưới chân Người. Sau khi thấy mọi người đã an tọa, Đức Phật bảo tôn giả Xá-lợi-phất: O


- Này Xá-lợi-phất, ông có biết rằng nếu một vị đệ tử áo trắng có đạo hạnh, biết hộ trì năm giới pháp và tu tập bốn tâm cao thượng thì có thể đạt tới rất dễ dàng và không khó khăn gì khả năng an trú hạnh phúc ngay trong hiện tại, và biết chắc chắn rằng mình sẽ không còn đọa lạc vào địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh và các nẻo ác khác trong tương lai ?


Một người như thế là đã đắc quả Vào Dòng, không sợ còn bị rơi vào đường ác, chắc chắn đang đi về nẻo chánh giác. Người ấy chỉ cần qua lại tối đa là bảy lần nữa trong các cõi trời và người là có thể đạt tới sự hoàn toàn giải thoát, diệt khổ. O


***


- Này Xá-lợi-phất, vị đệ tử áo trắng hộ trì năm giới pháp và tu tập bốn tâm cao thượng như thế nào ?


1- Vị đệ tử áo trắng xa lìa sự giết hại, chấm dứt sự giết hại, buông bỏ khí giới, biết hổ, biết thẹn, tập từ, tập bi, bảo hộ cho mọi loài sinh vật, kể cả các loài côn trùng. Vị ấy trừ tận gốc tâm niệm giết hại. Đó là giới pháp thứ nhất mà người đệ tử áo trắng giữ gìn. O


2- Vị đệ tử áo trắng xa lìa sự không cho mà lấy, chấm dứt sự không cho mà lấy, thường ưa bố thí, tìm niềm vui trong sự bố thí và bố thí mà không cần đền đáp. Vị này không bị tâm trạng tham lam che lấp, luôn luôn bảo hộ sự liêm khiết của mình và diệt trừ tận gốc sự không cho mà lấy. Đó là giới pháp thứ hai mà người đệ tử áo trắng giữ gìn. O


3- Vị đệ tử áo trắng xa lìa ngoại tình, chấm dứt ngoại tình, bảo vệ cho bất cứ ai, dù người ấy nằm trong sự bảo hộ của cha, mẹ, hoặc cả cha và mẹ, hoặc chị em, hoặc anh em, hoặc cha mẹ bên sui gia, hoặc gia đình sui gia, hoặc bởi người đồng tính, hoặc là vợ con hay chồng con kẻ khác, kể cả kẻ bị cuồng dâm khủng bố, hoặc kẻ bán phấn buôn hương. Vị này diệt trừ tận gốc tâm niệm ngoại tình. Đó là giới pháp thứ ba mà người đệ tử áo trắng giữ gìn. O


4- Vị đệ tử áo trắng xa lìa nói dối, chấm dứt sự nói dối, chỉ nói sự thật, tìm niềm vui trong sự nói lên sự thật, an trú nơi sự thật không lúc nào đổi dời, có thể được tin cậy hoàn toàn và không bao giờ dám miệt thị kẻ khác. Vị ấy diệt trừ tận gốc sự nói dối. Đó là giới pháp thứ tư mà người đệ tử áo trắng giữ gìn. O


5- Vị đệ tử áo trắng xa lìa rượu, chấm dứt sự uống rượu, diệt trừ tận gốc thói quen uống rượu, cũng như các chất kích thích nguy hại cho sức khỏe và tâm trí. Đó là giới pháp thứ năm mà người đệ tử áo trắng giữ gìn. O


***


Này Xá-lợi-phất các đệ tử áo trắng làm thế nào để đạt tới bốn tâm cao thượng và an trú hạnh phúc trong hiện tại một cách dễ dàng và không có khó khăn ? Trước hết, vị đệ tử áo trắng thực tập quán niệm về Như Lai. Vị ấy quán niệm như sau: Như Lai là bậc Giác Ngộ Chân Chánh, là bậc Minh Hạnh Túc, là bậc Thiện Thệ, là bậc Thế Gian Giải, là bậc Vô Thượng Sĩ, là bậc Điều Ngự Trượng Phu, là bậc Thiên Nhân Sư, là Phật, là Thế Tôn. Quán niệm về Như Lai như thế thì những dục vọng xấu xa đều được tiêu diệt, trong tâm người quán niệm không còn những yếu tố bất thiện, uế nhiễm sầu khổ và lo âu.


Nhờ tưởng niệm Như Lai mà tâm tư người ấy lắng trong, có được niềm vui, và người ấy đạt tới tâm cao thượng thứ nhất, an trú hạnh phúc trong hiện tại một cách dễ dàng, không khó khăn gì. O


***


- Này Xá-lợi-phất, vị đệ tử áo trắng thực tập quán niệm về Pháp. Vị ấy quán niệm như sau: Giáo pháp được Đức Thế Tôn giảng dạy là giáo pháp diễn bày khéo léo, có khả năng đưa tới giải thoát hoàn toàn, đưa tới trạng thái không phiền não, không nóng bức, có tính cách thường tại và không dời đổi. Quán niệm và giác tri pháp như thế thì những dục vọng xấu xa đều được tiêu diệt, trong tâm người quán niệm không còn những yếu tố bất thiện, uế nhiễm, sầu khổ và lo âu.


Nhờ tưởng niệm Pháp mà tâm tư người ấy lắng trong, có được niềm vui và đạt tới tâm cao thượng thứ hai, an trú hạnh phúc trong hiện tại một cách dễ dàng, không khó khăn gì. O


***


- Này Xá-lợi-phất, vị đệ tử thực hành quán niệm về Tăng đoàn. Vị ấy quán niệm như sau: Thánh chúng của Như Lai đang đi về nẻo thiện, đang đi trên đường chánh, đang hướng theo giáo pháp, đang thực tập theo giáo pháp và sống đúng tinh thần giáo pháp. Trong Thánh chúng ấy có các bậc A-la-hán đã thành và đang thành, các bậc A-na-hàm đã thành và đang thành, các bậc Tư-đà-hàm đã thành và đang thành, các bậc Tu-đà-hoàn đã thành và đang thành, tức là có đủ bốn đôi và tám bậc. Thánh chúng của Như Lai đã thành tựu được giới, được định, được trí tuệ, được giải thoát, được tri kiến giải thoát. Thánh chúng này đáng được tôn kính, đáng được quý trọng, đáng được phụng sự, đáng được cúng dường, và đó là ruộng phước tốt đẹp cho cuộc đời.


Nhờ tưởng niệm Tăng mà tâm tư người quán niệm lắng trong, có được niềm vui và người ấy đạt tới tâm cao thượng thứ ba, an trú hạnh phúc trong hiện tại một cách dễ dàng, không khó khăn gì. O


***


- Này Xá-lợi-phất, vị đệ tử áo trắng thực tập quán niệm về Giới. Vị ấy quán niệm như sau: Giới luật này không có khuyết điểm, không bị sứt mẻ, không bị cấu uế, không bị ô trược, có khả năng giúp ta an trú trong đất lành của Như Lai. Giới luật này không có tính cách giả dối, thường được các bậc hiền thánh khen ngợi, tiếp nhận, thực tập và hộ trì.


Nhờ tưởng niệm Giới mà tâm tư người ấy lắng trong, có được niềm vui và người ấy đạt tới tâm tư cao thượng thứ tư, an trú hạnh phúc trong hiện tại một cách dễ dàng, không khó khăn gì.O


***


- Này Xá-lợi-phất, ông nên ghi nhớ rằng một người đệ tử áo trắng nếu thực tập được như thế là đã chấm dứt được sự sa đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và các đường dữ khác, đã chứng đạt được quả vị Tu-đà-hoàn, không còn thối đọa vào các ác pháp. Người ấy chắc chắn đang đi về nẻo chánh giác và chỉ cần qua lại tối đa bảy lần nữa trong các cõi trời và người là có thể đạt tới biên giới của sự hoàn toàn giải thoát diệt khổ.”


***


Bấy giờ, Đức Thế Tôn tuyên lại ý trên bằng bài kệ sau đây: O


Bậc trí sống tại gia

Thấy sợ cảnh địa ngục

Nên thọ trì chánh pháp

Dứt trừ mọi nẻo ác.

Học hiểu mà hành trì:

Không giết hại chúng sanh,

Chân thật không nói dối,

Không lấy của không cho,

Trung kiên với bạn đời,

Thói ngoại tình lìa bỏ.

Nhất quyết không uống rượu,

Để tâm chẳng loạn cuồng. O

Thường thực tập niệm Phật,

Thường thực tập niệm Pháp,

Niệm Tăng và niệm Giới,

Tâm an lạc thảnh thơi.

Muốn thực tập bố thí,

Để vun trồng phước đức

Người ấy hành chánh pháp

Giải thoát và Giác Ngộ. O

Xá-lợi-phất lắng nghe

Ta nói về điểm này

Hãy nhìn đàn bò kia

Và thử quan sát chúng

Có con vàng, con trắng

Có con đỏ, con đen

Màu nâu có đốm vàng

Hoặc màu chim bồ câu

Dù chúng màu sắc gì

Hoặc chúng từ đâu đến

Giá trị thật của chúng

Là ở sức chuyên chở

Những con nào mạnh khỏe

Kéo xe mạnh và nhanh

Chuyên chở được nhiều chuyến

Là những con hữu dụng.

Trong cõi nhân gian này

Có các hàng Phạm chí

Sát-đế-lợi, cư sĩ

Thương gia và công nhân

Những ai trì tịnh giới

Thực chứng được giải thoát

Trở thành bậc cao đức

Bậc Thiện Thệ thảnh thơi.

Cúng dường những bậc ấy

Là được quả phúc lớn. O

Ta không cần phân biệt

Giai cấp và nguồn gốc.

Kẻ thiếu đức nghèo tuệ

Không soi sáng cho ai.

Cúng dường những kẻ ấy

Quả phúc không có nhiều.

Người con Phật tu huệ

Tâm hướng về Thế Tôn

Gốc lành thêm vững chãi

Chỉ sinh về nẻo lành

Qua lại cõi nhân thiên

Nhiều lắm là bảy lần

Cuối cùng sẽ đạt được

Cảnh Niết-bàn tịnh lạc. O


Nghe Đức Phật nói xong, tôn giả Xá-lợi-phất, các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cư sĩ Cấp Cô Độc và năm trăm cư sĩ khác đều vui vẻ và phát nguyện làm theo.


Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá) OOO

--- o0o ---

Kinh Danh Ngôn Chánh Pháp

Thứ tư

I. - PHẨM SONG YẾU

(C.1). Mọi điều do ý dẫn đầu,

Ý là chủ tể,ý tạo nghiệp ra.

Nếu dùng ý nhiễm ô mà,

Nói năng hành động thật là thương đau.

Não phiền khổ sở theo sau,

Như xe theo dấu chân trâu tức thì.



(C.3). Nào là nó đánh mắng tôi,

Thắng tôi, nó cướp của tôi đây này !

Ai ôm hiềm giận ấy hoài,

Hận thù không thể nguôi ngoai bao giờ.



(C.5). Lấy thù hận diệt hận thù,

Điều này không có bao giờ thành đâu.

Tình thương để diệt thù sâu,

Đó là định luật trước sau ngàn đời.




(C.9). Những ai mặc áo cà-sa

Mà điều ô uế chưa xa được là,

Thiếu lòng tự chế thật thà,

Thế thì chưa xứng cà-sa khoác vào.




(C.11). Không chơn thật, tưởng thật chơn,

Thật thà lại ngỡ như không thật thà.

Thật thà chưa đạt đó là,

Chỉ vì ý xấu, nết tà chưa xa.




(C.13). Như nhà vụng lợp vậy thôi,

Mưa tuông nước đổ một hồi thấm ngay

Cũng vầy tâm vụng tu này,

Dục tham thâm nhập tràn đầy, lẹ hơn.




(C.15). Đời này, đời tới sầu đau,

Hai đời sầu khổ kẻ nào ác gian

Nó sầu nó khổ tâm can,

Do mình thấy nghiệp không kham càng sầu.




(C.20). Dù cho kinh điển ít bàn,

Nhưng theo chánh pháp thực hành luôn khi.

Xa lìa tham dục, sân si,

Được tâm giải thoát tức thì ngộ thôi.

Không còn bám giữ hai đời,

Hạnh Sa-môn đã sáng ngời thân tâm.O




II. - PHẨM KHÔNG PHÓNG TÚNG

(C.21). Trên đời phóng túng nên xa

Sống mà phóng túng như là chết thôi.

Buông lung sống tựa chết rồi,

Không còn phóng túng ai người chết đâu?




(C.22). Rõ điều sai biệt ấy rồi,

Những người có trí xa rời buông lung.

Vui thay phóng túng không còn,

Hạnh lành bậc thánh tâm hồn an vui.



(C.23). Những người thiền định hằng tu,

Kiên trì tinh tấn thường như vậy hoài.

Niết-bàn người trí vui thay,

Bồ-đề vô thượng đủ đầy tịnh an.




(C.24). Dốc lòng chánh niệm không lìa,

Thực hành thận trọng, hạnh thì sáng trong.

Giữ mình theo pháp sáng cùng,

Ai người đời sống buông lung không còn.

Tiếng lành không thể hao mòn,

Theo cùng ngày tháng lại còn gia tăng.




(C.28). Buông lung người trí xa lìa,

Hạnh không phóng túng thường khi đứng đầu.

Lên lầu trí tuệ cao sâu,

Không sầu dẫu thấy khổ sầu vây bao.

Như là người trí trên cao,

Thấy người ngu muội lao nhao dưới bằng.




(C.29).Tinh cần giữa đám buông lung

Thời thời tỉnh thức giữa vòng trầm luân.

Trí nhân như thể ngựa hùng,

Bỏ sau những thứ ngựa ươn, ngựa hèn.O




III. - PHẨM TÂM

(C.33). Tâm mà dao động hoảng kinh,

Hộ trì nhiếp phục thực tình khó khăn.

Trí nhân uốn thẳng được tâm,

Như là thợ nỏ vẫn hằng uốn tên.

(C.35). Chớ theo dục vọng quay cuồng,

Giữ gìn chớ để luông tuồng động-khinh.

Lành thay, điều phục tâm mình,

Tâm mà điều được, yên bình an vui.




(C.38). Ai người không trú được tâm,

Thì chân diệu pháp đã gần được đâu.

Lòng tin dao động, đảo chao,

Viên Thành trí tuệ không sao mà thành.



(C.43). Họ hàng thân quyến mẹ cha

Muốn làm ta tốt quả là khó thay.

Sao bằng làm thẳng tâm này,

Tự mình nên tốt, mỗi ngày tốt hơn.      O




IV. - PHẨM HOA

(C.49). Như ong đến với hoa thường,

Không hề hại sắc phai hương chút nào.

Giữ hoa lấy mật khó sao,

Như là bậc thánh đi vào làng xa.




(C.48). Người nào góp nhặt hương hoa,

Ý còn tham nhiễm hay là đắm say.

Bao giờ thỏa mãn dục này,

Tử thần chinh phục một ngày không xa.




(C.50). Không nên nhìn lỗi ở người,

Người làm hay chẳng, ai ơi đâu cần.

Tự mình nhìn lại bản thân,

Có làm hay chẳng mới cần xét soi.




(C.51). Như hoa tươi đẹp đương thì

Tuy rằng có sắc nhưng vì không hương.

Cũng như lời nói khoa trương,

Không làm không quả lẽ thường xưa nay.




(C.54). Hương thơm của các loài hoa,

Không sao ngược gió bay xa đâu mà.

Nhưng hương đức hạnh thật thà,

Vẫn thường ngược gió lan xa vô ngần.

Tiếng thơm các bậc chân nhân,

Tỏa cùng khắp cõi xa gần nhân gian.




(C.58-9). Như là đống rác bợn nhơ,

Người ta vất bỏ thờ ơ bên đường.

Đâu ngờ chỗ ấy Sen thường,

Khiến người đẹp ý vì hương trong lành.

Cũng vậy giữa đám quần sanh,

Mịt mờ ô nhiễm, đua tranh tục trần.

Học trò Chánh Giác phải cần,

Sáng ngời tâm trí cân phân tỏ tường.         O




V. - PHẨM NGU

(C.60). Thức lâu mới biết đêm dài,

Đường xa cho kẻ mệt nhoài đang đi.

Luân hồi với kẻ ngu si,

Chỉ vì diệu pháp một khi chưa tường.




(C.61). Nếu không tìm được bạn đường,

Hơn mình hay cũng tương đương như mình.

Thà rằng đơn độc yên bình,

Không cùng ngu muội kết tình tâm giao.




(C.62). Con tôi, tài sản của tôi,

Người ngu nghĩ vậy sinh sôi ưu sầu.

Bản thân vô ngã bấy lâu,

Vợ con tài sản phải đâu của mình!




(C.63). Người ngu biết mình ngu,

Trở thành có trí rõ chừ đây thôi.

Người ngu tưởng có trí ư ?

Thật là đáng gọi chí ngu đây mà.




(C.64). Người ngu dù có trọn đời,

Cận kề người trí chẳng rồi hết ngu.

Khi mà chánh pháp còn mù,

Như là cái muỗng chối từ vị canh.



(C.67). Nghiệp làm chẳng phải thật lành,

Làm rồi ân hận hoành hành tâm can.

Khóc than lệ nhuốm hai hàng,

Gặt vào quả dữ lại càng đau thương.




(C.69). Người ngu lầm tưởng ngon lành,

Bởi vì quả ác còn xanh chưa muồi.

Đến khi quả nghiệp chín rồi,

Bấy giờ ngu muội khổ đời mới hay.


***


(C.71). Những người nghiệp ác sa vào,

Như là sữa vậy, đã nào đông ngay.

Như tro che kín lửa này,

Cháy ngầm theo kẻ ngu hoài đâu tha.




(C.75). Một đàng là lợi thế gian,

Một đàng là cõi Niết-bàn khác xa.

Tỳ-kheo đệ tử Phật-đà,

Vui cùng thánh trí, xa hoa đừng màng.

Đừng vì cung kính mà ham,

Hãy tu theo hạnh sẵn sàng lìa xa. O




VI. - PHẨM HIỀN TRÍ

(C.76). Nếu người hiền trí thật thà,

Trách chê lầm lỗi chỉ ra rõ ràng.

Như là chỉ chỗ chôn vàng,

Cận kề người trí lại càng nên thay !

Cận thân những vị như vầy,

Rõ ràng tốt đẹp mỗi ngày một tăng.




(C.77). Những người thường vẫn khuyên răn,

Thấy điều làm ác cản ngăn thật tình.

Người hiền yêu kính chân thành,

Thế nhưng kẻ ác bực mình không ưa.



(C.78). Chớ cùng kẻ ác kết thân,

Chớ thân với kẻ tiểu nhân hại mình.

Hãy thân với những bạn lành,

Hãy thân với bậc đã thành trí nhân.



(C.81). Vững bền như đá tảng này,

Gió lên dễ đã lung lay được nào.

Khen chê lời nói ra vào,

Những người có trí chẳng dao động lòng.



(C.86). Những ai theo pháp hành trì,

Khéo nương chánh pháp mà đi được thì.

Sẽ sang đến bến bên kia,

Vượt qua cõi dục cực kỳ khó khăn.




(C.88). Hãy cầu vui với Niết-bàn,

Không màng của có, không ham dục tình.

Trí nhân tự lóng trong mình,

Sạch nhơ trong đục thức tình tự tâm.

(C.89). Những ai đã thẳng được tâm,

Hết lòng tu tập chỉ cần ngộ thôi.

Mọi điều ái nhiễm xa rời,

Không còn bám chấp sống đời hân hoan.

Không còn lậu hoặc chứa chan,

Sống đời tịch tịnh, trần gian: Niết-bàn.             O

VII. - PHẨM A-LA-HÁN

(C.91-2). Tinh cần chánh niệm đã xong,

Cần gì Tịnh xá hay trong Phật đường.

Rời ao, ngỗng đã muôn phương,

Bỏ sau chỗ trú náu nương dọc đường.

Không màng của cải chất chồng,

Mọi điều ăn uống để lòng quán soi.

Tướng không, không tướng xa rời,

Vấn đề giải thoát không lơi, viên thành.

Như chim giữa cõi trời xanh,

Hướng đi tự tại, mông mênh khó tìm.

(C.93-4). Ai người lậu hoặc lóng trong,

Cả điều ăn uống không lòng đắm tham.

Cốt sao giải thoát buộc ràng,

Tướng không, không tướng chẳng màng

quẩn quanh.

Dốc tâm tinh tấn tu hành,

Dấu chân tự tại thực tình khó noi.

Như chim ở giữa bầu trời,

Dấu chân tự tại muôn nơi khó tìm.

(C.96). Người nào ý tịnh tâm an,

Lời an thì nghiệp cũng an khó gì.

Đã là chánh trí rồi thì,

Đạt chơn giải thoát, diệu kỳ vui thay.

(C.98). Dù cho làng mạc núi rừng,

Giữa miền thung lũng hay vùng đồi cao.

A-la-hán ngự nơi nao

Thành miền an lạc dạt dào đáng yêu.O

VIII. - PHẨM NGÀN

(C.100). Dù cho có nói ngàn lời,

Mà không lợi lạc cho đời ích chi.

Một lời ý nghĩa được thì,

Nghe rồi an tịnh còn gì vui hơn.

(C.103). Dù cho trên bãi chiến trường,

Thắng ngàn quân địch vẫn thường chưa vinh.

Sao bằng thắng được chính mình,

Mới là chiến thắng thực tình tối cao.

(C.105). Thiên thần hay dẫu Thát-bà,

Phạm thiên hay dẫu cho là Ma vương.

Không ai có thể cự đương,

Với người tự thắng tự cường bản thân.

(C.109). Hãy nên kính lễ tôn sùng,

Những ngài kỳ lão, túc tôn đức lành.

Được vầy bốn pháp tăng nhanh,

Sức hùng, thọ, đẹp, lạc: thành tựu mau.

(C.113). Dù ai sống đến trăm năm,

Mà không thấy pháp thế trần diệt sanh.

Sao bằng sống một ngày lành,

Được nhìn thấy pháp diệt sanh ở đời.

(C.114). Dù ai sống đến trăm năm,

Mà không thấy pháp xuất trần vô sanh.

Sao bằng sống một ngày lành,

Thấy nguồn bất diệt vô sanh hiển bày.     O

IX. - PHẨM ÁC

(C.117). Nếu người làm chuyện ác gian,

Chớ nên tiếp tục mà làm thêm ra.

Chớ mong làm chuyện gian tà,

Ác mà chất chứa ắt là khổ đau.

(C.118). Nếu như người đã làm lành,

Hãy nên tiếp tục nhân thành to lên.

Hãy mong làm thiện chớ quên,

Chứa lành tâm trí an nhiên vui vầy.

(C.119). Thoạt nhìn kẻ ác như hiền,

Chỉ vì nghiệp ác chưa liền phát sanh.

Đến khi quả ác đã thành,

Bấy giờ kẻ ác lộ hình tà tâm.

(C.121). Chớ nhìn việc ác coi thường,

Cho rằng nhỏ nhặt chẳng buồn lo chi.

Khác nào nước nhỏ giọt kia,

Dần dà tích chứa có khi bình tràn.

Người ngu lòng ngập ác gian,

Cũng vì chất chứa tâm can dần dần.

(C.123). Nhiều tiền xuôi ngược đi buôn,

Đồng hành có ít, tránh đường hiểm nguy.

Sống thì thuốc độc nên lìa,

Tránh xa điều ác được thì vẫn hơn.

(C.126). Một phần trở lại đầu thai,

Sinh vào địa ngục là loài ác gian.

Người lành lên cõi thiên đàng,

Những người vô lậu, Niết-bàn sướng thay!

(C.127). Lên trời hay xuống biển khơi,

Dù là rừng thẳm hay nơi hang cùng.

Không nơi nào cõi hồng trần,

Thoát vòng quả nghiệp ác nhân đã làm.O

X. - PHẨM HÌNH PHẠT

(C.129). Mọi người đều sợ cực hình,

Mọi người đều sợ cho mình tử vong.

Lấy mình ví dụ soi lòng,

Không tự chém giết, cũng không bảo làm.

(C.133). Nói lời ác độc chớ nên,

Nói lời đanh ác người liền đối ngay.

Những lời tức giận khổ thay,

Như là đao trượng lại quay về mình.

(C.135). Người ta dùng gậy chăn bò,

Lùa ra bãi cỏ tha hồ lê la.

Cũng như già chết vậy mà,

Lùa người đến bãi tha ma, hết đời.

(C.136). Người ngu thấy ác mà làm,

Vì không ý thức nên càng đi sâu.

Người ngu tự nghiệp bấy lâu,

Nấu nung như lửa đớn đau tự mình.

(C.137-40). Dùng cây hại kẻ tay không,

Ác lòng với kẻ không lòng ác sao ?

Thế thì mười loại khổ đau,

Phải liền một loại khổ sầu vương mang.

Hoặc là đau khổ vô vàn,

Hoặc là thân thể thương tàn thê lương.

Hoặc là bệnh hoạn liệt giường,

Hoặc là tâm loạn ý cuồng đảo điên.

Hoặc là mang họa từ vua,

Hoặc là trọng tội bị vu giữa đàng.

Hoặc là ly tán họ hàng,

Hoặc là sản nghiệp tiêu tàn ra ma.

Hoặc là phòng ốc cửa nhà,

Một cơn hỏa hoạn rồi ra tro tàn.

Đến khi hình sắc tiêu tan,

Sanh vào địa ngục vô vàn khổ đau.

(C.144). Như là ngựa quý chạm roi,

Nhiệt tâm hăng hái thường noi không rời.

Giới hạnh, tinh tấn luôn thời,

Nương vào chánh pháp mà vui định thiền.

Trí hành chánh niệm không quên,

Dứt lìa vô lượng não phiền, khổ đau.   O

XI. - PHẨM GIÀ

(C.146). Cười gì hoan hỷ nỗi gì,

Khi đời bị cháy đen sì không ngơi.

Tối tăm bao phủ nơi nơi,

Sao không kiếm ngọn đèn soi dẫn đường?

(C.147). Hãy nhìn bong bóng đẹp xinh,

Chứa đầy thương tích hôi tanh nặc mùi.

Ưu tư bệnh tật bao thời,

Không gì trường cửu ở nơi hồng trần.

(C.150). Thành này rường cột bằng xương,

Trét tô bằng thịt hòa chung máu hồng.

Nơi đây già chết não nùng,

Mạn nghi lừa đảo chất chồng bao phen.

(C.151). Xe vua cũng sẽ cũ mà,

Thân này cũng vậy, sẽ già không xa.

Pháp người hiền thiện không già,

Người lành rồi lại chuyển qua người lành.

(C.152). Người nào kém học ít nghe,

Như là trâu đực có gì khác chăng.

Lớn già thịt có lên cân,

Nhưng mà trí tuệ chẳng tăng trưởng gì.

(C.154). Nay thì đã rõ mặt mày,

Của người từng đã dựng xây căn nhà.

Nay không tạo dựng nữa nha !

Đòn tay, kèo cột rụng ra hết rồi.

Tâm ta tịnh tịch tuyệt vời,

Tiêu tan tham ái, thảnh thơi thoát vòng.

(C.155). Trẻ không giới hạnh, uổng thay,

Như không gây dựng tiền tài mai sau.

Như cò già đứng bờ ao,

Cá tôm không có, buồn sao là buồn.O



XII. - PHẨM TỰ NGÃ

(C.157). Nếu như yêu bản thân mình,

Phải năng bảo vệ giữ gìn cho tinh.

Trí nhân trong suốt ba canh,

Phải luôn tỉnh thức soi mình không nguôi.

(C.159-60). Tự làm như đã dạy người,

Được vầy mới thật lợi đời lợi nhân.

Tự điều thật khó muôn phần,

Tự điều mình trước, độ sanh mới thành.

Tự mình nương tựa chính mình,

Không có chỗ khác nương mình hơn đâu.

Cũng nhờ nhiếp phục trước sau,

Được nơi nương tựa nhiệm mầu ai hay.O

XIII. - PHẨM THẾ GIAN

(C.167). Chớ theo các pháp khốn cùng,

Chớ theo đời sống buông lung thỏa tình.

Chớ cho tà kiến theo mình,

Chớ cho tăng trưởng chuyện tình nhân gian.

(C.170). Nhìn đời như bọt nướctrôi,

Nhìn đời như huyễn vậy thôi lạ gì.

Quán soi như thế được thì,

An vui tự tại sá chi tử thần.

(C.173). Ai dùng các hạnh trong lành,

Xóa mờ nghiệp ác tươi xanh cuộc đời.

Giữa đời đạo đức rạng ngời,

Như trăng thoát khỏi mây trời lộ ra.     O

***

XIV. - PHẨM PHẬT-ĐÀ

(C.179). Vị mà chiến thắng không hàng,

Vị hằng cất bước đi ngang cõi đời.

Vị không lưu dấu thắng người,

Rõ ràng cõi Phật rạng ngời mênh mông.

Dừng chân theo dõi khó lòng,

Người không dấu tích ở trong cõi đời.



(C.183). Mọi điều ác độc không làm,

Hạnh lành thành tựu lại càng an vui.

Ý tâm trong sạch sáng ngời,

Là lời Phật dạy cho đời xưa nay.

(C.191). Thấy điều khổ tập khổ đời,

Thấy điều khổ thế, mấy người vượt qua.

Nếu đường tám chánh rõ ra,

Mọi điều khổ não chắc là hết ngay.

(C.194). Vui thay được Phật ra đời,

Vui thay nghe được những lời pháp ban.

Vui thay hòa hợp tăng đoàn,

Hòa đồng tu tập lại còn vui thay.O

XV. - PHẨM AN LẠC

(C.197). Vui thay chung sống hằng ngày,

Giữa vòng thù hận không gây hận thù.

Giữa vòng thù hận thiên thu,

Ta thường sống chẳng hận thù vui thay!

(C.198). Vui thay ta sống ở đời,

Không hề bệnh hoạn giữa người ốm đau.

Giữa người bệnh hoạn âu sầu,

Ta thường sống chẳng khổ đau lo buồn.

(C.199). Vui thay ta sống ở đời,

Không còn bận rộn giữa nơi rộn ràng.

Giữa người bận rộn lo toan,

Ta thường sống chẳng rộn ràng vui thay!

(C.201). Thắng thì sinh oán kết thù,

Bại thì chán nản âm u khổ sầu.

Lạc an tịch tịnh sống lâu,

Mọi điều thắng bại bỏ sau không màng.

(C.202). Lửa nào so được lửa tham?

Ác nào sánh được ngang hàng hận sân?

Khổ nào so khổ uẩn bằng ?

Lạc nào bằng lạc tịnh chăng hỡi người!

(C.205). Ai người đơn độc nếm mùi,

Hưởng mùi nhàn tịnh, lòng vui vô cùng.

Không còn ác độc hãi hùng,

Nếm mùi vị “pháp vui mừng”ngay thôi.

(C.207). Sống lâu với kẻ ngu đần,

Lâu dần rồi cũng nhuốm phần ưu tư.

Khổ thay gần gũi người ngu,

Như thường sống với kẻ thù đâu hơn.

Vui thay gần bậc trí nhân,

Như cùng sống với người thân họ hàng.O



XVI. - PHẨM HỶ ÁI

(C.209). Tự chuyên việc chẳng đáng chuyên,

Không chuyên việc lẽ ra chuyên uổng đời.

Đích buông theo hỷ ái thời,

Vẫn thường ganh tị với người tự chuyên.

(C.210). Cũng đừng gần kẻ yêu mình,

Trọn đời xa kẻ ghét mình cho yên.

Yêu mà không gặp khổ liền,

Ghét mà phải gặp cũng phiền cũng đau.

(C.215). Chỉ vì dục ái sinh sầu,

Chỉ vì dục ái lo âu hãi hùng.

Ai người dục ái thoát vòng,

Không sầu, không sợ, ung dung, thanh nhàn.

(C.217). Ai người giới đức đủ đầy,

Lý chơn chứng ngộ, vượt ngoài tử sanh.

Tự làm công việc của mình,

Được người yêu kính thực tình xưa nay. O

XVII. - PHẨM PHẪN NỘ

(C.217). Lìa xa phẫn nộ, mạn, nghi,

Vượt quatrói buộc xưa kia buộc ràng.

Sắc danh không bám không màng,

Khổ đau vô sản không mang bao giờ.

(C.223). Lấy không hờn hận thắng hờn,

Lấy lành thắng mọi nguồn cơn không lành.

Lấy lòng bố thí thắng tham,

Lấy chân thật thắng dối gian ở đời.

(C.228). Hiện thời quá khứ vị lai,

Bao giờ có được việc này hay không.

Ai người toàn bị chê ròng,

Ai người trọn vẹn được lòng người khen?

(C.234).Hay thay, người trí giữ thân,

Giữgìn lời nói cân phân nhẹ nhàng.

Giữ gìn tâm ý đàng hoàng,

Giữ gìn ba nghiệp rõ ràng sáng trong.       O

XVIII. - PHẨM CẤU UẾ

(C.235). Nay người như lá héo rồi,

Diêm vương sai sứ chờ ngươi ở ngoài.

Trước ngươi cửa chết đã bày,

Hành trang thiếu thốn, đường dài sao kham!

(C.204). Giống như rỉ tự sắt sinh,

Rỉ sinh ăn sắt thật tình ai hay,

Quá nhiều lợi dưỡng cũng vầy,

Dẫn vào cõi ác, nghiệp này tự gây.

(C.214). Có kinh không tụng dơ kinh,

Nếu không quản trị sẽ sinh dơ nhà.

Biếng lười nhơ sắc thân ta,

Buông lung nhơ bẩn người ra canh phòng.

(C.242). Nết tà nhơ nhớp đàn bà,

Xan tham nhơ nhớp phiền hà người cho.

Bấy lâu pháp ác: Vết nhơ,

Đời này, đời tới cũng như thế hoài.

(C.243). Trong hàng uế trược ấy thì,

Vô minh dơ nhất, không gì dơ hơn.

Những ai lìa nhớp nhơ thường,

Thành người không nhiễm những đường

nhớp nhơ.

(C.251). Lửa nào bằng được lửa tham?

Chấp nào sánh được ngang hàng hận sân?

Lưới nào bằng lưới si chăng?

Sánh bằng sông ái trầm luân sông nào ?

(C.252). Lỗi người tìm thấy dễ thay,

Lỗi mình khó thấy dẫu đầy dẫy ra.

Phanh phui tìm lỗi người ta,

Như là sàng gạo trấu ra tức thì.

Lỗi mình lấp liếm che đi,

Như người bài lận nệ chi dấu bài. O

XIX. - PHẨM PHÁP TRỤ

(C.257). Độc tài chẳng đúng pháp đâu,

Công bằng dẫn dắt cho nhau được rồi.

Trí nhân đúng pháp sống thời,

Xứng danh trụ pháp giữa đời nhân sinh.

(C.265). Ai người lắng diệu hoàn toàn,

Mọi điều lớn nhỏ gian tham không làm.

Lìa xa mọi sự hung tàn,

Vị này xứng đáng vào hàng Sa-môn.

(C.267). Những ai thiện ác đều xa,

Tu hành đạo hạnh thật là đẹp thay.

Sống bằng giới định tuệ hoài,

Xứng danh vị ấy là thầy Sa-môn.

(C.270). Chẳng lo chỉ giới cấm trì,

Chẳng lo học lắm, chẳng vì hiểu cao.

Chẳng do thiền định chứng cầu,

Sống nơi thanh vắng thâm sâu một mình.

(C.272). Ta thường vui hưởng thanh nhàn,

Phàm phu chưa thể lạc an yên bình.

Tỳ-kheo chớ có tin mình,

Khi mà lậu hoặc thật tình chưa xa.O

XX. - PHẨM ĐẠO

(C.273-5). Tốt thay đường chánh tám ngành,

Bốn câu nghĩa lý rọt rành, tốt thay.

Lìa tham là pháp rất hay,

Đẹp thay mắt pháp giữa loài hai chân.

Đường này chẳng phải đường nào,

Đưa vào thanh tịnh, biết bao diệu thường.

Cứ theo lối ấy mà nương,

Ma vương mê loạn, vô phương kiếm tìm.

115. Nếu người theo đúng đường này,

Đau thương khổ não rồi đây xa rời.

Con đường ta đã chỉ người,

Chông gai chướng ngại, trí ngời cũng qua.

(C.276). Hãy làm với cả nhiệt tình,

Như Lai đã dạy thì mình cứ đi.

Những người thiền định hành trì,

Thoát vòng trói buộc những gì ác ma.

(C.287). Người nào tâm ý đắm say,

Nào là con cái vật ngoài, của trong.

Kẻ này thần chết đang lùng,

Như làng say ngủ giữa vùng lụt trôi.O

XXI. - PHẨM TẠP LỤC

(C.293). Ai người cần mẫn siêng năng,

Vẫn thường quán chiếu, tự thân niệm hoài.

Việc nào không đáng bỏ ngoài,

Việc nào đáng việc, miệt mài cho xong.

Ai người suy niệm tỉnh lòng,

Tiêu trừ lậu hoặc, lóng trong tâm hồn.

(C.296). Đã là đệ tử Thích-ca,

Tự mình tỉnh giác để mà đi lên.

Miệt mài bất kể ngày đêm,

Luôn luôn tưởng niệm trong tâm Phật-đà.

(C.298). Học trò của Phật Thích-Ca,

Phải luôn tỉnh thức để mà đi lên.

Miệt mài bất kể ngày đêm,

Hướng về chánh pháp thường xuyên niệm

hoài.

(C.302). Khó thay, vui hạnh xuất gia,

Tại gia sinh hoạt thật là khó khăn.

Khổ thay, sống chẳng tri âm,

Khổ thay, cứ phải trôi lăn luân hồi!

Vậy thì chớ sống buông trôi,

Chạy hoài theo cảnh luân hồi khổ đau.O

XXII. - PHẨM ĐỊA NGỤC

(C.312). Sống mà phóng túng buông lung,

Vượt ngoài giới cấm vô cùng nhiễm ô.

Sống mà phẩm hạnh đáng ngờ,

Thế thì quả lớn bao giờ chứng nên.

(C.314). Thế nên nghiệp ác không làm,

Làm rồi khổ lụy, lo toan, u buồn,

Nghiệp lành thực hiện vẫn hơn,

Làm xong thơ thới tâm hồn an vui.

(C.315). Như là thành lũy biên thùy,

Trong ngoài đều phải thường khi canh phòng.

Cũng như luôn phải giữ lòng,

Để không buông thả trong từng sát-na,

Phút giây sầu muộn thoáng qua,

Sa vào địa ngục thật là đáng thương.

(C.316). Việc không đáng thẹn, thẹn sao ?

Việc làm đáng thẹn, nhưng nào thẹn đâu.

Chỉ vì tà kiến ăn sâu,

Sanh vào nẻo dữ, khổ đau không cùng.O

XXIII. - PHẨM VOI

(C.320). Ta như voi giữa trận tiền,

Phải đành hứng chịu mưa “tên” bao kỳ.

Chịu nhiều phỉ báng thị phi,

Là do giới ác nhiều khi người làm.

(C.327). Hãy vui vì chẳng buông lung,

Giữ gìn khéo léo, canh chừng ý tâm.

Vượt ngoài đường ác tối tăm,

Như là voi đã ra chân khỏi lầy.

(C.329). Không cùng người trí đồng hành,

Để cùng chung sống hạnh lành an vui.

Như vua nước bại bỏ ngôi,

Như voi sống giữa rừng voi một mình.

(C.330). Tốt hơn hãy sống một mình.

Không cùng ngu muội đồng tình kết thân.

Độc thân sống chẳng ác tâm,

Như voi sống giữa rừng thâm không buồn.

(C.33-3). Vui thay có bạn lúc cần,

Vui thay biết đủ, yên tâm sống hoài.

Vui thay chết được đức dầy,

Vui thay đau khổ xưa nay hết rồi.

Vui thay hiếu kính mẹ ta,

Vui thay hiếu kính bên cha một lòng.

Vui thay kính trọng Sa-môn,

Vui thay quý kính Chí Tôn, thánh hiền.

Già còn giới hạnh vui thay !

Vui thay an trú niềm tin vậy hoài.

Vui thay trí tuệ đủ đầy,

Vui thay việc ác xa ngay không làm.        O

XXIV. - PHẨM THAM ÁI

(C.341). Người đời ái dục ngập mình,

Thấy điều sung sướng mỏng manh hài lòng.

Tuy rằng an lạc cầu mong,

Họ thường vẫn phải nằm trong sanh già.

(C.343). Những người ái dục buộc ràng,

Vẫy vùng run sợ, kinh hoàng không ra.

Như là thỏ bị lưới sa,

Tỳ-kheo do vậy chớ mà đa mang.

Mong cầu lìa hẳn xan tham,

Nhiếp hàng ái dục buộc ràng bấy lâu.

(C.347). Những người ái dục đắm say,

Như lao mình xuống dòng xoay nước vần.

Như là nhện vướng lưới giăng,

Không màng đau khổ, trí nhân quyết trừ.

(C.348). Tương lai, quá khứ, hiện giờ,

Bỏ qua để quyết qua bờ bên kia.

Ý tâm giải thoát hết kìa,

Để vòng sanh tử xưa kia đừng ràng.

(C.353). Ta từng hàng phục mọi đàng,

Ta từng mọi việc rõ ràng trước sau.

Ta không bị nhiễm pháp nào,

Ta từ bỏ cả, thấp cao không màng.

Ái lìa, giải thoát buộc ràng,

Tự mình trí tuệ, ai làm thầy ta ?

(C.354). Quà pháp hơn hẳn các quà.

Vị pháp cao tột, vượt qua vị mùi.

Vui pháp hơn các niềm vui,

Ái tham chấm dứt, chẳng vùi khổ đau.O

XXV. – PHẨM TỲ-KHEO

(C.360-1). Lành thay gìn giữ mắt này,

Lành thay gìn giữ tốt hoài hai tai,

Lành thay gìn giữ lưỡi ngay,

Lành thay giữ mũi không say đắm mùi.

Lành thay gìn giữ thân này,

Lành thay gìn giữ cho ngay thẳng lời.

Lành thay gìn giữ cả rồi,

Tỳ-kheo được vậy xa rời khổ đau.

(C.367). Hoàn toàn đối lại sắc danh,

Không còn chấp ngã, của mình, của ta.

Không còn chấp mắc phiền hà,

Vị này xứng đáng gọi là Tỳ-kheo.

(C.376). Tiếp người thân thiện ân cần,

Giữ gìn cử chỉ muôn phần đoan trang.

Được vầy mọi sự hân hoan,

Rồi ra dứt mọi lo toan khổ sầu.

(C.382). Tỳ-kheo nhỏ tuổi nhưng mà,

Siêng tu giáo pháp Phật-đà anh minh.

Sáng soi nhân sự ba sinh,

Như là trăng sáng thoát mình khỏi mây.O

XXVI- PHẨM BÀ-LA-MÔN

(C.385). Bờ này cho đến bờ kia,

Hai bờ không có đã lìa hết ra.

Khổ lìa, trói buộc dứt ra,

Thì ta gọi đó là Bà-la-môn.

(C.386). Tu thiền thường trú lìa trần,

Không còn lậu hoặc mọi phần việc xong.

Đích cao đã đạt tột cùng,

Bà-la-môn đấy tên dùng đâu sai.

(C.387). Mặt trời chỉ sáng ban ngày,

Mặt trăng chỉ sáng soi hoài ban đêm.

Chiến binh khí giới sáng lên,

Những trang Phạm chí định thiền sáng soi.

Hào quang Đức Phật rạng ngời,

Vẫn luôn sáng rực muôn nơi đêm ngày.

(C.391). Với người mà miệng ý thân,

Mọi điều làm ác xưa gần nay xa.

Giữ gìn ba nghiệp thật thà,

Thì ta gọi họ là Bà-la-môn.

(C.396). Gọi là Phạm chí không vì,

Tổ tông, mẹ đẻ, không vì chỗ sanh.

Tên suông gọi vậy chẳng thành,

Khi tâm phiền não hoành hành chưa xa.

Não phiền chấp trước thoát ra,

Thì ta gọi đó là Bà-la-môn.

(C.406). Giữa thù, thân thiện không thù,

Giữa vòng hung hãn ôn nhu, nhân hòa.

Giữa vòng ô nhiễm không sa,

Thì ta gọi đó là Bà-la-môn.

(C.412). Người nào sống ở đời này,

Mọi điều thiện ác hàng ngày buông xa.

Không rầu rũ bụi sạch ra,

Thì ta gọi đó là Bà-la-môn.

(C.414). Vượt đường nguy hiểm xong rồi,

Luân hồi nhiếp phục, xa rời ngu si.

Định thiền sang bến bên kia,

Mạn nghi đã dứt xa lìa dục tham.

Không còn chấp trước tịnh an,

Bà-la-môn đấy rõ ràng không sai.

(C.417). Bỏ đi trói buộc loài người,

Cả vòng trói buộc cõi trời vượt qua.

Buộc ràng giải thoát hết ra,

Thì ta gọi đó là Bà-la-môn.

(C.423). Ai người đời trước biết rồi,

Rọt rành xứ đọa, cõi trời mông mênh.

Ai người đã hết diệt sinh,

Viên thành thắng trí, thực tình Mâu-ni.

Tựu thành viên mãn cả thì,

Bà-la-môn đấy có gì sai đâu.

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá) OOO

--- o0o ---

Kinh Nền Tảng Đức Tin

Thứ năm

Tôi nghe như vầy, một hôm nọ Đức Thế Tôn và đại chúng Tỳ-kheo du hành đến thị trấn Kê-sa-pu-ta của sắc dân Ka-la-ma thuộc nước Kô-sa-la. Hôm ấy dân chúng cung kính quây quần bên Đức Phật. Có người thành kính vấn an sức khỏe. Có người cung kính đảnh lễ. Có người lễ phép khoanh tay. Và có người lặng lẽ chăm chú ngắm nhìn tôn nhan của Đức Phật và đại chúng Tỳ-kheo. Rồi vài người trong số họ bắt đầu thưa chuyện: O


- Bạch đức Thế Tôn ! Có một số Sa-môn, Bà-la-môn đi đến Kê-sa-pu-ta này truyền đạo, vị nào cũng hết lời tán thán, khuyến dụ người khác theo đạo của mình, đồng thời họ không tiếc lời chê bai, phê phán, khinh miệt lời dạy và đạo của vị khác. Sự việc này làm chúng con phân vân: Vị nào tuyên bố sự thật? Đạo nào là chân lý? Vị nào tuyên bố sai sự thật? Đạo nào không phù hợp chân lý? Chúng con nên theo ai và phụng sự đạo nào ?


Đức Phật ôn tồn dạy bảo:


- Này các thiện nam, tín nữ, các vị phân vân, nghi ngờ là điều tất yếu và hợp lý. Trong trường hợp như vậy, các vị không nên vội tin hay bác bỏ quan điểm của đạo nào, khi mà các vị chưa tìm hiểu đạo ấy một cách thấu đáo. Này các thiện nam tín nữ Ka-la-ma, nhân đây Như Lai sẽ giảng giải về mười nền tảng của đức tin chân chánh.


Một là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.


Hai là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.


Ba là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.


Bốn là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở.


Năm là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.


Sáu là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.


Bảy là, chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.


Tám là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.


Chín là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.


Mười là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết O


- Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: “Lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán. Nếu sống và thực hiện các lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay hiện tại và về lâu, về dài” thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.


- Này các vị hãy nghĩ xem, khi lòng tham, lòng sân, lòng si, lòng hung hăng… đã được vứt khỏi nội tâm con người, thì con người sẽ được hạnh phúc hay bất hạnh?


Dân chúng Ka-la-ma trả lời:


- Bạch Thế Tôn, người ấy sẽ sống hạnh phúc.


Đức Phật dạy tiếp:


- Này các thiện nam tín nữ, đúng vậy. Vì khi họ không còn lòng tham, lòng sân, lòng si, lòng hung hăng chi phối, chinh phục, họ sẽ không khởi lên ý nghĩ hay hành động bức hại sinh linh, lấy của không cho, quan hệ tình cảm bất chính, nói láo, uống rượu, cũng như họ không còn khích lệ người khác làm những điều xấu ác trên. Như Lai tuyên bố sự xa rời ấy giúp cho con người sống hạnh phúc, an lạc lâu dài. O


- Này các thiện nam tín nữ, xa lìa tham, sân, si và các pháp nhiễm ô là thiện hay ác, là có phước hay tội, có được người trí tán thán hay không ?


- Bạch Thế Tôn, theo chúng con hiểu, đó là khuynh hướng thiện ích, là việc làm phước báu, bậc trí sẽ tán thán và người làm được như vậy sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài.


Đức Phật tán thán:


- Lành thay, lành thay, hỡi dân tộc Ka-la-ma như mười đức tin nền tảng mà Như Lai vừa giảng dạy cũng như những điều vừa thảo luận: Chỉ khi nào quý vị suy tư, chiêm nghiệm và nhận thức xác đáng điều gì là chân chính, lợi ích cho mình và người khác rồi hãy đem lòng tin tưởng và làm theo. Đó là tiêu chuẩn của đức tin chân chánh, các vị nên học hỏi.


Khi nghe Đức Phật phân tích, khai thị về đức tin chân chánh, bất động, dân tộc Ka-la-ma vô cùng thán phục, cung kính đảnh lễ Đức Phật và phát nguyện trở thành các Phật tử tại gia, tinh cần phụng sự Tam Bảo và vâng giữ năm nguyên tắc đạo đức. O


Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá)OOO


--- o0o ---

Kinh Từ Tâm

Thứ sáu

Tôi nghe rằng có một thời,

Tại thành Xá-vệ, ở nơi Kỳ Hoàn.

Thế Tôn cho gọi chúng tăng,

Các thầy cung kính thưa vâng đáp lời.

Thế Tôn thuyết giảng pháp lành

Khuyên người tu tập nên hành từ tâm. O

Là người nên tập ân cần

Thương yêu trải khắp kẻ gần người xa.

Tấm lòng nhân ái bao la,

Thật là thuần khiết, thật là cao thâm.

Hướng về tất cả chúng sanh,

Tâm từ tu tập quên mình mà thương. O

Không vì ái luyến vấn vương,

Không vì mong đợi chút đường lợi danh,

Không vì ân nghĩa riêng tình,

Cũng đừng cân nhắc với mình lạ quen.

Thương người quen, lẽ tất nhiên,

Cũng thương những kẻ chưa quen bao giờ

Xoá đi ngăn cách thờ ơ,

Xóa đi ngần ngại hững hờ bấy lâu. O

Tình thương lan tỏa đến đâu,

Giúp xây nơi ấy nhịp cầu cảm thông.

Người từ tâm đủ bao dung,

Đủ lòng độ lượng, đủ lòng thương yêu.

Với người mưu hại đủ điều,

Bất nhân ác cảm gây nhiều thương đau

Người từ tâm trước như sau: O

Trải lòng ra mãi, thương nhau tình người.

Với người oán ghét bao đời,

Nguồn thương yêu ấy làm vơi tị hiềm.

Chuyện không hay, chẳng trách phiền,

Để cho vơi bớt nghiệp duyên với người.

Người từ tâm trước muôn loài,

Đem lòng thương xót cảnh đời không may.

Thương người sống kiếp đọa đày,

Làm thân cầm thú nghiệp gây chẳng lành.O

Hoặc loài ngạ quỷ vô hình,

Hoặc trong địa ngục tội tình vương mang.

Tâm từnhư ánh trăng ngàn,

Dịu dàng soi thấu mọi đàng trầm luân.

Ở đâu có chúng hữu tình

Thì ngay nơi ấy từ tâm hướng về. O

Như tàng lá mát rộng che,

Chúng sanh vô lượng tâm từ vô biên.

Tâm từ như suối triền miên,

Thấm vào mạch sống mọi miền an vui.

Tâm từ làm gốc vun bồi,

Cho người cao thượng cho đời vinh hoa. O

Thấy người khổ nạn khó qua,

Lòng mình đau xót như là khổ chung.

Thấy người hạnh phúc thành công,

Lòng mình sung sướng như cùng vui theo.

Thấy người lầm lỗi ít nhiều,

Lòng mình tha thứ mến trìu càng hơn.

Người từ tâm sống vẹn toàn,

Thương yêu bình đẳng, sắt son bền lòng.

Cho dù không ước không mong,

Phước lành tự đến do công đức thành: O

Một là ngủ được an lành,

Bởi lòng mình đã chân thành thương yêu,

Bởi không lừa lọc dệt thêu,

Bởi không toan tính lắm điều chua ngoa.

Tâm tình không gợn xấu xa,

Tham lam, sân hận, cùng là si mê.

Đầu hôm đến lúc tinh mơ,

Khổ ưu tắt lịm, thới thơ giấc nồng. O

Hai là rời bước khỏi giường,

Lòng mình một mực bình thường yên vui.

Khi đi đứng, lúc nằm ngồi

Không còn tiếc nhớ đua đòi ước ao.

Từ tâm hóa giải đẹp sao,

Muộn phiền sân hận tan vào hư không.

Lòng mình luôn giữ trắng trong,

Nguồn an lạc trải tựa đồng bao la.

Ba là từ ái lan xa,O

Làm cho cảm ứng chan hòa cùng nhau.

Ai ai cũng thấy mến yêu,

Đem lòng ngưỡng mộ người nêu tâm từ.

Bốn là loài chẳng phải người, O

Một khi cảm nhận biết người từ tâm,

Cũng dành cho những tình thân,

Hộ trì người được những thành tựu vui.

Năm là thiên chúng cõi trời,O

Nhờ công tu tập nên người từ tâm.

Thấy người nào tính ai lân,

Nay theo gia hộ để cùng tiến tu.

Sáu là hiểm nạn đang chờ,O

Dầu sôi lửa bỏng mịt mờ kiếm cung,

Cùng bao nhiêu thứ độc trùng

Không sao xâm phạm đến vùng trú thân.

Bảy do huân tập từ tâm, O

Thác sanh Phạm Chúng, làm dân cõi trời,

Được nhiều phước báo tuyệt vời,

Và tâm từ được trau dồi thêm lên.

Tám là đầy đủ thiện duyên,O

Người từ tâm biết thường xuyên chuyên cần.

Làm cho đức hạnh được thuần,

Thành vườn ruộng tốt gieo trồng đại bi.

Đượm nhuần vô ngã, vô si,

Con đường giải thoát bước đi thêm gần.

Khéo an trú, khéo tác thành,

Thân tâm an ổn, vững vàng, lắng sâu. O

Tâm từ khi được khéo tu,

Làm cho trói buộc được mau tháo dần.

Không còn dấu vết tham sân,

Niết-bàn hiển lộ thênh thang giữa đời.

Thế Tôn thuyết giảng mấy lời,

Mọi người vui nhận tin rồi làm theo. O

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá) OOO

--- o0o ---

Kinh Phước Đức

Thứ bảy

Đây là những điều tôi được nghe thời Đức Thế Tôn còn cư trú gần thành Xá-vệ, tại tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn cây Kỳ-đà. Hôm đó trời đã vào khuya, có một vị thiên hiện xuống tham vấn Người, hào quang và vẻ đẹp của thiên giả làm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, vị thiên giả xin tham vấn Người bằng một bài kệ:O


Thiên và nhân thao thức

Muốn biết về phước đức

Để sống đời an lành

Xin Thế Tôn chỉ dạy.



Khi ấy, Đức Thế Tôn tán thán vị thiên nhân và lần lượt chỉ dạy mười phương pháp nuôi lớn phước đức như sau:O



1. Phương pháp thứ nhất là

"Lánh xa kẻ xấu ác,

Luôn thân cận người hiền,

Tôn kính bậc đáng kính,

Là phước đức lớn nhất."      O

2. Phương pháp thứ hai là

"Sống trong môi trường tốt,

Được tạo tác nhân lành,

Được đi trên đường chánh,

Là phước đức lớn nhất."      O

3. Phương pháp thứ ba là

"Có học có nghề hay,

Biết hành trì giới luật,

Biết nói lời ái ngữ,

Là phước đức lớn nhất."      O

4. Phương pháp thứ tư là

"Được cung phụng mẹ cha,

Yêu thương gia đình mình,

Được hành nghề thích hợp,

Là phước đức lớn nhất."      O

5. Phương pháp thứ năm là

"Sống ngay thẳng bố thí,

Giúp quyến thuộc thân bằng,

Hành xử không tỳ vết,

Là phước đức lớn nhất."      O

6. Phương pháp thứ sáu là

"Tránh không làm điều ác,

Không say sưa nghiện ngập

Tinh cần làm việc lành,

Là phước đức lớn nhất."      O

7. Phương pháp thứ bảy là

"Biết khiêm cung lễ độ

Biết đủ và nhớ ơn,

Không bỏ dịp học đạo,

Là phước đức lớn nhất."      O

8. Phương pháp thứ tám là

"Biết kiên trì, phục thiện,

Thân cận giới xuất gia,

Dự pháp đàm học hỏi,

Là phước đức lớn nhất."      O

9. Phương pháp thứ chín là

"Sống tinh cần tỉnh thức,

Học chân lý nhiệm mầu,

Thực chứng được Niết-bàn,

Là phước đức lớn nhất."      O

10. Phương pháp thứ mười là

"Hành xử trong nhân gian,

Tâm không hề lay chuyển,

Phiền não hết, an nhiên,

Là phước đức lớn nhất."      O

Để chấm dứt bài pháp ngắn gọn nhưng sâu xa và thiết thực này, Đức Phật đã khuyến khích đại chúng bằng bài kệ sau đây:


"Ai sống được như thế

Đi đâu cũng an toàn,

Tới đâu cũng vững mạnh,

Phước đức của tự thân."


Sau khi nghe Đức Phật tuyên dương mười cách thức tạo phước đức, toàn thể đại chúng đều vui mừng chưa từng có và phát nguyện làm theo.      O

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá) OOO

--- o0o ---

Kinh Sáu Pháp Vô Thượng

Thứ tám

Chính tôi được nghe, một hôm nọ, Đức Phật gọi các thầy Tỳ-kheo đến và dạy rằng:


- Này các Tỳ-kheo, có sáu nhu cầu vô thượng mà các Thầy và các thiện nam tín nữ cần phải học, đó là: Thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng và tùy niệm vô thượng.     O


1- Này các Tỳ-kheo, có rất nhiều người thích đi xem các loại voi báu, ngựa báu, châu báu, các đồ cổ hay yết kiến các Sa-môn, Bà-la-môn tà kiến, tà hạnh. Như Lai cho rằng đây không phải là những đối tượng đáng tham kiến hay chiêm ngưỡng. Vì sự thấy này mang tính hạ liệt, phàm phu, không liên hệ và không có ích gì cho sự tu tập, an lạc và giải thoát. Chỉ khi nào đi yết kiến Thế Tôn, các vị thánh tăng, những vị giới đức với lòng tin và ái mộ an trú, để học hỏi, tu tập thì sự thấy này mới thật sự cần thiết, là nhu cầu vô thượng. Vì nó có thể giúp người phàm trở nên thánh thiện, thanh tịnh và vượt qua đau khổ. Hãy học tập sựthấy vô thượng này.O


2- Này các Tỳ-kheo, có người thích thú đi nghe các loại âm thanh, nhạc điệu, hoặc nghe pháp của các Sa-môn, Bà-la-môn tà kiến, tà hạnh rồi hoan hỷ làm theo. Như Lai cho rằng đây không phải là những cái đáng nên nghe. Vì sự nghe này mang tính phàm phu, không liên hệ đến mục đích xa lìa sự nhiễm đắm, không đạt được an tịnh, giải thoát. Chỉ với ai biết tìm kiếm và thích nghe chánh pháp của Như Lai hay những lời đạo lý chân chánh với lòng tin và ái mộ an trú để học hỏi, tu tập, thì sự nghe này mới thật sự là cần thiết, là nhu cầu vô thượng. Vì nó có thể giúp người phàm trở nên thánh thiện, thanh tịnh và vượt qua đau khổ, hãy học tập sự nghe vôthượng này.O


3- Này các Tỳ-kheo, có người cảm thấy mình hạnh phúc khi có được người bạn đời, con cái, tài sản hay có lòng tin vào các Sa-Môn, Bà-la-môn tà kiến, tà hạnh. Như Lai cho rằng đây không phải là những đối tượng đáng được lợi đắc. Vì lợi đắc này mang tính phàm phu, không liên hệ đến mục đích xa lìa sự tham chấp, không đạt được sự an tịnh, giải thoát. Chỉ với ai biết tìm kiếm và được các tài sản thánh, đạt được lòng tin vào Như Lai, vào chánh pháp, vào Tăng đoàn với chánh tín, ái mộ, thì sự lợi đắc này mới thật sự cần thiết, là nhu cầu vô thượng. Vì nó có thể giúp người phàm trở nên thánh thiện, thanh tịnh và vượt qua đau khổ. Hãy học tập sự lợi đắc này.       O


4- Này các Tỳ-kheo, có người cảm thấy hạnh phúc khi học tập về sinh vật học, binh pháp học và các nghề khác nữa. Nhưng Như Lai cho rằng đây không phải là cái thật sự đáng học. Vì sự học này thuộc phàm phu, không liên hệ đến mục đích xa lìa sự tham chấp, không đạt được sự an tịnh, giải thoát. Chỉ với ai nỗ lực học về giới đức thánh, thiền định thánh, và trí tuệ thánh với lòng chánh tín, ái mộ thì sự học tập này mới thật sự cần thiết, là nhu cầu vô thượng. Vì nó có thể giúp người phàm trở nên thánh thiện, thanh tịnh và vượt qua đau khổ. Hãy học tập sự học tập vô thượng này.         O


5- Này các Tỳ-kheo, có người cảm thấy hạnh phúc khi được phục vụ các vua chúa, Bà-la-môn, những người giàu có hay các cấp bậc sai khác trong xã hội. Như Lai cho rằng đây không phải là các đối tượng thật sự đáng phục vụ. Vì sự phục vụ này thuộc phàm phu không liên hệ đến mục đích xa lìa sự tham chấp, không đạt sự an tịnh, giải thoát. Chỉ với ai biết phục vụ Như Lai, Chánh pháp và những bậc giới đức với lòng chánh tín, ái mộ, thì sự phục vụ này mới thật sự cần thiết, là nhu cầu vô thượng. Vì nó có thể giúp người phàm trở nên thánh thiện, thanh tịnh và vượt qua đau khổ. Hãy học tập sự vô thượng này.         O


6- Này các Tỳ-kheo có người cảm thấy hạnh phúc khi nhớ đến người bạn đời, con cái, tài sản, nhà cửa, thầy tà, bạn xấu. Như Lai cho rằng đây không phải là các đối tượng đáng nhớ nghĩ. Vì sự nhớ nghĩ này mang tính phàm phu, không liên hệ đến mục đích xa lìa sự tham chấp, không đạt được sự an tịnh, giải thoát. Chỉ với ai biết nhớ nghĩ đến Như Lai, chánh pháp, những bậc đạo đức với lòng chánh tín, ái mộ, thì sự nhớ nghĩ này mới thật sự cần thiết, là nhu cầu vô thượng. Vì nó có khả năng giúp người phàm trở nên thánh thiện, thanh tịnh và vượt qua đau khổ. Hãy học tập sự nhớ nghĩ vô thượng này.O


***


Khi nghe Đức Phật phân tích, giảng dạy về sáu pháp vô thượng, có khả năng giúp chúng sanh vượt thoát các khổ ách, đạt được hạnh phúc, tất cả đại chúng đều hớn hở và phát nguyện làm theo.         O


Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.(3 lần, xá 3 xá) OOO


--- o0o ---

Kinh Hiền Nhân

Thứ chín

Lúc bấy giờ, Đức Phật lưu trú tại nước Xá-vệ với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo.


Cư sĩ Tu-đạt ngày ngày thân hành phụng sự Phật. Ông vâng lời Ngài giữ năm giới: không sát hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Vốn là một người hiểu đạo đúng đắn, ông luôn phát tâm bố thí, cứu giúp kẻ bần cùng khốn khổ, nên người ta tặng ông tên Cấp Cô Độc, nghĩa là nuôi giúp những kẻ cô đơn, khốn cùng. O


Cư sĩ muốn lập một Tịnh xá cúng dường Đức Phật và Tăng đoàn. Ông đi nhiều nơi tìm đất cuối cùng chỉ có khu vườn của Thái tử Kỳ-đà là vừa ý ông. Khu vườn ấy bằng phẳng, rộng hơn 80 khoảnh, cách thành không xa mấy. Trong vườn trồng nhiều cây có quả, đây đó đều có suối chảy, ao tắm rất tiện lợi, sạch sẽ, không có kiến bọ muỗi ruồi.


Nhận thấy chỗ đất ấy có thể lập Tinh xá, cư sĩ Tu-đạt liền đến năn nỉ Thái tử Kỳ-đà để mua lại. Thái tử mỉm cười đáp:


- Nếu ông có thể đem vàng ròng lót cho kín, không chừa một khoảnh đất nào trong vườn, thì với giá ấy tôi sẽ bán khu vườn này cho ông.


Cư sĩ Tu-đạt vui vẻ gật đầu, rồi sai người đem voi chở vàng trong kho của mình ra và cùng nhau lát, trong giây phút đã hơn 40 khoảnh đất.


Thái Tử Kỳ-đà vừa ngạc nhiên vừa thán phục, đứng nhìn ngẫm nghĩ: “Chắc Đức Phật có đạo lý gì cao thâm lắm nên mới khiến cho ông này trọng đạo khinh tài đến thế.”


Thái Tử phát tâm nói rằng:


- Thôi đủ rồi, đừng chở vàng tới nữa. Bây giờ thì thế này: Vườn đất thuộc về ông, ông lập Tịnh Xá cúng Phật. Còn tôi thì cúng cho Đức Phật và Tăng đoàn tất cả những cây trái trong vườn.


Cư sĩ ưng thuận. Hai người đồng lòng cùng lập tịnh xá và đồng đi rước Phật dâng cả vườn nhà cây trái cho Ngài.


Đức Phật nhận lời, đến Tịnh xá cư trú với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo.


Từ đó về sau, chỗ ấy gọi là Kỳ Thọ Cấp Cô ĐộcViên.O


Lúc ấy, đức vua trong nước là Ty-tiên-nặc rất sùng kính đạo pháp. Ông trị nước an dân theo lời Phật dạy, nhờ đó, lúa thóc được mùa, bá tánh lạc nghiệp, đạo Phật ảnh hưởng sâu rộng. Sự việc đó đã làm cho các hàng ngoại đạo, tà giáo ganh ghét Đức Phật. Họ bày mưu hại Đức Phật bằng cách giết thiếu nữ Tôn-đà-ly, con cháu họ, lén chôn trong khuôn viên Tịnh xá rồi phao tin vu khống Đức Phật và giáo đoàn đã giết người vô tội, hòng làm giảm ảnh hưởng của Đức Phật. Nhưng việc ác đã hại kẻ ác.


Sau khi rõ âm mưu của ngoại đạo, vua với quần thần đến đảnh lễ Đức Phật. Lúc bấy giờ cư sĩ Cấp Cô Độc cùng các vị thành tín và nhân dân trong nước đều đến hầu Phật, làm lễ xong, mỗi người đều ngồi qua một bên. O


Nhà vua đứng dậy, chắp tay thưa:


- Bạch Đức Thế Tôn, khi nghe lời vu oan của ngoại đạo ai cũng lấy làm ngạc nhiên cả. Thực chỉ có Phật là chân thật hoàn toàn, thanh tịnh không lường. Bạch Ngài! song chẳng hay vì nhân duyên gì mà xảy ra việc không hay như thế !


Đức Phật chậm rãibảo vua Ty-tiên-nặc:


- Này đại vương ! Con người sở dĩ có tính vu khống là do lòng tham lam, tật đố mà ra. Song việc ấy trước kia đã từng xảy ra, chứ chẳng phải mới đây mà thôi.


Vua cúi đầu:


- Bạch đức Thế Tôn, chúng con muốn nghe việc của kiếp đó.


Nhân đó, Đức Phật dạy:


- Này Đại vương ! Ta đã từng trải qua bao nhiêu vô số kiếp tu hành, vì đạo Bồ-tát, đem lòng từ bi độ thoát cho mọi loài.O


- Thời xưa có một nước tên Bồ-lân-nại, nhân dân đông đúc, sự sinh hoạt thật là phồn thịnh.


Trong nước có một người Phạm-chí tên là Cù-đàm, tài trí thông minh bậc nhất. Ông có ba người con, đứa con út có một thân hình đoan chính, đẹp đẽ không ai bằng, tên là Hiền Nhân.


Hiền Nhân thuở nhỏ rất chăm chỉ học hành. Lớn lên, tài, nghệ hơn người, làu thông kinh sử, và có tiết hạnh, giới đức đặc biệt. Hiền Nhân tánh từ bi, lại rõ việc tai nạn họa phúc, bào chế thuốc men, không gì không biết.


Sau khi ông Cù-đàm qua đời, hai người anh của Hiền Nhân trở nên tham lam, ích kỷ và ganh tỵ. Hiền Nhân xin phép mẹ xuất gia, học đạo, chẳng bao lâu đã giác ngộ tự tâm. Người lại trừ được năm món dục lạc: Mắt không còn tham đắm hình sắc trần gian. Tai không còn tham đắm âm thanh vi diệu. Mũi không nhiễm mùi hương ngây ngất. Lưỡi không ưa thích vị ngon, và Thân không còn ưa lụa là và cảm giác êm dịu.     O


Hiền Nhân hay dùng trí huệ phương tiện tuỳ thuận giáo hóa thiên hạ, khuyên người làm mười điều lành, thảo thuận cha mẹ, vâng thờ sư trưởng. Những ai lòng nghi hoặc, Hiền Nhân đều giáo hóa họ tư tưởng đạo đức. Người dạy họ rằng: Có sanh ắt có tử, làm lành gặp lành, làm dữ mắc họa, tu đạo đắc đạo, là lẽ dĩ nhiên. Thấy người nào bị nguy ách, Hiền Nhân độ cho thoát khỏi. Ai bị bệnh tật thì Người ban cho thuốc thang. Ai đói khổ thì Người ban cho vật thực. Ở đâu có nước lụt, cháy nhà, nắng hạn nguy hiểm, nếu có Hiền Nhân đến đều được bình an. Bao nhiêu độc hại đều bị tiêu diệt. Khi bấy giờ có một nước lớn, nhân dân giàu có đông đúc, yên vui. Vua nước ấy tên là Lâm Đạt thường giao trách nhiệm triều chính cho bốn quan cận thần. Nhưng bốn quan cận thần ấy chuyên làm những việc tà siểm, dâm ô, gian dối và bóc lột đủ điều. Dân chúng thiệt hại, ta thán mà vua không hề hay biết. Hiền Nhân thấy thế lấy làm thương xót, người cầm bát ra ngoài thành ở trọ lại nhà của đạo nhân Sa-đà bảy ngày. Qua ngày thứ tám Hiền Nhân mới vào thành khất thực. O


Khi đó nhà vua đứng trên thành trông thấy Hiền Nhân tuổi còn trẻ mà đã có cái phong vị đoan chánh ung dung, dáng đi có vẻ phi thường liền sanh lòng kính mến. Ngài liền bước xuống vàđến thưa hỏi:


- Xin đạo nhân lưu trú tại đây. Tôi có Tịnh xá ngoài thành, đạo nhân nên ở lại trong ấy. Tôi sẽ xin cung cấp những thứ cần dùng.


Hiền Nhân nhận lời. Vua từ giã về cung bảo Phu Nhân:O


- Vị đạo sĩ ấy không phải người thường, sáng mai Ngài nên đến ra mắt Ta.


Phu Nhân lấy làm vui vẻ và con chó của vua Tân-kỳ nằm dưới gầm giường cũng mừng rỡ ngoắc đuôi.


Sáng hôm sau, Hiền Nhân vào cung, nhà vua và Phu nhân ra nghênh tiếp làm lễ thỉnh Ngài thọ thực.


Thọ thực xong vua mời Ngài ra tinh xá. Hiền Nhân tiện dịp nói cho vua hiểu phép tắc trị nước an dân. Nhà vua vui mừng quá, nhân đó thỉnh Người phụ lực cùng bốn vị đại thần chung lo việc nước, Hiền Nhân nhận lời.


Bốn quan cận thần vốn quen ăn chơi, khiếp nhược, không hết lòng với quốc gia, chỉ biết tham ô bóc lột dân chúng. Một ông thường nói “Sau khi người ta chết, thần hồn sẽ diệt mất không sinh trở lại nữa.” Ông thứ hai chủ trương: “Nghèo, giàu, vui, khổ cũng đều do trời định.” Một ông lại nói: “Làm lành không được phúc cũng như làm ác không có tai họa gì.” Ông thứ tư lại ỷ mình biết xem tinh tú. Không ông nào lo việc triều chính, ông nào cũng tham lam siểm nịnh. Còn Hiền Nhân từ khi giúp nước, làm nhiều điều lợi ích. Hiền Nhân rất thông minh, tài cao, sức mạnh lại có lòng nhân nghĩa, cung kính. Hiền Nhân ít nói mà hễ nói gì thì miệng luôn nở nụ cười nên trong khi đối đãi người, không làm phật ý một ai. O


Người thật là trong sạch và thiểu dục, không tham sắc, giản dị; phép trị dân không làm phiền ai. Người lại biết được cả tai hoạ có thể xảy ra, cứu người khỏi chết, thương dân như con. Người lấy đạo đức dạy dân, khuyên họ không nên say sưa săn bắn, chài lưới chim cá và loài dã thú, không sát sinh, trộm cắp, dâm ô dối trá, dèm siểm, hỗn ẩu, gian nịnh, ganh ghét, gây sự, kình lộn, giận dữ, yêu nghiệt và nghi ngờ. O


Bấy giờ nhân dân trong nước nhờ Hiền Nhân giáo hóa đều trở nên hiền lương. Từ khi Hiền Nhân giúp vua, việc triều chính, nước nhà yên ổn, mưa thuận gió hòa, mùa màng sung túc, các quan đều thừa hành pháp luật không dám nhiễu hại nhân dân nữa.


Cũng vì thế nên bốn quan cận thần đem lòng ganh ghét, đố kị, và mưu hại Hiền Nhân.


Họ hùn rất nhiều vàng bạc mua lòng Hoàng hậu và bày cách cho Hoàng hậu đặt điều vu khống lên vua rằng Hiền Nhân có ý tư thông với bà và âm mưu sát hại vua để đoạt ngôi. Vì vốn thương Hoàng hậu, vua đã cả tin và lập kế với hoàng hậu xua đuổi Hiền Nhân bằng thái độ và cách cư xử khinh miệt.


Ngày hôm sau Hiền Nhân vào cung thì con chó chạy ra gầm gừ sủa. Hiền Nhân thấy Phu Nhân chỉ chắp tay chào sơ sài và thấy cách bày biện có khác hơn mọi ngày thì biết ngay là có mưu kế. Người suy nghĩ:


- Mình không muốn hại ai mà nay người ta trở lại hại mình như vậy chi bằng phải lánh mặt vào núi tu hành là hơn. Người oán mình tất sau sẽ sinh thù lớn, ta không nên khinh thường.


Nghĩ xong, Hiền Nhân nói lời cảm hứng như sau:     O


- Ở đời có thịnh ắt có suy, có hội họp ắt có ly tán, lành dữ vô thường, họa phúc tự mình chuốc lấy. Kết bạn mà không bền chắc thì không nên thân. Thân mà không có chừng mực, thân lâu sẽ sanh khinh lờn. Ví như múc nước giếng, múc sâu thì nổi cặn. Gần người hiền được thêm trí huệ, ở với kẻ dốt càng thêm ngu si. Thấy nhau thường thì hay khinh lờn, xa nhau quá thì thành thờ ơ. Do đó, giao tiếp qua lại với người lành nên có chừng mực, thân mà có cung kính thì thân lâu càng có hậu. Giao thiệp với kẻ bất lương, họ ăn ở không thực thà, lời ngon tiếng ngọt chẳng qua là để lợi dụng mình, dù cho có kết hợp, cũng không tin. Vua lấy lễ độ tiếp tôi, tôi cung kính đáp lại. Nay vua đối đãi khinh dễ thì tôi phải lánh xa. Thân yêu nhau rồi có sự giận ghét nhau, khi thương thì muốn nhờ cậy, lúc ghét thì chẳng muốn gần. Lấy sự cung kính nhau để làm thân thiện, lấy sự răn dạy lẫn nhau để tránh xa điều ác. Mà nay có người chẳng phân biệt cái nào là ác, cái nào là thiện, ấy chẳng phải là đạo an thân. Người không có lỗi với mình, thì mình không nên bày chuyện vu oan cho họ, Người muốn xa ta thì ta không nên miễn cưỡng gần họ. Sự thương đã xa lìa thì không nên nghĩ đến.O


Con chim đậu gãy nhánh còn biết đi tìm nhánh khác để đậu, huống chi làm người qua lại có pháp độ, hà tất phải thủ thường. Cành mục ta không nên vịn nắm; người loạn ý, ta chẳng nên phạm nhằm họ. Người muốn đem việc xấu cho nhau, dù thấy nhau cũng không vui, ta xướng mà người không phụ họa theo, nên biết đó là người ở bạc. Người muốn đem việc lành cho nhau thì dù chậm dù gấp cũng đi; đem lời trung chính nhắc nhủ nhau, thì đủ biết người ấy là người có hậu. Mà nay lại có người không chịu gần người hiền, chẳng lánh xa kẻ ác, trước kính sau khinh, không phân biệt kẻ hiền người ngu, thì nếu ta không đi, còn đợi đến bao giờ mới đi ! Phu nhân ban đầu lễ lạy mà nay chỉ vòng tay, nếu ta không đi để đợi chừng mắng đuổi rồi mới đi hay sao? Ban đầu thì giường vàng nay giường tre, ban đầu đũa ngà chén ngọc, mà nay chén sành đũa tre, ban đầu thì cơm ngon canh ngọt, mà nay cơm hẩm gạo tấm, vậy nếu ta không đi, đợi đến cơm đổ đất mới đi hay sao? Bạn trí thức gặp nhau như chủ đãi khách, đêm đầu thì quí trọng như vàng, đêm thứ nhì thì làm lơ như bạc, đêm thứ ba lạnh ngắt như đồng, chứng cớ rõ ràng như vậy nếu ta không đi đợi đến bao giờ mới đi?O


Vua vừa nghe vừa hổ thẹn, cảm động thưa:


- Nước trẫm mà được giàu có, thịnh vượng là nhờ Ngài. Nếu Ngài bỏ đi, sau này nước nhà sẽ nguy khốn.

Hiền Nhân từ tốn đáp:


- Trong thiên hạ có bốn điều tự hoại: Một là cây có nhiều hoa trái nặng sẽ gãy nhánh; hai là rắn ngậm nọc độc, nọc độc sẽ trở lại hại nó; ba là kẻ làm tôi không hiền thì sẽ hại nước nhà; bốn là người làm việc bất thiện thì khi chết sẽ đọa vào địangục. Vậy nên trong kinh dạy: “Sự độc ác do tâm sinh ra và sẽ trở lại tự hại tâm mình cũng như sắt sinh ra sét, chất sét ấy trở lại tiêu hình của sắt.”


Hiền Nhân dạy tiếp:


- Bạn có bốn thứ: Một là kết bạn như hoa, hai là kết bạn như cân, ba là kết bạn như núi, bốn là kết bạn như đất. O


Sao gọi là kết bạn như hoa? Khi bông hoa còn tươi tốt thì giắt trên đầu, khô héo rồi bỏ đi. Bạn loại này cũng thế; hễ thấy giàu sang thì xu phụ theo, thấy nghèo nàn lại làm lơ.


Sao gọi là kết bạn như cân? Khi để vật nặng thì đầu gục xuống, vật nhẹ thì đầu vổng lên, có qua lại thì cung kính nhau, không qua lại thì khi dễ nhau.


Sao gọi là kết bạn như núi? Hòn núi vàng loài chim thú tụ về, lông cánh được chói màu vàng rực. Kết bạn cũng thế khi sang thì sang với nhau, khi vui đồng vui.


Sao gọi là kết bạn như đất? Tất cả mọi vật đều dựa đất mà sinh. Làm bạn để nuôi dưỡng ủng hộ, ân hậu không quên.


Nhà vua thưa:


- Nay trẫm biết cái trí suy nghĩ của trẫm còn cạn hẹp, tin theo lời tà siểm, khiến Ngài phải ra đi.


Hiền Nhân đáp: Người có trí có bốn việc không nên tin: Một là bạn tà ngụy; hai là bề tôi nịnh siểm; ba là vợ yêu nghiệt; bốn là con bất hiếu. Ấy là bốn cái không tin theo. Vì thế, kinh dạy: Bạn tà hại người, tôi nịnh hại triều, vợ yêu nghiệt phá nhà và con bất hiếu hại cả cha mẹ.O


Nhà vua thưa:


- Trước kia trẫm yêu quý, hậu trọng Ngài, xin Ngài nghĩ lòng tốt của trẫm không nên bỏ đi vậy.


Hiền Nhân đáp:


- Có mười trạng thái tỏ cho biết là có yêu quý hậu trọng: một là xa nhau lâu không quên; hai là thấy nhau thì vui mừng; ba là có món ngon vật lạ san sẻ cho nhau; bốn là khi có lỡ lời, đừng chấp trách nhau; năm là nghe điều lành càng thêm vui vẻ; sáu là thấy việc dữ đem lời trung chính mà can gián; bảy là làm được những việc khó làm; tám là không đem chuyện riêng nói với người; chín là khi gặp việc bối rối phải giải quyết cho nhau; mười là đến lúc nghèo khổ không rời bỏ nhau. Nên trong kinh có dạy: “Bỏ dữ làm lành tu tập đúng như Pháp, đem lời trung chánh dạy dỗ, nghĩa hiệp, có đạo.” O


Có tám việc biết là không ưa nhau: Một là thấy nhau mặt đổi sắc; hai là không liếc ngó, không thẳng thắn; ba là lời nói không ôn hòa; bốn là nói phải cho là quấy; năm là nghe lời suy bại thì vui thích; sáu là nghe lời hưng thịnh thì không vui; bảy là hủy bỏ chê bai việc tốt đẹp của người; tám là tán thành việc ác của người.


Nên trong kinh dạy rằng: “Lỡ đánh chết người, tội ấy còn có thể dung thứ; dùng tâm độc âm mưu để hại người, tâm niệm ấy không nên gần.” O


- Thưa Hiền Nhân, trẫm là người ngu si, không biết phân biệt kẻ trí người ngu, nên nghe lời tà siểm, làm trái mất ý thánh nhân.


- Tâu đại vương có mười sự chứng tỏ đó là người trí: một là biết kẻ hiền, người ngu; hai là biết kẻ sang, người hèn; ba là biết kẻ giàu, người nghèo; bốn là biết việc nào khó việc nào dễ; năm là biết việc nào đáng bỏ, việc nào nên làm; sáu là biết nhiệm vụ của mình; bảy là vào nước nào biết được phong tục nước ấy; tám là biết được chỗ trở về; chín là học rộng hiểu nhiều; mười là biết được túc mạng. Mười việc đó chứng tỏ người có trí. Kinh dạy: “Khi tai nạn gấp rút mới biết được lòng bạn, có đánh nhau mới biết kẻ yếu người mạnh, có luận nghị mới biếtđược người trí người ngu, lúc cơm thua gạo kém mới biết người có lòng nhân.” O


- Thưa Hiền Nhân, nước trẫm từ khi được Ngài giúp đỡ, trong ngoài đều được an ổn. Nếu nay Ngài bỏ ra đi thì trẫm biết nương nhờ ai.


- Tâu đại vương, có tám điều kiện để được an ổn: một là được của cha mẹ để lại; hai là có nghề nghiệp bảo đảm lấy sự sống của mình; ba là học thức cao; bốn là có bạn hiền; năm là có người vợ trinh lương; sáu là được người con hiếu thảo; bảy là tôi tớ được hòa thuận; tám là lìa xa việc ác.O


- Thưa Hiền Nhân, lời của Thánh nhân thật không một ai nghe mà không thích.


- Tâu đại vương có tám cái thích: một là cùng làm việc với người hiền; hai là được học với bậc thánh nhân, ba là tánh thể nhân từ và ôn hòa; bốn là sự nghiệp mỗi ngày mỗi hưng thịnh; năm là diệt được tánh giận dữ; sáu là biết phòng ngừa tai nạn; bảy là biết nương gần đạo pháp; tám là bạn bè không dối gạt nhau.O


- Thưa Hiền Nhân, Ngài thường khi dễ khuyên can mà sao nay lại khó cầm lắm thế?


- Tâu đại vương, có mười trường hợp khó có thể khuyên can: Một là tham lam che mất lương tri; hai là tham đắm sắc đẹp; ba là ưa danh vọng địa vị; bốn là kẻ ngang tàn bạo ngược; năm là kẻ nhút nhát; sáu là kẻ khờ khạo lừ đừ; bảy là kẻ kiêu ngạo buông lung; tám là người ưa đấu tranh; chín là người chấp tập tục si mê; mười là kẻ tiểu nhân. Kinh chép: “Nói pháp cho người ngu nghe cũng như nói với kẻ điếc, những ai khó hóa độ, thì không thể khuyên can.” O


- Thưa Hiền Nhân, trẫm là kẻ kiêu ngạo lại thêm buông lung, chưa thể xa lìa được sắc đẹp, còn Ngài là người đã chứng pháp vô vi, lẽ nào không nói với trẫm nữa ?


- Tâu đại vương có mười trường hợp mà mình không nên nói với người: Một là kẻ ngạo mạn; hai là kẻ ngu độn; ba là kẻ hay lo sợ; bốn là kẻ ham vui chơi; năm là kẻ hay e lệ; sáu là kẻ câm ngọng; bảy là kẻ cừu hận; tám là kẻ đói lạnh; chín là kẻ mắc nhiều việc; mười là người đang tham thiền tịnh lự.     O

Trong kinh có câu: “Làm được hãy nên nói, làm không được thì đừng nói suông; lời hư ngụy không thành tín thì các bậc minh triết không thèm đoái đến.”


- Thưa Hiền Nhân, người đàn bà xinh đẹp, nói năng khôn khéo êm tai, mà trong thì độc ác, hai lòng thì căn cứ vào đâu mà hiểu họ được ?


- Tâu đại vương, có mười triệu chứng sẽ hiện diện cho ta thấy: Một là đầu tóc rối, bới nghiêng qua một bên; hai là mặt hay biến sắc và mồ hôi tự nhiên chảy; ba là lớn tiếng nói cười; bốn là hay liếc ngó, không đoan chính; năm là trang sức lộng lẫy; sáu là hay nhìn trộm qua kẽ vách; bảy là ngồi không yên; tám là hay dạo chơi trong xóm làng; chín là hay đi dạo ngoài đồng vắng; mười là hay giao thiệp với hạng dâm nữ.


- Thưa Hiền Nhân, quả thật cái đó đáng ghét lắm.


- Tâu đại vương, có năm cái đáng ghét: Một là ác khẩu hại người; hai là dèm pha siểm nịnh và thúc dục sự đấu tranh; ba là rầy rà không thuận hòa; bốn là ganh ghét và trù rủa; năm là nói hai lưỡi gạt người.O


- Thưa Hiền Nhân, làm thế nào để người kính mến?


- Tâu đại vương, có năm tính tốt này thì được người cung kính:


Một là nhu hòa nhẫn nhục; hai là cung kính và có tín tâm; ba là mau mắn và ít nói; bốn là lời nói đi đôi với việc làm; năm là đối với bạn càng lâu càng thân hậu. Trong kinh có câu: “Nếu biết thương lấy mình thì phải dè dặt giữ mình. Các bậc hiền sĩ có chí hướng cao thượng học hiểu chính đáng thì không bao giờ lầm lạc.” O


Nhà vua năn nỉ:


- Xin Ngài cùng trẫm trở lại Tinh xá.


Hiền Nhân đáp:


- Có mười kẻ mà mình không nên mời về nhà: Một là thầy ác; hai là bạn tà; ba là kẻ hay khinh bỉ bậc thánh; bốn là kẻ hay nói tráo trở; năm là kẻ dâm ô; sáu là người thèm rượu; bảy là kẻ có tánh xấu; tám là người không biết ân nghĩa; chín là đàn bà con gái mất nết; mười là kẻ tỳ thiếp ưa trang sức. O


Nhà vua thưa:


- Được Ngài ở lại thì Trẫm cùng thiên hạ được an vui vô sự. Nay Ngài bỏ đi thì nhân dân oán trách Trẫm.


Hiền Nhân đáp lời:


- Có tám điều kiện để được an vui: Một là vâng thờ kính thuận các sư trưởng; hai là đem sự hiếu thuận dạy cho dân; ba là khiêm nhường kẻ trên người dưới; bốn là phải tập tánh nhân đức ôn hòa; năm là đến cứu người trong cơn nguy cấp; sáu là phải quên mình nghĩ đến người; bảy là phải thu thuế, lấy lãi ít và phải biết tiết kiệm; tám là bỏ hận thù xưa. Trong kinh có câu; “Chuyên tu cội đức, nghĩ trước rồi làm sau, cứu giúp người trong cơn nguy cấp và bần khổ, thì trọn đời được an vui. O


- Thưa Hiền Nhân, trẫm luôn luôn nghĩ tới Hiền Nhân nào có bao giờ lãng quên.


- Tâu đại vương, bậc trí giả có mười hai điều luôn phải nghĩ tới không bao giờ lãng quên: Một là khi gà gáy sáng đã nghĩ tới tội lỗi mà lo việc phúc đức để đền bù lại; hai là nhớ việc hầu hạ tôn thân; ba là gặp việc gì phải suy nghĩ dự bị trước; bốn là phải lo nghĩ lánh xa sự nguy hại; năm là phải nghĩ trước mới nói sau để khỏi phải lạc lầm; sáu là phải đến những kẻ lạc lầm mà đem lời trung chính dạy bảo nhắc nhở họ; bảy là nghĩ đến những kẻ nghèo khổ để thương xót cấp hộ; tám là phải lo làm việc bố thí nếu mình có của; chín là phải nghĩ đến sự ăn uống cho có chừng mực; mười là phải nhớ giữ sự công bình khi phân xử hoặc phân chia; mười một là phải nhớ đem ân đức ban rải dân gian; mười hai là phải thường nghĩ đến sự huấn luyện nếu mình là quân sĩ hay vua quan. Đấy là mười hai điều mà người trí phải thường nghĩ đến. Vậy nên trong kinh có câu: “Làm việc gì phải lo dự bị trước, như vậy sự nghiệp sẽ mỗi ngày mỗi lớn, không khi nào thất bại.” O


- Thưa Hiền Nhân, tiếc rằng trẫm không có một bậc đại hiền nào để cầu Hiền Nhân lại cho Trẫm.


Hiền Nhân lại tiếp:


- Bậc đại hiền có mười hạnh tốt: Một là học rộng hiểu nhiều; hai là không phạm giới luật trong kinh dạy; ba là kính thờ Tam Bảo; bốn là thọ pháp lành không quên; năm là kềm chế được tham sân si; sáu là tu được pháp bốn tâm bình đẳng; bảy là ưa làm việc ân đức; tám là không nhiễu hại chúng sinh; chín là hay hóa độ được người bất nghĩa; mười là không lầm lộn việc lành việc ác.O


- Thưa Hiền Nhân, thực là tội trẫm quá nặng: nuôi dưỡng kẻ ác làm cho Ngài giận mà bỏ đi.


- Tâu đại vương kẻ đại ác thường được biểu hiện qua mười lăm tội nặng: Một là sát sanh; hai là trộm cắp; ba là quen thói dâm ô; bốn là dối trá; năm là nịnh hót; sáu là chuốt ngót; bảy là dèm pha; tám là khinh bậc hiền sĩ; chín là tham sự ô trược; mười là buông lung; mười một là say sưa; mười hai là ganh ghét kẻ hiền; mười ba là hủy báng đạo đức; mười bốn là sát hại thánh nhân; mười lăm là không kể tội lỗi. O


- Thưa Hiền Nhân, trẫm năn nỉ Ngài mãi không được, lấy làm hổ thẹn quá.


- Tâu đại vương, người đời có mười cái hổ thẹn: Một là làm vua không hiểu chánh trị; hai là tôi thần mà vô lễ; ba là thọ ân không lo báo đáp; bốn là có tội lỗi không chịu chừa bỏ; năm là một vợ hai chồng hay một chồng hai vợ; sáu là chưa cưới mà có thai; bảy là tập hợp không thành; tám là có binh khí mà không thể chiến đấu; chín là kẻ bỏn sẻn không bố thí; mười là tôi tớ mà chủ không sai khiến được.O


- Thưa Hiền Nhân, nay trẫm biết rằng: Người đạo đức rất khó chiều chuộng.


- Tâu đại vương có mười hai điều khó: Một là làm việc với người ngu; hai là yếu đuối không chống lại được với sức mạnh; ba là thù nhau mà ở chung một nhà; bốn là học ít mà đứng ra nghị luận; năm là nghèo hèn mà trả được nợ; sáu là ra trận không có tướng sĩ; bảy là thờ vua trọn đời; tám là học đạo mà mất tín tâm; chín là làm ác mà muốn quả báo đẹp; mười là sinh ra đời được gặp Phật; mười một là được nghe chánh pháp của Phật; mười hai là làm theo được chánh pháp ấy mà thành tựu. O


Nhà vua khen ngợi:


- Gần bậc minh đức thật có lợi. Đàm luận với Ngài, trẫm lại được thêm trí tuệ.


- Tâu đại vương, người có trí huệ, đại khái biết bốn mươi lăm việc: 1. Là sửa sang nhà cửa. 2. Là gây không khí hòa hợp trong gia đình. 3. Là giao thân với chính họ. 4. Là tin ở bạn bè. 5. Là theo học với bậc minh sư. 6. Là làm việc gì quyết cho thành tựu. 7. Là tài trí cao rộng. 8. Là mọi hành vi đều hướng về việc lành. 9. Là giàu sang thì lo làm việc ân đức. 10. Là tạo tác và sửa sang đều phải thận trọng. 11. Là có của phải mở mang sự nghiệp. 12. Là không giao của cải cho con cái nếu chúng còn quá nhỏ. 13. Là kết bạn với người hiền. 14. Là không quá tin những ai vừa mới quen biết. 15. Là tiền của ở chỗ huyện quan phải đem về đừng để lâu. 16. Là mua bán đổi chác phải thật thà, không lường gạt. 17. Là dời ở nơi nào phải đến xem trước. 18. Là đến đâu phải biết đó giàu hay nghèo, quý hay tiện. 19. Là phải giao thiệp thân cận với người lành. 20. Là phải nương tựa vào một thế lực. 21. Là đừng tranh hơn kém với kẻ cường bạo. 22. Là xưa giàu mà nay suy thì có thể mong phục hưng cơ nghiệp. 23. Là nếu bần khổ thì đừng có cao vọng to tát. 24. Là có của quý không keo với người. 25. Là việc bí mật đừng nói cho vợ nghe. 26. Là làm vua phải kính người hiền đức. 27. Là phải ăn ở có hậu, nhất là bậc trung chính. 28. Nếu là thanh liêm, có thể dùng trị nước, hay có thể đứng ra trị nước. 29. Là gặp việc phải lo lập công. 30. Là trong công cuộc giáo hóa, lấy sự hiếu thuận làm căn bản. 31. Là phép của ông thầy là quý sự ôn hòa, như thế học trò đủ cung kính. 32. Là thầy có nhiều học trò, phải dạy chúng làm việc trung nghĩa. 33. Là làm thuốc phải hiệu nghiệm, nghề còn vụng chớ đem ra thi thố. 34. Là đau ốm phải nghe lời thầy thuốc. 35. Là ăn uống phải giữ cho có độ lượng. 36. Là có của ngon vật lạ chia sẻ cho nhau, đừng tiếc. 37. Là cho ai, hoặc cho ai mượn gì, phải tự tay mình trao cho họ. 38. Là làm chứng cớ cho người chính. 39. Là đừng vu oan cho kẻ vô tội. 40. Là khuyên can sự oán giận và làm cho sự thuận thảo trở về giữa hai người. 41. Là nhẫn nại và xa lánh việc ác. 42. Là đừng phân biệt giàu nghèo mà ở với người. 43. Là lấy sự thuận hòa làm quý. 44. Là theo đạo phải giữ giới. 45. Là lấy sự trong sạch làm quý hơn tất cả.O


Trong trần thế chỉ có đạo Niết-bàn là cao quý hơn cả.


Vì sao? Vì Niết-bàn là cảnh giới không có sự già nua, bệnh, chết, không đói lạnh, không tai hoạ nước lửa, không oan gia, không trộm cướp, không dục vọng ân ái, không lo buồn hoạn nạn, không tất cả những khổ sở đớn đau. Cảnh giới đó là diệt độ. Diệt độ không phải là một sự chết, nhưng đấy là sự giải thoát tự tại thôi.


Cảnh giới ấy, hoàn toàn an vui, một niềm vui thanh tịnh vô biên, có thể kiến lập cảnh giới ấy trên trần thế, cho riêng mình và cho chung tất cả muôn loài. Bệ hạ hãy tự lo, tự tu, tự tỉnh lấy. Bệ hạ hãy tự thương lấy Bệ hạ. Hiền Nhân này xin lên đường. O


Vua lại hỏi:


- Ngài lên đường, thế không còn răn dạy trẫm điều gì nữa ư ?


- Tâu đại vương, chỗ đất bị nước mạnh xoáy lỡ thì dù một trăm năm sau, cũng không nên dựng lấy một cái gì trên ấy. Vì giòng nước sẽ theo thói cũ mà lôi cuốn đi tất cả. Người có ác tâm mà bây giờ họ bảo mình là bắt đầu làm lành, thì mình quyết không nên tin vội. Vì tâm ác của họ chưa diệt, họ sẽ trở lại làm việc ác, ta phải nên dè dặt. Người muốn làm việc gì phải lần lần, như người đào giếng, đào mãi xuống sâu sẽ có mạch nước. Kẻ trí giả thấy sự nguy hiểm hoặc bất bình giữa cuộc thế thì hay ra tay cứu giúp, cũng như người có tài bơi lội có thể lội ngang qua giòng nước mạnh. O


Nhà vua thưa:


- Trẫm muốn nghe lời Ngài dạy, và nếu như có người nào khác đến thì trẫm làm sao biết được người đó là bậc trí ?

Hiền Nhân đáp:


- Chỗ vấn đáp người trí bao giờ cũng khác xa kẻ tầm thường. Không lời nói nào của họ mà không phải là lời nói lành. Bậc thầy bao giờ cũng chính đáng. Và những đức tánh này chứng tỏ rằng kẻ ấy là bậc trí giả: Nhân từ mềm mỏng cẩn thận chắc thật, ôn hòa, nhã nhặn, lời nói hoạt bát và hay hâm mộ các việc lành.O


- Tâu đại vương, nghe lời nói thấy việc làm của họ, thì biết là tâm và khẩu giống nhau.
Xem cách cư xử, vẻ đi đứng của họ mà biết là không giả dối; nghiệm việc họ làm, cách ăn mặc, cách làm lụng cũng dư biết là bậc trí tuệ.


Đàm luận với người trí phải cho vừa ý họ mà muốn cho vừa ý họ thì thiệt là khó.


- Thưa Hiền Nhân, trẫm muốn tôn thờ người trí mà đừng làm mất ý họ, thì phải làm sao ?


- Tâu đại vương, kính mà đừng khinh, nghe lời dạy phải làm theo, vì chỗ hiểu biết của người trí rất đúng, bao giờ họ cũng có thể theo chánh đạo và không có tâm tham cầu, lại có thể suy xét rõ được việc quá khứ, hiện tại và tương lai. Tầm mắt của bậc trí giả rất rộng, họ thấy rõ muôn vật trong không gian và thời gian đều chỉ là biến hiện, muôn pháp đều quay về nơi nhất điểm không tịch bản nhiên.O


Kẻ trí thì thấy rõ ràng đời là một sự biến đổi tang thương; trẻ trung rồi sẽ già nua; cường tráng rồi sẽ suy nhược; có sống thì sẽ có chết; giàu sang như mây nổi, đều là vô thường cả. Cho nên lúc an ổn phải nghĩ đến khi nguy ngập, khi hưng thịnh thì nghĩ đến lúc vô thường, người lành thì kính mến, người ác thì phải lánh xa. Nếu có giận hờn ai thì nên trừ bỏ, đừng vì thế mà gây ác hại người. Nhu hòa mà khó xâm phạm, yếu đuối mà khó thắng. Người trí như vậy đó. O


Người trí theo pháp thánh hiền, thường làm việc nhân từ và ưa dạy dỗ kẻ ngu muội trở nên sáng suốt như họ. Người trị nước thì nên ban bố ân huệ cho kẻ biết làm lành, kẻ tu hành thì lo dẫn dắt mọi người về nơi chánh đạo; quốc gia có hoạn nạn thì cùng nhau đàm luận lo toan; tới lui phải biết thời mới khỏi bị sự nghi ngờ oán trách. Tuy có ơn rộng đức lớn với người, nhưng đừng cầu mong người báo đáp, thờ người trí thì được phước và trọn đời không mắc phải tai nạn. Bệ hạ đừng có nghi ngờ. Pháp chánh trị không nên trái với lý đạo, dạy dân làm lành thì càng ngày càng thêm lợi ích cho đất nước. O


Đức vua than thở:


- Thưa Hiền Nhân, thực lòng trẫm rất sầu thảm, hoảng hốt như kẻ điên cuồng.


Vua bèn rơi lụy khóc lóc, đến trước Hiền Nhân sám hối cầu xin xá tội. Hiền Nhân đỡ đức vua từ tốn thưa:


- Hiền Nhân này cũng như con chim bay, không nhất định đậu ở cành nào. Đạo pháp của Hiền Nhân không thể lẫn lộn với lỗi lầm để mất chỗ thanh cao quý giá: Cũng như lửa cháy ngoài đồng trống, những cây gần bên sẽ bị cháy sém, hễ chỗ có nước xoáy là thuyền quay; hễ độc trùng là hại người. Vì thế Hiền Nhân muốn tùng sự với người trí để khỏi bị ngu hèn quấy nhiễu, Hiền Nhân này đã rõ ràng: Cỏ cây mỗi thứ mỗi khác, loài chim muông cũng thế: bạch hạc thì lông trắng, chim quạ thì lông đen, nay Hiền Nhân khác mà ai kia cũng khác, nên Hiền Nhân này không muốn lưu lại hoàng cung nữa. Đem cái áo lụa đẹp mặc cho người nhà quê cày ruộng thực là vô ích. Vì sao? Người nhà quê ấy chỉ quen bùn đất, làm gì biết mặc áo lụa đẹp và có mặc cũng chỉ làm hư.O


Ở nhân gian, có một thứ cây gọi là Phản Lệ. Người chủ trồng nó thì không được ăn trái, còn có kẻ muốn hái trộm thì trái lại sinh ra cho mà hái. Bệ hạ cũng như cây ấy: Người giúp nước được an ổn thì hất hủi đuổi xô, còn kẻ nịnh thần gian dối, phá tan việc triều chánh lại cầm ở lại cho ăn bổng lộc. Khách ở lâu, chủ nhà sinh nhàm chán, nên Hiền Nhân này phải đi vậy.O


Nhà vua kính cẩn thưa:


- Mạng người rất trọng, cúi xin Ngài mở lòng từ nghĩ thương đến. Trẫm nay muốn đem thân mạng tôn thờ Ngài hơn xưa.


Bệ hạ nói thế nhưng cũng chưa chắc gì làm được. Ý Hoàng hậu rất độc ác. Hiền Nhân này không nên ở lại làm chi. Hiền Nhân là vị Sa-môn mang bình bát khất thực, tự vui và dứt trừ tham vọng, giữ trọn giới luật của đạo và xa lìa tất cả tội lỗi.


Nhà vua khẩn khoản:


- Ngài đã quyết định, trẫm không thể cản ngăn. Nhưng Ngài chớ đoạn giao, cúi mong một phen trở lại để lòng trẫm khỏi ân hận.


Nếu như Bệ hạ và Hiền Nhân này đều mạnh giỏi thì có lúc gặp nhau. Hiền Nhân này muốn vào núi để tu dưỡng tâm linh, rèn thêm trí tuệ. Gần nhau để mà nghĩ đến chuyện ác hại nhau thì chi bằng xa nhau mà nhớ nhau trong tâm niệm lành. Người trí nghe thí dụ cũng đủ rõ; nay Hiền Nhân này xin đem một câu chuyện để thí dụ Bệ hạ nghe. O


“Như người lấy mật xoa vào lưỡi dao, đưa cho con chó liếm, vì tham chút ngọt nên bị đứt lưỡi, mà chó không biết đau đớn.”Nay bốn quan cận thần cũng thế, chỉ nói ngon ngọt ngoài miệng, mà trong tâm dường như dao bén. Vậy Bệ hạ phải đề phòng và từ đây về sau nếu gặp những sự kinh hãi, Bệ hạ thường nhớ đến Hiền Nhân này thì kinh sợ sẽ tiêu tan.


Loài chim cú, chim mèo thì ưa ở nơi bụi rậm, chuột bọ thì ưa núp dưới đống rơm, đống rác, chim chóc thì đậu trên cành, con hạc thì ưa ở gần ao nước đục. Mỗi vật đều có tánh riêng, chí nguyện bất đồng, sự ưa thích có khác. Hiền Nhân này mến đạo, Bệ hạ thì ưa việc trị dân, đó là sự sai khác.


Những vật thô xấu cũng đều có chỗ cần dùng, không nên phí bỏ tồi tàn. Hạng người nào dù bần tiện, ngu hèn đến đâu, ta cũng không nên hất hủi. Họ đều là những người hữu dụng, dụng nhơn như dụng mộc, Bệ hạ phải hiểu như thế. Hiền Nhân này cũng đã biết người, biết lời nói, biết ý nghĩ của họ thế nào rồi.


Con chim ban đầu đậu ở cành thấp, sau nhảy lên nhánh cao. Hiền Nhân thấy chó Tân-kỳ sủa, biết rằng không ngoài thì trong, đã có sắp đặt mưu mô gì đó, nên trong lòng chán ngán. Hiền Nhân này xin đi. Nói xong liền đứng dậy mang bát, chống tích trượng ra khỏi thành. Vua cùng đình thần và nhân dân làm lễ Hiền Nhân rồi tiễn Người ra khỏi thành quá một đoạn đường.O


Từ ấy về sau, nhân kẻ trung chính đi rồi thì kẻ loạn thần tha hồ tung hoành gian nịnh. Ngoài thì bốn quan cận thần cậy thế bắt ép lương dân, trong thì phu nhân dùng thói yêu nghiệt, làm nhà vua mê hoặc, không còn lo nghĩ việc nước, chỉ dâm lung, ưa vui ngày đêm vùi thân trong say đắm. Quan liêu cầm quyền tự do thâu thuế bắt ép nhân dân không một chút từ tâm, nhân đạo. Kẻ lấy thuế chợ mà không thèm nhìn món đồ, người mạnh lấn hiếp kẻ yếu, bóc lột tàn sát lẫn nhau, không kể gì đến pháp luật. Có kẻ lại bắt con gái của người về làm nô lệ, tỳ thiếp. Thân thuộc ly tán, tìm đường trốn tránh tản lạc, mỗi người sống vất vưởng mỗi nơi, tai họa liên miên mà nhà vua không bao giờ biết đến. Mưa gió không phải thời, trồng trọt mất mùa, nước loạn dân nghèo, sự đói khó đầy đường, tiếng than van oán trách phổ vào câu ca dao cảm động đến cả quỷ thần. Nhân dân sầu khổ, lo sợ chết không biết bao nhiêu, kẻ sống vừa than khóc vừa đi, không một ai không nhớ tưởng và mong cầu Hiền Nhân độ nước.O


Lúc ấy có vị Đạo Nhân, vốn là cháu trai của Hiền Nhân, thấy trong nước loạn lạc, xóm làng hư hoại, nhân dân cùng khốn, bèn vào cung tâu với nhà vua: Tâu Bệ hạ ! Các quan đại thần làm việc bất chánh, buông kẻ trộm cướp, bắt giết kẻ vô tội, tàn hại nhân gian, hết đường vô nhân đạo. Muôn dân oán thán, quỷ thần giận dữ nên gieo nhiều tai họa.


Đâu đâu cảnh khổ cũng lan tràn mà Bệ hạ thì không hay biết gì cả.


Nếu Bệ hạ không sớm trừ bọn loạn thần gian ác ấy thì sau này sẽ không còn một lương dân !O


Nhà vua nghe nói kinh hãi, hoảng sợ đáp:


- Quả thật như lời Hiền Nhân dạy trẫm khi trước.


Trẫm đã dùng bốn tên loạn thần phá hoại nước nhà chẳng khác gì thả chó sói trong bầy cừu vô tội. Trẫm chắc thế nào dân chúng cũng bị khốn ách. Trẫm đã buông cương mặc cho con ngựa điên lôi kéo cỗ xe trị quốc, thế nào nó cũng kéo xe xuống hố sâu.


Ngài đến đây thức tỉnh trẫm và bảo trẫm như thế, xin Ngài có cách gì dạy trẫm để trị an xã tắc được không ?


Đạo nhân thưa:


- Từ khi Hiền Nhân ra đi đến nay, trong nước bị rối loạn luôn, tất cả đều do bọn gian thần. Bệ hạ phải trù tính phương kế gì để hưng phục lại giang sơn. Nước nhà còn có thể hưng phục được. Xin Bệ hạ hãy cùng thần du hành một phen, để chính mắt Bệ hạ được thấy, chính tai Bệ hạ được nghe những nỗi thống khổ rồi mới biết thế nào là đúng sự thật. O


Nhà vua liền cùng Đạo Nhân cải trang ra đi để dọ xét tình hình trong nước.


Vừa ra khỏi thành thì thấy một toán phụ nữ xiêm y rách rưới, vừa đi vừa khóc. Đạo Nhân thấy thế liền hỏi: “Các chị tại sao mà khổ sở rách rưới như thế? Sao không lo làm ăn, hoặc có khó khăn lắm thì đi lấy chồng, tuổi các chị đã lớn rồi kia mà.”


Một người trong bọn trả lời:


- Vì nhà vua cả. Phải chi nhà vua rách rưới nghèo đói như chúng tôi thì mới bỏ ghét.


Đạo Nhân bảo:


- Các vị nói như thế là không đúng rồi, vì nhà vua là bậc cao sang chỉ lo những việc to tát, đâu có thì giờ lo cho các chị được, các chị phải tự đi làm mà sinh sống lấy chứ.O


Có một chị không hài lòng nói:


- Không phải thế đâu. Vì vua trị nước không minh, nên trong nước phải đói rách và loạn lạc. Ngày thì khốn với bọn quan lại tham ô vơ vét, đêm thì khốn với trộm cướp tứ tung; áo không đủ mặc, cơm không đủ ăn, vì thế còn ai thèm cưới gả chúng tôi nữa.


Đi một quãng nữa, nhà vua gặp một bà già, áo không kín thân, hình hài gầy yếu, mắt lòa sờ soạng, vừa đi vừa khóc. Đạo Nhân hỏi:


- Bà cụ lo lắng gì mà khóc vậy ?


Bà già ngẩng lên đáp:


- Vì nhà vua cả. Phải như nhà vua mà mù như lão đây thì mới đáng kiếp, lão sung sướng lắm vậy.


Đạo Nhân hỏi:


- Bà nói như thế là lầm rồi, hễ già thì mắt mờ, nhà vua có lỗi chi đâu ?


Bà lão phân trần:


- Đêm thì bị cướp, ngày thì bọn quan lại hiếp bức, phải chịu nghèo đói, nên lão đây mới phải hái rau lượm củi đổi gạo để nuôi sống, đạp phải độc trùng, vương phải độc khí, nên mới bị mù què như thế này. Vậy không phải lỗi của nhà vua hay sao?


Vua tôi lại đến một quãng đường, thấy có người đàn bà rách rưới đang vắt sữa bò. Con bò đá một cái, người đàn bà ngã lăn xuống đất, lòm còm bò dậy mắng: O


- Phải chi mày đá Hoàng hậu vợ vua một đá như vậy cho bỏ ghét. Mày đá tao làm gì!


Đạo Nhân hỏi:


- Tự con bò dữ đá bà, chứ Hoàng hậu có tội lỗi gì?


Bà lão trách móc:


- Không lỗi à? Nhà vua bất chính, vợ vua xúc siểm, nước nhà mới rối loạn, không lo cấm ngăn trộm cướp, để nó bắt bò lành của tôi, chỉ để lại một con bò dữ, vắt sữa nó là nó đá đau điếng người. Tại nhà vua chứ ai nữa.


Đạo Nhân bảo:


- Tại bà không biết cách nặn sữa nên bị nó đá.


Bà lão đáp:


- Không phải thế đâu ! Nếu nhà vua ở chính thì ngài Hiền Nhân sẽ ở lại đây, nước nhà đâu có bị loạn lạc.


Đi một lát nữa, đến khoảng đồng ruộng, nhà vua thấy con chim đang mổ một con ếch. Con ếch lún vào bùn, mắng rằng: “Phải chi mày mổ vua một cái như thế thì tao mới thích cho. Mầy đừng mổ tao.” O


Đạo Nhân bảo con ếch:


- Người bị con chim mổ, chứ đâu lỗi ở nhà vua, nhà vua đâu có giữ hộ cho ngươi được.

Con ếch đáp:


- Tôi không mong nhà vua giữ hộ cho tôi đâu.Vì nhà vua không lo việc trị nước, chính trị bỏ bê, pháp luật không minh, bỏ phế việc cúng tế, bỏ phế việc dẫn thủy nhập điền, nên trời hạn, nước khô, thân tôi phải bày ra để cho con chim nó mổ.


Con ếch lại than:


- Nếu nhà vua biết cách giữ quyền chính thì bỏ một người ác, lợi cho một nhà; bỏ một nhà ác lợi cho một làng, rồi sẽ đến cảnh một quốc gia thịnh trị. Vua không biết chấp chính nên nhân dân khổ sở, thiên hạ kêu ca.


Liền đó, Đạo Nhân tâu vua:


- Xin đại vương xét kỹ: Trăm họ vô tội, khổ sở than khóc, cảm động đến cả quỷ thần, đến nổi con ếch còn thốt lời như vậy. Chắc đại vương cũng đã thấy rồi. Vậy đại vương đuổi kẻ ác, kiến thiết quốc gia lại trên nền tảng thiện chánh, để muôn dân hồi đầu trở lại. Tâu đại vương, bây giờ bắt đầu gieo giống lúa ở ruộng gặp mưa thuận gió hòa thì lo gì mùa màng không trúng.


Vua hỏi:


- Vậy theo ý Ngài, thì nên giao phó trách nhiệm này cho ai?O


- Bệ hạ hãy mau mời Ngài Hiền Nhân trở về, vì ngài là người rõ biết thời cơ, nếu trở về trong nước sẽ lại được bình an.


Nhà vua mặc triều phục ra đến tận nơi Hiền Nhân, yết kiến, làm lễ và thành khẩn thỉnh Hiền Nhân về. Sau khi hỏi han, vua ngồi lại một bên, vòng tay tạ tội thưa với Hiền Nhân:


- Trẫm vì sơ sót, suy nghĩ không đến nơi đến chốn, nên làm hại nhân dân, trăm họ oán trách. Nay trẫm một lòng chí thành cầu sám-hối, xin ngài tha thứ cho trẫm bao nhiêu tội lỗi lầm lạc.O


Hiền Nhân đáp lễ:


- Người có tội mà biết sám-hối là hay lắm.


Rồi thấy bốn quan cận thần kề tai nói nhỏ, thầm thì vớinhau. Hiền Nhân bảo:


- Các ngươi mê hoặc lấy mình, không phân biệt cái gì là chân chính, không phân biệt cái gì là tà ngụy không biết rằng khổ vui đều có luật nhân quả, không thể tránh được.


Làm việc ác, tội ác sẽ theo đòi; làm điều lành, quả báo tốt sẽ đền trả, trọn đời không mất. Họa phúc tự mình, kẻ ngu tưởng đâu là xa cách. Phải biết họa phúc rõ ràng như âm thanh vang theo tiếng, bóng theo hình, chứ không phải họa phúc tự trên trời rơi xuống. Các ngươi làm ác mà không tự biết, muốn che giấu nhưng nào có giấu được. Lại lấy sự chê bai ta mà cho là đắc sách. Trong bọn ngươi há chẳng có một người nói rằng: “Hễ người chết thì thần hồn tiêu diệt không sanh trở lại nữa.”Lời nói ấy có phải là bậc thánh nhân chăng? Hay là tự ý ngu muội của các ngươi bịa đặt ra? Các ngươi muốn làm chuyện ác rồi trở lại bảo rằng làm ác không tai họa, làm lành không được phước. Đó phải là lời nói bịa người để che tội lỗi của mình không? Kìa hiện tượng của vũ trụ rõ ràng kia, nhật nguyệt và tinh tú đó, các ngươi bảo là ai tạo ra đó vậy ?O


Bốn quan cận thần nghe nói, làm thinh không còn biết trả lời sao nữa.


Hiền Nhân tiếp:


- Tất cả hiện tượng trong vũ trụ đều do nghiệp lực tội phước. Làm lành, làm ác đều có quả báo như bóng theo hình; người chết bỏ xác thân nhưng không bỏ được nghiệp nhân. Gieo giống, tuy hạt lúa thối mục dưới đất, nhưng sau này sẽ sanh ra nhánh lá và kết hạt trên ngọn. Thắp đèn tim dần dần lụn, nhưng lửa vẫn đỏ mãi; hạnh nghiệp tội phước vẫn còn luôn luôn như người thắp đèn viết thơ, rồi đèn tắt, nhưng chữ vẫn còn. Hồn thần tùy hạnh nghiệp chuyển sinh đời khác, không hề gián đoạn. Các người làm ác mà tự cho là cao cả, cũng như người giết cha mẹ mà lại có thể cho là vô tội sao ? O


Bốn quan đáp:


- Một nhánh cây còn không nên hái lá của nó thay, huống chi giết cha mẹ mà cho là vô tội.


Hiền Nhân đáp:


- Còn bọn ngươi chủ trương tà quấy, bề ngoài giả làm lành, mà bên trong lại uẩn khúc làm việc gian ác. Cũng như vàng giả, bề ngoài thì nước vàng mà trong thì toàn đồng. Bề ngoài diện mạo tốt đẹp, mà trong tâm toàn là sàm tặc. Thiệt chẳng khác gì chó sói lẫn vào bầy dê, ngấm ngầm ăn hết bầy dê mà người giữ dê không hề hay biết.O


Kẻ ác trong đời lắm khi cũng tự xưng đạo đức, giả khổ hạnh, cùng diễn giải kinh giới, nhưng bên trong chuyên hành tà siểm, dối trá để cầu mong danh lợi.


Người ngu không biết, quay về tin phục. Rồi như nước sông ngập lụt chảy tràn đầy dẫy, chưa kịp rút về bể cả, làm hại biết bao nhiêu người. Chỉ có bậc thánh nhân mới có thể cứu giúp thiên hạ, cải bỏ ác tục, sửa sang việc lành, ai ai cũng đều nhờ vậy. O


Nếu cho làm lành không phước, làm ác vô hại, thì các bậc cổ thánh để lại bao nhiêu kinh điển làm chi? Và truyền trao gươm báu cho vua làm chi? Hành nghiệp đều có quả báo rõ ràng. Làm dữ bị tai họa, mọi người đều ghét, không mau thì lâu tai họa ấy sẽ đến. Làm việc ân đức tuy ẩn kín nhưng sau này sẽ bày ra và phước quả sẽ đem lại cho mình.


Vậy nên trong nước có vua, vua phải thuận theo phép đạo, ủy nhiệm vụ cho người hiền, phó thác việc làm cho kẻ tài trí, ban thưởng người lành, trừng phạt người gian ác. O


Bánh xe lăn tròn không ngừng, hành nghiệp cứ tùy theo đấy thọ sanh nơi lành, nơi dữ. Phải tin chắc có tội phước, đừng làm điều gian dối.


Phải hết sức cẩn thận lánh xa những kẻ ác và biết ăn năn tội lỗi. Nếu mọi người đều lành thì bẩm tánh và quả báo sẽ lành đẹp giống nhau, song vì người làm ác rất nhiều nên nhân quả bất đồng: Kẻ sống lâu, người chết yểu, kẻ nhiều bệnh, người ít bệnh, kẻ xấu xa, người tốt đẹp, kẻ nghèo hèn, người giàu sang. Kìa những người ngu, đui, điếc, câm, ngọng, kẻ mù què, tàn tật trăm điều đều do đời trước gây ác nhân mà nay gặp lấy ác quả. Còn người đức độ, trung chính, hiền từ nên có trí tuệ, sống đời đế vương, hào phú và muôn sự hạnh phúc. Như thế là nhân quả rõ ràng, sao lại bảo rằng không. Xin hãy suy nghĩ kỹ càng, đừng lầm lạc vào tà đạo. O


Hiền Nhân giảng xong, Vua cùng quần thần và tất cả nhân dân không một ai là không hiểu rõ và vui mừng.


Hiền Nhân lại nói tiếp:


- Và nay Hiền Nhân này xin nói một sự tích: Thuở xưa có một ông vua tên là Cẩu Lạp, có một cái ao, trong ấy nuôi nhiều thứ cá ngọt. Vì cá ngọt ít xương mà ngon lắm nên nhà vua cử một quan giám ngư để giữ gìn ao cá, mỗi ngày dâng vua tám con, nhưng quan giám ngư mỗi ngày ăn chùng, ăn lén mất tám con. Vua biết cá mất, nên cử tám quan giám ngư nữa để giữ gìn ao cá. Song tám vị giám ngư tùng đảng với nhau mỗi ngày mỗi người đều ăn lén hết tám con, té ra người giữ cá nhiều chừng nào thì cá lại mất nhiều chừng ấy: Giao nhiệm vụ cho nhiều người thì nước nhà càng thêm rối loạn. Cũng như kẻ hái trái non, ăn đã không có mùi vị gì mà lại càng mất giống, vua trị nước mà không dùng kẻ hiền, đã thiệt hại cho dân mà sau này tiếng tăm cũng mất và phước phần đều không. Trị nước bất chính làm cho thiên hạ có tâm tranh đoạt cũng như muốn sửa sang và hưng nghiệp gia sản, mà không chịu để tâm dụng chí thì của cải mỗi ngày mỗi hao bớt đi. O


Nước có tướng giỏi binh nhiều mà không chịu tập chiến trận, không lo lắng kiến thiết nước nhà, thì nước ấy sẽ bị hèn yếu. Làm vua không kính đạo đức, không tôn thờ bậc cao thì hiện tại không người giúp đỡ và tương lai không gặp phước lành. Hằng ngày giết hại muôn họ kêu ca thì tai hại thường xảy ra tới tấp, chết đi để tiếng xấu muôn đời. Theo chính pháp trị dân thì được lòng người. Kính thờ bậc tôn trưởng, yêu mến trẻ thơ, hiếu thuận cha mẹ, vâng làm việc lành thì hiện tại an ổn và kiếp sau được hưởng phước.O


Làm việc trung chínhcũng như đi thẳng đường, lấy việc trung chính làm cội gốc thì mọi người đều khâm phục. Như thế sẽ gây được hạnh phúc thái bình. Lại phải sáng suốt, lượm lặt những lời xưa để làm kinh nghiệm cho đời nay, động tịnh cho biết thời, ân oán cho có lý, ban bố ân huệ cho nhân dân, bố thí nên bình đẳng. Được như thế thì đời nay sẽ an ổn vui vẻ, sau này sẽ quyết tu chứng đạo Giác ngộ.


Chúng hội nghe Hiền Nhân dạy, đều vui mừng vỗ tay khen ngợi. O


Nhà vua liền đứng dậy cúi đầu thưa rằng:


- Nay trẫm được nghe lời Ngài dạy, cũng như cơn gió mạnh thổi tan mây mù. Xin Ngài mở lòng từ bi, nghĩ đến quốc gia, dạy bảo quốc dân và giúp đỡ trẫm trị dân như trước.


Hiền Nhân liền đứng dậy, theo vua về cung cùng luận bàn chính sự.


Bốn quan cận thần rồi sau bị đuổi. Hiền Nhân giúp nước, ân huệ thấm nhuần, gió mưa hiệp thời, mùa màng rất trúng, nhân dân đều vui vẻ, bốn biển một nhà, trên dưới hòa thuận đều chung sức gây lại một cuộc sống thái bình, thạnh trị. O


Đức Phậtngừng một lát, Ngài nhìn đại chúng và tiếp:O


- Này đại chúng ! Hiền Nhân đời ấy, có phải ai đâu lạ, chính là Ta đây. Còn đạo nhân cháu Ngài là A-nan-đa đây, vua Lâm Đạt thuở đó chính là vua Ty-tiên-nặc này đây. Hoàng hậu đó là Tôn-đà-lỵ, con chó Tân-kỳ là Sa-nặc, bốn quan cận thần lúc ấy là bốn kẻ ngoại đạo giết nàng Tôn-đà-lỵ ngày nay. Và sau cùng, con ếch hỏi đó là ông Âu-đà-gia, đã chứng quả A-la-hán đang đứng kia.


Khi Đức Thế Tôn nói kinh này xong, hơn ba ức người hiểu được lý đạo, đều thọ ngũ giới và vui lòng làm theo.       O


Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (3 lần, xá 3 xá)OOO

--- o0o ---

Kinh Quốc Gia Cường Thịnh

Thứ mười

Chính tôi được nghe, một hôm nọ khi Đức Phật lưu trú trên núi Linh Thứu. Lúc ấy, vua A-xà-thế muốn chinh phạt dân chúng Va-chi, ông sai đại thần Vat-sa-ka-ra đến xin Đức Phật chỉ dạy. Vị đại thần đảnh lễ rồi bạch Đức Phật rằng: O


- Bạch Đức Thế Tôn, vua A-xà-thế nhờ con chuyển lời vấn an và đảnh lễ Ngài. Kính xin Thế Tôn cho lời khuyên bảo về việc vua con chuẩn bị cất quân bình định xứ Va-chi, vì mới đây dân Va-chi đã đánh cướp hương liệu quý của đất nước chúng con.


Để chuyển lời khuyên giải đến vua A-xà-thế, Đức Phật hướng sang tôn giả A-nan rồi chậm rãi hỏi:O


- Này A-nan, thầy có nghe dân Va-chi thường tụ họp đông đảo với nhau không ?


Tôn giả A-nan bạch Phật:


- Bạch Thế Tôn, thường tụ họp đông đảo là truyền thống của họ.


Đức Phật bảo: Này A-nan đó là sức mạnh của họ. Và thầy có nghe dân Va-chi tụ họp, làm việc và giải tán trong tinh thần đoàn kết không ?


Tôn giả A-nan bạch Phật: Bạch Thế Tôn đó cũng là truyền thống của họ.O


Đức Phật dạy: Này A-nan, đó cũng chính là sức mạnh của họ. Và thầy có nghe dân Va-chi ban hành những luật lệ không thích hợp, không đáng ban hành cũng như không bãi bỏ những luật lệ và truyền thống tốt đẹp không ?


Tôn giả A-nan bạch Phật: Bạch Thế Tôn, đó chính là truyền thống của họ. O


Đức Phật dạy: Này A-nan, đó cũng chính là sự cường thịnh của họ. Và này A-nan, thầy có nghe dân Va-chi tôn trọng, cung kính, lắng nghe và học hỏi những bậc trưởng lão, những bậc trí đức và đạo đức không ?


Tôn giả A-nan bạch Phật, đó chính là truyền thống của họ. O


Đức Phật dạy: Này A-nan, đó là sức mạnh của họ. Và này A-nan, thầy có nghe dân Va-chi luôn được quốc vương đầu tư và nâng cao dân trí, không có sự việc cưỡng bức hoặc bắt các phụ nữ, thiếu nữ làm vợ mình không ?


Tôn giả A-nan bạch Phật: Bạch Thế Tôn, đó chính là truyền thống của họ. O


Đức Phật dạy: Này A-nan, họ sẽ giữ được sự cường thịnh lâu dài. Và này A-nan, dân Va-chi có hay ủng hộ các cơ sở tôn giáo trong nước và nước ngoài và phát huy truyền thống tốt đẹp này ?


Tôn giả A-nan bạch Phật: Bạch Thế Tôn, đó chính là truyền thống của họ. O


Đức Phật dạy: Này A-nan, đất nước Va-chi sẽ cường thịnh và khương ninh. Và này A-nan, dân Va-chi có tôn trọng đời sống đạo đức, có ủng hộ các vị thánh nhân, có chiêu tập các bậc tài trí và tạo thuận lợi để họ hoạt động và phát triển không?


Tôn giả A-nan bạch Phật: Bạch Thế Tôn đó chính là truyền thống của họ.O


Đức Phật dạy: Này A-nan, dân chúng Va-chi sẽ mãi mãi độc lập và cường thịnh.


Suốt bảy lần vấn đáp, Đức Phật chỉ hỏi và tôn giả A-nan trả lời. Đến đây, Ngài bèn hướng sang vị đại thần của vua A-xà-thế rồi dạy rằng:   O


- Này Vat-sa-ka-ra, như ông đã thấy, dân chúng và đất nước Va-chi được xây dựng và bảo vệ bằng bảy yếu tố cường thịnh, bất khả chiến bại. Ông hãy về tâu lại cho đại vương A-xà-thế nghe lời khuyên răn của Như Lai, không gì khác hơn là cuộc đối thoại nãy giờ.


Nghe Đức Phật gián tiếp phân tích sự tình một cách sâu sắc, vị đại thần cung kính thưa rằng:          O


- Bạch Thế Tôn, con thiết tưởng chỉ cần một yếu tố trong bảy yếu tố đó thôi, đất nước Va-chi đã bất khả chiến bại rồi, nói gì là họ có đầy đủ bảy điều. Bạch Thế Tôn, đại vương sẽ không thể đánh bại họ ở chiến trận, ngoại trừ dùng kế ly gián, nhưng đó không phải là kế thượng sách.


Nói xong, viên đại thần đảnh lễ Đức Phật rồi từ tạ ra về. Kể từ đó, vua A-xà-thế từ bỏ ý định chinh phạt và trả thù nước bạn. Đồng thời ông cho thiết lập mạng lưới dân sự, quân sự và chính trị giống như nước Va-chi cường thịnh và độc lập.O


Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (3 lần, xá 3 xá) OOO

--- o0o ---

Kinh Nền Tảng Đạo Đức Xã hội

Thứ mười một

Chính tôi nghe chuyện như vầy:

Một thời Đức Phật đủ đầy người theo.

Hai trăm năm chục Tỳ-kheo,

Ở Kỳ-xà-quật thành La-duyệt-kỳ.

Trước giờ thọ thực thường thì,

Thế Tôn mang bát, khoác y vào thành.

Khi Ngài đi đến vườn cây,

Thấy con trưởng giả là chàng Thiện Sanh.

Hàng ngày mỗi sáng ra vườn,

Đê đầu đảnh lễ sáu phương chí thành.

Hướng về Nam Bắc Đông Tây,

Hướng về Trên Dưới chắp tay lễ thần.O

***

Bấy giờ Đức Phật Thế Tôn,

Thấy người lễ lạy sáu phương chân thành.

Ngài liền thăm hỏi Thiện Sanh:

Vì sao mới sáng một mình ra đây,

Vì sao ra giữa vườn này,

Vì sao tắm rửa hình hài mới xong,

Tỏ niềm cung kính một lòng,

Đã liền đảnh lễ khắp cùng sáu phương?

Thiện Sanh trước Phật tỏ tường,

Lúc cha con chết, người luôn dạy rằng:

Nếu con muốn đáp thâm ân,

Phải thường mỗi sáng lễ thần sáu phương.O

*

Thế Tôn giảng giải pháp lành,

Cho người nhân nghĩa tín thành hiếu trung.

Nhân vì cách lễ sáu phương

Phật nói diệu nghĩa tỏ tường thâm sâu.

Thiện Sanh lạy Phật mong cầu,

Xin Ngài chỉ dạy trước sau ghi lòng.

Cho con hiểu rõ cội nguồn,

Cho trí con sáng tâm buông mê lầm.

*

Phật liền ban dạy lời rằng:

Lắng nghe ! Con hãy ân cần lắng nghe !

Nghe rồi suy xét, hành trì,

Chuyên cần chánh niệm luôn khi khôngdừng. O

I.

1. Thực hành mười bốn pháp thường,

Để mà che chở sáu phương an lành.

Gọi là khéo sống, khéo hành,

Không cho bốn nghiệp phát sanh não phiền.

Tiêu trừ bốn nghiệp trước tiên,

Dối gian, trộm cướp, sát sinh, dâm loàn.

Bốn nhân sinh nghiệp hung tàn,

Tham lam, sân hận, kinh hoàng, ngu si.

Sáu nhân xui khiến tài suy:

“Rong chơi lêu lỏng; rượu chè buông lung,

La cà đàn hát tiệc tùng;

Đam mê cờ bạc; rối tung cửa nhà;

Giao du bè bạn xấu xa;

Trây lười biếng nhác, sanh ra đủ điều.”O

*

2. Sáu nhân phá sản hại nhiều,

Mỗi nhân còn có sáu điều hiểm nguy.

2.1 Sáu điều hại của rượuchè,

Tiềm tàng trong cái đam mê rượu nồng:

Làm cho tốn của hao tài;

Dễ sinh gây gỗ; người ngoài miệt khinh;

Dễ dàng bệnh tật nảy sinh;

Tổn thương danh dự thật tình đâu hay;

Xấu danh mất nết thẹn thay;

Lại còn trí lực mỗi ngày một suy. O

*

2.2 Rong chơi lêu lỏng thường thì,

Tự mang sáu nghiệp hiểm nguy vô mình:

“Tựthân không thể giữ gìn;

Vợ con đâu dễ được mình chở che;

Bảo trì tài sản dễ gì;

Xảy ra việc ác, người nghi cho liền;

Nạn nhân: miệng tiếng huyên thuyên;

Tự mình chuốt lấy lụy phiền thương đau;

Du hành đường phố trái thời,

Sáu điều tai hại xin người tránh xa.” O

*

2.3 La cà tửu điếm phòng trà,

Tự mình chuốc lấy ác tà đấy thôi:

“Tâm bị đàn hát cuốn lôi,

Tâm bị điệu múa gọi mời đắm say.

Tâm mê tiếng chúc tụng hay,

Tâm theo tiếng nhạc quên ngày trôi qua.

Tâm mê tiếng ngọt lời ca.

Vui theo tay nhịp tâm xa pháp lành.”O

*

2.4 Đam mê cờ bạc đỏ đen,

Sáu điều nguy hại thường xuyên đó là:

“Thắng thì kẻ oán hận ta;

Thua thì cay cú thành ra muộn phiền;

Hiện thời suy sụp của tiền;

Những điều mình nói ai thèm tin đâu;

Hãy tránh loại bạn ấy mau;

Gần chuốc tai hoạ, xa nhau an bình.” O

*

2.5 Sáu điều nguy hại thường